






Preview text:
Đề : Thực trạng sự phối hợp của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở
Việt Nam năm 2016 – 2020 Bài làm Chính sách tài khóa
Thu ngân sách nhà nước
CSTK đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần cùng với các chính sách vĩ
mô khác đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Thu nội địa chiếm tỷ trọng ngày
càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN). Ngân sách giảm phụ thuộc
vào các khoản thu mang tính thời vụ, không ổn định, phụ thuộc nhiều vào yếu tố
bên ngoài. Tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN năm 2015 khoảng trên 74%
(mục tiêu là 70%). Từ năm 2016 đến nay, thu nội địa chiếm từ 80% tổng thu (hoàn
thành mục tiêu thu nội địa chiếm 80% tổng thu NSNN đề ra đến năm 2020). Tính
chung cả giai đoạn 2016 - 2020, tổng thu NSNN đạt 6,89 triệu tỷ đồng, hoàn thành
vượt kế hoạch đề ra (100,4%). Chi ngân sách nhà nước
Ngành Tài chính đã cơ cấu lại một bước chi NSNN, ưu tiên dành nguồn lực
tăng chi đầu tư, ngay từ khâu dự toán, tỷ trọng chi đầu tư phát triển đã được bố trí
tăng từ mức 25,7% năm 2017 lên mức 26,9% năm 2020. Tỷ trọng chi đầu tư phát
triển thực hiện đạt 27 - 28% tổng chi - thấp hơn mục tiêu, là kết quả rất tích cực,
nhất là trong bối cảnh quy mô chi NSNN so với GDP giảm.
Bên cạnh đó, ngành Tài chính đã quản lý, điều hành chặt chẽ bội chi NSNN.
5 năm giai đoạn 2016 - 2020, bội chi NSNN bình quân khoảng 3,6% GDP, đảm
bảo mục tiêu không quá 3,9% GDP theo Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc
hội. Đến cuối năm 2020, dư nợ công khoảng 55,8% GDP, nợ chính phủ khoảng
49,6% GDP, trong phạm vi giới hạn cho phép, giảm mạnh so với mức tương ứng là
63,7% và 52,7% năm 2016 (mức trần cho phép là 65% và 54%)...
Chủ động điều hành chính sách tài khóa ứng phó với đại dịch
Trong bối cảnh năm 2020, chúng ta đã chủ động điều hành chính sách tài
khóa ứng phó với đại dịch Covid-19, hỗ trợ nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho
doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân, đảm bảo an sinh xã hội.
Để hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn do đại dịch
Covid-19, Bộ Tài chính đã đề xuất giải pháp hỗ trợ về dòng tiền, tăng khả năng
thanh khoản cho doanh nghiệp thông qua việc miễn, giảm, giãn thuế và một số
khoản thu NSNN. Đồng thời, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành rà soát
cắt giảm hơn 20 khoản phí, lệ phí. Tính đến ngày 31/12/2020, đã có khoảng 123,6
nghìn tỷ đồng tiền thuế, thuê đất, phí và lệ phí được gia hạn, hoặc miễn giảm. Qua
đó giảm gánh nặng, chi phí đầu vào, giúp cho người sản xuất – kinh doanh vượt
qua khó khăn về tài chính, duy trì sản xuất và việc làm cho người lao động.
Trong năm 2020, trước tác động của đại dịch Covid-19, Bộ Tài chính đã chủ
động cắt giảm các khoản phí cho các nhà đầu tư, hỗ trợ duy trì và phát triển quy
mô thị trường chứng khoán. Nhờ đó, chỉ số VN-Index đến cuối năm đạt trên 1.103
điểm, tăng 14,9% so với năm 2019; quy mô thị trường đạt khoảng 87,7% GDP,
tăng 20,8% so cuối năm 2019. Quy mô vốn hóa cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán năm 2020 đã tăng gấp đôi so năm 2016 (43,3% GDP).
Chính sách tiền tệ
NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt
chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; thanh khoản
của tổ chức tín dụng được đảm bảo và có dư thừa, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt. - Năm 2016:
+ NHNN đã tổ chức, triển khai hiệu quả CSTT và hoạt động ngân hàng, đạt
được các chỉ tiêu, mục tiêu đề ra là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ
trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Việc điều hành các công cụ được NHNN
thực hiện đồng bộ, linh hoạt, phù hợp với bối cảnh kinh tế vĩ mô và điều kiện thị
trường tiền tệ trong từng giai đoạn, đạt được các mục tiêu CSTT…
+ NHNN đã chủ động cung ứng tiền chủ yếu qua kênh mua ngoại tệ, tăng dự
trữ ngoại hối khi cung cầu ngoại tệ diễn biến thuận lợi; linh hoạt chào mua giấy tờ
có giá trên thị trường mở để cung cấp thanh khoản dồi dào nhằm giảm lãi suất liên
ngân hàng. NHNN đã nỗ lực ổn định lãi suất thị trường, chỉ đạo các tổ chức tín
dụng (TCTD) cân đối vốn để duy trì ổn định lãi suất huy động, tiết giảm chi phí, nâng cao hiê q
u quảkinh doanh đểcóđiều kiê q
n giảm lãi suất cho vay; điều chỉnh tỷ lệ
nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn giảm dần theo lộ trình đã góp phần
giảm sức ép lên lãi suất đối với các TCTD. Lãi suất tăng 0,2 - 0,3%/năm trong 3
tháng đầu năm nhưng từ cuối tháng 9/2016, một số TCTD lớn đã điều chỉnh giảm
0,3 - 0,5%/năm lãi suất huy động và khoảng 0,5 - 1%/năm lãi suất cho vay. NHNN
bỏ trần lãi suất huy động với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên nhưng mặt bằng lãi suất vẫn
ổn định, đường cong lãi suất hình thành rõ nét, tạo điều kiện cho các TCTD cải thiện cân đối vốn… - Năm 2017:
Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu CSTT, ngày 10/01/2017, Thống đốc
NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN và ngày 29/5/2017 NHNN có văn
bản chỉ đạo điều hành linh hoạt lượng tiền cung ứng, swn sàng hỗtrợthanh khoản
cho các TCTD đểhỗtrợgiảm lãi suất cho vay; Điều tiết tăng trưởng tín dụng toàn hê q
thống khoảng 18%, điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thực tếcủa kinh tếvĩmô vàhoạt đô q
ng ngân hàng; tăng cường thanh tra giám sát viê q c chấp hành
vàxxlýnghiêm các vi phạm quy định của NHNN vềlãi suất. Cùng với đó, NHNN
điều chỉnh giảm lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn 0,25 điểm % đưa tỷ lệ lãi
suất chiết khấu xuống còn 4,25% và lãi suất tái cấp vốn xuống 6,25% tạo điều kiện
hạ mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế theo Chỉ
thị của Thủ tướng Chính phủ. - Năm 2018:
NHNN tiếp tục điều hành chính sách lãi suất, phù hợp với các cân đối vĩ mô
và diễn biến thị trường, ổn định mặt bằng lãi suất, tạo điều kiện đảm bảo nguồn
vốn cho kinh doanh sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Cụ thể, tháng 1/2018, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất chào mua giấy tờ
có giá qua nghiệp vụ thị trường mở từ 5%/năm xuống còn 4,75%/năm để góp phần
giảm chi phí vốn cho TCTD. Ngay từ đầu năm, một số NHTM đã giảm 0,5%/năm
lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. Các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng tăng phù
hợp với mục tiêu, cơ cấu tín dụng theo đồng tiền diễn biến phù hợp với chủ trương
chống Đô la hóa của Chính phủ, chuyển dần từ quan hệ gxi - vay sang quan hệ
mua - bán ngoại tệ, tín dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên tăng cao hơn tín
dụng chung và tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro có xu hướng chậm lại. Tỷ
giá vẫn tương đối ổn định, thanh khoản thị trường vẫn đảm bảo, các giao dịch
ngoại tệ diễn ra thông suốt, các nhu cầu mua ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy
đủ, kịp thời và NHNN mua ròng ngoại tệ, bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước. Về
điều hành tín dụng, ngay từ đầu năm, căn cứ mục tiêu tăng trưởng và lạm phát
Quốc hội giao, NHNN đã xây dựng chỉ tiêu định hướng tín dụng cả năm tăng
khoảng 17%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế… Nhờ các yếu tố vĩ mô
ổn định, lạm phát được kiểm soát chặt chẽ, môi trường kinh doanh được cải thiện
mà Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế uy tín nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia,
cải thiện hình ảnh trong mắt các nhà đầu tư quốc tế. - Năm 2019:
Định hướng chung của NHNN là điều hành CSTT chủ động, linh hoạt và
thận trọng, phối hợp hài hòa với CSTK và các chính sách vĩ mô khác, duy trì ổn
định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn hỗ trợ cho sản
xuất kinh doanh và tăng trưởng. Điều hành lãi suất, trên cơ sở bám sát diễn biến
kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, thực hiện linh hoạt các giải pháp về lãi suất, kết
hợp đồng bộ với các công cụ CSTT khác nhằm ổn định thị trường tiền tệ, kiểm
soát lạm phát theo mục tiêu và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. - Năm 2020:
NHNN chủ động triển khai quyết liệt, kịp thời, góp phần quan trọng kiểm
soát lạm phát, củng cố nền tảng vĩ mô, duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh,
hỗ trợ đà phục hồi tăng trưởng. Nghiệp vụ thị trường mở (mua/bán tín phiếu) được
điều hành linh hoạt để chủ động kiểm soát tiền tệ, lạm phát, hỗ trợ giảm mặt bằng
lãi suất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo thanh khoản hệ thống. Đồng thời,
phối hợp đồng bộ với việc ổn định tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn cho các TCTD
theo các chương trình được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt… đã góp
phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của CSTT trong kiểm soát tiền tệ, không tạo ra áp
lực gia tăng lạm phát, hỗ trợ ổn định tỉ giá và lãi suất thị trường.
Nhờ đó, dù Dự trữ ngoại hối Nhà nước tăng cao kỷ lục nhưng lạm phát được
kiểm soát chặt chẽ, bình quân 11 tháng năm 2020 đạt 3,51%, dưới mục tiêu 4% của
Quốc hội; lạm phát cơ bản bình quân đạt 2,43%.Năm 2020, NHNN đã điều chỉnh
giảm 1,5-2,0%/năm lãi suất điều hành, swn sàng hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện
cho TCTD tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ NHNN; giảm 0,6-1,0%/năm trần lãi
suất tiền gxi VND các kỳ hạn dưới 6 tháng, giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay
ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ giảm chi phí vay vốn của doanh nghiệp, người dân.
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, hàng loạt giải pháp hỗ trợ khách hàng,
chương trình tín dụng, cho vay hỗ trợ người dân, doanh nghiệp nhằm giảm thiểu
tác động tiêu cực từ dịch bệnh đã được NHNN chỉ đạo triển khai kịp thời. Nhờ đó,
mặc dù cầu tín dụng suy giảm nghiêm trọng do tác động của dịch COVID-19,
nhưng từ tháng 9.2020 tín dụng tăng trở lại, đến ngày 10.12.2020, tín dụng toàn hệ
thống tăng 9,02% so với cuối năm 2019.
Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ giai đoạn 2016 - 2020
Một là, nên có sự phối hợp chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách
tiền tệ (CSTT) trong việc xác định mục tiêu kinh tế vĩ mô ưu tiên trong từng thời
kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho mục tiêu đó. Mă q c dù viê q
c lựa chọn các mục tiêu kinh tế vĩ mô rất quan trọng đối với quá
trình phối hợp chính sách song các nỗ lực để tuân thủ các mục tiêu đã đề ra c|ng
ảnh hưởng không nhỏ đến hiê q
u quả phối hợp chính sách. Sự phối hợp chính sách
phải hướng tới xây dựng các mục tiêu chung để giảm thiểu các tác đô q ng tiêu cực đến thực hiê q
n các mục tiêu của các ngành, lĩnh vực khác.
Trong giai đoạn tới, trên cơ sở thực trạng và diễn biến của kinh tế trong
nước c|ng như quốc tế, cần xác định rõ mục tiêu kinh tế vĩ mô là: Tâ qp trung tạo
dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, trong đó chú ý đến các vấn đề về lạm phát
và các cân đối vĩ mô, tạo môi trường thuâ q n lợi cho doanh nghiê q p phát triển thay vì
mục tiêu hướng tới tăng trưởng nhanh như giai đoạn trước đây. Theo đó, Bộ Tài
chính và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nên có sự phối hợp trong việc xác định
mục tiêu vĩ mô ưu tiên trong từng thời kỳ và phải tuân thủ điều phối chung cho
mục tiêu đó. Đồng thời, Chính phủ nên xem xét đến việc chuyển đổi khung mục
tiêu chính sách theo hướng thực hiện chính sách mục tiêu lạm phát linh hoạt nhằm
hướng CSTK và CSTT vào mục tiêu chung.
Trên cơ sở các mục tiêu chung, NHNN và Bộ Tài chính sẽ cùng tham gia
xác định khung mục tiêu chính sách cho giai đoạn trung hạn, tạo thế chủ động và
linh hoạt trong quá trình phối hợp để đạt mục tiêu, xây dựng kế hoạch tài chính -
tiền tệ tổng thể cho từng năm trong đó các vấn đề về bội chi ngân sách, đầu tư
công, hiệu quả đầu tư cần phải được tính toán và xem xét cụ thể trên các vấn đề có
liên quan tới CSTT như tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng... để
đảm bảo việc thực thi 2 chính sách được đồng bộ và hiệu quả.
Hai là, phải nh9t quán gi;a các mục tiêu chính sách ngtrong phối hợp CSTK và CSTT.
Về ngắn hạn, CSTK và CSTT cần phối hợp chặt chẽ nhằm đạt được mục
tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức dưới một con số và hỗ trợ
tăng trưởng, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất -
kinh doanh, ngăn chặn tình trạng phá sản của doanh nghiệp.
Về dài hạn, CSTK phải hướng tới việc sx dụng hiệu quả các nguồn lực cho
phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Trong đó, thu chi ngân
sách và tín dụng nhà nước phải gắn chặt với mục tiêu ổn định tiền tệ. CSTT phải
kiên trì với mục tiêu ổn định lạm phát, vấn đề kiểm soát mức độ tăng giá cần phải
được đặt lên hàng đầu không chỉ trong thời kỳ có lạm phát cao mà ngay cả thời kỳ
lạm phát thấp nhằm tạo lập niềm tin cho thị trường, xây dựng môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định. Theo đó, cần tính toán và kiểm soát được lượng cung tiền (tổng
phương tiện thanh toán M2) trên cơ sở lạm phát mục tiêu, tốc độ tăng trưởng GDP
và các yếu tố khác. Chủ động sx dụng các công cụ của CSTT để kiểm soát cung
tiền, tiến tới chuyển từ kiểm soát M2 sang điều hành dựa vào mục tiêu trung gian khác là lãi suất.
Ba là, thiết lập hệ thống cung c9p thông tin, thực hiện minh bạch đối với
các kỳ vọng chính sách cũng như trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch
định và thực thi chính sách.
Việc hình thành một cơ sở dữ liệu chung là rất quan trọng đối với công tác
quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Bởi nếu tình trạng thông tin chưa đầy đủ và kịp
thời, thiếu chính xác thì sẽ ảnh hưởng tới việc ra quyết định. Trong thời gian tới,
cần sớm khắc phục tình trạng thông tin chưa kịp thời, không đầy đủ, thiếu chính xác làm cho viê q
c ra quyết định thiếu căn cứ đầu vào đầy đủ. Đồng thời cần hoàn thiê q
n và nâng cao tính pháp lý của các quy định về chế đô q
báo cáo thông tin, cơ chế chia s} thông tin.
Đối với CSTT, việc hoạch định và thực thi chính sách phải đảm bảo duy trì
tính ổn định của kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ điều tiết lãi suất thị trường theo
hướng kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua đồng tiền, kiểm soát tỷ giá, huy động
vốn và cung cấp vốn cho thị trường; phát triển hệ thống ngân hàng tạo cơ sở thúc
đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững qua đó tạo điều kiện tăng nguồn thu và huy
động vốn để bù đắp thâm hụt cho ngân sách nhà nước.
Đối với CSTK, cần nỗ lực tập trung các khoản thu, chi ngân sách nhà nước
nhằm đạt được mục tiêu ổn định nền kinh tế, phát triển nền kinh tế vĩ mô bền
vững, xác lập cơ sở kinh tế cho việc thực thi CSTT có hiệu quả, kiểm soát lạm
phát, giữ sức mua của đồng tiền ổn định và phát triển thị trường tiền tệ.
Bốn là, tiến tới thực hiê D
n khuôn khE CSTT lạm phát mục tiêu và nâng cao kF luâ D t tài khóa. Với viê q
c xác định mục tiêu phối hợp tài khóa - tiền tê q giai đoạn tới tâ q p trung vào viê q
c xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, thì viê q c áp dụng chính sách
khuôn khổ lạm phát mục tiêu và nâng cao kỷ luâ q
t tài khóa là lựa chọn thích hợp đối với CSTT - CSTK của Viê q t Nam. Trong điều kiê q n của Viê q
t Nam, để có thể áp dụng CSTT lạm phát mục tiêu
trong tương lai cần phối hợp đồng bộ các nhóm giải pháp sau: (i) Nhóm giải pháp
đổi mới thể chế: Xây dựng Luật Ngân hàng Trung ương Việt Nam thay thế Luật
NHNN theo hướng đổi mới NHNN thành Ngân hàng Trung ương hiện đại; (ii)
Nhóm giải pháp kỹ thuật: Hoàn thiện phương pháp xác định chỉ số lạm phát (CPI);
(iii) Nhóm giải pháp hỗ trợ: Đẩy mạnh công tác truyền thông về lạm phát mục
tiêu; nâng cao năng lực dự báo; phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính; củng
cố và phát triển hệ thống ngân hàng; nâng cao tính minh bạch của CSTT; phối hợp
tốt giữa CSTT và CSTK; hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái theo hướng linh hoạt hơn.
Đối với CSTK, cần tăng cường kỷ luật tài khóa, cải thiện tính minh bạch,
công khai trong quy trình ngân sách, mở rộng hình thức và nội dung công khai;
tăng cường trách nhiệm giải trình. Để thực hiện được giải pháp này cần hình thành
các quy tắc tài khóa được thiết kế theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế; có chế tài
đảm bảo tuân thủ các quy tắc tài khóa đề ra, qua đó từng bước tăng cường kỷ luật tài khóa.
Năm là, phối hợp CSTK - CSTT phải tính đến sự phối hợp với các chính
sách vĩ mô khác, đặc biệt là các biện pháp giám sát thận trọng vĩ mô.
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng và được quan tâm nhiều trong bối cảnh
Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào các khu vực thương mại, các hiệp định
thương mại tự do (AEC, TPP, Việt Nam - EU...), nhằm hạn chế sự biến động của
các dòng vốn vào - ra , đồng thời tạo sự ổn định tài chính trong nền kinh tế.