ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
***
TI ỂU LUẬN
Môn học: Lịch sử quan hệ quốc tế
Đề tài: TRUNG HOA VỚI MÔ TRẬT TỰ ĐÔNG Á
THỜI KÌ TRUNG Đ ẠI
Họ và tên : Đào Thị Thanh Thảo
MSSV : 2357060099
Giảng viên PGS.TS Trần Nam Tiế : n
h TS. Nguyễn Tuấn Khan
TIỂU LUẬN
TRUNG HOA VI MÔ TR T T ĐÔNG Á
THỜI KÌ TRUNG ĐẠI
Họ và tên : Đào Thị Thanh Thảo
MSSV : 2357060099
Giảng viên PGS.TS Trần Nam Tiến :
TS. Nguyễn Tuấn Khanh
3
MC L C
LỜI MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
NỘI DUNG ............................................................................................................... 5
I. Bối cảnh lịch sử và chính trị của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại ......... 5
II. Trung Hoa ảnh hưởng lên mô trật tự Đông Á thời kỳ trung đại .............. 7
1. Hệ ống triều cốngth ............................................................................................................. 7
2. Ảnh hưởng văn hoá và tư tưởng: ....................................................................................... 11
2.1. Nho giáo: Hệ tư tưởng định hình trật tự xã hội và chính trị Đông Á ................................................ 12
2.2. Văn hóa Hán: Công cụ quyền lực mềm và biểu tượng văn minh ..................................................... 13
3. Thương mại và kinh tế .......................................................................................................... 14
III. Sự suy yếu vị ế của Trung Hoa trong t tự Đông Á thời trung đạith tr .. 17
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 22
4
LỜI MỞ ĐẦU
Thời kỳ trung đại là một giai đoạn lịch sử dài và phức tạp, kéo dài t ế kỷ th thứ III
đến thế kỷ XVII, đánh dấu những biến chuyển quan trọng trong lịch sử nhân loại. Đây
thời kỳ mà các đế ế và vương quốc trên thế ới đã trải qua những giai đoạn thăng trầm, ch gi
với sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa, kinh tế, chính trị, và quân sự không chỉ ảnh hưởng
sâu sắc đến các hội và nền văn minh phương Tây còn để lại những dấu ấn quan
trọng ở phương Đông, đặc biệt là khu vực Đông Á. Trong những trang lịch sử của Đông Á
thời trung đại, Trung Hoa nổi lên như một trung tâm quyền lực, văn hóa tưởng,
sức ảnh hưởng ợt xa biên giới lãnh thổ của mình. Nếu Đông Á như một hệ mặt trời
rộng lớn phức tạp, thì Trung Hoa chính mặt trời, trung tâm rự rỡ và quyền lực, tỏc a
sáng và lan t ảnh hưởng của mình ra khắp các quốc gia xung quanh. Trung Hoa đã khéo a
léo sử dụng h ống triều cống, Nho giáo và n hóa Hán, kết hợ ới sức mạnh thương th p v
mại và kinh tế, để thiết lập duy trì ảnh hưởng sâu rộng lên các quốc gia Đông Á trong
thời kỳ trung đại. Qua đó, Trung Hoa không chỉ củng cố quyền lực chính trị mà còn lan tỏa
giá trị văn hóa tưởng của nh, định hình trật tự khu vực thúc đẩy sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vự ật tự này không chỉ tồn tại trong suốt thời kỳ c. Tr
trung đại còn để lại những dấu ấn sâu sắc trong lịch sử văn hóa của các quốc gia
Đông Á đến tận ngày nay. Việc nghiên cứu hiểu rõ về vai trò của Trung Hoa trong
trật tĐông Á thời kỳ trung đại không chỉ giúp chúng ta cái nhìn toàn diện về lịch sử
khu vực còn cung cấp những i học quý giá về cách thức mà quyền lực, văn hóa
i.ởng có thể tương tác và định hình thế giớ
5
NỘI DUNG
I. Bối cảnh lịch sử và chính trị của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại
Giai đoạn đầu của thời kỳ trung đại bắt đầu với sthống nhất Trung Hoa dưới triều
đại nhà Tần (221-206 TCN). Nhà Tần, với vhoàng đế đầu tiên Tần Thủy Hoàng, đã thống
nhất các tiểu quốc chiến tranh trong thời kỳ Chiến Quốc, thiết lập một chính quyền trung
ương mạnh mẽ. Tần Thủy Hoàng đã tiến hành hàng loạt cải cách, bao gồm tiêu chuẩn hóa
chữ viết, tiền tệ, và h ống đo ờng, đồng thời xây dựng Vạn Lý Trường Thành để bảo th
vệ biên giới phía bắc. Mặc dù triều đại nhà Tần chỉ tồn ti trong một thời gian ngắn, nhưng
nó đã đặt nền móng cho hệ ống chính trị phong kiến tập quyền của Trung Hoa trong suốth t
các triều đại sau này.
Sau sự sụp đổ của nhà Tần, nhà Hán (206 TCN - 220 SCN) nổi lên và tiếp tục củng
cố quyền lực trung ương, đồng thời mở rộng lãnh thổ ảnh hưởng của Trung Hoa. Nhà
Hán thiết lập hệ ống triều cống, trong đó các quốc gia láng giềng phải gửi cống vật th
thừa nhận quyền lực của Trung Hoa. Đồng thời, Nho giáo được chọn làm hệ ởng chính
thống, định hình cấu trúc hội chính trị của đất nước. Sphát triển của Nho giáo đã
tạo ra một tầng lớp quan lại học thức, trung thành với nhà nước vai trò quan ọng tr
trong việc duy trì trật tự và ổn định chính trị. Hệ ống quan lại này, cùng với sự phát triểth n
của nền kinh tế nông nghiệp, đã tạo nên một thời kỳ ịnh vượng kéo dài hơn bốn thế kỷth ,
đưa Trung Hoa trở thành một trong những đế quốc mạnh mẽ nhất thế giới thời bấy giờ.
Sau một giai đoạn hỗn loạn và phân tán trong thời kỳ Tam Quốc và Nam Bắc triều,
nhà Đường (618-907) ra đời, đánh dấu một thời kỳ hoàng kim của văn hóa, nghệ thuật, và
sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Hoa ra toàn khu vực Đông Á. Nhà Đường không chỉ nổi
bật với sphát triển rực rỡ về kinh tế văn hóa mà còn với những cải cách chính trị sâu
rộng, giúp củng cố quyền lực của triều đình trung ương và mở rộng quan hệ ngoại giao với
các quốc gia láng giềng. ới thời nhà Đường, Trung Hoa thiết lập một mạng lưới quan
hệ triều cống rộng khắp với các quốc gia như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, các vương
quốc Đông Nam Á. Trung Hoa trở thành trung tâm văn hóa của khu vực, với Trường An
(nay Tây An) trở thành một trong những thành phố lớn nhất sầm uất nhất thế giới.
Các nước láng giềng không chỉ gửi cống vật còn tiếp thu các giá trị văn hóa, tôn giáo,
và tư tưởng từ Trung Hoa, đặc biệt là Nho giáo và Phật giáo. Sự lan tỏa của văn a Trung
Hoa trong thời kỳ này đã tạo ra một khu vực Đông Á tương đối thống nhất về mặt văn hóa,
nơi mà Trung Hoa đóng vai trò trung tâm trong việc định hình bản sắc cấu trúc hội
của các quốc gia khác.
6
Thời kỳ nhà Tống (960-1279) chứng kiến sự phát triển ợt bậc về kinh tế công
nghệ, nhưng đồng thời cũng giai đoạn Trung Hoa đối mặt với nhiều thách thức lớn về
mặt chính trị và quân sự. Mặc nhà Tống nổi tiếng với sự phát triển ca thương mại
khoa học, cùng với những phát minh quan trọng như in ấn, la bàn, thuốc súng, nhưng
triều đại này lại gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì quyền lực trước sự xâm lược của các
dân tộc du mục từ phía bắc, đặc biệt là người Khiết Đan, người Nữ Chân, cuối cùng là
người Mông Cổ. ộc xâm lược của người Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Cu
Hãn và các hậu duệ của ông đã đặt dấu chấm hết cho triều đại nhà Tống, đồng thời đưa nhà
Nguyên (1271-1368) do người Mông Cổ thành lập lên nắm quyền Trung Hoa. S ống th
trị của người Mông Cổ đã thay đổi cấu trúc chính trị hội của Trung Hoa, khi họ áp
đặt một hệ ống cai trị mới đưa Trung Hoa vào một mạng ới giao thương rộng lớn, th
kết nối Á-Âu. Tuy nhiên, nhà Nguyên chỉ tồn tại trong khoảng một thế kỷ trước khi bị lật
đổ bởi nhà Minh, triều đại đã khôi phục quyền lực của người Hán và đưa Trung Hoa trở lại
vị trí trung tâm ở Đông Á.
Nhà Minh (1368-1644) ra đời sau sự sụp đổ của nhà Nguyên, mang theo một giai
đoạn phục hưng về văn hóa chính trị. Triều đình nhà Minh đã tái lập quyền lực trung
ương mạnh mẽ, khôi phục hệ ống triều cống và đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao vth i
các nước láng giềng. Đồng thời, nhà Minh cũng tiến hành nhiều cuộc thám hiểm hàng hải
dưới sự huy của Đô đốc Trịnh Hòa, mở rộng ảnh hưởng của Trung Hoa ra khu vựch c
Đông Nam Á, Ấn Độ Dương và xa hơn nữa. Những cuộc thám him này không chỉ khẳng
định vị ế củth a Trung Hoa trên trường quốc tế mà còn thúc đẩy giao lưu thương mại và văn
hóa, củng cố thêm sự ịnh vượng của đất nướ Tuy nhiên, nhà Minh phải đối mặt vớth c. i
nhiều thách thức từ phía bắc, đặc biệt sự i dậy của người Mãn Châu, dẫn đến sự sụtr p
đổ của triều đại này sự ra đời của nhà Thanh (1644-1912). NThanh, triều đại cuối
cùng của Trung Hoa, đã tiếp tục duy trì mở rộng hệ ống triều cống, đồng thời thựth c
hiện nhiều cải cách để đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài, bao gồm cả sự xâm nhập
của các cường quốc phương Tây. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XIX, nhà Thanh bắt đầu suy
yếu do các cuộc chiến tranh với phương Tây (như Chiến tranh Nha phiến) và các cuộc nổi
dậy nội bộ, dẫn đến ssụp đổ ối cùng vào năm 1912 và chấm dứt chế độ phong kiến cu
Trung Hoa.
7
Thời kỳ trung đại của Trung Hoa một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nơi các
triều đại phong kiến không chphải đối mặt với những thách thức nội bộ còn với những
mối đe dọa từ bên ngoài. Trong suốt giai đoạn này, Trung Hoa đã không ngừng củng cố
quyền lực trung ương, mở rộng ảnh hưởng ra khu vực Đông Á, phát triển một nền văn
minh rực rỡ có ảnh hưởng sâu rộng đến các ớc láng giềng. Mặc phải trải qua nhiều
thăng trầm, nhưng Trung Hoa vẫn duy trì được vị ế của mình như một cường quốc khu th
vực, di sản của thời kỳ trung đại vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cấu trúc chính trị và
văn hóa của khu vực Đông Á cho đến ngày nay.
II. Trung Hoa ảnh hưởng lên mô trật tự Đông Á thời kỳ trung đại
1. Hệ ống triều cốth ng
Hệ ống triều cống là một mô hình chính trị và ngoại giao mà Trung Hoa thiết lậth p
để duy trì trật tự và ảnh hưởng của mình trong khu vực Đông Á. Các nước láng giềng như
Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á gửi sứ ần và cống vậth t
đến triều đình Trung Hoa để hiện lòng trung thành thừa nhận quyền lực vượt trộth i
8
của Trung Hoa. Họ ấp nhận vai trò phụ thuộc vào Trung Hoa để đổi lấy sự bảo trợ cũng ch
như các lợi ích kinh tế, chẳng hạn như quyền tiếp cận thương mại với Trung Hoa. Mối quan
hệ này mang tính chất quyền lực mềm, Trung Hoa sử dụng sức mạnh văn hóa và tư tưởng
để duy trì sự ảnh hưởng mà không cần sử dụng đến sức mạnh quân sự ực tiếp.tr
Ảnh: Các sứ đoàn các nước trong triều đình Trung Hoa
Ảnh: Vua Càn Long nhận cống phẩm
9
Trong lịch sử Đông Á, hệ ống triều cống đóng vai trò quan trọng trong việc duy th
trì trật tự khu vực, thúc đẩy giao lưu văn hóa, và kết nối kinh tế giữa các quốc gia. Đầu
tiên, vmặt chính trị, hệ ống triều cống thiết lập một cấu trúc quyền lực ràng, đó th
Trung Hoa đóng vai trò trung tâm quyền lực tối cao. Hệ ống này đã giúp duy trì sth n
định và trật tự trong khu vực qua việc các quốc gia chư hầu hạn chế những cuộc xung đột
quân sự trực tiếp với Trung Hoa. Thay vì sử dụng vũ lực để đối đầu, các quốc gia này chọn
cách công nhận quyền lực của Trung Hoa và nhận lại sự bảo trợ quân sự và an ninh khi cần
thiết. Điều này đặc biệt quan trọng trong một khu vực đầy biến động như Đông Á, nơi mà
các cuộc xâm lược từ bên ngoài sự chia rẽ nội bộ luôn mối đe dọa tiềm tàng. Bên
cạnh vai trò chính trị, hệ thống triều cống còn là một phương tiện quan trọng để Trung Hoa
lan tỏa văn hóa tưởng của mình đến các quốc gia láng giềng. Thông qua hệ ống th
này, Nho giáo, chữ Hán, và các yếu tố văn hóa Hán đã trở thành nền tảng không chỉ trong
xã hội Trung Hoa còn được áp dụng rộng rãi trong các quốc gia như Triều Tiên, Nhật
Bản, Việt Nam. Hơn nữa, các chuyến đi triều cống không chỉ đơn thuần các nghi lễ
cống nạp còn hội để các ớc chư hầu tham gia vào quá trình trao đổi văn hóa,
học thuật nghthuật với Trung Hoa. Điều này đã tạo ra một i trường giao lưu văn
hóa phong phú đa dạng, thúc đẩy sự phát triển của các nền văn hóa bản địa đồng thời
tiếp thu những yếu tố văn hóa tiến bộ từ Trung Hoa. Ví dụ, Triều Tiên đã tiếp nhận Nho
giáo làm nền tảng cho hệ thống quan lại và giáo dục, trong khi Nhật Bản đã phát triển nghệ
thuật và kiến trúc chịu ảnh hưởng mạnh mtTrung Hoa, nhưng lại biến đổi theo cách
riêng để phù hợp với văn hóa bản địa. Ngoài ra, hệ ống triều cống còn đóng vai trò quan th
trọng trong việc kết nối kinh tế và thương mại giữa Trung Hoa và các quốc gia láng giềng.
Một trong những cơ chế chính của hệ ống này là thương mại triều cống, nơi các nướth c
chư hầu gửi cống vật đến Trung Hoa và nhận lại những hàng hóa quý giá như lụa, gốm sứ,
trà, và các sản phẩm thủ công tinh xảo. Hình thức thương mại này không chỉ mang lại lợi
ích kinh tế cho cả hai bên mà còn củng cố mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tạo nên mt hệ
thống kinh tế khu vực tương đố ổn định. Ngoài ra, các quốc gia chư hầu còn thiết lập các i
10
tuyến thương mại riêng, ctrên đất liền qua “Con đường lụa”, trên biển qua các
tuyến hàng hải kết nối Trung Hoa với Đông Nam Á, Ấn Đvà hơn thế nữa. Những tuyến
thương mại này đã trở thành ơng sống của mạng lưới kinh tế khu vực, góp phần làm cho
Đông Á trở thành một trong những trung m thương mại sôi động nhất thế giới thời kỳ
bấy giờ.
Tuy nhiên, hệ ống chư hầu cũng không tránh khỏi những hạn chế và mâu thuẫth n
nội tại. Một mặt, củng cố quyền lực của Trung Hoa duy trì trật tự khu vực, nhưng
mặt khác, nó cũng tạo ra sự bất mãnkháng cự từ phía các ớc chư hầu, đặc biệt khi h
cảm thấy bị áp đặt quá mức. Các cuộc xung đột quân sự giữa Trung Hoa và các nước láng
giềng, chẳng hạn như các cuộc kháng chiến chống lại nhà Nguyên của Việt Nam, cho thấy
rằng hệ ống chư hầu, dù có tác dụng duy trì trật tự, nhưng không phải lúc nào cũng đảth m
bảo được sự ổn định và hòa bình.
Bất chấp vai trò quan trọng hệ ống triều cống từng giữ, sự th biến đổi của thời
đại đã đặt dấu chấm hết cho hình này khi khu vực Đông Á bước vào một kỷ nguyên
mới với nhiều thay đổi sâu sắc. Sự suy tàn của h ống triều cống ở Trung Hoa và Đông th
Á là kết quả của một loạt các biến động chính trị, kinh tế và xã hội từ bên ngoài và những
biến động nội bộ diễn ra từ ối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Hệ ống triều cống, từng cu th
là nền tảng của trật tự khu vực Đông Á, bắt đầu suy yếu khi các cường quốc phương Tây,
đặc biệt Anh, Pháp và Hoa Kỳ, xâm nhập vào khu vực, áp đặt các hiệp ước bất bình đẳng
làm suy giảm đáng k quyền của Trung Hoa. Những cuộc chiến tranh như Chiếch n
tranh Nha phiến (1839-1860) đã phơi bày sự yếu kém của nhà Thanh và làm lung lay lòng
tin của các nước chư hầu vào khả năng bảo vệ và duy trì trật tự của Trung Hoa. Đồng thời,
sự ỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc các phong trào ci cách trong khu vực, điển hình tr
cuộc cải cách Minh Trị (1868-1912) ật Bản, đã thúc đẩy các quốc gia chư hầu tìm Nh
kiếm con đường độc lập khỏ ảnh hưởng của Trung Hoa. Sự phát triển mạnh mẽ của Nhậi t
Bản, đặc biệt sau chiến thắng trước Trung Hoa trong Chiến tranh Trung- ật, đã làm suy Nh
giảm vị ế trung tâm của Trung Hoa trong khu vực và phá vỡ cấu trúc triều cống vốn tồth n
tại hàng thế kỷ. Bên cạnh đó, các cuộc khủng hoảng nội bộ như cuộc nổi dậy Thái Bình
11
Thiên Quốc (1850-1864)cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn (1899-1901), cùng với ssuy
yếu của triều đình nhà Thanh, đã làm cho Trung Hoa mất dần khnăng kiểm soát duy
trì hệ thống triều cống. Cuối cùng, sự sụp đổ của nhà Thanh vào năm 1912 và sự ra đời của
các quốc gia dân tộc hiện đại đã đánh dấu sự kết thúc chính thức của hệ ống triều cống, th
thay thế bằng các mối quan hệ quốc tế dựa trên chủ quyền quốc gia bình đẳng. Sự
suy tàn của h ống triều cống không chỉ là sự kết thúc của một cơ chế quyền lực cổ xưa th
còn phản ánh những thay đổi sâu sắc trong trật tự ế th gii mối quan hệ quyền lực
trong khu vực Đông Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử quan hệ quốc tế của khu
vực này.
2. Ảnh hưởng văn hoá và tư tưởng
Trong suốt thời kỳ trung đại, Trung Hoa nổi lên như một trung tâm văn hóa
tưởng có ảnh hưởng sâu rộng, định hình không chỉ cấu trúc xã hội và chính trị mà còn bản
sắc văn hóa của toàn bộ khu vực Đông Á. Nho giáo và văn hóa Hán, với những giá trị đặc
thù của mình, đã trở thành những công cụ mạnh mẽ để Trung Hoa thiết lập quyền lực mềm,
lan tỏ ảnh ởng của mình đến các ớc láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản Việa t
Nam. Không chỉ đơn thuần là những giá trị tư tưởng và văn hóa, Nho giáo và văn hóa n
còn phản ánh một động lực bành trướng tinh vi của Trung Hoa: truyền bá các giá trị trên,
củng cố quyền lực và vị ế trung tâm trong khu vựth c.
12
2.1. Nho giáo: Hệ tư tưởng định hình trật tự xã hội và chính ị Đông Átr
Nho giáo, với cách là hệ tư tưởng chính
thống của Trung Hoa, đã trở thành nền tảng cho
trật tự xã hộichính trị của nhiều quốc gia Đông
Á. Được phát triển từ triết lý của Khổng Tử (551-
479 TCN), Nho giáo nhấn mạnh vào đạo đức cá
nhân, trách nhiệm hội, tôn trọng trật tự gia
đình hội. Nho coi trọng việc tuân thủ các mối
quan hệ hội dựa trên các nguyên tắc của nhân,
lễ, nghĩa, trí, tín”, từ đó xây dựng một hệ thống
hộ ổn định trật tự. Nho giáo cũng nhấn i
mạnh vào sự học tập tự hoàn thiện, coi trọng
giáo dục như con đường duy nhất để đạt đến s
hoàn thiện nhân phục vụ quốc gia. Hệ tưởng này đã tạo ra một tầng lớp trí thức
trung thành với nhà nước, giúp củng cố quyền lực của các triều đại cai trị. Sức mạnh của
Nho giáo nằ khả năng tạo ra một hộ trật tự một hệ ống chính trị ổn định, m i th
nơi mà sự tôn trọng và phục tùng các giá trị truyền thống được xem là tối thượng.
Nho giáo không chỉ là một hệ tư tưởng còn là nền tảng cho sự tổ chức chính tr
hội của Trung Hoa. H ống thi cử khoa bảng, dựa trên các nguyên tắc củ Nho th a
giáo, đã trở thành công cụ chính đtuyển chọn quan lại, từ đó xây dựng một bộ máy nhà
nước hiệu quả và ổn định. Với khả năng cung cấp một khung đạo đức và pháp lý chặt chẽ,
Nho giáo trở thành nền tảng tưởng chủ đạo không chỉ ở Trung Hoa mà còn các nước
láng giềng. Tại Việt Nam, Nho giáo cũng được coi trọng từ ời Lý, Trần đến thời sơ. th
Các triều đại này đã thiết lập hệ ống thi cử dựa trên Nho giáo để lựa chọn quan lại, từ đó th
củng cố bộ máy hành chính duy trì sự ổn định chính trị. Triều đình nhà sơ (1428-
1527) đã xây dựng Văn Miếu - ốc Tử Giám Nội như một trung tâm giáo dục cao Qu
cấp, nơi các sĩ tử học tập và nghiên cứu các tưởng của Khổng Tử. Nho giáo không ch
ảnh hưởng đến hệ ống chính trị mà còn thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành nền tảng th
13
đạo đức và cách thứ ứng xử trong gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, sự lan tỏa này không c
hoàn toàn đồng nghĩa với sự đồng hóa. Các quốc gia láng giềng thường tiếp nhận các yếu
tố văn hóa Trung Hoa điều chỉnh chúng để phù hợp với bản sắc nhu cầu riêng của
mình. Nhật Bản tiếp thu Nho giáo Phật giáo từ Trung Hoa nhưng phát triển thành các
phiên bản riêng biệt như Thiền (Zen) Phật giáo và hệ thống samuraiảnh hưởng củ Nho a
giáo nhưng cũng mang đặc trưng Nhật Bản.
2.2. Văn hóa Hán: Công cụ ền lực mềm và ểu tượng văn minhquy bi
Văn hóa Hán, với các yếu tố nổi bật như ngôn ngữ, nghệ thuật, và tư tưởng, không
chỉ biểu tượng của sự văn minh còn một công cụ quyền lực mềm Trung Hoa
sử dụng để mở rộng ảnh hưởng của mình. Chẳng hạn, chữ Hán không chỉ phương tiện
giao tiếp còn biểu tượng của tri thức uy quyền. Khnăng sử dụng chữ Hán trở
thành một tiêu chuẩn để đánh giá sự học vấn phẩm giá của một người trong xã hội, đồng
thời là dấu hiệu của sự văn minh và thịnh vượng. Việc sử dụng chữ Hán trong các văn bản
chính thức và học thuật không chỉ giúp truyền tải tư tưởng mà còn đóng vai trò quan trọng
trong việc duy trì sự liên kết văn hóa giữa các nước trong khu vực. Ở Triều Tiên, chữ Hán
được sử dụng trong các văn bản chính thức học thuật cho đến thế kỷ XX, trước khi h
thống chữ Hangeul được phổ biến. Ở Nhật Bản, chữ Hán (Kanji) trở thành một trong ba hệ
thống chữ viết chính, cùng với Hiragana Katakana. S ếp nhận chữ Hán không chỉ là ti
một sự ếp nhận ngôn ngữ, mà còn là sự ếp nhận văn hóa và tri thức Trung Hoa.ti ti
Bên cạnh ngôn ngữ, nghệ thuật và kiến trúc Trung Hoa cũng để lại dấu ấn đậm t
trong các nền văn hóa Đông Á. Các phong cách nghệ thuật như hội họa, thư pháp, và kiến
trúc đều mang đậm dấu ấn của văn hóa Hán, trở thành chuẩn mực trong việc sáng tạo
xây dựng bản sắc văn a các quốc gia láng giềng. Sự hấp dẫ ủa văn hóa Hán n n c m
chỗ không chỉ hiện sự ịnh vượng quyền lực còn biểu tượng của sự văn th th
minh, khiến cho các quốc gia khác phải noi theo để khẳng định vị ế của mình trong khu th
vực. Các phong cách kiến trúc như đình, chùa, cung điện Triều Tiên, Nhật Bản Việt
14
Nam thường mang đậ ảnh hưởng từ kiến trúc truyền thống Trung Hoa. ật Bản, m Nh
phong cách kiến trúc của các đền thờ Shinto và Phật giáo được phát triển dựa trên nguyên
mẫu từ Trung Hoa, nhưng được điều chỉnh để phù hợp với môi trường văn hóa địa
phương. Tại Việt Nam, những công trình kiến trúc nổi bật như Khuê Văn Các hay chùa
Một Cột cũng mang nhiều yếu tố kiến trúc Hán.
Động lực đằng sau sự lan tỏa của Nho giáo văn hóa Hán không chỉ đơn thuần
sự truyền văn hóa còn một chiến tinh vi của Trung Hoa c quyền lực mềm
nhằm củng cố mở rộng ảnh hưởng của mình trong khu vực mà không cần sử dụng đến
quân sự. Việc các quốc gia láng giềng chấp nhận Nho giáo và văn hóa Hán không chỉ giúp
Trung Hoa duy trì vị ế trung tâm còn tạo ra một mạng lưới quyền lực, trong đó các th
quốc gia này phụ thuộc vào Trung Hoa về mặt văn hóa và tư tưởng. Tuy nhiên, sự lan tỏa
này không hoàn toàn đồng nghĩa với sự đồng hóa. Các quốc gia láng giềng thường tiếp
nhận các yếu tố văn hóa Trung Hoa điều chỉnh chúng để phù hợp với bản sắc nhu
cầu riêng của nh. thể ấy Nhật Bản tiếp thu Nho giáo Phật giáo từ Trung Hoa th
nhưng phát triển thành các phiên bản riêng biệt như Thiền (Zen) Phật giáo hệ ống th
samurai có ảnh hưởng của Nho giáo nhưng cũng mang đặc trưng Nhật Bản. Suy cho cùng,
Nho giáo và văn hóa Hán là những yếu tố nổi bật đã giúp Trung Hoa mở rộng củng cố
ảnh hưởng của mình trong khu vực Đông Á thời trung đại. Sự lan tỏa của Nho giáo và văn
hóa Hán không chỉ định hình trật tự xã hội và chính trị của Đông Á thời trung đại mà còn
để lại những dấu ấn sâu sắc trong bản sắc văn hóa của các quốc gia trong khu vực.
3. Thương mại và kinh tế
Trung Hoa đã thiết lập và duy trì một mạng lưới thương mại rộng lớn, bao gồm cả
đường bộ và đường biển, kết nối các quốc gia Đông Á với nhau với các khu vực khác
15
trên thế giới. Con đường lụa, nổi
tiếng với tuyến đường bộ xuyên qua
Trung Á, đã trở thành một trong
những tuyến thương mại quan trọng
nhất, nối liền Trung Hoa với các quốc
gia Trung Á, Tây Á, châu Âu.
Qua Con đường Tơ lụa, Trung Hoa đã
xuất khẩu các sản phẩm quý gnhư
lụa, trà, và gốm sứ, đồng thời nhập khẩu hàng hóa xa xỉ và nguyên liệu từ các vùng đất xa
xôi. Thương mại qua Con đường Tơ lụa không chỉ mang lại s ịnh vượng kinh tế cho th
Trung Hoa còn tạo ra sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa Trung Hoa các quốc gia
tham gia vào mạng lưới thương mại này. Bên cạnh Con đường lụa, các tuyến đường
biển kết nối Trung Hoa với Đông Nam Á, Ấn Độ, xa hơn nữa cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy thương mại khu vực. Các cảng biển như Quảng Châu Hàng
Châu trở thành trung m thương mại sôi động, nơi các thương nhân tkhắp nơi trên thế
giới đến để mua bán hàng hóa. Thương mại đường biển không chỉ giúp Trung Hoa tiếp cận
các thị trường mới còn tạo điều kiện cho sự lan tỏa văn hóa công nghệ giữa Trung
Hoa các quốc gia Đông Á khác. Thông qua các tuyến thương mại này, Trung Hoa đã
thiết lập một mạng lưới kinh tế phức tạp, trong đó các quốc gia Đông Á không chỉ là những
đối tác thương mại còn những vệ tinh kinh tế phụ thuộc vào sự ịnh vượng củth a
Trung Hoa. Mặc dù thương mại mang tính chất cùng có lợi nhưng vẫn có sự bất cân xứng
về quyền lực vì Trung Hoa luôn nắm vị trí trung tâm và quyền kiểm soát các điều kiện
thương mại.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất của ảnh hưởng kinh tế của Trung Hoa đối
với Đông Á thời trung đại sự lan tỏa công nghệ hàng hóa. Trung Hoa, với sự phát
triển vượt bậc về khoa học và công nghệ, đã đóng vai trò là nguồn cung cấp các phát minh
và công nghệ mới cho khu vực. Các công nghệ như in ấn, la bàn, và thuốc súng, được phát
minh hoặc hoàn thiện tại Trung Hoa, đã lan tỏa ra các quốc gia láng giềng và tạo ra những
16
thay đổi lớn trong xã hội và quân sự của họ. dụ, công nghệ in ấ ủa Trung Hoa đã đượn c c
truyền đến Triều Tiên Nhật Bản, i thúc đẩy sự phát triển của giáo dục văn
hóa viết. Sự phổ biến của sách in đã giúp truyền bá kiến thức và tư tưởng, đồng thời củng
cố h ống giáo dục khoa bảng ở các quốc gia này. La bàn, một phát minh quan trọng th
khác của Trung Hoa, đã cách mạng hóa ngành hàng hải, giúp các quốc gia Đông Á m
rộng thương mại đường biển và khám phá các vùng đất mới. Thuốc súng, mặc dù ban đầu
được sử dụng chủ yếu trong các hoạt động quân sự, sau này đã trở thành một yếu tố quan
trọng trong việc củng cố quyền lực quân sự bảo vệ lãnh thổ ở nhiều quốc gia Đông Á.
Ngoài công nghệ, Trung Hoa còn xuất khẩu một lượng lớn hàng hóa có giá trị cao, như lụa,
gốm sứ, và trà, tạo ra sự ịnh ợng kinh tế cho cả Trung Hoa và các đối tác thương mạth i
của mình. Những sản phẩm này không chỉ nguồn thu nhập quan trọng cho Trung Hoa
còn trở thành biểu tượng của sự giàu có và tinh tế trong văn hóa Đông Á. Các quốc gia
như Nhật Bản và Triều Tiên không chỉ tiêu thụ các sản phẩm này mà còn tìm cách học hỏi
sản xuất chúng theo tiêu chuẩn của Trung Hoa, từ đó tạo ra những ngành công nghiệp
nội địa dựa trên mẫu mực của Trung Hoa.
Ảnh: 4 phát minh vĩ đại của Trung Hoa
Thương mại và kinh tế của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại đã có ảnh hưởng sâu
rộng và bền vững đến khu vực Đông Á. Trung Hoa không chỉ thiết lập và duy trì một mạng
lưới thương mại rộng lớn còn lan tỏa công nghệ hàng hóa, tạo ra những thay đổi
17
quan trọng trong xã hội và kinh tế của các quốc gia láng giềng. Sự phụ thuộc kinh tế giữa
Trung Hoa và các nước Đông Á đã giúp củng cố trật tự khu vực và duy trì sự ổn định trong
suốt nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, sự phụ thuộc này cũng mang tính hai mặt, khi các quốc
gia chư hầu có thể dễ dàng trở thành đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các biến động
kinh tế hoặc chính trị của Trung Hoa. Một khi nền kinh tế Trung Hoa suy yếu hoặc triều
đình mất đi quyền lực, các quốc gia láng giềng cũng phải đối mặt với những thách thức lớn
trong việc duy trì sự ổn định và phát triển kinh tế của mình. Trong bối cảnh đó, ảnh hưởng
kinh tế của Trung Hoa đối với Đông Á thời trung đại không chỉ là một câu chuyện về thịnh
vượng và hợp tác mà còn là một bài học về sự ức tạp của các mối quan hệ quyền lực và ph
kinh tế trong khu vực.
III. Sự suy yếu vị ế của Trung Hoa trong trật tự Đông Á thời trung đạith
Sự suy tàn của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại không chỉ một quá trình nội
tại của quốc gia này mà còn có những tác động sâu rộng đến toàn bộ t tự khu vực Đông tr
Á. ững yếu tố dẫn đến sự suy tàn của Trung Hoa không chỉ bắt nguồn từ những vấn đề Nh
nội tại còn do những tác động từ bên ngoài, bao gồm các biến động hội, chính trị,
kinh tế trên toàn cầu. Đhiểu hơn về quá trình này, cần xem xét một loạt nguyên
nhân phức tạp đan xen đã làm Trung Hoa t một trung tâm quyền lực trở nên yếu thế
trên trường quốc tế.
Một nguyên nhân sâu xa của sự suy yếu nằm ở tình trạng bất ổn nội bộ và sự quản
lý kém hiệu quả của các triều đại phong kiến. Mặc dù các triều đại như Tần, Hán, Đường,
Minh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng từ thời nhà Tống trở đi, Trung Hoa phải
đối mặt với những khó khăn ngày càng gia tăng. Sphân tán quyền lực, nạn tham nhũng
tràn lan trong bộ máy quan lại, những cuộc nổi dậy của nông dân đã làm xói mòn kh
năng cai trcủa triều đình. Những vấn đề này không chlàm mất lòng tin của dân chúng
còn mở đường cho các thế lực đối địch trong và ngoài nước trỗi dậy, đe dọa sự ổn định
của quốc gia.
18
Cùng với những vấn đề nội bộ, tư tưởng chính trị bảo thủ cũng là một yếu tố không
nhỏ góp phần làm suy yếu Trung Hoa. Hệ tư tưởng Nho giáo, dù đã giúp duy trì trật tự xã
hội trong nhiều thế kỷ, lại trở thành một rào cản đối với sự đổi mới và sáng tạo. Trong khi
các quốc gia khác như Nhật Bản bắt đầu hiện đại hóa và công nghiệp hóa, Trung Hoa vẫn
duy trì mô hình xã hội phong kiến dựa trên nông nghiệp và hệ thống quan lại truyền thống.
Sự thiếu linh hoạt trong chính sách sự không nhìn nhận đúng mức các biến động toàn
cầu đã khiến Trung Hoa ngày càng bị tụt lại phía sau so với các nước khác, đặc biệt là khi
đối diện với sự ỗi dậy mạnh mẽ của phương Tây.tr
Quân sự yếu kém những thất bại trong việc bảo vlãnh thổ cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc làm suy gim vị ế của Trung Hoa. Kể từ th thời nhà Tống, Trung Hoa
đã liên tục phải chống đỡ những cuộc xâm lược từ các dân tộc du mục phía bắc như Khiết
Đan, Nữ Chân, và đặc biệt là người Mông Cổ. Những thất bại trong việc đẩy lùi các cuộc
xâm lược này đã dẫn đến sự sụp đổ của các triều đại như Tống và Minh, và kéo theo đó là
sự ống trị của người Mông Cdưới triều đại nNguyên. Mặc nhà Minh sau đó đã th
khôi phục quyền lực cho người Hán, nhưng việc duy trì an ninh biên giới vẫn là một gánh
nặng lớn, buộc triều đình phải tiêu tốn nhiều nguồn lực, làm suy yếu các lĩnh vực khác của
đất nước.
Những cuộc can thiệp mạnh mẽ từ các cường quốc phương Tây từ ế kỷ 19 trở đi th
càng làm tình hình thêm trầm trọng. Cuộc chiến tranh Nha phiến một minh chứng điển
hình cho sự bất lực của Trung Hoa khi đối diện với sức mạnh quân sự vượt trội công
nghệ tiên tiến của phương Tây. Những thất bại trong các cuộc xung đột này không chỉ
khiến Trung Hoa phải ký kết các hiệp ước bất bình đẳng còn làm mất đi nhiều lãnh thổ,
tài nguyên, và quyền lực chính trị. Hquả là, v ế của Trung Hoa trên trường quốc tế bị th
suy giảm nghiêm trọng, đồng thời lòng tự tôn dân tộc niềm tin của người dân vào khả
năng tự vệ của đất nước cũng bị tổn thương nặng nề.
19
Ảnh: Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhấ ấn Giangt Tr
Không thể bỏ qua vai trò của sự suy yếu kinh tế trong quá trình này. Trong khi các
quốc gia phương Tây Nhật Bản đã bắt đầu công nghiệp hóa, Trung Hoa vẫn dựa chủ
yếu vào nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Sự phụ thuộc này, cùng với sự thiếu đổi mới trong
sản xuất công nghệ, đã khiến kinh tế Trung Hoa ngày càng tụt hậu so với các cường
quốc khác. Các cuộc nổi dậy của nông dân thiên tai liên tiếp xảy ra cũng làm suy yếu
thêm nền kinh tế, khiến triều đình lâm vào tình trạng tài chính khó khăn giảm đi kh
năng duy trì quân đội cũng như quản lý quốc gia một cách hiệu quả.
Cuối cùng, hệ ống triều cống công cụ quan trọng mà Trung Hoa sdụng để th
duy trì ảnh hưởng trong khu vực Đông Á – cũng dần mất đi hiệu quả khi quốc gia này suy
yếu. Khi không còn đủ sức mạnh để duy trì hệ thống này, các quốc gia láng giềng như Nhật
Bản, Triều Tiên, và Việt Nam đã tìm kiếm những con đường phát triển độc lập, không còn
phụ thuộc vào Trung Hoa như trước. Hệ quả là, sự suy yếu của hệ ống triều cống không th
chỉ làm giả ảnh hưởng của Trung Hoa trong khu vực mà còn làm mất đi một phần quan m
20
trọng trong cơ chế duy trì trật tự khu vực, vốn từng giúp Trung Hoa nắm giữ vai trò trung
tâm trong suốt nhiều thế kỷ.
Tóm lại, sự suy yếu của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại là kết quả của một loạt
yếu tố phức tạp, từ bấ ổn nội bộ, tưởng chính trị cứng nhắc, suy yếu quân sự, đến sự t
thất bại trong việc thích ứng với những thay đổi toàn cầu sự can thiệp của các ờng
quốc ngoại bang. Những yếu tố này đã kết hợp lại, làm suy giảm nghiêm trọng vị ế củth a
một cường quốc từng thống trị khu vực Đông Á, dẫn đến sự sụp đổ của nhiều triều đại
mở ra một thời kỳ đầy thách thức cho quốc gia y. Những bài học từ sự suy tàn của Trung
Hoa cho thấy tầm quan trọng của sự linh hoạt, khả năng đổi mới và sẵn sàng thích ứng với
những biến động lịch sử để duy trì quyền lực sự ổn định trong một thế gii luôn thay
đổi.

Preview text:


ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ *** TI ỂU LUẬN
Môn học: Lịch sử quan hệ quốc tế
Đề tài: TRUNG HOA VỚI MÔ TRẬT TỰ ĐÔNG Á
THỜI KÌ TRUNG Đ ẠI Họ và tên : Đào Thị Thanh Thảo MSSV : 2357060099 Giảng viên : PGS.TS Trần Nam Tiế n h TS. Nguyễn Tuấn Khan TIỂU LUẬN
TRUNG HOA VỚI MÔ TRẬT TỰ ĐÔNG Á THỜI KÌ TRUNG ĐẠI Họ và tên :
Đào Thị Thanh Thảo MSSV : 2357060099 Giảng viên : PGS.TS Trần Nam T iến
TS. Nguyễn Tuấn Khanh
MC LC
LỜI MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
NỘI DUNG ............................................................................................................... 5
I. Bối cảnh lịch sử và chính trị của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại ......... 5
II. Trung Hoa ảnh hưởng lên mô trật tự Đông Á thời kỳ trung đại .............. 7
1. Hệ thống triều cống ............................................................................................................. 7
2. Ảnh hưởng văn hoá và tư tưởng: ....................................................................................... 11
2.1. Nho giáo: Hệ tư tưởng định hình trật tự xã hội và chính trị Đông Á ................................................ 12
2.2. Văn hóa Hán: Công cụ quyền lực mềm và biểu tượng văn minh ..................................................... 13
3. Thương mại và kinh tế .......................................................................................................... 14
III. Sự suy yếu vị thế của Trung Hoa trong trật tự Đông Á thời trung đại .. 17
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 22 3 LỜI MỞ ĐẦU
Thời kỳ trung đại là một giai đoạn lịch sử dài và phức tạp, kéo dài từ thế kỷ thứ III
đến thế kỷ XVII, đánh dấu những biến chuyển quan trọng trong lịch sử nhân loại. Đây là
thời kỳ mà các đế chế và vương quốc trên thế giới đã trải qua những giai đoạn thăng trầm,
với sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa, kinh tế, chính trị, và quân sự không chỉ ảnh hưởng
sâu sắc đến các xã hội và nền văn minh ở phương Tây mà còn để lại những dấu ấn quan
trọng ở phương Đông, đặc biệt là khu vực Đông Á. Trong những trang lịch sử của Đông Á
thời trung đại, Trung Hoa nổi lên như một trung tâm quyền lực, văn hóa và tư tưởng, có
sức ảnh hưởng vượt xa biên giới lãnh thổ của mình. Nếu ví Đông Á như một hệ mặt trời
rộng lớn và phức tạp, thì Trung Hoa chính là mặt trời, trung tâm rực rỡ và quyền lực, tỏa
sáng và lan tỏa ảnh hưởng của mình ra khắp các quốc gia xung quanh. Trung Hoa đã khéo
léo sử dụng hệ thống triều cống, Nho giáo và văn hóa Hán, kết hợ ới sức p v mạnh thương
mại và kinh tế, để thiết lập và duy trì ảnh hưởng sâu rộng lên các quốc gia Đông Á trong
thời kỳ trung đại. Qua đó, Trung Hoa không chỉ củng cố quyền lực chính trị mà còn lan tỏa
giá trị văn hóa và tư tưởng của mình, định hình trật tự khu vực và thúc đẩy sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực. Trật tự này không chỉ tồn tại trong suốt thời kỳ
trung đại mà còn để lại những dấu ấn sâu sắc trong lịch sử và văn hóa của các quốc gia
Đông Á đến tận ngày nay. Việc nghiên cứu và hiểu rõ về vai trò của Trung Hoa trong mô
trật tự Đông Á thời kỳ trung đại không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về lịch sử
khu vực mà còn cung cấp những bài học quý giá về cách thức mà quyền lực, văn hóa và tư
tưởng có thể tương tác và định hình thế giới. 4 NỘI DUNG
I. Bối cảnh lịch sử và chính trị của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại
Giai đoạn đầu của thời kỳ trung đại bắt đầu với sự thống nhất Trung Hoa dưới triều
đại nhà Tần (221-206 TCN). Nhà Tần, với vị hoàng đế đầu tiên Tần Thủy Hoàng, đã thống
nhất các tiểu quốc chiến tranh trong thời kỳ Chiến Quốc, thiết lập một chính quyền trung
ương mạnh mẽ. Tần Thủy Hoàng đã tiến hành hàng loạt cải cách, bao gồm tiêu chuẩn hóa
chữ viết, tiền tệ, và hệ thống đo lường, đồng thời xây dựng Vạn Lý Trường Thành để bảo
vệ biên giới phía bắc. Mặc dù triều đại nhà Tần chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng
nó đã đặt nền móng cho hệ thống chính trị phong kiến tập quyền của Trung Hoa trong suốt các triều đại sau này.
Sau sự sụp đổ của nhà Tần, nhà Hán (206 TCN - 220 SCN) nổi lên và tiếp tục củng
cố quyền lực trung ương, đồng thời mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng của Trung Hoa. Nhà
Hán thiết lập hệ thống triều cống, trong đó các quốc gia láng giềng phải gửi cống vật và
thừa nhận quyền lực của Trung Hoa. Đồng thời, Nho giáo được chọn làm hệ tư tưởng chính
thống, định hình cấu trúc xã hội và chính trị của đất nước. Sự phát triển của Nho giáo đã
tạo ra một tầng lớp quan lại học thức, trung thành với nhà nước và có vai trò quan trọng
trong việc duy trì trật tự và ổn định chính trị. Hệ thống quan lại này, cùng với sự phát triển
của nền kinh tế nông nghiệp, đã tạo nên một thời kỳ thịnh vượng kéo dài hơn bốn thế kỷ,
đưa Trung Hoa trở thành một trong những đế quốc mạnh mẽ nhất thế giới thời bấy giờ.
Sau một giai đoạn hỗn loạn và phân tán trong thời kỳ Tam Quốc và Nam Bắc triều,
nhà Đường (618-907) ra đời, đánh dấu một thời kỳ hoàng kim của văn hóa, nghệ thuật, và
sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Hoa ra toàn khu vực Đông Á. Nhà Đường không chỉ nổi
bật với sự phát triển rực rỡ về kinh tế và văn hóa mà còn với những cải cách chính trị sâu
rộng, giúp củng cố quyền lực của triều đình trung ương và mở rộng quan hệ ngoại giao với
các quốc gia láng giềng. Dưới thời nhà Đường, Trung Hoa thiết lập một mạng lưới quan
hệ triều cống rộng khắp với các quốc gia như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, và các vương
quốc Đông Nam Á. Trung Hoa trở thành trung tâm văn hóa của khu vực, với Trường An
(nay là Tây An) trở thành một trong những thành phố lớn nhất và sầm uất nhất thế giới.
Các nước láng giềng không chỉ gửi cống vật mà còn tiếp thu các giá trị văn hóa, tôn giáo,
và tư tưởng từ Trung Hoa, đặc biệt là Nho giáo và Phật giáo. Sự lan tỏa của văn hóa Trung
Hoa trong thời kỳ này đã tạo ra một khu vực Đông Á tương đối thống nhất về mặt văn hóa,
nơi mà Trung Hoa đóng vai trò trung tâm trong việc định hình bản sắc và cấu trúc xã hội của các quốc gia khác. 5
Thời kỳ nhà Tống (960-1279) chứng kiến sự phát triển vượt bậc về kinh tế và công
nghệ, nhưng đồng thời cũng là giai đoạn Trung Hoa đối mặt với nhiều thách thức lớn về
mặt chính trị và quân sự. Mặc dù nhà Tống nổi tiếng với sự phát triển của thương mại và
khoa học, cùng với những phát minh quan trọng như in ấn, la bàn, và thuốc súng, nhưng
triều đại này lại gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì quyền lực trước sự xâm lược của các
dân tộc du mục từ phía bắc, đặc biệt là người Khiết Đan, người Nữ Chân, và cuối cùng là
người Mông Cổ. Cuộc xâm lược của người Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư
Hãn và các hậu duệ của ông đã đặt dấu chấm hết cho triều đại nhà Tống, đồng thời đưa nhà
Nguyên (1271-1368) do người Mông Cổ thành lập lên nắm quyền ở Trung Hoa. Sự thống
trị của người Mông Cổ đã thay đổi cấu trúc chính trị và xã hội của Trung Hoa, khi họ áp
đặt một hệ thống cai trị mới và đưa Trung Hoa vào một mạng lưới giao thương rộng lớn,
kết nối Á-Âu. Tuy nhiên, nhà Nguyên chỉ tồn tại trong khoảng một thế kỷ trước khi bị lật
đổ bởi nhà Minh, triều đại đã khôi phục quyền lực của người Hán và đưa Trung Hoa trở lại
vị trí trung tâm ở Đông Á.
Nhà Minh (1368-1644) ra đời sau sự sụp đổ của nhà Nguyên, mang theo một giai
đoạn phục hưng về văn hóa và chính trị. Triều đình nhà Minh đã tái lập quyền lực trung
ương mạnh mẽ, khôi phục hệ thống triều cống và đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao với
các nước láng giềng. Đồng thời, nhà Minh cũng tiến hành nhiều cuộc thám hiểm hàng hải
dưới sự chỉ huy của Đô đốc Trịnh Hòa, mở rộng ảnh hưởng của Trung Hoa ra khu vực
Đông Nam Á, Ấn Độ Dương và xa hơn nữa. Những cuộc thám hiểm này không chỉ khẳng
định vị thế của Trung Hoa trên trường quốc tế mà còn thúc đẩy giao lưu thương mại và văn
hóa, củng cố thêm sự thịnh vượng của đất nước. Tuy nhiên, nhà Minh phải đối mặt với
nhiều thách thức từ phía bắc, đặc biệt là sự trỗi dậy của người Mãn Châu, dẫn đến sự sụp
đổ của triều đại này và sự ra đời của nhà Thanh (1644-1912). Nhà Thanh, triều đại cuối
cùng của Trung Hoa, đã tiếp tục duy trì và mở rộng hệ thống triều cống, đồng thời thực
hiện nhiều cải cách để đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài, bao gồm cả sự xâm nhập
của các cường quốc phương Tây. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XIX, nhà Thanh bắt đầu suy
yếu do các cuộc chiến tranh với phương Tây (như Chiến tranh Nha phiến) và các cuộc nổi
dậy nội bộ, dẫn đến sự sụp đổ cuối cùng vào năm 1912 và chấm dứt chế độ phong kiến ở Trung Hoa. 6
Thời kỳ trung đại của Trung Hoa là một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nơi các
triều đại phong kiến không chỉ phải đối mặt với những thách thức nội bộ mà còn với những
mối đe dọa từ bên ngoài. Trong suốt giai đoạn này, Trung Hoa đã không ngừng củng cố
quyền lực trung ương, mở rộng ảnh hưởng ra khu vực Đông Á, và phát triển một nền văn
minh rực rỡ có ảnh hưởng sâu rộng đến các nước láng giềng. Mặc dù phải trải qua nhiều
thăng trầm, nhưng Trung Hoa vẫn duy trì được vị thế của mình như một cường quốc khu
vực, và di sản của thời kỳ trung đại vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cấu trúc chính trị và
văn hóa của khu vực Đông Á cho đến ngày nay.
II. Trung Hoa ảnh hưởng lên mô trật tự Đông Á thời kỳ trung đại
1. Hệ thống triều cống
Hệ thống triều cống là một mô hình chính trị và ngoại giao mà Trung Hoa thiết lập
để duy trì trật tự và ảnh hưởng của mình trong khu vực Đông Á. Các nước láng giềng như
Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á gửi sứ thần và cống vật
đến triều đình Trung Hoa để thể hiện lòng trung thành và thừa nhận quyền lực vượt trội 7
của Trung Hoa. Họ chấp nhận vai trò phụ thuộc vào Trung Hoa để đổi lấy sự bảo trợ cũng
như các lợi ích kinh tế, chẳng hạn như quyền tiếp cận thương mại với Trung Hoa. Mối quan
hệ này mang tính chất quyền lực mềm, Trung Hoa sử dụng sức mạnh văn hóa và tư tưởng
để duy trì sự ảnh hưởng mà không cần sử dụng đến sức mạnh quân sự trực tiếp.
Ảnh: Các sứ đoàn các nước trong triều đình Trung Hoa
Ảnh: Vua Càn Long nhận cống phẩm 8
Trong lịch sử Đông Á, hệ thống triều cống đóng vai trò quan trọng trong việc duy
trì trật tự khu vực, thúc đẩy giao lưu văn hóa, và kết nối kinh tế giữa các quốc gia. Đầu
tiên, về mặt chính trị, hệ thống triều cống thiết lập một cấu trúc quyền lực rõ ràng, đó là
Trung Hoa đóng vai trò trung tâm quyền lực tối cao. Hệ thống này đã giúp duy trì sự ổn
định và trật tự trong khu vực qua việc các quốc gia chư hầu hạn chế những cuộc xung đột
quân sự trực tiếp với Trung Hoa. Thay vì sử dụng vũ lực để đối đầu, các quốc gia này chọn
cách công nhận quyền lực của Trung Hoa và nhận lại sự bảo trợ quân sự và an ninh khi cần
thiết. Điều này đặc biệt quan trọng trong một khu vực đầy biến động như Đông Á, nơi mà
các cuộc xâm lược từ bên ngoài và sự chia rẽ nội bộ luôn là mối đe dọa tiềm tàng. Bên
cạnh vai trò chính trị, hệ thống triều cống còn là một phương tiện quan trọng để Trung Hoa
lan tỏa văn hóa và tư tưởng của mình đến các quốc gia láng giềng. Thông qua hệ thống
này, Nho giáo, chữ Hán, và các yếu tố văn hóa Hán đã trở thành nền tảng không chỉ trong
xã hội Trung Hoa mà còn được áp dụng rộng rãi trong các quốc gia như Triều Tiên, Nhật
Bản, và Việt Nam. Hơn nữa, các chuyến đi triều cống không chỉ đơn thuần là các nghi lễ
cống nạp mà còn là cơ hội để các nước chư hầu tham gia vào quá trình trao đổi văn hóa,
học thuật và nghệ thuật với Trung Hoa. Điều này đã tạo ra một môi trường giao lưu văn
hóa phong phú và đa dạng, thúc đẩy sự phát triển của các nền văn hóa bản địa đồng thời
tiếp thu những yếu tố văn hóa tiến bộ từ Trung Hoa. Ví dụ, Triều Tiên đã tiếp nhận Nho
giáo làm nền tảng cho hệ thống quan lại và giáo dục, trong khi Nhật Bản đã phát triển nghệ
thuật và kiến trúc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Trung Hoa, nhưng lại biến đổi theo cách
riêng để phù hợp với văn hóa bản địa. Ngoài ra, hệ thống triều cống còn đóng vai trò quan
trọng trong việc kết nối kinh tế và thương mại giữa Trung Hoa và các quốc gia láng giềng.
Một trong những cơ chế chính của hệ thống này là thương mại triều cống, nơi các nước
chư hầu gửi cống vật đến Trung Hoa và nhận lại những hàng hóa quý giá như lụa, gốm sứ,
trà, và các sản phẩm thủ công tinh xảo. Hình thức thương mại này không chỉ mang lại lợi
ích kinh tế cho cả hai bên mà còn củng cố mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tạo nên một hệ
thống kinh tế khu vực tương đối ổn định. Ngoài ra, các quốc gia chư hầu còn thiết lập các 9
tuyến thương mại riêng, cả trên đất liền qua “Con đường Tơ lụa”, và trên biển qua các
tuyến hàng hải kết nối Trung Hoa với Đông Nam Á, Ấn Độ và hơn thế nữa. Những tuyến
thương mại này đã trở thành xương sống của mạng lưới kinh tế khu vực, góp phần làm cho
Đông Á trở thành một trong những trung tâm thương mại sôi động nhất thế giới thời kỳ bấy giờ.
Tuy nhiên, hệ thống chư hầu cũng không tránh khỏi những hạn chế và mâu thuẫn
nội tại. Một mặt, nó củng cố quyền lực của Trung Hoa và duy trì trật tự khu vực, nhưng
mặt khác, nó cũng tạo ra sự bất mãn và kháng cự từ phía các nước chư hầu, đặc biệt khi họ
cảm thấy bị áp đặt quá mức. Các cuộc xung đột quân sự giữa Trung Hoa và các nước láng
giềng, chẳng hạn như các cuộc kháng chiến chống lại nhà Nguyên của Việt Nam, cho thấy
rằng hệ thống chư hầu, dù có tác dụng duy trì trật tự, nhưng không phải lúc nào cũng đảm
bảo được sự ổn định và hòa bình.
Bất chấp vai trò quan trọng mà hệ thống triều cống từng giữ, sự biến đổi của thời
đại đã đặt dấu chấm hết cho mô hình này khi khu vực Đông Á bước vào một kỷ nguyên
mới với nhiều thay đổi sâu sắc. Sự suy tàn của hệ thống triều cống ở Trung Hoa và Đông
Á là kết quả của một loạt các biến động chính trị, kinh tế và xã hội từ bên ngoài và những
biến động nội bộ diễn ra từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Hệ thống triều cống, từng
là nền tảng của trật tự khu vực Đông Á, bắt đầu suy yếu khi các cường quốc phương Tây,
đặc biệt là Anh, Pháp và Hoa Kỳ, xâm nhập vào khu vực, áp đặt các hiệp ước bất bình đẳng
và làm suy giảm đáng kể chủ quyền của Trung Hoa. Những cuộc chiến tranh như Chiến
tranh Nha phiến (1839-1860) đã phơi bày sự yếu kém của nhà Thanh và làm lung lay lòng
tin của các nước chư hầu vào khả năng bảo vệ và duy trì trật tự của Trung Hoa. Đồng thời,
sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và các phong trào cải cách trong khu vực, điển hình là
cuộc cải cách Minh Trị (1868-1912) ở Nhật Bản, đã thúc đẩy các quốc gia chư hầu tìm
kiếm con đường độc lập khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa. Sự phát triển mạnh mẽ của Nhật
Bản, đặc biệt sau chiến thắng trước Trung Hoa trong Chiến tranh Trung-Nhật, đã làm suy
giảm vị thế trung tâm của Trung Hoa trong khu vực và phá vỡ cấu trúc triều cống vốn tồn
tại hàng thế kỷ. Bên cạnh đó, các cuộc khủng hoảng nội bộ như cuộc nổi dậy Thái Bình 10
Thiên Quốc (1850-1864) và cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn (1899-1901), cùng với sự suy
yếu của triều đình nhà Thanh, đã làm cho Trung Hoa mất dần khả năng kiểm soát và duy
trì hệ thống triều cống. Cuối cùng, sự sụp đổ của nhà Thanh vào năm 1912 và sự ra đời của
các quốc gia dân tộc hiện đại đã đánh dấu sự kết thúc chính thức của hệ thống triều cống,
thay thế nó bằng các mối quan hệ quốc tế dựa trên chủ quyền quốc gia và bình đẳng. Sự
suy tàn của hệ thống triều cống không chỉ là sự kết thúc của một cơ chế quyền lực cổ xưa
mà còn phản ánh những thay đổi sâu sắc trong trật tự thế giới và mối quan hệ quyền lực
trong khu vực Đông Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử quan hệ quốc tế của khu vực này.
2. Ảnh hưởng văn hoá và tư tưởng
Trong suốt thời kỳ trung đại, Trung Hoa nổi lên như một trung tâm văn hóa và tư
tưởng có ảnh hưởng sâu rộng, định hình không chỉ cấu trúc xã hội và chính trị mà còn bản
sắc văn hóa của toàn bộ khu vực Đông Á. Nho giáo và văn hóa Hán, với những giá trị đặc
thù của mình, đã trở thành những công cụ mạnh mẽ để Trung Hoa thiết lập quyền lực mềm,
lan tỏa ảnh hưởng của mình đến các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt
Nam. Không chỉ đơn thuần là những giá trị tư tưởng và văn hóa, Nho giáo và văn hóa Hán
còn phản ánh một động lực bành trướng tinh vi của Trung Hoa: truyền bá các giá trị trên,
củng cố quyền lực và vị thế trung tâm trong khu vực. 11
2.1. Nho giáo: Hệ tư tưởng định hình trật tự xã hội và chính trị Đông Á
Nho giáo, với tư cách là hệ tư tưởng chính
thống của Trung Hoa, đã trở thành nền tảng cho
trật tự xã hội và chính trị của nhiều quốc gia Đông
Á. Được phát triển từ triết lý của Khổng Tử (551-
479 TCN), Nho giáo nhấn mạnh vào đạo đức cá
nhân, trách nhiệm xã hội, và tôn trọng trật tự gia
đình và xã hội. Nho coi trọng việc tuân thủ các mối
quan hệ xã hội dựa trên các nguyên tắc của “nhân,
lễ, nghĩa, trí, và tín”, từ đó xây dựng một hệ thống
xã hội ổn định và có trật tự. Nho giáo cũng nhấn
mạnh vào sự học tập và tự hoàn thiện, coi trọng
giáo dục như con đường duy nhất để đạt đến sự
hoàn thiện cá nhân và phục vụ quốc gia. Hệ tư tưởng này đã tạo ra một tầng lớp trí thức
trung thành với nhà nước, giúp củng cố quyền lực của các triều đại cai trị. Sức mạnh của
Nho giáo nằm ở khả năng tạo ra một xã hội có trật tự và một hệ thống chính trị ổn định,
nơi mà sự tôn trọng và phục tùng các giá trị truyền thống được xem là tối thượng.
Nho giáo không chỉ là một hệ tư tưởng mà còn là nền tảng cho sự tổ chức chính trị
và xã hội của Trung Hoa. Hệ thống thi cử khoa bảng, dựa trên các nguyên tắc của Nho
giáo, đã trở thành công cụ chính để tuyển chọn quan lại, từ đó xây dựng một bộ máy nhà
nước hiệu quả và ổn định. Với khả năng cung cấp một khung đạo đức và pháp lý chặt chẽ,
Nho giáo trở thành nền tảng tư tưởng chủ đạo không chỉ ở Trung Hoa mà còn ở các nước
láng giềng. Tại Việt Nam, Nho giáo cũng được coi trọng từ thời Lý, Trần đến thời Lê sơ.
Các triều đại này đã thiết lập hệ thống thi cử dựa trên Nho giáo để lựa chọn quan lại, từ đó
củng cố bộ máy hành chính và duy trì sự ổn định chính trị. Triều đình nhà Lê sơ (1428-
1527) đã xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội như một trung tâm giáo dục cao
cấp, nơi các sĩ tử học tập và nghiên cứu các tư tưởng của Khổng Tử. Nho giáo không chỉ
ảnh hưởng đến hệ thống chính trị mà còn thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành nền tảng 12
đạo đức và cách thức ứng xử trong gia đình và cộng đồng. Tuy
nhiên, sự lan tỏa này không
hoàn toàn đồng nghĩa với sự đồng hóa. Các quốc gia láng giềng thường tiếp nhận các yếu
tố văn hóa Trung Hoa và điều chỉnh chúng để phù hợp với bản sắc và nhu cầu riêng của
mình. Nhật Bản tiếp thu Nho giáo và Phật giáo từ Trung Hoa nhưng phát triển thành các
phiên bản riêng biệt như Thiền (Zen) Phật giáo và hệ thống samurai có ảnh hưởng của Nho
giáo nhưng cũng mang đặc trưng Nhật Bản.
2.2. Văn hóa Hán: Công cụ quyền lực mềm và biểu tượng văn minh
Văn hóa Hán, với các yếu tố nổi bật như ngôn ngữ, nghệ thuật, và tư tưởng, không
chỉ là biểu tượng của sự văn minh mà còn là một công cụ quyền lực mềm mà Trung Hoa
sử dụng để mở rộng ảnh hưởng của mình. Chẳng hạn, chữ Hán không chỉ là phương tiện
giao tiếp mà còn là biểu tượng của tri thức và uy quyền. Khả năng sử dụng chữ Hán trở
thành một tiêu chuẩn để đánh giá sự học vấn và phẩm giá của một người trong xã hội, đồng
thời là dấu hiệu của sự văn minh và thịnh vượng. Việc sử dụng chữ Hán trong các văn bản
chính thức và học thuật không chỉ giúp truyền tải tư tưởng mà còn đóng vai trò quan trọng
trong việc duy trì sự liên kết văn hóa giữa các nước trong khu vực. Ở Triều Tiên, chữ Hán
được sử dụng trong các văn bản chính thức và học thuật cho đến thế kỷ XX, trước khi hệ
thống chữ Hangeul được phổ biến. Ở Nhật Bản, chữ Hán (Kanji) trở thành một trong ba hệ
thống chữ viết chính, cùng với Hiragana và Katakana. Sự tiếp nhận chữ Hán không chỉ là
một sự tiếp nhận ngôn ngữ, mà còn là sự tiếp nhận văn hóa và tri thức Trung Hoa.
Bên cạnh ngôn ngữ, nghệ thuật và kiến trúc Trung Hoa cũng để lại dấu ấn đậm nét
trong các nền văn hóa Đông Á. Các phong cách nghệ thuật như hội họa, thư pháp, và kiến
trúc đều mang đậm dấu ấn của văn hóa Hán, trở thành chuẩn mực trong việc sáng tạo và
xây dựng bản sắc văn hóa ở các quốc gia láng giềng. Sự hấp dẫn của văn hóa Hán nằm ở
chỗ nó không chỉ thể hiện sự thịnh vượng và quyền lực mà còn là biểu tượng của sự văn
minh, khiến cho các quốc gia khác phải noi theo để khẳng định vị thế của mình trong khu
vực. Các phong cách kiến trúc như đình, chùa, và cung điện ở Triều Tiên, Nhật Bản và Việt 13
Nam thường mang đậm ảnh hưởng từ kiến trúc truyền thống Trung Hoa. Ở Nhật Bản,
phong cách kiến trúc của các đền thờ Shinto và Phật giáo được phát triển dựa trên nguyên
mẫu từ Trung Hoa, nhưng được điều chỉnh để phù hợp với môi trường và văn hóa địa
phương. Tại Việt Nam, những công trình kiến trúc nổi bật như Khuê Văn Các hay chùa
Một Cột cũng mang nhiều yếu tố kiến trúc Hán.
Động lực đằng sau sự lan tỏa của Nho giáo và văn hóa Hán không chỉ đơn thuần
là sự truyền bá văn hóa mà còn là một chiến lược quyền lực mềm tinh vi của Trung Hoa
nhằm củng cố và mở rộng ảnh hưởng của mình trong khu vực mà không cần sử dụng đến
quân sự. Việc các quốc gia láng giềng chấp nhận Nho giáo và văn hóa Hán không chỉ giúp
Trung Hoa duy trì vị thế trung tâm mà còn tạo ra một mạng lưới quyền lực, trong đó các
quốc gia này phụ thuộc vào Trung Hoa về mặt văn hóa và tư tưởng. Tuy nhiên, sự lan tỏa
này không hoàn toàn đồng nghĩa với sự đồng hóa. Các quốc gia láng giềng thường tiếp
nhận các yếu tố văn hóa Trung Hoa và điều chỉnh chúng để phù hợp với bản sắc và nhu
cầu riêng của mình. Có thể thấy Nhật Bản tiếp thu Nho giáo và Phật giáo từ Trung Hoa
nhưng phát triển thành các phiên bản riêng biệt như Thiền (Zen) Phật giáo và hệ thống
samurai có ảnh hưởng của Nho giáo nhưng cũng mang đặc trưng Nhật Bản. Suy cho cùng,
Nho giáo và văn hóa Hán là những yếu tố nổi bật đã giúp Trung Hoa mở rộng và củng cố
ảnh hưởng của mình trong khu vực Đông Á thời trung đại. Sự lan tỏa của Nho giáo và văn
hóa Hán không chỉ định hình trật tự xã hội và chính trị của Đông Á thời trung đại mà còn
để lại những dấu ấn sâu sắc trong bản sắc văn hóa của các quốc gia trong khu vực.
3. Thương mại và kinh tế
Trung Hoa đã thiết lập và duy trì một mạng lưới thương mại rộng lớn, bao gồm cả
đường bộ và đường biển, kết nối các quốc gia Đông Á với nhau và với các khu vực khác 14
trên thế giới. Con đường Tơ lụa, nổi
tiếng với tuyến đường bộ xuyên qua
Trung Á, đã trở thành một trong
những tuyến thương mại quan trọng
nhất, nối liền Trung Hoa với các quốc
gia ở Trung Á, Tây Á, và châu Âu.
Qua Con đường Tơ lụa, Trung Hoa đã
xuất khẩu các sản phẩm quý giá như
lụa, trà, và gốm sứ, đồng thời nhập khẩu hàng hóa xa xỉ và nguyên liệu từ các vùng đất xa
xôi. Thương mại qua Con đường Tơ lụa không chỉ mang lại sự thịnh vượng kinh tế cho
Trung Hoa mà còn tạo ra sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa Trung Hoa và các quốc gia
tham gia vào mạng lưới thương mại này. Bên cạnh Con đường Tơ lụa, các tuyến đường
biển kết nối Trung Hoa với Đông Nam Á, Ấn Độ, và xa hơn nữa cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy thương mại khu vực. Các cảng biển như Quảng Châu và Hàng
Châu trở thành trung tâm thương mại sôi động, nơi các thương nhân từ khắp nơi trên thế
giới đến để mua bán hàng hóa. Thương mại đường biển không chỉ giúp Trung Hoa tiếp cận
các thị trường mới mà còn tạo điều kiện cho sự lan tỏa văn hóa và công nghệ giữa Trung
Hoa và các quốc gia Đông Á khác. Thông qua các tuyến thương mại này, Trung Hoa đã
thiết lập một mạng lưới kinh tế phức tạp, trong đó các quốc gia Đông Á không chỉ là những
đối tác thương mại mà còn là những vệ tinh kinh tế phụ thuộc vào sự thịnh vượng của
Trung Hoa. Mặc dù thương mại mang tính chất cùng có lợi nhưng vẫn có sự bất cân xứng
về quyền lực vì Trung Hoa luôn nắm vị trí trung tâm và có quyền kiểm soát các điều kiện thương mại.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất của ảnh hưởng kinh tế của Trung Hoa đối
với Đông Á thời trung đại là sự lan tỏa công nghệ và hàng hóa. Trung Hoa, với sự phát
triển vượt bậc về khoa học và công nghệ, đã đóng vai trò là nguồn cung cấp các phát minh
và công nghệ mới cho khu vực. Các công nghệ như in ấn, la bàn, và thuốc súng, được phát
minh hoặc hoàn thiện tại Trung Hoa, đã lan tỏa ra các quốc gia láng giềng và tạo ra những 15
thay đổi lớn trong xã hội và quân sự của họ. Ví dụ, công nghệ in ấn của Trung Hoa đã được
truyền bá đến Triều Tiên và Nhật Bản, nơi nó thúc đẩy sự phát triển của giáo dục và văn
hóa viết. Sự phổ biến của sách in đã giúp truyền bá kiến thức và tư tưởng, đồng thời củng
cố hệ thống giáo dục và khoa bảng ở các quốc gia này. La bàn, một phát minh quan trọng
khác của Trung Hoa, đã cách mạng hóa ngành hàng hải, giúp các quốc gia Đông Á mở
rộng thương mại đường biển và khám phá các vùng đất mới. Thuốc súng, mặc dù ban đầu
được sử dụng chủ yếu trong các hoạt động quân sự, sau này đã trở thành một yếu tố quan
trọng trong việc củng cố quyền lực quân sự và bảo vệ lãnh thổ ở nhiều quốc gia Đông Á.
Ngoài công nghệ, Trung Hoa còn xuất khẩu một lượng lớn hàng hóa có giá trị cao, như lụa,
gốm sứ, và trà, tạo ra sự thịnh vượng kinh tế cho cả Trung Hoa và các đối tác thương mại
của mình. Những sản phẩm này không chỉ là nguồn thu nhập quan trọng cho Trung Hoa
mà còn trở thành biểu tượng của sự giàu có và tinh tế trong văn hóa Đông Á. Các quốc gia
như Nhật Bản và Triều Tiên không chỉ tiêu thụ các sản phẩm này mà còn tìm cách học hỏi
và sản xuất chúng theo tiêu chuẩn của Trung Hoa, từ đó tạo ra những ngành công nghiệp
nội địa dựa trên mẫu mực của Trung Hoa.
Ảnh: 4 phát minh vĩ đại của Trung Hoa
Thương mại và kinh tế của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại đã có ảnh hưởng sâu
rộng và bền vững đến khu vực Đông Á. Trung Hoa không chỉ thiết lập và duy trì một mạng
lưới thương mại rộng lớn mà còn lan tỏa công nghệ và hàng hóa, tạo ra những thay đổi 16
quan trọng trong xã hội và kinh tế của các quốc gia láng giềng. Sự phụ thuộc kinh tế giữa
Trung Hoa và các nước Đông Á đã giúp củng cố trật tự khu vực và duy trì sự ổn định trong
suốt nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, sự phụ thuộc này cũng mang tính hai mặt, khi mà các quốc
gia chư hầu có thể dễ dàng trở thành đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các biến động
kinh tế hoặc chính trị của Trung Hoa. Một khi nền kinh tế Trung Hoa suy yếu hoặc triều
đình mất đi quyền lực, các quốc gia láng giềng cũng phải đối mặt với những thách thức lớn
trong việc duy trì sự ổn định và phát triển kinh tế của mình. Trong bối cảnh đó, ảnh hưởng
kinh tế của Trung Hoa đối với Đông Á thời trung đại không chỉ là một câu chuyện về thịnh
vượng và hợp tác mà còn là một bài học về sự ức t ph
ạp của các mối quan hệ quyền lực và kinh tế trong khu vực.
III. Sự suy yếu vị thế của Trung Hoa trong trật tự Đông Á thời trung đại
Sự suy tàn của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại không chỉ là một quá trình nội
tại của quốc gia này mà còn có những tác động sâu rộng đến toàn bộ trật tự khu vực Đông
Á. Những yếu tố dẫn đến sự suy tàn của Trung Hoa không chỉ bắt nguồn từ những vấn đề
nội tại mà còn do những tác động từ bên ngoài, bao gồm các biến động xã hội, chính trị,
và kinh tế trên toàn cầu. Để hiểu rõ hơn về quá trình này, cần xem xét một loạt nguyên
nhân phức tạp và đan xen đã làm Trung Hoa từ một trung tâm quyền lực trở nên yếu thế trên trường quốc tế.
Một nguyên nhân sâu xa của sự suy yếu nằm ở tình trạng bất ổn nội bộ và sự quản
lý kém hiệu quả của các triều đại phong kiến. Mặc dù các triều đại như Tần, Hán, Đường,
và Minh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng từ thời nhà Tống trở đi, Trung Hoa phải
đối mặt với những khó khăn ngày càng gia tăng. Sự phân tán quyền lực, nạn tham nhũng
tràn lan trong bộ máy quan lại, và những cuộc nổi dậy của nông dân đã làm xói mòn khả
năng cai trị của triều đình. Những vấn đề này không chỉ làm mất lòng tin của dân chúng
mà còn mở đường cho các thế lực đối địch trong và ngoài nước trỗi dậy, đe dọa sự ổn định của quốc gia. 17
Cùng với những vấn đề nội bộ, tư tưởng chính trị bảo thủ cũng là một yếu tố không
nhỏ góp phần làm suy yếu Trung Hoa. Hệ tư tưởng Nho giáo, dù đã giúp duy trì trật tự xã
hội trong nhiều thế kỷ, lại trở thành một rào cản đối với sự đổi mới và sáng tạo. Trong khi
các quốc gia khác như Nhật Bản bắt đầu hiện đại hóa và công nghiệp hóa, Trung Hoa vẫn
duy trì mô hình xã hội phong kiến dựa trên nông nghiệp và hệ thống quan lại truyền thống.
Sự thiếu linh hoạt trong chính sách và sự không nhìn nhận đúng mức các biến động toàn
cầu đã khiến Trung Hoa ngày càng bị tụt lại phía sau so với các nước khác, đặc biệt là khi
đối diện với sự trỗi dậy mạnh mẽ của phương Tây.
Quân sự yếu kém và những thất bại trong việc bảo vệ lãnh thổ cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc làm suy giảm vị thế của Trung Hoa. Kể từ thời nhà Tống, Trung Hoa
đã liên tục phải chống đỡ những cuộc xâm lược từ các dân tộc du mục phía bắc như Khiết
Đan, Nữ Chân, và đặc biệt là người Mông Cổ. Những thất bại trong việc đẩy lùi các cuộc
xâm lược này đã dẫn đến sự sụp đổ của các triều đại như Tống và Minh, và kéo theo đó là
sự thống trị của người Mông Cổ dưới triều đại nhà Nguyên. Mặc dù nhà Minh sau đó đã
khôi phục quyền lực cho người Hán, nhưng việc duy trì an ninh biên giới vẫn là một gánh
nặng lớn, buộc triều đình phải tiêu tốn nhiều nguồn lực, làm suy yếu các lĩnh vực khác của đất nước.
Những cuộc can thiệp mạnh mẽ từ các cường quốc phương Tây từ thế kỷ 19 trở đi
càng làm tình hình thêm trầm trọng. Cuộc chiến tranh Nha phiến là một minh chứng điển
hình cho sự bất lực của Trung Hoa khi đối diện với sức mạnh quân sự vượt trội và công
nghệ tiên tiến của phương Tây. Những thất bại trong các cuộc xung đột này không chỉ
khiến Trung Hoa phải ký kết các hiệp ước bất bình đẳng mà còn làm mất đi nhiều lãnh thổ,
tài nguyên, và quyền lực chính trị. Hệ quả là, vị thế của Trung Hoa trên trường quốc tế bị
suy giảm nghiêm trọng, đồng thời lòng tự tôn dân tộc và niềm tin của người dân vào khả
năng tự vệ của đất nước cũng bị tổn thương nặng nề. 18
Ảnh: Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất ở Trấn Giang
Không thể bỏ qua vai trò của sự suy yếu kinh tế trong quá trình này. Trong khi các
quốc gia phương Tây và Nhật Bản đã bắt đầu công nghiệp hóa, Trung Hoa vẫn dựa chủ
yếu vào nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Sự phụ thuộc này, cùng với sự thiếu đổi mới trong
sản xuất và công nghệ, đã khiến kinh tế Trung Hoa ngày càng tụt hậu so với các cường
quốc khác. Các cuộc nổi dậy của nông dân và thiên tai liên tiếp xảy ra cũng làm suy yếu
thêm nền kinh tế, khiến triều đình lâm vào tình trạng tài chính khó khăn và giảm đi khả
năng duy trì quân đội cũng như quản lý quốc gia một cách hiệu quả.
Cuối cùng, hệ thống triều cống – công cụ quan trọng mà Trung Hoa sử dụng để
duy trì ảnh hưởng trong khu vực Đông Á – cũng dần mất đi hiệu quả khi quốc gia này suy
yếu. Khi không còn đủ sức mạnh để duy trì hệ thống này, các quốc gia láng giềng như Nhật
Bản, Triều Tiên, và Việt Nam đã tìm kiếm những con đường phát triển độc lập, không còn
phụ thuộc vào Trung Hoa như trước. Hệ quả là, sự suy yếu của hệ thống triều cống không
chỉ làm giảm ảnh hưởng của Trung Hoa trong khu vực mà còn làm mất đi một phần quan 19
trọng trong cơ chế duy trì trật tự khu vực, vốn từng giúp Trung Hoa nắm giữ vai trò trung
tâm trong suốt nhiều thế kỷ.
Tóm lại, sự suy yếu của Trung Hoa trong thời kỳ trung đại là kết quả của một loạt
yếu tố phức tạp, từ bất ổn nội bộ, tư tưởng chính trị cứng nhắc, suy yếu quân sự, đến sự
thất bại trong việc thích ứng với những thay đổi toàn cầu và sự can thiệp của các cường
quốc ngoại bang. Những yếu tố này đã kết hợp lại, làm suy giảm nghiêm trọng vị thế của
một cường quốc từng thống trị khu vực Đông Á, dẫn đến sự sụp đổ của nhiều triều đại và
mở ra một thời kỳ đầy thách thức cho quốc gia này. Những bài học từ sự suy tàn của Trung
Hoa cho thấy tầm quan trọng của sự linh hoạt, khả năng đổi mới và sẵn sàng thích ứng với
những biến động lịch sử để duy trì quyền lực và sự ổn định trong một thế giới luôn thay đổi. 20