







Preview text:
HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VIỆC VẬN DỤNG
HỌC THUYẾT NÀY CỦA ĐẢNG TA VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY? MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội của
triết học Mác-Lênin, là một trong ba bộ phận hợp thành triết học Mác. Chủ nghĩa duy vật
lịch sử lý giải sự tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất.
Cụ thể thì trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất thay đổi, sự thay đổi quan hệ
sản xuất lại dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó
thay đổi. Ngoài ra, những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó cũng thay đổi
kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác trở
thành phương pháp luận của nhiều nhà nghiên cứu trong các bộ môn như sử học, xã hội
học. Học thuyết hình thái kinh tế -xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật
lịch sử, vạch ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội, là phương pháp
luận khoa học để nhận thức, cải tạo xã hội. Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi to
lớn, sâu sắc nhưng lý luận hình thái kinh tế -xã hội vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và
thời đại. Ngày nay các chính đảng và nhà nước vẫn dùng học thuyết hình thái kinh tế -xã
hội trong xác định cương lĩnh của mình trong đó có đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong con
đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (Các Mác
chỉ ra lịch sử loài người tất yếu trải qua các hình thái kinh tế xã hội sau: cộng sản nguyên
thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Nhưng nước ta
đã bỏ qua HTKT tư bản chủ nghĩa mà đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội) của Việt Nam hiện
nay, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội là cơ sở khoa học của việc xác định con đường phát triển.
Nội dung chủ đề trình bày gồm hai phần:
1. Quan niệm về hình thái kinh tế xã hội.
2. Sự vận dụng của Đảng ta 2 MỤC LỤC
NỘI DUNG………………………………………………………………………………3
1. Quan niệm về hình thái kinh tế xã hội…………………………………………………3
1.1. Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội………………………..3
1.2. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất……………………………4
1.3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng……………………………5
1.4 Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên………5
2. Sự vận dụng của Đảng ta……………………….………………………………………6
KẾT LUẬN………………………………………………………………………………8
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………….8 3 NỘI DUNG
1. Quan niệm về hình thái kinh tế xã hội.
Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để
chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu QHSX đặc trưng cho xã hội
đó, phù hợp với một trình độ nhất định của LLSX và với một KTTT tương ứng được xây
dựng trên kiểu QHSX đó. Phạm trù hình thái kinh tế -xã hội chỉ ra kết cấu xã hội trong
mỗi giai đoạn lịch sử nhất định bao gồm ba yếu tố cơ bản, phổ biến: Lực lượng sản xuất,
quan hệ sản xuất (cơ sở hạ tầng), kiến trúc thượng tầng. Lực lượng sản xuất là nền tảng
vật chất của xã hội, tiêu chuẩn kháchquan để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau,
yếu tố xét đến cùngquyết định sự vận động, phát triển của hình thái kinh tế -xã hội. Quan
hệ sản xuất là quan hệ khách quan, cơ bản, chi phối và quyết định mọi quan hệ xã hội,
đồng thời là tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt bản chất các chế độ xã hội khác
nhau. Kiến trúc thượng tầng là sự thể hiện các mối quan hệ giữa người với người trong
lĩnh vực tinh thần, tiêu biểu cho bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội.
Học thuyết hình thái kinh tế -xã hội của Chủ nghĩa Mác – Lêninbao gồm một hệ
thống các quan điểm cơ bản:
- Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của sự vận động, phát triển của xã hội.
- Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
- Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
1.1. Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội.
Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành sản xuất. Sản xuất là hoạt động
không ngừng sáng tạp ra giá trị vật chất và tinh thầnnhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tồn
tại và phát triển của con người. Sản xuất là hoạt động đặc trưng của xã hội loài người mà
không một loàinào khác có được. Ví dụ các loài vật khác mặc dù cũng có những hoạt
động tạo ra giá trị vật chất như con ong xây tổ nhưng hành động “xây tổ” của con ong lại
hoàn toàn dựa vào bản năng giống loài, nó khác với hoạt động “xây dựng” của con người
đòi hỏi có sự sáng tạo. Quá trình sản xuất diễn ra trong xã hội loài người chính là sự sản
xuất xã hội – sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực.
Sản xuất vật chất đã tạo ra các điều kiện, phương tiện bảo đảm chohoạt động tinh
thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sảnxuất tinh thần của xã hội. Nhờ
hoạt động sản xuất vật chất mà con người hình thành nên ngôn ngữ, nhận thức, tư duy,
tình cảm, đạo đức, phẩm chất xã hội của con người. Ph. Ăngghen khẳng định rằng, “lao
động đã sáng tạo ra bản thân con người”. Nhờ lao động sản xuất mà con người vừa tách 4
khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất
và tinh thần, đồng thời sáng tạo ra chính bản thân con người. Xét đến cùng, không thể
dùng tinh thần để giải thích đời sống tinh thần, để phát triển xã hội phải bắt đầu từ phát
triển đời sống kinh tế - vật chất.
1.2. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện đồng thời sự tác động giữa
con người với tự nhiên và sự tác động giữa người với người để sáng tạo ra của cải vật
chất phục vụ nhu cầu con người và xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định. “Người ta
không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động
chung và để trao đổi hoạt động với nhau.
Công cụ lao động là phương tiện con người dùng trực tiếp tác động lênđối tượng
lao động, là yếu tố vật chất “trung gian”, “truyền dẫn giữa người lao động và đối tượng
lao động. Người xưa dùng công cụ lao động “rìu đá” để tác động lên đối tượng lao động
“thân cây” để biến đổi chúng thành những thanh gỗ nhỏ đáp ứng nhu cầu làm nhà. Ngày
nay thìcông cụ lao động “rìu đá” đã biến thành “cưa máy” tác động vào đối tượng lao
động “thân cây” cũng để lấy gỗ làm nhà giống người thời tiền sử thế nhưng với năng suất
và chất lượng gỗ thu được vượt trội hơn nhiều.
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế -vật chất giữa người với
người trong quá trình sản xuất. Quan hệ sản xuất thể hiện trong 3 khía cạnh: Quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ giữa người với người trong tổ chức quản lý sản xuất,
quan hệ giữa người với người trong phân phối sản phẩm.
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất thể hiện ở 3 khía cạnh: Lực lượng
sản xuất nào quan hệ sản xuất đó, khi lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất
cũng thay đổi, nội dung quan hệ sảnxuất do lực lượng sản xuất quyết định. Ví dụ khi lực
lượng sản xuất dựavào công cụ thô sơ thì các quan hệ sản xuất đi kèm cũng chủ yếu chỉ
là quản lý nhỏ, phân tán, hình thức phân phối chủ yếu theo hiện vật. Còn khi lực lượng
sản xuất dựa vào công cụ lao động hiện đại thì các quan hệ sản xuất cũng lớn hơn đa
dạng hơn như sở hữu lớn, quản lý theo phong cách hiện đại, hình thức phân phối đa dạng.
Quan hệ sản xuất lại tác động ngược lại lực lượng sản xuất theo 2 chiều hướng:
Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì sẽ tạo đà phát triển cho LLSX,
ngược lại nếu QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì sẽ cản trở
LLSX phát triển. Quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX là quy luật quyết định 5
sự vận động, phát triển nội tại của bản thân PTSX và là quy luật phổ biến tác động tới
toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại.
1.3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động
hiện thực của chúng, hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó. Cơ sở hạ tầng được hình
thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội. Đây là toàn bộ
các quan hệ sản xuất tồn tại trên thực tế mà trong quá trình vận động của nó hợp thành
một cơ cấu kinh tế hiện thực. Các quan hệ sản xuất là các quan hệ cơ bản, đầu tiên, chủ
yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội khác.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội với những
thiết chế xã hội tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên
một cơ sở hạ tầng nhất định. Cấu trúc của kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ những
quan điểm tư tưởng về chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học...
cùng những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể
và tổ chức xã hội khác.
Cơ sở hạ tầng quy định kiến trúc thượng tầng: Quy luật về mối quan hệ biện
chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội là 1 trong 2 quy luật cơ bản
của sự vận độngvà phát triển lịch sử xã hội loài người. Trong mối quan hệ này cơ sở hạ
tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Bởi vì, quan hệ vật chất quyếtđịnh quan hệ tinh
thần; tính tất yếu kinh tế xét đến cùng tính tất yếu chính trị -xã hội. CSHT như thế nào thì
KTTT như thế đó, QHSX nào là thống trị thì nó sẽ tạo ra một KTTT như thế ấy, giai cấp
nào mà thốngtrị trong xã hội thì toàn bộ tư tưởng của giai cấp đó sẽ là tư tưởng thống trị
trong xã hội. CSHT mà mất đi, CSHT mới ra đời thì sớm hay muộn KTTT cũng mất đi
để ra đời một KTTT mới. Nội dung của KTTT do CSHT quy định.
1.4 Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản
nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủnghĩa và hiện tại là đang tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Sự phát triển này là 1quá trình lịch sử tự nhiên do các lý do sau:
- Sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo các quy luật khách quan
-Nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển của xã hội đều cónguyên nhân trực
tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của LLSX xã hội. 6
-Quá trình phát triển của các hình thái kinh tế -xã hội còn chịu sự tác động của các
nhân tố chủ quan khác nên xu hướng chung của các HTKT – XH là sự phát triển từ thấp
lên cao. Nhưng sự phát triển đóđược diễn ra bằng nhiều cách.
-Điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia khác nhau (nhân tố khách quan và chủ quan)
2. Sự vận dụng của Đảng ta
Một là, Lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Theo Ăngghen, các nước lạc hậu, tiền tư bản chủ nghĩa đều có thểđi lên chủ nghĩa
xã bằng những con đường phát triển bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Muốn làm được điều đó thì
cách mạng vô sản phải thành công, nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản đã tiến hành cách mạng giành được chính quyền từ tay giai cấp thống trị và các nước
đó đã giành được sự giúp đỡ từ các nước phương Tây. Hơn thế nữa, lý luận của chủ nghĩa
Mác về hình thái kinh tế -xã hội đã khẳng định: các quốc gia, dân tộc có thể phát triển
tuần tự theo những bước quá độ của các hình thái kinh tế -xã hội nối tiếp nhau từ cộng
sản nguyên thủy đến cộng sản chủ nghĩa, song căn cứ vào điều kiện lịch sự cụ thể mà các
quốc gia có thể bỏ qua một hay một vài hình thái kinh tế -xã hội. Theo Lênin, có 2 hình
thức quá độ; quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp. Lê-nin cho rằng những nước mà chủ
nghĩa tư bản đã phát triển thì có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng quá độ trực tiếp. Ngược
lại, những nước lạc hậu có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng quá độ gián tiếp. Thực chất
đó là sự bỏ qua tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên con đường xã hộichủ nghĩa. Nước ta là
nước lạc hậu về kinh tế lại bị đế quốc thực dân thống trị một thời gian dài, cơ sở vật chất
kỹ thuật còn nghèo và lạc hậu. Đảng ta khẳng định sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước tiến từbản chủ nghĩa
bỏ qua chủ nghĩa tư bản sự lựa chọn trên 2 căn cứ sau đây.
Một là, chỉ có CNXH mới giải phóng được nhân dân lao động thoát khỏi áp bức,
bóc lột bất công đem lại cuộc sống ấm lo hạnh phúc cho nhân dân.
Hai là, thắng lợi của cuộc cách mạng thắng lợi Nga năm 1971 đã mở ra một thời
đại mới, tạo khả năng thực hiện cho các dân tộc lạc hậu tiến lên con đường CNXH.
Sự lựa chọn ấy không mâu thuẫn với quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của
XHCN, không mâu thuẫn với hình thái kinh tế xã hội củ chủ nghĩa Mác Lê-nin. Trong
điều kiện cụ thể sự lựa chọn ấy chính là sự lựa chọn con đường rút ngắn bỏ qua chế độ
TBCN. Con đường CNXH cho phép chúng ta có thể phát triển nhanh lực lượng sản xuất
theo hướng ngày càng hiện đại, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội phát triển xã hội
theo chiều hướng tiến bộ vừa có thể tránh cho xã hội và nhân dân lao động phải trả giá 7
cho các vấn đề của xã hội tư bản mà trước hết là chế độ người bóc lột người, là quan hệ
bất bình đẳng người với người…Từ tất cả những lí do trên, nước ta đã lựa chọn con
đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Nước ta quá độ lên chủ
nghĩa xã hội trong điều kiện hết sức khó khăn, thử thách. Dân số trên 80% sống bằng
nông nghiệp, cơ sở vật chất kinh tế của chủ nghĩa xã hội hầu như không có. Vận dụng
chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta khẳng định: độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau. Viêc Đảng ta luôn kiên định con đường tiến
lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử, xu hướng củathời đại và
điều kiện cụ thể của đất nước.
Hai là, chọn hướng đi xây dựng xã hội.
Xã hội mà nhân dân ta quyết tâm xây dựng là một xã hội của dân, do dân, vì dân,
có một nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất tiến bộ và chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất, có nền văn hóa đậm đàbản sắc dân tộc, con người được giải phóng,
hưởng cuộc sống hạnh phúc, phát triển về mọi mặt, các dân tộc anh em chung sống hòa
bình, đoàn kết và hợp tác, hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới. Đây là chính là
nội dung “sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội” và “vai trò
quyết đinh của cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VII (tháng 6/1991) của Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh”. Mục tiêu đó chính là sự cụ thể hóa từ nội dung “biện chứng giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trú cthượng tầng của xã hội”.
Các thành tựu đạt được:
Nếu như giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quân
hàng năm chỉ đạt 4,4% thì đến năm 2019 con số này đãđạt 7,02%, quy mô nền kinh tế đạt
hơn 262 tỷ USD; thu nhập bình quânđầu người đã lên gần 2.800 USD. Danh sách do
Forbes Asia 2019 công bố, trong 200 công ty códoanh thu trên 1 tỷ USD tốt nhất tại khu
vực châu Á - Thái Bình Dương đã có tới 7 doanh nghiệp của Việt Nam. Ngoài ra, Việt
Nam còn xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15
bậc so với năm 2018. Thống kê từ Bộ Công Thương cho thấy, tính đến năm 2019, Việt
Nam đã có quan hệ chính thức với 189/193 quốc gia của Liên hợp quốc; có quan hệ kinh
tế -thương mại và đầu tư với trên 224 nước và vùng lãnh thổ; có 16 đối tác chiến lược, 11
đối tác chiến lược toàn diện; 71 nước đã công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị
trường.Việt Nam đã tham gia thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và 8
hiện đại, đáp ứng yêu cầu của hội nhập; xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận
lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế. KẾT LUẬN
Học thuyết hình thái kinh tế -xã hội là một học thuyết khoa học. Trong điều kiện
hiện nay nó vẫn còn giữ nguyên giá trị. Nó đưa ra mộtphương pháp hữu hiệu để phân tích
các hiện tượng trong cuộc sống xã hội để từ đó vạch ra phương hướng và giải pháp đúng
đắn cho hoạt độngthực tiễn. Lí luận về hình thái kinh tế -xã hội đã chỉ ra con đường đi lên
chủnghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và chính nó đã đề ra những hướng đi đúng
đắn. Từ đó chỉ rõ những giải pháp đưa đất nước ta phát triển lên một tầm cao mới. Lý
luận hình thái kinh tế xã hội cũng là phương pháp luận khoa học để ta phân tích công
cuộc xây dựng đất nước hiện nay, luận chứng được tất yếu của định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. Phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã
hội và chỉ ra được: Đổi mới theo định hướng của xã hội vừa phù hợp với xu hướngphát
triển thời đại vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Như vậy có thể khẳng định
rằng: Lý luận hình thái kinh tế xã hội vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và đúng thời đại
của nó. Nó là phươngpháp luận thực sự khoa học để phân tích thời đại cũng như của
côngcuộc xây dựng đất nước hiện đại ở Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Xi, XII,
XIII, Nhà xuất bản CTQGST, H.
- Giáo trình Tìm hiểu học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội, Nhà xuất bản
CTQGH, 1997, Nhiều tác giả.