










Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN
KHOA THIẾT KẾ &NGHỆ THUẬT BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN HỌC TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
CHỦ ĐỀ 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT - Ý THỨC & SỰ
VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH PHÁ TRIỂN Ý THỨC CỦA BẢN THÂN
Giảng viên hướng dẫn: Lê Thị Thanh Mai Thực hiện: Nguyễn Thái An MSSV: 22101221 Lớp: 4148
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 01 năm 2022
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN LỜI MỞ ĐẦU NỘI DUNG
I. CÁC KHÁI NIỆM VÀ VÍ DỤ:
1. Vật chất thường được hiểu là một hoặc một số chất hay yếu tố khách quan, tự
có trong giới tự nhiên, đóng vai trò là cơ sở ban đầu sản sinh ra và cấu tạo nên
mọi tồn tại trong thế giới. Bởi vậy, phương pháp luận chung của các nhà duy
vật này là: muốn hiểu được đúng đắn thế giới thì cần phải nghiên cứu để hiểu
được đúng cấu tạo vật chất đầu tiên đó. Theo quan niệm của Triết học Mác Lê-
Nin về vật chất “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta
chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Từ đó ta
có thể suy ra vật chất là hiện thực khách quan, tồn tại bên ngoài không phụ
thuộc vào cảm giác, ý thức của con người. Là lết quả của việc tổng kết từ những
thành tựu tự nhiên của khoa học, phê phán những quan niệm duy tâm, siêu
hình về phạm trù vật chất. Bên cạnh đó vật chất còn quyết định sự hình thành
của ý thức, quyết định nội dung của ý thức nó còn là điều kiện để hiện thực hóa ý thức
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta. Trước kia do không
nhận thức được rằng mọi chủ trương đường lối, chính sách đều phải dựa trên
điều kiện vật chất hiện có mà chúng ta đã chủ trương phát triển công nghiệp
nặng trong khi mọi tiền đề vật chất thì chưa có. Do đó, chúng ta đã bị thất bại.
2. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật
chất. Vật chất và vận động không tách rời nhau, vật chất chỉ có Page 2
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua sự vận động mà biểu hiện. Bất
cứ sự vật, hiện tượng nào dù trong tự nhiên hay trong xã hội, là vật thể vô
cùng lớn như các ngôi sao, thiên hà,… hay vật thể vô cùng nhỏ như các hạt
cơ bản, dù thuộc giới vô sinh hay hữu sinh cũng đều tồn tại trong trạng thái vận
động, biến đổi không ngừng
Trong cuộc sống hằng ngày của mỗi con người diễn ra vô vàn sự vận động
chẳng hạn hành trình mỗi con người học từ lớp 1 đến lớp 12 đó là một sự vận
động của thời gian. Khi chúng ta đi từ trường về nhà đó là sự vận động cơ học sự
di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.
3. Không gian & Thời gian
Trong triết học Mác Lê-nin cùng với phạm trù vận động thì không gian và thời
gian là những phạm trù đặc trưng cho phương thức tồn tại của vật chất.
VI.Lê-nin đã nhận xét rằng: "trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang
vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài thời gian và không gian"
Trong lịch sử triết học khái niệm thời gian và không gian là những phạm trù
xuất hiện rất sớm.Trong đó, không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét
về mặt quảng tính, sự cùng tổn tại, trật tự, kết cấu và sự tác động lẫn nhau. Thời
gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về mặt độ dài diễn biến, sự
kế tiếp của các quá trình. Không có vật chất nào tồn tại bên ngoài không gian
và thời gian cũng như không có không gian và thời gian nào tồn tại bên ngoài vật chất.
4. Tính thống nhất vật chất của thế giới:
CNDVBC khẳng định: bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Page 3
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới
vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người. Hai là,
mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau,
biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu
vật chất hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cũng chịu sự chi
phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất. Ba là,
thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không sinh ra và không
mất đi. Trong thế giới không có gì khác ngoài quá trình vật chất đang biến đổi và
chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc nguyên nhân và kết quả của nhau.
Thế giới về bản chất là vật chất, thống nhất ở tính vật chất của nó, thế giới vật
chất có nguyên nhân tự nó vĩnh hằng và vô tận với vô số những biểu hiện muôn hình, muôn vẻ.
Vận dụng(Vật lí học hiện đại đã chứng minh sự tồn tại khách quan của các
hạt cơ bản.Hoá học đã chứng minh sự thống nhất vật chất của thế giới biểu hiện ở
sự thống nhất giữa vô cơ và hữu cơ.Sinh vật học đã chứng minh thực vật,
động vật và cơ thể con người có thành phần vô cơ không khác nhau.)
II. Ý THỨC-NGUỒN GỐC- BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC
a) Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên: Theo quan điểm của CNDVBC, ý thức là một thuộc tính
của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của
một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người. Ý thức không tự
sinh ra trong bộ óc mà là kết quả phản ánh sự tác dộng của thế giới bên ngoài vào bộ não người. Page 4
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
Nguồn gốc xã hội: Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người
nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội. Nguồn gốc trực tiếp và quan
trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn
xã hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
b) Bản chất của ý thức
Theo quan điểm của Mác: “Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan. Ý thức là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan vào
trong bộ óc của con người.”
Trong mối quan hệ với sự vật, ý thức chỉ là hình ảnh phản ánh sự vật, chứ
không phải bản thân sự vật. Ý thức bao giờ cũng là ý thức của con người. Mỗi
con người đều tồn tại trong một xã hội nhất định. Ý thức phát triển tùy thuộc
vào sự phát triển của xã hội, vì vậy, ý thức bao giờ cũng có bản chất xã hội.
Đặc tính tích cực, sáng tạo của ý thức gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội.
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện trước hết ở khả năng phản ánh chọn lọc của nó.
Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, của đời sống xã hội nói chung, sự phản ánh
của ý thức bao giờ cũng tập trung vào những cái cơ bản chính yếu tùy theo nhu
cầu của chủ thể phản ánh. Ý thức có thể dự đoán, đoán trước được tương lai, có
thể tạo ra những ảo tưởng, hoang đường, những lý thuyết khoa học và lý thuyết
rất trừu tượng và có tính khái quát cao. Tuy nhiên, tính sáng tạo ra ý thức là
sự sáng tạo ra sự phản ánh, vì ý thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại.
c) Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu cực kỳ phức tạp. Có nhiều ngành khoa học, nhiều cách tiếp
cận, nghiên cứu về kết cấu của ý thức. Ở đây chỉ tiếp cận kết cấu của ý thức
theo các yếu tố cơ bản nhất hợp thành nó. Theo cách tiếp cận này, Page 5
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
ý thức bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất là: tri thức, tình cảm và ý chí, trong đó tri
thức là nhân tố quan trọng nhất.
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, toàn bộ những lý trí không bị
chi phối bởi cảm xúc là kết quả của quá trình nhận thức, là sự tái tạo lại hình
ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ. Còn tình cảm là
những rung động, biểu hiện của trái tim, phản ánh hiện thực, được hình thành từ
những cảm xúc cụ thể của con người và bị chi phối bởi trái tim, là động lực
thúc đẩy mọi hoạt động nhận thức và
thực tiễn. Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua
những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người. Có thể coi ý
chí là một dạng quyền lực của bản thân, nó điều khiển hành vi con người đến
mục đích một cách tự giác, cho phép con người kiềm chế và tự làm chủ bản thân,
hành động theo quan điểm và niềm tin của mình.
Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau song tri
thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là
nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Vật chất và ý thức không đối lập nhau, mà có mối quan hệ biện chứng, ràng
buộc lẫn nhau. Trong đó vật chất có trước và ý thức có sau, vật chất quyết định ý
thức, còn ý thức tác động trở lại đối với vậy chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
a) Vai trò của vật chất đối với ý thức
Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc quyết định ý thức. Page 6
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
Vật chất là cái khách quan tồn tại vĩnh viễn trong không gian và thời gian.
Ý thức chỉ là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật
chất, là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Là
sự tương tác của bộ não con người vào thế giới khách quan. Không thể có ý
thức trước khi có con người được hay ý thức nằm
ngoài con người, độc lập với con người. Ví dụ, nếu một người nào đó
sinh ra mà bộ não không hoạt động được hay không có bộ não thì không thể có
ý thức được. lao động và ngôn ngữ - đây chính là nguồn gốc xã hội của ý
thức. Nhờ có lao động mà các giác quan của con người phát triển phản ánh
tinh tế hơn đối với hiện thực. Ngôn ngữ là cầu nối để trao đổi kinh nghiệm, tình
cảm, hay là phương tiện thể hiện ý thức. Ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn
gốc của xã hội có ý nghĩa quyết định hơn cho sự ra đời của ý thức.
Vật chất quyết định nội dung, bản chất và sự vận động, phát triển của ý thức
Ý thức, dưới bất kỳ hình thức nào đều là sự phản ánh chủ quan của thế giới
khách quan, đều nảy sinh trên những tiền đề vật chất nhất định. Những yếu tố
tình cảm ban đầu của con người, tình gia đình, tình huyết thống cũng xuất phát
từ những tiền đề vật chất. Quan hệ vật chất mở rộng thì tình cảm của con người
cũng mở rộng. Những tri thức về thế giới, kể cả tri thức kinh nghiệm lẫn tri
thức lý luận cũng đều là sự phản ánh những mối liên hệ, những cái vốn có từ thế giới bên ngoài.
Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội được bộc lộ ở mối
quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Trong đời
sống xã hội, sự phát triển của kinh tế quy định sự phát triển của đời sống văn
hóa. Xã hội phát triển càng cao, điều kiện vật chất thay đổi thì đời sống tinh
thần sẽ ngày càng phong phú, đa dạng. Ví dụ, trong xã hội cộng sản nguyên
thuỷ, đời sống vật chất hết sức thấp kém thì đời sống Page 7
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
tinh thần cũng bị giới hạn.Trong điều kiện đó chưa thể có lý luận, càng chưa thể
có các lý thuyết khoa học. Khi lực lượng sản xuất phát triển, tạo ra sự phân
công giữa lao động trí óc và lao động chân tay, lý luận mới ra đời
b. Vai trò của ý thức đối với vật chất
Tuy vật chất là cốt lõi quyết định ý thức, tuy nhiên CNM không bao giời xem
thường vai trò của ý thức. Có quan hệ tác động qua lại. Ý thức có tính độc
lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt
động thực tiễn của con người.
Nói tới vai trò của ý thức về thực chất là nói tới vai trò của con người, bởi vì ý
thức là của con người. Do có tính năng động, sáng tạo và độc lập tương đối so
với vật chất nên ý thức có vai trò, định hướng, chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn
của con người, trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan. Từ cơ sở
này, con người sẽ xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch,
lựa chọn phương pháp, cách thức thực hiện, công cụ, phương tiện hỗ trợ… để
thực hiện mục tiêu của mình. Thông qua hoạt động thực tiễn, nếu ý thức phản
ánh đúng các dạng vật chất, đúng hiện thực, nó có thể chỉ đạo hoạt động thực
tiễn của con người có hiệu quả trong việc cải biến các đối tượng vật chất. Ngược
lại, nếu ý thức phản ánh sai làm các dạng vật chất, sai hiện thực, sẽ làm cho hoạt
động của con người kém hiệu quả thậm chí phản tác dụng, kìm hãm, gây nguy
hại cho chính bản thân con người và hiện thực khách quan.
◻ Ví dụ 1 : Hiểu được tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở nhiệt độ hơn
10000C, người ta tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất thép đủ kích cỡ chứ
không phải bằng phương pháp thủ công cổ xưa.
◻ Ví dụ 2 : Trong lịch sử loài người, những tư tưởng phản động đã từng là vật
cản đối với sự phát triển của lịch sử. Nhiều tư tưởng duy tâm tôn Page 8
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
giáo đã hạn chế năng lực thực tiễn của con người. Tư tưởng bá quyền đế quốc
chủ nghĩa đã từng gây ra những cuộc chiến tranh tàn khóc làm hao tốn biết bao sức người, sức của.
IV. VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT -Ý THỨC VÀO QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN BẢN THÂN
Thứ nhất, vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực
tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan. Đầu tiên, bản thân mỗi người
phải tự xác định được các điều kiện khách quan ảnh hưởng đến quá trình
phát triển của bản thân. Là một sinh viên năm nhất trường đại học Hoa Sen,
sống trong đất nước Việt Nam - một đất nước đang phát triển nằm trên bán đảo
Đông Dương, tôi tự nhận thức được rằng điều kiện của đất nước còn khó khăn,
cơ sở vật chất vẫn chưa hoàn thiện và hiện đại để đáp ứng nhu cầu sống của
mỗi con người. Ví dụ, tại sao bản thân tôi đến hiện tại vẫn còn hạn chế về trình
độ ngoại ngữ, lý do chủ yếu là từ lúc nhỏ do không có điều kiện lẫn cơ sở vật
chất tiếp xúc với ngoại ngữ, những năm về trước đất nước ta vẫn chưa tạo
nhiều điều kiện cho học sinh học ngoại ngữ, thiếu thốn về lực lượng giảng viên
và giáo viên dẫn đến quá trình học ngoại ngữ của vô số học sinh gặp ảnh hưởng không thể phát triển.
Mặt khác, mỗi người cần phải đặc biệt chú ý tôn trọng tính khách quan và hành
động theo các quy luật mang tính khách quan, thể hiện qua một số hành
động như: tuân thủ các quy luật mà nhà nước đã đề ra, chấp hành pháp luật và
thực hiện trách nhiệm của một sinh viên. Ngoài ra cần phải tuân thủ theo đúng
nội quy nhà trường, chấp hành đúng kỷ luật, không ngừng rèn luyện nâng cao tri
thức và sức mạnh làm tiền đề cho sự phát triển của vật chất. Page 9
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
Thứ hai vì ý thức có sự tác động ngược lại vật chất nên cần phải phát huy tính
năng động, chủ quan tức là phải phát huy tính tích cực, năng động , sáng tạo của
ý thức. Theo quy định của nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam, công dân từ 18
tuổi trở lên bắt buộc phải có bằng lái xe vì vậy bản thân cần phải chủ động hơn
trong việc đăng kí thi lấy bằng lái xe, học và tìm hiểu những quy định khi tham gia giao thông.
Trong kết cấu của ý thức thì tri thức là yếu tố quan trọng nhất. Tri thức là
phương thức vận động và tồn tại của ý thức. Chính vì vậy, sinh viên cần phải
tích cực trong học tập, chủ động tìm hiểu và khai thác vấn đề, khi học bài
không nên quá phụ thuộc vào giảng viên mà thay vào đó nên duy nghĩ những ý
tưởng mới của riêng mình. Vì dụ trong những buổi thảo luận hay học nhóm,
bản thân tôi thường tìm hiểu kĩ các vấn đề cần thảo luận từ nhiều nguồn khác
nhau chẳng hạn internet, thư viện trường hoặc các nhà sách để trau dồi vốn kiến
thức chuyên ngành. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đại dịch Covid 19
bùng phát dữ dội đã chuyển đổi xu thế của nền giáo dục từ học trực tiếp tại
trường đến việc học online tại nhà, hầu hết các học sinh và sinh viên và bản
thân tôi đều đã thích ứng với những phương pháp học mới mẻ và phù hợp với
thời điểm hiện tại. Tuy nhiên những kiến thức tiếp thu từ sách vở chỉ mang đến
cho chúng ta những lý thuyết khô khan, để trở thành một người có vốn kỹ năng
và kinh nghiệm sống dày dặn chúng ta cần tham gia vào các hoạt động ngoài
trời, hoạt động tình nguyện hay tìm kiếm một công việc phù hợp để hiểu được
giá trị của đồng tiền.
Tình cảm là những rung động của con người trong các mối quan hệ vói hiện
thực. Nhờ tình cảm mà tri thức mới có sức mạnh và sau đó trở thành cơ sở cho
hành động. Nói các khác, tình cảm là động lực lớn nhất thúc đẩy chúng ta đi
đến thành công. Đối với một sinh viên ngành Truyền Thông như tôi, để đạt
được nhiều thành tích tốt cũng như kinh nghiệm Page 10
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ TRIẾT HỌC - ĐẠI HỌC HOA SEN
trong lĩnh vực mà bản thân đã chọn và phát triển trong tương lai, cần phải có
niềm đam mê đối với mỗi môn học bất kể là môn chuyên ngành hay môn đại
cương. Thiết nghĩ cần phải tạo cảm giác thoải mái và tinh thần vui vẻ khi học
tập từ đó mới tạo ra được hứng thú để tìm tòi, học hỏi, đáp ứng kì vọng của cha
mẹ, tình cảm gia đình góp phần giúp bản thân vượt qua những khó khăn để tiếp
tục con đường học tập.
Niềm tin là động cơ tinh thần định hướng cho những hoạt động của con người.
Là một sinh viên tốt thì cần phải biết đặt niềm tin vào nhiều thứ. Đầu tiên, cần
phải có niềm tin ở bản thân mình, phải biết đặt ra hoài bão, ước mơ nhưng không
được quên việc thực hiện hóa nó bằng các kế hoạch chắc chắn. Có niềm tin thì
chắc chắn sẽ có động lực để phấn đấu, vươn lên nhằm đạt được những mục
tiêu cao đẹp. Cụ thể là, mục tiêu bây giờ của tôi chính là tốt nghiệp đại học
với tấm bằn loại khá trở lên nhưng muốn thực hiện được điều ấy thì phải
lập ra thời gian biểu học tập cụ thể với một phương pháp học đúng đắn kèm theo.
Ý chí biểu hiện cho sức mạnh tinh thần của con người, giúp con người vượt qua
những khó khăn, trở ngại để đạt được những mục tiêu đã đặt ra. Môi tường đại
học ẩn chứa nhiều thử thách và cám dỗ vì vậy chúng ta cần phải xây dựng cho
mình một ý chí kiên định để tránh xa những thói hư tật xấu. Ví dụ như, cuộc
sống sinh viên tự do đòi hỏi tôi phải lập ra những quy tắc riêng cho bản thân
để giữ vững lập trường của mình trước những cạm bẫy trước mắt: tránh tụ tập
nhậu nhẹt sa đà,không vì lười biếng mà cúp học, chưa học bài xong chưa đi ngủ
chưa học bài đủ chưa đi chơi, không nên chạy theo những công việc chỉ sinh ra
lợi ích tức thờ mà bỏ bê việc học, nên học theo tinh thần của câu nói:”Học, học
nữa, học mãi” của Lê-nin. KẾT LUẬN Page 11