lOMoARcPSD| 47270246
Tiêu chí xác định mt quc gia dân tc
Xác định tiêu chí ca mt dân tc (nation) hay mt tộc người ( ethnie), một nhóm địa
phương cũng cần mt cái nhìn toàn din. Cộng đồng người trước hết thuc mt hay nhiu
chng tc, phân b trên mt lãnh th như thế nào, ti sao, dân s đông hay ít, đơn ngữ hay
đa ngữ, sinh hot kinh tế, t chc xã hi ra sao, tuân theo một tín ngưỡng tôn giáo nào, li
sng và sinh hoạt văn hóa biểu hin thế nào, đặc bit là có ý thc thuc v dân tc hay tc
người này, tc là có ý thc chp nhn mt tên gi, thuc v mt s phn lch s nhất định
nào. Đó là việc làm ca ngành dân tc hc theo thut ng thường dùng của trường phái
Pháp, Nga ( Liên Xô cũ) hay của ngành Nhân hc văn hóa ( anthropologie culturelle) theo
thut ng của trường phái Anglo saxons. Tuy nhiên trong hoàn cnh c th một nước, xác
định thành phn ca mt dân tc, hay mt tộc người thông thường chn nhng tiêu chun
ni bt, ví d nếu Đông Nam Á, tiêu chí nhân chủng không quan trng bng Châu M La
Tinh, đó sự lai tp gia các giống người đen, trắng,vàng, giữa các cư dân của các quc gia
khác nhau đến t cư sinh sống, ngược li ngôn ngữ, văn hóa lại ni trội đặc biệt đối vi
nhng vùng các tộc người cư trú xen kẽ min núi.
Xác định mt dân tc hay mt tộc người cũng thường da trên nhng tiêu chí
giống nhau. Có điều nếu tiêu chí quan trng đối vi dân tc là lãnh thổ, là nhà nưóc ( thiết
chế chính tr), thì quan trọng đối vi mt tộc người, một nhóm địa phương lại là văn hóa, là
tính t giác. Để tin trình bày, tôi gii thiu từng tiêu chí trong đó sẽ nói rõ s khác bit v
tm quan trng ca từng tiêu chí đối vi dân tc, cộng đồng lãnh th, cộng đồng chính tr
hội và đối vi tộc người, nhóm địa phương – cộng đồng tộc người.
1. Tên gi :
Mi mt dân tc hay tc người khi mới được hình thành đã có ngay yêu cầu t đặt
cho mình mt tên gi. Các dân tc và tộc người xung quanh biết đến h cũng lại có nhu cu
đặt cho h mt tên gi. Nên ví thế mi dân tc, mi tộc người thường mang nhiu tên gi
khác nhau. Chn mt tên gọi đúng đắn cho mt dân tc hay tộc người là biu th thái độ tôn
trọng đối vi cộng đồng đó, đồng thi chng t ý thc nghiêm túc v mt khoa học. Đúng
như Ph. Angghen viết: “ Tên gọi là một đặc tính ca mt dân tc”. Tên gọi không phi là mt
cái gì bt biến, cũng như bản thân dân tc hay tộc người cũng không phải là mt cộng đồng
người không thay đổi. Mt tên gọi cũng không hẳn đã bao hàm một đối tượng nhất định vi
nhng thi gian khác nhau. V. A . Nikônôv nói rất đúng rằng : “ Tên dân tộc có vn mnh
riêng của nó. Còn đối tượng của tên đó lại có th có vn mnh khác. Và ch trong mt thi
k nào đó, một tên dân tc mi ch đúng với một đối tượng. Trước sau thi k đó, tên gọi
ch một đối tượng khác, cũng như đối tượng cũng có thể mang mt tên khác”.
Ly thí d tên Vit và Việt Nam thì rõ. Đã có thời k người Việt được gi là Cheo ( Keo)
phiên âm Hán Việt thành Giao; đất Việt Nam được gi là Giao Ch. T Tùng Thch cho Giao
nghĩa là trắng, trong trng. Tên này vẫn được mt b phn người H’Mông dùng; người
nhóm ngôn ng Tày Thái cũng gọi người đất Vit là Keo, Kẹo, mường Keo, Ko với ý nghĩa
lOMoARcPSD| 47270246
trên, trng, ngc ngà. Rõ ràng là thành phần cư dân Giao không ch bao hàm khối cư dân
ngày nay, mà rt có th bao gồm các nhóm cư dân Việt- ng, Môn Khơme cổ xưa trong
vùng. Có mt thi k danh t Kinh ch dùng để gọi các cư dân Việt sinh sống nơi kinh kỳ hay
nói rộng ra là nơi đã được giáo hóa bởi văn minh Trung Hoa, mà không bao hàm toàn b
dân Vit.
Các dân tc hay tộc người ưa chọn tên ca bản thân đặt ra, tên t gi, nhm t phân
bit vi các cộng đồng xung quanh. Tuy nhiên s tên t đặt tht ra không nhiều, vì thường
biến mt hay b tên mà các tộc người xung quanh đặt cho ln át. Ph.Ang ghen cho rằng “hình
như tên gọi ca b lc phn nhiều được đặt ra mt cách ngẫu nhiên hơn là được chn la
mt cách có ý thc. Trong quá trình chung sống, thông thường b lạc đã nhận tên gi t
nhng b lc láng giềng đặt cho mình. Tên này thường rt khác vi tên mà chính ngay b lc
đó tự gọi mình”. Những tên đó lúc đầu chưa mang tính miệt thị, ngay như trường hp thut
ng Mán, Mi, Xá, nhng tên phiếm xưng nhằm ch cư dân một vùng khác l vi mình, hay
như Bru, Cơ Ho, Ba Noong, Mnông v.v…… Những tên mang tính mit th nhm gán cho
người khác, ch xut hin sau này trong nhng xã hội đã có sự phân bit dân tc và tc
người, thường li là nhng tên do bọn đi xâm chiếm đặt cho người b xâm lược. Tên nước
An Nam, Annamite được xem như một tên gi s nhc với người Vit Nam.
Gần đây, với phong trào giành độc lp ca các quc gia dân tc, trên tinh thân bình
đẳng tôn trng ln nhau, các tộc người, các quc gia dân tc t đặt tên li cho bn thân,
nht là các quc gia dân tộc xưa bị áp bc, b thay đổi tên; đồng thi yêu cu gọi đúng tên
gi theo phiên âm ca ngôn ng dân tc mình.
Các tộc người nht là các tộc người thiu s cũng đòi hỏi được gọi đúng tên tộc
người, xóa b nhng tên gi mang tính mit th tộc người
Tên gi các quc gia dân tc trên thế giới nói chung đến nay được t mình đặt ra,
đưc Liên Hip Quc công nhận, được nhân dân thế gii tôn trng. Tuy nhiên, mi dân tc,
mi tộc người vn gi thut ng riêng để gi mt quc gia dân tc, do thói quen, không có ý
mit thị, như người Vit Nam gi dân tc France là Pháp, Rut-xia là Nga, Italia là Ý, Germani
là Đức v.v… Có thể s có những thay đổi mt s ớc, nhưng cũng là do bản thân t đề
xut. Tên gi các tộc người, các nhóm địa phương trong từng quc gia- dân tộc còn chưa
đưc nghiên cu, nhất là đối vi những cư dân ở các vùng ho lánh, cách bit. Tình trng
các sách báo thng kê tên gi các tộc người, các nhóm địa phương một nước khác nhau
đương còn là phổ biến, vì bn thân s thng kê s lượng cũng chưa thng nht các nước
đa tộc người như ở Châu Á, Châu Phi, Châu Đại dương và Châu Mỹ la tinh. Ơ nước ta, sau
gần 20 năm nghiên cứu, bng danh mc các tộc người được công b năm 1979, được gii
khoa hc hoan nghênh, vì trong các tên gọi đã lưu ý nguyên tắc tôn trng tên thông dng,
trong đó phần đông là tên tự gi ca các tộc người, các nhóm địa phương, khôi phúc lại các
tên gọi đúng đắn của các cư dân, rõ rệt nhất là các cư dân Môn – Khơme ở min Bắc, cương
quyết xóa b các tên gi mang tính k th dân tc, xúc phm tình cm dân tc.
lOMoARcPSD| 47270246
2. Ngôn ng :
Người trong mt dân tc hay mt tộc người d dàng nhn ra nhau, cho dù c
này hay nước khác mt phn là qua ngôn ng. Nên có th nói ngôn ng là du hiu khó có
th thiếu được trong việc xác định mt dân tc, mt tộc người, tr những trường hp bit
l.
a. Đối vi các thành viên ca mt quc gia dân tộc, đó là ngôn ngữ chính thức được
dùng trong hành chính ca quc gia đó.Loại ngôn ng này thường tp trung vào mt s
ngôn ng có tính ph biến trên thế gii, có chức năng giao tiếp vượt ra khi biên gii tc
người hay quc gia dân tc. Liên Hip Quc công nhn sáu ngôn ng: Anh, Pháp, Nga, Hán,
Tây Ban Nha và Arập, được s dng trong các cuc họp và các văn bản của cơ quan đầu não
thế gii này. Có 12 ngôn ng đưc s dng cho 2/3 dân s thế gii, là tiếng nói chính thc
ca quc gia, là tiếng m đẻ th hai, hoc là sinh ng bt buc các trường trung hc, là
tiếng nói giao tiếp trong giới thượng lưu. Tiếng Anh có 800 triệu người s dụng, được nhiu
c vi 403 triệu người coi là tiếng nói chính thc dùng trong hành chính, 55 triu Anh (
theo s liệu năm 1984), 210 triệu M, 14 triu Canađa, 15,6 triệu Australia v.v …Tiếng
Tây Ban Nha có 156 triệu người s dụng, trong khi đó ở Mexico và Trung M là 81,1 triu,
Caribe 18 triu, Nam M 89,5 triu, M 14 triu, Philippines 0,5 triệuv.v… Tiếng Hán (
Quan ha) là tiếng nói chín thc của nước CHND Trung Hoa với hơn một t dân, là tiếng nói
giao tiếp của các cư dân Hoa trên toàn thế gii, là sinh ng học trong trường hc nhiu
c Viễn Đông, nhưng gần đây lại chưa phải đã là tiếng ph biến ngay trong tộc người
Hán, vì s dân nói các phương ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, Triu Châu, Hẹ, v.v… lên đến
hàng chc triu. Tiếng Hindi ( An Độ) cũng vậy, là mt trong hai tiếng nói chính thc ca n
Độ, nhưng số đông người An Độ thuc các tộc người khác li ít biết. Tiếng Pháp có khong
110 triệu người s dng, là tiếng nói chính thc của nước Pháp và mt s ớc khác. Ơ
Pháp có 51 triu, Canada 5,8 triu, M 2,6 triu, B 4 triu. Tiếng Pháp có nhiều phương ngữ
như Normand, Picard, Wallon, Angevin v.v…, là sinh ngữ dy trong nhiều nước, đặc bit là
các nước trong cộng đồng Fracophone. Tiếng Nga là tiếng nói chính thc ca Liên Bang Nga,
xưa của Liên bang Xô Viết, là sinh ng ph biến nhiu trường đại học các nước được nhiu
tộc người phi Nga coi là tiếng m đẻ th hai (16,3 triu), hay sinh ng th hai ( 61,3 triu), là
tiếng nói ca nhiu b phận cư dân các nước, ví d M có 334.615 người ( s liu 1970),
31.795 người Canada, mt thời đa số các nước xã hi ch nghĩa. Tổng cộng có hơn 280
triệu người s dng ( s liu ca Liên Xô 1986). Tiếng B Đào Nha là tiếng nói chính thc
trong nước ( 10 triệu), nhưng lại là tiếng nói chính thc ca Braxin (125 triu). Ơ Mỹ
365.000 người nói tiếng B Đào Nha, ở Canada 87000, Goa ( An Độ) 250000, Ma Cao
2000 người… Tổng s toàn thế gii có 154 triệu người s dng tiếng B Đào Nha. Tiếng Arp
phân b rng rãi min Trung Cận Đông và Bắc Phi vi s lượng 200 triu dân, phân ra
nhiu ngôn ng gần gũi nhau như tiếng Ai Cp, Algeria, Marocco, Tunisia, Iraq, Syria, Sudan,
Tiểu vương quốc Arập v.v…, nhưng còn phổ biến trong thế gii Hi giáo, vi s lượng hơn
mt t dân, trong các tng lớp thượng lưu và chưc sắc đạo Hi.
lOMoARcPSD| 47270246
Mt s quc gia dân tộc khác cũng có tiếng nói chính thc ca dân tc mình mang
tính hành chính. Có những nước và liên bang có hai, ba v.v… ngôn ng ni tri (Thụy Sĩ có
tiếng Đức, Ý, Pháp), Canada ( Anh,Pháp), B ( Đức, Pháp). Có hin ng ngoài ngôn ng
chính thc quốc gia ( An Độ vi tiếng Hindi; Pakistan vi tiếng Urdu v.v…), vẫn có thêm mt
th tiếng th hai, tiếng Anh ph biến trong văn bản hành chính, trong trường hc. Tiếng nói
chính thc ca mt quc gia dân tộc thông thường là tiếng nói ca tộc người có v trí tp
hp các tộc người khác trong quốc gia đa tộc người: tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng
Hindi, tiếng Hán, tiếng Vit, tiếng Lào, tiếng Ba Lan, tiếng Thụy Điển v. v… Nên những tiếng
nói ca tộc ngưởi đó vừa là tiếng nói ca tộc người ( Vit) va là tiếng nói ca c c (
tiếng quc ng).
b. S xut hin các ngôn ng quc gia, nht là các ngôn ng có tính toàn thế gii hay
khu vc, dẫn đến s thui cht các ngôn ng tc người. Theo cun sách ca Vin ngôn ng
trong tình hình gần đây, ở M đã mất đi 22/ 189 tiếng nói các tộc người, Brazil 30/238,
Liêng bang Xô viết ( cũ) 4/ 161, An Độ 10/391, Inđônesia 3/669. Thật là buồn cười, các tác
gi cuốn sách đó cho biết Việt Nam đã mất đi 1/77 ngôn ngữ, đó là tiếng Tayboi ( Tây bi
).
Tiếng nói ca mi tộc người cũng có thể bao hàm nhiều phương ngôn hay thổ ngữ. Đó
là h qu ca s cư trú tách rời của cư dân một tộc người, thường dẫn đến s ra đời các
nhóm địa phương. Tình hình này thường xy ra vi các tộc người nhỏ, cư trú ở min núi, li
vùng hay phi chuyểncư, đời sng không ổn định. Bc tranh ca tình hình các tộc người
thiu s Nam Trung Quốc, Đông Nam Á cả lục địa ln hải đảo là mt thí d. Nên ta không
ly làm l trong mt tộc người, có khi vn cùng chung nét sinh hoạt, văn hóa, li nói hai ngôn
ngữ; nhưng trong hai ngôn ngữ đó vẫn có mt ngôn ng giao tiếp hay một văn tự để giao
tiếp. Đó là trường hp tộc người Sán Chay ( Cao Lan Sán Ch) và Chu Ru Việt Nam. Đó
cũng là trường hp mt s nhóm Dao và nhóm Nùng trong cộng đồng tộc người Dao và
Nùng. Trên thế giới, ta cũng thường gp hiện tượng này như cộng đồng người Choang, Di
v.v… ở người x Walls, cộng đồng Gallois ca x Galles, cộng đồng Gaélic của người Ireland
v.v… Ngược lại, cũng không loại tr có nhng tộc người đã mất ngôn ng m đẻ, s dng
mt ngôn ng khác, vn tn tại như một tộc người. Ơ nước ta, người Ơ Đu thường ngày
trao đổi bng tiếng nói ca các tộc người khác. Tiếng m đẻ ch coi như một phương tiện lúc
sp v già học để biết, nhm th “ nói chuyện” được với người thân sau khi đã khuất.
Mt b phận người Kháng, người La Ha v.v… ở Tây Bắc đã quên tiếng m đẻ.
c. Ngôn ng là mt yếu t xác định mt tộc người, mt dân tc cho dù có nhng bit l
k trên. Có nhà ngôn ng học đã nói: “ Ngôn ng còn, dân tc còn, tộc ngưòi còn”. Thật thế,
ngôn ng m đẻ là thân thương với mọi người, là tiếng nói t tuổi thơ được người m
đánh thức c mt quá kh dân tộc” trong lời ru tr thơ, là tiếng nói thiêng liêng ca mt
chiến binh ngã trên chiến trường trước khi rời đồng đội. Ngôn ng là mt ngn c đấu tranh
để bo v s sng còn ca mt tộc người, đối din với chính sách đồng hóa ngôn ng ca
người cm quyền. Ơ nước ta, cuộc đấu tranh truyn bá bo v tiếng quc ng n r vào
lOMoARcPSD| 47270246
những năm 30, 40 thế kXX là mt b phn ca cuộc đấu tranh yêu nước đương thời. Qua
tiếng nói, con người biểu đạt một cách sinh động, độc đáo, rất c th tt c nhng chi tiết
của cãnh quan đầy biến động của môi trường t nhiên, cũng như của nhng quan h xã hi
phc tp và nhy cm giữa con người và con người trên tt c các lãnh vc t thiết chế gia
đình, xã hội đến nhng tình cm, những tín ngưỡng, nhng giá tr ca tộc người. Tt c
đưc phn ánh vào nhng công trình ngh thut: lời thơ, tiếng hát, bài văn, cho đến nhng
l lut, nhng truyn thuyết, huyn thoi, nhng áng s thi bt hủ. Nó cũng còn được phn
ánh vào nhng bài thuc dân tc, nhng bí truyn ngh nghip, những luân lý, đạo
đức,triết học v.v… được truyn ming hay ghi bằng văn tự, truyn t đời này qua đời khác.
Với hơn 6000 ngôn ngữ và hàng vạn phương ngữ hay th ng và hơn 500 văn tự, phn ln
kho tàng văn hóa phi vật th các tộc người được lưu giữ li qua quá trình lch sử. Đến nay,
mc du chính sách dit chủng, đồng hóa dân tộc, đồng hóa ngôn ng không còn là chính
sách ca nhng quốc gia đa tộc người, mi người đều phải nói đến s bình đẳng, tôn trng
ngôn ng và tộc người; song tư tưởng ca nó, cng thêm áp lc ca thế gii công nghip,
ca toàn cu hóa s dẫn đến s thui cht các ngôn ng tộc người, nht là ca các tộc người
nh yếu sinh sng nhng miền ít có điều kln phát trin.
3. Lãnh th :
a. Mt quc gia dân tc bao gm mt tộc người hay nhiu tộc người cũng phải được
xây dng trên mt lãnh th nhất định , được cai qun bi một nhà nước.Mt khi quc gia
dân tc phát triển , thì ngược li , lãnh th ca các tc người cư trú ở đó lại mất đi sự bn
vng ca nó.Nếu thu ban đầu,mt hay hai ba tộc người đông về dân s,phát trin kinh tế
văn hóa , tập hp xung quanh mình các tộc người to lp nên một nhà nước, quy định mt
lãnh th quc gia nhất định, chưa có sức chi phi các tộc người cùng cư trú, lãnh thổ tc
người còn được tôn trng. V sau, khi nhà nước trung ương vững mnh, tính thng nht
quốc gia được cng c, thành viên các tộc người trong mt quốc gia được t do di chuyn,
thì lãnh th các tộc người cũng không còn nguyên vẹn. Nguyên nhân rt phc tp, tùy theo
nhng thi k lch s khác nhau ca tình hình tng khu vc, từng nước c th.
Trong thi k tin công nghip, s m rng bành trướng lãnh th ca nhng tộc người
mnh trong khu vực đã dồn các tộc người yếu nhng vùng ngoi vi, nhng quc gia yếu
vào nhng ch khong ổn định. phía Nam sông Dương T và vùng lục địa Đông Nam Á,
i s bành trướng ca tộc người Hán, lãnh th tộc người của các cư dạn xưa gọi là Man,
là Bách Vit, t tiên ca các dân tc người nói ngôn ng Tãng Miến, Nam Á và Nam
Thái b đảo ln. Mt b phn tr li, cam chu sng trong những lĩnh thổ đã bị thu hp, li
luôn biến động bi các cuc chiến tranh gia các tộc người với nhau, tranh giành đất đai ở
nhng min hiếm đất, sng xen k hoặc độc lp trên mt lãnh th. Mt b phận đông hơn
di cư xuống các nước Đông Nam Á lục địa, làm thay đổi b mt của các nước quc gia dân
tc và các tộc người đó, để hình thành các cộng đồng người, quc gia dân tc hay tc
người, như hiện nay. Nên ta thy những nước, đặc bit là min núi, lãnh th các tc
người thườing không liền đất trên mt khu vc có nhiu tộc người sinh sng.
lOMoARcPSD| 47270246
Sang đến thi kì công nghip, tình hình m rộng, bành trướng lãnh th không dng
trong mt khu vc, mà mang tính toàn cu. Các tộc người mnh ca những cường quc
châu Âu đi tìm đất, chiếm th trường, truyền đạo, dẫn đến s đảo lộn đáng sợ trong phm vi
toàn cu. Nhng tộc người châu Au lp ra các quc gia dân tc mới trên cơ sở nhng trung
tâm công nghip : M, Australia, Canada, New Zealand, Nam Phi
v.v…,thay đổi đường biên gii các quốc gia theo ý mình, như ở châu Phi,châu M, phn nào
châu Á, thay đổi thành phn dân tộc ngưòi trong mt quc gia, to nên các giống người lai
(Trung Nam M), xé nát các tộc người bản địa, đẩy h vào cá khu vc tp trung hoang di,
tiêu diệt không thương tiếc nhng th dân, điển hình là người Tasmania(Australia)và nhng
người bản địa châu M, châu Australia. Trong thời gian này, nước Nga Sa Hoàng cũng bành
trướng ra nhng vùng xung quanh, phía bc xung vùng bin Trng và bin Baren, phía
Nam đến vùng Caucasia, phía đông tiến mnh qua dãy núi Uran tới vùng Siberia, đến tn
mũi Bering và Xakhalin.
Hin nay, bản đồ các quc gia dân tộc là tương đối ổn định, ngoi tr mt s vùng còn
có mt s đim nóng bng nhng vùng châu Phi,vùng Balkan, Caucasia, Trung Á, Nam Á
v.v…Nên ta có thể nói rng lãnh th các quc gia dân tc vi một đường biên giới đã được
xác định, đã được Liên Hip Quc công nhn chiếm s đông; số còn li phải chăng có sự điu
chnh vi s tha hip gia các quc gia dân tc lin k. Nên tiêu chun có mt lãnh th vi
một nhà nước cho mt quc gia dân tộc là điều không còn phi bàn cãi.
Cũng cần nói thêm lãnh th quc gia dân tc, với đường biên gii của mình, thay đổi
cùng vi s m rng hay thu hp lãnh th, gn lin vi s phn lãnh th các tộc người ca
mt quc gia,một nhà nước. Nó không có quan h gì vi biên gii tc người, nhiu khi ct
ngang qua các lãnh th tộc người. Bn thc dân li dng tính ngẫu nhiên này, đã cố ý xác
định biên giới các nước thuộc địa ca chúng trong thi k thc dân, tạo ra các đường biên
gii quc gia dân tc, không dng trên tính lch s, ct ngang trên lãnh th tộc người mt
cách gi to. Sau khi các quc gia dân tc kiểu đó, đặc bit là châu Phi, lác đác ở các châu
khác,được độc lp,nhng mâu thun gia các tộc người ny n. Bn chúng lại đục nước béo
có, xui nguyên dc b, gây ra nhng cuc chiến tranh gia các tộc người trong mt quc gia
hay gia hai quc gia nhm buc các quc gia non tr này l thuc vào chúng, d b để
chúng bóc lt.
b. Đối vi mt tộc người, cn phi nói không mt tộc người ban đầu nào cư trú trên một
lãnh th nhất định. Chính trên cơ sở đó, họ mi tạo ra được những đặc trưng mang tính tộc
người rt riêng bit, nh thái độ ng x với môi trường t nhiên để khai thác s dng các
tài ngyuên, cũng như cùng nhau xây dựng nhng thiết chế gia đình, xã hội, những đặc trưng
văn hóa, lễ nghi, th cúng v.v…Tiếp sau, lãnh th tộc người hoặc được m rng hoc b thu
hp, quan h gia các tộc người xung quanh cũng thay đổi ngày cht ch hơn theo hai
ng bn thù. Hình thành các liên minh tộc người, các cuc hôn nhân khác tc, s vay
ợn văn hóa,học tập kĩ thuật sn xut, tiến đến s cộng cư trên một lãnh thổ, hay đúng
hơn là các cộng đồng lãnh th tộc người đan xen vào nhau trên một khu vc nhất định.
lOMoARcPSD| 47270246
Đối vi các tộc người ln, vi xu thế m rng không gian xã hi ra phm vi toàn thế gii,
tng b phn thiên di sang các miền đất mi, chinh phc hoc chung sng vi các tộc người
bản địa, có trường hp hình thành các quc gia dân tc mi. Nhng cộng đồng ngôn ng
Anh, Pháp, Nga… đã hình thành như những b phn ca tc người ch th tại các nước. Sau
hai cuc chiến tranh, mới cách đây gần 30 năm, người Việt đã có nhng cộng đồng đồng tc
khá đông ở các nước Mỹ, Pháp, Nga, Australia v.v… Người rập, người vùng Balkan, người
Armenia, người Ba Lan, người Nga, người Hán v.v… cũng vậy.
Các tộc người nh đã hình thành những cộng đồng các nước khác nhau nguyên nhân
ch yếu là do chiến tranh, do đi tìm đường sống như những người rập, đặc biệt người
Palestin, Afghanistan, vùng Balkan, Trung Á, Đông Nam Á(Lào, Khơme) v.v… Người Tsưgan
vn lang thang ti khắp các nước. Người Do Thái đã thành lập nhà nước Israel(14-7-1948),
nhưng đa số vẫn cư trú ở các nước khác nhau, Mỹ, Liên Bang Nga, các nước Tây Au v.v…
Trong từng nước, các tộc người cũng không ở trong lãnh th riêng ca mình, ta ra sng
trong các thành th, th trn, các tnh khác nhau. Tình hình này thy rõ rt Vit Nam, nht
là sau ngày thc hin công cuộc đổi mi. Hàng chc vạn người dân min núi phía Bắc đã vào
lp nghip trong các tỉnh Tây Nguyên, đặc bit tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, hàng chc vn
người khác ta ra các thành th, th trn, các tỉnh đồng bằng. Ngược li hàng triệu người
đồng bng lên min núi lp nghip.
Xem như vậy, ta th kết lun, tiêu chí lãnh th tiêu chí bt buộc đi vi mt dân
tc, vi một nhà nước, không nht thiết đối vi mt tộc người
4. Cộng đồng kinh tế :
Một điều hin nhiên, buổi ban đầu khi mt tộc người ln hay nh, có cùng mt tên gi,
nói mt th tiếng, cùng sng trên mt lãnh th, phi có chung mt cộng đồng kinh tế để duy
trì và phát trin cuc sng ca cộng đồng. Nhng tài liu v dân tc hc có nhiu chng c
chứng minh điều đó, nhất là tài liu v các tộc người còn tn tại trong giai đoạn sơ khai của
loài nguời như ở châu Australia và đảo Tasmania. H có mt lãnh th riêng để hoạt động săn
bn, hái luợm. Ta cũng lại thy các tộc ngưòi khác như ở các châu lục, vì điều kin t nhiên
và xã hội cư trú ở min hẻo lánh như cư dân Siberia. Đất La, rng nhiệt đới Đông Nam Á
hay lưu vực sông Amazon. H tuân th mt tp quán vi mt tri thc, một trình độ k thut
sn xut yếu kém, mt cách c chấp. Nhưng một khi tiếp xúc vi các tc nguời văn minh
hơn, một khi bản thân bước sang xã hi nông nghip, vi vic ci tiến mau chóng công c
sn xut, khai thác hiu qu tài nguyên thiên nhiên, mt khi nm trong mt quc gia dân tc
nhất định, s phân công lao động xã hi phc tp, ta thy trong mt tộc ngưòi đã có sự khác
nhau v lực lượng sn xuất : chăn nuôi du mục, trng trt, ngh th công, thương mại. Đến
thời điểm đó cộng đồng kinh tế ca tc ngui b phá v.
Không mt tộc người nào có th sinh sng t cp t túc bng sn phẩm lao động t
mình sn xut. S trao đổi hàng hóa gia các tộc người dược tiến hành : gia các cộng đồng
chăn nuôi du mục và trng trt, gia các cộng đồng có ưu thế v tng loi tài nguyên kéo
lOMoARcPSD| 47270246
theo s ưu thế v mt hay nhng ngành ngh nhất định, nhất là trong trường hp s thng
nht cộng đồng lãnh th tộc người b phá v. Tình hình ca các tộc người thiu s Vit Nam
là mt thí dụ. Đã xuất hin việc trao đổi hàng lấy hàng, qua đơn vị tin t hay vt ngang giá,
gia các tộc ngưòi sống thung lũng và trên rẻo cao, sng đồng bng và min núi, min
ven bin và lục địa. Cộng đồng kinh tế bao trùm lên tng quc gia dân tc vi một nhà nước
chi phi s giao lưu hàng hóa và thuế quan. Bước sang xã hi công nghip, s hình thành
mt th trường kinh tế chung ca mt quc gia là rõ ràng, thông qua mt kế hoch chung
của nhà nước; đồng thi chu s chi phi ca mt th trường mang tính toàn khu vc hay
toàn cu.
Nên vi tình hình hin nay, các tộc người, các nhóm địa phương không thể tn tại như
mt cộng đồng kinh tế chung, nht là trong tình trạng cư dân tộc người đã cư trú phân tán
và đã cộng cư cùng các tộc người khác. S thiếu vng cộng đồng lãnh th tc ngui dẫn đến
s không thng nht cộng đồng kinh tế. Có chăng, ở những nơi số dân trong mt tộc ngưòi
còn cư trú tập trung, h b chi phi bi nhng li ích kinh tế chung, tiến hành nhng cung
cách sn xut chung. Ta có th k đến những đặc điểm kinh tế ca các tộc người tùy theo
khu vc lch s văn hóa giống nhau: cư dân chăn nuôi du mục, vi những bày đàn gia súc
khác nhau:cu, dê, bò, ngựa… hay cư dân trồng trt vi các loại lương thực ch yếu khác
nhau: lúa, mch, ngô, sn, khoai s (taro) v.v…, cư dân min cc bắc như ở Siberia hay min
Đất La cực Nam, cư dân du cư trên biển như những nhóm Đãn (Trung Quốc), B(Vit
Nam), các nhóm Philippin, Indonesia…
đây cần chú ý trường hợp người Tsưgan, một cư dân đã mất t quốc cách đây gần
2500 năm, nay vẫn tiếp tc sng thành tng by, lang thang trong một vùng đất rng ln.
H có mt cung cách sng, vi các ngh nghiệp đặc bit riêng cho nam gii và ph n.
Đối vi mt dân tc hay quc gia dân tc tình hình li khác. Do xut hin mt nhà c,
do khẳng định mt lãnh th riêng, mi mt dân tc có mt cộng đồng kinh tế chung. Dưới
thi kì xã hi nông nghip, có th cộng đồng kinh tế chưa được bn cht, do s chi phi ca
chính quyền trung ương chưa thật cht ch ( phương Đông), hay do bị chia ra thành các lãnh
địa cát c (phương Tây ), nhưng không thể có mt quc gia dân tc không có mt cộng đồng
kinh tế riêng. Tt nhiên, cộng đồng kinh tế đã gắn kết cht ch hơn dưới thi kì xã hi công
nghiệp. Do đấy, mi xut hin hình thc dân tộc tư bn ch nghĩa hay xã hội ch nghĩa.
Nhưng sự bn chắc cũng phụ thuộc vào các nước mnh trên toàn cu hay trong khu vc.
Hin nay, có th nói không có mt quc gia dân tc nào, mà nn kinh tế không b ph thuc
vào các nước khác. Hiện tượng l thuc vào nhau v kinh tế đã trở thành ph biến trong
quan h các quc gia dân tc.
Ta có th nói rng cộng đồng kinh tế là điều kiến bt buộc khi ra đời mt tộc người (hay
tin tộc người: b lc - th tộc), nhưng nó không chỉ là mt tiêu chí ca mt tộc người bt kì.
Ngược lại, để là mt dân tc, vi một nhà nước, thì mt tiêu chí quan trng li là cộng đồng
kinh tế.
lOMoARcPSD| 47270246
5. Cộng đồng văn hoá :
Muốn xác định văn hóa như mt tiêu chí ca mt tộc người hay mt dân tộc, trước hết
phi nghiên cu tng hp nhng yếu t văn hóa vật th và phi vt th theo nghĩa rộng ca
nó. Đó là tất c nhng cái gì mà tộc người hay dân tộc đó sáng tạo hay tiếp biến ca các tc
người , dân tc khác trong quá trình lch sử, được truyn li t thế h này qua thế h khác.
T đó, các tộc người và dân tc mi chn lc ra nhng yếu t gì được coi là thân thương, là
thiêng liêng, là đặc trưng để phân bit bn thân vi các tộc người, dân tộc khác. “Văn hóa
bao gm tt c nhng gì làm cho dân tc này khác vi dân tộc khác”(UNESCO).Văn hoá tạo
nên cái surmoi tc là cái tôi cộng đồng, cái chúng ta. Cái đó là bền vng, gần như khó thay
đổi, hay đúng hơn chỉ đưc thêm tht, b sung qua tng thời đại, to nên mt cái gì xuyên
sut t quá kh, qua hin tại đến tương lai của mt dân tc.
Xét cho cùng, yếu t cu thành những đặc trưng văn hóa đó thường lĩnh vực văn hoá
phi vt th. Thc ra rr khó phân bit mt ranh gii rõ ràng giữa văn hóa vật th và phi vt
th.Một văn hoá vật hóa vt th luôn mang trong mình nó nhng yếu t không th đo đếm
đưc. Cùng một căn nhà trệt hay nhà sàn, thm chí một cái bát, cái chén v.v…, mỗi tc
người cũng để li trên du n riêng bit ca nó trên hình dáng, trong cu trúc, các mô típ
trang trí, các màu sắc v.v…Một b y phc may ct giống nhau cũng được các tc người, dân
tc to nên nhng dáng khác l vi nhng màu sc, những hoa văn, khẳng định cái riêng ca
mình, vi các cộng đồng người xung quanh. Ngược li, những văn hóa phi vật th luôn phi
biu hiện dưới nhng dng vt cht c thể, ngay như trong lĩnh vực th cúng nghi l. Tuy
nhiên, giá tr của văn hóa vật th và phi vt th li có một phương thức tn ti và phát trin
khác nhau. Phn phi vt th trong các đơn vị vănb hóa tập th hay văn hóa phi vật th là cái
đi sâu và tâm thất ca cộng đồng, được các tc người , dân tc trân trng, nâng niu, gìn gi
thường được chn làm biểu tượng, làm vật tượng trưng cho dân tộc, địa phương.
Văn hóa đặc trưng của mt tộc người, mt dân tộc cũng chưa phải là nhng biu hin
trong sinh hoạt đời sống văn hóa hằng ngày. Nếu khi xưa trong thời kì nông nghip, nhng
yếu t văn hóa truyền thống còn được bảo lưu khá bền cht qua tng lớp thượng lưu, rồi
mi lan ta dn ra dân chúng. Mt tộc người, mt dân tc có thì gi ngm ngh, thu nhp ci
biên cho thích hp. Quá trình tộc người hay dân tc hóa din ra rt lâu, rất ít có trường hp
yếu t văn hóa ngoại lai còn gi li nguyên vẹn. Nhưng ngày nay, dưới tác động mnh m
ca thi k công nghip mang tính toàn cu, nhng yếu t văn hóa ngoại lai tràn vào, có khi
trc tiếp ngay với người dân, dn dập khó còn để thời gian cho con người la chn, sàng
lc. Nên trong sinh hoạt đời sống thường ngày, nhng yếu t truyn thng và du nhập đan
xen nhau, cùng tn ti.
Một điều d nhn thấy cho dù trong đời sống thường ngày, mi nời đã quen sử dng
nhng yếu t văn hóa ngoại lai, như trong lĩnh vực ăn, ở, mặc, đi lại, lao động, nói năng,
thậm chí suy nghĩ, tín ngưỡng, nhưng họ vẫn chưa nhận nhng giá tr văn hóa đó là văn hóa
tộc người hay dân tc. Vit Nam ph biến câu nói ca miệng: nhà Tây, đồ M, thức ăn
Tàu, máy móc Nht Bản v.v… Ngược li, h vn nhn nhng giá tr văn hóa mang tính dân
lOMoARcPSD| 47270246
tc hay tộc người t nhng yếu t văn hóa truyền thng ca t tiên, mà nay h ch chiêm
ngưỡng ch không s dng.
Vy ch nhng giá tr văn hóa, cho vật th hay phi vt thể, được chp nhn
tính tộc người hay dân tc, một khi chúng đã trở thành nhng biểu tượng sâu sắc in đm
trong tình cảm, trong tưởng ca tộc người hay dân tc, mi tr thành văn a đc
trưng của tc ni hay dân tc.
S đóng góp những yếu văn hóa các tộc người, thành viên ca mt dân tc, vào kho
tàng văn hóa cộng đồng quc gia dân tc, nhiu hay ít là tùy thuộc vào trình độ phát trin,
vào s dân ca tng tộc người. Đó là những giá tr văn hóa đưc toàn th dân tc chp nhn
như của bn thân. Có th là nhng tut ng ca tiếng nói các tộc ngưòi được s dng trong
quc ng, là nhng giá tr văn hóa: trang phục, nhà ca, công trình kiến trúc, vănn hóa nghệ
thut, l hội, các điểm hành hương, tín ngưỡng, tôn giáo; đặc bit là những đóng góp vào
lch s đấu tranh dựng nước và gi c, nhng trận đánh giỏi, tên tui các danh nhân, các
v anh hùng tiêu biu ca tng tộc người. Tóm lại, đó là nhng gì to nên không ch là lòng
t hào ca riêng tng tộc người, mà ca toàn dân tc, to nên mt bn sc ca tt c các
tộc người trong mt dân tc.
Đối vi dân tc Vit Nam, ta có th thy trong b t vng tiếng Việt, đồng thi là tiếng
Quc ng, nhng t của các cư dân Môn – Khơme, Tày – Thái, Nam Đảo, Hmông Dao
v.v… Ta tự hào vi các b trang phc, các kiến trúc nhà ca(nhà dài của người Ê Đê, nhà sàn
ca các dân tc), những tháp Chàm, chùa Khơme, khu mộ táng Tây Nguyên, điệu xòe Thái,
cồng chiêng, đàn Tơ rưng, krông pút của người Thượng, nhng b s thi của người vng
bóng người Vit, giàu có các tộc người anh em, các công trình văn học như Sóng ch sôn
sao, Khun Lú, Náng ủa, Đẻ đất đẻ c, Nam Kim Th Đan, những địa điểm như Mường
Thanh, Buôn Ma Thuộc, Bà Đen, Bẩy Núi, đền bà Thiên Yana; nht là nhng trang lch s
đưc các tộc người trên đất nước chung sc viết lên qua các cuc khi nghĩa từ Hai Bà
Trưng đến các cuộc đấu tranh chng ngoi xâm, tri dài lch s, gn lin vi tên tui ca Lý
Thường Kit, Trần HưngĐạo, Lê Li, Quang Trung, gần đây với hai cuc kháng chiến thn
thánh gii phóng dân tc, mà tên tui ca H Chí Minh đã trở thành huyn thoi.
Văn hóa tộc người và văn hóa dân tộc vn có s phân bit. Mi tộc người vn có nhng
đặc trưng sinh hoạt văn hóa của riêng bản thân, thường lấy đó để phân bit vi tộc người
khác xung quanh. Những đặc trưng đó thường được các nhà nghiên cu tìm tòiphân tích
bằng phương pháp so sánh đ khẳng định. Đó là kết qu mt quá trình nghiên cu công
phu, nhưng với dân chúng có điều h chp nhận, có điều đặc trưng để khẳng định cái ta,
phân bit vi cái khác ta mang tính tộc người, nhiu khi ch là nhng du hiệu đơn giản, d
nhn thy trong cuc sống, như một nét khác nhau qua cách ăn uống(người Tày ăn cơm,
người Hmông ăn ngô), trong cách ăn mặc(người Tày mặc áo dài, người Nùng mc áo ngn),
ging nói, những điều kiêng c, th cúng v.v…
lOMoARcPSD| 47270246
Vậy nên, đối vi mt tộc người, cũng như một dân tc, tiêu chí xác định v văn hóa là
những đặc trưng trong lối sống văn hóa của tộc người, dân tc, ch không hn là tng th
sinh hoạt văn hóa diễn ra thường ngày. Những đặc trưng đó bền vững đi sóng đôi vi tc
người hay dân tc qua nhng chặng đường lch sử, đã trở nên mt mảng đời ca tộc người,
ca dân tc không th chia ct. Nó to nên một tính cách văn hóa của dân tc, ca tc
ngưi.
Cần lưu ý nếu một nhóm địa phương chấp nhn tc thuc v mt tộc người qua mt s
đặc trưng sinh hoạt văn hóa tộc ngưòi nhất định, thì mt tộc người chp nhn mình thuc
v mt dân tc nhất định, cũng phải thy bn thân gn bó vi mt s đặc trưng sinh hoạt
văn hóa của mt quc gia dân tộc, và cũng có những đặc trưng sinh hoaạt văn hóa riêng để
phân bit vi tộc người khác.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 47270246
Tiêu chí xác định một quốc gia dân tộc
Xác định tiêu chí của một dân tộc (nation) hay một tộc người ( ethnie), một nhóm địa
phương cũng cần một cái nhìn toàn diện. Cộng đồng người trước hết thuộc một hay nhiều
chủng tộc, phân bố trên một lãnh thổ như thế nào, tại sao, dân số đông hay ít, đơn ngữ hay
đa ngữ, sinh hoạt kinh tế, tổ chức xã hội ra sao, tuân theo một tín ngưỡng tôn giáo nào, lối
sống và sinh hoạt văn hóa biểu hiện thế nào, đặc biệt là có ý thức thuộc về dân tộc hay tộc
người này, tức là có ý thức chấp nhận một tên gọi, thuộc về một số phận lịch sử nhất định
nào. Đó là việc làm của ngành dân tộc học theo thuật ngữ thường dùng của trường phái
Pháp, Nga ( Liên Xô cũ) hay của ngành Nhân học văn hóa ( anthropologie culturelle) theo
thuật ngữ của trường phái Anglo – saxons. Tuy nhiên trong hoàn cảnh cụ thể một nước, xác
định thành phần của một dân tộc, hay một tộc người thông thường chọn những tiêu chuẩn
nổi bật, ví dụ nếu ở Đông Nam Á, tiêu chí nhân chủng không quan trọng bằng ở Châu Mỹ La
Tinh, ở đó sự lai tạp giữa các giống người đen, trắng,vàng, giữa các cư dân của các quốc gia
khác nhau đến tụ cư sinh sống, ngược lại ngôn ngữ, văn hóa lại nổi trội đặc biệt đối với
những vùng các tộc người cư trú xen kẽ ở miền núi.
Xác định một dân tộc hay một tộc người cũng thường dựa trên những tiêu chí
giống nhau. Có điều nếu tiêu chí quan trọng đối với dân tộc là lãnh thổ, là nhà nưóc ( thiết
chế chính trị), thì quan trọng đối với một tộc người, một nhóm địa phương lại là văn hóa, là
tính tự giác. Để tiện trình bày, tôi giới thiệu từng tiêu chí trong đó sẽ nói rõ sự khác biệt về
tầm quan trọng của từng tiêu chí đối với dân tộc, cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng chính trị xã
hội và đối với tộc người, nhóm địa phương – cộng đồng tộc người. 1. Tên gọi :
Mỗi một dân tộc hay tộc người khi mới được hình thành đã có ngay yêu cầu tự đặt
cho mình một tên gọi. Các dân tộc và tộc người xung quanh biết đến họ cũng lại có nhu cầu
đặt cho họ một tên gọi. Nên ví thế mỗi dân tộc, mỗi tộc người thường mang nhiều tên gọi
khác nhau. Chọn một tên gọi đúng đắn cho một dân tộc hay tộc người là biểu thị thái độ tôn
trọng đối với cộng đồng đó, đồng thời chứng tỏ ý thức nghiêm túc về mặt khoa học. Đúng
như Ph. Angghen viết: “ Tên gọi là một đặc tính của một dân tộc”. Tên gọi không phải là một
cái gì bất biến, cũng như bản thân dân tộc hay tộc người cũng không phải là một cộng đồng
người không thay đổi. Một tên gọi cũng không hẳn đã bao hàm một đối tượng nhất định với
những thời gian khác nhau. V. A . Nikônôv nói rất đúng rằng : “ Tên dân tộc có vận mệnh
riêng của nó. Còn đối tượng của tên đó lại có thể có vận mệnh khác. Và chỉ trong một thời
kỳ nào đó, một tên dân tộc mới chỉ đúng với một đối tượng. Trước sau thời kỳ đó, tên gọi
chỉ một đối tượng khác, cũng như đối tượng cũng có thể mang một tên khác”.
Lấy thí dụ tên Việt và Việt Nam thì rõ. Đã có thời kỳ người Việt được gọi là Cheo ( Keo)
phiên âm Hán – Việt thành Giao; đất Việt Nam được gọi là Giao Chỉ. Từ Tùng Thạch cho Giao
nghĩa là trắng, trong trắng. Tên này vẫn được một bộ phận người H’Mông dùng; người
nhóm ngôn ngữ Tày – Thái cũng gọi người đất Việt là Keo, Kẹo, mường Keo, Kẹo với ý nghĩa lOMoAR cPSD| 47270246
trên, trắng, ngọc ngà. Rõ ràng là thành phần cư dân Giao không chỉ bao hàm khối cư dân
ngày nay, mà rất có thể bao gồm các nhóm cư dân Việt- Mường, Môn – Khơme cổ xưa trong
vùng. Có một thời kỳ danh từ Kinh chỉ dùng để gọi các cư dân Việt sinh sống nơi kinh kỳ hay
nói rộng ra là nơi đã được giáo hóa bởi văn minh Trung Hoa, mà không bao hàm toàn bộ cư dân Việt.
Các dân tộc hay tộc người ưa chọn tên của bản thân đặt ra, tên tự gọi, nhằm tự phân
biệt với các cộng đồng xung quanh. Tuy nhiên số tên tự đặt thật ra không nhiều, vì thường
biến mất hay bị tên mà các tộc người xung quanh đặt cho lấn át. Ph.Ang ghen cho rằng “hình
như tên gọi của bộ lạc phần nhiều được đặt ra một cách ngẫu nhiên hơn là được chọn lựa
một cách có ý thức. Trong quá trình chung sống, thông thường bộ lạc đã nhận tên gọi từ
những bộ lạc láng giềng đặt cho mình. Tên này thường rất khác với tên mà chính ngay bộ lạc
đó tự gọi mình”. Những tên đó lúc đầu chưa mang tính miệt thị, ngay như trường hợp thuật
ngữ Mán, Mọi, Xá, những tên phiếm xưng nhằm chỉ cư dân một vùng khác lạ với mình, hay
như Bru, Cơ Ho, Ba Noong, Mnông v.v…… Những tên mang tính miệt thị nhằm gán cho
người khác, chỉ xuất hiện sau này trong những xã hội đã có sự phân biệt dân tộc và tộc
người, thường lại là những tên do bọn đi xâm chiếm đặt cho người bị xâm lược. Tên nước
An Nam, Annamite được xem như một tên gọi sỉ nhục với người Việt Nam.
Gần đây, với phong trào giành độc lập của các quốc gia dân tộc, trên tinh thân bình
đẳng tôn trọng lẫn nhau, các tộc người, các quốc gia dân tộc tự đặt tên lại cho bản thân,
nhất là các quốc gia dân tộc xưa bị áp bức, bị thay đổi tên; đồng thời yêu cầu gọi đúng tên
gọi theo phiên âm của ngôn ngữ dân tộc mình.
Các tộc người nhất là các tộc người thiểu số cũng đòi hỏi được gọi đúng tên tộc
người, xóa bỏ những tên gọi mang tính miệt thị tộc người
Tên gọi các quốc gia dân tộc trên thế giới nói chung đến nay được tự mình đặt ra,
được Liên Hiệp Quốc công nhận, được nhân dân thế giới tôn trọng. Tuy nhiên, mỗi dân tộc,
mỗi tộc người vẫn giữ thuật ngữ riêng để gọi một quốc gia dân tộc, do thói quen, không có ý
miệt thị, như người Việt Nam gọi dân tộc France là Pháp, Rut-xia là Nga, Italia là Ý, Germani
là Đức v.v… Có thể sẽ có những thay đổi ở một số nước, nhưng cũng là do bản thân tự đề
xuất. Tên gọi các tộc người, các nhóm địa phương trong từng quốc gia- dân tộc còn chưa
được nghiên cứu, nhất là đối với những cư dân ở các vùng hẻo lánh, cách biệt. Tình trạng
các sách báo thống kê tên gọi các tộc người, các nhóm địa phương một nước khác nhau
đương còn là phổ biến, vì bản thân sự thống kê số lượng cũng chưa thống nhất ở các nước
đa tộc người như ở Châu Á, Châu Phi, Châu Đại dương và Châu Mỹ la tinh. Ơ nước ta, sau
gần 20 năm nghiên cứu, bảng danh mục các tộc người được công bố năm 1979, được giới
khoa học hoan nghênh, vì trong các tên gọi đã lưu ý nguyên tắc tôn trọng tên thông dụng,
trong đó phần đông là tên tự gọi của các tộc người, các nhóm địa phương, khôi phúc lại các
tên gọi đúng đắn của các cư dân, rõ rệt nhất là các cư dân Môn – Khơme ở miền Bắc, cương
quyết xóa bỏ các tên gọi mang tính kỳ thị dân tộc, xúc phạm tình cảm dân tộc. lOMoAR cPSD| 47270246 2. Ngôn ngữ :
Người trong một dân tộc hay một tộc người dễ dàng nhận ra nhau, cho dù ở nước
này hay nước khác một phần là qua ngôn ngữ. Nên có thể nói ngôn ngữ là dấu hiệu khó có
thể thiếu được trong việc xác định một dân tộc, một tộc người, trừ những trường hợp biệt lệ. a.
Đối với các thành viên của một quốc gia dân tộc, đó là ngôn ngữ chính thức được
dùng trong hành chính của quốc gia đó.Loại ngôn ngữ này thường tập trung vào một số
ngôn ngữ có tính phổ biến trên thế giới, có chức năng giao tiếp vượt ra khỏi biên giới tộc
người hay quốc gia dân tộc. Liên Hiệp Quốc công nhận sáu ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nga, Hán,
Tây Ban Nha và Arập, được sử dụng trong các cuộc họp và các văn bản của cơ quan đầu não
thế giới này. Có 12 ngôn ngữ được sử dụng cho 2/3 dân số thế giới, là tiếng nói chính thức
của quốc gia, là tiếng mẹ đẻ thứ hai, hoặc là sinh ngữ bắt buộc ở các trường trung học, là
tiếng nói giao tiếp trong giới thượng lưu. Tiếng Anh có 800 triệu người sử dụng, được nhiều
nước với 403 triệu người coi là tiếng nói chính thức dùng trong hành chính, 55 triệu ở Anh (
theo số liệu năm 1984), 210 triệu ở Mỹ, 14 triệu ở Canađa, 15,6 triệu ở Australia v.v …Tiếng
Tây Ban Nha có 156 triệu người sử dụng, trong khi đó ở Mexico và Trung Mỹ là 81,1 triệu, ở
Caribe 18 triệu, ở Nam Mỹ 89,5 triệu, ở Mỹ 14 triệu, ở Philippines 0,5 triệuv.v… Tiếng Hán (
Quan hỏa) là tiếng nói chín thức của nước CHND Trung Hoa với hơn một tỷ dân, là tiếng nói
giao tiếp của các cư dân Hoa trên toàn thế giới, là sinh ngữ học trong trường học nhiều
nước ở Viễn Đông, nhưng gần đây lại chưa phải đã là tiếng phổ biến ngay trong tộc người
Hán, vì số dân nói các phương ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ, v.v… lên đến
hàng chục triệu. Tiếng Hindi ( An Độ) cũng vậy, là một trong hai tiếng nói chính thức của Ấn
Độ, nhưng số đông người An Độ thuộc các tộc người khác lại ít biết. Tiếng Pháp có khoảng
110 triệu người sử dụng, là tiếng nói chính thức của nước Pháp và một số nước khác. Ơ
Pháp có 51 triệu, Canada 5,8 triệu, Mỹ 2,6 triệu, Bỉ 4 triệu. Tiếng Pháp có nhiều phương ngữ
như Normand, Picard, Wallon, Angevin v.v…, là sinh ngữ dạy trong nhiều nước, đặc biệt là
các nước trong cộng đồng Fracophone. Tiếng Nga là tiếng nói chính thức của Liên Bang Nga,
xưa của Liên bang Xô Viết, là sinh ngữ phổ biến ở nhiều trường đại học các nước được nhiều
tộc người phi Nga coi là tiếng mẹ đẻ thứ hai (16,3 triệu), hay sinh ngữ thứ hai ( 61,3 triệu), là
tiếng nói của nhiều bộ phận cư dân các nước, ví dụ ở Mỹ có 334.615 người ( số liệu 1970),
31.795 người ở Canada, một thời đa số ở các nước xã hội chủ nghĩa. Tổng cộng có hơn 280
triệu người sử dụng ( số liệu của Liên Xô 1986). Tiếng Bồ Đào Nha là tiếng nói chính thức
trong nước ( 10 triệu), nhưng lại là tiếng nói chính thức của Braxin (125 triệu). Ơ Mỹ có
365.000 người nói tiếng Bồ Đào Nha, ở Canada 87000, ở Goa ( An Độ) 250000, ở Ma Cao
2000 người… Tổng số toàn thế giới có 154 triệu người sử dụng tiếng Bồ Đào Nha. Tiếng Arập
phân bố rộng rãi ở miền Trung Cận Đông và Bắc Phi với số lượng 200 triệu dân, phân ra
nhiều ngôn ngữ gần gũi nhau như tiếng Ai Cập, Algeria, Marocco, Tunisia, Iraq, Syria, Sudan,
Tiểu vương quốc Arập v.v…, nhưng còn phổ biến trong thế giới Hồi giáo, với số lượng hơn
một tỉ dân, trong các tầng lớp thượng lưu và chưc sắc đạo Hồi. lOMoAR cPSD| 47270246
Một số quốc gia dân tộc khác cũng có tiếng nói chính thức của dân tộc mình mang
tính hành chính. Có những nước và liên bang có hai, ba v.v… ngôn ngữ nổi trội (Thụy Sĩ có
tiếng Đức, Ý, Pháp), Canada ( Anh,Pháp), Bỉ ( Đức, Pháp). Có hiện tượng ngoài ngôn ngữ
chính thức quốc gia ( An Độ với tiếng Hindi; Pakistan với tiếng Urdu v.v…), vẫn có thêm một
thứ tiếng thứ hai, tiếng Anh phổ biến trong văn bản hành chính, trong trường học. Tiếng nói
chính thức của một quốc gia dân tộc thông thường là tiếng nói của tộc người có vị trí tập
hợp các tộc người khác trong quốc gia đa tộc người: tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng
Hindi, tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Ba Lan, tiếng Thụy Điển v. v… Nên những tiếng
nói của tộc ngưởi đó vừa là tiếng nói của tộc người ( Việt) vừa là tiếng nói của cả nước ( tiếng quốc ngữ). b.
Sự xuất hiện các ngôn ngữ quốc gia, nhất là các ngôn ngữ có tính toàn thế giới hay
khu vực, dẫn đến sự thui chột các ngôn ngữ tộc người. Theo cuốn sách của Viện ngôn ngữ
trong tình hình gần đây, ở Mỹ đã mất đi 22/ 189 tiếng nói các tộc người, ở Brazil 30/238,
Liêng bang Xô viết ( cũ) 4/ 161, An Độ 10/391, Inđônesia 3/669. Thật là buồn cười, các tác
giả cuốn sách đó cho biết ở Việt Nam đã mất đi 1/77 ngôn ngữ, đó là tiếng Tayboi ( Tây bồi ).
Tiếng nói của mỗi tộc người cũng có thể bao hàm nhiều phương ngôn hay thổ ngữ. Đó
là hệ quả của sự cư trú tách rời của cư dân một tộc người, thường dẫn đến sự ra đời các
nhóm địa phương. Tình hình này thường xảy ra với các tộc người nhỏ, cư trú ở miền núi, lại
ở vùng hay phải chuyểncư, đời sống không ổn định. Bức tranh của tình hình các tộc người
thiểu số ở Nam Trung Quốc, Đông Nam Á cả lục địa lẫn hải đảo là một thí dụ. Nên ta không
lấy làm lạ trong một tộc người, có khi vẫn cùng chung nét sinh hoạt, văn hóa, lại nói hai ngôn
ngữ; nhưng trong hai ngôn ngữ đó vẫn có một ngôn ngữ giao tiếp hay một văn tự để giao
tiếp. Đó là trường hợp tộc người Sán Chay ( Cao Lan – Sán Chỉ) và Chu Ru ở Việt Nam. Đó
cũng là trường hợp một số nhóm Dao và nhóm Nùng trong cộng đồng tộc người Dao và
Nùng. Trên thế giới, ta cũng thường gặp hiện tượng này như cộng đồng người Choang, Di
v.v… ở người xứ Walls, cộng đồng Gallois của xứ Galles, cộng đồng Gaélic của người Ireland
v.v… Ngược lại, cũng không loại trừ có những tộc người đã mất ngôn ngữ mẹ đẻ, sử dụng
một ngôn ngữ khác, vẫn tồn tại như một tộc người. Ơ nước ta, người Ơ Đu thường ngày
trao đổi bằng tiếng nói của các tộc người khác. Tiếng mẹ đẻ chỉ coi như một phương tiện lúc
sắp về già học để biết, nhằm có thể “ nói chuyện” được với người thân sau khi đã khuất.
Một bộ phận người Kháng, người La Ha v.v… ở Tây Bắc đã quên tiếng mẹ đẻ. c.
Ngôn ngữ là một yếu tố xác định một tộc người, một dân tộc cho dù có những biệt lệ
kể trên. Có nhà ngôn ngữ học đã nói: “ Ngôn ngữ còn, dân tộc còn, tộc ngưòi còn”. Thật thế,
ngôn ngữ mẹ đẻ là thân thương với mọi người, là tiếng nói từ tuổi thơ được người mẹ “
đánh thức cả một quá khứ dân tộc” trong lời ru trẻ thơ, là tiếng nói thiêng liêng của một
chiến binh ngã trên chiến trường trước khi rời đồng đội. Ngôn ngữ là một ngọn cờ đấu tranh
để bảo vệ sự sống còn của một tộc người, đối diện với chính sách đồng hóa ngôn ngữ của
người cầm quyền. Ơ nước ta, cuộc đấu tranh truyền bá bảo vệ tiếng quốc ngữ nở rộ vào lOMoAR cPSD| 47270246
những năm 30, 40 thế kỷXX là một bộ phận của cuộc đấu tranh yêu nước đương thời. Qua
tiếng nói, con người biểu đạt một cách sinh động, độc đáo, rất cụ thể tất cả những chi tiết
của cãnh quan đầy biến động của môi trường tự nhiên, cũng như của những quan hệ xã hội
phức tạp và nhạy cảm giữa con người và con người trên tất cả các lãnh vực từ thiết chế gia
đình, xã hội đến những tình cảm, những tín ngưỡng, những giá trị của tộc người. Tất cả
được phản ánh vào những công trình nghệ thuật: lời thơ, tiếng hát, bài văn, cho đến những
lệ luật, những truyền thuyết, huyền thoại, những áng sử thi bất hủ. Nó cũng còn được phản
ánh vào những bài thuốc dân tộc, những bí truyền nghề nghiệp, những luân lý, đạo
đức,triết học v.v… được truyền miệng hay ghi bằng văn tự, truyền từ đời này qua đời khác.
Với hơn 6000 ngôn ngữ và hàng vạn phương ngữ hay thổ ngữ và hơn 500 văn tự, phần lớn
kho tàng văn hóa phi vật thể các tộc người được lưu giữ lại qua quá trình lịch sử. Đến nay,
mặc dầu chính sách diệt chủng, đồng hóa dân tộc, đồng hóa ngôn ngữ không còn là chính
sách của những quốc gia đa tộc người, mọi người đều phải nói đến sự bình đẳng, tôn trọng
ngôn ngữ và tộc người; song tư tưởng của nó, cộng thêm áp lực của thế giới công nghiệp,
của toàn cầu hóa sẽ dẫn đến sự thui chột các ngôn ngữ tộc người, nhất là của các tộc người
nhỏ yếu sinh sống ở những miền ít có điều klện phát triển. 3. Lãnh thổ :
a. Một quốc gia dân tộc bao gồm một tộc người hay nhiều tộc người cũng phải được
xây dựng trên một lãnh thổ nhất định , được cai quản bởi một nhà nước.Một khi quốc gia
dân tộc phát triển , thì ngược lại , lãnh thổ của các tộc người cư trú ở đó lại mất đi sự bền
vững của nó.Nếu thuở ban đầu,một hay hai ba tộc người đông về dân số,phát triền kinh tế –
văn hóa , tập hợp xung quanh mình các tộc người tạo lập nên một nhà nước, quy định một
lãnh thổ quốc gia nhất định, chưa có sức chi phối các tộc người cùng cư trú, lãnh thổ tộc
người còn được tôn trọng. Về sau, khi nhà nước trung ương vững mạnh, tính thống nhất
quốc gia được củng cố, thành viên các tộc người trong một quốc gia được tự do di chuyển,
thì lãnh thổ các tộc người cũng không còn nguyên vẹn. Nguyên nhân rất phức tạp, tùy theo
những thời kỳ lịch sử khác nhau của tình hình từng khu vực, từng nước cụ thể.
Trong thời kỳ tiền công nghiệp, sự mở rộng bành trướng lãnh thổ của những tộc người
mạnh trong khu vực đã dồn các tộc người yếu ở những vùng ngoại vi, những quốc gia yếu
vào những chỗ khong ổn định. Ở phía Nam sông Dương Tử và vùng lục địa Đông Nam Á,
dưới sự bành trướng của tộc người Hán, lãnh thổ tộc người của các cư dạn xưa gọi là Man,
là Bách Việt, tổ tiên của các dân tộc người nói ngôn ngữ Tãng – Miến, Nam – Á và Nam –
Thái bị đảo lộn. Một bộ phận trụ lại, cam chịu sống trong những lĩnh thổ đã bị thu hẹp, lại
luôn biến động bởi các cuộc chiến tranh giữa các tộc người với nhau, tranh giành đất đai ở
những miền hiếm đất, sống xen kẽ hoặc độc lập trên một lãnh thổ. Một bộ phận đông hơn
di cư xuống các nước Đông Nam Á lục địa, làm thay đổi bộ mặt của các nước quốc gia dân
tộc và các tộc người ở đó, để hình thành các cộng đồng người, quốc gia dân tộc hay tộc
người, như hiện nay. Nên ta thấy ở những nước, đặc biệt là ở miền núi, lãnh thổ các tộc
người thườing không liền đất trên một khu vực có nhiều tộc người sinh sống. lOMoAR cPSD| 47270246
Sang đến thời kì công nghiệp, tình hình mở rộng, bành trướng lãnh thổ không dừng ở
trong một khu vực, mà mang tính toàn cầu. Các tộc người mạnh của những cường quốc
châu Âu đi tìm đất, chiếm thị trường, truyền đạo, dẫn đến sự đảo lộn đáng sợ trong phạm vi
toàn cầu. Những tộc người châu Au lập ra các quốc gia dân tộc mới trên cơ sở những trung
tâm công nghiệp : Mỹ, Australia, Canada, New Zealand, Nam Phi
v.v…,thay đổi đường biên giới các quốc gia theo ý mình, như ở châu Phi,châu Mỹ, phần nào
ở châu Á, thay đổi thành phần dân tộc ngưòi trong một quốc gia, tạo nên các giống người lai
(Trung Nam Mỹ), xé nát các tộc người bản địa, đẩy họ vào cá khu vực tập trung hoang dại,
tiêu diệt không thương tiếc những thổ dân, điển hình là người Tasmania(Australia)và những
người bản địa châu Mỹ, châu Australia. Trong thời gian này, nước Nga Sa Hoàng cũng bành
trướng ra những vùng xung quanh, phía bắc xuống vùng biển Trắng và biển Baren, phía
Nam đến vùng Caucasia, phía đông tiến mạnh qua dãy núi Uran tới vùng Siberia, đến tận mũi Bering và Xakhalin.
Hiện nay, bản đồ các quốc gia dân tộc là tương đối ổn định, ngoại trừ một số vùng còn
có một số điểm nóng bỏng những vùng châu Phi,vùng Balkan, Caucasia, Trung Á, Nam Á
v.v…Nên ta có thể nói rằng lãnh thổ các quốc gia dân tộc với một đường biên giới đã được
xác định, đã được Liên Hiệp Quốc công nhận chiếm số đông; số còn lại phải chăng có sự điều
chỉnh với sự thỏa hiệp giữa các quốc gia dân tộc liền kề. Nên tiêu chuẩn có một lãnh thổ với
một nhà nước cho một quốc gia dân tộc là điều không còn phải bàn cãi.
Cũng cần nói thêm lãnh thổ quốc gia dân tộc, với đường biên giới của mình, thay đổi
cùng với sự mở rộng hay thu hẹp lãnh thổ, gắn liền với số phận lãnh thổ các tộc người của
một quốc gia,một nhà nước. Nó không có quan hệ gì với biên giới tộc người, nhiều khi cắt
ngang qua các lãnh thổ tộc người. Bọn thực dân lợi dụng tính ngẫu nhiên này, đã cố ý xác
định biên giới các nước thuộc địa của chúng trong thời kỳ thực dân, tạo ra các đường biên
giới quốc gia dân tộc, không dựng trên tính lịch sử, cắt ngang trên lãnh thổ tộc người một
cách giả tạo. Sau khi các quốc gia dân tộc kiểu đó, đặc biệt là ở châu Phi, lác đác ở các châu
khác,được độc lập,những mâu thuẫn giữa các tộc người nảy nở. Bọn chúng lại đục nước béo
có, xui nguyên dục bị, gây ra những cuộc chiến tranh giữa các tộc người trong một quốc gia
hay giữa hai quốc gia nhằm buộc các quốc gia non trẻ này lệ thuộc vào chúng, dễ bề để chúng bóc lột.
b. Đối với một tộc người, cần phải nói không một tộc người ban đầu nào cư trú trên một
lãnh thổ nhất định. Chính trên cơ sở đó, họ mới tạo ra được những đặc trưng mang tính tộc
người rất riêng biệt, nhờ thái độ ứng xử với môi trường tự nhiên để khai thác sử dụng các
tài ngyuên, cũng như cùng nhau xây dựng những thiết chế gia đình, xã hội, những đặc trưng
văn hóa, lễ nghi, thờ cúng v.v…Tiếp sau, lãnh thổ tộc người hoặc được mở rộng hoặc bị thu
hẹp, quan hệ giữa các tộc người xung quanh cũng thay đổi ngày chặt chẽ hơn theo hai
hướng bạn thù. Hình thành các liên minh tộc người, các cuộc hôn nhân khác tộc, sự vay
mượn văn hóa,học tập kĩ thuật sản xuất, tiến đến sự cộng cư trên một lãnh thổ, hay đúng
hơn là các cộng đồng lãnh thổ tộc người đan xen vào nhau trên một khu vực nhất định. lOMoAR cPSD| 47270246
Đối với các tộc người lớn, với xu thế mở rộng không gian xã hội ra phạm vi toàn thế giới,
từng bộ phận thiên di sang các miền đất mới, chinh phục hoặc chung sống với các tộc người
bản địa, có trường hợp hình thành các quốc gia dân tộc mới. Những cộng đồng ngôn ngử
Anh, Pháp, Nga… đã hình thành như những bộ phận của tộc người chủ thể tại các nước. Sau
hai cuộc chiến tranh, mới cách đây gần 30 năm, người Việt đã có những cộng đồng đồng tộc
khá đông ở các nước Mỹ, Pháp, Nga, Australia v.v… Người Ả rập, người vùng Balkan, người
Armenia, người Ba Lan, người Nga, người Hán v.v… cũng vậy.
Các tộc người nhỏ đã hình thành những cộng đồng ở các nước khác nhau nguyên nhân
chủ yếu là do chiến tranh, do đi tìm đường sống như những người Ả rập, đặc biệt người
Palestin, Afghanistan, vùng Balkan, Trung Á, Đông Nam Á(Lào, Khơme) v.v… Người Tsưgan
vẵn lang thang tại khắp các nước. Người Do Thái đã thành lập nhà nước Israel(14-7-1948),
nhưng đa số vẫn cư trú ở các nước khác nhau, ở Mỹ, Liên Bang Nga, các nước Tây Au v.v…
Trong từng nước, các tộc người cũng không ở trong lãnh thổ riêng của mình, tỏa ra sống
trong các thành thị, thị trấn, các tỉnh khác nhau. Tình hình này thấy rõ rệt ở Việt Nam, nhất
là sau ngày thực hiện công cuộc đổi mới. Hàng chục vạn người dân miền núi phía Bắc đã vào
lập nghiệp trong các tỉnh Tây Nguyên, đặc biệt tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, hàng chục vạn
người khác tỏa ra các thành thị, thị trấn, các tỉnh đồng bằng. Ngược lại hàng triệu người
đồng bằng lên miền núi lập nghiệp.
Xem như vậy, ta có thể kết luận, tiêu chí lãnh thổ là tiêu chí bắt buộc đối với một dân
tộc, với một nhà nước, không nhất thiết đối với một tộc người 4.
Cộng đồng kinh tế :
Một điều hiển nhiên, buổi ban đầu khi một tộc người lớn hay nhỏ, có cùng một tên gọi,
nói một thứ tiếng, cùng sống trên một lãnh thổ, phải có chung một cộng đồng kinh tế để duy
trì và phát triển cuộc sống của cộng đồng. Những tài liệu về dân tộc học có nhiều chứng cớ
chứng minh điều đó, nhất là tài liệu về các tộc người còn tồn tại trong giai đoạn sơ khai của
loài nguời như ở châu Australia và đảo Tasmania. Họ có một lãnh thổ riêng để hoạt động săn
bắn, hái luợm. Ta cũng lại thấy ở các tộc ngưòi khác như ở các châu lục, vì điều kiện tự nhiên
và xã hội cư trú ở miền hẻo lánh như cư dân Siberia. Đất Lửa, rừng nhiệt đới Đông Nam Á
hay lưu vực sông Amazon. Họ tuân thủ một tập quán với một tri thức, một trình độ kỹ thuật
sản xuất yếu kém, một cách cố chấp. Nhưng một khi tiếp xúc với các tộc nguời văn minh
hơn, một khi bản thân bước sang xã hội nông nghiệp, với việc cải tiến mau chóng công cụ
sản xuất, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, một khi nằm trong một quốc gia dân tộc
nhất định, sự phân công lao động xã hội phức tạp, ta thấy trong một tộc ngưòi đã có sự khác
nhau về lực lượng sản xuất : chăn nuôi du mục, trồng trọt, nghề thủ công, thương mại. Đến
thời điểm đó cộng đồng kinh tế của tộc nguời bị phá vỡ.
Không một tộc người nào có thể sinh sống tự cấp tự túc bằng sản phẩm lao động tự
mình sản xuất. Sự trao đổi hàng hóa giữa các tộc người dược tiến hành : giữa các cộng đồng
chăn nuôi du mục và trồng trọt, giữa các cộng đồng có ưu thế về từng loại tài nguyên kéo lOMoAR cPSD| 47270246
theo sự ưu thế về một hay những ngành nghề nhất định, nhất là trong trường hợp sự thống
nhất cộng đồng lãnh thổ tộc người bị phá vỡ. Tình hình của các tộc người thiểu số Việt Nam
là một thí dụ. Đã xuất hiện việc trao đổi hàng lấy hàng, qua đơn vị tiền tệ hay vật ngang giá,
giữa các tộc ngưòi sống ở thung lũng và trên rẻo cao, sống ở đồng bằng và miền núi, miền
ven biển và lục địa. Cộng đồng kinh tế bao trùm lên từng quốc gia dân tộc với một nhà nước
chi phối sự giao lưu hàng hóa và thuế quan. Bước sang xã hội công nghiệp, sự hình thành
một thị trường kinh tế chung của một quốc gia là rõ ràng, thông qua một kế hoạch chung
của nhà nước; đồng thời chịu sự chi phối của một thị trường mang tính toàn khu vực hay toàn cầu.
Nên với tình hình hiện nay, các tộc người, các nhóm địa phương không thể tồn tại như
một cộng đồng kinh tế chung, nhất là trong tình trạng cư dân tộc người đã cư trú phân tán
và đã cộng cư cùng các tộc người khác. Sự thiếu vắng cộng đồng lãnh thổ tộc nguời dẫn đến
sự không thống nhất cộng đồng kinh tế. Có chăng, ở những nơi số dân trong một tộc ngưòi
còn cư trú tập trung, họ bị chi phối bởi những lợi ích kinh tế chung, tiến hành những cung
cách sản xuất chung. Ta có thể kể đến những đặc điểm kinh tế của các tộc người tùy theo
khu vực lịch sử văn hóa giống nhau: cư dân chăn nuôi du mục, với những bày đàn gia súc
khác nhau:cừu, dê, bò, ngựa… hay cư dân trồng trọt với các loại lương thực chủ yếu khác
nhau: lúa, mạch, ngô, sắn, khoai sọ (taro) v.v…, cư dân miền cực bắc như ở Siberia hay miền
Đất Lửa ở cực Nam, cư dân du cư trên biển như những nhóm Đãn (Trung Quốc), Bồ Lô (Việt
Nam), các nhóm ở Philippin, Indonesia…
Ở đây cần chú ý trường hợp người Tsưgan, một cư dân đã mất tổ quốc cách đây gần
2500 năm, nay vẫn tiếp tục sống thành từng bầy, lang thang trong một vùng đất rộng lớn.
Họ có một cung cách sống, với các nghề nghiệp đặc biệt riêng cho nam giới và phụ nữ.
Đối với một dân tộc hay quốc gia dân tộc tình hình lại khác. Do xuất hiện một nhà nước,
do khẳng định một lãnh thổ riêng, mỗi một dân tộc có một cộng đồng kinh tế chung. Dưới
thời kì xã hội nông nghiệp, có thể cộng đồng kinh tế chưa được bền chặt, do sự chi phối của
chính quyền trung ương chưa thật chặt chẽ ( phương Đông), hay do bị chia ra thành các lãnh
địa cát cứ (phương Tây ), nhưng không thể có một quốc gia dân tộc không có một cộng đồng
kinh tế riêng. Tất nhiên, cộng đồng kinh tế đã gắn kết chặt chẽ hơn dưới thời kì xã hội công
nghiệp. Do đấy, mới xuất hiện hình thức dân tộc tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa.
Nhưng sự bền chắc cũng phụ thuộc vào các nước mạnh trên toàn cầu hay trong khu vực.
Hiện nay, có thể nói không có một quốc gia dân tộc nào, mà nền kinh tế không bị phụ thuộc
vào các nước khác. Hiện tượng lệ thuộc vào nhau về kinh tế đã trở thành phổ biến trong
quan hệ các quốc gia dân tộc.
Ta có thể nói rằng cộng đồng kinh tế là điều kiến bắt buộc khi ra đời một tộc người (hay
tiền tộc người: bộ lạc - thị tộc), nhưng nó không chỉ là một tiêu chí của một tộc người bất kì.
Ngược lại, để là một dân tộc, với một nhà nước, thì một tiêu chí quan trọng lại là cộng đồng kinh tế. lOMoAR cPSD| 47270246 5.
Cộng đồng văn hoá :
Muốn xác định văn hóa như một tiêu chí của một tộc người hay một dân tộc, trước hết
phải nghiên cứu tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể theo nghĩa rộng của
nó. Đó là tất cả những cái gì mà tộc người hay dân tộc đó sáng tạo hay tiếp biến của các tộc
người , dân tộc khác trong quá trình lịch sử, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Từ đó, các tộc người và dân tộc mới chọn lọc ra những yếu tố gì được coi là thân thương, là
thiêng liêng, là đặc trưng để phân biệt bản thân với các tộc người, dân tộc khác. “Văn hóa
bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”(UNESCO).Văn hoá tạo
nên cái surmoi tức là cái tôi cộng đồng, cái chúng ta. Cái đó là bền vững, gần như khó thay
đổi, hay đúng hơn chỉ được thêm thắt, bổ sung qua từng thời đại, tạo nên một cái gì xuyên
suốt từ quá khứ, qua hiện tại đến tương lai của một dân tộc.
Xét cho cùng, yếu tố cấu thành những đặc trưng văn hóa đó thường ở lĩnh vực văn hoá
phi vật thể. Thực ra rấr khó phân biệt một ranh giới rõ ràng giữa văn hóa vật thể và phi vật
thể.Một văn hoá vật hóa vật thể luôn mang trong mình nó những yếu tố không thể đo đếm
được. Cùng một căn nhà trệt hay nhà sàn, thậm chí một cái bát, cái chén v.v…, mỗi tộc
người cũng để lại trên dấu ấn riêng biệt của nó trên hình dáng, trong cấu trúc, ở các mô típ
trang trí, các màu sắc v.v…Một bộ y phục may cắt giống nhau cũng được các tộc người, dân
tộc tạo nên những dáng khác lạ với những màu sắc, những hoa văn, khẳng định cái riêng của
mình, với các cộng đồng người xung quanh. Ngược lại, những văn hóa phi vật thể luôn phải
biểu hiện dưới những dạng vật chất cụ thể, ngay như trong lĩnh vực thờ cúng nghi lễ. Tuy
nhiên, giá trị của văn hóa vật thể và phi vật thể lại có một phương thức tồn tại và phát triện
khác nhau. Phần phi vật thể trong các đơn vị vănb hóa tập thể hay văn hóa phi vật thể là cái
đi sâu và tâm thất của cộng đồng, được các tộc người , dân tộc trân trọng, nâng niu, gìn giữ
thường được chọn làm biểu tượng, làm vật tượng trưng cho dân tộc, địa phương.
Văn hóa đặc trưng của một tộc người, một dân tộc cũng chưa phải là những biểu hiện
trong sinh hoạt đời sống văn hóa hằng ngày. Nếu khi xưa trong thời kì nông nghiệp, những
yếu tố văn hóa truyền thống còn được bảo lưu khá bền chặt qua tầng lớp thượng lưu, rồi
mới lan tỏa dần ra dân chúng. Một tộc người, một dân tộc có thì giờ ngẫm nghỉ, thu nhập cải
biên cho thích hợp. Quá trình tộc người hay dân tộc hóa diễn ra rất lâu, rất ít có trường hợp
yếu tố văn hóa ngoại lai còn giữ lại nguyên vẹn. Nhưng ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ
của thời kỳ công nghiệp mang tính toàn cầu, những yếu tố văn hóa ngoại lai tràn vào, có khi
trực tiếp ngay với người dân, dồn dập khó còn để thời gian cho con người lựa chọn, sàng
lọc. Nên trong sinh hoạt đời sống thường ngày, những yếu tố truyền thống và du nhập đan xen nhau, cùng tồn tại.
Một điều dễ nhận thấy cho dù trong đời sống thường ngày, mọi người đã quen sử dụng
những yếu tố văn hóa ngoại lai, như trong lĩnh vực ăn, ở, mặc, đi lại, lao động, nói năng,
thậm chí suy nghĩ, tín ngưỡng, nhưng họ vẫn chưa nhận những giá trị văn hóa đó là văn hóa
tộc người hay dân tộc. Ở Việt Nam phổ biến câu nói cửa miệng: nhà Tây, đồ Mỹ, thức ăn
Tàu, máy móc Nhật Bản v.v… Ngược lại, họ vẫn nhận những giá trị văn hóa mang tính dân lOMoAR cPSD| 47270246
tộc hay tộc người từ những yếu tố văn hóa truyền thống của tổ tiên, mà nay họ chỉ chiêm
ngưỡng chứ không sử dụng.
Vậy chỉ có những giá trị văn hóa, cho dù là vật thể hay phi vật thể, được chấp nhận có
tính tộc người hay dân tộc, một khi chúng đã trở thành những biểu tượng sâu sắc in đậm
trong tình cảm, trong tư tưởng của tộc người hay dân tộc, mới trở thành văn hóa đặc
trưng của tộc người hay dân tộc
.
Sự đóng góp những yếu văn hóa các tộc người, thành viên của một dân tộc, vào kho
tàng văn hóa cộng đồng quốc gia dân tộc, nhiều hay ít là tùy thuộc vào trình độ phát triển,
vào số dân của từng tộc người. Đó là những giá trị văn hóa được toàn thể dân tộc chấp nhận
như của bản thân. Có thể là những tuật ngữ của tiếng nói các tộc ngưòi được sử dụng trong
quốc ngữ, là những giá trị văn hóa: trang phục, nhà cửa, công trình kiến trúc, vănn hóa nghệ
thuật, lễ hội, các điểm hành hương, tín ngưỡng, tôn giáo; đặc biệt là những đóng góp vào
lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, những trận đánh giỏi, tên tuổi các danh nhân, các
vị anh hùng tiêu biểu của từng tộc người. Tóm lại, đó là những gì tạo nên không chỉ là lòng
tự hào của riêng từng tộc người, mà của toàn dân tộc, tạo nên một bản sắc của tất cả các
tộc người trong một dân tộc.

Đối với dân tộc Việt Nam, ta có thể thấy trong bộ tự vựng tiếng Việt, đồng thời là tiếng
Quốc ngữ, những từ của các cư dân Môn – Khơme, Tày – Thái, Nam – Đảo, Hmông – Dao
v.v… Ta tự hào với các bộ trang phục, các kiến trúc nhà cửa(nhà dài của người Ê Đê, nhà sàn
của các dân tộc), những tháp Chàm, chùa Khơme, khu mộ táng Tây Nguyên, điệu xòe Thái,
cồng chiêng, đàn Tơ rưng, krông pút của người Thượng, những bộ sử thi của người vắng
bóng ở người Việt, giàu có ở các tộc người anh em, các công trình văn học như Sóng chụ sôn
sao, Khun Lú, Náng ủa, Đẻ đất đẻ nước, Nam Kim Thị Đan
, những địa điểm như Mường
Thanh, Buôn Ma Thuộc, Bà Đen, Bẩy Núi, đền bà Thiên Yana; nhất là những trang lịch sử
được các tộc người trên đất nước chung sức viết lên qua các cuộc khởi nghĩa từ Hai Bà
Trưng đến các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, trải dài lịch sử, gắn liền với tên tuổi của Lý
Thường Kiệt, Trần HưngĐạo, Lê Lợi, Quang Trung, gần đây với hai cuộc kháng chiến thần
thánh giải phóng dân tộc, mà tên tuổi của Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại.
Văn hóa tộc người và văn hóa dân tộc vẫn có sự phân biệt. Mỗi tộc người vẫn có những
đặc trưng sinh hoạt văn hóa của riêng bản thân, thường lấy đó để phân biệt với tộc người
khác ở xung quanh. Những đặc trưng đó thường được các nhà nghiên cứu tìm tòiphân tích
bằng phương pháp so sánh để khẳng định. Đó là kết quả một quá trình nghiên cứu công
phu, nhưng với dân chúng có điều hộ chấp nhận, có điều đặc trưng để khẳng định cái ta,
phân biệt với cái khác ta mang tính tộc người, nhiều khi chỉ là những dấu hiệu đơn giản, dễ
nhận thấy trong cuộc sống, như một nét khác nhau qua cách ăn uống(người Tày ăn cơm,
người Hmông ăn ngô), trong cách ăn mặc(người Tày mặc áo dài, người Nùng mặc áo ngắn),
giọng nói, những điều kiêng cử, thờ cúng v.v… lOMoAR cPSD| 47270246
Vậy nên, đối với một tộc người, cũng như một dân tộc, tiêu chí xác định về văn hóa là
những đặc trưng trong lối sống văn hóa của tộc người, dân tộc, chứ không hẳn là tổng thể
sinh hoạt văn hóa diễn ra thường ngày. Những đặc trưng đó bền vững đi sóng đôi với tộc
người hay dân tộc qua những chặng đường lịch sử, đã trở nên một mảng đời của tộc người,
của dân tộc không thể chia cắt. Nó tạo nên một tính cách văn hóa của dân tộc, của tộc người.
Cần lưu ý nếu một nhóm địa phương chấp nhận tộc thuộc về một tộc người qua một số
đặc trưng sinh hoạt văn hóa tộc ngưòi nhất định, thì một tộc người chấp nhận mình thuộc
về một dân tộc nhất định, cũng phải thấy bản thân gắn bó với một số đặc trưng sinh hoạt
văn hóa của một quốc gia dân tộc, và cũng có những đặc trưng sinh hoaạt văn hóa riêng để
phân biệt với tộc người khác.