ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
---o0o---
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học kỳ I/ 2024 - 2025
HỘI HỌC
BẠO LỰC MẠNG TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NHÂN
CÁCH CON NGƯỜI. THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP
GVHD: GVC. TS NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY
HỌ TÊN SV: NGÔ TIẾT SƯƠNG
MSSV: K234080982
HỌC PHẦN: 241BDG100803
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 M
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1.
do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội hiện đại, khi đời sống vật chất của con người
ngày càng được cải thiện, nhu cầu thỏa mãn các khía cạnh tinh thần cũng trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết. Mạng hội đã ra đời như một bước tiến lớn trong việc
kết nối con người, bất chấp khoảng cách địa lý. Đây không gian để mọi người
giao u, chia sẻ thông tin kiến thức về các lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa,
nghệ thuật, kinh tế,
v.v. Mạng hội cũng giúp các nhân tổ chức quảng thương hiệu, xây dựng
mạng lưới khách hàng tạo ra hội kinh doanh, mang lại lợi nhuận lớn.
Tuy nhiên, như mọi công cụ khác, mạng hội cũng mặt trái của nó. n
cạnh những lợi ích to lớn, mạng hội còn môi trường dễ dàng phát sinh các vấn
đề tiêu cực, đặc biệt
bạo lực mạng
. Đây một hiện tượng ngày càng trở nên
phổ biến nghiêm trọng, gây ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần sức khỏe của
người dùng,
đặc biệt giới trẻ. Các hành vi bạo lực mạng bao gồm lăng mạ, đe dọa, phát tán
thông tin sai lệch, hoặc thậm chí tấn công vào danh dự nhân phẩm của
nhân.
Theo thống từ
BroadbandSearch
, đến
36,5%
người được khảo sát cho
biết bản thân đã từng nạn nhân của bạo lực mạng, trong khi
60% tr vị thành
niên
cho biết họ đã từng trải qua việc bị bắt nạt trực tuyến. Đặc biệt,
87% người
trẻ
đã từng chứng kiến các hành vi bắt nạt trực tuyến
1
. Những con số này chỉ ra
rằng bạo lực mạng không chỉ vấn đề riêng của một nhóm người đã trở thành vấn
đề rộng lớn,
ảnh hưởng đến một lượng lớn người dùng internet, nhất giới trẻ, những người dễ bị
tổn thương bởi các hành vi tiêu cực này.
Sự gia tăng của bạo lực mạng không chỉ tác động đến nhân còn nh
hưởng đến cộng đồng hội nói chung. Những người nổi tiếng, khi trở thành mục
tiêu của các cuộc tấn công trên mạng, không chỉ phải chịu đựng sự chỉ trích ác ý
còn thể gặp phải những hậu quả nghiêm trọng, bao gồm tổn hại đến danh tiếng
sức khỏe tâm lý. Thực tế, không ít trường hợp người nổi tiếng đã tự sát
không chịu đựng nổi sự chỉ trích từ những "anh hùng bàn phím".
Bạo lực mạng không chỉ gây hại về mặt tâm còn thể dẫn đến những
tác động lâu dài đối với sự phát triển nhân cách của người bị tấn công. Hơn nữa,
với sự phổ biến của mạng hội việc tiếp cận dễ dàng với thông tin, việc giáo dục
bảo
vệ người dùng, đặc biệt thế hệ trẻ, khỏi các nguy bạo lực mạng là điều hết sức
cấp thiết.
Mặc đã những nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề bạo lực mạng, nhưng
cho đến nay, các giải pháp vẫn chưa thật sự hiệu quả đồng bộ. Những phương pháp
hiện tại vẫn chủ yếu giải quyết các vấn đề theo từng trường hợp riêng lẻ chưa
một chiến lược tổng thể mạnh mẽ để ngăn chặn tình trạng này. Đây do
nhóm chúng em quyết định chọn
"Bạo lực mạng truyền thông trong việc phát triển
nhân cách con người. Thực trạng giải pháp"
làm đề tài nghiên cứu. Đề tài này
không chỉ nhằm làm tác động của bạo lực mạng đối với sự phát triển nhân cách con
người còn tìm ra các giải pháp khả thi để giảm thiểu bạo lực mạng, bảo vệ người
dùng mạng hội, đặc biệt giới trẻ, khỏi những tác động tiêu cực.
1.2.
Mục đích nghiên cứu
Khái quát hóa hệ thống khái niệm về bạo lực mạng truyền thông sự phát
triển nhân cách con người nhằm giúp người đọc hiểu các khái niệm như bạo lực
mạng truyền thông, sự phát triển nhân cách các yếu tố tác động đến nhân cách. Mục
tiêu này không chỉ dừng lại việc định nghĩa còn làm sáng tỏ các yếu tố thuyết
thực tiễn liên quan, giúp tạo nền tảng vững chắc cho nghiên cứu.
tả thực trạng bạo lực mạng truyền thông tại Việt Nam, đặc biệt ảnh
hưởng của đến thanh thiếu niên, thông qua việc thu thập phân tích dữ liệu từ các
báo cáo khảo sát thực tế. Qua đó, giúp phác họa bức tranh tổng quan về mức độ phổ
biến của bạo lực mạng, tác động tiêu cực của đến tâm lý, hành vi sự phát triển
nhân cách của thanh thiếu niên, giúp chúng ta hiểu hơn về mức độ nghiêm trọng của
vấn đề.
Đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm thiểu bạo lực mạng hỗ trợ nạn nhân
bằng cách phân tích nguyên nhân đưa ra các biện pháp thiết thực. Những giải pháp
này thể bao gồm ng cường giáo dục về an toàn mạng, xây dựng chính sách bảo vệ
nạn nhân phát triển các chương trình hỗ trợ tâm cho thanh thiếu niên bị nh
hưởng. Nghiên cứu cũng hướng tới việc nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan
trọng của việc ngăn chặn bạo lực mạng tạo ra một môi trường mạng lành mạnh
an toàn hơn.
1.3.
Phương pháp nghiên cu
Thực hiện đề tài này, nhóm chúng em đã sử dụng đa dạng phương pháp nghiên cứu:
Phân tích tài liệu thứ cấp
: Nghiên cứu này sẽ sử dụng các tài liệu thứ cấp từ
các nguồn như ch, báo, bài viết trên internet, công văn, công báo, video, poster, và
các hình ảnh liên quan đến vấn đề bạo lực mạng. Các tài liệu này sẽ được tổng hợp
lược thuật lại để rút ra những bài học, kinh nghiệm xác định các tiêu chí cần thiết để
đo lường, từ đó xác định các nội dung quan trọng cần nghiên cứu trong tiểu luận.
Thảo luận nhóm
: Nhóm chúng em gồm 5 thành viên sẽ tổ chức thảo luận xoay
quanh các nội dung liên quan đến đề tài. Mỗi người sẽ tập trung vào các nội dung thực
tế liên quan đến đề tài. Cụ thể, chúng em sẽ thảo luận các nội dung về khái niệm, ý
kiến suy nghĩ của người tham gia khảo sát, hệ quả tích cực, h quả tiêu cực thực
trạng của vấn đề hiện nay. Thảo luận nhóm sẽ giúp chúng em định hình được các nội
dung cần thiết cho bảng hỏi giúp nhóm thống nhất hướng nghiên cứu.
Khảo sát phân tích dữ liệu cấp từ bảng hỏi Google Form
: Nhóm sẽ
thực hiện khảo sát qua bảng hỏi Google Form với
81 đối tượng tham gia khảo sát tại
Trường Đại học Kinh tế - Luật
. Bảng hỏi được xây dựng để thu thập dữ liệu về nhận
thức, thái độ hành vi của sinh viên đối với vấn đề bạo lực mạng. Các dữ liệu thu
được sẽ được phân tích nhằm làm mức độ ảnh hưởng của bạo lực mạng đối với sự
phát triển nhân cách các yếu tố liên quan đến vấn đề này.
2Nguyễn Lâm, “Bạo lực mạng: Vấn nạn không hồi kết những hậu quả nặng nề”,
https://lsvn.vn/bao-luc-mang-van-nan-khong-hoi-ket-va-nhung-hau-qua-nang-ne1666624034-a125533
.html,ngày cập nhật 24/10/2022
PHẦN 2: NỘI DUNG
2.1.
Các khái nim
2.1.1.
Khái niệm “Bạo lực mạng
Trong cuộc sống hiện đại, mạng hội không chỉ mang lại nhiều lợi ích vượt
trội còn tạo ra môi trường dễ dàng để thực hiện các hành vi tiêu cực. Một số người
đã lợi dụng không gian mạng để đe dọa, xúc phạm, hoặc gây tổn thương tinh thần cho
người khác. Các hành vi này diễn ra dưới nhiều hình thức như lan truyền thông tin sai
lệch, sử dụng lời lẽ miệt thị, công khai thông tin nhân không được phép, hoặc
thậm chí tẩy chay quấy rối nạn nhân trên các nền tảng trực tuyến. Những hình thức
bạo lực mạng này thể không để lại dấu vết vật nhưng lại gây ra tổn thương u
sắc về tâm cảm xúc, đặc biệt khi nạn nhân không đủ khả năng tự bảo vệ mình.
Bạo lực mạng được định nghĩa các hành vi trực tuyến tấn công hình sự hoặc
phi hình sự, thể dẫn đến hành hung, ảnh hưởng sức khỏe thể chất, tâm hoặc
tình cảm của một người. được thực hiện bởi một nhân hoặc nhóm kẻ xấu thông
qua điện thoại thông minh, các trò chơi Internet, mạng hội,...
2
.
Nhiều người lầm tưởng rằng bạo lực mạng chỉ vấn đề "ảo" không ảnh
hưởng thực tế, nhưng thực tế cho thấy các tác động tiêu cực này thể kéo dài lan
rộng. Nạn nhân thường cảm thấy lo lắng, sợ hãi, hoặc bị kiểm soát bởi những kẻ tấn
công ngay cả trong đời thực. Không chỉ dừng lại ở cá nhân, bạo lực mạng còn nhắm
đến những đối tượng nổi tiếng hoặc doanh nghiệp, gây thiệt hại nghiêm trọng về danh
tiếng ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng. Điều này cho thấy mức độ phổ biến
tác động nghiêm trọng của bạo lực mạng trong thời đại kỹ thuật số ngày nay.
Hình 1: Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của sinh viên về khái niệm “Bạo lực mạng
Dựa trên kết quả khảo sát về mức độ hiểu biết của sinh viên Trường Đại học
Kinh tế - Luật về khái niệm “Bạo lực mạng,” chúng ta thể nhận thấy rằng phần lớn
sinh viên (chiếm 75,3%) đều hiểu rằng bạo lực mạng trở nên dễ dàng độc hại khi
người thực hiện thể ẩn danh. Điều này cho thấy sự ẩn danh trên không gian mạng
yếu tố quan trọng thúc đẩy hành vi bạo lực mạng, nhiều người sẽ không dám hành
động như vậy ngoài đời thực. Sự nhận thức này phản ánh mối quan tâm lớn của sinh
viên đối với vấn đề bạo lực mạng nhấn mạnh nh cấp thiết trong việc tìm hiểu
giải quyết vấn đề này trong môi trường học đường và trên các nền tảng mạng xã hội
hiện nay.
2.1.2.
Khái niệm “Phát triển nhân cách”
Phát triển nhân cách quá trình con người tham gia tương tác, hiểu biết môi
trường hội quanh mình, hòa nhập vào không gian đó, xác định được chức năng
hội, không ngừng hoàn thiện phẩm chất hội của mình. Không gian hội đó đều
sự kế thừa, tiếp nối những giá trị vật chất, tinh thần của hội trước
3
.
Khi tìm hiểu về sự nh thành phát triển của con người, C. Mác nhấn mạnh
rằng: “mỗi giai đoạn của lịch sử đều gặp một kết quả vật chất nhất định, một tổng số
nhất định những lực lượng sản xuất, một quan hệ được tạo ra trong quá trình lịch sử
của những nhân với tự nhiên với những người khác, quan hệ mỗi thế hệ
3NCS, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, Thiếu Nguyễn Hồng Thái, Phát triển nhân cách hạ
quan, binh quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay,
https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/05/28/phat-trien-nhan-cach-ha-si-quan-binh-si-quan-doi-nhan-da
n-viet-nam-hien-nay/#:~:text=Ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20nh%C3%A2n%20c%C3%A1ch%
20l%C3%A0,th%E1%BA%A7n%20c%E1%BB%A7a%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20tr%C6%
B0%E1%BB%9Bc., ngày cập nhật 28/05/2024
4C. Mác Ph. Ăngghen toàn tập. Tập 1. H. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 1995, tr. 49 - 126.
5Nguyễn Hương , Mạng hội gì? Dùng mạng hội cần tuân thủ quy định gì?,
https://luatvietnam.vn/dan-su/mang-xa-hoi-la-gi-568-90780-article.html,ngày cập nhật 29/07/2022
nhận được của những tiền bối của mình, một khối lớn những lực lượng sản xuất,
những bản những điều kiện, tức những thứ một mặt bị thế hệ mới làm biến đổi
đi, song mặt khác lại quy định cho thế hệ mới những điều kiện sinh hoạt của chính thế
hệ mới làm cho thế hệ mới sự phát triển nhất định, một tính chất riêng biệt”
4
.
Trong quá trình phát triển nhân cách, con người trải qua nhiều mối quan hệ
hội khác nhau. Ban đầu, đó là vai trò con cái trong gia đình, sau đó cha mẹ, ông bà,
hoặc một vị trí nhất định trong các tổ chức hội khi trưởng thành. Các vai trò này
thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử hoàn cảnh cụ thể, góp phần hình thành định
hình nhân cách nhân, phù hợp với vị trí trách nhiệm của họ trong hội.
2.1.3.
Khái niệm “Mạng hội
Theo Khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP, mạng hội (social
network) hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch
vụ u trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ trao đổi thông tin với nhau, bao
gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat)
trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh các hình thức dịch vụ tương tự khác”
5
.
Dựa trên khái niệm này, mạng hội thể được hiểu đơn giản một hệ thống
kết nối giữa con người với nhau thông qua việc chia sẻ và trao đổi thông tin, hình ảnh,
âm thanh hoặc tương tác trực tuyến. đóng vai trò như một nền tảng giúp mọi người
xây dựng mối quan hệ nhân hoặc cộng đồng dựa trên sở thích mục tiêu chung.
Ngày nay, mạng hội trở nên phổ biến dễ tiếp cận nhờ các thiết bị công
nghệ hiện đại như điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc máy tính nhân. Để sử
dụng, người dùng cần tạo một tài khoản nhân bằng cách cung cấp thông tin n số
điện thoại hoặc email, tùy thuộc vào yêu cầu của từng nền tảng. Sau khi đăng ký, họ
thể thực hiện các hoạt động như đăng tải nội dung, kết nối với bạn bè, hay tìm kiếm
thông tin một cách nhanh chóng tiện lợi.
2.1.4.
Khái niệm “Truyền thông”
Truyền thông được hiểu quá trình trao đổi tương tác các thông tin giữa hai
hoặc nhiều người với nhau để tăng sự hiểu biết, nhận thức. thể hiểu truyền thông
chính sản phẩm do con người tạo ra, động thực thúc đẩy sự phát triển của hội.
6 Tuấn Hải, “Truyền thông gì? Chiến lược truyền thông hiệu quả 2024, Truyền thông gì? Chiến
lược truyền thông hiệu quả 2024, ngày cập nhật 23/09/2024
Theo thuyết thì truyền thông quá trình trao đổi cảm xúc, thái độ, ngôn ngữ bằng
cách truyền đạt thông tin. Truyền thông đơn giản như quá trình áp dụng ngôn ngữ, chữ
viết, hình ảnh để tạo ra nhiều màu sắc, tác động trực tiếp tới duy của đối tượng
truyền thông hướng tới
6
.
Truyền thông đóng vai trò thiết yếu trong việc quảng thương hiệu, giới thiệu
sản phẩm hoặc dịch vụ, đồng thời xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng
đối tác. Bên cạnh đó, truyền thông còn góp phần phổ biến thông tin về các sự kiện, vấn
đề hội, chính trị, giúp cộng đồng hiểu rõ hơn và đưa ra những quyết định phù
hợp.
Mục tiêu chính của truyền thông đảm bảo thông tin từ người gửi được truyền
đạt hiệu quả đến người nhận. Nội dung thông tin thể bao gồm sự kiện, vấn đề, sản
phẩm, hoặc các ý tưởng người gửi mong muốn chia sẻ. Ngi ra, truyền thông còn
một công cụ để tạo ảnh hưởng, thay đổi quan điểm, hoặc thúc đẩy cảm xúc, hành
động trong công chúng thông qua việc lan tỏa các thông điệp một cách sáng tạo hấp
dẫn.
2.2.
Thực trạng
chênh lệch này thể xuất phát từ việc phụ nữ thường quan tâm nhạy cảm hơn với
các vấn đề hội, đặc biệt các hành vi tác động đến tâm cảm xúc. Tuy nhiên,
sự chênh lệch này cũng cho thấy bạo lực mạng thể tác động đặc biệt lớn đến
nhóm sinh viên nữ, những người thường xuyên phải đối mặt với các hành vi tiêu cực
như xúc phạm ngoại hình, quấy rối qua tin nhắn, hoặc lan truyền tin đồn. Ngược lại,
nam giới tỷ lệ tham gia khảo sát thấp hơn nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ các hình
thức bạo lực mạng khác, chẳng hạn như công kích năng lực hoặc danh dự trong môi
trường học tập làm việc.
Sự phát triển của công nghệ mạng hội đã mang lại nhiều tiện ích, nhưng
cũng đi kèm với những vấn đề tiêu cực, trong đó bạo lực mạng truyền thông. Hành
vi quấy rối, đe dọa, lăng mạ qua mạng không chỉ gây ra những tổn thương tâm
nghiêm trọng cho nạn nhân, còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách
của họ. Thanh thiếu niên nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các hành vi này
do đặc điểm tâm chưa ổn định dễ bị tổn thương.
Hiện nay, bạo lực mạng truyền thông đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong
hội. Các hình thức bạo lực mạng ngày càng phức tạp tinh vi hơn, từ việc sử dụng
ngôn từ lăng mạ, đe dọa, đến việc phát tán thông tin nhân hình ảnh riêng của
nạn nhân không sự đồng ý của họ. Mối liên hệ giữa bạo lực mạng sức khỏe
tâm rất ràng; chỉ một hành vi nhỏ trên mạng cũng thể gây ra những hậu quả
nghiêm trọng như lo âu, trầm cảm, thậm chí dẫn đến tự tử.
Thực trạng bạo lực mạng trong thanh thiếu niên hiện nay một vấn đề đáng lo
ngại. Nhiều thanh thiếu niên thường xuyên sử dụng mạng hội các nền tảng trực
tuyến không đủ kiến thức và kỹ năng để bảo vệ bản thân trước các nguy bạo
lực mạng. Mặc nhận thức được tầm quan trọng của an toàn mạng, nhiều thanh thiếu
niên vẫn chưa đủ kỹ năng để nhận diện đối phó với các hành vi bạo lực mạng,
dẫn đến việc họ dễ trở thành nạn nhân.
Một yếu tố khác góp phần vào tình trạng này sự thiếu hụt các chương trình
giáo dục về an toàn mạng trong các trường học. Bên cạnh đó, nhiều phụ huynh cũng
thiếu kiến thức kỹ năng để giám sát con cái khi sử dụng mạng, làm tăng nguy bị
bạo lực mạng. Cuộc sống bận rộn và áp lực học tập khiến thanh thiếu niên dành nhiều
thời gian trên mạng không sự hướng dẫn bảo vệ thích hợp, làm tăng nguy
bị ảnh hưởng bởi bạo lực mạng.
Hình 3: Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của sinh viên về vấn nạn “bạo lực mạng
Khảo sát cho thấy
93,8%
sinh viên tham gia khảo sát đã biết đến vấn đề "Bạo
lực mạng". Đây tỷ lệ rất cao, phản ánh sự nhận thức rộng rãi trong cộng đồng sinh
viên về một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng trong xã hội hiện nay. Việc gần
94% sinh viên kiến thức về bạo lực mạng cho thấy rằng vấn đề này đã thu hút sự
chú ý lớn được cộng đồng mạng hội quan tâm.
Mặc tỷ lệ sinh viên biết đến bạo lực mạng rất cao, nhưng điều này không
đồng nghĩa với việc tất cả những người biết đều hiểu biết đầy đủ về các hình thức
tác hại của bạo lực mạng. Một số sinh viên thể chỉ biết đến vấn đề này qua các
phương tiện truyền thông hoặc từ những trải nghiệm gián tiếp, chưa thực sự nhận
thức về mức độ nghiêm trọng ảnh hưởng của nó. Do đó, việc nâng cao nhận thức
sâu rộng cung cấp thông tin chi tiết về các hình thức hậu quả của bạo lực mạng
vẫn một nhiệm vụ quan trọng.
Tuy nhiên, con số này cũng cho thấy rằng các chiến dịch truyền thông, các
chương trình giáo dục về bạo lực mạng đã tác động tích cực đến nhận thức của sinh
viên, giúp họ hiểu rằng vấn đề này không chỉ một hiện tượng biệt một mối
nguy lớn trong không gian mạng hiện đại.
Hình 4: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ sinh viên từng gây ra hoặc trải nghiệm bạo lực mạng
Khảo sát với câu hỏi"Bạn đã từng bạo lực mạng hoặc bị bạo lực mạng chưa?"
cho thấy một thực trạng đáng suy ngẫm trong cộng đồng sinh viên. Cụ thể,
65,4%
người tham gia khẳng định rằng họ chưa từng trải qua hoặc tham gia vào các hành vi
bạo lực mạng, trong khi
34,6%
thừa nhận đã từng nạn nhân hoặc đã từng thực hiện
hành vi này.
Tỷ lệ
34,6%
không chỉ con số thể hiện mức độ phổ biến của bạo lực mạng
còn cho thấy một phần đáng kể sinh viên đã bị ảnh hưởng bởi vấn nạn này. Trong
số những người thừa nhận từng trải qua bạo lực mạng, các hành vi phổ biến họ gặp
phải bao gồm bị xúc phạm, miệt thị trên mạng hội, bị lan truyền tin đồn sai sự thật,
hoặc bị quấy rối qua tin nhắn nhân. Những hành vi này không chỉ gây tổn thương
về mặt tinh thần còn ảnh hưởng đến lòng tự trọng sự tự tin của nạn nhân.
Đối với nhóm
65,4%
chưa từng gặp phải bạo lực mạng, kết quả này thể
phản ánh hai thực tế. Thứ nhất, họ thể những người sử dụng mạng hội một
cách an toàn, ý thức tránh xa các xung đột trực tuyến. Thứ hai, một số người
thể không nhận thức đầy đủ về các hành vi bạo lực mạng hoặc chưa gặp phải tình
huống nghiêm trọng để nhận ra mức độ nguy hiểm của vấn đề này.
Tuy nhiên, việc một phần ba sinh viên từng nạn nhân hoặc tham gia vào hành
vi bạo lực mạng hồi chuông cảnh báo về môi trường trực tuyến thiếu an toàn. Các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng bạo lực mạng không chỉ gây ảnh hưởng tức thời đến tâm
nạn nhân còn có thể dẫn đến hậu quả lâu dài, chẳng hạn như lo âu, trầm cảm, hoặc
giảm hiệu suất học tập làm việc.
Đặc biệt, bạo lực mạng thường diễn ra trong không gian "vô hình" nhưng để lại
những vết thương "hữu hình" trong lòng nạn nhân. Nhiều người tham gia khảo sát chia
sẻ rằng họ đã phải đối mặt với cảm giác lập, mất niềm tin vào các mối quan hệ
hội gặp k khăn trong việc tập trung học tập sau khi trải qua các hành vi bạo lực
trên mạng.
Để giảm thiểu tình trạng này, việc nâng cao nhận thức trang bị kỹ năng ứng
phó với bạo lực mạng cùng cần thiết. Các biện pháp giáo dục, khuyến khích sinh
viên báo cáo các hành vi tiêu cực xây dựng một cộng đồng trực tuyến tích cực, an
toàn sẽ góp phần cải thiện thực trạng này. Đồng thời, cần có sự tham gia tích cực từ
các quan quản giáo dục các nền tảng mạng hội trong việc giám sát ngăn
chặn bạo lực mạng một cách hiệu quả.
Hình 5: Biểu đthể hiện tỉ lệ sinh viên từng gặp hoặc chứng kiến bạo lực mạng
trên các nền tảng trực tuyến
Kết quả khảo sát cho thấy,
9,9%
sinh viên đã từng nạn nhân của bạo lực
mạng, trực tiếp bị bắt nạt trên các nền tảng trực tuyến. Con số này phản ánh mức độ
nghiêm trọng của vấn đề bạo lực mạng đối với sinh viên, đặc biệt trong bối cảnh các
nền tảng hội ngày càng trở nên phổ biến dễ tiếp cận. Việc một tỷ lệ không nhỏ
sinh viên phải chịu đựng các hành vi bạo lực trực tuyến như miệt thị, xúc phạm hoặc
quấy rối một vấn đề đáng lo ngại.
Bên cạnh đó,
72,8%
sinh viên cho biết họ đã từng chứng kiến người khác bị bắt
nạt trên mạng. Đây một tỷ lệ cao, cho thấy rằng bạo lực mạng không chỉ ảnh hưởng
đến nạn nhân trực tiếp còn tác động đến những người chứng kiến. Những hành vi
bạo lực này không chỉ tạo ra môi trường mạng độc hại còn thể gây ra sự lo ngại
sợ hãi cho những người tham gia mạng hội.
Một số ít sinh viên,
16%
, cho biết họ chưa bao giờ gặp phải hoặc chứng kiến
bạo lực mạng, điều này thể phản ánh rằng họ thể ít tham gia vào các hoạt động
trực tuyến hoặc sử dụng mạng hội một cách hạn chế. Tuy nhiên, con số này không
hề giảm bớt mức độ nghiêm trọng của vấn đề, vẫn một tỷ lệ lớn sinh viên bị tác
động tiêu cực bởi bạo lực mạng.
Cuối cùng, một phần nhỏ sinh viên
tham gia vào các hành vi bắt nạt trên
mạng
, cho thấy rằng ngoài những nạn nhân, vẫn một số người thực hiện các hành
vi bạo lực mạng không nhận thức hậu quả nghiêm trọng chúng thể gây ra
đối với người khác. Điều này càng nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục cộng đồng về
an toàn mạng các hành vi không nên trên không gian mạng.
Hình 6: Biểu đồ phân tích cảm xúc của sinh viên khi trải qua hoặc chứng kiến
việc bạo lực mạng
Kết quả khảo sát về cảm xúc của sinh viên khi trải qua hoặc chứng kiến bạo lực mạng
cho thấy những phản ứng tiêu cực chiếm đa số. Cụ thể:
75,3%
sinh viên cảm thấy khó chịu.
48,1%
cảm thấy buồn bã.
Một số nhỏ cho rằng họ cảm thấy bình thường (
21%
) hoặc không quan tâm
(
1,2%
).
Đáng chú ý,
3,7%
sinh viên cảm thấy vui vẻ trước các hành vi bạo lực
mạng.
Tỷ lệ cao các cảm xúc tiêu cực như khó chịu buồn phản ánh ràng mức
độ ảnh hưởng nghiêm trọng của bạo lực mạng đến tâm của cả nạn nhân những
người chứng kiến. Đặc biệt, cảm giác khó chịu (
75,3%
) cho thấy rằng hành vi bạo lực
mạng không chỉ tác động đến nạn nhân còn ảnh hưởng đến i trường hội trực
tuyến, nơi các hành vi này xảy ra.
Mặc vậy, tỷ lệ
3,7%
sinh viên cảm thấy vui vẻ trước bạo lực mạng một
dấu hiệu đáng lo ngại. Điều này thể xuất phát từ việc một số nhân xem bạo lực
mạng như một nh thức giải trí, thiếu nhận thức về hậu quả nghiêm trọng đối với nạn
nhân.
Ngoài ra,
21%
sinh viên thái độ bình thường hoặc
1,2%
không quan tâm
cho thấy một bộ phận nhỏ người dùng mạng hội vẫn còn thờ ơ trước vấn đnày.
Điều này thể làm giảm hiệu quả của các nỗ lực xây dựng môi trường trực tuyến an
toàn lành mạnh.
Nhìn chung, cảm xúc tiêu cực chiếm ưu thế cho thấy bạo lực mạng đang gây ra
những ảnh hưởng không nhỏ đối với sinh viên. Để cải thiện tình trạng này, việc nâng
cao nhận thức khuyến khích hành động tích cực từ cộng đồng mạng cùng cần
thiết.
Kết quả khảo sát cho thấy mức độ ảnh hưởng của bạo lực mạng đối với sinh viên sự
phân bố khá rệt:
35,8%
sinh viên cho biết bạo lực mạng
hoàn toàn ảnh hưởng
đến họ.
44,4%
sinh viên cảm nhận rằng bạo lực mạng
nhưng không nhiều lắm
.
19,8%
sinh viên khẳng định rằng bạo lực mạng
không ảnh hưởng
đến h.
Tỷ lệ
35,8%
sinh viên cho biết bạo lực mạng ảnh hưởng hoàn toàn đến họ
cho thấy vấn đề này không chỉ gây tác động về mặt tâm n ảnh hưởng sâu rộng
đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống, từ việc học tập đến các mối quan hệ xã hội.
Các nạn nhân của bạo lực mạng thể cảm thấy lo âu, căng thẳng, đôi khi trầm
cảm, điều này chứng tỏ rằng những hành vi trên không gian mạng thể dẫn đến
những tổn thương không kém phần nghiêm trọng so với bạo lực trong thế giới thực.
Bên cạnh đó,
44,4%
sinh viên cho rằng bạo lực mạng ảnh hưởng nhưng
không nhiều lắm, điều y thể phản ánh sự khác biệt trong mức độ nhạy cảm hoặc
cách đối phó của mỗi người với các tình huống bạo lực trực tuyến. Dù không bị ảnh
hưởng quá sâu sắc, những sinh viên này thể gặp phải những cảm giác khó chịu hoặc
lo lắng khi chứng kiến hoặc trải qua hành vi bạo lực mạng, song họ có thể không cảm
thấy ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống nhân.
Cuối cùng,
19,8%
sinh viên cho biết bạo lực mạng không nh hưởng đến họ.
Điều này thể do họ ít tham gia vào các nền tảng mạng hội hoặc biết ch bảo vệ
bản thân khỏi các hành vi tiêu cực trên mạng. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn cho thấy rằng
bạo lực mạng vấn đề rộng lớn, tác động đến đa phần sinh viên và không thể xem
nh.
Hình 8: Biểu đồ thể phản đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước bạo lực mạng
Kết quả khảo sát về đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước bạo lực mạng cho thấy một
sự phân bố rệt trong nhận thức của sinh viên:
53,1%
sinh viên cho rằng
bất k ai sử dụng mạng hội
đều thể trở thành
nạn nhân của bạo lực mạng.
25,9%
cho rằng
những người nổi tiếng hoặc tầm ảnh hưởng trên mạng
hội
nhóm dễ bị tổn thương.
7,4%
sinh viên lựa chọn
học sinh, sinh viên
đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất.
8,6%
cho rằng
người vấn đề về sức khỏe tâm
dễ bị tổn thương trước bạo
lực mạng.
Phần còn lại cho rằng
phụ nữ trẻ em
đối tượng dễ bị tấn công trong
không gian mạng.
Việc
53,1%
sinh viên cho rằng bất kỳ ai sử dụng mạng hội đều thể nạn
nhân của bạo lực mạng phản ánh nh chất rộng lớn dễ dàng lan tỏa của bạo lực trên
không gian trực tuyến. Bất cứ ai tham gia mạng hội đều thể gặp phải các hành vi
như xúc phạm, lan truyền tin đồn sai sự thật, hoặc bị quấy rối, khiến vấn đề này trở
thành một mối nguy không chỉ với những người nổi tiếng còn với mọi người dùng
mạng.
Bên cạnh đó,
25,9%
sinh viên cho rằng
những người nổi tiếng hoặc tầm
ảnh hưởng trên mạng hội
đối tượng dễ bị tấn công. Đây nhóm người
nhiều sự chú ý từ cộng đồng thường xuyên phải đối mặt với các ý kiến trái chiều
hoặc chỉ trích gay gắt từ những người không quen biết. Việc họ trở thành mục tiêu của
bạo lực mạng thể dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả sự nghiệp đời sống
nhân.
Nhóm
7,4% học sinh, sinh viên
cho rằng mình dễ bị tổn thương thể liên
quan đến sự nhạy cảm cao của lứa tuổi này đối với những vấn đề hội, cũng như thói
quen chia sẻ nhân trên mạng hội. Sinh viên dễ gặp phải hành vi bắt nạt trực
tuyến khi tham gia các diễn đàn hoặc mạng hội, đặc biệt trong môi trường học
đường.
Trong khi đó,
8,6%
sinh viên cho rằng
người vấn đề về sức khỏe tâm
đối tượng dễ bị tổn thương trước bạo lực mạng, vì những người này thể dễ dàng bị
tổn thương hơn về mặt cảm xúc khi đối diện với các hành vi quấy rối trực tuyến.
Cuối cùng, một tỷ lệ nhỏ sinh viên cho rằng
phụ nữ trẻ em
nhóm dễ bị
tấn công, điều này phản ánh sự lo ngại về việc các nhóm này thể bị đối xử không
công bằng hoặc bị lợi dụng trong các môi trường mạng.
2.3.
Nguyên nhân
Sự ra đời của internet một bước đột phá đại trong thế kỷ 20-21. Các nền
tảng mạng hội chính nơi giúp mọi người dễ dàng liên lạc, gắn kết với nhau
cho khoảng cách địa lớn đến mức nào. Ngoài ra, các nền tảng đó còn giúp tiếp
cận nhanh chóng với các thông tin, tin tức mới cập nhật hàng ngày. Bên cạnh những
lợi ích tuyệt vời nền hội mang lại, cũng đi kèm với không ít những vấn đề.
Trong đó, bạo lực mạng tình trạng phổ biến nhất hiện nay. Vậy nguyên nhân xuất
phát từ đâu?
Đầu tiên, bạo lực mạng muốn tr thù gián tiếp. Do cuộc sống q áp lực, mọi
người phải liên tục đối mặt với những căng thẳng, mệt mỏi, vất vả hay bản thân đã
từng nạn nhân của tình trạng bắt nạt khiến cho tâm của họ sẽ xu hướng cáu
gắt, muốn trút giận lên người khác. Mạng hội dường như một công cụ tưởng
để họ tr đòn đối với những người đã từng bắt nạt hoặc gián tiếp bắt nạt họ. Hành
động như vậy lẽ bởi họ cho rằng cuộc sống đã chịu quá nhiều điều tiêu cực, họ đã
quá cực khổ về cả tinh thần lẫn thể xác nên muốn người khác cũng phải trải qua những
điều giống mình.
Thứ hai, một trong những do dẫn đến bạo lực mạng không sợ bị phát hiện.
Thông thường, những người thực hiện hành vi bắt nạt trên nền tảng hội sẽ cố tình
che giấu danh tính tạo nhiều tài khoản ảo để hạn chế bị phát hiện. Bên cạnh đó, các
hành vi bạo hành qua mạng rất khó để xác định danh tính thủ phạm bởi các đối tượng
đó sẽ không bao giờ sử dụng thông tin thật của bản thân chúng. Do đó, chúng sẽ luôn
cảm thấy an tâm bởi k bị bại lộ, từ đó thoải mái thực hiện làm những điều
bản thân mong muốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu của chính mình. Hơn thế nữa, nhiều
người còn thấy vui ớng khi thấy nạn nhân hoang mang, lo sợ, suy nghĩ tiêu cực
cố gắng đi tìm hung thủ. Điều này đôi khi khiến họ gia tăng sự hưng phấn, liên tục
tăng mức độ nghiêm trọng để thực hiện hành vi hạ nhục danh dự, nhân phẩm của
người khác. Khi nhận được sự tung từ những người như họ, những kẻ đó thường
ý định lặp đi lặp lại những hành vi như vậy để nạn nhân phải sống trong đau khổ và sợ
i.
Thứ ba, bạo lực mạng khao khát quyền lực. Những người bạo lực mạng
người khác qua ngôn từ thường những người bảo thủ, luôn cho bản thân mình
người đúng, họ tự cho mình cái quyền được phán xét, chỉ trích, lăng mạ người khác.
Họ cho rằng mình quyền lực để đánh giá đúng sai của một vấn đề hay cho rằng nạn
nhân đáng bị hứng chịu chỉ trích như vậy. Ngoài ra, một số trường hợp còn cho rằng,
mình không làm như vậy thì người khác cũng sẽ thực hiện, nên không một chút áy náy
mắng chửi, xúc phạm người khác. Đôi khi những người này còn cảm thấy vui
sướng, thỏa mãn nắm được điểm yếu của người khác, sung sướng khi nhìn thấy nạn
nhân đau khổ, dằn vặt, thậm chí nghĩ quẩn.
Thứ tư, bạo lực mạng muốn thể hiện bản thân. Thống cho thấy, đa số th
phạm nạn nhân của bạo lực mạng đều trẻ vị thành niên người trẻ tuổi. lứa
tuổi này, các hành vi bắt nạt người khác được xem cách thể hiện bản thân. Khi thấy
những người khác tung hành vi bắt nạt lời lẽ nhục mạ danh dự của người
khác, bản thân kẻ thực hiện sẽ cảm giác thỏa mãn dần yêu thích những hành vi
này. Ngày nay còn được mở rộng hơn những độ tuổi khác, bởi rằng trên các nền tảng
mạng hội thường cắt ghép những thông tin không đầy đủ nhằm dắt mũi luận đề
chỉ trích một người, người đó không làm sai c.
Thứ năm, bạo lực mạng chỉ đơn giản thú vui tiêu khiển. Nhiều người thực sự
không ý thức được hành vi của mình sẽ gây tổn thương cho người khác hiển nhiên
thực hiện hành vi khiêu khích, xúc phạm. Họ cho rằng đây chỉ một trò đùa hại
nhằm tìm kiếm những niềm vui trong cuộc sống. lẽ do cuộc sống của họ quá tẻ
nhạt, vị không nhận được nhiều sự quan tâm, chia sẻ nên xu hướng mắng
chửi, lăng mạ người khác để mình được c ý xem đó một “thành ng” của
riêng mình.
Cuối cùng, một do điển hình của các hành vi bắt nạt trực tuyến xuất phát
từ cảm giác ganh ghét, đố kỵ với những điều người khác được bản thân
mình không có. Họ thường nhắm vào các đối tượng sắc đẹp, tiền bạc, địa vị cao
nhằm hạ nhục, đạp đổ họ. Thông thường đe dọa tung các đoạn tin nhắn, ảnh nóng
hoặc uy hiếp tống tiền.
2.4.
Hệ quả
Hình 9: Biểu đồ phân tích các tác động của bạo lực mạng đến sức khỏe tâm
của nạn nn
Bạo lực mạng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tâm của nạn nhân
còn tác động u rộng đến các mối quan hệ hội chất lượng cuộc sống của họ.
Kết quả khảo sát cho thấy,
79%
sinh viên cho rằng bạo lực mạng gây ra
lo âu căng
thẳng
, trong khi
77,8%
cho biết họ bị
trầm cảm tự ti
. Đây những tác động tâm
nghiêm trọng nạn nhân phải đối mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng cuộc sống và
khả năng học tập. Hơn nữa,
63%
sinh viên cho rằng bạo lực mạng gây ra
khó khăn
trong việc duy trì các mối quan hệ hội
, trong khi
55,6%
cho biết bạo lực mạng
làm
suy giảm hiệu quả học tập hoặc làm việc
. Đặc biệt, một tỷ lệ
44,4%
sinh viên
cho rằng họ từng
ý định tự tử
hoặc cảm thấy
tự tử
do những tổn thương tâm
bạo lực mạng gây ra. Con số này phản ánh mức độ nghiêm trọng mức độ ảnh hưởng
của bạo lực mạng đối với sức khỏe tâm của nạn nhân.
Hình 10: Biểu đồ khảo sát ảnh hưởng của bạo lực mạng đến các mối quan hệ hội
của sinh viên
Bên cạnh đó, bạo lực mạng cũng gây ra những ảnh hưởng lớn đến các
mối
quan hệ hội
của sinh viên. Kết quả khảo sát cho thấy,
25,9%
sinh viên bắt đầu
tránh xa giao tiếp với bạn người thân
, trong khi
22,2%
gặp phải
mâu thuẫn
xa cách với một số người
.
24,7%
sinh viên cho biết mối quan hệ của họ
không bị ảnh hưởng nhiều, nhưng vẫn một lượng đáng kể người gặp phải những
thay đổi trong cách giao tiếp kết nối với hội. Điều này cho thấy bạo lực mạng
không chỉ gây tổn thương cho nhân còn làm suy giảm các mối quan hệ hội,
tạo ra sự lập thiếu kết nối.
Hình 11: Biểu đồ phân tích những hệ quả của bạo lực mạng sinh viên đã trải qua

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ---o0o---
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học kỳ I/ 2024 - 2025 XÃ HỘI HỌC
BẠO LỰC MẠNG TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NHÂN
CÁCH CON NGƯỜI. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
GVHD: GVC. TS NGUYỄN THỊ NHƯ THÚY
HỌ VÀ TÊN SV: NGÔ TIẾT SƯƠNG MSSV: K234080982
MÃ HỌC PHẦN: 241BDG100803
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi mà đời sống vật chất của con người
ngày càng được cải thiện, nhu cầu thỏa mãn các khía cạnh tinh thần cũng trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết. Mạng xã hội đã ra đời như một bước tiến lớn trong việc
kết nối con người, bất chấp khoảng cách địa lý. Đây là không gian để mọi người
giao lưu, chia sẻ thông tin và kiến thức về các lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, kinh tế,
v.v. Mạng xã hội cũng giúp các cá nhân và tổ chức quảng bá thương hiệu, xây dựng
mạng lưới khách hàng và tạo ra cơ hội kinh doanh, mang lại lợi nhuận lớn.
Tuy nhiên, như mọi công cụ khác, mạng xã hội cũng có mặt trái của nó. Bên
cạnh những lợi ích to lớn, mạng xã hội còn là môi trường dễ dàng phát sinh các vấn
đề tiêu cực, đặc biệt là bạo lực mạng. Đây là một hiện tượng ngày càng trở nên
phổ biến và nghiêm trọng, gây ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và sức khỏe của người dùng,
đặc biệt là giới trẻ. Các hành vi bạo lực mạng bao gồm lăng mạ, đe dọa, phát tán
thông tin sai lệch, hoặc thậm chí tấn công vào danh dự và nhân phẩm của cá nhân.
Theo thống kê từ BroadbandSearch, có đến 36,5% người được khảo sát cho
biết bản thân đã từng là nạn nhân của bạo lực mạng, trong khi 60% trẻ vị thành
niên cho biết họ đã từng trải qua việc bị bắt nạt trực tuyến. Đặc biệt, 87% người
trẻ đã từng chứng kiến các hành vi bắt nạt trực tuyến1. Những con số này chỉ ra
rằng bạo lực mạng không chỉ là vấn đề riêng của một nhóm người mà đã trở thành vấn đề rộng lớn,
ảnh hưởng đến một lượng lớn người dùng internet, nhất là giới trẻ, những người dễ bị
tổn thương bởi các hành vi tiêu cực này.
Sự gia tăng của bạo lực mạng không chỉ tác động đến cá nhân mà còn ảnh
hưởng đến cộng đồng và xã hội nói chung. Những người nổi tiếng, khi trở thành mục
tiêu của các cuộc tấn công trên mạng, không chỉ phải chịu đựng sự chỉ trích ác ý mà
còn có thể gặp phải những hậu quả nghiêm trọng, bao gồm tổn hại đến danh tiếng
và sức khỏe tâm lý. Thực tế, có không ít trường hợp người nổi tiếng đã tự sát vì
không chịu đựng nổi sự chỉ trích từ những "anh hùng bàn phím".
Bạo lực mạng không chỉ gây hại về mặt tâm lý mà còn có thể dẫn đến những
tác động lâu dài đối với sự phát triển nhân cách của người bị tấn công. Hơn nữa,
với sự phổ biến của mạng xã hội và việc tiếp cận dễ dàng với thông tin, việc giáo dục và bảo
vệ người dùng, đặc biệt là thế hệ trẻ, khỏi các nguy cơ bạo lực mạng là điều hết sức cấp thiết.
Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề bạo lực mạng, nhưng
cho đến nay, các giải pháp vẫn chưa thật sự hiệu quả và đồng bộ. Những phương pháp
hiện tại vẫn chủ yếu giải quyết các vấn đề theo từng trường hợp riêng lẻ mà chưa có
một chiến lược tổng thể và mạnh mẽ để ngăn chặn tình trạng này. Đây là lý do mà
nhóm chúng em quyết định chọn "Bạo lực mạng truyền thông trong việc phát triển
nhân cách con người. Thực trạng và giải pháp" làm đề tài nghiên cứu. Đề tài này
không chỉ nhằm làm rõ tác động của bạo lực mạng đối với sự phát triển nhân cách con
người mà còn tìm ra các giải pháp khả thi để giảm thiểu bạo lực mạng, bảo vệ người
dùng mạng xã hội, đặc biệt là giới trẻ, khỏi những tác động tiêu cực.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Khái quát hóa hệ thống khái niệm về bạo lực mạng truyền thông và sự phát
triển nhân cách con người nhằm giúp người đọc hiểu rõ các khái niệm như bạo lực
mạng truyền thông, sự phát triển nhân cách và các yếu tố tác động đến nhân cách. Mục
tiêu này không chỉ dừng lại ở việc định nghĩa mà còn làm sáng tỏ các yếu tố lý thuyết
và thực tiễn liên quan, giúp tạo nền tảng vững chắc cho nghiên cứu.
Mô tả thực trạng bạo lực mạng truyền thông tại Việt Nam, đặc biệt là ảnh
hưởng của nó đến thanh thiếu niên, thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu từ các
báo cáo và khảo sát thực tế. Qua đó, giúp phác họa bức tranh tổng quan về mức độ phổ
biến của bạo lực mạng, tác động tiêu cực của nó đến tâm lý, hành vi và sự phát triển
nhân cách của thanh thiếu niên, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mức độ nghiêm trọng của vấn đề.
Đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm thiểu bạo lực mạng và hỗ trợ nạn nhân
bằng cách phân tích nguyên nhân và đưa ra các biện pháp thiết thực. Những giải pháp
này có thể bao gồm tăng cường giáo dục về an toàn mạng, xây dựng chính sách bảo vệ
nạn nhân và phát triển các chương trình hỗ trợ tâm lý cho thanh thiếu niên bị ảnh
hưởng. Nghiên cứu cũng hướng tới việc nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan
trọng của việc ngăn chặn bạo lực mạng và tạo ra một môi trường mạng lành mạnh và an toàn hơn.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, nhóm chúng em đã sử dụng đa dạng phương pháp nghiên cứu:
Phân tích tài liệu thứ cấp: Nghiên cứu này sẽ sử dụng các tài liệu thứ cấp từ
các nguồn như sách, báo, bài viết trên internet, công văn, công báo, video, poster, và
các hình ảnh liên quan đến vấn đề bạo lực mạng. Các tài liệu này sẽ được tổng hợp và
lược thuật lại để rút ra những bài học, kinh nghiệm và xác định các tiêu chí cần thiết để
đo lường, từ đó xác định các nội dung quan trọng cần nghiên cứu trong tiểu luận.
Thảo luận nhóm: Nhóm chúng em gồm 5 thành viên sẽ tổ chức thảo luận xoay
quanh các nội dung liên quan đến đề tài. Mỗi người sẽ tập trung vào các nội dung thực
tế liên quan đến đề tài. Cụ thể, chúng em sẽ thảo luận các nội dung về khái niệm, ý
kiến và suy nghĩ của người tham gia khảo sát, hệ quả tích cực, hệ quả tiêu cực và thực
trạng của vấn đề hiện nay. Thảo luận nhóm sẽ giúp chúng em định hình được các nội
dung cần thiết cho bảng hỏi và giúp nhóm thống nhất hướng nghiên cứu.
Khảo sát và phân tích dữ liệu sơ cấp từ bảng hỏi Google Form: Nhóm sẽ
thực hiện khảo sát qua bảng hỏi Google Form với 81 đối tượng tham gia khảo sát tại
Trường Đại học Kinh tế - Luật. Bảng hỏi được xây dựng để thu thập dữ liệu về nhận
thức, thái độ và hành vi của sinh viên đối với vấn đề bạo lực mạng. Các dữ liệu thu
được sẽ được phân tích nhằm làm rõ mức độ ảnh hưởng của bạo lực mạng đối với sự
phát triển nhân cách và các yếu tố liên quan đến vấn đề này. PHẦN 2: NỘI DUNG 2.1. Các khái niệm
2.1.1. Khái niệm “Bạo lực mạng”
Trong cuộc sống hiện đại, mạng xã hội không chỉ mang lại nhiều lợi ích vượt
trội mà còn tạo ra môi trường dễ dàng để thực hiện các hành vi tiêu cực. Một số người
đã lợi dụng không gian mạng để đe dọa, xúc phạm, hoặc gây tổn thương tinh thần cho
người khác. Các hành vi này diễn ra dưới nhiều hình thức như lan truyền thông tin sai
lệch, sử dụng lời lẽ miệt thị, công khai thông tin cá nhân mà không được phép, hoặc
thậm chí tẩy chay và quấy rối nạn nhân trên các nền tảng trực tuyến. Những hình thức
bạo lực mạng này có thể không để lại dấu vết vật lý nhưng lại gây ra tổn thương sâu
sắc về tâm lý và cảm xúc, đặc biệt khi nạn nhân không đủ khả năng tự bảo vệ mình.
Bạo lực mạng được định nghĩa là các hành vi trực tuyến tấn công hình sự hoặc
phi hình sự, nó có thể dẫn đến hành hung, ảnh hưởng sức khỏe thể chất, tâm lý hoặc
tình cảm của một người. Nó được thực hiện bởi một cá nhân hoặc nhóm kẻ xấu thông
qua điện thoại thông minh, các trò chơi Internet, mạng xã hội,...2.
Nhiều người lầm tưởng rằng bạo lực mạng chỉ là vấn đề "ảo" và không có ảnh
hưởng thực tế, nhưng thực tế cho thấy các tác động tiêu cực này có thể kéo dài và lan
rộng. Nạn nhân thường cảm thấy lo lắng, sợ hãi, hoặc bị kiểm soát bởi những kẻ tấn
công ngay cả trong đời thực. Không chỉ dừng lại ở cá nhân, bạo lực mạng còn nhắm
đến những đối tượng nổi tiếng hoặc doanh nghiệp, gây thiệt hại nghiêm trọng về danh
tiếng và ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng. Điều này cho thấy mức độ phổ biến
và tác động nghiêm trọng của bạo lực mạng trong thời đại kỹ thuật số ngày nay.
2Nguyễn Lâm, “Bạo lực mạng: Vấn nạn không hồi kết và những hậu quả nặng nề”,
https://lsvn.vn/bao-luc-mang-van-nan-khong-hoi-ket-va-nhung-hau-qua-nang-ne1666624034-a125533
.html,ngày cập nhật 24/10/2022
Hình 1: Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của sinh viên về khái niệm “Bạo lực mạng”
Dựa trên kết quả khảo sát về mức độ hiểu biết của sinh viên Trường Đại học
Kinh tế - Luật về khái niệm “Bạo lực mạng,” chúng ta có thể nhận thấy rằng phần lớn
sinh viên (chiếm 75,3%) đều hiểu rõ rằng bạo lực mạng trở nên dễ dàng và độc hại khi
người thực hiện có thể ẩn danh. Điều này cho thấy sự ẩn danh trên không gian mạng là
yếu tố quan trọng thúc đẩy hành vi bạo lực mạng, vì nhiều người sẽ không dám hành
động như vậy ngoài đời thực. Sự nhận thức này phản ánh mối quan tâm lớn của sinh
viên đối với vấn đề bạo lực mạng và nhấn mạnh tính cấp thiết trong việc tìm hiểu và
giải quyết vấn đề này trong môi trường học đường và trên các nền tảng mạng xã hội hiện nay.
2.1.2. Khái niệm “Phát triển nhân cách”
Phát triển nhân cách là quá trình con người tham gia tương tác, hiểu biết môi
trường xã hội quanh mình, hòa nhập vào không gian đó, xác định được chức năng xã
hội, không ngừng hoàn thiện phẩm chất xã hội của mình. Không gian xã hội đó đều là
sự kế thừa, tiếp nối những giá trị vật chất, tinh thần của xã hội trước3.
Khi tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của con người, C. Mác nhấn mạnh
rằng: “mỗi giai đoạn của lịch sử đều gặp một kết quả vật chất nhất định, một tổng số
nhất định những lực lượng sản xuất, một quan hệ – được tạo ra trong quá trình lịch sử
– của những cá nhân với tự nhiên và với những người khác, quan hệ mà mỗi thế hệ
3NCS, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, Thiếu tá Nguyễn Hồng Thái, Phát triển nhân cách hạ sĩ
quan, binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay,
https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/05/28/phat-trien-nhan-cach-ha-si-quan-binh-si-quan-doi-nhan-da
n-viet-nam-hien-nay/#:~:text=Ph%C3%A1t%20tri%E1%BB%83n%20nh%C3%A2n%20c%C3%A1ch%
20l%C3%A0,th%E1%BA%A7n%20c%E1%BB%A7a%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20tr%C6%
B0%E1%BB%9Bc., ngày cập nhật 28/05/2024
nhận được của những tiền bối của mình, một khối lớn những lực lượng sản xuất,
những tư bản và những điều kiện, tức là những thứ một mặt bị thế hệ mới làm biến đổi
đi, song mặt khác lại quy định cho thế hệ mới những điều kiện sinh hoạt của chính thế
hệ mới và làm cho thế hệ mới có sự phát triển nhất định, một tính chất riêng biệt”4.
Trong quá trình phát triển nhân cách, con người trải qua nhiều mối quan hệ xã
hội khác nhau. Ban đầu, đó là vai trò con cái trong gia đình, sau đó là cha mẹ, ông bà,
hoặc một vị trí nhất định trong các tổ chức xã hội khi trưởng thành. Các vai trò này
thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử và hoàn cảnh cụ thể, góp phần hình thành và định
hình nhân cách cá nhân, phù hợp với vị trí và trách nhiệm của họ trong xã hội.
2.1.3. Khái niệm “Mạng xã hội”
Theo Khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP, mạng xã hội (social
network) là “hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch
vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao
gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat)
trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”5.
Dựa trên khái niệm này, mạng xã hội có thể được hiểu đơn giản là một hệ thống
kết nối giữa con người với nhau thông qua việc chia sẻ và trao đổi thông tin, hình ảnh,
âm thanh hoặc tương tác trực tuyến. Nó đóng vai trò như một nền tảng giúp mọi người
xây dựng mối quan hệ cá nhân hoặc cộng đồng dựa trên sở thích và mục tiêu chung.
Ngày nay, mạng xã hội trở nên phổ biến và dễ tiếp cận nhờ các thiết bị công
nghệ hiện đại như điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc máy tính cá nhân. Để sử
dụng, người dùng cần tạo một tài khoản cá nhân bằng cách cung cấp thông tin như số
điện thoại hoặc email, tùy thuộc vào yêu cầu của từng nền tảng. Sau khi đăng ký, họ có
thể thực hiện các hoạt động như đăng tải nội dung, kết nối với bạn bè, hay tìm kiếm
thông tin một cách nhanh chóng và tiện lợi.
2.1.4. Khái niệm “Truyền thông”
Truyền thông được hiểu là quá trình trao đổi và tương tác các thông tin giữa hai
hoặc nhiều người với nhau để tăng sự hiểu biết, và nhận thức. Có thể hiểu truyền thông
chính là sản phẩm do con người tạo ra, là động thực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
4C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập. Tập 1. H. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 1995, tr. 49 - 126.
5Nguyễn Hương , Mạng xã hội là gì? Dùng mạng xã hội cần tuân thủ quy định gì?,
https://luatvietnam.vn/dan-su/mang-xa-hoi-la-gi-568-90780-article.html,ngày cập nhật 29/07/2022
Theo lý thuyết thì truyền thông là quá trình trao đổi cảm xúc, thái độ, ngôn ngữ bằng
cách truyền đạt thông tin. Truyền thông đơn giản như quá trình áp dụng ngôn ngữ, chữ
viết, hình ảnh để tạo ra nhiều màu sắc, tác động trực tiếp tới tư duy của đối tượng
truyền thông hướng tới6.
Truyền thông đóng vai trò thiết yếu trong việc quảng bá thương hiệu, giới thiệu
sản phẩm hoặc dịch vụ, đồng thời xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách hàng và
đối tác. Bên cạnh đó, truyền thông còn góp phần phổ biến thông tin về các sự kiện, vấn
đề xã hội, và chính trị, giúp cộng đồng hiểu rõ hơn và đưa ra những quyết định phù hợp.
Mục tiêu chính của truyền thông là đảm bảo thông tin từ người gửi được truyền
đạt hiệu quả đến người nhận. Nội dung thông tin có thể bao gồm sự kiện, vấn đề, sản
phẩm, hoặc các ý tưởng mà người gửi mong muốn chia sẻ. Ngoài ra, truyền thông còn
là một công cụ để tạo ảnh hưởng, thay đổi quan điểm, hoặc thúc đẩy cảm xúc, hành
động trong công chúng thông qua việc lan tỏa các thông điệp một cách sáng tạo và hấp dẫn. 2.2. Thực trạng
6Võ Tuấn Hải, “Truyền thông là gì? Chiến lược truyền thông hiệu quả 2024, Truyền thông là gì? Chiến
lược truyền thông hiệu quả 2024, ngày cập nhật 23/09/2024
chênh lệch này có thể xuất phát từ việc phụ nữ thường quan tâm và nhạy cảm hơn với
các vấn đề xã hội, đặc biệt là các hành vi tác động đến tâm lý và cảm xúc. Tuy nhiên,
sự chênh lệch này cũng cho thấy bạo lực mạng có thể có tác động đặc biệt lớn đến
nhóm sinh viên nữ, những người thường xuyên phải đối mặt với các hành vi tiêu cực
như xúc phạm ngoại hình, quấy rối qua tin nhắn, hoặc lan truyền tin đồn. Ngược lại,
nam giới dù có tỷ lệ tham gia khảo sát thấp hơn nhưng vẫn chịu ảnh hưởng từ các hình
thức bạo lực mạng khác, chẳng hạn như công kích năng lực hoặc danh dự trong môi
trường học tập và làm việc.
Sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội đã mang lại nhiều tiện ích, nhưng
cũng đi kèm với những vấn đề tiêu cực, trong đó có bạo lực mạng truyền thông. Hành
vi quấy rối, đe dọa, lăng mạ qua mạng không chỉ gây ra những tổn thương tâm lý
nghiêm trọng cho nạn nhân, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách
của họ. Thanh thiếu niên là nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các hành vi này
do đặc điểm tâm lý chưa ổn định và dễ bị tổn thương.
Hiện nay, bạo lực mạng truyền thông đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong
xã hội. Các hình thức bạo lực mạng ngày càng phức tạp và tinh vi hơn, từ việc sử dụng
ngôn từ lăng mạ, đe dọa, đến việc phát tán thông tin cá nhân và hình ảnh riêng tư của
nạn nhân mà không có sự đồng ý của họ. Mối liên hệ giữa bạo lực mạng và sức khỏe
tâm lý là rất rõ ràng; chỉ một hành vi nhỏ trên mạng cũng có thể gây ra những hậu quả
nghiêm trọng như lo âu, trầm cảm, và thậm chí dẫn đến tự tử.
Thực trạng bạo lực mạng trong thanh thiếu niên hiện nay là một vấn đề đáng lo
ngại. Nhiều thanh thiếu niên thường xuyên sử dụng mạng xã hội và các nền tảng trực
tuyến mà không có đủ kiến thức và kỹ năng để bảo vệ bản thân trước các nguy cơ bạo
lực mạng. Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của an toàn mạng, nhiều thanh thiếu
niên vẫn chưa có đủ kỹ năng để nhận diện và đối phó với các hành vi bạo lực mạng,
dẫn đến việc họ dễ trở thành nạn nhân.
Một yếu tố khác góp phần vào tình trạng này là sự thiếu hụt các chương trình
giáo dục về an toàn mạng trong các trường học. Bên cạnh đó, nhiều phụ huynh cũng
thiếu kiến thức và kỹ năng để giám sát con cái khi sử dụng mạng, làm tăng nguy cơ bị
bạo lực mạng. Cuộc sống bận rộn và áp lực học tập khiến thanh thiếu niên dành nhiều
thời gian trên mạng mà không có sự hướng dẫn và bảo vệ thích hợp, làm tăng nguy cơ
bị ảnh hưởng bởi bạo lực mạng.
Hình 3: Biểu đồ thể hiện sự hiểu biết của sinh viên về vấn nạn “bạo lực mạng”
Khảo sát cho thấy 93,8% sinh viên tham gia khảo sát đã biết đến vấn đề "Bạo
lực mạng". Đây là tỷ lệ rất cao, phản ánh sự nhận thức rộng rãi trong cộng đồng sinh
viên về một vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng trong xã hội hiện nay. Việc gần
94% sinh viên có kiến thức về bạo lực mạng cho thấy rằng vấn đề này đã thu hút sự
chú ý lớn và được cộng đồng mạng xã hội quan tâm.
Mặc dù tỷ lệ sinh viên biết đến bạo lực mạng là rất cao, nhưng điều này không
đồng nghĩa với việc tất cả những người biết đều có hiểu biết đầy đủ về các hình thức
và tác hại của bạo lực mạng. Một số sinh viên có thể chỉ biết đến vấn đề này qua các
phương tiện truyền thông hoặc từ những trải nghiệm gián tiếp, mà chưa thực sự nhận
thức rõ về mức độ nghiêm trọng và ảnh hưởng của nó. Do đó, việc nâng cao nhận thức
sâu rộng và cung cấp thông tin chi tiết về các hình thức và hậu quả của bạo lực mạng
vẫn là một nhiệm vụ quan trọng.
Tuy nhiên, con số này cũng cho thấy rằng các chiến dịch truyền thông, các
chương trình giáo dục về bạo lực mạng đã có tác động tích cực đến nhận thức của sinh
viên, giúp họ hiểu rằng vấn đề này không chỉ là một hiện tượng cá biệt mà là một mối
nguy lớn trong không gian mạng hiện đại.
Hình 4: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ sinh viên từng gây ra hoặc trải nghiệm bạo lực mạng
Khảo sát với câu hỏi"Bạn đã từng bạo lực mạng hoặc bị bạo lực mạng chưa?"
cho thấy một thực trạng đáng suy ngẫm trong cộng đồng sinh viên. Cụ thể, 65,4%
người tham gia khẳng định rằng họ chưa từng trải qua hoặc tham gia vào các hành vi
bạo lực mạng, trong khi 34,6% thừa nhận đã từng là nạn nhân hoặc đã từng thực hiện hành vi này.
Tỷ lệ 34,6% không chỉ là con số thể hiện mức độ phổ biến của bạo lực mạng
mà còn cho thấy một phần đáng kể sinh viên đã bị ảnh hưởng bởi vấn nạn này. Trong
số những người thừa nhận từng trải qua bạo lực mạng, các hành vi phổ biến mà họ gặp
phải bao gồm bị xúc phạm, miệt thị trên mạng xã hội, bị lan truyền tin đồn sai sự thật,
hoặc bị quấy rối qua tin nhắn cá nhân. Những hành vi này không chỉ gây tổn thương
về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đến lòng tự trọng và sự tự tin của nạn nhân.
Đối với nhóm 65,4% chưa từng gặp phải bạo lực mạng, kết quả này có thể
phản ánh hai thực tế. Thứ nhất, họ có thể là những người sử dụng mạng xã hội một
cách an toàn, có ý thức và tránh xa các xung đột trực tuyến. Thứ hai, một số người có
thể không nhận thức đầy đủ về các hành vi bạo lực mạng hoặc chưa gặp phải tình
huống nghiêm trọng để nhận ra mức độ nguy hiểm của vấn đề này.
Tuy nhiên, việc một phần ba sinh viên từng là nạn nhân hoặc tham gia vào hành
vi bạo lực mạng là hồi chuông cảnh báo về môi trường trực tuyến thiếu an toàn. Các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng bạo lực mạng không chỉ gây ảnh hưởng tức thời đến tâm lý
nạn nhân mà còn có thể dẫn đến hậu quả lâu dài, chẳng hạn như lo âu, trầm cảm, hoặc
giảm hiệu suất học tập và làm việc.
Đặc biệt, bạo lực mạng thường diễn ra trong không gian "vô hình" nhưng để lại
những vết thương "hữu hình" trong lòng nạn nhân. Nhiều người tham gia khảo sát chia
sẻ rằng họ đã phải đối mặt với cảm giác cô lập, mất niềm tin vào các mối quan hệ xã
hội và gặp khó khăn trong việc tập trung học tập sau khi trải qua các hành vi bạo lực trên mạng.
Để giảm thiểu tình trạng này, việc nâng cao nhận thức và trang bị kỹ năng ứng
phó với bạo lực mạng là vô cùng cần thiết. Các biện pháp giáo dục, khuyến khích sinh
viên báo cáo các hành vi tiêu cực và xây dựng một cộng đồng trực tuyến tích cực, an
toàn sẽ góp phần cải thiện thực trạng này. Đồng thời, cần có sự tham gia tích cực từ
các cơ quan quản lý giáo dục và các nền tảng mạng xã hội trong việc giám sát và ngăn
chặn bạo lực mạng một cách hiệu quả.
Hình 5: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ sinh viên từng gặp hoặc chứng kiến bạo lực mạng
trên các nền tảng trực tuyến
Kết quả khảo sát cho thấy, 9,9% sinh viên đã từng là nạn nhân của bạo lực
mạng, trực tiếp bị bắt nạt trên các nền tảng trực tuyến. Con số này phản ánh mức độ
nghiêm trọng của vấn đề bạo lực mạng đối với sinh viên, đặc biệt là trong bối cảnh các
nền tảng xã hội ngày càng trở nên phổ biến và dễ tiếp cận. Việc một tỷ lệ không nhỏ
sinh viên phải chịu đựng các hành vi bạo lực trực tuyến như miệt thị, xúc phạm hoặc
quấy rối là một vấn đề đáng lo ngại.
Bên cạnh đó, 72,8% sinh viên cho biết họ đã từng chứng kiến người khác bị bắt
nạt trên mạng. Đây là một tỷ lệ cao, cho thấy rằng bạo lực mạng không chỉ ảnh hưởng
đến nạn nhân trực tiếp mà còn tác động đến những người chứng kiến. Những hành vi
bạo lực này không chỉ tạo ra môi trường mạng độc hại mà còn có thể gây ra sự lo ngại
và sợ hãi cho những người tham gia mạng xã hội.
Một số ít sinh viên, 16%, cho biết họ chưa bao giờ gặp phải hoặc chứng kiến
bạo lực mạng, điều này có thể phản ánh rằng họ có thể ít tham gia vào các hoạt động
trực tuyến hoặc sử dụng mạng xã hội một cách hạn chế. Tuy nhiên, con số này không
hề giảm bớt mức độ nghiêm trọng của vấn đề, vì vẫn có một tỷ lệ lớn sinh viên bị tác
động tiêu cực bởi bạo lực mạng.
Cuối cùng, một phần nhỏ sinh viên tham gia vào các hành vi bắt nạt trên
mạng, cho thấy rằng ngoài những nạn nhân, vẫn có một số người thực hiện các hành
vi bạo lực mạng mà không nhận thức rõ hậu quả nghiêm trọng mà chúng có thể gây ra
đối với người khác. Điều này càng nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục cộng đồng về
an toàn mạng và các hành vi không nên có trên không gian mạng.
Hình 6: Biểu đồ phân tích cảm xúc của sinh viên khi trải qua hoặc chứng kiến
việc bạo lực mạng
Kết quả khảo sát về cảm xúc của sinh viên khi trải qua hoặc chứng kiến bạo lực mạng
cho thấy những phản ứng tiêu cực chiếm đa số. Cụ thể:
75,3% sinh viên cảm thấy khó chịu.
48,1% cảm thấy buồn bã.
● Một số nhỏ cho rằng họ cảm thấy bình thường (21%) hoặc không quan tâm (1,2%).
● Đáng chú ý, có 3,7% sinh viên cảm thấy vui vẻ trước các hành vi bạo lực mạng.
Tỷ lệ cao các cảm xúc tiêu cực như khó chịu và buồn bã phản ánh rõ ràng mức
độ ảnh hưởng nghiêm trọng của bạo lực mạng đến tâm lý của cả nạn nhân và những
người chứng kiến. Đặc biệt, cảm giác khó chịu (75,3%) cho thấy rằng hành vi bạo lực
mạng không chỉ tác động đến nạn nhân mà còn ảnh hưởng đến môi trường xã hội trực
tuyến, nơi các hành vi này xảy ra.
Mặc dù vậy, tỷ lệ 3,7% sinh viên cảm thấy vui vẻ trước bạo lực mạng là một
dấu hiệu đáng lo ngại. Điều này có thể xuất phát từ việc một số cá nhân xem bạo lực
mạng như một hình thức giải trí, thiếu nhận thức về hậu quả nghiêm trọng đối với nạn nhân.
Ngoài ra, 21% sinh viên có thái độ bình thường hoặc 1,2% không quan tâm
cho thấy một bộ phận nhỏ người dùng mạng xã hội vẫn còn thờ ơ trước vấn đề này.
Điều này có thể làm giảm hiệu quả của các nỗ lực xây dựng môi trường trực tuyến an toàn và lành mạnh.
Nhìn chung, cảm xúc tiêu cực chiếm ưu thế cho thấy bạo lực mạng đang gây ra
những ảnh hưởng không nhỏ đối với sinh viên. Để cải thiện tình trạng này, việc nâng
cao nhận thức và khuyến khích hành động tích cực từ cộng đồng mạng là vô cùng cần thiết.
Kết quả khảo sát cho thấy mức độ ảnh hưởng của bạo lực mạng đối với sinh viên có sự phân bố khá rõ rệt:
35,8% sinh viên cho biết bạo lực mạng hoàn toàn ảnh hưởng đến họ.
44,4% sinh viên cảm nhận rằng bạo lực mạng có nhưng không nhiều lắm.
19,8% sinh viên khẳng định rằng bạo lực mạng không ảnh hưởng đến họ.
Tỷ lệ 35,8% sinh viên cho biết bạo lực mạng có ảnh hưởng hoàn toàn đến họ
cho thấy vấn đề này không chỉ gây tác động về mặt tâm lý mà còn ảnh hưởng sâu rộng
đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống, từ việc học tập đến các mối quan hệ xã hội.
Các nạn nhân của bạo lực mạng có thể cảm thấy lo âu, căng thẳng, và đôi khi là trầm
cảm, điều này chứng tỏ rằng những hành vi trên không gian mạng có thể dẫn đến
những tổn thương không kém phần nghiêm trọng so với bạo lực trong thế giới thực.
Bên cạnh đó, 44,4% sinh viên cho rằng bạo lực mạng có ảnh hưởng nhưng
không nhiều lắm, điều này có thể phản ánh sự khác biệt trong mức độ nhạy cảm hoặc
cách đối phó của mỗi người với các tình huống bạo lực trực tuyến. Dù không bị ảnh
hưởng quá sâu sắc, những sinh viên này có thể gặp phải những cảm giác khó chịu hoặc
lo lắng khi chứng kiến hoặc trải qua hành vi bạo lực mạng, song họ có thể không cảm
thấy ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống cá nhân.
Cuối cùng, 19,8% sinh viên cho biết bạo lực mạng không ảnh hưởng đến họ.
Điều này có thể do họ ít tham gia vào các nền tảng mạng xã hội hoặc biết cách bảo vệ
bản thân khỏi các hành vi tiêu cực trên mạng. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn cho thấy rằng
bạo lực mạng là vấn đề rộng lớn, tác động đến đa phần sinh viên và không thể xem nhẹ.
Hình 8: Biểu đồ thể phản đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước bạo lực mạng
Kết quả khảo sát về đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước bạo lực mạng cho thấy một
sự phân bố rõ rệt trong nhận thức của sinh viên:
53,1% sinh viên cho rằng bất kỳ ai sử dụng mạng xã hội đều có thể trở thành
nạn nhân của bạo lực mạng.
25,9% cho rằng những người nổi tiếng hoặc có tầm ảnh hưởng trên mạng
xã hội là nhóm dễ bị tổn thương.
7,4% sinh viên lựa chọn học sinh, sinh viên là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất.
8,6% cho rằng người có vấn đề về sức khỏe tâm lý dễ bị tổn thương trước bạo lực mạng.
● Phần còn lại cho rằng phụ nữ và trẻ em là đối tượng dễ bị tấn công trong không gian mạng.
Việc 53,1% sinh viên cho rằng bất kỳ ai sử dụng mạng xã hội đều có thể là nạn
nhân của bạo lực mạng phản ánh tính chất rộng lớn và dễ dàng lan tỏa của bạo lực trên
không gian trực tuyến. Bất cứ ai tham gia mạng xã hội đều có thể gặp phải các hành vi
như xúc phạm, lan truyền tin đồn sai sự thật, hoặc bị quấy rối, khiến vấn đề này trở
thành một mối nguy không chỉ với những người nổi tiếng mà còn với mọi người dùng mạng.
Bên cạnh đó, 25,9% sinh viên cho rằng những người nổi tiếng hoặc có tầm
ảnh hưởng trên mạng xã hội là đối tượng dễ bị tấn công. Đây là nhóm người có
nhiều sự chú ý từ cộng đồng và thường xuyên phải đối mặt với các ý kiến trái chiều
hoặc chỉ trích gay gắt từ những người không quen biết. Việc họ trở thành mục tiêu của
bạo lực mạng có thể dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả sự nghiệp và đời sống cá nhân.
Nhóm 7,4% học sinh, sinh viên cho rằng mình dễ bị tổn thương có thể liên
quan đến sự nhạy cảm cao của lứa tuổi này đối với những vấn đề xã hội, cũng như thói
quen chia sẻ cá nhân trên mạng xã hội. Sinh viên dễ gặp phải hành vi bắt nạt trực
tuyến khi tham gia các diễn đàn hoặc mạng xã hội, đặc biệt là trong môi trường học đường.
Trong khi đó, 8,6% sinh viên cho rằng người có vấn đề về sức khỏe tâm lý
đối tượng dễ bị tổn thương trước bạo lực mạng, vì những người này có thể dễ dàng bị
tổn thương hơn về mặt cảm xúc khi đối diện với các hành vi quấy rối trực tuyến.
Cuối cùng, một tỷ lệ nhỏ sinh viên cho rằng phụ nữ và trẻ em là nhóm dễ bị
tấn công, điều này phản ánh sự lo ngại về việc các nhóm này có thể bị đối xử không
công bằng hoặc bị lợi dụng trong các môi trường mạng. 2.3. Nguyên nhân
Sự ra đời của internet là một bước đột phá vĩ đại trong thế kỷ 20-21. Các nền
tảng mạng xã hội chính là nơi giúp mọi người dễ dàng liên lạc, gắn kết với nhau dù
cho khoảng cách địa lý có lớn đến mức nào. Ngoài ra, các nền tảng đó còn giúp tiếp
cận nhanh chóng với các thông tin, tin tức mới cập nhật hàng ngày. Bên cạnh những
lợi ích tuyệt vời mà nền xã hội mang lại, nó cũng đi kèm với không ít những vấn đề.
Trong đó, bạo lực mạng là tình trạng phổ biến nhất hiện nay. Vậy nguyên nhân xuất phát từ đâu?
Đầu tiên, bạo lực mạng vì muốn trả thù gián tiếp. Do cuộc sống quá áp lực, mọi
người phải liên tục đối mặt với những căng thẳng, mệt mỏi, vất vả hay bản thân đã
từng là nạn nhân của tình trạng bắt nạt khiến cho tâm lý của họ sẽ có xu hướng cáu
gắt, muốn trút giận lên người khác. Mạng xã hội dường như là một công cụ lý tưởng
để họ trả đòn đối với những người đã từng bắt nạt hoặc gián tiếp bắt nạt họ. Hành
động như vậy có lẽ bởi họ cho rằng cuộc sống đã chịu quá nhiều điều tiêu cực, họ đã
quá cực khổ về cả tinh thần lẫn thể xác nên muốn người khác cũng phải trải qua những điều giống mình.
Thứ hai, một trong những lý do dẫn đến bạo lực mạng là không sợ bị phát hiện.
Thông thường, những người thực hiện hành vi bắt nạt trên nền tảng xã hội sẽ cố tình
che giấu danh tính và tạo nhiều tài khoản ảo để hạn chế bị phát hiện. Bên cạnh đó, các
hành vi bạo hành qua mạng rất khó để xác định danh tính thủ phạm bởi các đối tượng
đó sẽ không bao giờ sử dụng thông tin thật của bản thân chúng. Do đó, chúng sẽ luôn
cảm thấy an tâm bởi khó bị bại lộ, từ đó mà thoải mái thực hiện làm những điều mà
bản thân mong muốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu của chính mình. Hơn thế nữa, nhiều
người còn thấy vui sướng khi thấy nạn nhân hoang mang, lo sợ, suy nghĩ tiêu cực và
cố gắng đi tìm hung thủ. Điều này đôi khi khiến họ gia tăng sự hưng phấn, liên tục
tăng mức độ nghiêm trọng để thực hiện hành vi hạ nhục danh dự, nhân phẩm của
người khác. Khi nhận được sự tung hô từ những người như họ, những kẻ đó thường có
ý định lặp đi lặp lại những hành vi như vậy để nạn nhân phải sống trong đau khổ và sợ hãi.
Thứ ba, bạo lực mạng vì khao khát quyền lực. Những người bạo lực mạng
người khác qua ngôn từ thường là những người bảo thủ, luôn cho bản thân mình là
người đúng, họ tự cho mình cái quyền được phán xét, chỉ trích, lăng mạ người khác.
Họ cho rằng mình có quyền lực để đánh giá đúng sai của một vấn đề hay cho rằng nạn
nhân đáng bị hứng chịu chỉ trích như vậy. Ngoài ra, một số trường hợp còn cho rằng,
mình không làm như vậy thì người khác cũng sẽ thực hiện, nên không một chút áy náy
mà mắng chửi, xúc phạm người khác. Đôi khi những người này còn cảm thấy vui
sướng, thỏa mãn vì nắm được điểm yếu của người khác, sung sướng khi nhìn thấy nạn
nhân đau khổ, dằn vặt, thậm chí nghĩ quẩn.
Thứ tư, bạo lực mạng vì muốn thể hiện bản thân. Thống kê cho thấy, đa số thủ
phạm và nạn nhân của bạo lực mạng đều là trẻ vị thành niên và người trẻ tuổi. Ở lứa
tuổi này, các hành vi bắt nạt người khác được xem là cách thể hiện bản thân. Khi thấy
những người khác tung hô hành vi bắt nạt và có lời lẽ nhục mạ danh dự của người
khác, bản thân kẻ thực hiện sẽ có cảm giác thỏa mãn và dần yêu thích những hành vi
này. Ngày nay còn được mở rộng hơn ở những độ tuổi khác, bởi rằng trên các nền tảng
mạng xã hội thường cắt ghép những thông tin không đầy đủ nhằm dắt mũi dư luận đề
chỉ trích một người, dù người đó không làm sai gì cả.
Thứ năm, bạo lực mạng chỉ đơn giản là thú vui tiêu khiển. Nhiều người thực sự
không ý thức được hành vi của mình sẽ gây tổn thương cho người khác mà hiển nhiên
thực hiện hành vi khiêu khích, xúc phạm. Họ cho rằng đây chỉ là một trò đùa vô hại
nhằm tìm kiếm những niềm vui trong cuộc sống. Có lẽ do cuộc sống của họ quá tẻ
nhạt, vô vị và không nhận được nhiều sự quan tâm, chia sẻ nên có xu hướng mắng
chửi, lăng mạ người khác để mình được chú ý và xem đó là một “thành công” của riêng mình.
Cuối cùng, một lý do điển hình của các hành vi bắt nạt trực tuyến là xuất phát
từ cảm giác ganh ghét, đố kỵ với những điều mà người khác có được mà bản thân
mình không có. Họ thường nhắm vào các đối tượng có sắc đẹp, tiền bạc, địa vị cao
nhằm hạ nhục, đạp đổ họ. Thông thường là đe dọa tung các đoạn tin nhắn, ảnh nóng
hoặc uy hiếp tống tiền. 2.4. Hệ quả
Hình 9: Biểu đồ phân tích các tác động của bạo lực mạng đến sức khỏe tâm lý của nạn nhân
Bạo lực mạng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tâm lý của nạn nhân
mà còn tác động sâu rộng đến các mối quan hệ xã hội và chất lượng cuộc sống của họ.
Kết quả khảo sát cho thấy, 79% sinh viên cho rằng bạo lực mạng gây ra lo âu và căng
thẳng, trong khi 77,8% cho biết họ bị trầm cảm và tự ti. Đây là những tác động tâm
lý nghiêm trọng mà nạn nhân phải đối mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng cuộc sống và
khả năng học tập. Hơn nữa, 63% sinh viên cho rằng bạo lực mạng gây ra khó khăn
trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội, trong khi 55,6% cho biết bạo lực mạng
làm suy giảm hiệu quả học tập hoặc làm việc. Đặc biệt, một tỷ lệ 44,4% sinh viên
cho rằng họ từng có ý định tự tử hoặc cảm thấy tự tử do những tổn thương tâm lý mà
bạo lực mạng gây ra. Con số này phản ánh mức độ nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng
của bạo lực mạng đối với sức khỏe tâm lý của nạn nhân.
Hình 10: Biểu đồ khảo sát ảnh hưởng của bạo lực mạng đến các mối quan hệ xã hội của sinh viên
Bên cạnh đó, bạo lực mạng cũng gây ra những ảnh hưởng lớn đến các mối
quan hệ xã hội của sinh viên. Kết quả khảo sát cho thấy, 25,9% sinh viên bắt đầu
tránh xa giao tiếp với bạn bè và người thân, trong khi 22,2% gặp phải mâu thuẫn
và xa cách với một số người. Dù có 24,7% sinh viên cho biết mối quan hệ của họ
không bị ảnh hưởng nhiều, nhưng vẫn có một lượng đáng kể người gặp phải những
thay đổi trong cách giao tiếp và kết nối với xã hội. Điều này cho thấy bạo lực mạng
không chỉ gây tổn thương cho cá nhân mà còn làm suy giảm các mối quan hệ xã hội,
tạo ra sự cô lập và thiếu kết nối.
Hình 11: Biểu đồ phân tích những hệ quả của bạo lực mạng mà sinh viên đã trải qua