



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA SƯ PHẠM ---------- ---------- TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ DUY BIỆN LUẬN ỨNG DỤNG (2+0)
Mã học phần: KTCH005 Học kỳ, Năm học
Tên đề tài: PHÂN TÍCH, LÀM RÕ NHỮNG ẢNH HƯỞNG
BẤT LỢI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG, ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI NHỮNG QUỐC GIA VEN
BIỂN, ĐANG PHÁT TRIỂN NHƯ VIỆT NAM.
Giảng viên giảng dạy: THÀNH VIÊN NHÓM:
Bình Dương, ngày tháng năm TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: TƯ DUY BIỆN LUẬN ỨNG DỤNG (2+0)
Mã học phần: KTCH005
Tên đề tài: PHÂN TÍCH, LÀM RÕ NHỮNG ẢNH HƯỞNG BẤT LỢI CỦA BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI
NHỮNG QUỐC GIA VEN BIỂN, ĐANG PHÁT TRIỂN NHƯ VIỆT NAM.
Bảng tự đánh giá của nhóm: STT Họ và tên
Công việc được phân công Mức độ hoàn thành (%) 1
Hoàn thành phần 1, chương 2, kết luận 100%
2Hoàn thành chương 1 và chương 3 100%
Đánh giá của giảng viên
Điểm bằng số
Nhận xét của GV chấm 1
Nhận xét của GV chấm 2
Điểm bằng chữ
Giảng viên 1 ký tên
Giảng viên 2 ký tên MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................................3
2. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................................4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................4 3.1
Đối tượng nghiên cứu...................................................................................4 3.2
Phạm vi nghiên cứu......................................................................................4
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................4
Phần 2: NỘI DUNG..........................................................................................................5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TƯ DUY BIỆN LUẬN....................................5
1.1. Định nghĩa về tư duy biện luận.......................................................................5
1.2. Đặc điểm của tư duy biện luận........................................................................6
1.3. Luận cứ.............................................................................................................6 1.3.1.
Luận cứ diễn dịch......................................................................................7
1.3.2. Luận cứ quy nạp...........................................................................................8
1.4. Các rào cản của tư duy biện luận....................................................................9
1.5. Rèn luyện và phát triển tư duy biện luận.....................................................10 1.5.1.
Mối quan hệ giữ tiền đề và kết luận.........................................................10 1.5.2.
Tầm quan trọng của cấu trúc logic..........................................................10 1.5.3.
Ngụy biện và cách nhận diện...................................................................11
1.5.4 Quy trình cải thiện tư duy phản biện.........................................................12
Chương 2: TƯ DUY BIỆN LUẬN TRONG PHÂN TÍCH, LÀM RÕ NHỮNG
ẢNH HƯỞNG BẤT LỢI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG, ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI NHỮNG QUỐC GIA VEN BIỂN, ĐANG
PHÁT TRIỂN NHƯ VIỆT NAM...............................................................................13
2.1. Phân tích thực trạng những bất lợi của biến đổi khí hậu..............................13
2.1.1. Đối với các quốc gia trên toàn thế giới......................................................13
2.1.2. Đối với Việt Nam.........................................................................................14
2.2. Đánh giá nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu...............................................15
Chương 3: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƯ DUY BIỆN LUẬN TRONG PHÂN
TÍCH, LÀM RÕ NHỮNG ẢNH HƯỞNG BẤT LỢI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI NHỮNG QUỐC GIA
VEN BIỂN, ĐANG PHÁT TRIỂN NHƯ VIỆT NAM..............................................16
3.1 Biến đổi khí hậu có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam...........................................................................................................................16
3.2 Giải pháp cho biến đổi khí hậu đối với sự phát triển của các quốc gia ven
biển, đang phát triển như Việt Nam.......................................................................18
KẾT LUẬN.....................................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................21 Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Song hành với một xã hội phát triển là những bất lợi tiềm tàng từ việc biến đổi khí hậu.
Sự biến đổi khí hậu một cách bất thường đã và đang là vấn đề nan giải đối với các nhà
khoa học, hay nói cách khác biến đổi khí hậu không chỉ đang đe dọa đến sự phát triển bền
vững của nhiều quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi
trường toàn cầu, đặc biệt là các quốc gia ven biển và đang phát triển như Việt Nam.
Biến đổi khí hậu đã gây ra những tác động kinh tế và sẽ còn tiếp tục như vậy trong
nhiều thế kỉ tiếp theo. Một quốc gia ven biển như Việt Nam, hiện đang được xem là một
trong những nước chịu sự ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu. Nhận ra được sự
nghiêm trọng trong việc bảo vệ đất nước khỏi những ảnh hưởng từ khí hậu, Chính phủ
Việt Nam đã luôn tìm ra những biện pháp, và triển khai thực hiện để ứng phó với những
tác động cấp bách, và những bất lợi lâu dài.
Hàng loạt các nghiên cứu về biến đổi khí hậu được đề ra như: “Vấn đề kinh tế của việc
hạn chế phát thải khí nhà kính”, “Tác động của biến đổi khí hậu lên tài nguyên nước và
các biện pháp thích ứng”, “Chiến lược quốc gia giảm thải khí nhà kính với chi phí thấp
nhất”…. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, luôn đi đầu trong các nghiên
cứu về biến đổi khí hậu đã xây dựng, và triển khai nhiều chương trình, cũng như các kết
quả nghiên cứu đã mang lại sự nhận thức và hiểu biết về biến đổi khí hậu đến với người dân.
Khi mà các thiên tai đặc biệt nguy hiểm luôn liên tục xuất hiện với quy mô và tần suất
khó lường, thì việc nâng cao kiến thức và tìm ra giải pháp cho vấn đề là cấp bách. Do đó,
việc nghiên cứu vấn đề “Nhân loại ngày nay đang phải đối mặt trước những ảnh hưởng
bất lợi của biến đổi khí hậu đến sự phát triển bền vững; đặc biệt đối với những quốc gia
ven biển, đang phát triển như Việt Nam” là vô cùng cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu thứ nhất, nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đến sự phát triển của các quốc gia. Trong đó, các quốc gia ven biển đặc biệt là Việt Nam,
cần biết được tình trạng thực tế tác động khí hậu đến kinh tế của các quốc gia này.
Mục tiêu nghiên cứu thứ hai, cần biết được nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi bất
thường của khí hậu. Từ đó, đề ra các giải pháp thiết thực nhằm ứng phó cũng như giải quyết tình trạng này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Các quốc gia đã và đang chịu tác động từ biến đổi khí hậu.
Đối tượng nghiên cứu: Những ảnh hưởng bất lợi của biến đổi đến sự phát triển bền
vững của các quốc gia đó.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu chung các quốc gia đều đang chịu sự đe dọa đến đời sống kinh tế - xã hội
từ biến đổi khí hậu. Bao gồm cả các quốc gia phát triển và đang phát triển, các quốc gia nằm ở vùng ven biển.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính: Tìm ra các hành vi của nhân loại tác động đến môi
trường. Qua đó tìm hiểu sâu sắc các lý do tổng quan và khách quan, đã và đang tác động
một cách gián tiếp cũng như trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu. Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TƯ DUY BIỆN LUẬN 1.1.
Định nghĩa về tư duy biện luận
Tư duy biện luận (critical thinking) hay có tên gọi khác là tư duy phản biện hay tư duy
phê phán. Khái niệm về tư duy biện luận cũng được định nghĩa nhiều bởi các nhà khoa
học cổ điển, Alec Fisher đã đọc và lược khảo ra một vài khái niệm về tư duy biện luận từ
những định nghĩa cổ điển.
“Sự suy xét chủ động, kiên trì và cẩn trọng một niềm tin hay cái gọi là một dạng tri
thức nào đó bằng cách xem xét những cơ sở nâng đỡ cho niềm tin ấy và những kết luận
nào đó nữa mà nó nhắm đến.” (Dewey, 1909, tr.9).Định nghĩa này coi tư duy biện luận cơ
bản là một hoạt động “chủ động”, đây là quá trình tự mình soi xét, tự mình đặt câu hỏi, tự
tìm câu trả lời xác đáng đúng với những dẫn chứng thực tế. Với định nghĩa ông đặt ra, về
cơ bản đã định hình những yếu tố then chốt đối với tư duy biện luận. Điều này đã giúp
cho Watson Glaser có thêm một định nghĩa mới về tư duy biện luận:
“(1) một thái độ sẵn sàng xem xét thấu đáo các vấn đề và chủ đề nảy sinh trong phạm
vi kinh nghiệm của mình; (2) nắm vững các phương pháp tra vấn và lập luận logic; và (3)
kĩ năng áp dụng các phương pháp này. Tư duy biện luận đòi hỏi phải có sự nổ lực kiên trì
để khảo sát bất cứ niềm tin hay cái gọi là một dạng tri thức bằng cách xét các chứng cứ
nâng đỡ cho nó và những kết luận nào đó nữa mà nó nhắm đến.”(Glaser, 1941, tr.5).
Đây là sự tiếp nối và phát triển so với định nghĩa đầu tiên của Dewey, ngoài bảo lưu
toàn bộ định nghĩa của Dewey thì Glaser đã thay đổi từ ngữ “chứng cứ” thay bằng “các
cơ sở” và bổ sung thêm yếu tố “thái độ” hoặc các yếu tố tâm thế sẵn sàng xem xét thấu
đáo các vấn đề và kĩ năng áp dụng “các phương pháp tra vấn và lập luận logic”. Việc này
đã làm cho định nghĩa tư duy biện luận bước thêm một bước và hoàn chỉnh hơn. Sự phát
triển của khái niệm tư duy biện luận cũng có sự đóng góp quan trọng của Robert Ennis,
được định nghĩa như sau: “Tư duy biện luận là tư duy hợp lý và có tính chất phản tư, chú
trọng đến việc quyết định tin điều gì hay làm điều gì.”(Norris và Ennis, 1989).
Tuy nhiên, một định nghĩa khác ra đời gần đây có phần khác biệt so với các định nghĩa
được đặt ra thời gian trước đó. “Tư duy biện luận là phương pháp tư duy – về bất cứ chủ
đề, nội dung hay vấn đề nào đó – trong đó người tư duy cải thiện chất lượng tư duy của
mình bằng cách điều hành khéo léo các cấu trúc cố hữu trong tư duy và áp đặt cho chúng
các tiêu chuẩn của trí tuệ.”(Richard Paul và Linda Elder, 1993, tr.4). định nghĩa nhấn
mạnh tới một số đặc điểm chuyên biệt của tư duy biện luận, trong đó có tư duy biện luận
là cách thức hữu hiệu để phát triển năng lực tư duy của chính mình, học cách giải quyết và cải thiện nó. 1.2.
Đặc điểm của tư duy biện luận.
Tư duy biện luận là một dạng tư duy đặc biệt, ngoài sử dung thuần thục các phương
pháp và quy tắc logic làm rõ vấn đề, nó còn thể hiện những thái độ, những phẩm chất cần
có của người sử dụng như: chủ động, kiên trì, cẩn trọng và có tinh thần cởi mở. Đưa ra
những quyết định sáng suốt khi nhất định phải tin tưởng vào một điều gì đó hay một sự
việc nào đó. Đối với các hoạt động giáo dục, tư duy biện luận có vai trò không kém phần
quan trọng, nó là một dạng tư duy giúp ta cải thiện được thông qua sự học hỏi và trau dồi
bản thân tốt đẹp hơn. Khi đưa ra những lý do tốt để biện minh cho những gì ta tin thì đấy
là ta đang đưa ra một luận cứ. Luận cứ gắn liền với tư duy biện luận, hay nói cách khác
luận cứ được xem như là đối tượng xem xét của tư duy biện luận. Các kĩ năng của tư duy
biện luận là nhận biết, phân tích, đánh giá và xây dựng các luận cứ tốt. 1.3. Luận cứ
Luận cứ là nổ lực đưa ra những lý do ủng hộ cho việc nghĩ rằng một niềm tin nào đó là
đúng. Luận cứ có hai phần: tiền đề và kết luận. Luận cứ là tập hợp những phán đoán,
trong đó phán đoán được phát biểu ở dạng câu tường thuật, đưa ra lời tuyên bố và lời
tuyên bố ấy có thể đúng hoặc sai. Câu nào không đúng không sai thì không thể là phán
đoán và không thể tạo nên một thành phần luận cứ. Những câu nào không mang giá trị
chân lý thì không được gọi là đúng hay sai, do đó chúng không phải là các phán đoán.
“Một luận cứ tốt là một luận cứ thỏa mãn được hai tiêu chí: luận cứ có tiền đề đúng và
cấu trúc của nó hợp logic; ngược lại nếu một luận cứ nào đó không thỏa mãn được một
trong hai, hoặc cả hai, tiêu chí này thì đấy sẽ là một luận cứ tồi. Còn được gọi là ngụy
biện. Để kiểm tra xem các tiền đề của một luận cứ là đúng hay không, ta quy chiếu nội
dung phát biểu của chúng vào trong thực tế có kiểm chứng được, nếu tiền đề nào có nội
dung phản ảnh đúng với thực tế ấy thì tiền đề ấy đúng; ngược lại thì nó là tiền đề sai.”
(Đinh Hồng Phúc, 2021, tr.49). Cách tìm luận cứ:
Bước 1: Tìm sự nổ lực thuyết phục: Nếu tác giả muốn thuyết phục tin điều gì đó là đúng đó là luận cứ. Bước 2: Tìm kết luận:
Tìm luận điểm chính của tác giả. Đó sẽ là kết luận của luận cứ.
Tìm thuyết phục đa chiều từ tác giả
Bước 3: Tìm các tiền đề
Tìm các lý do tác giả dùng để thuyết phục người đọc
Luận cứ có hai loại: luận cứ diễn dịch và luận cứ quy nạp.
1.3.1. Luận cứ diễn dịch
“Luận cứ diễn dịch là cách suy luận được tổ chức sao cho từ tiền đề ta rút ra được kết
luận một cách tất yếu hay chắc chắn, nghĩa là trong cấu trúc logic của luận cứ diễn dịch,
nếu tiền đề được cho là đúng thì kết luận tất yếu đúng.” (Đinh Hồng Phúc, 2021, tr.52).
Luận cứ trong đó người lập luận cố gắng chứng minh rằng: chân lý của kết luận tất yếu
đúng được rút ra từ các tiền đề. Từ chỉ báo tình thái của kết luận diễn dịch: chắc chắn, tất
yếu, tất phải là, nhất định là... hai loại luận cứ diễn dịch thường thấy nhất là luận cứ nhất
quyết và luận cứ mệnh đề. Được phân biệt bởi cấu trúc.
“Luận cứ nhất quyết là luận cứ diễn dịch chứa các phán đoán nhất quyết. Các phán
đoán nhất quyết là các phán đoán biểu thị mối quan hệ của hai nhóm sự vật hay sự việc
được nói đến. Tuy trong ngôn ngữ tự nhiên các phán đoán nhất quyết được phát biểu theo
nhiều cách khác nhau, nhưng quy về ngôn ngữ hình thức thì có tất thảy bốn dạng phán
đoán: khẳng định toàn thể, phủ định toàn thể, khẳng định bộ phận và phủ định bộ phận.”
(Đinh Hồng Phúc, 2021, tr.55). Phán đoán nhất quyết là những phán đoán nối kết 2 tập
hợp sự vật hoặc đối tượng lại với nhau. Phán đoán nhất quyết nói rằng các sự vật thuộc
phạm trù này hoặc ở trong hoặc ở trong phạm trù khác.
“Luận cứ mệnh đề là luận cứ diễn dịch chứa các phán đoán mệnh đề. Các phán đoán
mệnh đề là các phán đoán được hình thành từ các phán đoán đơn và các liên từ logic.
Phán đoán đơn là phán đoán không chứa bất cứ phán đoán nào khác xét như là một thành
phần. Khi nối kết một hay nhiều phán đoán đơn bằng các liên từ logic, ta sẽ có được phán
đoán phức. Tuy có rất nhiều biểu đạt khác nhau về phán đoán phức trong ngôn ngữ tự
nhiên, nhưng quy về ngôn ngữ hình thức thì tựu trung có bốn dạng phán đoán mệnh đề:
phán đoán phủ định, phán đoán liên kết, phán đoán phân liệt và phán đoán điều kiện.”
(Đinh Hồng Phúc, 2021, tr.57).
1.3.2. Luận cứ quy nạp
“Luận cứ quy nạp là luận cứ trong đó người lập luận cố gắng chứng minh rằng chân lý
của kết luận có thể được rút ra từ các tiền đề. Ba loại luận cứ phổ biến nhất sử dụng lập
luận quy nạp là luận cứ loại suy, luận cứ khái quát hóa quy nạp và luận cứ nhân quả.
Luận cứ loại suy là lối suy luận quy nạp trong đó người ta đi đến kết luận bằng cách so
sánh hai hay nhiều sự vật được cho là tương tự ở phường diện có liên quan mật thiết nào
đó. Sự so sánh này sẽ được biểu đạt trong phán đoán loại suy ở trong tiền đề.
Luận cứ khái quát hóa quy nạp kết luận rằng một số, hầu hết, hay tất cả phần tử của
một nhóm có đặc điểm nào đó dựa trên chứng cứ là một bộ phận, hay mẫu, của nhóm ấy
có đặc điểm nào đó dựa trên chứng cứ là một bộ phận, hay mẫu, của nhóm ấy có đặc điểm
này. Kết luận của khái quát hóa quy nạp sẽ là một phán đoán khái quát. Phán đoán khái
quát đưa ra một phát biểu về tất cả, hầu hết, hay nhiều phần tử của một nhóm hay tập hợp.
Luận cứ nhân quả là luận cứ quy nạp cung cấp chứng cứ cho việc kết luận rằng phán
đoán nhân quả nào đó là đúng. Phán đoán nhân quả là phán đoán khẳng định rằng có mối
quan hệ nào đó giữa hai sự kiện trong đó sự kiện này là nguyên nhân gây ra sự kiện kia.
Tuy trong thực tế, có nhiều cách biểu đạt khác nhau về phán đoán nhân quả, nhưng cấu
trúc tiêu biểu của nó có dạng “X gây ra Y” trong đó X dùng để chỉ sự kiện nguyên nhân
về Y dùng để chỉ sự kiện kết quả.” (Đinh Hồng Phúc, 2021, tr.59-60). 1.4.
Các rào cản của tư duy biện luận
Rào cản bên trong: rào cản xuất phát từ chính bản thân người suy nghĩ, bao gồm:
Tính bảo thủ: xu hướng thiên vị nhữn thông tin và quan điểm mà tự bản thân mình
cho là đúng, phù hợp với bản thân. Điều này dễ khiến ta bỏ qua những thông tin
quan trọng, có tính chất đúng với thực tế hoặc có thể bị đánh giá một vấn đề nào đó một cách phiến diện.
Tư duy nhóm: xu hướng ỷ lại vào quan điểm và đánh giá của nhóm, có thể khiến
ta dễ dàng bị ảnh hưởng tâm lý bởi những ý kiến của người xung quanh. Điều này
có thể dẫn đến việc chúng ta chấp nhận một quan điểm hay cách nhìn nào đó mà
không có suy nghĩ thấu đáo.
Thiếu tự tin và lười biếng: việc này phản ánh thái độ học tập của chính bản thân,
không chắc chắn về những điều mình suy nghĩ cũng như lười vận động đầu óc đi
theo lối mòn của những quan điểm xưa cũ. Điều này khiến cho ta bỏ qua việc xem
xét những thông tin quan trọng hoặc không tìm được những giải pháp thay thế phù hợp cho từng vấn đề.
Rào cản bên ngoài: rào cản bắt nguồn từ môi trường xung quanh, bao gồm:
Thông tin sai lệch: là những thông tin không chính xác, bị bóp méo sự thật hoặc là
những thông tin cũ kĩ không thể áp dụng được vào thực tế hiện tại.
Áp lực xã hội: áp lực đến từ phía gia đình, bạn bè, trường học, công ty,... khiến
cho ta phải đưa ra những quan điểm trái với quan điểm và suy nghĩ của bản thân.
Sự thiên vị của người cung cấp thông tin: xu hướng đưa những thông tin có lợi nhất
cho bản thân hoặc đội nhóm của bản thân, có tính hơn thua bên trong và ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng quan điểm. 1.5.
Rèn luyện và phát triển tư duy biện luận
1.5.1. Mối quan hệ giữ tiền đề và kết luận
Tiền đề là những lý do ta dùng để nâng đỡ kết luận, và kết luận là niềm tin được các lý
do nâng đỡ. Tiền đề cung cấp một lý do để ta nghĩ rằng kết luận là đúng, tiền đề và kết
luận đều là các phán đoán. Kết luận là phán đoán mà tác giả muốn nâng đỡ, các tiền đề là
những phán đoán thực hiên chức năng nâng đỡ cho kết luận.
Từ chỉ báo tiền đề: vì, bởi vì, giả sử, nhờ, căn cứ theo, xét thấy rằng, như được cho
thấy bởi, có thể cho thấy bởi, có thể được suy ra từ, lý do là, rõ ràng là từ, dựa trên, trong chừng mực.
Từ chỉ báo kết luận: cho nên, vì vậy, kết quả là, rõ ràng là, chắc chắn là, có khả năng
là, do đó, suy ra là, thế thì, tóm lại, theo đó, do vậy, vì thế, điều đó cho thấy, điều đó
khiến ta thấy rõ, điều đó có nghĩa là, vì những lý do trên, kết luận rằng.
Tiền đề ngầm là phán đoán không được phát biểu ra trong tiền đề của luận cứ. Kết luận
ngầm là phán đoán kết luận không được phát biểu ra trong luận cứ. Tiền đề ngầm là bước
đi tất yếu về mặt logic giữa tiền đề và kết luận và tiền đề ngầm phải là điều gì đó mà tác
giả và hâu hết mọi người đều nghĩ đúng. Tiền đề hay kết luận của luận cứ đôi khi cũng có
thể được phát biểu ẩn ý ở các dạng biểu đạt không phải một câu phán đoán.
1.5.2. Tầm quan trọng của cấu trúc logic
Trình bày suy nghĩ một cách mạch lạc và dễ hiểu: Khi chúng ta có một cấu trúc logic rõ
ràng, chúng ta có thể dễ dàng trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và dễ hiểu
cho người khác. Điều này giúp cho người nghe có thể hiểu rõ quan điểm của chúng ta và
đưa ra phản hồi phù hợp. Trong một cuộc tranh luận, cấu trúc logic giúp người tranh luận
trình bày quan điểm của mình một cách rõ ràng và thuyết phục. Điều này giúp người nghe
có thể hiểu rõ quan điểm của người tranh luận và đưa ra phản hồi phù hợp.
Phát triển những lập luận thuyết phục: Cấu trúc logic giúp chúng ta phát triển những lập
luận thuyết phục bằng cách liên kết các luận điểm với nhau một cách chặt chẽ. Điều này
giúp cho lập luận của chúng ta trở nên vững chắc và khó bị bác bỏ. Trong một bài luận,
cấu trúc logic giúp tác giả trình bày ý tưởng một cách mạch lạc và dễ hiểu. Điều này giúp
cho người đọc có thể hiểu rõ ý tưởng của tác giả và đánh giá bài viết một cách khách quan.
Tìm ra những lỗ hổng trong lập luận của người khác: Bằng cách phân tích cấu trúc logic
của lập luận của người khác, chúng ta có thể dễ dàng tìm ra những lỗ hổng và đưa ra phản
bác. Điều này giúp chúng ta có thể đánh giá và phản biện một cách khách quan. Trong
một công việc, cấu trúc logic giúp chúng ta giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Điều này
giúp chúng ta có thể phân tích vấn đề một cách chính xác và đưa ra giải pháp phù hợp.
1.5.3. Ngụy biện và cách nhận diện
“Ngụy biện là một luận cứ bị lỗi lập luận. Có hai loại ngụy biện: ngụy biện hình thức và
ngụy biện phi hình thức. Ngụy biện hình thức là luận cứ sai lầm do phạm phải lỗi thuộc
về cấu trúc logic của luận cứ. Ngụy biện phi hình thức là luận cứ sai lầm do phạm phải lỗi
thuộc về nội dung của luận cứ.” (Đinh Hồng Phúc, 2021, tr. 192). Cách nhận diện ngụy
biện trong tư duy biện luận:
Kiểm tra tính logic của lập luận: Một lập luận hợp lý phải có các luận điểm liên
quan và dẫn đến một kết luận hợp lý. Nếu một lập luận không hợp lý, thì nó có thể là một ngụy biện.
Kiểm tra độ chính xác của thông tin: Một lập luận dựa trên thông tin sai lệch là một ngụy biện.
Xem xét các giả định của lập luận: Một lập luận có thể là ngụy biện nếu nó dựa
trên các giả định sai lầm hoặc không được chứng minh.
Tìm các thủ thuật thuyết phục: Một số ngụy biện sử dụng các thủ thuật thuyết
phục để đánh lừa người nghe. Chúng ta cần tỉnh táo để nhận ra những thủ thuật này.
Một số loại ngụy biện thường gặp: ngụy biện công kích cá nhân, ngụy biện viện dẫn số
đông, ngụy biện viễn dẫn truyền thống, ngụy biện viện dẫn điều chưa biết, ngụy biện viện
đến cảm xúc, ngụy biện người rơm, ngụy biện đánh lạc hướng, ngụy biện toàn bộ và bộ
phận, ngụy biện hai cái sai thành một cái đúng, ngụy biện đến thành phần xuất thân, ngụy
biện với các tiền đề không thể chấp nhận, ngụy biện viện đến uy tín không chính đáng,
ngụy biện lưỡng nan giải, ngụy biện khái quát hóa vội vã, ngụy biện loại suy yếu, ngụy
biện dựa vào quan hệ nhân quả.
1.5.4 Quy trình cải thiện tư duy phản biện
Bước 1: Tìm hiểu vấn đề
Bước đầu tiên là cần hiểu rõ vấn đề đang được bàn luận. Chúng ta cần thu thập
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các nguồn chính thống, đáng tin cậy.
Chúng ta cũng cần phân tích các thông tin này một cách kỹ lưỡng để hiểu được
những khía cạnh khác nhau của vấn đề.
Bước 2: Xác định các quan điểm khác nhau
Sau khi hiểu rõ vấn đề, chúng ta cần xác định các quan điểm khác nhau về vấn đề
đó. Chúng ta có thể tìm hiểu các quan điểm này từ các nguồn khác nhau, bao gồm
các bài báo, sách, bài luận,... Chúng ta cũng có thể tham gia các cuộc thảo luận và
tranh luận để nghe các quan điểm khác nhau.
Bước 3: Phân tích các quan điểm
Sau khi xác định các quan điểm khác nhau, chúng ta cần phân tích các quan điểm
này một cách khách quan. Chúng ta cần xem xét các luận điểm và bằng chứng
được đưa ra để đánh giá tính hợp lý của các quan điểm này. Chúng ta cũng cần tìm
ra những lỗ hổng trong các quan điểm này.
Bước 4: Đưa ra quan điểm của bản thân
Sau khi phân tích các quan điểm khác nhau, chúng ta có thể đưa ra quan điểm của
bản thân về vấn đề đó. Chúng ta cần trình bày quan điểm của mình một cách rõ
ràng, mạch lạc và thuyết phục. Chúng ta cũng cần sẵn sàng lắng nghe và phản hồi ý kiến của người khác
Bước 5: Rèn luyện thường xuyên
Tư duy biện luận là một kỹ năng cần được rèn luyện thường xuyên. Chúng ta có
thể rèn luyện tư duy phản biện bằng cách tham gia các cuộc thảo luận, tranh luận,
đọc sách báo, viết bài luận,... Chúng ta cũng có thể tham gia các khóa học hoặc
chương trình đào tạo về tư duy phản biện.
Chương 2: TƯ DUY BIỆN LUẬN TRONG PHÂN TÍCH, LÀM RÕ NHỮNG ẢNH
HƯỞNG BẤT LỢI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG, ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI NHỮNG QUỐC GIA VEN BIỂN, ĐANG PHÁT
TRIỂN NHƯ VIỆT NAM.
2.1. Phân tích thực trạng những bất lợi của biến đổi khí hậu
2.1.1. Đối với các quốc gia trên toàn thế giới
Biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nghiệm trọng, khi nền nhiệt trung bình trên
Trái đất đã ấm lên 1 độ C từ năm 2015. Theo báo cáo của Tổ chức Khí tượng thế giới
(WHO), tháng 5 – 2020 đã trở thành tháng nóng kỷ lục thế giới, nhiệt độ tăng khoảng
0.68 độ C. Hàng loạt biến động cũng liên tục xảy ra vào năm 2020, khi cháy rừng thiêu
rụi các khu vực rộng lớn như Bờ Tây Hoa Kỳ, Úc, Siberia, và Nam Mỹ. Do tác động của
đại dịch Covid – 19 nên lượng khí thải ra có giảm nhưng nồng độ khí thải gây ra hiệu ứng
nhà kính vẫn tiếp tục tăng.
Chỉ tính riêng năm 2020, thủ đô Jakarta của Indonesia xảy ra trận lũ lụt cướp đi sinh
mạng của hơn 60 người, và làm cho 60.000 người dân phải sơ tán. Tại Trung Quốc đã trải
qua 21 trận lũ lụt, thiết lập kỉ lục lịch sử kể từ năm 1998. Đây cũng được xem làm một
trong ba năm nóng nhất, tình trạng trở nên báo động khi lượng băng trên Bắc Băng
Dương trong hơn 40 năm qua, đã tan chảy xuống mức thấp thứ hai.
Trên khắp các châu lục và đại dương, nhiệt độ có xu hướng tăng lên rõ rệt kể từ thế kỷ
20, tốc độ của xu thế biến đổi nhiệt độ cả thế kỷ là 0,75 độ C, trở thành thế kỷ có nhiệt độ
tăng nhanh nhất trong lịch sử, kể từ thế kỷ 11. Đáng báo động hơn là mức tăng nhiệt độ
của Bắc cực gấp đôi mức tăng nhiệt độ trung bình củ toàn cầu.
Theo Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), khoảng 9% dân số thế giới, tương
đương 690 triệu người bị suy dinh dưỡng. Số người rơi vào tình trạng khẩn cấp va đói
kém tăng lên gần 135 triệu người trên 55 quốc gia. Chỉ tính riêng mười thảm họa thời tiết
khủng khiếp nhất, đã gây nên thiệt hại 150 tỷ USD trên toàn thế giới.
Thời tiết cực đoan không chỉ là nhân tố ảnh hưởng đến nền kinh tế, mà còn đến hòa
bình thế giới. Biến đổi khí hâu làm gia tăng các xung đột chính trị, khiến cho hàng triệu
người mất nơi ở, hàng trăm nghìn người thiệt mạng, và vô số người dân rơi vào cảnh cùng
cực. Theo các chuyên gia, hằng năm trên thế giới lại mất đi 10 triệu héc – ta rừng.
Bảng 1: Diễn biến của chuẩn sai nhiệt độ trên các châu lục từ năm 1920 – 2000 (độ C) Khu vực
1920 1930 1940 1950 1960 1970 1980 1990 2000 Năm Bắc Mỹ -0.3 0.2 0.3 0.2 0.1 0.0 0.2 0.5 0.7 Nam Mỹ -0.2 0.0 0.2 0.1 0.2 0.1 0.0 0.2 0.4 Châu Âu -0.1 0.0 0.1 0.2 0.0 0.1 0.0 0.4 0.8 Châu Phi 0.0 0.1 0.1 0.0 0.0 0.0 0.3 0.5 0.7 Châu Á 0.0 0.0 0.1 0.1 0.1 0.0 0.3 0.7 0.9 Châu Úc -0.1 0.0 0.0 -0.2 0.1 0.1 0.3 0.5 0.5 Toàn cầu 0.0 0.1 0.2 0.1 0.4 0.4 0.2 0.4 0.7
Nguồn: Báo cáo đánh giá lần 3 của IPCC, 2021
2.1.2. Đối với Việt Nam
Là một quốc gia ven biển, Việt Nam đứng thứ 8 về chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI)
và đứng thứ 5 về chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018. Trong những năm gần đây, thì
2019 – 2020 là một năm kinh hoàng đối với nhiều người dân đang sinh sống tại đồng
bằng sông Cửu Long, khi tình trạng xâm nhập mặn trở nên cao nhất trong lịch sử, thiệt hại
khoảng 6.650 ha cây ăn quả, 58.400 ha lúa, 8.715 ha nuôi trồng thủy sản và khiến
430.000 người cùng 96.000 hộ thiếu nước sinh hoạt.
Điều này gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của Việt Nam, tác
động đến nền kinh tế và gây ra những hệ lụy khôn lường: mất diện tích đất do nước biển
tăng, hạn hán, lũ lụt, hoang mạc hóa, sạc lở,…. Nhiệt độ tăng cao khiến nước biển tăng
lên nhanh chóng. Dự kiến nhiệt độ sẽ rơi vào khoảng 0.9 – 1.5 độ C vào năm 2050, và 2.0
– 2.8 độ C vào năm 2100. Theo số liệu từ trạm quốc gia Hòn Dấu, trong vòng 50 năm
qua, mực nước biển dâng khoảng 20 cm, nếu như không có giải pháp cấp bách, 10% dân
số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất 10% đối với GDP khi mực nước biển dâng thêm 100 cm.
Biến đổi khí hậu còn gây ra nhiều ảnh hưởng bất lợi đến các lĩnh vực Nông – Lâm –
Ngư – Nghiệp tại Việt Nam. Biến đổi khí hậu làm thay đổi tính thích hợp của nền sản
xuất nông nghiệp với cơ cấu khí hậu, diện tích rừng ngập mặn ven biển chịu tổn thất lớn
do mực nước biển tăng, các quá trình hoang mạc hóa làm suy giảm chất lượng đất, nhiệt
độ trở nên cao hơn làm cho thời gian và cường độ gia hạn tăng cao.
Biến đổi khí hậu còn gây ra nhiều thiệt hại cực đoan về người và về của. Chỉ tính từ
đầu năm 2021 đến nay, Việt Nam đã xảy ra 3 áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, 8 cơn
bão, 109 trận động đất nhẹ, 140 cơn mưa lớn lũ cục bộ, 316 trận mưa đá, dông lốc, sét,
157 vụ sạt lở bờ sông, 6 đợt không khí lạnh, gió mùa đông bắc và 7 đợt nắng nóng. Ước
tính tổng thiệt hại khoảng 1.428 tỷ đồng. Theo thống kê, tỷ lệ tủ vong do thời tiết cực
đoan tại Việt Nam xếp thứ 11 trên toàn thế giới, gây thiệt hại đến 0.6782% GDP cả nước.
2.2. Đánh giá nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
Theo các nghiên cứu về tần suất và cường độ của hiện tượng khí hậu cực đoan, các
chuyên gia đã phân tích dựa trên quan sát không gian, thời gian về vai trò của các yếu tố
tự nhiên và nhân tạo, cho thấy rủi ro từ các hiện tượng nhiệt độ và lượng mưa cực đoan đã
gia tăng nghiêm trọng ở hầu hết các khu vực trên toàn thế giới. Sự cưỡng bức do con
người tạo ra là động lực chính của những sự gia tăng như vậy và tác động của nó khuếch
đại những tác động của cưỡng bức tự nhiên.
Trong năm 2018, các tác động cưỡng bức gia tăng do con người gây ra chủ yếu là
nguyên nhân làm tăng nguy cơ nhiệt độ/lượng mưa cực đoan ảnh hưởng đến 94%/72%
dân số toàn cầu và 97%/76% GDP toàn cầu so với giai đoạn cơ sở 1961–1990. Vào năm
2020, một nghiên cứu về sự kiện mùa bão Bắc Đại Tây Dương cho thấy sự nóng lên do
con người gây ra có thể làm tăng 5% -10% số lượng bão nhiệt đới và 8–11% lượng mưa từ các cơn bão.
Đối mặt với sự gia tăng nhiệt độ, một số nghiên cứu nhận ra rằng xu hướng nóng lên dần
lan rộng, nguyên nhân được cho gây ra hiện tượng này đến từ con người. Theo báo cáo
đánh giá lần thứ sáu từ IPCC, kết luận rằng sự gia tăng các hiện tượng bất thường từ thời
tiết và khí hậu đã dẫn đến những tác động không thể khắc phục được đối với các hệ thống
tự nhiên và con người, gần như chắc chắn rằng sự nóng lên toàn cầu đã trở nên thường xuyên và mạnh mẽ hơn.
Chỉ riêng sự ép buộc do con người gây ra đã làm tăng nguy cơ nhiệt độ khắc nghiệt ở
hầu hết các vùng đất liền trên toàn thế giới. Đối với hầu hết Châu Âu, , Bắc và Nam Phi,
Trung Đông, Mexico, Châu Á, miền trung và miền tây Hoa Kỳ, hầu hết Nam Mỹ và Úc,
xác suất nhiệt độ cực đoan ít nhất tăng gấp đôi với mức tăng vào năm 2018 trong sự
cưỡng bức do con người gây ra. Trên các khu vực rộng lớn của Canada, Nga và Thụy
Điển, Na Uy, cũng như Argentina và một số vùng của Úc và Trung Quốc, xác suất vượt
quá phân vị thứ 90 ở TXx trong khoảng thời gian tham chiếu đã tăng lên (do sự ép buộc của con người).
Chương 3: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƯ DUY BIỆN LUẬN TRONG PHÂN TÍCH,
LÀM RÕ NHỮNG ẢNH HƯỞNG BẤT LỢI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI NHỮNG QUỐC GIA VEN BIỂN,
ĐANG PHÁT TRIỂN NHƯ VIỆT NAM.
3.1. Biến đổi khí hậu có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Biến đổi khí hậu gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, làm thiệt hại về tài sản, con
người và ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh. Về nông nghiệp, làm cho năng suất cây
trông, diện tích trồng trọt, chăn nuôi suy giảm mạnh, dịch bệnh có điều kiện phát triển do
nhiệt độ môi trường thay đổi. Các lĩnh vực lâm nghiệp cũng bị ảnh hưởng do giống cây
theo vùng khí hậu không thích nghi cao, một số loài có thể bị tuyệt chủng. Tài nguyên
nước thâm hụt, hạn hán gia tăng tại một nhiều nơi, còn một số nơi thì thiếu nước sinh hoạt
cũng như tưới tiêu cây trồng vật nuôi. Đối với các vùng ven biển, ngoài việc thiếu nước
sạch, người dân nơi đây còn chịu tác động mạnh của những đợt bão lớn gây thiệc hại nặng
nề về người cũng như tài sản. Biến đổi khí hậu gây mưa to, ngập lụt sâu, hủy hoại đi nền
hệ sinh thái biển đồ sộ của nước ta. Các cơn bão vào Việt Nam sẽ có số lượng lớn và mức
độ khốc liệt tăng lên vào mỗi năm. Hạn hán ngập úng sẽ xảy ra nhiều hơn với mức độ
nghiêm trọng hơn, gây tác động xấu trên diện rộng cho ngành sản xuất của nông nghiệp
ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam.
Biến đổi khí hậu làm môi trường bị suy thoái nặng nề, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc
sống của người dân. Việc nhiệt độ trung bình từng năm đã tăng 0,5 – 0,7 độ C và mực
nước tăng khoảng 20 cm. Dẫn tới việc ngập lụt ở các khu vực có người dân sống dày đặt,
điều này làm cho hầu hết nhà cửa bị hư hại, người dân không có chỗ ở. Các phương tiện
di chuyển như ô tô, xe máy thiệt hại lớn về tài sản cũng như cản trở việc đi lại của người
dân. Ngoài ra, việc kinh doanh của các cửa hàng buôn bán cũng bị ảnh hưởng do bị hư
hỏng hàng hóa tài sản do ngập lụt. Các hoạt động vui chơi, giải trí giao tiếp cũng gặp gián
đoạn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và cần một thời gian dài để khắc phục và tốn kém tiền bạc.
Biến đổi khí hậu làm gia tăng rủi ro thiên tai, đe dọa an ninh quốc gia. ảnh hưởng trực
tiếp đến nguồn tài nguyên sẵn có, điều đó góp phần là nguyên nhân dẫn đến việc tranh
giành các nguồn tài nguyên tại nhiều khu vực trên thế giới. Việc tranh giành diễn ra khi
mà cung không đủ cầu, dẫn đến bất ổn và thậm chí chình là xung đột vũ trang. Việc biến
đổi khí hậu cũng làm cho dòng người tị nạn môi trường do mất nơi cư trú, mất đi phương
thức sinh sống truyền thống gắn với thiên nhiên. Gia tăng sức ép và xung đột giữa các
quốc gia khu vực trên thế giới. Hiện tượng nước biển dâng và sự xói mòn, xuống cấp của
đất ở các vùng duyên hải gây ra nguy cơ mất nhà cửa; lãnh thổ quốc gia bị mất đi trong
tương lai, từ đó tạo ra những thách thức trong xử lý tranh chấp lãnh thổ. Nước biển dâng
khiến nhiều quốc đảo nhỏ có nguy cơ biến mất hay làm dịch chuyển đường cơ sở các
nước ven biển, tạo ra những thách thức trong áp dụng các quy tắc của luật quốc tế, đặc
biệt là Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS) đối với việc giải quyết các
tranh chấp lãnh thổ và biên giới quốc gia (Nguyễn Việt Lâm, 2020).
Biến đổi khí hậu gây ra nhiều tác động tiêu cực đến phát triển bền vững của Việt Nam.
Cường độ và tần suất xuất hiện của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán,
giông lốc gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và tiền bạc, con người và môi trường sống.
Mực nước biển tăng lên do sự nóng lên toàn cầu khiến các tảng băng tan nhanh, làm cho
mực nước biển dâng cao ảnh hưởng trực tiếp tới sự di dời chỗ ở mới của người dân. Các
hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản cũng bị ảnh hưởng trực tiếp gây ra nhiều khó
khăn cho công tác sản xuất và thu hoạch, ảnh hưởng đến an ninh lương thực và an ninh nguồn nước quốc gia.
3.2 Giải pháp cho biến đổi khí hậu đối với sự phát triển của các quốc gia ven biển,
đang phát triển như Việt Nam.
Giảm phát khí thải nhà kính là giải pháp căn cơ, lâu dài để giải quyết vấn đề biến đổi khí
hậu. Khí thải nhà kính là những chất tích tụ trong khi quyển do các hoạt động công nghiệp
của con người như đốt nguyên liệu hóa thạch, sản xuất công nghiệp, sử dụng các phương
tiện thải ra khí độc hại,... đó là những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu. Để
giảm khí thải nhà kính, phải thay đổi cách sử dụng năng lượng. Các cá nhân hay hộ gia
đình có thể sử dụng các nguồn năng lượng mặt trời, các thiết bị tiết kiệm năng lượng hay
những phương tiện giao thông công cộng. Ngoài ra, việc tái chế và sử dụng năng lượng
tái tạo cũng giúp cho việc giảm khí thải nhà kính đáng kể. Những năng lượng tái tạo có
thể kể đến như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy điện. Thành lập các
tổ chức bảo vệ rừng, trồng và phát triển rừng cung cấp không khí sạch cho trái đất, giúp
giảm lượng khí thải trong khí quyển. Giảm khí thải là việc làm cấp bách, cần có sự quan
tâm và nổ lực của cả cộng đồng. Bằng biện pháp giảm khí thải nhà kính, có thêr góp phần
vào bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do biến
đổi khí hậu gây ra. Cần xây dựng các kế hoạch thích ứng với khí hậu từng địa phương,
từng lĩnh vực, từng quốc gia, các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ để đạt được hiệu
quả cao. Xây dựng các công trình thủy lợi phòng chống ngập lụt, xói lở bờ biển. Các công
trình này giúp bảo vệ các khu vực có dân cư sinh sống, cơ sở hạ tầng và tài sản trước sự
tác động của biến đổi khí hậu gây nên hiện tượng nước biển dâng cao và xói lở bờ biển.