BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
BỘ MÔN LÝ LUẬN
******************
Bài tiểu luận kết thúc môn: Triết học Mác nin
Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu
nhiên và sự vận dụng vào trong quá trình học tp
của sinh viên Đại học Văn Hiến
STT
Sinh viên thực hiện
MSSV
STT trên lớp
1
Phan Thị Thùy Linh
201A030330
36
2
Nguyễn Thị Thanh Thảo
201A160163
64
3
Trần Nguyễn Minh Thư
201A040095
70
4
Nguyễn Anh Thư
201A140167
69
5
Trần Hồ Đan Thy
181A140371
Lớp :
POL10515 (Sáng thứ 6)
Người ớng dẫn :
Ths. Đoàn Thị Huế
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2021
3
MỤC LC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề i ................................................................................. 5
2. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 5
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
4. Phương pháp luận phương pháp nghiên cứu ............................................... 6
5. Ý nghĩa luận thực tiễn của tiểu luận ........................................................ 6
6. cấu của tiểu luận ........................................................................................ 6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Khái niệm, mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên
1.1. Khái niệm phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên ................................................. 8
1.1.1.
Phạm trù của tất nhiên .............................................................................. 8
1.1.2.
Phạm trù của ngẫu nhiên .......................................................................... 8
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên ................................... 8
1.2.1.
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại một cách khách quan, đều có vai trò nhất ...
định đối với sự vật hiện tượng .............................................................................. 8
1.2.2.
Tất nhiên ngẫu nhiên hai mặt thống nhất đối lập .......................... 9
1.2.3.
Tất nhiên ngẫu nhiên thể chuyển hóa cho nhau .............................. 10
Chương 2: Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên vào
quá trình học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến
2.1. Thực trạng học tập của sinh viên hiện nay ...................................................... 11
2.2. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên vào quá
trình học tập ............................................................................................................ 11
2.2.1. Tất nhiên không tách rời ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn ............. 12
2.2.2. Khi cái ngẫu nhiên xảy ra phải phương án dự phòng .......................... 13
2.2.3. Không được xem nhẹ cái ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn ............. 13
2.3. Giải pháp để khắc phục tình trạng học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến
. ................................................................................................................................14
PHẦN KẾT LUẬN.............................................................................................. 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 17
4
LỜI MỞ ĐU
C.Mac, Ph.Ăngghen Lênin đã tìm hiểu vận dụng luận để đưa nghiên
cứu triết học đến gần với con người. Những luận, triết của môn học được
như một loại ngôn ngữ mới đối với sinh viên. Nhưng nếu bạn nghiên cứu kỹ
tìm hiểu thì sẽ nhận ra môn học này rất tvị, dễ hiểu cực hữu ích khi
áp dụng vào thực tế đời sống.
“Triết học Mác Lênin” môn học chuyên về luận. Học xong học phần này,
các bạn sẽ tích lũy vốn từ mới bản về luận, hiểu được các hình thái kinh tế
- hội theo thời đại lịch sử, các nghiên cứu về khoa học hội của sự vật,
hiện tượng, biết chủ nghĩa duy tâm, duy vật, duy vật biện chứng,...
Triết học môn học kết hợp nhiều lĩnh vực từ kiến thức tự nhiên như sinh học,
vật học, hóa học đến kiến thức hội như lịch sử, địa lý,... Học phần này
giúp sinh viên tăng khả năng sáng tạo, ởng tượng, rèn luyện kỹ năng duy
phản biện.
Trong thời gian qua, nhóm chúng em được giảng dạy tận tình, yêu thương.
Chúng em xin chúc Huế các thầy trong Khoa luôn mạnh khỏe, vui vẻ
và thành công trên con đường dẫn nguồn tri thức đến với sinh viên.
Chúng em xin chân thành cảm ơn nhiều ạ!
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kXXI hiện đại như ngày nay, việc học tập, tiếp thu kiến thức
mới của sinh viên điều cùng quan trọng. Sinh viên lớp thế hệ trẻ của
tương lai, người tiếp nối thế hệ đi trước, cũng người dẫn đường cho thế hệ
mai sau.
Lênin đã khẳng định: “Học, học nữa, học mãi”. Việc học tập đối với một
con người một quá trình dài như cả cuộc đời chứ không phải ngày một ngày
hai, không phải hẹp trong một không gian nhất định. Để sinh viên nâng cao
tinh thần tự giác học tập, nhận ra giá trị của việc học, vậy, nhóm chúng em
chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên, sự vận dụng
vào trong quá trình học tập của sinh Đại học Văn Hiến”. Đề tài này đưa ra nội
dung cùng cấp thiết để sinh viên nhìn nhận lại vấn đề, thay đổi phương pháp
học tập và rèn luyện bản thân.
2. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
-Mục đích nghiên cứu:
+Tìm hiểu khái niệm về tất nhiên, ngẫu nhiên
+Tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên
+Nêu tình trạng học tập của sinh viên thời nay
+Nêu những hạn chế trong phương pháp học tập của sinh viên
+Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên vào quá
trình học tập
+Đưa ra biện pháp khắc phục tình trạng hiện tại của sinh viên
-Nhiệm vụ nghiên cứu:
+Khẳng định tính đúng dắn của mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên
ngẫu nhiên
6
+Giải pháp khắc phục tình trạng của sinh viên bằng cách vận dụng mối
quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
-Đối ợng nghiên cứu : Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu
nhiên và sự vận dụng vào trong quá trình học tập của sinh viên đại học
-Khách thể nghiên cứu: Sinh viên Đại học
-Phạm vi nghiên cứu : Trường Đại học Văn Hiến
4. Phương pháp luận phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp phân tích - tổng hợp.
-Phương pháp nghiên cứu: tìm kiếm tài liệu nghiên cứu các vấn đề triết học
Mác Lênin, lấy tư liệu thực tiễn từ bản thân, mọi người xung quanh
5. Ý nghĩa luận thực tiễn của tiểu lun
nghĩa luận:
+Cung cấp cho chúng ta một vấn đề cần thiết trong cuộc sống, trong nhận
thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, không được xem nhẹ mọi sự vật, hiện
tượng rất nhỏ đang diễn ra xung quanh. Trước khi thực hiện một công việc
cần xem xét điều lợi hay hại cho bản thân người khác. Việc đánh
giá việc làm đó chính là cái kết quả cuối cùng mà ta sẽ nhận được.
+Có cái nhìn đúng đắn hơn về những sự vật, hiện tượng diễn ra trong cuộc
sống khi nhận thức được vấn đề thì ta sẽ thực hiện theo chiều hướng tích
cực, đi lên.
nghĩa thực tiễn: Tác động đến suy nghĩ, nhận thức của sinh viên, giúp
họ nhận ra giá trị của bản thân, của việc học; từ đó, nâng cao nhận thức định
hướng nghề nghiệp rõ ràng, tích cực hơn.
6. cấu của tiểu luận
Bài tiểu luận cấu như sau:
7
-Phần M đầu gồm có: Tính cấp thiết của đề tài; Mục đích nhiệm vụ
nghiên cứu; Đối ợng, phạm vi nghiên cứu; Phương pháp luận phương pháp
nghiên cứu; Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận
-Phần Nội dung gồm có: Khái niệm mối quan hệ biện chứng giữa tất
nhiên ngẫu nhiên; Khái niệm phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên; Mối quan h
biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên; Vận dụng mối quan hệ biện chứng
giữa tất nhiên ngẫu nhiên vào quá trình học tập của sinh viên Đại học Văn
Hiến; Thực trạng học tập của sinh viên hiện nay; Vận dụng mối quan hệ biện
chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên vào quá trình học tập;
phục tình trạng học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến.
-Phần Kết luận.
Giải pháp để khắc
8
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Khái niệmmối quan hệ biện chứng
giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
1.1. Khái niệm phạm trù tất nhiên ngẫu nhiên
1.1.1.
Phạm trù của tất nhn
-cái do những nguyên nhân bản, bên trong của sự vật, hiện ợng
quyết định, trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ
không thể khác. [1]
VD : . Con người ai cũng phải sinh rachết đi.
. Học giỏi lên lớp điều tất nhiên
. Giống tốt, hạt khoẻ, nước phân bón đủ tất nhiên cây sẽ lớn
nhanh, cho năng suất cao.
1.1.2.
Phạm trù của ngẫu nhiên
- do nguyên nhân bên ngoài quyết định. Do đó, thể xuất hiện
thể không xuất hiện, thể xuất hiện như thế này, ng thể xuất hiện
như thế khác. [1]
VD : . Con người sinh ra ngày nào, tháng nào, giờ nào điều ngẫu
nhiên
. Đi học thì học môn , phòng nào, thời gian nào...
. Ra đường ta đi con đường nào, quận nào..
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên [2]
1.2.1.
Tất nhiên ngẫu nhiên tồn tại một cách khách quan, đều vai trò
nhất định đối với sự vật hiện tượng
con người nhận thức được hay chưa, tất nhiên ngẫu nhiên
luôn tồn tại phát huy vai trò của đối với sự phát triển của sự vật, hiện
tượng.
9
Trong quá trình phát triển của sự vật, tất nhiên ngẫu nhiên đều
vai trò quan trọng:
+Cái tất nhiên c dụng chi phối sự phát triển của sự vật.
+Cái ngẫu nhiên ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của sự vật,
có thể làm cho sự phát triển đó diễn ra nhanh hoặc chậm.
Sự phát triển diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào cái ngẫu
nhiên, kể cả những cái ngẫu nhiên rất nhỏ, dụ như tính của người lúc
đầu lãnh đạo phong trào cách mạng.
Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi xuyên qua số cái ngẫu
nhiên, còn cái ngẫu nhiên hình thức của tất nhiên, đồng thời cái bổ sung
của tất nhiên, làm cho cái tất nhiên được bộc lộ một cách sinh động, cụ thể.
1.2.2.
Tất nhiên ngẫu nhiên hai mặt thống nhất đối lập
Tuy cả tất nhiên ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng không bao giờ
tồn tại biệt lập với nhau dưới dạng thuần y, bao giờ cũng tồn tại trong
sự thống nhất hữu cơ.
Sự thống nhất hữu đó thể hiện chỗ:
+Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thông qua số
cái ngẫu nhiên.
+Cái nghẫu nhiên nh thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời bổ
sung cho cái tất nhiên.
Tức là, cái tất nhiên bao giờ cũng khuynh ớng của sự phát triển.
Khuynh hướng ấy mỗi khi tự bộc lộ nh thì bao giờ cũng bộc lộ ra dưới một
hình thức ngẫu nhiên nào đó so với chiều hướng chung.
Bản thân cái tất nhiên chỉ thể được tạo nên từ những cái ngẫu nhiên.
Còn tất cả những ta thấy trong hiện thực cho ngẫu nhiên thì đều
không phải ngẫu nhiên thuần túy, những ngẫu nhiên đã bao hàm i
tất nhiên, đã che giấu cái tất nhiên.
10
1.2.3.
Tất nhiên ngẫu nhiên thể chuyển a cho nhau
Trong hiện thực, tất nhiên ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn
trạng thái thường xuyên thay đổi, trong những điều kiện nhất định,
chúng chuyển hóa lẫn nhau. Tức là, tất nhiên biến thành ngẫu nhiên ngược
lại.
+ Sau này, khi sự phân công lao động đã rộng rãi, ng lực sản xuất đã
lớn, nhiều sản phẩm thừa. Khi đó, sự trao đổi sản phẩm tất yếu phải
diễn ra để làm cho cuộc sống của con người ngày càng đầy đủ hơn.
Ranh giới giữa tất nhiên ngẫu nhiên chỉ tính tương đối. Thông
qua những mặt này, hay trong mối quan hệ này, thì biểu hiện tất nhiên,
nhưng qua những mặt khác, mối quan hệ khác, thì lại ngẫu nhiên; ngược
lại.
11
Chương 2: Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa
tất nhiên và ngẫu nhiên vào quá trình học tập của
sinh viên Đại học Văn Hiến
2.1. Thực trạng học tập của sinh viên hiện nay
tuổi 18, sinh viên mới chập chững bước vào đời, bắt đầu đưa ra những
quyết định cho tương lai, sự nghiệp. Vào độ tuổi xuân xanh, còn non nớt như
thế, vấn đề tâm của sinh viên rất quan trọng, dễ bị tác động bởi ngoại cảnh.
Việc học tập trong trường cùng các khoản phí thu chi như tiền nhà, tiền học phí,
tiền tiêu xài nhân... những vấn đề luôn phải lo nghĩ. những sinh viên
dân bản địa, dân thành phố thì ít gặp những tình trạng khó khăn đó. Còn những
sinh viên từ vùng miền khác vào Thành phố học thì đó vấn đề trăn trở, nhiều
suy nghĩ.
những điều trong cuộc sống tác động đến suy nghĩ khiến các bạn sinh
viên sao nhãng việc học tập. nhiều bạn đi làm thêm, kiếm tiền phụ giúp gia
đình. Bởi ng việc hưởng lương tầm trung bình cao từ 4 triệu (partime)
đến 8 triệu (fulltime) nên nhiều bạn ham m thêm nghỉ nhiều buổi học trên
lớp, dẫn đến tình trạng rớt môn, học lại,... Ngoài ra, nhiều vấn đề khác như
không tham gia hoạt động trong trường dẫn tới điểm rèn luyện không đạt yêu
cầu, thiếu kiến thức các kỹ năng mềm, chưa có chứng chỉ ngoại ngữ,...
Những tình trạng trên vẫn diễn ra khá phổ biến trong môi trường Đại
học. Vậy phải vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên
vào quá trình học tập của sinh viên như thế nào để hạn chế những tình trạng
đáng buồn ấy.
2.2. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu
nhiên vào quá trình học tập
12
2.2.1. Tất nhiên không tách rời ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn
Trong hoạt động thực tiễn ta phải dựa vào cái tất nhiên. Tuy nhiên,
không được bỏ qua cái ngẫu nhiên, không ch rời cái tất nhiên ra khỏi ngẫu
nhiên.
Sinh viên đi học thì phải kiểm tra, đó điều tất nhiên. Nhưng kiểm tra
kiến thức nào, nội dung ra sao thì đó điều ngẫu nhiên. Việc học việc
kiểm tra mối quan hệ gắn chặt chẽ, không thể tách rời. vậy, sinh viên
khi theo học, phải ý thức được rằng tiếp thu kiến thức mới nếu không được
ôn tập, nhắc lại nhiều lần, không kiểm tra lại kiến thức thì sẽ không thể
nhớ bài, không áp dụng vào thực tế được. Thế đi học, tốn tiền nhưng không
nhận lại được gì cả.
Sinh viên rớt n một ngẫu nhiên. Nhưng nếu sinh viên đó cứ rớt
liên tiếp nhiều môn, vậy thì đằng sau scái ngẫu nhiên ấy ẩn giấu 1 cái tất
nhiên nào đấy. Có thể do sinh viên ấy không chú tâm nghe giảng, thường
xuyên không làm bài, không đi học đầy đủ, không chú tâm việc học nên dẫn
đến nợ môn 1 điều tất nhiên. Nhưng cái tất nhiên không thể tồn tại thuần
tuý được bộc lộ thông qua từng trường hợp nợ môn cụ thể, ngẫu nhiên,
xảy ra thường xuyên.
Đi học một điều tất nhiên nhưng sau 4 năm học chương trình đào tạo
chính quy thì tốt nghiệp được hay không điều ngẫu nhiên. nhiều sinh
viên đã hoàn thành chương trình đào tạo, đủ tín chỉ thì chắc chắn được tốt
nghiệp. Vậy sau 4 năm học, do sao lại chưa tốt nghiệp? Sinh viên còn nợ
nhiều học phần, chưa đủ tín chỉ hay bạn học ngôn ngữ nhưng chưa thi lấy
bằng đánh giá năng lực ngoại ngữ đúng như yêu cầu của trường; còn tình
trạng khá phổ biến đó hoàn thành hết tất cả học phần, đủ tín chỉ nhưng
không đủ điểm rèn luyện, không chứng chnăng lực ngoại ngữ, công nghệ
thông tin kỹ năng mềm. Ta thấy rằng mối quan hệ biện chứng giữa tất
nhiên ngẫu nhiên rất chặt chẽ, quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến đời sống,
xã hội và trong vấn đề này, sinh viên là đối tượng nghiên cứu thực tiễn.
13
2.2.2. Khi cái ngẫu nhiên xảy ra phải phương án dự phòng
Do cái ngẫu nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật. Cho nên,
trong hoạt động thực tiễn, ngoài những phương án chính chúng ta phải
phương án dự phòng để chủ động khi cái ngẫu nhiên xảy ra.
Khi quá trình học tập, tiếp thu kiến thức thì chúng ta phải kiểm tra để
đánh giá năng lực học tập của sinh viên (tất nhiên). Nói về kiểm tra, sinh viên
người được kiểm tra không biết trước nội dung kiểm tra (ngẫu nhiên).
Để tránh lúc kiểm tra gặp tình trạng đề khó hay đề hỏi câu hỏi mở rộng,
kiến thức liên hệ bên ngoài, sinh viên phải phương án dự phòng trước để
ứng phó kịp thời cái ngẫu nhiên mới xuất hiện bằng cách:
+Trong quá trình học tập, luôn chú ý nghe giảng, ghi chép những kiến
thức mở rộng, chuyên sâu thầy chia sẻ. Việc chăm chú nghe giảng trên
lớp được xem như hơn cả một lần nghe giảng bình thường, học bài ngay tại
lớp. Khi về nhà, chỉ cần ôn tập lại, hồi tưởng lại các kiến thức trên lớp. Các
môn bài tập thực hành, luyện tập, toán học như Thống ứng dụng,
Kinh tế mô,... thì cần làm thường xuyên, nắm chắc các phép tính, công
thức, phương pháp. Đến gần ngày kiểm tra, sinh viên chỉ cần ôn lại các bài
tập đã làm, những điều ghi chép trong sách vở, thể tham khảo thêm các tài
liệu kiến thức liên hệ thực tiễn đến ngày kiểm tra, dẫu đề bài gài bẫy,
khó khăn đến đâu cũng có thể tự tin làm tốt được.
+Việc ôn tập trước khi kiểm tra một điều rất quan trọng. nhiều
người hay đùa rằng: “Tới giờ kiểm tra rồi, ôn bài không đâu?”. Đó
cũng một ý đúng, từ trước đã không học rồi thì đến tận giờ phút này mới
học xem như bằng không. vậy, việc ôn tập trước ngày thi cần thời gian
dài, đầu óc tỉnh táo thì mới sẵn sàng nạp lại kiến thức cũ.
2.2.3. Không được xem nhẹ cái ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn
Do cái ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định thể chuyển hóa thành
cái tất nhiên. Cho n, trong nhận thức của hoạt động thực tiễn không được
xem nhẹ cái ngẫu nhiên.
14
Sinh viên đi học khác với học sinh đi học chỗ: học sinh kiểm tra
điểm thấp thì đánh giá học lực yếu, trung bình, còn sinh viên kiểm tra điểm
thấp, không đạt đủ điểm qua môn thì phải thi lại môn đó, nếu thi lại môn đó
vẫn không cải thiện được điểm thì bị rớt môn, đóng tiền đi học lại, tốn tiền.
Sinh viên xem việc đi học tất nhiên còn việc rớt môn một điều ngẫu
nhiên. Nhưng điều ngẫu nhiên ấy bắt đầu xảy ra nhiều n, đáng sợ hơn nữa
sinh viên xem việc rớt môn điều bình thường, xem nhẹ nó. nhiều sinh
viên cho rằng: “Trong cuộc đời làm sinh viên thì ít nhất phải rớt môn một lần
cho biết.” Đó chẳng phải một duy tích cực đó chỉ sự ngụy biện
cho sự lười biếng, bao che lỗi lầm của bản thân. Nguyên nhân của việc rớt
môn rất nhiều, kết quả của việc rớt môn không chỉ nhiều còn mang hệ
lụy, hậu quả khó lường như tốn tiền ba mẹ, tốn thời gian của bản thân, ảnh
hưởng đến chất lượng học tập của học sau, điều tồi tệ nhất có bạn còn
mang tưởng đã từng học qua môn này rồi, cứ chủ quan, không làm bài tập,
không làm việc nhóm tốt, tiếp tục mắc sai lầm thêm lần nữa.
Học việc tất nhiên nhưng học như thế nào, áp dụng phương pháp học
tập ra sao thì điều ngẫu nhiên. bạn đối với những môn đại cương thì
chọn cách học vẹt, học tủ, học đủ để lấy điểm qua môn chứ không cần điểm
cao. bạn muốn đạt được kết quả cao, giành được học bổng nhưng lại học
theo lối mòn, không thay đổi cách học, chỉ học để biết nhưng không nhớ lâu,
không thể áp dụng thực tế được. Phương pháp học tập của mỗi người riêng
biệt, khác nhau nhưng không thể xem học vẹt, học tủ cách chống chế được.
Bản thân mỗi người phải đề ra một phương pháp học tập cụ th cố gắng
hoàn thành tốt. như vậy thì không khó để học tập những kiến thức mới
được.
2.3. Giải pháp để khắc phục tình trạng học tập của sinh viên Đại
học Văn Hiến
15
Để khắc phục tình trạng này, chúng em đưa ra các bước xây dựng
phương pháp học tập hiệu quả cho các bạn sinh viên:
+Cá nhân mỗi người phải nhận ra điều thiếu sót, những sai lầm của bản
thân, đó chính là bước đầu tiên nhận thức bản thân.
+Phải đặt ra mục tiêu phấn đấu của mình, gia đình, bản thân hay cái
mục tiêu thực tế nhất nhiều người ưa thích nhiều tiền.
+Thay đổi duy, cách nghĩ của bản thân theo chiều ớng tích cực, khách
quan; gạt bỏ những suy nghĩ tiêu cực, phiến diện.
+Tìm hiểu các phương pháp học tập hiệu quả các chuyên gia đã đưa ra,
nếu bạn thể kết hợp nhiều phương pháp học tập với nhau thì sẽ giúp bản thân
sáng tạo, tư duy tốt hơn.
+Tập thói quen “quản trị” thời gian của chính mình, không phí hoài thời
gian vào những việc bổ để đừng nuối tiếc khoảng thời gian đã qua; phân chia
thời gian làm việc và học tập cụ thể và bắt buộc bản thân áp dụng chúng.
+Phân chia học phần, lên kế hoạch cho từng môn học, môn đại ơng ch
cần nắm được cốt lõi của vấn đề, hiểu cách vận dụng bài học vào thực tế, môn
chuyên ngành thì dành nhiều thời gian cho nó, rèn luyện, ôn tập nhiều hơn.
+Đặc biệt, khi bản thân rảnh rỗi thì hãy bắt mình bận rộn, tạo ra giá trị bản
thân. câu châm ngôn rất hay: “Muốn mua đồ không nhìn giá. Hãy học
tập mà không nhìn đồng hồ!”.
+Đừng ngồi nữa, hãy đứng lên chạy, hãy hoạt động tham gia cùng
các câu lạc bộ trong trường, học thêm những kỹ năng mềm, các kiến thức về
thiết kế hội họa, máy tính. Đó những điều rất thú vị bạn nên trải nghiệm
một lần.
+Và cuối cùng, đừng chỉ đọc phải hành động. “Khi bạn thay đổi, thế
giới sẽ thay đổi”.
16
PHẦN KẾT LUN
Tất nhiên ngẫu nhiên hay hiểu theo nghĩa khác cái tất yếu cái
thể một cặp phạm ttrong triết học, một trong những nội dung nguyên
về mối liên hệ phổ biến.
Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên mang tính khách
quan, tính phi thuần túy chuyển hóa lẫn nhau. Mối quan hệ biện chứng giữa
chúng là một sự gắn kết bền vững, tác động và ảnh hưởng qua lại.
Vận dụng mối quan h biện chứng giữa tất nhiên ngẫu nhiên vào quá
trình học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến một điểm mới, khác lạ so với
những cặp phạm trù khác như nguyên nhân kết quả, lượng chất, nội dung
hình thức... Với thực trạng sinh viên hiện nay còn nhiều tình trạng đáng buồn
làm giảm đi nh sáng tạo, giảm sự nhiệt huyết học hỏi của các bạn. Tất nhiên
ngẫu nhiên cho thấy được nhiều mặt của một vấn đề, những nguyên nhân cũng
như hậu quả các bạn sinh viên đang gặp phải. Từ đó, đưa ra những phương
pháp tích cực để sinh viên nhận thức được giá trị bản thân, tầm vai trò quan
trọng của một cá nhân trong một cộng đồng là rất lớn.
Các bạn sinh viên phải thay đổi nhận thức, bản thân, học hỏi trải
nghiệm từng ngày, không ngừng cố gắng vươn lên để tạo môi trường học tập
vui vẻ, thoải mái, tràn đầy tinh thần tuổi trẻ, để người dẫn đường cho thế hệ
tiếp bước mai sau.

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN BỘ MÔN LÝ LUẬN ******************
Bài tiểu luận kết thúc môn: Triết học Mác – Lênin
Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu
nhiên và sự vận dụng vào trong quá trình học tập
của sinh viên Đại học Văn Hiến STT Sinh viên thực hiện MSSV STT trên lớp 1 Phan Thị Thùy Linh 201A030330 36 2 Nguyễn Thị Thanh Thảo 201A160163 64 3 Trần Nguyễn Minh Thư 201A040095 70 4 Nguyễn Lê Anh Thư 201A140167 69 5 Trần Hồ Đan Thy 181A140371 Lớp : POL10515 (Sáng thứ 6) Người hướng dẫn : Ths. Đoàn Thị Huế
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2021 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 5
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 5
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ............................................... 6
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận ........................................................ 6
6. Cơ cấu của tiểu luận ........................................................................................ 6 PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Khái niệm, mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
1.1. Khái niệm phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên ................................................. 8
1.1.1. Phạm trù của tất nhiên .............................................................................. 8
1.1.2. Phạm trù của ngẫu nhiên .......................................................................... 8
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên ................................... 8
1.2.1. Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại một cách khách quan, đều có vai trò nhất ...
định đối với sự vật hiện tượng .............................................................................. 8
1.2.2. Tất nhiên và ngẫu nhiên là hai mặt thống nhất và đối lập .......................... 9
1.2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau .............................. 10
Chương 2: Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên vào
quá trình học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến
2.1. Thực trạng học tập của sinh viên hiện nay ...................................................... 11
2.2. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên vào quá
trình học tập ............................................................................................................ 11
2.2.1. Tất nhiên không tách rời ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn ............. 12
2.2.2. Khi cái ngẫu nhiên xảy ra phải có phương án dự phòng .......................... 13
2.2.3. Không được xem nhẹ cái ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn ............. 13
2.3. Giải pháp để khắc phục tình trạng học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến
. ................................................................................................................................14
PHẦN KẾT LUẬN.............................................................................................. 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 17 3 LỜI MỞ ĐẦU
C.Mac, Ph.Ăngghen và Lênin đã tìm hiểu và vận dụng lý luận để đưa nghiên
cứu triết học đến gần với con người. Những lý luận, triết lý của môn học được
ví như một loại ngôn ngữ mới đối với sinh viên. Nhưng nếu bạn nghiên cứu kỹ
và tìm hiểu thì sẽ nhận ra môn học này rất thú vị, dễ hiểu và cực kì hữu ích khi
áp dụng vào thực tế đời sống.
“Triết học Mác – Lênin” là môn học chuyên về lý luận. Học xong học phần này,
các bạn sẽ tích lũy vốn từ mới cơ bản về lý luận, hiểu được các hình thái kinh tế
- xã hội theo thời đại lịch sử, các nghiên cứu về khoa học – xã hội của sự vật,
hiện tượng, biết chủ nghĩa duy tâm, duy vật, duy vật biện chứng,...
Triết học là môn học kết hợp nhiều lĩnh vực từ kiến thức tự nhiên như sinh học,
vật lý học, hóa học đến kiến thức xã hội như lịch sử, địa lý,... Học phần này
giúp sinh viên tăng khả năng sáng tạo, tưởng tượng, rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện.
Trong thời gian qua, nhóm chúng em được cô giảng dạy tận tình, yêu thương.
Chúng em xin chúc cô Huế và các thầy cô trong Khoa luôn mạnh khỏe, vui vẻ
và thành công trên con đường dẫn nguồn tri thức đến với sinh viên.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô nhiều ạ! 4 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kỷ XXI hiện đại như ngày nay, việc học tập, tiếp thu kiến thức
mới của sinh viên là điều vô cùng quan trọng. Sinh viên là lớp thế hệ trẻ của
tương lai, là người tiếp nối thế hệ đi trước, cũng là người dẫn đường cho thế hệ mai sau.
Lênin đã khẳng định: “Học, học nữa, học mãi”. Việc học tập đối với một
con người là một quá trình dài như cả cuộc đời chứ không phải ngày một ngày
hai, không phải bó hẹp trong một không gian nhất định. Để sinh viên nâng cao
tinh thần tự giác học tập, nhận ra giá trị của việc học, vì vậy, nhóm chúng em
chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, sự vận dụng
vào trong quá trình học tập của sinh Đại học Văn Hiến”. Đề tài này đưa ra nội
dung vô cùng cấp thiết để sinh viên nhìn nhận lại vấn đề, thay đổi phương pháp
học tập và rèn luyện bản thân.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu -Mục đích nghiên cứu:
+Tìm hiểu khái niệm về tất nhiên, ngẫu nhiên
+Tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
+Nêu rõ tình trạng học tập của sinh viên thời nay
+Nêu những hạn chế trong phương pháp học tập của sinh viên
+Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên vào quá trình học tập
+Đưa ra biện pháp khắc phục tình trạng hiện tại của sinh viên -Nhiệm vụ nghiên cứu:
+Khẳng định tính đúng dắn của mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên 5
+Giải pháp khắc phục tình trạng của sinh viên bằng cách vận dụng mối
quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu : Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu
nhiên và sự vận dụng vào trong quá trình học tập của sinh viên đại học
-Khách thể nghiên cứu: Sinh viên Đại học
-Phạm vi nghiên cứu : Trường Đại học Văn Hiến
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp phân tích - tổng hợp.
-Phương pháp nghiên cứu: tìm kiếm tài liệu nghiên cứu các vấn đề triết học
Mác – Lênin, lấy tư liệu thực tiễn từ bản thân, mọi người xung quanh
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận -Ý nghĩa lý luận:
+Cung cấp cho chúng ta một vấn đề cần thiết trong cuộc sống, trong nhận
thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, không được xem nhẹ mọi sự vật, hiện
tượng dù là rất nhỏ đang diễn ra xung quanh. Trước khi thực hiện một công việc
cần xem xét nó là điều có lợi hay có hại cho bản thân và người khác. Việc đánh
giá việc làm đó chính là cái kết quả cuối cùng mà ta sẽ nhận được.
+Có cái nhìn đúng đắn hơn về những sự vật, hiện tượng diễn ra trong cuộc
sống và khi nhận thức được vấn đề thì ta sẽ thực hiện nó theo chiều hướng tích cực, đi lên.
-Ý nghĩa thực tiễn: Tác động đến suy nghĩ, nhận thức của sinh viên, giúp
họ nhận ra giá trị của bản thân, của việc học; từ đó, nâng cao nhận thức và định
hướng nghề nghiệp rõ ràng, tích cực hơn. 6. Cơ cấu của tiểu luận
Bài tiểu luận có cơ cấu như sau: 6
-Phần Mở đầu gồm có: Tính cấp thiết của đề tài; Mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu; Đối tượng, phạm vi nghiên cứu; Phương pháp luận và phương pháp
nghiên cứu; Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận
-Phần Nội dung gồm có: Khái niệm và mối quan hệ biện chứng giữa tất
nhiên và ngẫu nhiên; Khái niệm phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên; Mối quan hệ
biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên; Vận dụng mối quan hệ biện chứng
giữa tất nhiên và ngẫu nhiên vào quá trình học tập của sinh viên Đại học Văn
Hiến; Thực trạng học tập của sinh viên hiện nay; Vận dụng mối quan hệ biện
chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên vào quá trình học tập; Giải pháp để khắc
phục tình trạng học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến. -Phần Kết luận. 7 PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Khái niệm và mối quan hệ biện chứng
giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
1.1. Khái niệm phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên
1.1.1. Phạm trù của tất nhiên
-Là cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của sự vật, hiện tượng
quyết định, và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. [1]
VD : . Con người ai cũng phải sinh ra và chết đi.
. Học giỏi lên lớp là điều tất nhiên
. Giống tốt, hạt khoẻ, nước và phân bón đủ tất nhiên cây sẽ lớn nhanh, cho năng suất cao.
1.1.2. Phạm trù của ngẫu nhiên
-Là do nguyên nhân bên ngoài quyết định. Do đó, nó có thể xuất hiện
có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, cũng có thể xuất hiện như thế khác. [1]
VD : . Con người sinh ra ngày nào, tháng nào, giờ nào là điều ngẫu nhiên
. Đi học thì học môn gì, phòng nào, thời gian nào...
. Ra đường ta đi con đường nào, quận nào..
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên [2]
1.2.1. Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại một cách khách quan, đều có vai trò
nhất định đối với sự vật hiện tượng
Dù con người có nhận thức được hay chưa, tất nhiên và ngẫu nhiên
luôn tồn tại và phát huy vai trò của nó đối với sự phát triển của sự vật, hiện tượng. 8
Trong quá trình phát triển của sự vật, tất nhiên và ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng:
+Cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật.
+Cái ngẫu nhiên có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của sự vật,
có thể làm cho sự phát triển đó diễn ra nhanh hoặc chậm.
Sự phát triển diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào cái ngẫu
nhiên, kể cả những cái ngẫu nhiên rất nhỏ, ví dụ như cá tính của người lúc
đầu lãnh đạo phong trào cách mạng.
Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi xuyên qua vô số cái ngẫu
nhiên, còn cái ngẫu nhiên là hình thức của tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung
của tất nhiên, làm cho cái tất nhiên được bộc lộ một cách sinh động, cụ thể.
1.2.2. Tất nhiên và ngẫu nhiên là hai mặt thống nhất và đối lập
Tuy cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng không bao giờ
tồn tại biệt lập với nhau dưới dạng thuần túy, mà bao giờ cũng tồn tại trong
sự thống nhất hữu cơ.
Sự thống nhất hữu cơ đó thể hiện ở chỗ:
+Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên.
+Cái nghẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời bổ sung cho cái tất nhiên.
Tức là, cái tất nhiên bao giờ cũng là khuynh hướng của sự phát triển.
Khuynh hướng ấy mỗi khi tự bộc lộ mình thì bao giờ cũng bộc lộ ra dưới một
hình thức ngẫu nhiên nào đó so với chiều hướng chung.
Bản thân cái tất nhiên chỉ có thể được tạo nên từ những cái ngẫu nhiên.
Còn tất cả những gì ta thấy trong hiện thực và cho là ngẫu nhiên thì đều
không phải là ngẫu nhiên thuần túy, mà là những ngẫu nhiên đã bao hàm cái
tất nhiên, đã che giấu cái tất nhiên. 9
1.2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau
Trong hiện thực, tất nhiên và ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn ở
trạng thái cũ mà thường xuyên thay đổi, và trong những điều kiện nhất định,
chúng chuyển hóa lẫn nhau. Tức là, tất nhiên biến thành ngẫu nhiên và ngược lại.
+ Sau này, khi sự phân công lao động đã rộng rãi, năng lực sản xuất đã
lớn, có nhiều sản phẩm dư thừa. Khi đó, sự trao đổi sản phẩm tất yếu phải
diễn ra để làm cho cuộc sống của con người ngày càng đầy đủ hơn.
Ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có tính tương đối. Thông
qua những mặt này, hay trong mối quan hệ này, thì biểu hiện là tất nhiên,
nhưng qua những mặt khác, mối quan hệ khác, thì lại là ngẫu nhiên; và ngược lại. 10
Chương 2: Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa
tất nhiên và ngẫu nhiên vào quá trình học tập của
sinh viên Đại học Văn Hiến
2.1. Thực trạng học tập của sinh viên hiện nay
Ở tuổi 18, sinh viên mới chập chững bước vào đời, bắt đầu đưa ra những
quyết định cho tương lai, sự nghiệp. Vào độ tuổi xuân xanh, còn non nớt như
thế, vấn đề tâm lý của sinh viên rất quan trọng, dễ bị tác động bởi ngoại cảnh.
Việc học tập trong trường cùng các khoản phí thu chi như tiền nhà, tiền học phí,
tiền tiêu xài cá nhân... là những vấn đề luôn phải lo nghĩ. Có những sinh viên là
dân bản địa, dân thành phố thì ít gặp những tình trạng khó khăn đó. Còn những
sinh viên từ vùng miền khác vào Thành phố học thì đó là vấn đề trăn trở, nhiều suy nghĩ.
Có những điều trong cuộc sống tác động đến suy nghĩ khiến các bạn sinh
viên sao nhãng việc học tập. Có nhiều bạn đi làm thêm, kiếm tiền phụ giúp gia
đình. Bởi vì công việc có hưởng lương tầm trung bình cao từ 4 triệu (partime)
đến 8 triệu (fulltime) nên nhiều bạn ham làm thêm mà nghỉ nhiều buổi học trên
lớp, dẫn đến tình trạng rớt môn, học lại,... Ngoài ra, có nhiều vấn đề khác như
không tham gia hoạt động trong trường dẫn tới điểm rèn luyện không đạt yêu
cầu, thiếu kiến thức các kỹ năng mềm, chưa có chứng chỉ ngoại ngữ,...
Những tình trạng ở trên vẫn diễn ra khá phổ biến trong môi trường Đại
học. Vậy phải vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
vào quá trình học tập của sinh viên như thế nào để hạn chế những tình trạng đáng buồn ấy.
2.2. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu
nhiên vào quá trình học tập 11
2.2.1. Tất nhiên không tách rời ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn
Trong hoạt động thực tiễn ta phải dựa vào cái tất nhiên. Tuy nhiên,
không được bỏ qua cái ngẫu nhiên, không tách rời cái tất nhiên ra khỏi ngẫu nhiên.
Sinh viên đi học thì phải kiểm tra, đó là điều tất nhiên. Nhưng kiểm tra
kiến thức nào, nội dung ra sao thì đó là điều ngẫu nhiên. Việc học và việc
kiểm tra là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời. Vì vậy, sinh viên
khi theo học, phải ý thức được rằng tiếp thu kiến thức mới nếu không được
ôn tập, nhắc lại nhiều lần, không kiểm tra lại kiến thức cũ thì sẽ không thể
nhớ bài, không áp dụng vào thực tế được. Thế là đi học, tốn tiền nhưng không
nhận lại được gì cả.
Sinh viên rớt môn là một ngẫu nhiên. Nhưng nếu sinh viên đó cứ rớt
liên tiếp nhiều môn, vậy thì đằng sau vô số cái ngẫu nhiên ấy ẩn giấu 1 cái tất
nhiên nào đấy. Có thể do sinh viên ấy không chú tâm nghe giảng, thường
xuyên không làm bài, không đi học đầy đủ, không chú tâm việc học nên dẫn
đến nợ môn là 1 điều tất nhiên. Nhưng cái tất nhiên không thể tồn tại thuần
tuý mà nó được bộc lộ thông qua từng trường hợp nợ môn cụ thể, ngẫu nhiên, xảy ra thường xuyên.
Đi học là một điều tất nhiên nhưng sau 4 năm học chương trình đào tạo
chính quy thì tốt nghiệp được hay không là điều ngẫu nhiên. Có nhiều sinh
viên đã hoàn thành chương trình đào tạo, đủ tín chỉ thì chắc chắn được tốt
nghiệp. Vậy sau 4 năm học, lý do vì sao lại chưa tốt nghiệp? Sinh viên còn nợ
nhiều học phần, chưa đủ tín chỉ hay có bạn học ngôn ngữ nhưng chưa thi lấy
bằng đánh giá năng lực ngoại ngữ đúng như yêu cầu của trường; và còn tình
trạng khá phổ biến đó là hoàn thành hết tất cả học phần, đủ tín chỉ nhưng
không đủ điểm rèn luyện, không có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ, công nghệ
thông tin và kỹ năng mềm. Ta thấy rằng mối quan hệ biện chứng giữa tất
nhiên và ngẫu nhiên rất chặt chẽ, quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến đời sống,
xã hội và trong vấn đề này, sinh viên là đối tượng nghiên cứu thực tiễn. 12
2.2.2. Khi cái ngẫu nhiên xảy ra phải có phương án dự phòng
Do cái ngẫu nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển của sự vật. Cho nên,
trong hoạt động thực tiễn, ngoài những phương án chính chúng ta phải có
phương án dự phòng để chủ động khi cái ngẫu nhiên xảy ra.
Khi quá trình học tập, tiếp thu kiến thức thì chúng ta phải kiểm tra để
đánh giá năng lực học tập của sinh viên (tất nhiên). Nói về kiểm tra, sinh viên
là người được kiểm tra không biết trước nội dung kiểm tra là gì (ngẫu nhiên).
Để tránh lúc kiểm tra gặp tình trạng đề khó hay đề hỏi câu hỏi mở rộng, có
kiến thức liên hệ bên ngoài, sinh viên phải có phương án dự phòng trước để
ứng phó kịp thời cái ngẫu nhiên mới xuất hiện bằng cách:
+Trong quá trình học tập, luôn chú ý nghe giảng, ghi chép những kiến
thức mở rộng, chuyên sâu mà thầy cô chia sẻ. Việc chăm chú nghe giảng trên
lớp được xem như hơn cả một lần nghe giảng bình thường, học bài ngay tại
lớp. Khi về nhà, chỉ cần ôn tập lại, hồi tưởng lại các kiến thức ở trên lớp. Các
môn có bài tập thực hành, luyện tập, có toán học như Thống kê ứng dụng,
Kinh tế vĩ mô,... thì cần làm thường xuyên, nắm chắc các phép tính, công
thức, phương pháp. Đến gần ngày kiểm tra, sinh viên chỉ cần ôn lại các bài
tập đã làm, những điều ghi chép trong sách vở, có thể tham khảo thêm các tài
liệu có kiến thức liên hệ thực tiễn là đến ngày kiểm tra, dẫu đề bài có gài bẫy,
khó khăn đến đâu cũng có thể tự tin làm tốt được.
+Việc ôn tập trước khi kiểm tra là một điều rất quan trọng. Có nhiều
người hay đùa rằng: “Tới giờ kiểm tra rồi, ôn bài không có vô đâu?”. Đó
cũng là một ý đúng, vì từ trước đã không học rồi thì đến tận giờ phút này mới
học xem như bằng không. Vì vậy, việc ôn tập trước ngày thi cần có thời gian
dài, đầu óc tỉnh táo thì mới sẵn sàng nạp lại kiến thức cũ.
2.2.3. Không được xem nhẹ cái ngẫu nhiên trong hoạt động thực tiễn
Do cái ngẫu nhiên trong điều kiện nhất định có thể chuyển hóa thành
cái tất nhiên. Cho nên, trong nhận thức của hoạt động thực tiễn không được xem nhẹ cái ngẫu nhiên. 13
Sinh viên đi học khác với học sinh đi học ở chỗ: học sinh kiểm tra
điểm thấp thì đánh giá học lực yếu, trung bình, còn sinh viên kiểm tra điểm
thấp, không đạt đủ điểm qua môn thì phải thi lại môn đó, nếu thi lại môn đó
vẫn không cải thiện được điểm thì bị rớt môn, đóng tiền đi học lại, tốn tiền.
Sinh viên xem việc đi học là tất nhiên còn việc rớt môn là một điều ngẫu
nhiên. Nhưng điều ngẫu nhiên ấy bắt đầu xảy ra nhiều hơn, đáng sợ hơn nữa
là sinh viên xem việc rớt môn là điều bình thường, xem nhẹ nó. Có nhiều sinh
viên cho rằng: “Trong cuộc đời làm sinh viên thì ít nhất phải rớt môn một lần
cho biết.” Đó chẳng phải là một tư duy tích cực mà đó chỉ là sự ngụy biện
cho sự lười biếng, bao che lỗi lầm của bản thân. Nguyên nhân của việc rớt
môn là rất nhiều, kết quả của việc rớt môn không chỉ nhiều mà còn mang hệ
lụy, hậu quả khó lường như tốn tiền ba mẹ, tốn thời gian của bản thân, ảnh
hưởng đến chất lượng học tập của học kì sau, điều tồi tệ nhất là có bạn còn
mang tư tưởng đã từng học qua môn này rồi, cứ chủ quan, không làm bài tập,
không làm việc nhóm tốt, tiếp tục mắc sai lầm thêm lần nữa.
Học là việc tất nhiên nhưng học như thế nào, áp dụng phương pháp học
tập ra sao thì là điều ngẫu nhiên. Có bạn đối với những môn đại cương thì
chọn cách học vẹt, học tủ, học đủ để lấy điểm qua môn chứ không cần điểm
cao. Có bạn muốn đạt được kết quả cao, giành được học bổng nhưng lại học
theo lối mòn, không thay đổi cách học, chỉ học để biết nhưng không nhớ lâu,
không thể áp dụng thực tế được. Phương pháp học tập của mỗi người là riêng
biệt, khác nhau nhưng không thể xem học vẹt, học tủ là cách chống chế được.
Bản thân mỗi người phải đề ra một phương pháp học tập cụ thể và cố gắng
hoàn thành tốt. Có như vậy thì không khó để học tập những kiến thức mới được.
2.3. Giải pháp để khắc phục tình trạng học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến 14
Để khắc phục tình trạng này, chúng em có đưa ra các bước xây dựng
phương pháp học tập hiệu quả cho các bạn sinh viên:
+Cá nhân mỗi người phải nhận ra điều thiếu sót, những sai lầm của bản
thân, đó chính là bước đầu tiên – nhận thức bản thân.
+Phải đặt ra mục tiêu phấn đấu của mình, vì gia đình, vì bản thân hay cái
mục tiêu thực tế nhất mà nhiều người ưa thích là có nhiều tiền.
+Thay đổi tư duy, cách nghĩ của bản thân theo chiều hướng tích cực, khách
quan; gạt bỏ những suy nghĩ tiêu cực, phiến diện.
+Tìm hiểu các phương pháp học tập hiệu quả mà các chuyên gia đã đưa ra,
nếu bạn có thể kết hợp nhiều phương pháp học tập với nhau thì sẽ giúp bản thân
sáng tạo, tư duy tốt hơn.
+Tập thói quen “quản trị” thời gian của chính mình, không phí hoài thời
gian vào những việc vô bổ để đừng nuối tiếc khoảng thời gian đã qua; phân chia
thời gian làm việc và học tập cụ thể và bắt buộc bản thân áp dụng chúng.
+Phân chia học phần, lên kế hoạch cho từng môn học, môn đại cương chỉ
cần nắm được cốt lõi của vấn đề, hiểu cách vận dụng bài học vào thực tế, môn
chuyên ngành thì dành nhiều thời gian cho nó, rèn luyện, ôn tập nhiều hơn.
+Đặc biệt, khi bản thân rảnh rỗi thì hãy bắt mình bận rộn, tạo ra giá trị bản
thân. Có câu châm ngôn rất hay: “Muốn mua đồ mà không nhìn giá. Hãy học
tập mà không nhìn đồng hồ!”.
+Đừng ngồi nữa, hãy đứng lên và chạy, hãy hoạt động và tham gia cùng
các câu lạc bộ trong trường, học thêm những kỹ năng mềm, các kiến thức về
thiết kế hội họa, máy tính. Đó là những điều rất thú vị mà bạn nên trải nghiệm một lần.
+Và cuối cùng, đừng chỉ đọc mà phải hành động. “Khi bạn thay đổi, thế giới sẽ thay đổi”. 15 PHẦN KẾT LUẬN
Tất nhiên và ngẫu nhiên hay hiểu theo nghĩa khác là cái tất yếu và cái có
thể là một cặp phạm trù trong triết học, là một trong những nội dung nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến.
Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên mang tính khách
quan, tính phi thuần túy và chuyển hóa lẫn nhau. Mối quan hệ biện chứng giữa
chúng là một sự gắn kết bền vững, tác động và ảnh hưởng qua lại.
Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên vào quá
trình học tập của sinh viên Đại học Văn Hiến là một điểm mới, khác lạ so với
những cặp phạm trù khác như nguyên nhân – kết quả, lượng – chất, nội dung –
hình thức... Với thực trạng sinh viên hiện nay còn nhiều tình trạng đáng buồn
làm giảm đi tính sáng tạo, giảm sự nhiệt huyết học hỏi của các bạn. Tất nhiên và
ngẫu nhiên cho thấy được nhiều mặt của một vấn đề, những nguyên nhân cũng
như hậu quả mà các bạn sinh viên đang gặp phải. Từ đó, đưa ra những phương
pháp tích cực để sinh viên nhận thức được giá trị bản thân, tầm vai trò quan
trọng của một cá nhân trong một cộng đồng là rất lớn.
Các bạn sinh viên phải thay đổi nhận thức, bản thân, học hỏi và trải
nghiệm từng ngày, không ngừng cố gắng vươn lên để tạo môi trường học tập
vui vẻ, thoải mái, tràn đầy tinh thần tuổi trẻ, để là người dẫn đường cho thế hệ tiếp bước mai sau. 16