










Preview text:
lOMoAR cPSD| 47270246
Tiêu chí xác định một quốc gia dân tộc
Xác định tiêu chí của một dân tộc (nation) hay một tộc người ( ethnie), một nhóm địa
phương cũng cần một cái nhìn toàn diện. Cộng đồng người trước hết thuộc một hay nhiều
chủng tộc, phân bố trên một lãnh thổ như thế nào, tại sao, dân số đông hay ít, đơn ngữ hay
đa ngữ, sinh hoạt kinh tế, tổ chức xã hội ra sao, tuân theo một tín ngưỡng tôn giáo nào, lối
sống và sinh hoạt văn hóa biểu hiện thế nào, đặc biệt là có ý thức thuộc về dân tộc hay tộc
người này, tức là có ý thức chấp nhận một tên gọi, thuộc về một số phận lịch sử nhất định
nào. Đó là việc làm của ngành dân tộc học theo thuật ngữ thường dùng của trường phái
Pháp, Nga ( Liên Xô cũ) hay của ngành Nhân học văn hóa ( anthropologie culturelle) theo
thuật ngữ của trường phái Anglo – saxons. Tuy nhiên trong hoàn cảnh cụ thể một nước, xác
định thành phần của một dân tộc, hay một tộc người thông thường chọn những tiêu chuẩn
nổi bật, ví dụ nếu ở Đông Nam Á, tiêu chí nhân chủng không quan trọng bằng ở Châu Mỹ La
Tinh, ở đó sự lai tạp giữa các giống người đen, trắng,vàng, giữa các cư dân của các quốc gia
khác nhau đến tụ cư sinh sống, ngược lại ngôn ngữ, văn hóa lại nổi trội đặc biệt đối với
những vùng các tộc người cư trú xen kẽ ở miền núi.
Xác định một dân tộc hay một tộc người cũng thường dựa trên những tiêu chí
giống nhau. Có điều nếu tiêu chí quan trọng đối với dân tộc là lãnh thổ, là nhà nưóc ( thiết
chế chính trị), thì quan trọng đối với một tộc người, một nhóm địa phương lại là văn hóa, là
tính tự giác. Để tiện trình bày, tôi giới thiệu từng tiêu chí trong đó sẽ nói rõ sự khác biệt về
tầm quan trọng của từng tiêu chí đối với dân tộc, cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng chính trị xã
hội và đối với tộc người, nhóm địa phương – cộng đồng tộc người. 1. Tên gọi :
Mỗi một dân tộc hay tộc người khi mới được hình thành đã có ngay yêu cầu tự đặt
cho mình một tên gọi. Các dân tộc và tộc người xung quanh biết đến họ cũng lại có nhu cầu
đặt cho họ một tên gọi. Nên ví thế mỗi dân tộc, mỗi tộc người thường mang nhiều tên gọi
khác nhau. Chọn một tên gọi đúng đắn cho một dân tộc hay tộc người là biểu thị thái độ tôn
trọng đối với cộng đồng đó, đồng thời chứng tỏ ý thức nghiêm túc về mặt khoa học. Đúng
như Ph. Angghen viết: “ Tên gọi là một đặc tính của một dân tộc”. Tên gọi không phải là một
cái gì bất biến, cũng như bản thân dân tộc hay tộc người cũng không phải là một cộng đồng
người không thay đổi. Một tên gọi cũng không hẳn đã bao hàm một đối tượng nhất định với
những thời gian khác nhau. V. A . Nikônôv nói rất đúng rằng : “ Tên dân tộc có vận mệnh
riêng của nó. Còn đối tượng của tên đó lại có thể có vận mệnh khác. Và chỉ trong một thời
kỳ nào đó, một tên dân tộc mới chỉ đúng với một đối tượng. Trước sau thời kỳ đó, tên gọi
chỉ một đối tượng khác, cũng như đối tượng cũng có thể mang một tên khác”.
Lấy thí dụ tên Việt và Việt Nam thì rõ. Đã có thời kỳ người Việt được gọi là Cheo ( Keo)
phiên âm Hán – Việt thành Giao; đất Việt Nam được gọi là Giao Chỉ. Từ Tùng Thạch cho Giao
nghĩa là trắng, trong trắng. Tên này vẫn được một bộ phận người H’Mông dùng; người
nhóm ngôn ngữ Tày – Thái cũng gọi người đất Việt là Keo, Kẹo, mường Keo, Kẹo với ý nghĩa lOMoAR cPSD| 47270246
trên, trắng, ngọc ngà. Rõ ràng là thành phần cư dân Giao không chỉ bao hàm khối cư dân
ngày nay, mà rất có thể bao gồm các nhóm cư dân Việt- Mường, Môn – Khơme cổ xưa trong
vùng. Có một thời kỳ danh từ Kinh chỉ dùng để gọi các cư dân Việt sinh sống nơi kinh kỳ hay
nói rộng ra là nơi đã được giáo hóa bởi văn minh Trung Hoa, mà không bao hàm toàn bộ cư dân Việt.
Các dân tộc hay tộc người ưa chọn tên của bản thân đặt ra, tên tự gọi, nhằm tự phân
biệt với các cộng đồng xung quanh. Tuy nhiên số tên tự đặt thật ra không nhiều, vì thường
biến mất hay bị tên mà các tộc người xung quanh đặt cho lấn át. Ph.Ang ghen cho rằng “hình
như tên gọi của bộ lạc phần nhiều được đặt ra một cách ngẫu nhiên hơn là được chọn lựa
một cách có ý thức. Trong quá trình chung sống, thông thường bộ lạc đã nhận tên gọi từ
những bộ lạc láng giềng đặt cho mình. Tên này thường rất khác với tên mà chính ngay bộ lạc
đó tự gọi mình”. Những tên đó lúc đầu chưa mang tính miệt thị, ngay như trường hợp thuật
ngữ Mán, Mọi, Xá, những tên phiếm xưng nhằm chỉ cư dân một vùng khác lạ với mình, hay
như Bru, Cơ Ho, Ba Noong, Mnông v.v…… Những tên mang tính miệt thị nhằm gán cho
người khác, chỉ xuất hiện sau này trong những xã hội đã có sự phân biệt dân tộc và tộc
người, thường lại là những tên do bọn đi xâm chiếm đặt cho người bị xâm lược. Tên nước
An Nam, Annamite được xem như một tên gọi sỉ nhục với người Việt Nam.
Gần đây, với phong trào giành độc lập của các quốc gia dân tộc, trên tinh thân bình
đẳng tôn trọng lẫn nhau, các tộc người, các quốc gia dân tộc tự đặt tên lại cho bản thân,
nhất là các quốc gia dân tộc xưa bị áp bức, bị thay đổi tên; đồng thời yêu cầu gọi đúng tên
gọi theo phiên âm của ngôn ngữ dân tộc mình.
Các tộc người nhất là các tộc người thiểu số cũng đòi hỏi được gọi đúng tên tộc
người, xóa bỏ những tên gọi mang tính miệt thị tộc người
Tên gọi các quốc gia dân tộc trên thế giới nói chung đến nay được tự mình đặt ra,
được Liên Hiệp Quốc công nhận, được nhân dân thế giới tôn trọng. Tuy nhiên, mỗi dân tộc,
mỗi tộc người vẫn giữ thuật ngữ riêng để gọi một quốc gia dân tộc, do thói quen, không có ý
miệt thị, như người Việt Nam gọi dân tộc France là Pháp, Rut-xia là Nga, Italia là Ý, Germani
là Đức v.v… Có thể sẽ có những thay đổi ở một số nước, nhưng cũng là do bản thân tự đề
xuất. Tên gọi các tộc người, các nhóm địa phương trong từng quốc gia- dân tộc còn chưa
được nghiên cứu, nhất là đối với những cư dân ở các vùng hẻo lánh, cách biệt. Tình trạng
các sách báo thống kê tên gọi các tộc người, các nhóm địa phương một nước khác nhau
đương còn là phổ biến, vì bản thân sự thống kê số lượng cũng chưa thống nhất ở các nước
đa tộc người như ở Châu Á, Châu Phi, Châu Đại dương và Châu Mỹ la tinh. Ơ nước ta, sau
gần 20 năm nghiên cứu, bảng danh mục các tộc người được công bố năm 1979, được giới
khoa học hoan nghênh, vì trong các tên gọi đã lưu ý nguyên tắc tôn trọng tên thông dụng,
trong đó phần đông là tên tự gọi của các tộc người, các nhóm địa phương, khôi phúc lại các
tên gọi đúng đắn của các cư dân, rõ rệt nhất là các cư dân Môn – Khơme ở miền Bắc, cương
quyết xóa bỏ các tên gọi mang tính kỳ thị dân tộc, xúc phạm tình cảm dân tộc. lOMoAR cPSD| 47270246 2. Ngôn ngữ :
Người trong một dân tộc hay một tộc người dễ dàng nhận ra nhau, cho dù ở nước
này hay nước khác một phần là qua ngôn ngữ. Nên có thể nói ngôn ngữ là dấu hiệu khó có
thể thiếu được trong việc xác định một dân tộc, một tộc người, trừ những trường hợp biệt lệ. a.
Đối với các thành viên của một quốc gia dân tộc, đó là ngôn ngữ chính thức được
dùng trong hành chính của quốc gia đó.Loại ngôn ngữ này thường tập trung vào một số
ngôn ngữ có tính phổ biến trên thế giới, có chức năng giao tiếp vượt ra khỏi biên giới tộc
người hay quốc gia dân tộc. Liên Hiệp Quốc công nhận sáu ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nga, Hán,
Tây Ban Nha và Arập, được sử dụng trong các cuộc họp và các văn bản của cơ quan đầu não
thế giới này. Có 12 ngôn ngữ được sử dụng cho 2/3 dân số thế giới, là tiếng nói chính thức
của quốc gia, là tiếng mẹ đẻ thứ hai, hoặc là sinh ngữ bắt buộc ở các trường trung học, là
tiếng nói giao tiếp trong giới thượng lưu. Tiếng Anh có 800 triệu người sử dụng, được nhiều
nước với 403 triệu người coi là tiếng nói chính thức dùng trong hành chính, 55 triệu ở Anh (
theo số liệu năm 1984), 210 triệu ở Mỹ, 14 triệu ở Canađa, 15,6 triệu ở Australia v.v …Tiếng
Tây Ban Nha có 156 triệu người sử dụng, trong khi đó ở Mexico và Trung Mỹ là 81,1 triệu, ở
Caribe 18 triệu, ở Nam Mỹ 89,5 triệu, ở Mỹ 14 triệu, ở Philippines 0,5 triệuv.v… Tiếng Hán (
Quan hỏa) là tiếng nói chín thức của nước CHND Trung Hoa với hơn một tỷ dân, là tiếng nói
giao tiếp của các cư dân Hoa trên toàn thế giới, là sinh ngữ học trong trường học nhiều
nước ở Viễn Đông, nhưng gần đây lại chưa phải đã là tiếng phổ biến ngay trong tộc người
Hán, vì số dân nói các phương ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ, v.v… lên đến
hàng chục triệu. Tiếng Hindi ( An Độ) cũng vậy, là một trong hai tiếng nói chính thức của Ấn
Độ, nhưng số đông người An Độ thuộc các tộc người khác lại ít biết. Tiếng Pháp có khoảng
110 triệu người sử dụng, là tiếng nói chính thức của nước Pháp và một số nước khác. Ơ
Pháp có 51 triệu, Canada 5,8 triệu, Mỹ 2,6 triệu, Bỉ 4 triệu. Tiếng Pháp có nhiều phương ngữ
như Normand, Picard, Wallon, Angevin v.v…, là sinh ngữ dạy trong nhiều nước, đặc biệt là
các nước trong cộng đồng Fracophone. Tiếng Nga là tiếng nói chính thức của Liên Bang Nga,
xưa của Liên bang Xô Viết, là sinh ngữ phổ biến ở nhiều trường đại học các nước được nhiều
tộc người phi Nga coi là tiếng mẹ đẻ thứ hai (16,3 triệu), hay sinh ngữ thứ hai ( 61,3 triệu), là
tiếng nói của nhiều bộ phận cư dân các nước, ví dụ ở Mỹ có 334.615 người ( số liệu 1970),
31.795 người ở Canada, một thời đa số ở các nước xã hội chủ nghĩa. Tổng cộng có hơn 280
triệu người sử dụng ( số liệu của Liên Xô 1986). Tiếng Bồ Đào Nha là tiếng nói chính thức
trong nước ( 10 triệu), nhưng lại là tiếng nói chính thức của Braxin (125 triệu). Ơ Mỹ có
365.000 người nói tiếng Bồ Đào Nha, ở Canada 87000, ở Goa ( An Độ) 250000, ở Ma Cao
2000 người… Tổng số toàn thế giới có 154 triệu người sử dụng tiếng Bồ Đào Nha. Tiếng Arập
phân bố rộng rãi ở miền Trung Cận Đông và Bắc Phi với số lượng 200 triệu dân, phân ra
nhiều ngôn ngữ gần gũi nhau như tiếng Ai Cập, Algeria, Marocco, Tunisia, Iraq, Syria, Sudan,
Tiểu vương quốc Arập v.v…, nhưng còn phổ biến trong thế giới Hồi giáo, với số lượng hơn
một tỉ dân, trong các tầng lớp thượng lưu và chưc sắc đạo Hồi. lOMoAR cPSD| 47270246
Một số quốc gia dân tộc khác cũng có tiếng nói chính thức của dân tộc mình mang
tính hành chính. Có những nước và liên bang có hai, ba v.v… ngôn ngữ nổi trội (Thụy Sĩ có
tiếng Đức, Ý, Pháp), Canada ( Anh,Pháp), Bỉ ( Đức, Pháp). Có hiện tượng ngoài ngôn ngữ
chính thức quốc gia ( An Độ với tiếng Hindi; Pakistan với tiếng Urdu v.v…), vẫn có thêm một
thứ tiếng thứ hai, tiếng Anh phổ biến trong văn bản hành chính, trong trường học. Tiếng nói
chính thức của một quốc gia dân tộc thông thường là tiếng nói của tộc người có vị trí tập
hợp các tộc người khác trong quốc gia đa tộc người: tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng
Hindi, tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Ba Lan, tiếng Thụy Điển v. v… Nên những tiếng
nói của tộc ngưởi đó vừa là tiếng nói của tộc người ( Việt) vừa là tiếng nói của cả nước ( tiếng quốc ngữ). b.
Sự xuất hiện các ngôn ngữ quốc gia, nhất là các ngôn ngữ có tính toàn thế giới hay
khu vực, dẫn đến sự thui chột các ngôn ngữ tộc người. Theo cuốn sách của Viện ngôn ngữ
trong tình hình gần đây, ở Mỹ đã mất đi 22/ 189 tiếng nói các tộc người, ở Brazil 30/238,
Liêng bang Xô viết ( cũ) 4/ 161, An Độ 10/391, Inđônesia 3/669. Thật là buồn cười, các tác
giả cuốn sách đó cho biết ở Việt Nam đã mất đi 1/77 ngôn ngữ, đó là tiếng Tayboi ( Tây bồi ).
Tiếng nói của mỗi tộc người cũng có thể bao hàm nhiều phương ngôn hay thổ ngữ. Đó
là hệ quả của sự cư trú tách rời của cư dân một tộc người, thường dẫn đến sự ra đời các
nhóm địa phương. Tình hình này thường xảy ra với các tộc người nhỏ, cư trú ở miền núi, lại
ở vùng hay phải chuyểncư, đời sống không ổn định. Bức tranh của tình hình các tộc người
thiểu số ở Nam Trung Quốc, Đông Nam Á cả lục địa lẫn hải đảo là một thí dụ. Nên ta không
lấy làm lạ trong một tộc người, có khi vẫn cùng chung nét sinh hoạt, văn hóa, lại nói hai ngôn
ngữ; nhưng trong hai ngôn ngữ đó vẫn có một ngôn ngữ giao tiếp hay một văn tự để giao
tiếp. Đó là trường hợp tộc người Sán Chay ( Cao Lan – Sán Chỉ) và Chu Ru ở Việt Nam. Đó
cũng là trường hợp một số nhóm Dao và nhóm Nùng trong cộng đồng tộc người Dao và
Nùng. Trên thế giới, ta cũng thường gặp hiện tượng này như cộng đồng người Choang, Di
v.v… ở người xứ Walls, cộng đồng Gallois của xứ Galles, cộng đồng Gaélic của người Ireland
v.v… Ngược lại, cũng không loại trừ có những tộc người đã mất ngôn ngữ mẹ đẻ, sử dụng
một ngôn ngữ khác, vẫn tồn tại như một tộc người. Ơ nước ta, người Ơ Đu thường ngày
trao đổi bằng tiếng nói của các tộc người khác. Tiếng mẹ đẻ chỉ coi như một phương tiện lúc
sắp về già học để biết, nhằm có thể “ nói chuyện” được với người thân sau khi đã khuất.
Một bộ phận người Kháng, người La Ha v.v… ở Tây Bắc đã quên tiếng mẹ đẻ. c.
Ngôn ngữ là một yếu tố xác định một tộc người, một dân tộc cho dù có những biệt lệ
kể trên. Có nhà ngôn ngữ học đã nói: “ Ngôn ngữ còn, dân tộc còn, tộc ngưòi còn”. Thật thế,
ngôn ngữ mẹ đẻ là thân thương với mọi người, là tiếng nói từ tuổi thơ được người mẹ “
đánh thức cả một quá khứ dân tộc” trong lời ru trẻ thơ, là tiếng nói thiêng liêng của một
chiến binh ngã trên chiến trường trước khi rời đồng đội. Ngôn ngữ là một ngọn cờ đấu tranh
để bảo vệ sự sống còn của một tộc người, đối diện với chính sách đồng hóa ngôn ngữ của
người cầm quyền. Ơ nước ta, cuộc đấu tranh truyền bá bảo vệ tiếng quốc ngữ nở rộ vào lOMoAR cPSD| 47270246
những năm 30, 40 thế kỷXX là một bộ phận của cuộc đấu tranh yêu nước đương thời. Qua
tiếng nói, con người biểu đạt một cách sinh động, độc đáo, rất cụ thể tất cả những chi tiết
của cãnh quan đầy biến động của môi trường tự nhiên, cũng như của những quan hệ xã hội
phức tạp và nhạy cảm giữa con người và con người trên tất cả các lãnh vực từ thiết chế gia
đình, xã hội đến những tình cảm, những tín ngưỡng, những giá trị của tộc người. Tất cả
được phản ánh vào những công trình nghệ thuật: lời thơ, tiếng hát, bài văn, cho đến những
lệ luật, những truyền thuyết, huyền thoại, những áng sử thi bất hủ. Nó cũng còn được phản
ánh vào những bài thuốc dân tộc, những bí truyền nghề nghiệp, những luân lý, đạo
đức,triết học v.v… được truyền miệng hay ghi bằng văn tự, truyền từ đời này qua đời khác.
Với hơn 6000 ngôn ngữ và hàng vạn phương ngữ hay thổ ngữ và hơn 500 văn tự, phần lớn
kho tàng văn hóa phi vật thể các tộc người được lưu giữ lại qua quá trình lịch sử. Đến nay,
mặc dầu chính sách diệt chủng, đồng hóa dân tộc, đồng hóa ngôn ngữ không còn là chính
sách của những quốc gia đa tộc người, mọi người đều phải nói đến sự bình đẳng, tôn trọng
ngôn ngữ và tộc người; song tư tưởng của nó, cộng thêm áp lực của thế giới công nghiệp,
của toàn cầu hóa sẽ dẫn đến sự thui chột các ngôn ngữ tộc người, nhất là của các tộc người
nhỏ yếu sinh sống ở những miền ít có điều klện phát triển. 3. Lãnh thổ :
a. Một quốc gia dân tộc bao gồm một tộc người hay nhiều tộc người cũng phải được
xây dựng trên một lãnh thổ nhất định , được cai quản bởi một nhà nước.Một khi quốc gia
dân tộc phát triển , thì ngược lại , lãnh thổ của các tộc người cư trú ở đó lại mất đi sự bền
vững của nó.Nếu thuở ban đầu,một hay hai ba tộc người đông về dân số,phát triền kinh tế –
văn hóa , tập hợp xung quanh mình các tộc người tạo lập nên một nhà nước, quy định một
lãnh thổ quốc gia nhất định, chưa có sức chi phối các tộc người cùng cư trú, lãnh thổ tộc
người còn được tôn trọng. Về sau, khi nhà nước trung ương vững mạnh, tính thống nhất
quốc gia được củng cố, thành viên các tộc người trong một quốc gia được tự do di chuyển,
thì lãnh thổ các tộc người cũng không còn nguyên vẹn. Nguyên nhân rất phức tạp, tùy theo
những thời kỳ lịch sử khác nhau của tình hình từng khu vực, từng nước cụ thể.
Trong thời kỳ tiền công nghiệp, sự mở rộng bành trướng lãnh thổ của những tộc người
mạnh trong khu vực đã dồn các tộc người yếu ở những vùng ngoại vi, những quốc gia yếu
vào những chỗ khong ổn định. Ở phía Nam sông Dương Tử và vùng lục địa Đông Nam Á,
dưới sự bành trướng của tộc người Hán, lãnh thổ tộc người của các cư dạn xưa gọi là Man,
là Bách Việt, tổ tiên của các dân tộc người nói ngôn ngữ Tãng – Miến, Nam – Á và Nam –
Thái bị đảo lộn. Một bộ phận trụ lại, cam chịu sống trong những lĩnh thổ đã bị thu hẹp, lại
luôn biến động bởi các cuộc chiến tranh giữa các tộc người với nhau, tranh giành đất đai ở
những miền hiếm đất, sống xen kẽ hoặc độc lập trên một lãnh thổ. Một bộ phận đông hơn
di cư xuống các nước Đông Nam Á lục địa, làm thay đổi bộ mặt của các nước quốc gia dân
tộc và các tộc người ở đó, để hình thành các cộng đồng người, quốc gia dân tộc hay tộc
người, như hiện nay. Nên ta thấy ở những nước, đặc biệt là ở miền núi, lãnh thổ các tộc
người thườing không liền đất trên một khu vực có nhiều tộc người sinh sống. lOMoAR cPSD| 47270246
Sang đến thời kì công nghiệp, tình hình mở rộng, bành trướng lãnh thổ không dừng ở
trong một khu vực, mà mang tính toàn cầu. Các tộc người mạnh của những cường quốc
châu Âu đi tìm đất, chiếm thị trường, truyền đạo, dẫn đến sự đảo lộn đáng sợ trong phạm vi
toàn cầu. Những tộc người châu Au lập ra các quốc gia dân tộc mới trên cơ sở những trung
tâm công nghiệp : Mỹ, Australia, Canada, New Zealand, Nam Phi
v.v…,thay đổi đường biên giới các quốc gia theo ý mình, như ở châu Phi,châu Mỹ, phần nào
ở châu Á, thay đổi thành phần dân tộc ngưòi trong một quốc gia, tạo nên các giống người lai
(Trung Nam Mỹ), xé nát các tộc người bản địa, đẩy họ vào cá khu vực tập trung hoang dại,
tiêu diệt không thương tiếc những thổ dân, điển hình là người Tasmania(Australia)và những
người bản địa châu Mỹ, châu Australia. Trong thời gian này, nước Nga Sa Hoàng cũng bành
trướng ra những vùng xung quanh, phía bắc xuống vùng biển Trắng và biển Baren, phía
Nam đến vùng Caucasia, phía đông tiến mạnh qua dãy núi Uran tới vùng Siberia, đến tận mũi Bering và Xakhalin.
Hiện nay, bản đồ các quốc gia dân tộc là tương đối ổn định, ngoại trừ một số vùng còn
có một số điểm nóng bỏng những vùng châu Phi,vùng Balkan, Caucasia, Trung Á, Nam Á
v.v…Nên ta có thể nói rằng lãnh thổ các quốc gia dân tộc với một đường biên giới đã được
xác định, đã được Liên Hiệp Quốc công nhận chiếm số đông; số còn lại phải chăng có sự điều
chỉnh với sự thỏa hiệp giữa các quốc gia dân tộc liền kề. Nên tiêu chuẩn có một lãnh thổ với
một nhà nước cho một quốc gia dân tộc là điều không còn phải bàn cãi.
Cũng cần nói thêm lãnh thổ quốc gia dân tộc, với đường biên giới của mình, thay đổi
cùng với sự mở rộng hay thu hẹp lãnh thổ, gắn liền với số phận lãnh thổ các tộc người của
một quốc gia,một nhà nước. Nó không có quan hệ gì với biên giới tộc người, nhiều khi cắt
ngang qua các lãnh thổ tộc người. Bọn thực dân lợi dụng tính ngẫu nhiên này, đã cố ý xác
định biên giới các nước thuộc địa của chúng trong thời kỳ thực dân, tạo ra các đường biên
giới quốc gia dân tộc, không dựng trên tính lịch sử, cắt ngang trên lãnh thổ tộc người một
cách giả tạo. Sau khi các quốc gia dân tộc kiểu đó, đặc biệt là ở châu Phi, lác đác ở các châu
khác,được độc lập,những mâu thuẫn giữa các tộc người nảy nở. Bọn chúng lại đục nước béo
có, xui nguyên dục bị, gây ra những cuộc chiến tranh giữa các tộc người trong một quốc gia
hay giữa hai quốc gia nhằm buộc các quốc gia non trẻ này lệ thuộc vào chúng, dễ bề để chúng bóc lột.
b. Đối với một tộc người, cần phải nói không một tộc người ban đầu nào cư trú trên một
lãnh thổ nhất định. Chính trên cơ sở đó, họ mới tạo ra được những đặc trưng mang tính tộc
người rất riêng biệt, nhờ thái độ ứng xử với môi trường tự nhiên để khai thác sử dụng các
tài ngyuên, cũng như cùng nhau xây dựng những thiết chế gia đình, xã hội, những đặc trưng
văn hóa, lễ nghi, thờ cúng v.v…Tiếp sau, lãnh thổ tộc người hoặc được mở rộng hoặc bị thu
hẹp, quan hệ giữa các tộc người xung quanh cũng thay đổi ngày chặt chẽ hơn theo hai
hướng bạn thù. Hình thành các liên minh tộc người, các cuộc hôn nhân khác tộc, sự vay
mượn văn hóa,học tập kĩ thuật sản xuất, tiến đến sự cộng cư trên một lãnh thổ, hay đúng
hơn là các cộng đồng lãnh thổ tộc người đan xen vào nhau trên một khu vực nhất định. lOMoAR cPSD| 47270246
Đối với các tộc người lớn, với xu thế mở rộng không gian xã hội ra phạm vi toàn thế giới,
từng bộ phận thiên di sang các miền đất mới, chinh phục hoặc chung sống với các tộc người
bản địa, có trường hợp hình thành các quốc gia dân tộc mới. Những cộng đồng ngôn ngử
Anh, Pháp, Nga… đã hình thành như những bộ phận của tộc người chủ thể tại các nước. Sau
hai cuộc chiến tranh, mới cách đây gần 30 năm, người Việt đã có những cộng đồng đồng tộc
khá đông ở các nước Mỹ, Pháp, Nga, Australia v.v… Người Ả rập, người vùng Balkan, người
Armenia, người Ba Lan, người Nga, người Hán v.v… cũng vậy.
Các tộc người nhỏ đã hình thành những cộng đồng ở các nước khác nhau nguyên nhân
chủ yếu là do chiến tranh, do đi tìm đường sống như những người Ả rập, đặc biệt người
Palestin, Afghanistan, vùng Balkan, Trung Á, Đông Nam Á(Lào, Khơme) v.v… Người Tsưgan
vẵn lang thang tại khắp các nước. Người Do Thái đã thành lập nhà nước Israel(14-7-1948),
nhưng đa số vẫn cư trú ở các nước khác nhau, ở Mỹ, Liên Bang Nga, các nước Tây Au v.v…
Trong từng nước, các tộc người cũng không ở trong lãnh thổ riêng của mình, tỏa ra sống
trong các thành thị, thị trấn, các tỉnh khác nhau. Tình hình này thấy rõ rệt ở Việt Nam, nhất
là sau ngày thực hiện công cuộc đổi mới. Hàng chục vạn người dân miền núi phía Bắc đã vào
lập nghiệp trong các tỉnh Tây Nguyên, đặc biệt tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, hàng chục vạn
người khác tỏa ra các thành thị, thị trấn, các tỉnh đồng bằng. Ngược lại hàng triệu người
đồng bằng lên miền núi lập nghiệp.
Xem như vậy, ta có thể kết luận, tiêu chí lãnh thổ là tiêu chí bắt buộc đối với một dân
tộc, với một nhà nước, không nhất thiết đối với một tộc người 4.
Cộng đồng kinh tế :
Một điều hiển nhiên, buổi ban đầu khi một tộc người lớn hay nhỏ, có cùng một tên gọi,
nói một thứ tiếng, cùng sống trên một lãnh thổ, phải có chung một cộng đồng kinh tế để duy
trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng. Những tài liệu về dân tộc học có nhiều chứng cớ
chứng minh điều đó, nhất là tài liệu về các tộc người còn tồn tại trong giai đoạn sơ khai của
loài nguời như ở châu Australia và đảo Tasmania. Họ có một lãnh thổ riêng để hoạt động săn
bắn, hái luợm. Ta cũng lại thấy ở các tộc ngưòi khác như ở các châu lục, vì điều kiện tự nhiên
và xã hội cư trú ở miền hẻo lánh như cư dân Siberia. Đất Lửa, rừng nhiệt đới Đông Nam Á
hay lưu vực sông Amazon. Họ tuân thủ một tập quán với một tri thức, một trình độ kỹ thuật
sản xuất yếu kém, một cách cố chấp. Nhưng một khi tiếp xúc với các tộc nguời văn minh
hơn, một khi bản thân bước sang xã hội nông nghiệp, với việc cải tiến mau chóng công cụ
sản xuất, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, một khi nằm trong một quốc gia dân tộc
nhất định, sự phân công lao động xã hội phức tạp, ta thấy trong một tộc ngưòi đã có sự khác
nhau về lực lượng sản xuất : chăn nuôi du mục, trồng trọt, nghề thủ công, thương mại. Đến
thời điểm đó cộng đồng kinh tế của tộc nguời bị phá vỡ.
Không một tộc người nào có thể sinh sống tự cấp tự túc bằng sản phẩm lao động tự
mình sản xuất. Sự trao đổi hàng hóa giữa các tộc người dược tiến hành : giữa các cộng đồng
chăn nuôi du mục và trồng trọt, giữa các cộng đồng có ưu thế về từng loại tài nguyên kéo lOMoAR cPSD| 47270246
theo sự ưu thế về một hay những ngành nghề nhất định, nhất là trong trường hợp sự thống
nhất cộng đồng lãnh thổ tộc người bị phá vỡ. Tình hình của các tộc người thiểu số Việt Nam
là một thí dụ. Đã xuất hiện việc trao đổi hàng lấy hàng, qua đơn vị tiền tệ hay vật ngang giá,
giữa các tộc ngưòi sống ở thung lũng và trên rẻo cao, sống ở đồng bằng và miền núi, miền
ven biển và lục địa. Cộng đồng kinh tế bao trùm lên từng quốc gia dân tộc với một nhà nước
chi phối sự giao lưu hàng hóa và thuế quan. Bước sang xã hội công nghiệp, sự hình thành
một thị trường kinh tế chung của một quốc gia là rõ ràng, thông qua một kế hoạch chung
của nhà nước; đồng thời chịu sự chi phối của một thị trường mang tính toàn khu vực hay toàn cầu.
Nên với tình hình hiện nay, các tộc người, các nhóm địa phương không thể tồn tại như
một cộng đồng kinh tế chung, nhất là trong tình trạng cư dân tộc người đã cư trú phân tán
và đã cộng cư cùng các tộc người khác. Sự thiếu vắng cộng đồng lãnh thổ tộc nguời dẫn đến
sự không thống nhất cộng đồng kinh tế. Có chăng, ở những nơi số dân trong một tộc ngưòi
còn cư trú tập trung, họ bị chi phối bởi những lợi ích kinh tế chung, tiến hành những cung
cách sản xuất chung. Ta có thể kể đến những đặc điểm kinh tế của các tộc người tùy theo
khu vực lịch sử văn hóa giống nhau: cư dân chăn nuôi du mục, với những bày đàn gia súc
khác nhau:cừu, dê, bò, ngựa… hay cư dân trồng trọt với các loại lương thực chủ yếu khác
nhau: lúa, mạch, ngô, sắn, khoai sọ (taro) v.v…, cư dân miền cực bắc như ở Siberia hay miền
Đất Lửa ở cực Nam, cư dân du cư trên biển như những nhóm Đãn (Trung Quốc), Bồ Lô (Việt
Nam), các nhóm ở Philippin, Indonesia…
Ở đây cần chú ý trường hợp người Tsưgan, một cư dân đã mất tổ quốc cách đây gần
2500 năm, nay vẫn tiếp tục sống thành từng bầy, lang thang trong một vùng đất rộng lớn.
Họ có một cung cách sống, với các nghề nghiệp đặc biệt riêng cho nam giới và phụ nữ.
Đối với một dân tộc hay quốc gia dân tộc tình hình lại khác. Do xuất hiện một nhà nước,
do khẳng định một lãnh thổ riêng, mỗi một dân tộc có một cộng đồng kinh tế chung. Dưới
thời kì xã hội nông nghiệp, có thể cộng đồng kinh tế chưa được bền chặt, do sự chi phối của
chính quyền trung ương chưa thật chặt chẽ ( phương Đông), hay do bị chia ra thành các lãnh
địa cát cứ (phương Tây ), nhưng không thể có một quốc gia dân tộc không có một cộng đồng
kinh tế riêng. Tất nhiên, cộng đồng kinh tế đã gắn kết chặt chẽ hơn dưới thời kì xã hội công
nghiệp. Do đấy, mới xuất hiện hình thức dân tộc tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa.
Nhưng sự bền chắc cũng phụ thuộc vào các nước mạnh trên toàn cầu hay trong khu vực.
Hiện nay, có thể nói không có một quốc gia dân tộc nào, mà nền kinh tế không bị phụ thuộc
vào các nước khác. Hiện tượng lệ thuộc vào nhau về kinh tế đã trở thành phổ biến trong
quan hệ các quốc gia dân tộc.
Ta có thể nói rằng cộng đồng kinh tế là điều kiến bắt buộc khi ra đời một tộc người (hay
tiền tộc người: bộ lạc - thị tộc), nhưng nó không chỉ là một tiêu chí của một tộc người bất kì.
Ngược lại, để là một dân tộc, với một nhà nước, thì một tiêu chí quan trọng lại là cộng đồng kinh tế. lOMoAR cPSD| 47270246 5.
Cộng đồng văn hoá :
Muốn xác định văn hóa như một tiêu chí của một tộc người hay một dân tộc, trước hết
phải nghiên cứu tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể theo nghĩa rộng của
nó. Đó là tất cả những cái gì mà tộc người hay dân tộc đó sáng tạo hay tiếp biến của các tộc
người , dân tộc khác trong quá trình lịch sử, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Từ đó, các tộc người và dân tộc mới chọn lọc ra những yếu tố gì được coi là thân thương, là
thiêng liêng, là đặc trưng để phân biệt bản thân với các tộc người, dân tộc khác. “Văn hóa
bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”(UNESCO).Văn hoá tạo
nên cái surmoi tức là cái tôi cộng đồng, cái chúng ta. Cái đó là bền vững, gần như khó thay
đổi, hay đúng hơn chỉ được thêm thắt, bổ sung qua từng thời đại, tạo nên một cái gì xuyên
suốt từ quá khứ, qua hiện tại đến tương lai của một dân tộc.
Xét cho cùng, yếu tố cấu thành những đặc trưng văn hóa đó thường ở lĩnh vực văn hoá
phi vật thể. Thực ra rấr khó phân biệt một ranh giới rõ ràng giữa văn hóa vật thể và phi vật
thể.Một văn hoá vật hóa vật thể luôn mang trong mình nó những yếu tố không thể đo đếm
được. Cùng một căn nhà trệt hay nhà sàn, thậm chí một cái bát, cái chén v.v…, mỗi tộc
người cũng để lại trên dấu ấn riêng biệt của nó trên hình dáng, trong cấu trúc, ở các mô típ
trang trí, các màu sắc v.v…Một bộ y phục may cắt giống nhau cũng được các tộc người, dân
tộc tạo nên những dáng khác lạ với những màu sắc, những hoa văn, khẳng định cái riêng của
mình, với các cộng đồng người xung quanh. Ngược lại, những văn hóa phi vật thể luôn phải
biểu hiện dưới những dạng vật chất cụ thể, ngay như trong lĩnh vực thờ cúng nghi lễ. Tuy
nhiên, giá trị của văn hóa vật thể và phi vật thể lại có một phương thức tồn tại và phát triện
khác nhau. Phần phi vật thể trong các đơn vị vănb hóa tập thể hay văn hóa phi vật thể là cái
đi sâu và tâm thất của cộng đồng, được các tộc người , dân tộc trân trọng, nâng niu, gìn giữ
thường được chọn làm biểu tượng, làm vật tượng trưng cho dân tộc, địa phương.
Văn hóa đặc trưng của một tộc người, một dân tộc cũng chưa phải là những biểu hiện
trong sinh hoạt đời sống văn hóa hằng ngày. Nếu khi xưa trong thời kì nông nghiệp, những
yếu tố văn hóa truyền thống còn được bảo lưu khá bền chặt qua tầng lớp thượng lưu, rồi
mới lan tỏa dần ra dân chúng. Một tộc người, một dân tộc có thì giờ ngẫm nghỉ, thu nhập cải
biên cho thích hợp. Quá trình tộc người hay dân tộc hóa diễn ra rất lâu, rất ít có trường hợp
yếu tố văn hóa ngoại lai còn giữ lại nguyên vẹn. Nhưng ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ
của thời kỳ công nghiệp mang tính toàn cầu, những yếu tố văn hóa ngoại lai tràn vào, có khi
trực tiếp ngay với người dân, dồn dập khó còn để thời gian cho con người lựa chọn, sàng
lọc. Nên trong sinh hoạt đời sống thường ngày, những yếu tố truyền thống và du nhập đan xen nhau, cùng tồn tại.
Một điều dễ nhận thấy cho dù trong đời sống thường ngày, mọi người đã quen sử dụng
những yếu tố văn hóa ngoại lai, như trong lĩnh vực ăn, ở, mặc, đi lại, lao động, nói năng,
thậm chí suy nghĩ, tín ngưỡng, nhưng họ vẫn chưa nhận những giá trị văn hóa đó là văn hóa
tộc người hay dân tộc. Ở Việt Nam phổ biến câu nói cửa miệng: nhà Tây, đồ Mỹ, thức ăn
Tàu, máy móc Nhật Bản v.v… Ngược lại, họ vẫn nhận những giá trị văn hóa mang tính dân lOMoAR cPSD| 47270246
tộc hay tộc người từ những yếu tố văn hóa truyền thống của tổ tiên, mà nay họ chỉ chiêm
ngưỡng chứ không sử dụng.
Vậy chỉ có những giá trị văn hóa, cho dù là vật thể hay phi vật thể, được chấp nhận có
tính tộc người hay dân tộc, một khi chúng đã trở thành những biểu tượng sâu sắc in đậm
trong tình cảm, trong tư tưởng của tộc người hay dân tộc, mới trở thành văn hóa đặc
trưng của tộc người hay dân tộc.
Sự đóng góp những yếu văn hóa các tộc người, thành viên của một dân tộc, vào kho
tàng văn hóa cộng đồng quốc gia dân tộc, nhiều hay ít là tùy thuộc vào trình độ phát triển,
vào số dân của từng tộc người. Đó là những giá trị văn hóa được toàn thể dân tộc chấp nhận
như của bản thân. Có thể là những tuật ngữ của tiếng nói các tộc ngưòi được sử dụng trong
quốc ngữ, là những giá trị văn hóa: trang phục, nhà cửa, công trình kiến trúc, vănn hóa nghệ
thuật, lễ hội, các điểm hành hương, tín ngưỡng, tôn giáo; đặc biệt là những đóng góp vào
lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, những trận đánh giỏi, tên tuổi các danh nhân, các
vị anh hùng tiêu biểu của từng tộc người. Tóm lại, đó là những gì tạo nên không chỉ là lòng
tự hào của riêng từng tộc người, mà của toàn dân tộc, tạo nên một bản sắc của tất cả các
tộc người trong một dân tộc.
Đối với dân tộc Việt Nam, ta có thể thấy trong bộ tự vựng tiếng Việt, đồng thời là tiếng
Quốc ngữ, những từ của các cư dân Môn – Khơme, Tày – Thái, Nam – Đảo, Hmông – Dao
v.v… Ta tự hào với các bộ trang phục, các kiến trúc nhà cửa(nhà dài của người Ê Đê, nhà sàn
của các dân tộc), những tháp Chàm, chùa Khơme, khu mộ táng Tây Nguyên, điệu xòe Thái,
cồng chiêng, đàn Tơ rưng, krông pút của người Thượng, những bộ sử thi của người vắng
bóng ở người Việt, giàu có ở các tộc người anh em, các công trình văn học như Sóng chụ sôn
sao, Khun Lú, Náng ủa, Đẻ đất đẻ nước, Nam Kim Thị Đan, những địa điểm như Mường
Thanh, Buôn Ma Thuộc, Bà Đen, Bẩy Núi, đền bà Thiên Yana; nhất là những trang lịch sử
được các tộc người trên đất nước chung sức viết lên qua các cuộc khởi nghĩa từ Hai Bà
Trưng đến các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, trải dài lịch sử, gắn liền với tên tuổi của Lý
Thường Kiệt, Trần HưngĐạo, Lê Lợi, Quang Trung, gần đây với hai cuộc kháng chiến thần
thánh giải phóng dân tộc, mà tên tuổi của Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại.
Văn hóa tộc người và văn hóa dân tộc vẫn có sự phân biệt. Mỗi tộc người vẫn có những
đặc trưng sinh hoạt văn hóa của riêng bản thân, thường lấy đó để phân biệt với tộc người
khác ở xung quanh. Những đặc trưng đó thường được các nhà nghiên cứu tìm tòiphân tích
bằng phương pháp so sánh để khẳng định. Đó là kết quả một quá trình nghiên cứu công
phu, nhưng với dân chúng có điều hộ chấp nhận, có điều đặc trưng để khẳng định cái ta,
phân biệt với cái khác ta mang tính tộc người, nhiều khi chỉ là những dấu hiệu đơn giản, dễ
nhận thấy trong cuộc sống, như một nét khác nhau qua cách ăn uống(người Tày ăn cơm,
người Hmông ăn ngô), trong cách ăn mặc(người Tày mặc áo dài, người Nùng mặc áo ngắn),
giọng nói, những điều kiêng cử, thờ cúng v.v… lOMoAR cPSD| 47270246
Vậy nên, đối với một tộc người, cũng như một dân tộc, tiêu chí xác định về văn hóa là
những đặc trưng trong lối sống văn hóa của tộc người, dân tộc, chứ không hẳn là tổng thể
sinh hoạt văn hóa diễn ra thường ngày. Những đặc trưng đó bền vững đi sóng đôi với tộc
người hay dân tộc qua những chặng đường lịch sử, đã trở nên một mảng đời của tộc người,
của dân tộc không thể chia cắt. Nó tạo nên một tính cách văn hóa của dân tộc, của tộc người.
Cần lưu ý nếu một nhóm địa phương chấp nhận tộc thuộc về một tộc người qua một số
đặc trưng sinh hoạt văn hóa tộc ngưòi nhất định, thì một tộc người chấp nhận mình thuộc
về một dân tộc nhất định, cũng phải thấy bản thân gắn bó với một số đặc trưng sinh hoạt
văn hóa của một quốc gia dân tộc, và cũng có những đặc trưng sinh hoaạt văn hóa riêng để
phân biệt với tộc người khác.