BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
C BIỆN PHÁP TƯ PHÁP THEO QUY ĐỊNH
CỦA BLHSM 2015, SỬA ĐỔI NĂM 2017
GIẢNG VIÊN : Th.s Nguyễn Thuận An
MÃ LỚP : 211LAW10128
NHÓM SV THỰC HIỆN: Nhóm 15
TP. HỒ CHÍ MINH - 2021
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐU. ........................................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP
PHÁP QUY ĐỊNH TRONG BLHS VIỆT NAM.......................................................... 5
1.1.
Các khái niệm về bin pháp pháp. ............................................................................ 5
1.2.
Các đc điểm của biện pháp pháp............................................................................. 5
1.3.
Vai trò ý nghĩa của biện pháp pháp. .................................................................... 6
CHƯƠNG 2. PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP TƯ PHÁP VỚI BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
HÀNH CHÍNH. .............................................................................................................. 7
2.1.
Điểm giống nhau. ......................................................................................................... 7
2.2.
Điểm khác nhau. ........................................................................................................... 7
CHƯƠNG 3. PHÂN BIỆT ĐIỂM GIỐNG NHAU KHÁC NHAU GIỮA BIỆN
PHÁP PHÁP HÌNH PHẠT. ............................................................................. 9
3.1.
Điểm giống nhau. ......................................................................................................... 9
3.2.
Điểm khác nhau. ........................................................................................................... 9
CHƯƠNG 4: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015,
BỔ SUNG NĂM 2017. ................................................................................................. 11
4.1.
Các bin pháp pháp chung điều kiện áp dụng. ............................................... 11
4.2.
Các biện pháp riêng dành cho người chưa thành niên điều kiện áp dụng. ......... 14
CHƯƠNG 5: NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP PHÁP TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM...................................................................................... 15
5.1.
Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp pháp trong bộ luật
hình sự. ........................................................................................................................ 15
5.2.
Một số giải pháp hoàn thiện các biện pháp pháp trong bộ luật hình sự Việt Nam. 16
CHƯƠNG 6: NHỮNG DỤ VỀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÍCH BẢN ÁN ĐỂ
PHÂN CH. ................................................................................................................ 17
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO. .................................................................................................... 21
BẢNG DANH TỪ GHI TẮT
CQTHTT
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu, và thực hiện đề tài nghiên cứu sự hướng
dẫn của giảng viên Nguyễn Thuận An. Cho phép nhóm 15 xin gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến với , trong thời gian qua đã rất tâm quyết trong việc giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức kinh nghiệm của học phần môn Pháp Luật Đại Cương.
Những kiến thức, giá trịu sắc của môn học mang lại sẽ giúp ích cho hành trang của
chúng em trong tương lai.
Xin chân t hành cảm ơn chúc luôn đạt được nhiều thành công trong
cuộc sống!
LỜI MỞ ĐẦU
hội ngày càng phát triển, con người ngày càng nhiều nhu cầu cấp thiết
hơn việc ăn, ở, mặc… mà còn giải trí, giao lưu xã hội. Sự mở rộng một cách đa dạng
các mối quan hệ hiện nay không chỉ mang đến những thành tựu về mặt khoa học
hội, kinh tế - chính trị, đồng thời lại mang đến những mặt tiêu cực, lối sống cực đoan,
kết quả tất yếu tình hình tội phạm ngày ng diễn biến phức tạp. Trước tình hình
thực tế đó, Nhà nước đã áp dụng rất nhiều các chế tài trong pháp luật hình sự để kiểm
soát hạn chế tội phạm, trong đó không thể không kể đến các biện pháp pháp hình
sự.
Tại Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp pháp hình sự vào thực tiễn đang
đặt ra rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu giải đáp để thể hoàn thiện hệ thống
pháp luật nói chung pháp luật hình sự nói riêng. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng
các chế tài hình sự còn chưa mang lại những hiệu quả thiết thực đối với phòng chống
tội phạm. Việc xem xét hành vi phạm tội và quyết định hình phạt hay biện pháp
pháp đối với người phạm tội, nhất người chưa thành niên phạm tội cần được quan
tâm đến một cách sát sao hơn.
những do trên cũng như quan tâm đến xu hướng pháp luật hình sự thế
giới Đảng Nhà nước ta những quyết sách kịp thời trong cải cách hệ thống
pháp hiệu quả của việc áp dụng biện pháp pháp hình sựrất cần thiết. Tồn bộ
những phân tích dẫn chứng trong việc áp dụng biện pháp pháp hình sự đều trên
sở thực tiễn, nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như cải cách pháp
làm cho việc nghiên cứu đề tài
"Các biện pháp pháp trong pháp luật hình sự
Việt Nam"
trong thời điểm hiện nay đạt được hiệu quả cao. Thông qua đó, việc
nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta cách tiếp cn toàn diện hơn trong việc áp dụng
và thực thi có hiệu quả các biện pháp tư pháp.
CHƯƠNG 1. MT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP
TƯ PHÁP QUY ĐỊNH TRONG BLHS VIỆT NAM.
1.
1. Các khái niệm về biện pháp pháp.
Khi nghiên cứu đề tài về các biện pháp pháp hình sự, việc tìm hiểu xem
xét những khái niệm bản hết sức cần thiết. Qua việc tìm hiểu, chúng tôi thể
đưa ra khái niệm chung nhất về biện pháp tư pháp như sau:
Theo Thuyết Tam Quyền Phân Lập (do Lôckơ, Môngtexkiơ, Ruxô sáng lập),
pháp là một trong ba quyền của quyền lực nhà nước gồm: lập pháp (làm pháp luật
ban hành pháp luật), hành pháp (thi hành pháp luật) pháp (giữ gìn, bảo vệ pháp
luật, và xử những hành vi vi phạm pháp luật). pháp mục đích trừng trị tội
phạm cũng như giải quyết xung đột giữa các cá nhân, bảo đảm lòng tin của nhân dân
hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp
cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xã hội.
Khoa học luật hình sự Việt Nam một số quan điểm coi các biện pháp
pháp là: Biện pháp pháp hình sự không phải hình phạt, chỉ tính chất hành
chính, dân sự nhưng được quyết định ngay trong vụ án hình sự. Ngoài ra các biện
pháp được áp dụng chung đối với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. "Biện pháp pháp hình
sự các biện pháp nh sự được Bộ luật Hình sự quy định, do các quan pháp áp
dụng đối với người hành vi nguy hiểm cho hội, tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế
hình phạt".
Như vậy, tổng kết các quan điểm khác nhau về khái niệm các biện pháp
pháp, đồng thời căn cứ vào quá trình lập pháp, xây dựng hệ thống các quy phạm pháp
luật về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam, chúng ta thể đưa
ra khái niệm khoa học về các biện pháp pháp hình sự: Biện pháp pháp biện
pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do
pháp luật hình sự quy định được quan pháp hình sự thẩm quyền căn cứ
vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm
hạn chế quyền, tự do của người đó, hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt.
1.2.
Các đặc điểm của biện pháp pháp.
Từ những khái niệm cơ bản chung nhất và những quan điểm về khái niệm của
biện pháp pháp nêu trên, thể thấy biện pháp pháp những cưỡng chế mức
độ ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt. Song, các biện pháp pháp những đặc
điểm và dấu hiệu cơ bản sau:
Đặc điểm thứ nhất: biện pháp tư pháp là một dạng cưỡng chế hình sự của Nhà
nước. Đặc điểm này thể hiện nh quyền lực của Nhà nước khi áp dụng các biện
pháp pháp. Nhà nước đơn phương sử dụng quyền lực để áp đặt ý chí, buộc phải
tuân thủ thực hiện, nếu đối tượng bị áp dụng không thực hiện, Nhà nước sẽ sử dụng
biện pháp cưỡng chế để bắt buộc phải thực hiện.
Đặc điểm thứ hai: các biện pháp tư pháp chỉ được quy định trong Bộ luật hình
sư. Do tính chất của các biện pháp pháp một dạng cưỡng chế hình sự, thể làm
hạn chế quyền lợi ích của đối tượng bị áp dụng nên chỉ Bộ luật hình sự là văn
bản pháp luật duy nhất quy định về các biện pháp tư pháp.
Đặc điểm thứ ba: biện pháp pháp ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt. Nếu
như hình phạt thể hạn chế hoặc tước bỏ những quyền lợi ích của người phạm tội
như quyền tự do, quyền sở hữu, thậm chí kể cả quyền sống thì các biện pháp tư pháp
chỉ tước bỏ các lợi ích mang tính vật chất hoặc chỉ mang tính hỗ trợ thay thế hình
phạt như bắt buộc chữa bệnh hay giáo dục tại trường giáo dưỡng, nên ít nghiêm khắc
hơn. Mặt khác, nếu như hình phạt để lại án tích tviệc áp dụng các biện pháp pháp
không để lại án tích. Vì vậy, có thể nói đây cũng biểu hiện minh chứng cho tính ít
nghiêm khắc của biện pháp tư pháp so với hình phạt trong luật hình sự.
Đặc điểm thứ : thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bao gồm các cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn của tố tụng hình sự. Biện
pháp pháp thể được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự. Theo
đó, trong giai đoạn xét xửgiai đoạn thi hành án hình sự, thẩm quyền áp dụng biện
pháp tư pháp thuộc về tòa án nhân dân; trong giai đoạn điều tra giai đoạn truy tố,
thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp thuộc về các quan tiến hành tố tụng khác.
Đặc điểm này cũng cho thấy, đây điểm khác biệt giữa biện pháp pháp so với hình
phạt trong luật hình sự (do tòa án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước
áp dụng hình phạt đối người phạm tội).
1.3.
Vai trò và ý nghĩa của biện pháp tư pháp.
Các biện pháp pháp hình sự xét về bản chất những biện pháp cưỡng chế
của Nhà nước do quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền (Viện kiểm sát
Thi án) áp dụng đối với người phạm tội và những người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho hội trong tình trạng khơng ng lực trách nhiệm hình sự do bị bệnh tâm thần
hoặc bị một bệnh khác đã mất đi khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của
mình. Với hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự đa dạng, có tính chất
nghiêm khắc khác nhau, công dụng khác nhau thì việc xử hình sự càng chính xác
các chi tiết, hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội nạn nhân càng được xem
xét một cách kỹ càng trước khi quyết định hình phạt do đó, hiệu quả của việc áp
dụng biện pháp tư pháp sẽ phần nào được nâng cao.
thể nói, việc tồn tại hệ thống các biện pháp pháp song hành với hệ thống
hình phạt (chính bổ sung) làm cho hệ thống chế tài cân đối hơn, hoàn thiện hiệu
quả hơn, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm phù hợp xu hướng
phát triển của đất nước cũng như hội nhập quốc tế. Thêm vào đó, các biện pháp
pháp hình sự được áp dụng với người bị kết án sẽ củng cố, hỗ trợ tăng cường hiệu
quả việc áp dụng hình phạt; khiến cho việc tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án
trở nên dễ dàng hơn, tránh được nguy tái phạm, tái phạm nguy hiểm góp phần
giúp hoạt động tư pháp trơn tru hiện quả hơn.
Mặt khác, với những trường hợp chưa đủ tính chất nghiêm trọng để thể áp
dụng hệ thống hình phạt, thì các biện pháp tư pháp hình sự chính là cứu cánh để giải
quyết tình hình tội phạm, không bỏ sót người phạm tội, vẫn chế tài áp dụng với h,
nhưng tương xng về cả nội dung tính chất nghiêm khắc đối dối với hành vi phạm
tội mà họ gây ra.
Như vậy, thể thấy rằng các biện pháp pháp hình sự đã góp phần làm
phong phú hệ thống chế tài hình sự, thúc đẩy chức năng bảo vệ, phòng ngừa giáo
dục của pháp luật hình sự, tạo sở pháp đđấu tranh phòng chống tội phạm
một cách hiệu quả. Chính vì vậy, vai trò của các biện pháp tư pháp hình sự trong luật
hình sự nói riêng trong pháp luật nói chung hết sức quan trọng cần thiết.
CHƯƠNG 2. PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP PHÁP VỚI BIỆN PHÁP CƯỠNG
CHẾ HÀNH CHÍNH.
2.1.
Điểm giống nhau.
Điểm thứ nhất, thể do các loại quan khác nhau áp dụng theo thủ tục hành
chính. Nhưng nhiều nhất những quan chuyên trách thực hiện chức năng đảm bảo
pháp chế kỷ luật trong hành chính như Toà án, quan thực hiện tố tụng, quan
điều tra, Viện kiểm soát,…
Điểm thứ hai, cả hình phạt biện pháp pháp hình sự đều hai chế định
quan trọng của luật hình sự Việt Nam và chỉ xuất hiện khi sở nhất định do pháp
luật hình sự quy định là: Việc phạm tội của thể nhân (là con người cụ thể, năng lực
trách nhiệm nh sự, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự lỗi trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho hội, bị luật hình sự cấm). Chỉ khi nào tội phạm xác
định được trách nhiệm hình sự thì mới thể áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp
pháp hình sự tương ứng cụ thể nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội nói chung và người bị kết án nói riêng.
Điểm thứ ba, theo pháp luật hình sự Việt Nam, cả nh phạt biện pháp
pháp hình sự đều chỉ mang tính chất cá nhân và chỉ được áp dụng với thể nhân phạm
tội. Người phạm tội hoặc người bị kết án phải thi hành Hình phạt hoặc áp dụng Biện
pháp pháp hình sự tương xứng với nh vi phạm tội, còn những người thân đều
không phải chịu trách nhiệm hình sự về lỗi người đó đã gây ra chỉ thể bị
liên đới hoặc hỗ trợ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có lỗi gây ra.
Điểm thứ , việc áp dụng biện pháp pháp hình sự các biện pháp cưỡng
chế hành chính đều dẫn đến hậu quả pháp bất lợi nhất định đối với người bị áp dụng
các mức độ khác nhau. Bản thân người phạm tội phải chịu sự trừng phạt của pháp
luật bằng các chế tài pháp (hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác - hình sự,
hành chính, dân sự...) đồng thời nhằm răn đe cộng đồng tránh việc phạm tội hoặc tái
phạm tội của người đã từng bị kết án.
2.2.
Điểm khác nhau.
Bảng 1. So sánh điểm khác nhau giữa biện pháp pháp biện pháp cưỡng chế hành chính.
Tiêu
c
Biện pháp pháp Biện pháp cưỡng chế hành chính
Ki
nim
khoa
học
biện pháp tính cưỡng chế do Bộ
luật hình sự quy định, được áp dụng đối
với người phạm tội hoặc người nh
vi nguy hiểm cho hội khi không
năng lực trách nhiệm hình sự. Biện pháp
pháp tác dụng hỗ trợ thay thế hình
phạt hoặc biện pháp tính chất
tổng hợp các biện pháp do luật hành
chính quy định để tác động một cách trực
tiếp hay gián tiếp lên tâm lí tưởng hành
vi của nhân hay tổ chức, buộc các chủ
thể đó phải thực hiện các nghĩa vụ pháp
nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn
hoặc xử hành vi trái pháp luật, đảm bảo
phòng ngừa, ngăn ngừa hành vi nguy
hiểm cho xã hội có thể tiếp tục xảy ra.
trật tự kỷ luật trong hoạt động hành
chính.
Hình
thức áp
dụng
Gồm biện pháp pháp đối với người
phạm tộibiện pháp pháp đối với
pháp nhân thương mại phạm tội.
Biện pháp pháp đối với người phạm
tội bao gồm:
-
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm.
-
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
-
Bắt buộc chữa bệnh.
Biện pháp pháp đối với pháp nhân
thương mại bao gồm:
-
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm.
-
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
-
Khôi phục hiện trạng ban đầu.
-
Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc
phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.
Các biện pháp cưỡng chếnh chính bao
gồm:
-
Biện pháp phòng ngừa cưỡng chế hành
chính gồm 2 dạng các biện pháp mang
tính chất hạn chế quyền con người các
biện pháp mang tính chất bắt buộc trực
tiếp cá nhân hoặc tổ chức thực hiện.
-
Biện pháp ngăn chặn xủ vi phạm
như: Tạm giữ đối với tang vật các
phương tiện hành chính; thực hiện việc
tạm giữ người theo các thủ tục hành
chính; quyền khám xét người khi thấy
người đó khả nghi;…
-
Biện pháp mang tính trách nhiệm hành
chính.
-
Các biện pháp hành chính khác gồm:
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào
trường giáo dưỡng; đưa vào sở giáo
dục; đưa vào sở chữa bệnh.
Mục
đích
Biện pháp pháp không mục đích
tước đoạt mà chỉ nhằm hạn chế quyền tự
do của người phạm tội. Trong một số
trường hợp, các biện pháp pháp đóng
vai trò thay thế hình phạt loại bỏ nguyên
nhân, điều kiện dẫn đến hành vi
nguy hiểm cho hội thể hiện
nội dung cao cả của nguyên tắc nhân
đạo của xã hội chủ nghĩa.
Ngăn chặn các hành vi trái pháp luật,
phòng ngừa những nhân, t chất
hành vi trái pháp luật hoặc để xử các
hành vi của nhân hoặc tổ chức có hành
vi trái pháp luật, từ việc cưỡng chế hành
chính để mang đến đảm bảo trật tự
kỷ luật trong hoạt động hành chính của
nhà nước, các cấp chính quyền đúng với
quy định của pháp luật.
Đối
tượng
áp
dụng
Biện pháp pháp áp dụng đối với
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
hội nhằm h trợ hoặc thay thế hình
phạt.
nhân, tổ chức Việt Nam; nhân, tổ
chức nước ngoài bị xử phạt vi phạm hành
chính đã quá thời hạn chấp hành hoặc quá
thời hạn hoãn chấp hành quyết định xử lí
vi phạm hành chính hoặc đã quá thời hạn
chấp hành quyết định áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính
gây ra mà không tự nguyện chấp hành.
Thời
đim
áp
dụng
Áp dụng trong giai đoạn điều tra xét xử. Được áp dụng khi quyết định cưỡng
chế bằng văn bản của người thẩm
quyền.
Cách Trong một số trường hợp, các biện pháp Việc quyết định áp dụng biện pháp ỡng
áp
dụng
pháp đóng vai trò thay thế nh phạt
loại bỏ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến
hành vi nguy hiểm cho hội th
hiện nội dung cao cả của nguyên tắc
nhân đạo xã hội chủ nghĩa.
chế phải căn c vào nội dung, tính chất,
mức độ, điều kiện thi hành quyết định
cưỡng chế tình hình thực tế địa
phương.
Người thẩm quyền ra quyết định cưỡng
chế quyết định áp dụng các biện pháp
cưỡng chế theo thứ tự quy định tại Khoản
2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành
chính. Chỉ áp dụng các biện pháp tiếp
theo khi không thể áp dụng các biện pháp
cưỡng chế đó hoặc đã áp dụng nhưng
chưa thu đủ s tiền bị cưỡng chế theo
quyết định cưỡng chế.
CHƯƠNG 3. PHÂN BIỆT ĐIỂM GIỐNG NHAU KHÁC NHAU GIỮA
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP VÀ HÌNH PHẠT.
3.1.
Điểm giống nhau.
Đều là là biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLHS do chủ thể có thẩm
quyền áp dụng đối với những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
3.2.
Điểm khác nhau.
Bảng 2. So sánh sự khác nhau giữa hình phạt biện pháp pháp.
Tiêu chí Hình phạt Biện pháp pháp
Khái niệm
Hình thức áp
dụng
Hình phạt biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất của Nhà nước được quy định trong
Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp
dụng đối với người hoặc pháp nhân thương
mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế
quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương
mại đó.Điều 30 Bộ luật hình sự 2015 (sửa
đổi, bổ sung 2017).
Hình phạt bao gồm hình phạt hình phạt đối
với người phạm tội hình phạt đối với pháp
nhân thương mại phạm tội.
*
Các hình phạt đối với người phạm tội
Hình phạt chính bao gồm:
-
Cảnh cáo;
-
Phạt tiền;
-
Cải tạo không giam giữ;
-
Trục xuất;
-
thời hạn;
- chung thân;
-
Tử hình.
Hình phạt bổ sung bao gồm:
-Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
Biện pháp pháp (BPTP) biện
pháp cưỡng chế nhà nước được quy
định trong Bộ luật hình sự (BLHS),
do quan tiến hành tố tụng
(CQTHTT) áp dụng đối với người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho
hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình
phạt.Điều 46 Bộ luật hình sự 2015
(sửa đổi, bổ sung 2017).
Biện pháp pháp gồm BPTP đối
với người phạm tội và BPTP đối
với pháp nhân thương mại phạm
tội* Biện pháp tư pháp đối với
người phạm tội bao gồm:
-Tịch thu vật, tiền trực tiếp
liên quan đến tội phạm;
-Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại;
buộc công khai xin lỗi;
-Bắt buộc chữa bệnh.
Mục đích
Đối tượng áp
dụng
Hậu quả
pháp lý
nghề hoặc làm công việc nhất định;
-Cấm t;
-Quản chế;
-Tước một số quyền công n;
-Tịch thu tài sản;
-Phạt tiền, khi không áp dụng là hình
phạt chính;
-Trục xuất, khi không áp dụng hình
phạt chính.
*
Các hình phạt đối với pháp nhân thương
mại phạm tội
Hình phạt chính bao gồm:
-Phạt tiền;
-Đình chỉ hoạt động thời hạn;
-Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Hình phạt bổ sung bao gồm:
-Cấm kinh doanh, cấm hoạt động
trong một số lĩnh vực nhất định;
-Cấm huy động vốn;
-Phạt tiền, khi không áp dụng là hình
phạt chính.
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người,
pháp nhân thương mại phạm tội còn giáo
dục họ ý thức tuân theo pháp luật các quy
tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội
mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại
khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa đấu
tranh chống tội phạm.
Chỉ thể áp dụng đối với người hành
vi nguy hiểm cho hội bị coi là tội phạm đã
thực hiện gây thiệt hại đến lợi ích của nhà
nước, tập thể, lợi ích chính đáng của công
dân trong xã hội.
Người phạm tội bị tước bỏ hoặc hạn chế
quyền, lợi ích và phải mang án tích trong thời
hạn nhất định theo quy định của pháp luật.
Biện pháp pháp đối với pháp
nhân thương mại phạm tội bao
gồm:
-Tịch thu vật, tiền trực tiếp
liên quan đến tội phạm;
-Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại;
buộc công khai xin lỗi;
-Khôi phục lại tình trạng ban
đầu;
-Thực hiện một số biện pháp
nhằm khắc phục, ngăn chặn
hậu quả tiếp tục xảy ra.
Biện pháp pháp không mục
đích tước đoạt chỉ nhằm hạn chế
quyền tự do của người phạm tội.
Trong 1 số trường hợp, các
biện pháp pháp đóng vai trò thay
thế hình phạt loại bỏ nguyên
nhân, điều kiện dẫn đến hành vi
nguy hiểm cho hội thể hiện
nội dung cao cả của nguyên tắc
nhân đạo xã hội chủ nghĩa.
Biện pháp pháp áp dụng đối với
người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho hội nhằm hỗ trợ hoặc thay
thế hình phạt.
Người phạm tội bị áp dụng BPTP
chỉ mang án tích khi bị áp dụng
hình phạt. Trường hợp người phạm
tội được miễn hình phạt nhưng bị
áp dụng BPTP thì không phải mang
án tích.
Thẩm quyền
áp dụng
Do tòa án áp dụng. Do Tòa án hoặc CQTHTT khác áp
dụng tùy thuộc vào giai đoạn tiến
hành tố tụng, mà theo đó, chỉ BPTP
buộc công khai xin lỗi người bị
hại biện pháp thay thế hình phạt
đối với người chưa thành niên phạm
tội do chủ thể duy nhất tòa án
quyền áp dụng, còn các BPTP
khác thể do quan điều tra,
Thời điểm áp
dụng
Cách áp dụng
Áp dụng trong giai đoạn xét xử.
Hình phạt chính đưc áp dụng độc lập, hình
phạt bổ sung được áp dụng kèm hình phạt
chính
Hình phạt chính được áp dụng độc lp
Hình phạt bổ sung được áp dụng kèm hình
phạt chính
Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng
trong tất cả các giai đoạn của quá
trình tố tụng hình sự (TTHS).
Áp dụng trong giai đoạn
điều tra, xét xử.
Trong 1 số trường hợp, các biện
pháp pháp đóng vai trò thay thế
hình phạt loại bỏ nguyên nhân, điều
kiện dẫn đến hành vi nguy hiểm cho
hội thể hiện nội dung cao cả
của nguyên tắc nhân đạo XHCN.
CHƯƠNG 4: CÁC BIỆN PHÁP PHÁP TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM
2015, BỔ SUNG NĂM 2017.
4.1.
Các biện pháp pháp chung điều kiện áp dụng.
Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì
biện pháp tư pháp được phân thành 2 nhóm đó là:
-
Biện pháp pháp đối với người phạm tội.
-
Biện pháp pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định:
Biện pháp pháp đối với người phạm tội bao gồm:
a)
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b)
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hi; buộc công khai xin lỗi;
c)
Bắt buộc chữa bệnh.
Khoản 2 Điều 46 Bộ luật nh sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định:
Biện pháp pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:
a)
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b)
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hi; buộc công khai xin lỗi;
c)
Khôi phục lại tình trạng ban đầu;
d)
Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy
ra.
Điều kiện áp dụng các biện pháp tư pháp chung được quy định trong Bộ
luật hình sự năm 2015 (bổ sung năm 2017) cụ thể như sau:
Tại Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: Tịch thu
vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.
Tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm biện pháp pháp được quy định
trong Bộ luật Hình sự, do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm
tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, mục đích sung vào ngân sách nhà nước hoặc
tiêu hủy.
Những đối tượng bị tịch thu bao gồm:
-
Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: những đối tượng này mang
tính chất vật chứng của vụ án, mang du vết tội phạm như khí, hung khí được sử
dụng để thực hiện tội xâm hi tính mạng, sức khỏe của người khác, xe máy, ô sử
dụng để mua bán trái phép chất ma túy… Đối với các vật chứng này, việc tịch thu
thể để sung ngân sách nhà nước nếu tiền, tài sản hoặc để tiêu hủy nếu không giá
trị hoặc không sử dụng được.
-
Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thấy có;
khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội: như vật hoặc tiền do phạm tội nhận hối lộ mà
có; hoặc nhà, xe ô được mua từ tiền nhận hối lộ hoặc khoản thu lợi bất chính từ việc
phạm một số tội trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại...
-
Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm u hành những vật thuộc hàng
cấm kinh doanh, tàng trữ như chất nổ, chất cháy, chất độc, các chất ma túy…
-
Đối với vật, tiền nêu trên bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái
phép thì không bị tịch thu trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản hợp pháp.
Đối với trường hợp vật, tin là tài sản của người khác, nếu người này lỗi
trong việc để cho người phạm tội sử dụng tài sản đóo việc thực hiện tội phạm t
thể bị tịch thu, quy định này dễ dẫn đến việc xác định lỗi của của chủ tài sản không
chính xác, ảnh hưởng tới việc xác định trách nhiệm hình sự của chủ tài sản.
Quy định của điều luật này còn chung chung, không quy định lỗi của chủ tài
sản trong việc để người phạm tội sử dụng tài sản của nh vào việc thực hiện tội
phạm. Trong trường hợp này cần phải phân biệt: nếu chủ tài sản cố ý để người phạm
tội sử dụng vật, tiền của mình vào việc thực hiện tội phạm thì vật, tiền đó phải bị tịch
thu người chủ tài sản thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm
người giúp sức. Nếu chủ tài sản chỉ lỗi vô ý để người phạm tội sử dụng vật, tiền
của mình vào việc thực hiện tội phạm thì việc tịch thu vật, tiền đó thuộc thẩm quyền
của cơ quan tiến hành ttụng, tùy thuộc vào mức độ lỗi của người có tài sản và tính
chất nguy hiểm của tội phạm do người phạm tội gây ra. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt
động của các cơ quan tiến hành tố tụng cho thấy, trường hợp phạm tội do vô ý thì
áp dụng tịch thu hay không vẫn là câu hỏi còn nhiều tranh cãi.
Tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: Trả lại tài
sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
1.
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người
quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định
do hành vi phạm tội gây ra.
2.
Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người
phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Như vậy, nghĩa vụ của người phạm tội là trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ
sở hữu hoặc người quản hợp pháp (tài sản này không thuộc loại Nhà nước cấm tàng
trữ, sử dụng, lưu hành); sửa chữa tài sản trong trường hợp làm hỏng hoặc bồi
thường thiệt hại vật chất trong trường hợp tài sản bị hư hỏng hoặc hủy hoại đến mức
không thể sửa chữa được… Nếu thiệt hại gây ra thiệt hại về sức khỏe thì người
phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Tại Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: Bắt buộc
chữa bệnh được áp dụng đối với các đối tượng sau:
-
Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy
định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứo kết luận giám
định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều
trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp này, sau khi điều trị, nếu khỏi bệnh thì người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho hội cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự hành vi của họ
không cấu thành tội phạm.
-
Đối với người phạm tội trong khi năng lực trách nhiệm hình sự nhưng
trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y
tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt
buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó thể phải chịu trách nhiệm hình sự
theo quy định chung. Điềuy tùy thuộc vào thời gian chữa bệnh cũng như tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà họ đã thực hiện.
-
Đối với người đang chấp hành hình phạt bị bệnh tới mức mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, căn cứ vào kết luận giám định
pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án thể quyết định đưa họ vào một sở
điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không do
khác để miễn chấp hành hình phạt, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
Thời gian bắt buộc chữa bnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
[5]
Như vậy, biện pháp bắt buộc chữa bệnh thể được áp dụng đối với bị can, bị
cáo và người đang chấp hành hình phạt tù trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình
sự, do Viện kiểm sát hoặc a án tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của pháp
luật.
Bên cạnh các biện pháp pháp này, Bộ luật Hình sự còn quy định biện pháp
pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi phạm tội
được quy định tại Điều 96. Việc quy định và áp dụng các biện pháp pháp nhằm
mục đích giáo dục hoặc để loại bỏ điều kiện phạm tội, ngăn ngừa hành vi nguy hiểm
cho hội. Các biện pháp pháp không được quy định cho từng loại tội phạm cụ thể
như hình phạt thể được áp dụng đồng bộ với hình phạt hoặc áp dụng cùng
hình phạt bổ sung, nhưng cũng thể áp dụng độc lập, không phụ thuộc vào hình
phạt. Người hoặc pháp nhân bị kết án thể phải chịu một hoặc nhiều các biện pháp
pháp khác nhau nng phải theo đúng thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Tóm lại, việc quy định các biện pháp pháp song song với hệ thống hình phạt
(hình phạt chính hình phạt bổ sung) làm cho chế tài luật hình sự cân đối hơn, hoàn
thiện hơn, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, việc áp
dụng các biện pháp pháp trong pháp luật hình sự cũng còn vướng mắc, bất cập như
đã nêu trên nên cần phải có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể.
4.2.
Các biện pháp riêng dành cho người chưa thành niên điều kiện áp dụng.
Các biện pháp pháp hình sự (riêng) áp dụng với người chưa thành niên phạm
tội những biện pháp cưỡng chế về hình sự của nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình
phạt, do Bộ luật Hình sự quy định được Tòa án áp dụng khi xét xử nếu thấy không
cần thiết phải áp dụng hình phạt, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của nh vi phạm tội, nhân thân người chưa thành niên yêu cầu của việc phòng
ngừa tội phạm.
Bên cạnh việc áp dụng những hình phạt, tùy theo từng trường hợp cụ thể cần
phải áp dụng biện pháp thay thế cho hình phạt vẫn đảm bảo yêu cầu công cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm; Tòa án áp dụng các biện pháp tu pháp riêng, hoặc
quan tiến hành tổ tụng hình sự áp dụng các biện nhán nhán chung với người chưa
thành niên phạm tội.
Các biện pháp pháp hình sự riêng chỉ áp dụng với những người chưa thành
niên phạm tội, có tính giáo dục nhằm mục đích phòng ngừa. Do đó ghi nhận hai biện
pháp tư pháp cụ thể là:
-
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
-
Đưa vào trường giáo dưỡng.
Người chưa thành niên những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đvề
nhân cách, chưa đầy đủ quyền lợi nghĩa vụ của một công dân.Pháp luật mỗi
quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên.
Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong
Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003,
Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử vi phạm hành chính một số văn
bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật này đều quy định tuổi ca
người chưa thành niên dưới 18 tuổi quy định riêng những chế đnh pháp luật đối
với người chưa thành niên trong từng tụng hình sự lĩnh vực cụ thể.
Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm về trẻ em. Theo bộ luật
dân sự m 2015, người chưa thành niên nêu Điều 21 được hiểu như sau: Người
chưa thành niên người chưa đủ 18 tuổi, chưa đầy đủ các quyền về nghĩa vụ pháp
lý như những người đã thành niên.
Điều kiện áp dụng các biện pháp pháp riêng dành cho người chưa
thành niên phạm tội theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 cụ thể như sau:
* Giáo dục tại xã, phường, thị trấn:
Theo khoàn 1 điều 95 của bộ luật này quy định. Đối với người chưa thành niên
phạm tội, Toà án thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp giáo dục tại xã,
phường, th trấn, cụ thể như sau: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít
nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của
Bộ luật này; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.
Người được quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban
nhân dân cấp tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây: Chấp
hành đầy đủ nghĩa vụ vhọc tập, lao động; Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình,
xã, phường, thị trấn; Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; c nghĩa vụ
theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Bộ luật này. Toà án có thể áp dụng biện pháp
giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành
niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng (Khoản 2, Điều 95).
Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những
nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của
chính quyền xã, phường, thị trấn tổ chức hội được Toà án giao trách nhiệm
(Khoản 3, Điều 95).
* Đưa vào trại giáo dưỡng:
Theo các khoản 1 2 Điều 96 quy định trong bộ luật hình sự năm 2015 quy
định người chưa thành niên dược đưa vào trại giáo dưỡng từ 01 năm đến 02 năm đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm
tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ
chức giáo dục kỷ luật chặt chẽ. người được giáo dục tại trường giáo dưỡng phải
chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự
quản lý, giáo dục của nhà trường.
Tại Điều 97 vchấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại trường giáo
dưỡng của bộ luật này nói rằng: Trong thời hạn này, nếu người được giáo dục tại
trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn, nhiều tiến bộ, thì theo đề
nghị của trường giáo dưỡng được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, Tòa án thể
quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng.
CHƯƠNG 5: NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP PHÁP TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.
5.1.
Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp pháp trong
bộ luật hình sự.
Áp dụng các hoạt động tư pháp trong quá trình xét xử vẫn chưa được coi trọng
một cách đúng mức khiến cho việc áp dụng chúng chưa đạt được hiệu quả cần thiết
mà công tác đấu tranh, phòng và chống tội phạm đặt ra.
Việc áp dụng các biện pháp pháp hình sự đôi khi còn bị lầm lẫn với các biện
pháp pháp khác như: Hành chính, dân sự hoặc với một số hình phạt trong pháp luật
hình sự (phạt tiền... không những ảnh hưởng đến hiệu quả của việc áp dụng, còn
không đạt được những mục đích cần thiết đã định ra.Chẳng hạn như nhiều trường hợp
người bị kết án phạm tội tham ô tài sản hội chủ nghĩa được miễn chấp hành hình
phạt, song lại chưa bồi thường cho Nhà nước, bởi hình phạt tù không phải chấp hành,
người đó không phải chịu sức ép để tự nguyện tiến chấp hành quyết định về bồi
thường thiệt hại, cần sự cưỡng chế của nhà nước. Khi đó, việc áp dụng
biệnpháp pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" kđược áp
dụng và thi hành một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Bản thân những biện pháp tư pháp hình sự, với tên gọi hiện nay "Tịch thu tiền
vật", "Trả lại tài sản" hoặc "Buộc công khai xin lỗi" không chi đưoc quy định trong
pháp luật hình sự, mà ngay trong pháp luật dân sự, pháp luật hình chính cũng ghi
nhận. Vậy việc phân biệt chúng với nhau như thế nào, để thế hiện đúng bản chất của
các biện pháp pháp nh sự, lại chưa hề được làm trong bất cứ văn bản quy phạm
o.
5.2.
Một số giải pháp hoàn thiện các biện pháp pháp trong bộ luật hình sự Việt
Nam.
Hoàn thiện pháp luật nói chung các biện pháp tu pháp hình sự nói riêng
được đòi hỏi từ nhu cầu hết sức khách quan tất yếu trong tiến trình phát triển
hội, góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây
dựng, hoàn thiện Nnước pháp quyền hội chủ nghĩa. Nhu cầu hoàn thiện chế định
các biện pháp tu pháp hình su trong giai đoạn hiện nay vai trò hết sức quan trọng
nhằm thúc đẩy pháp triển đất nước về mọi mặt. Đáp ứng đòi hỏi của quá trình xây
dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền công cuộc cải cách pháp tại Việt Nam.
Thứ nhất, Cải cách pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa hiệuquả
và xử lý kip thời, nghiêm minh các loại tội phạm.
Thứ hai, Cải cách pháp hình sự cần phải đi đôi với việc bảo đảm tôn
trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ ba, Bảo đảm sự công bằng, bình đẳng thực sự giữa các bên (bên buộc tội
và bên gỡ tội) trong suốt quá trình đi tìm sự thật của vụ án
Thứ tư, Cần phải xác định đúng đắn quyền, nghĩa vụ của các chủ thể ttụng
cho phù hợp với các chức năng bn của tố tụng hình sự, đề cao trách nhiệm củacác
cơ quan tiến hành tố tụng trước dân, trước Nhà nước
Thứ năm, Xây dựng từng bước nâng cao chất lượng hệ thống tố tụng hình
sựtheo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện.Công khai, minh bạch, dân
chủ, giản tiện, bảo đảm quyền tiếp cận, quyền thamgia của công dân luôn đòi hỏi
đối với quá trình thực hiện quyền lực nhà nước.
Thứ sáu, Bảo đảm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả các cơ chế kiểm tra, giám
sát hoạt động tố tụng hình sự
Thứ bảy, Cải ch pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu đổi mới chính sách
hình sự trong thời gian tới.
CHƯƠNG 6: NHỮNG DỤ VỀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÍCH BẢN ÁN
ĐỂ PHÂN TÍCH.
6.1.
dụ 1.
Anh A trên mặt giấy tờ đăng kinh doanh các mặt hàng như mỹ phẩm,quần áo
nhưng bên trong các thùng hàng mỹ phẩm, quần áo lại chứa đng các chất cấm nhằm
buôn bán, vận chuyển trái phép một số lượng lớn cây cần sa các chất kích thích gây
nghiện khác như heroin,cocain thuốc lắc,... bằng đường buôn lậu qua biên giới. Qua
hai tháng từ ngày 12/8/2020 công an đã theo dõi đối tượng A này đã triệt phá được
đường dây buôn lậu của anh A và các đồng phạm.
*
Trích bản án để phân tích hành vi vi phạm của anh A:
Theo Điều 47 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
1.
Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối
với:
a)
Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
b)
Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;
c)
Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
2.
Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không
tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
3.
Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người
phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.
Đối ợng bị tịch thu bao gồm :
-
Vật: Số lượng lớn các cây cần sa và các chất kích thích gây nghiện tương tự
như heroin,cocain, thuốc lắc,...
-
Số tiền phạm tội từ việc mua bán, trao đổi các chất cấm kể trên.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 t
tổng số lượng các chất cấm kể trên được tịch thu từ tội phạm Anh A các đồng
phạm sẽ bị cơ quan Công an tịch thu và tiêu hủy.
6.2.
dụ 2.
Trong quá trình thi công đào móng xây nhà thì anh A (chủ căn hộ đang được
thi công) đã cố ý gián tiếp làm tổn hại đến móng nhà của nhà anh B do hiềm khích
từ trước. vậy căn nhà 3 tầng của anh B (kế bên nhà A) đã đổ sập một cách bất ngờ.
Sự việc xảy ra bất ngờ vào 14h chiều khiến một người chết thiệt hại toàn bộ tài sản.
Vụ việc xảy ra vào chiều ngày 14/12/2021. Qua trường hợp trên sẽ anh A sẽ phải bồi
thường thiệt hại cho anh B.
*Trích bản án để phân tích tình huống trên:
Theo Điều 48 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi
1.
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản
hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do
hành vi phạm tội gây ra.
2.
Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội
phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 46 khoản 2 Điều 48 của Bộ Luật nh Sự 2015,
sửa đổi bổ sung 2017 quy định thì Anh A đã làm thiệt nặng nặng nề về người và của
của anh B. Cụ thể sập toàn bộ căn nhà một người chết. Như vậy, căn cứ theo quy
định của pháp luật thì anh A phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh B, đồng thời
phải sửa chữa nhà cho anh A theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó anh A cũng đã
gây ra thiệt hại về tinh thần (một người chết) buộc anh A phải công khai xin lỗi.
Điều 46. Các biện pháp pháp
1.
Biện pháp pháp đối với người phạm tội bao gồm:
a)
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b)
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
c)
Bắt buộc chữa bệnh.
2.
Biện pháp pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:
a)
Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b)
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
c)
Khôi phục lại nh trạng ban đầu;
d)
Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục
xảy ra.
6.3.
dụ 3.
Anh D người từng bị mắc bệnh tâm thần (triệu chứng nhẹ, vẫn nhận thức
được hành vi của mình). mắc một sốc lớn từ gia đình nên đã bộc phát bệnh nặng
tới mức không thể điều khiển được hành vi của bản thân nên đã cầm dao đặt trên bàn
kế bên đâm chết anh trai là Y tử vong tại chỗ.
*Trích bản án để phân tích hành vi trên của D:
Theo Điều 49 Bộ Luật Dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh
1.
Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội trong khi mắc bệnh quy định
tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặca án căn cứo kết luận giám định
pháp y, giám định pháp y tâm thần thể quyết định đưa họ vào một sở điều trị
chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
2.
Đối với người phạm tội trong khi năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi
bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần,
Tòa án có th quyết đnh đưa họ vào một sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa
bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
3.
Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định
pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án thể quyết định đưa họ vào một sở
điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không do
khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt .
Căn cứ theo khoản 2 Điều 49 Bộ Luật Hình Sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì
hành vi ca anh D hành vi gây nguy hiểm cho hội, giết người trong tình trạng
bộc phát bệnh mất khả năng nhận thức hành vi của bản thân đúng hay sai. Như vậy,
căn cứ vào hành vi nhận thức của anh D đối chứng khoản 2 điều 49 thì sẽ phải dựa
vào kết quả giám định của pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tòa án sẽ phải đưa ra
quyết định buộc anh D phải đi chữa bệnh tâm thần. Bên cạnh đó, sau khi anh D hết
bệnh tiếp tục phải chịu trách nhiệm hình sự vì tội giết người.
6.4.
dụ 4.
A một căn nhà không thấy ông B (em trai A) chưa nhà ở. Sau đó
A đã cho ông B căn nhà đó nói với ông B khi cần A sã lấy lại nhà.
Nhưng ông B đã ủ mưu chiếm đoạt căn nhà, sau khi biết được âm mưu của ông B thì
A đã đòi lấy lại nhà hông cho ông B ở. Trong lúc đòi lại nhà ông B đã dùng nhng
lời lẽ knghe để mạch sát, xúc phạm dùng gậy đánhbà A bị thương; đập hết đồ
như ti vi, tủ lạnh, máy giặc, ni cơm điện… A mua trước đó cho căn nhà nay.
*Trích bản án để phân tích hành vi của tình huống trên:
Theo Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định:
Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
1.
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản
hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vậtchất đã được xác định do
hành vi phạm tội gây ra.
2.
Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, tòa án buộc người phạm tội
phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Căn cứ theo Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì ông
B phải bồi thường về tài sản cho A khi đp đổ đồ trả tiền thuốc khi đánh cũng
như công khai xin lỗi khi xác phạm bà A.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, phân tích luận cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp
pháp hình sự, bước đầu luận văn đã làm sáng tỏ một vài vấn đề về khía cạnh khoa học
pháp cũng n thực tiễn áp dụng và thi hành của các biện pháp tư pháp hình sự; từ
đó thể đưa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các biện pháp pháp
hình sự.
Khoa học pháp nói chung pháp luật hình sự, tổ tụng hình sự thi hành
án hình sự về các biện pháp pháp hình sự nói riêng đã phần nào đề cập đến các vấn
đề nóng bỏng hiện nay, đưa ra những quy định chung và trình tự, thủ tục áp dụng các
biện pháp pháp hình sự nhưng vẫn còn rất nhiều những vướng mắc hạn chế. Tội
phạm phạm tội hiện nay càng có nhiều thủ đoạn, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm
trọng gây nguy hiểm đến mức báo động cho toàn hội đang nguy gia
tăng. Việc thể áp dụng các biện pháp pháp có hiệu quả phần nào có thể đáp ứng
được nhu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm trong xã hội trên cả nước.
Tình hình áp dụng thi nh các biện pháp pháp hình sự mặc đã đạt
được những hiệu quả nhất định, góp phần hạn chế tỷ lệ người phạm tội nói chung
người chưa thành niên phạm tội nói riêng, nhưng vẫn cần được quan tâm sát sao
quy định một cách cụ thể, áp dụng một cách linh hoạt hệ thống để mang lại hiệu
quả tốt nhất.
Tiến hành thực thi pháp luật nói riêng áp dụng, thi hành c biện pháp
pháp hình sự nói riêng cần phải sự đồng bộ, hệ thống hóa các ngành luật phối
hợp giữa các quan chức năng, quan hữu quan quần chúng nhân dân - các chủ
thể đấu tranh, phòng và chống tội phạm cả nước. Góp phần nhiều vào công cuộc bảo
vệ, xây dựng và đổi mới đất nước.

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP THEO QUY ĐỊNH
CỦA BLHS NĂM 2015, SỬA ĐỔI NĂM 2017
GIẢNG VIÊN : Th.s Nguyễn Thuận An MÃ LỚP : 211LAW10128
NHÓM SV THỰC HIỆN: Nhóm 15 TP. HỒ CHÍ MINH - 2021 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU. ........................................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG CƠ BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ
PHÁP QUY ĐỊNH TRONG BLHS VIỆT NAM.......................................................... 5
1.1. Các khái niệm về biện pháp tư pháp. ............................................................................ 5
1.2. Các đặc điểm của biện pháp tư pháp............................................................................. 5
1.3. Vai trò và ý nghĩa của biện pháp tư pháp. .................................................................... 6
CHƯƠNG 2. PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP TƯ PHÁP VỚI BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
HÀNH CHÍNH. .............................................................................................................. 7
2.1. Điểm giống nhau. ......................................................................................................... 7
2.2. Điểm khác nhau. ........................................................................................................... 7
CHƯƠNG 3. PHÂN BIỆT ĐIỂM GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA BIỆN
PHÁP TƯ PHÁP VÀ HÌNH PHẠT. ............................................................................. 9
3.1. Điểm giống nhau. ......................................................................................................... 9
3.2. Điểm khác nhau. ........................................................................................................... 9
CHƯƠNG 4: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015,
BỔ SUNG NĂM 2017. ................................................................................................. 11
4.1. Các biện pháp tư pháp chung và điều kiện áp dụng. ............................................... 11
4.2. Các biện pháp riêng dành cho người chưa thành niên và điều kiện áp dụng. ......... 14
CHƯƠNG 5: NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.
..................................................................................... 15
5.1. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp trong bộ luật
hình sự. ........................................................................................................................ 15
5.2. Một số giải pháp hoàn thiện các biện pháp tư pháp trong bộ luật hình sự Việt Nam. 16
CHƯƠNG 6: NHỮNG VÍ DỤ VỀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ TRÍCH BẢN ÁN ĐỂ
PHÂN TÍCH. ................................................................................................................ 17
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO. .................................................................................................... 21
BẢNG DANH TỪ GHI TẮT CQTHTT LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu, và thực hiện đề tài nghiên cứu có sự hướng
dẫn của giảng viên Nguyễn Thuận An. Cho phép nhóm 15 xin gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến với cô, vì trong thời gian qua đã rất tâm quyết trong việc giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm của học phần môn Pháp Luật Đại Cương.
Những kiến thức, giá trị sâu sắc của môn học mang lại sẽ giúp ích cho hành trang của chúng em trong tương lai.
Xin chân t hành cảm ơn cô và chúc cô luôn đạt được nhiều thành công trong cuộc sống! LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có nhiều nhu cầu cấp thiết
hơn việc ăn, ở, mặc… mà còn giải trí, giao lưu xã hội. Sự mở rộng một cách đa dạng
các mối quan hệ hiện nay không chỉ mang đến những thành tựu về mặt khoa học xã
hội, kinh tế - chính trị, đồng thời lại mang đến những mặt tiêu cực, lối sống cực đoan,
và kết quả tất yếu là tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp. Trước tình hình
thực tế đó, Nhà nước đã áp dụng rất nhiều các chế tài trong pháp luật hình sự để kiểm
soát và hạn chế tội phạm, trong đó không thể không kể đến các biện pháp tư pháp hình sự.
Tại Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự vào thực tiễn đang
đặt ra rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và giải đáp để có thể hoàn thiện hệ thống
pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng
các chế tài hình sự còn chưa mang lại những hiệu quả thiết thực đối với phòng chống
tội phạm. Việc xem xét hành vi phạm tội và quyết định hình phạt hay biện pháp tư
pháp đối với người phạm tội, nhất là người chưa thành niên phạm tội cần được quan
tâm đến một cách sát sao hơn.
Vì những lý do trên cũng như quan tâm đến xu hướng pháp luật hình sự thế
giới mà Đảng và Nhà nước ta có những quyết sách kịp thời trong cải cách hệ thống tư
pháp và hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự là rất cần thiết. Tồn bộ
những phân tích và dẫn chứng trong việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự đều trên
cơ sở thực tiễn, nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như cải cách tư pháp
làm cho việc nghiên cứu đề tài "Các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự
Việt Nam"
trong thời điểm hiện nay đạt được hiệu quả cao. Thông qua đó, việc
nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta có cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc áp dụng
và thực thi có hiệu quả các biện pháp tư pháp.
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG CƠ BẢN VỀ CÁC BIỆN PHÁP
TƯ PHÁP QUY ĐỊNH TRONG BLHS VIỆT NAM.

1. 1. Các khái niệm về biện pháp tư pháp.
Khi nghiên cứu đề tài về các biện pháp tư pháp hình sự, việc tìm hiểu và xem
xét những khái niệm cơ bản là hết sức cần thiết. Qua việc tìm hiểu, chúng tôi có thể
đưa ra khái niệm chung nhất về biện pháp tư pháp như sau:
Theo Thuyết Tam Quyền Phân Lập (do Lôckơ, Môngtexkiơ, Ruxô sáng lập), tư
pháp là một trong ba quyền của quyền lực nhà nước gồm: lập pháp (làm pháp luật và
ban hành pháp luật), hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp (giữ gìn, bảo vệ pháp
luật, và xử lí những hành vi vi phạm pháp luật). Tư pháp có mục đích là trừng trị tội
phạm cũng như giải quyết xung đột giữa các cá nhân, bảo đảm lòng tin của nhân dân
và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảo đảm sự an toàn pháp lí
cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xã hội.
Khoa học luật hình sự Việt Nam có một số quan điểm coi các biện pháp tư
pháp là: Biện pháp tư pháp hình sự không phải là hình phạt, chỉ có tính chất hành
chính, dân sự nhưng được quyết định ngay trong vụ án hình sự. Ngoài ra các biện
pháp được áp dụng chung đối với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. "Biện pháp tư pháp hình
sự là các biện pháp hình sự được Bộ luật Hình sự quy định, do các cơ quan tư pháp áp
dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt".
Như vậy, tổng kết các quan điểm khác nhau về khái niệm các biện pháp tư
pháp, đồng thời căn cứ vào quá trình lập pháp, xây dựng hệ thống các quy phạm pháp
luật về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam, chúng ta có thể đưa
ra khái niệm khoa học về các biện pháp tư pháp hình sự: Biện pháp tư pháp là biện
pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do
pháp luật hình sự quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ
vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm
hạn chế quyền, tự do của người đó, hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt.

1.2. Các đặc điểm của biện pháp tư pháp.
Từ những khái niệm cơ bản chung nhất và những quan điểm về khái niệm của
biện pháp tư pháp nêu trên, có thể thấy biện pháp tư pháp là những cưỡng chế có mức
độ ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt. Song, các biện pháp tư pháp có những đặc
điểm và dấu hiệu cơ bản sau:
Đặc điểm thứ nhất: biện pháp tư pháp là một dạng cưỡng chế hình sự của Nhà
nước. Đặc điểm này thể hiện ở tính quyền lực của Nhà nước khi áp dụng các biện
pháp tư pháp. Nhà nước đơn phương sử dụng quyền lực để áp đặt ý chí, buộc phải
tuân thủ thực hiện, nếu đối tượng bị áp dụng không thực hiện, Nhà nước sẽ sử dụng
biện pháp cưỡng chế để bắt buộc phải thực hiện.
Đặc điểm thứ hai: các biện pháp tư pháp chỉ được quy định trong Bộ luật hình
sư. Do tính chất của các biện pháp tư pháp là một dạng cưỡng chế hình sự, có thể làm
hạn chế quyền và lợi ích của đối tượng bị áp dụng nên chỉ có Bộ luật hình sự là văn
bản pháp luật duy nhất quy định về các biện pháp tư pháp.
Đặc điểm thứ ba: biện pháp tư pháp ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt. Nếu
như hình phạt có thể hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích của người phạm tội
như quyền tự do, quyền sở hữu, thậm chí kể cả quyền sống thì các biện pháp tư pháp
chỉ tước bỏ các lợi ích mang tính vật chất hoặc chỉ mang tính hỗ trợ và thay thế hình
phạt như bắt buộc chữa bệnh hay giáo dục tại trường giáo dưỡng, nên ít nghiêm khắc
hơn. Mặt khác, nếu như hình phạt để lại án tích thì việc áp dụng các biện pháp tư pháp
không để lại án tích. Vì vậy, có thể nói đây cũng là biểu hiện minh chứng cho tính ít
nghiêm khắc của biện pháp tư pháp so với hình phạt trong luật hình sự.
Đặc điểm thứ tư: thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp bao gồm các cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn của tố tụng hình sự. Biện
pháp tư pháp có thể được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự. Theo
đó, trong giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án hình sự, thẩm quyền áp dụng biện
pháp tư pháp thuộc về tòa án nhân dân; trong giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố,
thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng khác.
Đặc điểm này cũng cho thấy, đây là điểm khác biệt giữa biện pháp tư pháp so với hình
phạt trong luật hình sự (do tòa án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước
áp dụng hình phạt đối người phạm tội).
1.3. Vai trò và ý nghĩa của biện pháp tư pháp.
Các biện pháp tư pháp hình sự xét về bản chất là những biện pháp cưỡng chế
của Nhà nước do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền (Viện kiểm sát và
Thi án) áp dụng đối với người phạm tội và những người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội trong tình trạng khơng có năng lực trách nhiệm hình sự do bị bệnh tâm thần
hoặc bị một bệnh lý khác đã mất đi khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của
mình. Với hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự đa dạng, có tính chất
nghiêm khắc khác nhau, công dụng khác nhau thì việc xử lý hình sự càng chính xác
các chi tiết, hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và nạn nhân càng được xem
xét một cách kỹ càng trước khi quyết định hình phạt và do đó, hiệu quả của việc áp
dụng biện pháp tư pháp sẽ phần nào được nâng cao.
Có thể nói, việc tồn tại hệ thống các biện pháp tư pháp song hành với hệ thống
hình phạt (chính và bổ sung) làm cho hệ thống chế tài cân đối hơn, hoàn thiện và hiệu
quả hơn, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm phù hợp xu hướng
phát triển của đất nước cũng như hội nhập quốc tế. Thêm vào đó, các biện pháp tư
pháp hình sự được áp dụng với người bị kết án sẽ củng cố, hỗ trợ và tăng cường hiệu
quả việc áp dụng hình phạt; khiến cho việc tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án
trở nên dễ dàng hơn, tránh được nguy cơ tái phạm, tái phạm nguy hiểm và góp phần
giúp hoạt động tư pháp trơn tru hiện quả hơn.
Mặt khác, với những trường hợp chưa đủ tính chất nghiêm trọng để có thể áp
dụng hệ thống hình phạt, thì các biện pháp tư pháp hình sự chính là cứu cánh để giải
quyết tình hình tội phạm, không bỏ sót người phạm tội, vẫn có chế tài áp dụng với họ,
nhưng tương xứng về cả nội dung và tính chất nghiêm khắc đối dối với hành vi phạm tội mà họ gây ra.
Như vậy, có thể thấy rằng các biện pháp tư pháp hình sự đã góp phần làm
phong phú hệ thống chế tài hình sự, thúc đẩy chức năng bảo vệ, phòng ngừa và giáo
dục của pháp luật hình sự, tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh và phòng chống tội phạm
một cách hiệu quả. Chính vì vậy, vai trò của các biện pháp tư pháp hình sự trong luật
hình sự nói riêng và trong pháp luật nói chung là hết sức quan trọng và cần thiết.
CHƯƠNG 2. PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP TƯ PHÁP VỚI BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ HÀNH CHÍNH.
2.1. Điểm giống nhau.
Điểm thứ nhất, có thể do các loại cơ quan khác nhau áp dụng theo thủ tục hành
chính. Nhưng nhiều nhất là những cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng đảm bảo
pháp chế và kỷ luật trong hành chính như Toà án, Cơ quan thực hiện tố tụng, Cơ quan
điều tra, Viện kiểm soát,…
Điểm thứ hai, cả hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự đều là hai chế định
quan trọng của luật hình sự Việt Nam và chỉ xuất hiện khi có cơ sở nhất định do pháp
luật hình sự quy định là: Việc phạm tội của thể nhân (là con người cụ thể, có năng lực
trách nhiệm hình sự, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có lỗi trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị luật hình sự cấm). Chỉ khi nào có tội phạm và xác
định được trách nhiệm hình sự thì mới có thể áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư
pháp hình sự tương ứng cụ thể nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội nói chung và người bị kết án nói riêng.
Điểm thứ ba, theo pháp luật hình sự Việt Nam, cả hình phạt và biện pháp tư
pháp hình sự đều chỉ mang tính chất cá nhân và chỉ được áp dụng với thể nhân phạm
tội. Người phạm tội hoặc người bị kết án phải thi hành Hình phạt hoặc áp dụng Biện
pháp tư pháp hình sự tương xứng với hành vi phạm tội, còn những người thân đều
không phải chịu trách nhiệm hình sự về lỗi mà người đó đã gây ra mà chỉ có thể bị
liên đới hoặc hỗ trợ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có lỗi gây ra.
Điểm thứ tư, việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự và các biện pháp cưỡng
chế hành chính đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối với người bị áp dụng
ở các mức độ khác nhau. Bản thân người phạm tội phải chịu sự trừng phạt của pháp
luật bằng các chế tài pháp lý (hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác - hình sự,
hành chính, dân sự...) đồng thời nhằm răn đe cộng đồng tránh việc phạm tội hoặc tái
phạm tội của người đã từng bị kết án.
2.2. Điểm khác nhau.
Bảng 1. So sánh điểm khác nhau giữa biện pháp tư pháp và biện pháp cưỡng chế hành chính. Tiêu Biện pháp tư pháp
Biện pháp cưỡng chế hành chính chí Khái
Là biện pháp có tính cưỡng chế do Bộ Là tổng hợp các biện pháp do luật hành niệm
luật hình sự quy định, được áp dụng đối chính quy định để tác động một cách trực khoa
với người phạm tội hoặc người có hành tiếp hay gián tiếp lên tâm lí tư tưởng hành học
vi nguy hiểm cho xã hội khi không có vi của cá nhân hay tổ chức, buộc các chủ
năng lực trách nhiệm hình sự. Biện pháp thể đó phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lí
tư pháp có tác dụng hỗ trợ thay thế hình nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn
phạt hoặc là biện pháp có tính chất hoặc xử lí hành vi trái pháp luật, đảm bảo
phòng ngừa, ngăn ngừa hành vi nguy
trật tự và kỷ luật trong hoạt động hành
hiểm cho xã hội có thể tiếp tục xảy ra. chính. Hình
Gồm biện pháp tư pháp đối với người
Các biện pháp cưỡng chế hành chính bao
thức áp phạm tội và biện pháp tư pháp đối với gồm: dụng
pháp nhân thương mại phạm tội.
- Biện pháp phòng ngừa cưỡng chế hành
Biện pháp tư pháp đối với người phạm
chính gồm 2 dạng là các biện pháp mang tội bao gồm:
tính chất hạn chế quyền con người và các
biện pháp mang tính chất bắt buộc trực
- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.
tiếp cá nhân hoặc tổ chức thực hiện.
- Biện pháp ngăn chặn và xủ lý vi phạm
- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
như: Tạm giữ đối với tang vật và các
thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi. phương tiện hành chính; thực hiện việc - Bắt buộc chữa bệnh.
tạm giữ người theo các thủ tục hành
chính; quyền khám xét người khi thấy
Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân người đó khả nghi;…
thương mại bao gồm:
- Biện pháp mang tính trách nhiệm hành
- Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm. chính.
- Các biện pháp hành chính khác gồm:
- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào
trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo
- Khôi phục hiện trạng ban đầu.
dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh.
- Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc
phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Mục
Biện pháp tư pháp không có mục đích Ngăn chặn các hành vi trái pháp luật, đích
tước đoạt mà chỉ nhằm hạn chế quyền tự phòng ngừa những cá nhân, tố chất có
do của người phạm tội. Trong một số hành vi trái pháp luật hoặc để xử lý các
trường hợp, các biện pháp tư pháp đóng hành vi của cá nhân hoặc tổ chức có hành
vai trò thay thế hình phạt loại bỏ nguyên vi trái pháp luật, từ việc cưỡng chế hành
nhân, điều kiện dẫn đến hành vi chính để mang đến và đảm bảo trật tự và
nguy hiểm cho xã hội và thể hiện kỷ luật trong hoạt động hành chính của
nội dung cao cả của nguyên tắc nhân nhà nước, các cấp chính quyền đúng với
đạo của xã hội chủ nghĩa.
quy định của pháp luật. Đối
Biện pháp tư pháp áp dụng đối với Cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ tượng
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho chức nước ngoài bị xử phạt vi phạm hành áp
xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình chính đã quá thời hạn chấp hành hoặc quá dụng phạt.
thời hạn hoãn chấp hành quyết định xử lí
vi phạm hành chính hoặc đã quá thời hạn
chấp hành quyết định áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính
gây ra mà không tự nguyện chấp hành. Thời
Áp dụng trong giai đoạn điều tra xét xử.
Được áp dụng khi có quyết định cưỡng điểm
chế bằng văn bản của người có thẩm áp quyền. dụng
Cách Trong một số trường hợp, các biện pháp
Việc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng áp
tư pháp đóng vai trò thay thế hình phạt chế phải căn cứ vào nội dung, tính chất, dụng
loại bỏ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến mức độ, điều kiện thi hành quyết định
hành vi nguy hiểm cho xã hội và thể cưỡng chế và tình hình thực tế ở địa
hiện nội dung cao cả của nguyên tắc
nhân đạo xã hội chủ nghĩa. phương.
Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng
chế quyết định áp dụng các biện pháp
cưỡng chế theo thứ tự quy định tại Khoản
2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành
chính. Chỉ áp dụng các biện pháp tiếp
theo khi không thể áp dụng các biện pháp
cưỡng chế đó hoặc đã áp dụng nhưng
chưa thu đủ số tiền bị cưỡng chế theo
quyết định cưỡng chế.
CHƯƠNG 3. PHÂN BIỆT ĐIỂM GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP VÀ HÌNH PHẠT.

3.1. Điểm giống nhau.
Đều là là biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLHS do chủ thể có thẩm
quyền áp dụng đối với những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
3.2. Điểm khác nhau.
Bảng 2. So sánh sự khác nhau giữa hình phạt và biện pháp tư pháp. Tiêu chí Hình phạt Biện pháp tư pháp
Biện pháp tư pháp (BPTP) là biện
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm pháp cưỡng chế nhà nước được quy
khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ
định trong Bộ luật hình sự (BLHS),
luật hình sự, do Tòa án quyết định áp
dụng đối với người hoặc
do cơ quan tiến hành tố tụng pháp nhân thương Khái niệm
mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế (CQTHTT) áp dụng đối với người
quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
mại đó.Điều 30 Bộ luật hình sự 2015 (sửa hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình
đổi, bổ sung 2017).
phạt.Điều 46 Bộ luật hình sự 2015
(sửa đổi, bổ sung 2017).
Hình thức áp Hình phạt bao gồm hình phạt hình phạt đối Biện dụng
pháp tư pháp gồm BPTP đối
với người phạm tội và hình phạt đối với pháp với người phạm tội và BPTP đối
nhân thương mại phạm tội.
với pháp nhân thương mại phạm
* Các hình phạt đối với người phạm tội
tội* Biện pháp tư pháp đối với
Hình phạt chính bao gồm:
người phạm tội bao gồm: - Cảnh cáo; - Phạt tiền;
-Tịch thu vật, tiền trực tiếp -
Cải tạo không giam giữ;
liên quan đến tội phạm; - Trục xuất;
-Trả lại tài sản, sửa chữa - Tù có thời hạn;
hoặc bồi thường thiệt hại; -Tù chung thân; buộc công khai xin lỗi; - Tử hình.
Hình phạt bổ sung bao gồm: -Bắt buộc chữa bệnh.
-Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành
nghề hoặc làm công việc nhất định; -Cấm cư trú; -Quản chế;
-Tước một số quyền công dân; -Tịch
Biện pháp tư pháp đối với pháp thu tài sản;
nhân thương mại phạm tội bao
-Phạt tiền, khi không áp dụng là hình gồm: phạt chính;
-Trục xuất, khi không áp dụng là hình
-Tịch thu vật, tiền trực tiếp phạt chính.
liên quan đến tội phạm;
* Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
-Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại;
Hình phạt chính bao gồm: buộc công khai xin lỗi; -Phạt tiền;
-Đình chỉ hoạt động có thời hạn;
-Khôi phục lại tình trạng ban
-Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. đầu;
-Thực hiện một số biện pháp
Hình phạt bổ sung bao gồm: nhằm khắc phục, ngăn chặn
-Cấm kinh doanh, cấm hoạt động
hậu quả tiếp tục xảy ra.
trong một số lĩnh vực nhất định; -Cấm huy động vốn;
-Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Biện pháp tư pháp không có mục đích
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người,
tước đoạt mà chỉ nhằm hạn chế
quyền tự do của người phạm tội.
pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo Trong 1 số trường hợp, các
dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy biện Mục
pháp tư pháp đóng vai trò thay đích
tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội thế hình phạt loại bỏ nguyên
mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại nhân, điều kiện dẫn đến hành vi
khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu nguy hiểm cho xã hội và thể hiện tranh chống tội phạm.
nội dung cao cả của nguyên tắc
nhân đạo xã hội chủ nghĩa.
Chỉ có thể áp dụng đối với người có có hành
Biện pháp tư pháp áp dụng đối với Đối
vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm đã tượng áp
người thực hiện hành vi nguy hiểm thực hiện dụng
gây thiệt hại đến lợi ích của nhà
cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay
nước, tập thể, lợi ích chính đáng của công thế hình phạt. dân trong xã hội.
Người phạm tội bị áp dụng BPTP
chỉ mang án tích khi bị áp dụng
Người phạm tội bị tước bỏ hoặc hạn chế Hậu quả
hình phạt. Trường hợp người phạm
quyền, lợi ích và phải mang án tích trong thời pháp lý
tội được miễn hình phạt nhưng bị
hạn nhất định theo quy định của pháp luật.
áp dụng BPTP thì không phải mang án tích.
Thẩm quyền Do tòa án áp dụng.
Do Tòa án hoặc CQTHTT khác áp áp dụng
dụng tùy thuộc vào giai đoạn tiến
hành tố tụng, mà theo đó, chỉ BPTP
buộc công khai xin lỗi người bị
hại và biện pháp thay thế hình phạt
đối với người chưa thành niên phạm
tội là do chủ thể duy nhất là tòa án
có quyền áp dụng, còn các BPTP
khác có thể do Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng
trong tất cả các giai đoạn của quá
trình tố tụng hình sự (TTHS).
– Áp dụng trong giai đoạn xét xử. Thời Áp dụng trong giai đoạn
điểm áp – Hình phạt chính được áp dụng độc lập, hình điều tra, xét xử dụng .
phạt bổ sung được áp dụng kèm hình phạt chính
Trong 1 số trường hợp, các biện
pháp tư pháp đóng vai trò thay thế
– Hình phạt chính được áp dụng độc lập
hình phạt loại bỏ nguyên nhân, điều
Cách áp dụng – Hình phạt bổ sung được áp dụng kèm hình phạt chính kiện
dẫn đến hành vi nguy hiểm cho
xã hội và thể hiện nội dung cao cả
của nguyên tắc nhân đạo XHCN.
CHƯƠNG 4: CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM
2015, BỔ SUNG NĂM 2017.

4.1. Các biện pháp tư pháp chung và điều kiện áp dụng.
Theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì
biện pháp tư pháp được phân thành 2 nhóm đó là:
- Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội.
- Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định:
Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm:
a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
c) Bắt buộc chữa bệnh.
Và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định:
Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:
a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
c) Khôi phục lại tình trạng ban đầu;
d) Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.
Điều kiện áp dụng các biện pháp tư pháp chung được quy định trong Bộ
luật hình sự năm 2015 (bổ sung năm 2017) cụ thể như sau:
Tại Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: Tịch thu
vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.
Tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm là biện pháp tư pháp được quy định
trong Bộ luật Hình sự, do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm
tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, mục đích sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy.
Những đối tượng bị tịch thu bao gồm:
- Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: những đối tượng này mang
tính chất là vật chứng của vụ án, mang dấu vết tội phạm như vũ khí, hung khí được sử
dụng để thực hiện tội xâm hại tính mạng, sức khỏe của người khác, là xe máy, ô tô sử
dụng để mua bán trái phép chất ma túy… Đối với các vật chứng này, việc tịch thu có
thể để sung ngân sách nhà nước nếu là tiền, tài sản hoặc để tiêu hủy nếu không có giá
trị hoặc không sử dụng được.
- Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội: như vật hoặc tiền do phạm tội nhận hối lộ mà
có; hoặc nhà, xe ô tô được mua từ tiền nhận hối lộ hoặc khoản thu lợi bất chính từ việc
phạm một số tội trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại...
- Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành là những vật thuộc hàng
cấm kinh doanh, tàng trữ như chất nổ, chất cháy, chất độc, các chất ma túy…
- Đối với vật, tiền nêu trên mà bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái
phép thì không bị tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
Đối với trường hợp vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi
trong việc để cho người phạm tội sử dụng tài sản đó vào việc thực hiện tội phạm thì có
thể bị tịch thu, quy định này dễ dẫn đến việc xác định lỗi của của chủ tài sản không
chính xác, ảnh hưởng tới việc xác định trách nhiệm hình sự của chủ tài sản.
Quy định của điều luật này còn chung chung, không quy định rõ lỗi của chủ tài
sản trong việc để người phạm tội sử dụng tài sản của mình vào việc thực hiện tội
phạm. Trong trường hợp này cần phải phân biệt: nếu chủ tài sản cố ý để người phạm
tội sử dụng vật, tiền của mình vào việc thực hiện tội phạm thì vật, tiền đó phải bị tịch
thu và người chủ tài sản có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm
là người giúp sức. Nếu chủ tài sản chỉ có lỗi vô ý để người phạm tội sử dụng vật, tiền
của mình vào việc thực hiện tội phạm thì việc tịch thu vật, tiền đó thuộc thẩm quyền
của cơ quan tiến hành tố tụng, tùy thuộc vào mức độ lỗi của người có tài sản và tính
chất nguy hiểm của tội phạm do người phạm tội gây ra. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt
động của các cơ quan tiến hành tố tụng cho thấy, trường hợp phạm tội do vô ý thì có
áp dụng tịch thu hay không vẫn là câu hỏi còn nhiều tranh cãi.
Tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: Trả lại tài
sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người
quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định
do hành vi phạm tội gây ra.
2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người
phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Như vậy, nghĩa vụ của người phạm tội là trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (tài sản này không thuộc loại Nhà nước cấm tàng
trữ, sử dụng, lưu hành); sửa chữa tài sản trong trường hợp làm hư hỏng hoặc bồi
thường thiệt hại vật chất trong trường hợp tài sản bị hư hỏng hoặc hủy hoại đến mức
không thể sửa chữa được… Nếu thiệt hại gây ra là thiệt hại về sức khỏe thì người
phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Tại Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định: Bắt buộc
chữa bệnh được áp dụng đối với các đối tượng sau:
- Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy
định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám
định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều
trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp này, sau khi điều trị, nếu khỏi bệnh thì người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi của họ
không cấu thành tội phạm.
- Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng
trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y
tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt
buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
theo quy định chung. Điều này tùy thuộc vào thời gian chữa bệnh cũng như tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà họ đã thực hiện.
- Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, căn cứ vào kết luận giám định
pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở
điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do
khác để miễn chấp hành hình phạt, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. [5]
Như vậy, biện pháp bắt buộc chữa bệnh có thể được áp dụng đối với bị can, bị
cáo và người đang chấp hành hình phạt tù trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình
sự, do Viện kiểm sát hoặc Tòa án tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Bên cạnh các biện pháp tư pháp này, Bộ luật Hình sự còn quy định biện pháp
tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi phạm tội
được quy định tại Điều 96. Việc quy định và áp dụng các biện pháp tư pháp nhằm
mục đích giáo dục hoặc để loại bỏ điều kiện phạm tội, ngăn ngừa hành vi nguy hiểm
cho xã hội. Các biện pháp tư pháp không được quy định cho từng loại tội phạm cụ thể
như hình phạt mà nó có thể được áp dụng đồng bộ với hình phạt hoặc áp dụng cùng
hình phạt bổ sung, nhưng cũng có thể áp dụng độc lập, không phụ thuộc vào hình
phạt. Người hoặc pháp nhân bị kết án có thể phải chịu một hoặc nhiều các biện pháp
tư pháp khác nhau nhưng phải theo đúng thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tóm lại, việc quy định các biện pháp tư pháp song song với hệ thống hình phạt
(hình phạt chính và hình phạt bổ sung) làm cho chế tài luật hình sự cân đối hơn, hoàn
thiện hơn, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, việc áp
dụng các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự cũng còn vướng mắc, bất cập như
đã nêu trên nên cần phải có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể.
4.2. Các biện pháp riêng dành cho người chưa thành niên và điều kiện áp dụng.
Các biện pháp tư pháp hình sự (riêng) áp dụng với người chưa thành niên phạm
tội là những biện pháp cưỡng chế về hình sự của nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình
phạt, do Bộ luật Hình sự quy định và được Tòa án áp dụng khi xét xử nếu thấy không
cần thiết phải áp dụng hình phạt, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, nhân thân người chưa thành niên và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
Bên cạnh việc áp dụng những hình phạt, tùy theo từng trường hợp cụ thể cần
phải áp dụng biện pháp thay thế cho hình phạt mà vẫn đảm bảo yêu cầu công cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm; Tòa án áp dụng các biện pháp tu pháp riêng, hoặc cơ
quan tiến hành tổ tụng hình sự áp dụng các biện nhán tư nhán chung với người chưa thành niên phạm tội.
Các biện pháp tư pháp hình sự riêng chỉ áp dụng với những người chưa thành
niên phạm tội, có tính giáo dục nhằm mục đích phòng ngừa. Do đó ghi nhận hai biện
pháp tư pháp cụ thể là:
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
- Đưa vào trường giáo dưỡng.
Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về
nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân.Pháp luật ở mỗi
quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên.
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong
Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003,
Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn
bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật này đều quy định tuổi của
người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối
với người chưa thành niên trong từng tụng hình sự lĩnh vực cụ thể.
Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm về trẻ em. Theo bộ luật
dân sự năm 2015, người chưa thành niên nêu ở Điều 21 được hiểu như sau: Người
chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, chưa có đầy đủ các quyền về nghĩa vụ pháp
lý như những người đã thành niên.
Điều kiện áp dụng các biện pháp tư pháp riêng dành cho người chưa
thành niên phạm tội theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 cụ thể như sau:
* Giáo dục tại xã, phường, thị trấn:
Theo khoàn 1 điều 95 của bộ luật này quy định. Đối với người chưa thành niên
phạm tội, Toà án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn, cụ thể như sau: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít
nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của
Bộ luật này; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này.
Người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban
nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây: Chấp
hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình,
xã, phường, thị trấn; Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; Các nghĩa vụ
theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Bộ luật này. Toà án có thể áp dụng biện pháp
giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành
niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng (Khoản 2, Điều 95).
Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những
nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của
chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Toà án giao trách nhiệm (Khoản 3, Điều 95).
* Đưa vào trại giáo dưỡng:
Theo các khoản 1 và 2 Điều 96 quy định trong bộ luật hình sự năm 2015 quy
định người chưa thành niên dược đưa vào trại giáo dưỡng từ 01 năm đến 02 năm đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm
tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ
chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. Và người được giáo dục tại trường giáo dưỡng phải
chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự
quản lý, giáo dục của nhà trường.
Tại Điều 97 về chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại trường giáo
dưỡng của bộ luật này có nói rằng: Trong thời hạn này, nếu người được giáo dục tại
trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ, thì theo đề
nghị của trường giáo dưỡng được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, Tòa án có thể
quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng.
CHƯƠNG 5: NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.

5.1. Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp trong bộ luật hình sự.
Áp dụng các hoạt động tư pháp trong quá trình xét xử vẫn chưa được coi trọng
một cách đúng mức khiến cho việc áp dụng chúng chưa đạt được hiệu quả cần thiết
mà công tác đấu tranh, phòng và chống tội phạm đặt ra.
Việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự đôi khi còn bị lầm lẫn với các biện
pháp tư pháp khác như: Hành chính, dân sự hoặc với một số hình phạt trong pháp luật
hình sự (phạt tiền... không những ảnh hưởng đến hiệu quả của việc áp dụng, mà còn
không đạt được những mục đích cần thiết đã định ra.Chẳng hạn như nhiều trường hợp
người bị kết án phạm tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa được miễn chấp hành hình
phạt, song lại chưa bồi thường cho Nhà nước, bởi hình phạt tù không phải chấp hành,
người đó không phải chịu sức ép để tự nguyện tiến chấp hành quyết định về bồi
thường thiệt hại, mà cần có sự cưỡng chế của nhà nước. Khi đó, việc áp dụng
biệnpháp tư pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" khó được áp
dụng và thi hành một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Bản thân những biện pháp tư pháp hình sự, với tên gọi hiện nay "Tịch thu tiền
vật", "Trả lại tài sản" hoặc "Buộc công khai xin lỗi" không chi đưoc quy định trong
pháp luật hình sự, mà ngay trong pháp luật dân sự, pháp luật hình chính cũng có ghi
nhận. Vậy việc phân biệt chúng với nhau như thế nào, để thế hiện đúng bản chất của
các biện pháp tư pháp hình sự, lại chưa hề được làm rõ trong bất cứ văn bản quy phạm nào.
5.2. Một số giải pháp hoàn thiện các biện pháp tư pháp trong bộ luật hình sự Việt Nam.
Hoàn thiện pháp luật nói chung và các biện pháp tu pháp hình sự nói riêng
được đòi hỏi từ nhu cầu hết sức khách quan và tất yếu trong tiến trình phát triển xã
hội, góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây
dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhu cầu hoàn thiện chế định
các biện pháp tu pháp hình su trong giai đoạn hiện nay có vai trò hết sức quan trọng
nhằm thúc đẩy pháp triển đất nước về mọi mặt. Đáp ứng đòi hỏi của quá trình xây
dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và công cuộc cải cách tư pháp tại Việt Nam.
Thứ nhất, Cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa có hiệuquả
và xử lý kip thời, nghiêm minh các loại tội phạm.
Thứ hai, Cải cách tư pháp hình sự cần phải đi đôi với việc bảo đảm và tôn
trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ ba, Bảo đảm sự công bằng, bình đẳng thực sự giữa các bên (bên buộc tội
và bên gỡ tội) trong suốt quá trình đi tìm sự thật của vụ án
Thứ tư, Cần phải xác định đúng đắn quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng
cho phù hợp với các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, đề cao trách nhiệm củacác
cơ quan tiến hành tố tụng trước dân, trước Nhà nước
Thứ năm, Xây dựng và từng bước nâng cao chất lượng hệ thống tố tụng hình
sựtheo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện.Công khai, minh bạch, dân
chủ, giản tiện, bảo đảm quyền tiếp cận, quyền thamgia của công dân luôn là đòi hỏi
đối với quá trình thực hiện quyền lực nhà nước.
Thứ sáu, Bảo đảm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả các cơ chế kiểm tra, giám
sát hoạt động tố tụng hình sự
Thứ bảy, Cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu đổi mới chính sách
hình sự trong thời gian tới.
CHƯƠNG 6: NHỮNG VÍ DỤ VỀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ TRÍCH BẢN ÁN ĐỂ PHÂN TÍCH. 6.1. Ví dụ 1.
Anh A trên mặt giấy tờ đăng kí kinh doanh là các mặt hàng như mỹ phẩm,quần áo
nhưng bên trong các thùng hàng mỹ phẩm, quần áo lại chứa đựng các chất cấm nhằm
buôn bán, vận chuyển trái phép một số lượng lớn cây cần sa và các chất kích thích gây
nghiện khác như heroin,cocain thuốc lắc,... bằng đường buôn lậu qua biên giới. Qua
hai tháng từ ngày 12/8/2020 công an đã theo dõi đối tượng A này đã triệt phá được
đường dây buôn lậu của anh A và các đồng phạm.
*Trích bản án để phân tích hành vi vi phạm của anh A:
Theo Điều 47 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
1. Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:
a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;
c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không
tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
3. Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người
phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.
Đối tượng bị tịch thu bao gồm :
- Vật: Số lượng lớn các cây cần sa và các chất kích thích gây nghiện tương tự
như heroin,cocain, thuốc lắc,...
- Số tiền phạm tội từ việc mua bán, trao đổi các chất cấm kể trên.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì
tổng số lượng các chất cấm kể trên được tịch thu từ tội phạm là Anh A và các đồng
phạm sẽ bị cơ quan Công an tịch thu và tiêu hủy. 6.2. Ví dụ 2.
Trong quá trình thi công đào móng xây nhà thì anh A (chủ căn hộ đang được
thi công) đã cố ý gián tiếp làm tổn hại đến móng nhà của nhà anh B do có hiềm khích
từ trước. Vì vậy căn nhà 3 tầng của anh B (kế bên nhà A) đã đổ sập một cách bất ngờ.
Sự việc xảy ra bất ngờ vào 14h chiều khiến một người chết và thiệt hại toàn bộ tài sản.
Vụ việc xảy ra vào chiều ngày 14/12/2021. Qua trường hợp trên sẽ anh A sẽ phải bồi
thường thiệt hại cho anh B.
*Trích bản án để phân tích tình huống trên:
Theo Điều 48 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi
1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản
lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do
hành vi phạm tội gây ra.
2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội
phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 46 và khoản 2 Điều 48 của Bộ Luật Hình Sự 2015,
sửa đổi bổ sung 2017 quy định thì Anh A đã làm thiệt nặng nặng nề về người và của
của anh B. Cụ thể là sập toàn bộ căn nhà và một người chết. Như vậy, căn cứ theo quy
định của pháp luật thì anh A phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh B, đồng thời
phải sửa chữa nhà cho anh A theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó anh A cũng đã
gây ra thiệt hại về tinh thần (một người chết) buộc anh A phải công khai xin lỗi.
Điều 46. Các biện pháp tư pháp
1. Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm:
a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
c) Bắt buộc chữa bệnh.
2. Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:
a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
c) Khôi phục lại tình trạng ban đầu;
d) Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. 6.3. Ví dụ 3.
Anh D là người từng bị mắc bệnh tâm thần (triệu chứng nhẹ, vẫn nhận thức
được hành vi của mình). Vì mắc một cú sốc lớn từ gia đình nên đã bộc phát bệnh nặng
tới mức không thể điều khiển được hành vi của bản thân nên đã cầm dao đặt trên bàn
kế bên đâm chết anh trai là Y tử vong tại chỗ.
*Trích bản án để phân tích hành vi trên của D:
Theo Điều 49 Bộ Luật Dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh
1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định
tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định
pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị
chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi
bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần,
Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa
bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định
pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở
điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do
khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 49 Bộ Luật Hình Sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì
hành vi của anh D là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, giết người trong tình trạng
bộc phát bệnh mất khả năng nhận thức hành vi của bản thân là đúng hay sai. Như vậy,
căn cứ vào hành vi nhận thức của anh D và đối chứng khoản 2 điều 49 thì sẽ phải dựa
vào kết quả giám định của pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tòa án sẽ phải đưa ra
quyết định buộc anh D phải đi chữa bệnh tâm thần. Bên cạnh đó, sau khi anh D hết
bệnh tiếp tục phải chịu trách nhiệm hình sự vì tội giết người. 6.4. Ví dụ 4.
Bà A có một căn nhà không ở thấy ông B (em trai bà A) chưa có nhà ở. Sau đó
bà A đã cho ông B ở căn nhà đó và có nói với ông B là khi cần bà A sã lấy lại nhà.
Nhưng ông B đã ủ mưu chiếm đoạt căn nhà, sau khi biết được âm mưu của ông B thì
bà A đã đòi lấy lại nhà hông cho ông B ở. Trong lúc đòi lại nhà ông B đã dùng những
lời lẽ khó nghe để mạch sát, xúc phạm và dùng gậy đánhbà A bị thương; và đập hết đồ
như ti vi, tủ lạnh, máy giặc, nồi cơm điện… mà bà A mua trước đó cho căn nhà nay.
*Trích bản án để phân tích hành vi của tình huống trên:
Theo Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định:
Điều 48. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản
lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vậtchất đã được xác định do
hành vi phạm tội gây ra.
2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, tòa án buộc người phạm tội
phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Căn cứ theo Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì ông
B phải bồi thường về tài sản cho bà A khi đạp đổ đồ và trả tiền thuốc khi đánh bà cũng
như công khai xin lỗi khi xác phạm bà A. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu, phân tích lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp tư
pháp hình sự, bước đầu luận văn đã làm sáng tỏ một vài vấn đề về khía cạnh khoa học
pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng và thi hành của các biện pháp tư pháp hình sự; từ
đó có thể đưa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các biện pháp tư pháp hình sự.
Khoa học pháp lý nói chung và pháp luật hình sự, tổ tụng hình sự và thi hành
án hình sự về các biện pháp tư pháp hình sự nói riêng đã phần nào đề cập đến các vấn
đề nóng bỏng hiện nay, đưa ra những quy định chung và trình tự, thủ tục áp dụng các
biện pháp tư pháp hình sự nhưng vẫn còn rất nhiều những vướng mắc và hạn chế. Tội
phạm phạm tội hiện nay càng có nhiều thủ đoạn, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm
trọng và gây nguy hiểm đến mức báo động cho toàn xã hội và đang có nguy cơ gia
tăng. Việc có thể áp dụng các biện pháp tư pháp có hiệu quả phần nào có thể đáp ứng
được nhu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm trong xã hội trên cả nước.
Tình hình áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp hình sự mặc dù đã đạt
được những hiệu quả nhất định, góp phần hạn chế tỷ lệ người phạm tội nói chung và
người chưa thành niên phạm tội nói riêng, nhưng vẫn cần được quan tâm sát sao và
quy định một cách cụ thể, áp dụng một cách linh hoạt và có hệ thống để mang lại hiệu quả tốt nhất.
Tiến hành thực thi pháp luật nói riêng và áp dụng, thi hành các biện pháp tư
pháp hình sự nói riêng cần phải có sự đồng bộ, hệ thống hóa các ngành luật và phối
hợp giữa các cơ quan chức năng, cơ quan hữu quan và quần chúng nhân dân - các chủ
thể đấu tranh, phòng và chống tội phạm cả nước. Góp phần nhiều vào công cuộc bảo
vệ, xây dựng và đổi mới đất nước.