













Preview text:
lOMoAR cPSD| 61256830 MỤC LỤC
Phần mở đầu………………………………………………………………………….
Phần nội dung…………………………………………………...................................
1: Một số vấn đề lý luận chung
1.1. Lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế 1.1.1. Lợi ích kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm lợi ích kinh tế
1.1.1.2. Bản chất lợi ích kinh tế
1.1.1.3. Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế - xã hội
1.1.2. Quan hệ lợi ích kinh tế 1.1.2.1. Khái niệm
1.1.2.2. Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế
1.1.2.4. Một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường
1.2. Vai trò của nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích
2: Vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích xã hội ở Việt Nam
2.1. Các giải pháp áp dụng
2.1.1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích của các chủ thể kinh tế
2.1.2. Điều hòa lợi ích giữa cá nhân – doanh nghiệp – xã hội
2.1.3. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển xã hội
2.2. Thành tựu đạt được 2.3. Hạn chế lOMoAR cPSD| 61256830
3: Đánh giá giải pháp và đề ra phương hướng, giải pháp duy trì 3.1. Đánh giá 3.2. Giải pháp duy trì
Phần kết………………………………………………………………………………...
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………………….. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CNXH: Chủ nghĩa xã hội LICN: Lợi ích cá nhân LIXH: Lợi ích xã hội
KTTT: Kinh tế thị trường lOMoAR cPSD| 61256830 LỜI MỞ ĐẦU
Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, xây dựng nền công nghiệp hóa hiện đại hóa thì
vấn đề nổi lên không chỉ ở nước ta mà ở cả các nước đang phát triển là tình trạng cơ sở hạ tầng
kém, thiếu kinh nghiệm, trình độ đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức cao. Đặc biệt, vấn đề về
lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề kinh tế lớn của Nhà nước mà đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VII đã đề ra cho giai đoạn phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay. Đảng ta đã xác định: “Bảo
đảm lợi ích, sự kết hợp hài hòa các lợi ích và phương thức thực hiện lợi ích công bằng, hợp lý cho
mọi người, cho các chủ thể, nhất là lợi ích kinh tế”. Để tồn tại trong cơ chế mới với sự cạnh tranh
khốc liệt thì lợi ích kinh tế cá nhân và lợi ích của toàn xã hội nói chung luôn được quan tâm hàng
đầu. Trong quá trình thực hiện lợi ích của mình, mỗi chủ thể luôn có xu hướng bảo vệ lợi ích thiết
thân, khó chấp nhận từ bỏ lợi ích bản thân, dù điều đó có thể tạo mâu thuẫn, xung đột với các chủ
thể lợi ích khác. Thực chất của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay là quá trình tác động vào việc nhận thức và thực
hiện lợi ích của cá nhân và xã hội, tạo ra sự hài hòa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Chính vì vậy mà vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo các quan hệ lợi ích kinh tế là vô
cùng quan trọng, nó giúp các doanh nghiệp hoặc tư nhân có được những lợi ích và công bằng chính
đáng từ đó giúp cho kinh tế thị trường Việt Nam trở nên minh bạch và công bằng, góp phần thúc
đẩy kinh tế xã hội, thậm chí là nhận được sự tin cậy và đầu tư của các nước láng giềng, càng giúp
cho Việt Nam càng phát triển và rút ngắn khoảng cách trình độ với thế giới, trở thành đất nước
đáng sống và đáng được đầu tư. Chính vì những yếu tố vô cùng quan trọng đó để đất nước phát
triển, nhóm chúng em chọn đề tài những vai trò của nhà nước được vai trò của nhà nước trong
việc đảm bảo lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. NỘI DUNG
1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế 1.1.1. Lợi ích kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm lợi ích kinh tế
Để tồn tại, phát triển, con người cần được thoả mãn các nhu cầu vật chất cũng như nhu cầu tinh
thần. Lợi ích thu được khi con người được thỏa mãn nhu cầu của mình. Lợi ích có thể là lợi ích
vật chất, có thể là lợi ích tinh thần. Lợi ích là sự thỏa mãn nhu cầu của con người mà sự thỏa mãn
nhu cầu này phải được nhận thức và đặt trong mối quan hệ xã hội ứng với trình độ phát triển nhất
định của nền sản xuất xã hội đỏ. Trong mỗi điều kiện lịch sử, trình độ phát triển và bối cảnh xã
hội, sự thoả mãn nhu cầu có khác nhau, nhưng trước hết và xuyên suốt quá trình lịch sử, lợi ích
vật chất – cụ thể là lợi ích kinh tế đóng vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Lợi ích
kinh tế là lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động kinh tế của con người. Ví
dụ: Mỗi ngày chúng ta đều thức khuya dậy sớm đi làm, nghiên cứu,… để có thu nhập cao hơn. lOMoAR cPSD| 61256830
1.1.1.2. Bản chất lợi ích kinh tế
Về bản chất: Lợi ích kinh tế phản ánh mục đích và động cơ của các quan hệ giữa các chủ thể trong
nền sản xuất xã hội. Ví dụ: Doanh nghiệp và người lao động gắn bó với nhau là xuất phát từ lợi
ích kinh tế và cũng vì lợi ích kinh tế của mỗi người. Vì trong quan hệ kinh tế giữa họ đã hàm chứa
trong đó những lợi ích kinh tế sẽ đạt được. Về biểu hiện: gắn với các chủ thể khác nhau là những
lợi ích kinh tế tương ứng. Trong ví dụ trên, lợi ích kinh tế của doanh nghiệp là lợi nhuận, lợi ích
kinh tế của người lao động là tiền công. Khi xem xét lợi ích kinh tế cần gắn với mối quan hệ cụ
thể và vai trò của mỗi chủ thể trong mối quan hệ đó.
1.1.1.3. Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế - xã hội
Thứ nhất, lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các chủ thể và hoạt động kinh tế - xã hội. Trong
kinh tế thị trường, để thoả mãn nhu cầu, cần phải có thu nhập. Thu nhập càng cao, phương thức,
mức độ thỏa mãn nhu cầu càng tốt. Vì vậy, mọi chủ thể kinh tế đều tìm cách nâng cao thu nhập,
bảo đảm lợi ích kinh tế của mình. Bảo đảm và thực hiện lợi ích kinh tế của các giai tầng trong xã
hội, đặc biệt là người dân vừa là cơ sở bảo đảm cho ổn định và phát triển xã hội, vừa là biểu hiện
của sự phát triển. “ Nước độc lập mà dân không được hưởng ấm no, hạnh phúc thì độc lập cũng
không có ý nghĩa gì” ( Hồ Chí Minh).
Thứ hai, lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác. Cội nguồn sâu xa của các
cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử là sự đấu tranh giành quyền làm chủ tư liệu sản xuất và thực
hiện lợi ích kinh tế. “Động lực của toàn bộ lịch sử chính là cuộc đấu tranh của các giai cấp và
những xung đột về quyền lợi của họ”. (C. Mác, Ph. Ăngghen). Mọi vận động của lịch sử, dù dưới
hình thức nào, xét đến cùng đều xoay quanh vấn đề lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh
tế được thực hiện tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành và thực hiện các lợi ích chính trị, lợi ích
xã hội, lợi ích văn hoá của các chủ thể “có thực mới vực được đạo” Chú ý: việc theo đuổi lợi ích
kinh tế không chính đáng, không hợp lý, không hợp pháp là trở ngại cho sự phát triển kinh tế – xã
hội. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: với “dân là gốc”, tất cả đều vì dân; lợi ích kinh tế
là động lực của các hoạt động kinh tế, coi trọng lợi ích cá nhân chính đáng. 1.1.2. Quan hệ lợi ích kinh tế 1.1.2.1. Khái niệm
Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa con người với con người, giữa các
cộng đồng người, các tổ chức kinh tế, các bộ phận hợp thành nền kinh tế, giữa quốc gia với phần
còn lại của thế giới.
1.1.2.2. Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế
*Sự thống nhất của quan hệ lợi ích kinh tế
Chúng thống nhất với nhau vì một chủ thể có thể trở thành bộ phận cấu thành của chủ thể khác.
*Sự mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế lOMoAR cPSD| 61256830
Các quan hệ lợi ích kinh tế mâu thuẫn với nhau vì các chủ thể kinh tế có thể hành động theo những
phương thức khác nhau để thực hiện các lợi ích của mình. Lợi ích của những chủ thể kinh tế có
quan hệ trực tiếp trong việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng có thể mâu
thuẫn với nhau. Trong các hình thức lợi ích kinh tế, lợi ích cá nhân là cơ sở, nền tảng của các lợi
ích khác. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu cơ bản, thuộc về các cá nhân, quyết định hoạt động
của các cá nhân; cùng với thực hiện lợi ích cá nhân là cơ sở để thực hiện các lợi ích khác.
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế
Thứ nhất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thứ hai, địa vị của chủ thể trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội.
Thứ ba, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước.
Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.2.4. Một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường
Một là, quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Hai là, quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động.
Ba là, quan hệ lợi ích giữa những người lao động.
Bốn là, quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích xã hội.
1.1.2.5. Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu
Thứ nhất, thực hiện lợi ích kinh tế theo nguyên tắc thị trường.
Thứ hai, thực hiện lợi ích kinh tế theo chính sách của nhà nước và vai trò của các tổ chức xã hội.
1.2. Vai trò của nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích
Đầu tiên, bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích của các
chủ thể kinh tế.Vì các hoạt động kinh tế diễn ra trong một môi trường nhất định nên môi trường
càng thuận lợi, các hoạt động kinh tế càng hiệu quả và không ngừng mở rộng. Việc tạo môi trường
thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, nhờ đó các nhà đầu tư trong và
ngoài nước yên tâm tiến hành đầu tư. Góp phần xây dựng được môi trường pháp luật thông thoáng,
bảo vệ được lợi ích thích đáng của các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là lợi ích của
đất nước. Tạo môi trường văn hóa phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường đó là môi
trường trong đó con người năng động, sáng tạo; tôn trọng kỷ cương, pháp luật, giữ chữ tín. Ngoài
ra tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế tất yếu phải đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
của nền kinh tế và nhờ vậy kết cấu hạ tầng của nền kinh tế nước ta đã được cải thiện rất đáng kể,
đáp ứng nhu cầu của các hoạt động kinh tế. lOMoAR cPSD| 61256830
Thứ hai, điều hòa lợi ích giữa cá nhân,doanh nghiệp và xã hội do mâu thuẫn về lợi ích giữa các
chủ thể và tác động của các quy luật thị trường, sự phân hóa về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
làm cho lợi ích kinh tế của một bộ phận dân cư được thực hiện rất khó khăn, hạn chế. Và sự phân
hóa xã hội thái quá có thể dẫn đến căng thẳng, thậm chí xung đột xã hội. Vì vậy, nhà nước cần có
các chính sách, trước hết là chính sách phân phối thu nhập nhằm đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh
tế, ngày càng đầy đủ sự công bằng xã hội trong phân phối.
Thứ ba, kiểm soát và ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển xã
hội.Lợi ích kinh tế là kết quả trực tiếp của phân phối thu nhập được phân phối công bằng, hợp lý
góp phần quan trọng đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh tế. Việc nhà nước thực hiện hiệu quả chính
sách xóa đói giảm nghèo tạo đã điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển,
hưởng thụ các dịch dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vững chắc ở các vùng nghèo
và các bộ phận dân cư nghèo, khắc phục tư tưởng bao cấp, ỷ lại. Ví dụ như nhà nước đã có nhiều
chính sách ưu đãi xã hội tạo điều kiện, giúp đỡ người dân phát triển.
Thứ tư, giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế vì mâu thuẫn giữa các lợi ích
kinh tế là khách quan, nếu không được giải quyết sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến động lực của các hoạt
động kinh tế do đó khi các mâu thuẫn phát sinh cần phải giải quyết kịp thời. Nguyên tắc giải quyết
mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế là phải có sự tham gia của các bên liên quan, có nhân nhượng
và phải đặt lợi ích của đất nước lên trên hết. Ngăn ngừa là chính nhưng khi mâu thuẫn giữa các lợi
ích kinh tế bùng phát có thể dẫn đến xung đột và khi có xung đột giữa các chủ thể kinh tế, cần có
sự tham gia hòa giải của các tổ chức liên quan, đặc biệt là nhà nước.
2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC ĐẢM BẢO HÀI HÒA QUAN HỆ LỢI ÍCH
KINH TẾ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VÀ LỢI ÍCH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1. Các giải pháp áp dụng
2.1.1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích của các chủ thể kinh tế
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, quan điểm về mối quan hệ giữa thị trường với quản lý
nhà nước, giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước. Qua hơn ba thập kỉ việc đổi mới tư duy về
mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và quản lý nhà nước nói chung đã được nhận thức một cách
nhất quán theo hình ảnh “vỗ tay bằng hai bàn tay”, nhưng trong tư duy của một số nhà lãnh đạo,
quản lý và đặc biệt trong xử lý thực tiễn thì vẫn coi nhẹ tác động của cơ chế thị trường và quá coi
trọng vai trò can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là doanh
nghiệp khu vực kinh tế tư nhân. Hiện tượng cấm đoán, cấp phép tạo ra các điều kiện kinh doanh
rất tràn lan và nặng nề, sinh sôi nẩy nở giấy phép con, cháu, chắt, chút, chít trong các ngành và
địa phương đang cản trở các nhà kinh doanh, chủ đầu tư, nhà lập nghiệp....
Thứ hai, hoàn thiện xây dựng và thực thi pháp luật và chính sách đối với kinh tế tư nhân. Hội
nghị Trung ương 5 khóa XII đã chỉ ra những hạn chế cả phía quản lý nhà nước và bản thân các
doanh nghiệp kinh tế tư nhân như “thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất lOMoAR cPSD| 61256830
cập. …Vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến”
... Như vậy, hoàn thiện, xây dựng và thực thi pháp luật và chính sách đối với kinh tế tư nhân là
một đòi hỏi cấp thiết. Thực tế trong quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và đối với kinh tế tư
nhân nói riêng không thiếu luật và chính sách nhưng vấn đề đặt ra là chúng được xây dựng sao
cho phù hợp với đặc điểm phức tạp của kinh tế tư nhân, phù hợp với quy luật thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo chất lượng khoa học, thực thi công bằng, minh bạch, nghiêm minh.
Thứ ba, tạo lập môi trường thông tin thuận lợi cho kinh tế tư nhân hoạt động. Thông tin trên thế
giới cũng như ở nước ta đang bùng nổ, các phương tiện thông tin hiện đại đang phát triển như vũ
bão là thời cơ thuận lợi cho kinh tế tư nhân hoạt động và cải cách bộ máy quản lý nhà nước.
Nhưng trên thức tế thông tin quản lý thì không được kịp thời, đầy đủ, sâu rộng, còn thông tin
phản hồi từ doanh nghiệp thì bị sai lệch, bóp méo đã và đang gây khó khăn cho cả phía Nhà nước
và doanh nghiệp, làm cho môi trường thông tin bị rối loạn. Một mặt phải tạo lập môi trường thông
tin lành mạnh, trung thực, không dối trá, mặt khác thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, hiện
đại hóa dịch vụ hành chính công để tiết kiệm thời gian, chi phí thực hiện các thủ tục hành chính
cho người dân và doanh nghiệp. Dựa trên thực trạng đó thì các cơ quan quản lý nhà nước tạo lập
các kênh tiếp nhận kiến nghị, phản ánh, thắc mắc, khiếu nại, tố cáo của dân và doanh nghiệp, tổ
chức đối thoại giữa cơ quan quản lý nhà nước với người dân, doanh nghiệp nhằm nắm bắt và xử
lý kịp thời các nhu cầu, nguyện vọng, vướng mắc liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân.
2.1.2. Điều hòa lợi ích giữa cá nhân – doanh nghiệp – xã hội
Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết quan hệ lợi ích, nhất là
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội . Việc nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích để các chủ
thể lợi ích xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ lợi ích, tránh xung đột
lợi ích giữa các chủ thể. Cần nâng cao nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của sự thống
nhất lợi ích nên mỗi chủ thể cần được giáo dục để tự đặt lợi ích của bản thân trong mối quan hệ
với các lợi ích khác. Trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, chủ thể cá nhân
cần nhận thức được rằng, lợi ích xã hội chỉ có thể đạt được khi mỗi cá nhân cố gắng thực hiện tốt
các lợi ích chính đáng của mình thông qua việc tích cực học tập, lao động, rèn luyện, phải hài
hòa giữa cống hiến và hưởng thụ; mặt khác chủ thể của lợi ích xã hội chủ yếu là Đảng nên Nhà
nước cũng cần nhận thức được rằng, muốn thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
thì phải quan tâm đến lợi ích thiết thực của mọi cá nhân, của từng đối tượng, nhất là quan tâm
đến những người có công với cách mạng,và những đối tượng yếu thế trong xã hội.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối và tổ chức thực hiện tốt các chính sách
trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội .Theo đó, cần tiếp tục thực
hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức
sở hữu, thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ
chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật, tạo cơ hội ngang nhau trong
việc tiếp cận các nguồn lực. Cần cụ thể hóa các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền bình
đẳng trong tiếp cận tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế, trong đó, tạo điều kiện thuậ lợi
thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng lOMoAR cPSD| 61256830
nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoàn
thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản của mọi chủ thể; tiếp tục hoàn thiện
thể chế, tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan
trọng của nền kinh tế; thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có
công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến; hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa; xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp trong một số lĩnh vực, nhất là với doanh nghiệp nhà nước.
Ba là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện tốt chính sách an sinh
xã hội và phúc lợi xã hội . Cùng với đó, Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt chính sách an sinh xã
hội trong toàn xã hội, nhất là đối với các đối tượng còn nhiều khó khăn như nông dân, công nhân,
những đồng bào vùng sâu, vùng xa, đối tượng chính sách... thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm
nghèo, thực hiện thật tốt các chế độ, chính sách, nâng cao đời sống đối với các đối tượng có công
với cách mạng, đảm bảo cho họ được hưởng thụ các giá trị căn bản của sự phát triển như đời sống
vật chất, y tế, giáo dục, hưởng thụ các giá trị văn hóa - xã hội khác. Bên cạnh đó cần thực hiện tốt
chính sách tiền lương theo đề án cải cách tiền lương đã được ban hành, đảm bảo tiền lương thực
sự đảm bảo cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đặc biệt đối với người
công nhân; có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với những nhân tài của từng lĩnh vực, địa phương
Có thể nói, nhìn một cách tổng thể, qua hơn 30 năm đổi mới, LICN chính đáng đã được khuyến
khích phát triển, LIXH đạt được những kết quả bước đầu quan trọng trong khi các mâu thuẫn,
xung đội đối kháng về lợi ích cơ bản giữa cá nhân và xã hội được giảm thiểu tối đa, góp phần giúp
xã hội ổn định, gia tăng tính tích cực của các chủ thể,và thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu, lợi
ích của cá nhân và xã hội, thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội.
2.1.3. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển xã hội
Một là, kiểm soát và ngăn chặn “nhóm lợi ích” là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện
nay,vì nó quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước, sự thành bại của công cuộc đổi mới
cũng như góp phần ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng,
tiêu cực trong Đảng. Hiện nay, “nhóm lợi ích” đã hình thành, ăn sâu, tác động mạnh đến mọi
ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội ở mọi quy mô, cấp độ, đặc biệt trong việc hoạch định và thực
thi chính sách. “Nhóm lợi ích” cấu kết chặt chẽ với nhau, hoạt động ngầm, tinh vi nhằm tham
nhũng, trục lợi, đục khoét tài sản của Nhà nước. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng
trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhưng thực tế xã hội cho thấy có nguy cơ
đáng lo ngại là tham nhũng, tiêu cực có hiện tượng chuyển dần sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”
do hoạt động của “lợi ích nhóm” gây nên. Do vậy, đấu tranh kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích”
đang là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Hai là, kiểm soát và ngăn chặn “nhóm lợi ích” là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp vì liên quan đến
những người có chức, có quyền, có tiền, lại không có chiến tuyến rõ ràng. Nhóm hoạt
động rất tinh vi, ngấm ngầm, được tổ chức chặt chẽ, thường nhân danh lợi ích của tập thể, cộng
đồng, nhân dân, ngụy trang, ẩn giấu dưới những lời nói, việc làm có tính chất nhân văn, nhân đạo,
nên rất khó nhận biết, phát hiện. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt, triển khai lOMoAR cPSD| 61256830
thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), ngày 9-12-2016, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng nhấn mạnh: “Đây là cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên
quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta”.
Ba là, phải có quyết tâm chính trị cao, kiên quyết, kiên trì vì “Nhóm lợi ích” đã ăn sâu trong suy
nghĩ, tư tưởng của nhiều cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp. Thực tế, nó hiện hữu ở mọi cấp, mọi
ngành, liên quan đến những người có chức, có quyền. Do vậy, muốn kiểm soát, ngăn chặn có hiệu
quả “nhóm lợi ích” cần có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, làm một cách kiên quyết, kiên trì,
bài bản, khoa học, không thể nóng vội, chủ quan. Cần có giải pháp tình thế, kiên quyết, kịp thời,
tạo chuyển biến rõ rệt, đồng thời có biện pháp dài hạn về phòng, chống tận gốc. Tại Hội nghị toàn
quốc tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2015, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016, ngày
26-3-2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Chúng ta phải có dũng khí, dám ngăn
những việc làm không đúng, chống cho được tệ nạn bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm và cũng không
bị lợi ích nào cám dỗ, không để bị chi phối bởi quan hệ cá nhân, thân quen không trong sáng.
2.2. Thành tựu đạt được
Từ khi đổi mới đến nay, vấn đề giải quyết quan hệ lợi ích giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội đã
được Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết, nhất là trong lĩnh vực sở hữu và phân phối, tạo động
lực cho sự phát triển của cá nhân và xã hội. Quá trình đó đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể là:
Thứ nhất, cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội bước đầu đã được quan tâm giải quyết theo hướng
thúc đẩy sự phát triển. Lợi ích cá nhân chính đáng được tạo điều kiện phát triển trên nhiều phương
diện qua đó tạo cơ sở bước đầu giải quyết lợi ích xã hội phù hợp và ngược lại lợi ích xã hội bước
đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề, điều kiện để lợi ích cá nhân chính đáng được thực hiện.
Những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội cùng việc thực hiện tốt các chính sách an
sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong những năm qua đã tạo lập những giá trị mới của xã hội, tạo
lập sự công bằng về cơ hội trong việc hưởng thụ, tiếp cận các giá trị của phát triển. Đời sống của
mỗi cá nhân không ngừng được nâng lên, quyền và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ, nhất
là trong sở hữu và phân phối. Lợi ích của các giai tầng cụ thể, những đối tượng chính sách, đối
tượng yếu thế trong xã hội, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo được quan tâm đúng
mức, tỷ lệ hộ nghèo giảm,... Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 10 năm qua luôn ở trên 6,5%, trong
đó, năm 2018, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt trên 240 tỷ USD, tăng 7,08% so với năm
2017, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017, tỷ lệ hộ
nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017,
trên 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế. Gần 800.000 người khuyết tật không có khả năng lao
động được nhận trợ cấp hàng tháng. Từng bước khắc phục được tư duy tuyệt đối hóa lợi ích xã
hội trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Đó là việc chủ thể sở hữu
tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiện phát triển, kinh tế tư nhân từ chỗ không được thừa nhận,
đến chỗ thừa nhận và hiện nay coi đó “là một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đóng góp của
khu vực kinh tế tư nhân trong cơ cấu GDP luôn ở mức trên 43% GDP (so với khu vực kinh tế nhà
nước 28,9% GDP và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI là 18% GDP) và “kinh tế tư nhân hiện lOMoAR cPSD| 61256830
đóng góp khoảng 39% tổng đầu tư toàn xã hội và tiếp tục tăng lên, năm 2012 là 385 nghìn tỷ đồng
và năm 2015 đạt 490 nghìn tỷ đồng”
Thứ hai, Đảng và Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện ngày một tốt hơn những chủ trương,
chính sách đúng đắn về tạo cơ hội phát triển của cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Một là, sự thay đổi chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về sở hữu. Trước hết, về
chủ thể sở hữu: chuyển từ việc chỉ thừa nhận vai trò độc tôn của chủ thể sở hữu là Nhà nước đối
với các tư liệu sản xuất cơ bản sang công nhận nhiều chủ thể sở hữu (nhà nước, tư nhân, hỗn hợp).
Về đối tượng sở hữu, ngoài những đối tượng sở hữu truyền thống như đất đai, tài nguyên, máy
móc,... xuất hiện các đối tượng sở hữu mới như các sản phẩm trí tuệ, thông tin, thị trường, thương
hiệu, tên miền internet, tài nguyên số, không gian vũ trụ, thậm chí là sở hữu cơ hội phát triển... đều
được công nhận và đóng vai trò to lớn hơn trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Về hình thức sở
hữu: nếu như trước đổi mới, chúng ta chỉ thừa nhận hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể, thì từ đổi mới đến nay, xây dựng trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, các
hình thức sở hữu ở Việt Nam đã được ghi nhận bao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở
hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu tư bản nhà nước, sở hữu có yếu tố nước
ngoài và sở hữu hỗn hợp; tương ứng với nó là các thành phần kinh tế.
Hai là, sự thay đổi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về phân phối đã có tác
động rất lớn đến việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở nước ta hiện nay.
Về chủ thể phân phối, đã xác định rõ vai trò của ba chủ thể phân phối là Nhà nước, doanh nghiệp
và thị trường, trong đó, thị trường là một kênh phân phối nguồn lực hiệu quả, phân phối thu nhập
quan trọng và góp phần đắc lực vào phân phối cơ hội phát triển cho mọi chủ thể kinh tế tự do làm
giàu trong lĩnh vực mà pháp luật không cấm nhằm tối đa hóa lợi ích riêng của mình, đồng thời góp
phần phát triển kinh tế - xã hội. Về khách thể phân phối, không chỉ là phân phối về thu nhập, mà
đó còn là phân phối nguồn lực, cơ hội phát triển, phân phối phát triển. Về hình thức phân phối:
phân phối theo lao động, phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất
kinh doanh, phân phối thông qua phúc lợi xã hội, phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội 2.3. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu mà nhà nước đem lại cho quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội thì vẫn
còn tồn tại một số hạn chế kìm hãm sự phát triển của quan hệ lợi ích kinh tế này.
Một là tình trạng nhân danh lợi ích xã hội để vi phạm lợi ích cá nhân chính đáng của nhân dân lao
động. Hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm tiêu cực hay tư bản thân hữu là các
biểu hiện chân thực nhất cho hạn chế đơn hàng. Thực chất của những biểu hiện này chính là việc
đề cao lợi ích cá nhân không chính đáng, vi phạm đến lợi ích xã hội, lợi ích của nhân dân lao động
và của cá nhân khác. Theo Báo cáo của Ban Nội chính Trung ương, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII
đến hết năm 2018 đã thi hành kỷ luật hơn 500 tổ chức đảng và 35 nghìn đảng viên vi phạm, có tới
1.300 đảng viên bị kỷ luật cho đến những hiện tượng tham nhũng “vặt” cũng đang gây nhiều bức xúc cho xã hội. lOMoAR cPSD| 61256830
Hai là, tình trạng đề cao lợi ích cá nhân không chính đáng, vi phạm lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân
khác gây ra những tổn hại cho sự phát triển xã hội vẫn có xu hướng phức tạp. Hiện tượng buôn
lậu, trốn thuế của nhiều cá nhân, doanh nghiệp;các hiện tượng hàng giả, hàng kém chất lượng;
thực phẩm “bẩn”, cho đến những hành vi xây dựng nhà ở, khu đô thị, phá vỡ quy hoạch chung của
thành phố, xây nhà không phép, lấn chiếm lòng đường,... nhất là ở thành phố lớn; những hiện
tượng xe quá khổ, quá tải, xâm hại, lấn chiếm các công trình công cộng, công trình Nhà nước đang
làm cho lợi ích xã hội mà Nhà nước là đại diện bị những tổn hại rất lớn. Cho đến những hiện tượng
trộm, cướp ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn trở thành nỗi bất an của người dân; tình
trạng lừa đảo, các mô hình kinh doanh đa cấp biến tướng, “chơi hụi”, cho vay nặng lãi – tín dụng
“đen”, đòi nợ thuê... đang gây những hệ lụy không nhỏ đối với cuộc sống của nhiều cá nhân, gia
đình, gây phức tạp tình hình kinh tế - xã hội.
Ba là, nhiều lợi ích xã hội chưa được thực hiện một cách phổ quát, lợi ích cá nhân chính đáng chưa
được chú ý một cách đúng mức. Khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn,
đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn; thu nhập, đời sống của người lao động còn
thấp; lương của cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng sâu,
vùng xa, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao, cả nước có khoảng 1% số người vẫn
trong tình trạng thiếu đói. Một số nội dung của an sinh xã hội và pháp luật xã hội chưa được thực
hiện tốt, vẫn diễn ra “nghịch lý an sinh xã hội”, thể hiện đặc biệt rõ qua việc so sánh tỷ trọng trợ
cấp an sinh xã hội mà các hộ gia đình giàu và nghèo nhận đượTuy vẫn còn tồn tại không ít hạn chế
nhưng Đảng và nhà nước ta đã luôn cố gắng hoàn thiện từng bước, đưa ra các giải pháp mới để tối
ưu nhất quan hệ hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
3: ĐÁNH GIÁ GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ RA PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP DUY TRÌ 3.1. Đánh giá
Thứ nhất, về tác động tích cực thì mức độ hiệu quả mà các giải pháp của Đảng và Nhà nước ta đề
ra, những giải pháp này khi áp dụng đã có được những kết quả và thành công nhất định. Ta có thể
khẳng định rằng những giải pháp này hoàn toàn có khả năng áp dụng được cho những giai đoạn
sau trong quá trình phát triển đất nước. Trong phát triển kinh tế - xã hội cùng việc thực hiện tốt
các chính sách an sinh xã hội (ASXH) và phúc lợi xã hội (PLXH) trong những năm qua đã tạo lập
những giá trị mới của xã hội, tạo lập sự công bằng về cơ hội trong việc hưởng thụ, tiếp cận các giá
trị của phát triển. Biểu hiện cho những tích cực trên chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 10
năm qua luôn ở trên 6,5%, trong đó, năm 2018, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt trên 240 tỷ
USD, tăng 7,08% so với năm 2017, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.587 USD, tăng 198 USD
so với năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm
phần trăm so với năm 2017, trên 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế ... Gần 800.000 người khuyết
tật không có khả năng lao động được nhận trợ cấp hằng tháng. Sự thay đổi chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng, Nhà nước về phân phối cũng đã có tác động một cách tích cực đến việc giải
quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở nước ta hiện nay. lOMoAR cPSD| 61256830
Thứ hai, dù mang lại nhiều thành tựu to lớn tuy nhiên sự thiếu trách nhiệm, thất trách, không theo
dõi sát xao của một số cán bộ, công chức nhà nước đã khiến cho tình trạng lợi ích xã hội vẫn tồn
tại nhiều vấn đề phức tạp. Tình trạng nhân danh lợi ích xã hội để vi phạm lợi ích cá nhân chính
đáng của nhân dân lao động vẫn tồn tại và tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Biểu hiện của tình trạng
này là do sự thiếu trách nhiệm của một số cán bộ lãnh đạo chưa quan sát sát xao đến công sống an
sinh xã hội của nhân dân. Với nguyên nhân trên nước ta đã lộ rõ nhiều tiêu cực trong đội ngũ công
nhân viên chức, cụ thể là: = 1.300 đảng viên có hành vi tham nhũng,;
nhiều vụ án về tham ô, tham nhũng, lãng phí thời gian qua đã được đưa ra xử lý như: các cá nhân
tham nhũng trong vụ việc MobiFone mua lại 95% cổ phần của AVG, vụ án liên quan đến Phan
Văn Anh Vũ,... Cho đến những hiện tượng tham nhũng “vặt” cũng đang gây nhiều bức xúc cho xã
hội. Tình trạng này đang làm cho Nhà nước bị tổn hại rất lớn. 3.2. Giải pháp duy trì
Một là,hoàn thiện Bộ luật Lao động của Việt Nam theo hướng hài hòa lợi ích giữa người sử dụng
lao động và người lao động. Sở dĩ người sử dụng lao động trong thời gian qua chưa đảm bảo lợi
ích cho người lao động vì hệ thống pháp luật của Việt Nam còn bất cập, chưa thực sự chặt chẽ,
còn nhiều kẽ hở, lạc hậu, chưa phù hợp với thực tế, chưa đủ sức điều chỉnh các quan hệ lao động
vốn dĩ năng động và phức tạp, thậm chí có những điều khoản vô ý đã gây thiệt thòi về lợi ích cho
người lao động.Vì vậy, cần hoàn thiện các quy định về pháp luật để công nhân bù đắp hao phí thể
lực, có điều kiện nâng cao trình độ văn hóa, có thể đảm đương trách nhiệm nuôi dạy con cái,
được sống đúng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra.
Hai là, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết quan hệ lợi ích, nhất là
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội,
chủ thể cá nhân cần nhận thức được rằng, lợi ích xã hội chỉ có thể đạt được khi mỗi cá nhân cố
gắng thực hiện tốt các lợi ích chính đáng của mình thông qua việc tích cực học tập, lao động, rèn
luyện, hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ. Mặt khác, chủ thể của lợi ích xã hội chủ yếu là Đảng,
Nhà nước cần nhận thức rằng muốn thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, phải quan
tâm đến lợi ích thiết thực của mọi cá nhân, của từng đối tượng, nhất là những người có công với
cách mạng, những đối tượng yếu thế trong xã hội, thực hiện tốt ASXH và PLXH.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối và tổ chức thực hiện tốt các chính sách
trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Mọi doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh
theo pháp luật. Cụ thể hóa các quy định pháp luật, tạo điều kiện thúc đẩy phát triểndoanh nghiệp
và đội ngũ doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền
sở hữu và quyền tài sản của mọi chủ thể, tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân trở thành
một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp trong một số lĩnh vực, nhất là với doanh nghiệp nhà nước lOMoAR cPSD| 61256830
Bốn là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện tốt chính sách an sinh
xã hội và phúc lợi xã hội. Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt chính sách ASXH, PLXH trong toàn
xã hội, thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo, các chế độ, chính sách, nâng cao đời sống
đối với các đối tượng có công với cách mạng, đảm bảo các giá trị căn bản của sự phát triển như
đời sống vật chất, y tế, giáo dục, hưởng thụ các giá trị văn hóa - xã hội khác. Thực hiện tốt chính
sách tiền lương theo Đề án cải cách tiền lương đã được ban hành, đảm bảo cuộc sống của cán bộ,
công chức, viên chức, người lao động, đặc biệt đối với người công nhân; có chính sách đãi ngộ
xứng đáng đối với những nhân tài của từng lĩnh vực, địa phương.
Năm là, thực hiện các giải pháp đảm bảo công khai, minh bạch nhằm ngăn chặn những hành vi
tiêu cực như tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm. Nâng cao năng lực, hiệu quả sử dụng tài sản công,
phát huy tốt trách nhiệm giải trình, thực hiện tốt các biện pháp công khai tài chính, minh bạch tài
sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức... Cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xử
lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm tội tham ô, tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, trốn thuế,
hàng giả, hàng kém chất lượng...
Sáu là, khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng thời bảo đảm lợi ích xã
hội. Cần tích cực khuyến khích mỗi cá nhân tích cực vươn lên trong học tập, lao động, sản xuất -
kinh doanh, lập thân, lập nghiệp bằng nhiều cơ chế, chính sách cụ thể, nhất là trong khởi nghiệp
nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển. Thông qua các biện pháp giáo dục - đào
tạo, tuyên truyền, các hoạt động thực tiễn phong phú để họ thấy rằng, để thỏa mãn các nhu cầu, lợi
ích của bản thân, trước hết cần có sự cố gắng, rèn luyện, cần cù, vượt khó vươn lên, tích cực lao
động, đóng góp cho xã hội; đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm các lợi ích chính đáng
của bản thân từ các chủ thể khác; loại bỏ tư tưởng tự mãn, ỷ lại; có cái nhìn tích cực về các vấn đề
của xã hội, tìm ra những cơ hội cho sự phát triển của mỗi cá nhân. KẾT LUẬN
Như vậy, bài thảo luận trên đã làm rõ quan điểm của triết học Mác-Lênin về lợi ích, lợi ích cá nhân,
lợi ích xã hội và mối quan hệ của chúng. Từ đó hiểu rõ động lực của sự phát triển xã hội suy cho
cùng là kết quả hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những lợi ích nhất định. Chính
vì vậy, quan tâm thực hiện nhu cầu, lợi ích của cá nhân và xã hội, giải quyết các quan hệ lợi ích
trong xã hội đó chính là tạo ra động lực phát triển xã hội nhằm đạt được những mục tiêu cao hơn.
Động lực lợi ích luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết (đặc biệt từ khi đổi mới đến
nay). Qua đó nghiên cứu việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, chủ thể giải quyết quan hệ lợi ích này là Đảng, Nhà
nước thông qua việc phân tích thực trạng mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong
điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưu điểm và
bất cập của mối quan hệ này và nguyên nhân những bất cập, tồn tại. Để giải quyết các mâu thuẫn
này một cách hài hòa cần xác định các quan điểm rõ ràng, có tính định hướng cho sự phát triển,
đặc biệt cần kết hợp các lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội và “phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên
trên hết”, phù hợp với lợi ích của nhân loại tiến bộ. Trên cơ sở đó thực hiện đồng bộ các giải pháp
thông qua các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhằm duy trì mục tiêu “Dân lOMoAR cPSD| 61256830
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” .Tóm lại, Nhà nước có vai trò to lớn trong việc
bảo đảm, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội
trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Thạc sĩ Hoàng Văn Khải (Học viện Chính trị khu vực IV), Tiến sĩ Trần Văn Thắng (Học
việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Tạp chí Lý luận số 12-2019 : Giải quyết hài hòa quan hệ
giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện. http://lyluanchinhtri.vn/. 2.
Bộ giáo dục và đào tạo, 2019. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (dành cho bậc đại
học không chuyên về lý luận chính trị)
https://dangcongsan.vn/kinh-te-va-hoi-nhap/tao-lap-moi-truong-kinh-doanh-thuan-loi-cho-
kinhte-tu nhan-phat-trien-473492.html
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/3081-giai-quyet-hai-hoa-
quanhe-giua-loi-ich ca-nhan-va-loi-ich-xa-hoi-trong-dieu-kien-kinh-te-thi-truong-o-viet-nam- hiennay.html
http://www.xaydungdang.org.vn/home/lyluan-thuctien-kinhnghiem/2019/13349/quan-diem-
cuadang-ve kiem-soat-ngan-chan-nhom-loi-ich.aspx
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/823673/mot-so-van-de-ly-luan-
vathuc-tien-ve-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-vietnam.aspx
Https://dangcongsan.vn/kinh-te-va-hoi-nhap/tao-lap-moi-truong-kinh-doanh thuan-loi-cho-
kinhte-tu-nhan-phat-trien-473492.html
Http://www.lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/3081- giai-quyet-
haihoa-quan-he-giua-loi-ich-ca-nhan-va-loi-ich-xa-hoi-trong-dieu-kien kinh-te-thi-truong-o- vietnam-hien-nay.html