LỜI CẢM ƠN
Việc hoàn thành một bài tiểu luận thể được coi một chặng đường
nghiên cứu khoa học nhỏ, đối với sinh viên như chúng em, nó là một thách
thức không về dễ dàng. Chún gem muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến
ThS. Trần Thị Phương, người đã chia sẻ những tri thức và đam của mình
để truyền đạt kiến thức quý báu cho chúng em. Cô đã không ngừng hỗ trợ
tận tình hướng dẫn chúng em trong quá trình viết tiểu luận. tạo ra nền tảng và
kiến thức cần thiết để chúng em thể nắm bắt, phân ch giải quyết vấn
đề.
Thành công luôn đi m với nỗ lực, chùng em đã trải qua nhiều tuân
nghiên cứu với đề tài “Quy luật phủ định của phủ định và vận dụng quy luật
vào việc tìm hiểu chủ trương, đường lối của đảng về xây dựng, phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc”. Không thiếu những khó
khan thách thức, những nhờ sự hỗ rợ của , chúng em đã vượt qua mọi
khó khăn. Mặcchúng em đã cố gắng vận dụng những iến thức đã học được
trong học kỳ qua để hoàn thành tiểu luận này, những với sự thiếu inh nghiệm
và hạn chế kiến thức, chắc chắn sẽ có những thiếu sót không tránh khỏi. Chún
gem mong được nhận xét, ý kiến đóng góp và phê bình từ cô để bài tiểu luận
trên hoàn thiện hơn.
Chúng em cũng xin cảm ơn bạn bè, anh chị người đã tận tình hướng dẫn
chỉ bảo chúng em trong qtrình hoàn thành bài tiểu luận, tạo điều kiện cho
chúng em hiểu thêm về những kiến thức thực tế.
Một lần nữa, nhóm chúng em xin cảm ơn vì đã giảng dạy và trang bị
kiến thức cần thiết để phục vụ cho môn học cũng nlàm hành trang cho cuộc
sống của chúng em sau này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU...................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ
ĐỊNH...................................2
1.1 Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng......................................................2
1.2 Các đặc trưng cơ bản của phủ định biện
chứng...............................................3
1.3 Nội dung quy luật của phủ định biện
chứng....................................................4
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng của phủ
định.......................5 CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO
VIỆC TÌM HIỂU CHỦ
TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG, PHĀT TRIỂN
NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TI ĀN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN
TỘC.............6
2.1 Chủ trương xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc Việt
Nam.........................................................................................7
2.2 Đặc trưng ca nền văn hóa XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.....9
2.3 Đánh giá chung thực trạng việc xây dựng nền văn a XHCN tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam hiện nay.......................................................10
2.3.1 Những kết quả đạt được.......................................................................10
2.3.2 Phần hạn chế.........................................................................................14
2.4 Giải pháp khắc phục hạn chế.......................................................................17
K ĀT
LUẬN............................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM
KHẢO.....................................................................................24
lOMoARcPSD|36086670
MỞ ĐẦU
Trên chặng đường phát triển văn hóa, Đảng nhà nước Việt Nam đã đặt ra những
văn kiện quan trọng, từ “Đề cương văn hóa năm 1943” đầu tiên, nhằm tích y kinh
nghiệm luận, để góp phần định hình duy văn hóa của thời kỳ. Với sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng đông thời kết hợp chiến lược đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế,
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc xây dựng phát triển nền
văn hóa Việt Nam.
Thành tựu nổi bật như nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hệ thống dân
chủ XHCN với nhà nước pháp quyền đã được y dựng phát triển bền vững. Trong
bối cảnh hội nhập kinh tế văn hóa, sự n nhắc đúng đắn giữa hai yếu tố này trờ thành
quyết định quan trọng. Coi trọng hội nhập kinh tế là bước quan trọng nhằm thoát nghèo
và đồng thời, giữ sự hội nhập văn hóa cũng mối quan tâm hang đầu để không bị mất
đi bản sắc văn hóa dân tộc
Điều quan trọng nhất là phát triển văn hóa không chỉ là trách nhiệm của ngành văn
hóa mà còn là trách nhiệm của cả đảng, toàn dân và xã hội. Văn hóa được coi là cốt lỗi,
là hồn của dân tộc, và sự giữ gìn bản sắc văn hóa là bảo vệ cho tồn tại của dân tộc. Điều
này đặt ra yêu cầu cần chiến lược phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế,
nhưng vẫn giữu được đặc trưng riêng biệt, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tóm lại, để tìm hiểu và làm vấn đtrên nhóm chúng em quan m chọn đề
tài: “Quy luật phủ định của phủ định sự vận dụng quy luật này vào tìm hiểu chủ
trương, đường lối của đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc” đlàm đề i cho tiểu luận y. Cuốn tiểu luận này tập trung vào
phân tích phép phủ định biện chứng ứng dụng thực tiễn của trong vấn đề xây dựng
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
CHƯƠNG 1 QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
1.1 Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng:
lOMoARcPSD|36086670
Trong quá trình phát triển của triết học từ a đến này, các nhà triết học
các trường phái triết học đã trình bày các quan niệm đa dạng về sự phủ định, tùy
thuộc vào thế giơi quan phương pháp của mỗi trường phái. Một trong những
quan niệm nổi bật là quy luật phủ định của phủ định theo chủ nghĩa Mác Lênin.
Chủ nghĩa Má Lênin cho rằng trong thế giơi này, mọi sự vật và hiện tượng đều
trải qua quá trình tồn tại, phát triển mất đi, được thay thế bằng sự vật hiện
tượng khác. Quy luật này bắt nguồn tsự thay đổi không ngừng liên tục của
sự vật, được triết học gọi là “sự phủ định của phủ định”.
Ví dụ: Vòng đời của con tằm bao gồm: Trứng – tằm – nhộng – ngài trứng.
Sự xuất hiện của “tằm” đã xóa bsự tồn tại của “trứng” nên tằm là phủ định của
trứng.”Nhộng” sinh sôi, tằm không còn tằm nên “nhộng” sự phủ định của
“tằm”. “Ngài” phát triển từ “nhộng”, xóa bỏ sự tồn tại của “nhộng” nên “tằm”
phủ ddingj của “nhộng”. Cuối cùng, trứng mới ra đời từ ngài, bắt dầu một quá
trình mới. Trứng chính là sự phủ định của “ngài”.
Quan điểm biện chứng cho rằng phủ định là khâu cơ bản của bất kỳ sự phát
triển nào. Đó là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trên cơ sở mất đi của cái cũ
và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, là quá trình giải quyết những mẫu thuẫn bên trong
của bản than sự vật bị phủ định.
Ví dụ:Một ví dụ thực tế về phủ định biện chứng có thể được hiểu thông qua
quá trình xã hội tự chế độ phông kiến đến xã hội ch nghũa. Sự phủ định này xảy
rra khi lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất phong kiến không còn đáp ứng
được sự phát triển của xã hội.
1.2 Các đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng:
Phủ định biện chứng có hai đặc điểm cơ bảntính khách quan tính kế
thừa. Ngoài ra còn có tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
Thứ nhất, tính khách quan của phủ định biện chứng bắt nguồn từ sự phủ định
nằm ngay bên trong bản than của sự vật hiện tượng. Đó kết quả của qtrình
giải quyết mâu thuẫn tất yếu, bên trong của bản thân nó, tạo ra khả năng cái mới
lOMoARcPSD|36086670
thay thế cái (lượng đổi dẫn dến chất đổi, cái mới ra đời thay thế cái cũ). Phủ
định biện chứng tạo điều kiện, làm tiền đề cho sự phát triển. Vì vậy, phđịnh biện
chứng là sự tự than phủ định.
Ví dụ: Hạt giống khi ta đem gieo xuống đất và có đủ điều kiện về nước, đất,
ánh sáng, độ ẩm, không khí,… tất yếu sẽ nảy mầm thành cây con, do sự tác động
chính của các yếu tố bên trong chính hát giống(đó mầm, than mầm, chồi
mầm,…), đó là cái vốn có của hạt giống đó, làm cho hạ giống đó nảy mầm thành
cây con. Khi đó, cây con sẽ là cái phủ định của hạt giống.
Thứ hai, tính kế thùa của phủ định biện chứng được thể hiện thông qua việc
phủ định biện chứng kết quả của sư phát triển tự than của sự vật, cho việc
không có sự phá hủy hoàn toàn cái cũ. Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái
cũ, sự phát triển tiêp tục của cái trên sở bỏ đi những mặt tiêu cực, thừa
thãi, lỗi thời, lạc hậu của cái chọn lọc, giữ lại, cải tạo những mặt còn thích
hợp, tích cực, bổ sung những mặt mới phù hợp với hiện thực.
dụ:Ban đầu, các điện thoại di động xuất hiện với tính năng bản, giới
hạn trọng việc thực hiện cuộc gọi nhắn tin. Tuy nhiên, với sự phát triển của
công nghệ, xuất hiện sự phản đối và mâu thuẫn bởi người tiêu dung, điện thoại di
động đã phát triển thành điện thoại thông minh nhiều tính năng tiên tiến hơn.
Với đặc điểm như vậy, phủ định biện chứng không chỉ là nhân tố khắc phục
cái , còn gắn liền cái cũ với cái mới, cái khẳng định với cái phủ định. vậy,
phủ định biện chứng trở thành mắt xích, khuynh hướng tất yếu của sự liên hệ
sự phát triển. 1.3 Nội dung quy luật phủ định của phủ định:
Quy luật phủ ddingj của phủ định thể hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuân
trong bản than sư vật quyết định. Mỗi lần phủ định là sự đấu tranh và chuyển đổi giữa các
mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và mặt phủ định. Sự phủ định lần
thứ nhất diễn ra khiến cho sự vật cũ biến thành cái đối lập với sự khẳng định mới.Sự phủ
định lần thứ hai, sự vật mới với tư cách là sự phủ định của phủ định đối lập với sự phủ định
quay trở lại chỗ cũ nhưng không còn nguyên vẹn như sự vật cũ mà trên nền tảng cao hơn,
toàn diện hơn.
Phủ định của phủ định là sự thống nhất biện chứng giữa khẳng định và phủ định, là
kết quả của sự tổng hợp giữa khẳng định ban đầu và phủ định ban đầu cũng như tất cả các
yếu tố tích cực trong giai đoạn phủ định. Sự tổng hợp này là sự chắt lọc các giai đoạn đã
lOMoARcPSD|36086670
qua nên nội dung phong phú và toàn diện hơn. Kết quả của sự phủ định của phủ định là sự
kết thúc của một chu kỳ phát triển và là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo. Mọi
chuyện tiếp tục phát triển một cách biện chứng. Cứ như thế, những điều mới lại càng tr
nên mới hơn. Theo triết học Mác - Lênin, quy luật phủ định của phủ định là quy luật phổ
quát của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư tưởng.
Trong chuỗi những phủ định tạo nên quá trình phát triển của sự vật, mỗi phủ định biện
chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự phát triển hơn nữa của sự vật tiếp theo
của nó. Sau sự phủ định tiếp theo, nhưng thiết lập lại bản gốc mới, cao hơn, nó thể hiện
sự tiến bộ của sự việc. Những lần phủ định tiếp theo đó được gọi là sự phủ định của phủ
định. Phủ định của phủ định xuất hiện cái mới như là một sự tổng hợp và kế thừa những
yếu tố tích cực của cái cũ, và những điểm tích cực ấy sẽ tiếp tục được duy trì và phát triển
trong những lần phủ định tiếp theo.Vì thế, mới là kết quả phủ định của phủ định có nội
dung toàn diện và tiến bộ hơn những lời khẳng định ban đầu và cái phủ định sau đó. Do đó,
sự phát triển diễn ra thông qua sự phủ định biện chứng Sẽ tạo ra một xu hướng tăng bền
vững - nhưng không phải là một đường thẳng hình chiếc nhẫn. Nhận xét về con đường này,
V.I. Lênin viết:“Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một
hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể nói
là theo đường tròn ốc chứ không theo đường thẳng...”
Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng phát triển tất yếu của sự vật - xu hướng
phát triển. Nhưng sự phát triển này không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường
“xoắn ốc”.
Sự phát triển theo đường "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của
quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính phát triển lên. Mỗi
vòng của đường "xoáy ốc" luôn thể hiện sự lặp lại, nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao
hơn của sự phát triển. Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối
tiếp nhau từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc".
Tóm lại, quy luật phủ định của phủ định phản ánh mối quan hệ, sự kế thừa ở khâu
trung gian giữa cái bị phủ định và sự phủ định; vì có kế thừa cho nên phủ định biện chứng
không phải là sự phủ định sạch trơn mà là tiền đề cho sự phát triển của sự vật.Phủ định
biện chứng là điều kiện cho sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa những
nội dung tích cực từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nên tính chu kì
của sự phát triển.
Ví dụ về quy luật phủ định của phủ định:
- Một quả trứng là sự khẳng định ban đầu (trong điều kiện được ấp). Phủ định lần 1
tạo ragà mái con. Sau đó phủ định lần 2 (gà mái con lớn lên)sinh ra nhiều quả trứng. -
Một hạt thóc là sự khẳng định ban đầu (được gieo trồng). Phủ định lần 1 tạo ra cây
lúa.Sau đó phủ định lần 2 là cây lúa sinh ra nhiều hạt thóc.
- Ở cả hai câu trên, chúng ta thấy có một chu kỳ phát triển: Từ một quả trứng ban
đầu đếnnhiều quả trứng mới. Từ một hạt thóc ban đầu đến nhiều hạt thóc mơi. Từ một
đến nhiều tức là đã có sự phát triển lên nấc thang cao hơn. 1.4 Ý nghĩa phương pháp
luận của phép biện chứng về phủ định:
lOMoARcPSD|36086670
Quy luật phủ ddingj của phủ định đã chỉ rõ sự phát triển là khuynh hướng chung, là
tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Tuy nhiên, quá trình phát triển
không diễn ra theo đường thẳng nhưng quanh co phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định,
nhiều khâu trung gian. Điều đó giúp chúng ta tránh được cách nhìn phiến diện, giản đơn
trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội, và do vậy
cần phải kiên trì đổi mới, khắc phục khuynh hướng bi quan, chán nản, dao động trước
những khó khăn của sự phát triển.
Phải có cái nhìn biện chứng trong khi phê phán cái cũ, cần phải biết sàng lọc, kế
thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ, tránh thái độ "hư vô chủ nghĩa", "phủ định sạch trơn".
Vì vậy, một quan niệm chân chính về sự phát triển phải là một thái độ ủng hộ cái mới, đấu
tranh cho cái mới, chống lại cái cũ, cái lỗi thời kìm hãm sự phát triển. Trong cuộc sống
hằng ngày, chúng ta cần ủng hộ lối sống mới, đạo đức mới cũng nnhững lý thuyết khoa
học mới.
CHƯƠNG 2
VẬN DỤNG QUY LUẬT VÀO VIỆC TÌM HIỂU CHỦ TRƯƠNG,
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG ĐỂ XÂY DỰNG, PHĀT TRIỂN NỀN VĂN
HÓA VIỆT NAM TIÊN TI ĀN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
2.1 Chủ trương xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc ở Việt Nam:
Để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà, đậm đà bản sắc dân tộc, làm
cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định các
chủ trương, biện pháp sau:
Một là, củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa
dạng. Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu,
thiết thực hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan,
đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống. Tiếp tục
đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn
minh trong việc cưới, tang, lễ hội. Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt
Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người
Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chú trọng
nâng cao đời sống văn hóa ở nông thôn, vùng khó khăn, thu hẹp khoảng cách hưởng thụ
văn hóa giữa các vùng, các nhóm xã hội, giữa đô thị và nông thôn...
Hai là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản
văn hóa truyền thống, cách mạng. Tiếp tục phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh
lOMoARcPSD|36086670
chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Khuyến khích
tìm tòi, thể nghiệm những phương thức thể hiện và phong cách nghệ thuật mới, đáp ứng
nhu cầu tinh thần lành mạnh, đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công
chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, khắc phục yếu kém, nâng
cao tính khoa học, sức thuyết phục của hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật.
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn
hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật...
Ba là, phát triển hệ thống thông tin đại chúng. Chú trọng nâng cao tính tư tưởng,
phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện
thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước; khắc phục xu hướng thương mại
hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản. Tập trung đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị, tư tưởng,
nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt, yêu cầu của thời kỳ mới. Phát triển và mở rộng việc
sử dụng internet, đồng thời có biện pháp quản lý, hạn chế mặt tiêu cực,...
Bốn là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa; đổi mới, tăng
cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước con người Việt
Nam với thế giới; mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin đối thoại,
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, báo chí, xuất hiện. Tiếp thu những kinh nghiệm tốt
về phát triển văn hóa của các nước; giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật đặc sắc của
nước ngoài với công chúng Việt Nam; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế về bảo đảm quyền
sở hữu trí tuệ, quyền tác giả.
lOMoARcPSD|36086670
2.2 Đặc trưng của nền văn hóa XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: 1 -
Giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là những giá trị xã hội tốt đẹp nhất, ước mơ
ngàn đời của loài người, cho nên cũng là mục tiêu phấn đấu của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy,
đây là đặc trưng phổ quát, có tính bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự khác
nhau căn bản, sự tiến bộ hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội
trước đó. Xã hội tư bản có đời sống vật chất và tiện nghi rất cao; dân có thể giàu, nước có
thể mạnh, nhưng từ trong bản chất của chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể có công bằng
và dân chủ: nhà nước là nhà nước tư sản; giàu có là cho nhà tư bản; sự giàu mạnh có được
bằng quan hệ bóc lột. Trong xã hội như vậy, người dân không thể là chủ và làm chủ xã hội.
Xây dựng xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” là quá trình vô cùng khó khăn, gian khổ
và lâu dài trong hoàn cảnh và điều kiện Việt Nam - một nước còn nghèo, đang phát triển,
chưa có “nền đại công nghiệp” (điều kiện cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội như
C.Mác đã chỉ rõ), v.v.. Nhưng để trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng
nêu trên, không có cách nào khác là toàn Đảng, toàn dân ta phải nỗ lực sáng tạo, chiếm lĩnh
các đỉnh cao của xã hội. Và, Việt Nam đang từng bước đạt tới các mục tiêu cần có trong
hiện thực.
Đảng ta đã vạch ra phương hướng, chính sách cụ thể, có cơ sở lý luận - thực tiễn để thực
hiện trong hiện thực: “nước mạnh” gắn với “dân giàu”, “công bằng” và “văn minh”, bảo
đảm “dân chủ”; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức; phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc; hoàn thiện nhà nước pháp quyền với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; v.v.. 2 -
Xã hội “do nhân dân làm chủ”.
“Làm chủ” được coi là bản chất và quyền tự nhiên của con người, bởi xã hội là xã hội của
loài người, xã hội đó do con người tự xây dựng, tự quyết định sứ mệnh của mình; tuy nhiên
trong thực tiễn lại là chuyện khác. Lịch sử đấu tranh cho tiến bộ của nhân dân các dân tộc
trên thế giới chính là lịch sử đấu tranh giành và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Chỉ
đến chủ nghĩa xã hội, nhân dân mới thực sự có được quyền đó. Cho nên “nhân dân làm chủ
xã hội” là đặc trưng quan trọng và quyết định nhất trong những đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa. Đặc trưng này không thể tách rời những yêu cầu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Nói dân giàu, nước mạnh chính là thể hiện vai trò chủ thể của
nhân dân đối với nhà nước - dân là chủ. “Dân chủ” trong đặc trưng nêu trên chính là nền
dân chủ của xã hội - xã hội vận hành theo chế độ và nguyên tắc dân chủ. Và chính nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện xã hội “do nhân dân làm chủ”. Dân chủ xã hội chủ
nghĩa là bản chất của chế độ ta; với bản chất nêu trên, nó vừa là mục tiêu, lại vừa là động
lực của sự phát triển đất nước. Để có một xã hội do nhân dân thực sự làm chủ, chúng ta
phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để bảo đảm “tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải là “công bộc”
của nhân dân, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy
phục vụ nhân dân; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ.
lOMoARcPSD|36086670
3 - “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”.
Để có được một xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, điều tiên quyết là xã hội
đó phải có một nền kinh tế phát triển. Bởi vì kinh tế là lực lượng vật chất, nguồn sức mạnh
lOMoARcPSD|36086670
nội tại của cơ thể xã hội, nó quyết định sự vững vàng và phát triển của xã hội. Đến lượt
mình, nền kinh tế đó chỉ có thể phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại. Mác đã
khẳng định: chủ nghĩa xã hội chỉ thực hiện được bởi “một nền đại công nghiệp”. Nền đại
công nghiệp phát triển trên cơ sở khoa học - công nghệ, là hiện thân và là yếu tố tạo nên
lực lượng sản xuất hiện đại. Lực lượng sản xuất hiện đại quyết định việc nâng cao năng
suất của nền sản xuất - yếu tố quy định sự phát triển lên trình độ cao của phương thức sản
xuất mới. Trên cơ sở đó thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tiến bộ phù hợp để thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Với các nội dung và lô-gíc vận động như đã luận giải
trên, Đảng ta đã tập trung phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
mà trước mắt là hoàn thiện thể chế của nó; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức, nhằm xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại để có một
nền kinh tế phát triển cao - điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững xã hội xã hội chủ
nghĩa. 4 - “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Nếu như “nền kinh tế phát triển cao” là nội lực, là sức mạnh vật chất cho phát triển xã hội
thì văn hóa là nguồn lực tinh thần bên trong của phát triển xã hội. Văn hóa là tinh hoa con
người và dân tộc, tinh hoa xã hội và thời đại; bởi vậy, nó là sức mạnh con người và dân
tộc, sức mạnh xã hội và thời đại. Mỗi nền văn hóa phải kết tinh tinh hoa và sức mạnh thời
đại để tiến tới đỉnh cao thời đại, đồng thời phải chuyển hóa chúng thành các giá trị của dân
tộc, làm đậm đà thêm bản sắc riêng của mình. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, vì vậy, chính là mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời là động lực và sức
mạnh thúc đẩy xã hội đó phát triển. Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta
cần kế thừa và phát huy những giá trị, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc;
đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và văn hóa thời đại để phát triển văn hóa
Việt Nam thực sự là nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là nền
tảng tinh thần của xã hội, là động lực và sức mạnh cho xã hội phát triển. Hơn nữa, bản chất
xã hội xã hội chủ nghĩa là tiến bộ, khoa học và nhân văn. Cho nên, chủ nghĩa xã hội đồng
chất và cùng chiều với văn hóa; phấn đấu cho những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng
chính là phấn đấu cho những giá trị văn hóa - xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội văn hóa
cao. Những phẩm chất, những giá trị của xã hội xã hội chủ nghĩa là những phẩm chất và
giá trị phổ quát của xã hội tương lai. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa xã hội xã hội
chủ nghĩa là một xã hội đại đồng không tồn tại những bản sắc riêng biệt. Xã hội xã hội chủ
nghĩa là một vườn hoa muôn sắc các phẩm chất, các giá trị, ở đó bản sắc văn hóa các dân
tộc, cộng đồng người khác nhau phải được độc lập tồn tại, tôn vinh, phát huy, phát triển.
Chính vì vậy, Đảng ta chủ trương phát triển nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc
dân tộc; thống nhất trong đa dạng, làm phong phú diện mạo văn hóa Việt Nam.
5 - “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện”.
Nói đến cùng, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, quá trình phấn đấu đạt tới những giá trị của
xã hội xã hội chủ nghĩa đều là vì con người. Con người là thực thể cao nhất của giới tự
nhiên, nó là sản phẩm của thiên nhiên nhưng cao siêu và bí ẩn gấp ngàn lần thiên nhiên.
Bởi con người có trí tuệ và tình cảm, có khát vọng và khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao
hiểu biết để tạo cho mình một thế giới Người - thế giới Văn hóa. Cho nên lịch sử của loài
người là lịch sử con người đấu tranh xóa bỏ mọi lực cản thiên nhiên và xã hội để vươn tới
lOMoARcPSD|36086670
một xã hội cao đẹp nhất - xã hội đó chính là xã hội xã hội chủ nghĩa. Bản chất xã hội xã hội
chủ nghĩa, trình độ phát triển của xã hội chủ nghĩa, rõ ràng, là bản chất và trình độ phát 8
triển người, của con người. Xã hội xã hội chủ nghĩa phải đem lại ấm no cho con người như
là đòi hỏi tiên quyết. Nhưng bản tính con người là không bao giờ thỏa mãn với những gì đã
đạt được. Con người phải được tự do - tự do không chỉ bó hẹp trong nghĩa được giải phóng
khỏi áp bức bóc lột, nô dịch, kìm hãm về mặt xã hội. Điều quan trọng hơn là nó được thăng
hoa tiềm năng trí tuệ, tình cảm và năng lực vốn có để thực hiện những khát vọng cao đẹp
của mình. Sự phát triển toàn diện con người là ước mơ, khát vọng của con người tự do. Xã
hội xã hội chủ nghĩa chính là nơi: sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự
phát triển tự do của tất cả mọi người... như C.Mác đã nói. Đặc trưng người nhất của khát
vọng con người là hạnh phúc. Bởi có thể người ta giàu có, đầy đủ tiện nghi, được phát
triển, song vẫn bất hạnh. Hạnh phúc là trạng thái yên lành, hài hòa, là tinh thần thoải mái
biểu hiện sự mãn nguyện thanh cao nhất của con người. Phấn đấu đạt tới một xã hội bảo
đảm hạnh phúc cho con người, đó là một xã hội văn hóa cao.
6 - “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp đỡ nhau cùng phát triển”.
Nếu như các đặc trưng nêu trên (kinh tế, văn hóa, con người) là những yếu tố thuộc phẩm
chất bên trong tạo nên một chỉnh thể xã hội, thì ở đặc trưng này đòi hỏi những yếu tố thiết
yếu cho sự tồn tại bền vững của xã hội lành mạnh. “Bình đẳng” là một phẩm chất và giá trị
nhân quyền thể hiện trình độ phát triển và chất nhân văn cao của xã hội. Một đòi hỏi quan
trọng của xã hội chủ nghĩa là bảo đảm bình đẳng không chỉ cho cá nhân người công dân,
mà còn ở cấp độ cho tất cả các cộng đồng, các dân tộc trong một quốc gia. Ngay trong xã
hội hiện đại, ở các nước phát triển, thực hiện bình đẳng giữa các tộc người, các dân tộc
cũng đang là vấn đề nan giải. Mặt khác, “đoàn kết” là sức mạnh - đó là một chân lý. Các
nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - -nin, vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
đã kêu gọi: Những người lao động ở tất cả các nước trên thế giới đoàn kết lại (C.Mác); còn
trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát một chân lý: Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công. Đồng thời đây cũng là một giá trị đặc
trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. “Bình đẳng” và “đoàn kết” chính là nền tảng của sự “tôn
trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Tôn trọng và giúp nhau không chỉ là tình thương, lòng
nhân đạo, mà thực sự là đòi hỏi, yêu cầu, trách nhiệm và điều kiện thiết yếu cho sự phát
triển của từng cá nhân, cộng đồng, dân tộc; là một tiêu chuẩn quan trọng của xã hội phát
triển. Đoàn kết toàn dân, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc đã làm nên thành công
của cách mạng Việt Nam. Và giờ đây, tinh thần đó, phương châm đó đang là những nét đặc
sắc của giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
7 - “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.
Nhà nước pháp quyền là một hình thức quản lý nhà nước trên một trình độ cao và hiệu quả.
Nó điều hành hoạt động của các cơ quan nhà nước và xã hội bằng pháp luật. Nhưng vấn đề
ở đây là pháp luật nào? Pháp luật của ai và vì ai?
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và xã
hội bằng pháp luật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân; vì vậy, là nhà nước của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân.
lOMoARcPSD|36086670
Đây là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng là liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý
xã hội bằng hệ thống pháp luật đó và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
8
Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân
công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Tiếp tục hoàn
thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là đòi hỏi khách quan để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa hiện nay. Xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không thể nào
khác là dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đảng mang bản chất, lý tưởng, nội dung xã
hội chủ nghĩa, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
8 - “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”. Theo
nguyên lý phát triển xã hội, đặc biệt trong thế giới hiện đại, mỗi quốc gia là một bộ phận
hợp thành cộng đồng quốc tế. Sự phát triển quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có
được khi đẩy mạnh “quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Quan hệ hữu
nghị và hợp tác chính là thể hiện bản chất hòa hảo, thiện chí và tạo điều kiện cho các quốc
gia hội nhập, tiếp thu những thành quả phát triển của mỗi bên, tích lũy kinh nghiệm và rút
ngắn quá trình phát triển của mỗi nước. Điều có ý nghĩa lớn lao hơn là ở chỗ, “hữu nghị”,
“hợp tác”, “phát triển” chính là bản chất, là khát vọng hòa đồng theo bản chất trí tuệ và tình
cảm nhân văn cao cả có tính nhân loại của con người, của loài người; điều thể hiện bản chất
cao đẹp nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Qua đó chúng ta thấy quan điểm, đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam trước sau đều phù hợp với bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa nêu trên. Đây là một đặc
trưng nổi bật của nội dung và mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Và
chính nó là yếu tố, điều kiện để Việt Nam phát triển nhanh chóng trên con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội. Để thực hiện được đặc trưng nêu trên, Đảng ta vạch ra đường lối đối ngoại:
độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa giàu mạnh, văn minh.
* Với tinh thần và tư duy biện chứng về phát triển xã hội, Đảng ta quan niệm: Tiến lên
chủ nghĩa xã hội là một quá trình vận động, chuyển hóa liên tục, không ngừng phát
triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Các đặc trưng của xã hội
xã hội chủ nghĩa cũng luôn luôn vận động, chuyển hóa và phát triển. Mười, mười lăm,
hai mươi năm tới, các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa hiện nay chắc chắn sẽ có
những bổ sung mới đáp ứng đòi hỏi mới của phát triển xã hội. Điều đó đặt ra cho Đảng
ta trọng trách là phải không ngừng đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận
lOMoARcPSD|36086670
để vừa tiếp tục khám phá ra những vấn đề, những nội dung, những đặc trưng mới, vừa
sáng suốt lãnh đạo toàn dân ta xây dựng xã hội đạt tới các phẩm chất và các giá trị,
vươn tới các đặc trưng mới của xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai.
8
2.3 Đánh giá chung thực trạng việc xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay:
2.3.1 Những kết quả đạt đươc:
a. Vận dụng triệt để linh hoạt tưởng Hồ Chí Minh chủ nghĩa Mác
Lênin trong việc xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc. Nhà nước Việt Nam đang kng ngừng chú trng xây dựng và phát
huy bản sắc dân tộc:
Tư tưởng Hồ Chí minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện sâu sắc về những
vấn đềcơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của những năm bôn ba, lăn lộn trong hoạt
động thực tiễn, nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Từ đó, Hồ Chí Minh đã có những
sáng tạo lớn, đặc sắc về lý luận, hiện thực hóa, làm phong phú, giàu có Chủ nghĩa Mác
Lênin.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đang soi đường để chúng ta phát huy và xây dựng nền văn
hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Lịch sử cho thấy, sức mạnh nội sinh là văn hóa yêu nước, đó là sức mạnh trực tieeos,
góp phần giữ nước, giải phóng và thống nhất đất nước. Điều quan tâm hiện nay là phải
chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam, trong đó, nội hàm quan trong nhất là
ý thức bảo vệ Tổ quốc, tình yêu Tổ quốc , nawg lực bảo vệ Tổ quốc. Chungsta phải giữ
cho được bản sắc truyền thống, căn cước văn hóa Việt Nam để tự tin hội nhập quốc tế.
Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta càng thấy đường lối mở rộng quan hệ quốc tế
trên cơ sở độc lập tự chủ của Đảng ta nói chung và nói riêng trong xây dựng phát triển nền
văn hóa Việt Nam vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là hết sức đúng đắn
và sáng suốt.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương thứ 5 chỉ rõ: “phương hướng chung, đồng thời là
nhiệm vụ bao quát của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và
truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc, tiếp thụ những tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn
bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng
lOMoARcPSD|36086670
đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo nên trên
đất nước ta đời sống tinh thần cao đjep, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ
đặc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Nghị quyết Trung ương 5 “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc” vừa đáp ứng đúng những đòi hổi bức xúc của cuộc sống vừa là
định hướng chiến lược cơ bản cho sự nghiệp xây dựng, củng cố và không ngừng tăng
cường nền tảng tinh thần xã hội ta.
8
b. Lễ Hội Truyền Thống:
Quảng Tổ Chức: Các lễ hội truyền thống được tổ chức rộng rãi quảng
mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm từ cả nước và quốc tế. Đây hội để những giá trị
văn hóa truyền thống được thể hiện và truyền đạt.
Gia Tăng Ý Thức Cộng Đồng: Các lễ hội tạo hội để cộng đồng tham gia, trải
nghiệm, tự hào về di sản văn hóa của mình. Điều y giúp tăng cường ý thức sự
gắn kết trong cộng đồng.
c.Âm nhạc và nghệ thuật:
Bảo Tồn Phát Triển Nghệ Thuật Dân Gian: Chính phủ các tchức nghệ
thuật hỗ trợ bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian. Các sự kiện, triển lãm, và chương
trình nghệ thuật được tổ chức để thúc đẩy sự sáng tạo và truyền đạt giá trị văn hóa.
Giáo Dục và Đào Tạo: Các chương trình giáo dục và đào tạo về âm nhạc và nghệ
thuật truyền thống được phát triển để truyền đạt kỹ năng và kiến thức cho thế hệ trẻ.
d. Giáo dục và nghiên cứu:
Nghiên cứu và ghi chép: các tổ chức và trường đại học thực hiện nghiên cứu về văn
hóa dân tộc, ghi chép lại lịch sử và truyền thống để tạo nguồn tài liệu quan trọng.
Giáo dục đa dạng văn hóa: Các chương trình giáo dục được thiết kế để giới thiệu
và giáo dục về sự đa dạng văn hóa của Việt Nam, từ những buổi giảng đến việc tích hợp
nội dung văn hóa vào chương trình học.
Những nổ lực này không chỉ giúp bảo tồn mà còn thúc đẩy sự phát triển và tái tạo
văn hóa dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
lOMoARcPSD|36086670
e.Giáo dục và truyên truyền:
Chính phủ các tổ chức hội thường xuyên tổ chức các chương trình giáo dục
tuyên truyền nhằm giúp người dân hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa truyền
thống dân tộc.
8
Chương trình giáo dục:
Nâng cao hiểu biết lịch sử: Các chương trình giáo dục tập trung vào việc giảng
dạy lịch sử quốc gia, với sự chú trọng đặc biệt vào những sự kiện quan trọng trong lịch
sử dân tộc.
Giáo dục đa dạng văn hóa: Chương trình giáo dục được thiết kế để giới thiệu
giáo dục về đa dạng văn hóa của Việt Nam, tngôn ngữ, trang phục truyền thống đến
các phong tục tập quán.
Chương trình tuyên truyền:
Quảng làn song cộng đồng: Các chiến dịch tuyên truyền được tổ chức trên
nhiều phương tiện truyền thông để đảm bảo tiếp cận rộng rãi, từ truyền hình đến các
kênh truyền thông xã hội.
Tổ Chức Sự Kiện và Hội Nghị: Các sự kiện và hội nghị được tổ chức để chia sẻ
thông tin và tạo cơ hội cho cộng đồng thảo luận và tương tác về văn hóa dân tộc.
Tuyên Truyền Trong Cộng Đồng: Các tổ chức thường xuyên tuyên truyền trực
tiếp trong cộng đồng, tận dụng các nguồn lực cộng đồng để truyền đạt thông điệp một
cách hiệu quả.
f.Tài trợ và hỗ trợ cnh sách:
Hỗ trợ tài chính: Chính phủ cung cấp tài trợ để hỗ trợ các chương trình giáo dục và tuyên
truyền, đặc biệt là những dự án có ảnh hưởng sâu rộng đến cộng đồng.
lOMoARcPSD|36086670
Chính Sách Khuyến Khích Tham Gia: Các chính sách được thiết kế để khuyến
khích cộng đồng và cá nhân tham gia vào các hoạt động giáo dục và tuyên truyền về
văn hóa dân tộc.
Phát triển nền kinh tế hội: Việt Nam đang phát triển nhanh chóng về mặt
kinh tế hội, điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi để người dân thêm thời gian
và tài nguyên để duy trì và phát triển văn hóa.
8
2.3.2 Phần hạn chế:
a. Gặp nhiều kkhan thách thức trong giai đoạn hiện đại đổi mới:
Ảnh hưởng từ văn hóa đa dạng: Đối với thách thức từ sự đa dạng văn hóa do
quá trình toàn cầu hóa, có nguy cơ mất mát một số giá trị truyền thống.
Thách thức tcông nghệ truyền thông: Sự phổ biến của công nghệ
truyền thông có thể tạo ra thách thức trong việc duy trì giữa truyền thống và hiện
đại.
Phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn
hóa dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu
hóa, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, internet, mạng xã
hội. Biên cương văn hóa tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm
lấn của các nền tảng xuyên biên giới.
b. Đạo đức một số cán bộ, người dân trở nên suy thoái:
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, điều kiện sinh hoạt vật chất
của cán bộ và nhân dân ta còn rất khó khăn và thiếu thốn, nhưng các quan hệ xã hội đều
thấm đẫm tình người. Hình ảnh "bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" mà nhà thơ Tố Hữu
đã viết trong bài thơ "Việt Bắc", quả đã phản ánh đúng lối sống của người Việt Nam ta
một thời gian khó. Việc nhân dân tự động phá nhà mình để làm đường cho xe chở pháo
ra mặt trận, cũng là chuyện phổ biến trong những năm tháng chiến tranh.
Ngày nay, tình hình đã khác trước. Sau mấy chục năm tiến hành đổi mới, nhằm
phát triển kinh tế - xã hội, từ một nước chậm phát triển, nước ta đã trở thành nước
đang phát triển và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng. Sự tăng trưởng kinh tế
như vậy, lẽ ra phải tạo điều kiện để duy trì và phát triển những giá trị tinh thần tốt đẹp
mà dân tộc và cách mạng đã sáng tạo ra. Nhưng, cuộc sống lại không diễn ra như
lOMoARcPSD|36086670
mong muốn của chúng ta. Bên cạnh một số đông nhân dân, cán bộ, đảng viên, vẫn cố
gắng bảo vệ, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, thì đã xuất hiện một bộ
phận không ít người quay lưng lại với các giá trị đó, thậm chí trở thành những nạn
nhân thảm hại của chủ nghĩa cá nhân.
c. Nguy cơ mai mt truyền hống văn hóa bản sắc dân tộc:
“Văn hóa còn thì dân tộc còn” là khẳng định hết sức đúng đắn về vị trí và vai trò của
văn hóa trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời là một trong những yếu
tố mà từ khi ra đời, tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn luôn
cùng toàn dân nỗ lực bảo đảm, phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã và đang xuất
hiện một
8
số hiện tượng có thể đẩy tới nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi cần được
kịp thời chấn chỉnh. Điển hình là bộ phận lớp trẻ hiện nay có tâm lý sống buông thả, quay
lưng lại với văn hóa, giá trị đạo đức truyền thống. Cùng với sự phát triển của các phương
tiện thông tin đại chúng, trên các mạng thông tin toàn cầu liên tục tuyên truyền các hình
ảnh, tin tức, ấn phẩm độc hại, không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc.
8
lOMoARcPSD| 36086670
2.2 Giải pháp khắc phục hạn chế:
Phủ định các yếu tố tiêu cực trong văn hóa hiện tại: Đối mặt phủ định các
yếu tố tiêu cực, như những đặc điểm hạn chế hay đặc tính lạc hậu trong văn hóa hiện tại.
Điều y thể bao gồm việc đối mặt với những hạn chế trong giáo dục, tự do ngôn
luận, hay các giáo lý cũ kỹ.
Tạo ra những đổi mới và tiến triển: Khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong
các lĩnh vực như nghệ thuật, giáo dục, và khoa học. Sự phủ định của phủ định có thể làm
nảy sinh ra những ý tưởng mới và tiến triển tích cực.
Thúc Đẩy Sự Hiểu Biết Tôn Trọng Đa Dạng Văn Hóa: Tạo ra môi trường
thúc đẩy sự hiểu biết tôn trọng đa dạng văn hóa, từ văn hóa dân gian đến n hóa
đương đại. Điều y giúp phủ định những đặc tính hạn chế của sự đơn điệu hay giữ
nguyên.
Tăng Cường Vai Trò Của Giáo Dục:Tăng cường giáo dục để phát triển ý thức
văn hóa và tình yêu quê hương. Giáo dục có thể giúp vượt qua những đặc điểm tiêu cực
và tạo ra thế hệ trí thức và sáng tạo.
Khuyến Khích Sự Hợp Tác và Giao Lưu: Khuyến khích sự hợp tác và giao lưu
giữa các tầng lớp xã hội, giữa các thế hệ, và giữa các dân tộc. Sự giao lưu giúp phủ định
những tư duy hẹp hòi và mở ra tầm nhìn mới.
Kết Hợp Giữa Truyền Thống và Hiện Đại: Phát triển mô hình tích hợp giữa giáo
dục văn hóa truyền thống và giáo dục hiện đại để tạo nền tảng cho một thế hệ đối thoại.
Tăng Cường Nghiên Cứu và Sáng Tạo: Hỗ trợ nghiên cứu và sáng tạo văn hóa để
duy trì và phát triển giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng.
Tổ Chức Sự Kiện Văn Hóa Đa Dạng: Tổ chức các sự kiện và hoạt động văn hóa
nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng giữa các cộng đồng văn hóa khác nhau.
Giáo Dục Ý Thức Xã Hội: Tăng cường giáo dục ý thức xã hội để thúc đẩy tinh thần
đoàn kết và sự hiểu biết giữa các tầng lớp xã hội.
8
lOMoARcPSD| 36086670
Hợp Tác Quốc Tế Trong Bảo Tồn Văn Hóa: Hợp tác với cộng đồng quốc tế để
chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm giải pháp chung trong việc bảo tồn và phát huy giá trị
văn hóa.
Kết Luận
8
lOMoARcPSD| 36086670
K ĀT LUẬN
Quy luật phủ định của phủ định một trong ba quy luật của phép biện chứng
duy vật, cung cấp cái nhìn ràng, thuyết phục về quá trình vận động phát triển
của svật, hiện tượng. Phủ định là sthay thế hình thái tồn tại này bằng hình thái
tồn tại khác. Phủ định biện chứng sự phủ định tự nhiên, kế thừa tạo ra
những điều kiện cho sự phát triển của sự vật. Phủ định của phủ định là chuỗi các
phủ định biện chứng, tạo nên quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chu kỳ của các quá trình phát triển hình xoáy ốc. Sự vật trải qua hai lần
phủ định bản với ba hình thái tồn tại để đi lên một hình thái mới cao cấp hơn
nhưng vẫn duy trì được những đặc điểm tích cực và loại bỏ những đặc điểm tiêu
cực của hình thái cũ. Phát triển theo đường xoắn ốc thể hiện tính chất biện chứng
của sự phát triển. Đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên theo đường xoắn
ốc.
Quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng không đường thẳng, không phải
đường tròn mà là đường xoắn ốc. Trong quá trình phát triển, có nhiều giai đoạn
khác nhau, trong đó có cả giai đoạn thụt lùi. Nhưng cuối cùng sự vật, hiện tượng
vẫn sẽ tiến lên. Vậy nên cần niềm tin vào sự phát triển tiến lên của sự vật.
Trong quá trình phát triển, không thể phủ định toàn bộ những thuộc về cái
mà cần chọn lọc để giữ lại cái tích cực, bỏ đi cái tiêu cực.
Quy luật phủ định của phủ định thể ứng dụng rất nhiều vào hoạt động
trong đời sống. Bài viết đề cập đến việc sử dụng quy luật phủ định của phủ định
vào việc vận dụng nguyên này vào chủ trương xây dựng văn hóa Việt Nam tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Với việc áp dụng quan điểm Triết học Mác Lênin
vào định hướng trong công việc xây dựng, phát triển đất nước, Việt Nam vẫn đang
đi đúng hướng trong công cuộc đổi mới. Phủ định biện chứng đã đưa ra được xu
hướng phát triển đúng đắn của văn hóa Việt Nam, làm dồi dào thêm nền văn hóa
dân tộc, đồng thời vẫn giữ lại được những di sản trước đó. Dù quy
lOMoARcPSD|36086670
luật đã ra đời gần 2 thế ktrước, nhưng đến nay vẫn giữ nguyên được giá trị đúng đắn
, bền vững của mình.
Như vậy, trong thời đại ngày nay, hội nhập đang trở thành một xu thế khách
quan. Dân tộc Việt Nam, hay bất cứ một dân tộc nào khác không thể nằm ngoài
quĩ đạo đó. Hội nhập là con đường tất yếu, là lẽ sống còn của cả dân tộc. Vấn đề
đặt ra chúng ta hội nhập như thế nào. ràng, chúng ta với thế chủ động, hội
nhập trên sở tự khẳng định mình, nổ lực để vượt lên chính mình, nghĩa là, thông
qua quá trình hội nhập, chúng ta thể nhận thức đầy đủ hơn, ý thức hơn trong
việc bảo tồn, phát huy bản sắc của dân tộc mình. Đồng thời trong quá trình đó,
chúng ta sẽ thấy được những hạn chế của những truyền thống có khả năng cản trở
sự tiến bộ để tìm cách khắc phục. Một khi đã nhận thức được như vậy, chắc chắn
chúng ta sẽ kết hợp hài hoà các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, trên
sở bảo tồn bản sắc dân tc, giữ lấy những gì là tinh hoa, loại bỏ dần các yếu tố lỗi
thời, tăng cường giao lưu, học hỏi với bên ngoài thì sẽ vượt qua được những thử
thách, sẽ khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống. Với tinh thần
bản lĩnh của người Việt Nam, chúng ta sẽ “phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ định hướng hội chủ nghĩa”,
kết hợp sức mạnh dân tộc với những ưu thế của thời đại để phát triển đất nước và
từng bước khẳng định vị thế bản lĩnh của dân tộc mình trước cộng đồng.
8
lOMoARcPSD|36086670
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ GD&ĐT, Giáo trình "Những nguyên bản của chủ nghĩa Mac- Lênin",
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.
[2]. Hồ Sỹ Quý, Vấn đề lớn nhất của văn hóa Việt Nam hiện nay: Giả dối được
coi bình thường. Đường dẫn: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn
/2017/12/29/van-de-lon-nhat-cua-van-ha-viet-nam-hien-nay-gia-doi-duoc-
coil-bnh-thuong/
[3]. Khánh Minh, Ứng xử đúng đắn với các di sản. Đường dẫn: https://nhandan
.com.vn/binh-luan-phe-phan/ung-xu-dung-dan-voi-cac-di-san280379
[4]. Lịch Quyên Ánh & Thanh Phương, Nhiều người trẻ quá thụ động. Đường dẫn:
https://thanhnien.vn/giao-duc/nhieu-nguoi-tre-qua-thu-dong-584422.html
[5]. Nguyễn Công Sơn, Giải pháp khắc phục tác động tiêu cực của văn hoá
phương Tây đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Đường dẫn:
http://hvlq.vn/tintuc/tin-trong-nuoc/giai-phap-khac-phuc-tac-dong-tieu-cuc-
cuavan-hoa-phuong-tay.html
[6]. Phạm Lan Oanh & Nguyễn Hoàng, Hướng dẫn quản lý, tổ chức lễ hội truyền
thống ở cơ sở, NXB CTQG - ST, Hà Nội, 2015.
[7]. PGS.TS Phạm Văn Linh, Xây dựng phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đường dẫn: http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---
traodoi/xay dung-va-phat-trien-nen-van-hoa-viet-nam-tien-tien-dam-da-ban-sac-
dan -toc.html
lOMoARcPSD|36086670
[8]. PGS, TS Nguyễn Viết Thông, Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi
mới. Đường dẫn: https://nhandan.com.vn/chinh-tri-hangthang/day-manhtoandien-
dong-bo-cong- cuoc-doi-moi-606015/
8
[9]. Thiện Văn & Hà Hoàng, Phòng, chống sự tha hóa con người và những lệch
chuẩn văn hóa. Đường dẫn: http://www.xaydungdang.org.vn/Home/giai_bua_ liem
vang/2020/13604/Phong-chong-su-tha-hoa-con-nguoi-va-nhung-lech-
chuanvan.aspx
[10]. Thành Nam, Đừng làm xấu hình ảnh đất nước con người Việt Nam. Đường
dẫn: https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/dung-lam-xau-hinhanhdat-
nuoc-va-con- nguoi-viet-nam-259435
[11]. liệun kiện Đại hội Đảng. Đường dẫn: https://tulieuvankien.dangcongsan.
vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang
[12]. V.I.Lênin: "Toàn tập", Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1981.
[13]. Wikipedia. (2016). Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đường dẫn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Đại_hội_Đại_biểu_toàn_quốc_Đảng
_Cộng_sản_Việt_ Nam
8

Preview text:

LỜI CẢM ƠN
Việc hoàn thành một bài tiểu luận có thể được coi là một chặng đường
nghiên cứu khoa học nhỏ, và đối với sinh viên như chúng em, nó là một thách
thức không về dễ dàng. Chún gem muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến
ThS. Trần Thị Phương, người đã chia sẻ những tri thức và đam mê của mình
để truyền đạt kiến thức quý báu cho chúng em. Cô đã không ngừng hỗ trợ và
tận tình hướng dẫn chúng em trong quá trình viết tiểu luận. tạo ra nền tảng và
kiến thức cần thiết để chúng em có thể nắm bắt, phân tích và giải quyết vấn đề.
Thành công luôn đi kèm với nỗ lực, và chùng em đã trải qua nhiều tuân
nghiên cứu với đề tài “Quy luật phủ định của phủ định và vận dụng quy luật
vào việc tìm hiểu chủ trương, đường lối của đảng về xây dựng, phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc”. Không thiếu những khó
khan và thách thức, những nhờ sự hỗ rợ của cô, chúng em đã vượt qua mọi
khó khăn. Mặc dù chúng em đã cố gắng vận dụng những iến thức đã học được
trong học kỳ qua để hoàn thành tiểu luận này, những với sự thiếu inh nghiệm
và hạn chế kiến thức, chắc chắn sẽ có những thiếu sót không tránh khỏi. Chún
gem mong được nhận xét, ý kiến đóng góp và phê bình từ cô để bài tiểu luận trên hoàn thiện hơn.
Chúng em cũng xin cảm ơn bạn bè, anh chị người đã tận tình hướng dẫn
chỉ bảo chúng em trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận, tạo điều kiện cho
chúng em hiểu thêm về những kiến thức thực tế.
Một lần nữa, nhóm chúng em xin cảm ơn Cô vì đã giảng dạy và trang bị
kiến thức cần thiết để phục vụ cho môn học cũng như làm hành trang cho cuộc
sống của chúng em sau này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC MỞ
ĐẦU...................................................................................................................1 CHƯƠNG 1: QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ
ĐỊNH...................................2
1.1 Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng......................................................2
1.2 Các đặc trưng cơ bản của phủ định biện
chứng...............................................3
1.3 Nội dung quy luật của phủ định biện
chứng....................................................4
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng của phủ
định.......................5 CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO
VIỆC TÌM HIỂU CHỦ
TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG, PHĀT TRIỂN
NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TI 쨃 ĀN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC.............6
2.1 Chủ trương xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt
Nam.........................................................................................7
2.2 Đặc trưng của nền văn hóa XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.....9
2.3 Đánh giá chung thực trạng việc xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay.......................................................10
2.3.1 Những kết quả đạt được.......................................................................10
2.3.2 Phần hạn chế.........................................................................................14
2.4 Giải pháp khắc phục hạn chế.......................................................................17 K 쨃 ĀT
LUẬN............................................................................................................22 TÀI LIỆU THAM
KHẢO.....................................................................................24 lOMoARcPSD| 36086670 MỞ ĐẦU
Trên chặng đường phát triển văn hóa, Đảng và nhà nước Việt Nam đã đặt ra những
văn kiện quan trọng, từ “Đề cương văn hóa năm 1943” đầu tiên, nhằm tích lũy kinh
nghiệm và lý luận, để góp phần định hình tư duy văn hóa của thời kỳ. Với sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng đông thời kết hợp chiến lược đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế,
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam.
Thành tựu nổi bật như nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hệ thống dân
chủ XHCN với nhà nước pháp quyền đã được xây dựng và phát triển bền vững. Trong
bối cảnh hội nhập kinh tế và văn hóa, sự cân nhắc đúng đắn giữa hai yếu tố này trờ thành
quyết định quan trọng. Coi trọng hội nhập kinh tế là bước quan trọng nhằm thoát nghèo
và đồng thời, giữ sự hội nhập văn hóa cũng là mối quan tâm hang đầu để không bị mất
đi bản sắc văn hóa dân tộc
Điều quan trọng nhất là phát triển văn hóa không chỉ là trách nhiệm của ngành văn
hóa mà còn là trách nhiệm của cả đảng, toàn dân và xã hội. Văn hóa được coi là cốt lỗi,
là hồn của dân tộc, và sự giữ gìn bản sắc văn hóa là bảo vệ cho tồn tại của dân tộc. Điều
này đặt ra yêu cầu cần có chiến lược phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế,
nhưng vẫn giữu được đặc trưng riêng biệt, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tóm lại, để tìm hiểu và làm rõ vấn đề trên nhóm chúng em quan tâm và chọn đề
tài: “Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào tìm hiểu chủ
trương, đường lối của đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc” để làm đề tài cho tiểu luận này. Cuốn tiểu luận này tập trung vào
phân tích phép phủ định biện chứng và ứng dụng thực tiễn của nó trong vấn đề xây dựng
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
CHƯƠNG 1 QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
1.1 Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng: lOMoARcPSD| 36086670
Trong quá trình phát triển của triết học từ xưa đến này, các nhà triết học và
các trường phái triết học đã trình bày các quan niệm đa dạng về sự phủ định, tùy
thuộc vào thế giơi quan và phương pháp của mỗi trường phái. Một trong những
quan niệm nổi bật là quy luật phủ định của phủ định theo chủ nghĩa Mác – Lênin.
Chủ nghĩa Má – Lênin cho rằng trong thế giơi này, mọi sự vật và hiện tượng đều
trải qua quá trình tồn tại, phát triển và mất đi, được thay thế bằng sự vật và hiện
tượng khác. Quy luật này bắt nguồn từ sự thay đổi không ngừng và liên tục của
sự vật, được triết học gọi là “sự phủ định của phủ định”.
Ví dụ: Vòng đời của con tằm bao gồm: Trứng – tằm – nhộng – ngài – trứng.
Sự xuất hiện của “tằm” đã xóa bỏ sự tồn tại của “trứng” nên tằm là phủ định của
trứng.”Nhộng” sinh sôi, tằm không còn là tằm nên “nhộng” là sự phủ định của
“tằm”. “Ngài” phát triển từ “nhộng”, xóa bỏ sự tồn tại của “nhộng” nên “tằm”
là phủ ddingj của “nhộng”. Cuối cùng, trứng mới ra đời từ ngài, bắt dầu một quá
trình mới. Trứng chính là sự phủ định của “ngài”.
Quan điểm biện chứng cho rằng phủ định là khâu cơ bản của bất kỳ sự phát
triển nào. Đó là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trên cơ sở mất đi của cái cũ
và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, là quá trình giải quyết những mẫu thuẫn bên trong
của bản than sự vật bị phủ định.
Ví dụ:Một ví dụ thực tế về phủ định biện chứng có thể được hiểu thông qua
quá trình xã hội tự chế độ phông kiến đến xã hội chủ nghũa. Sự phủ định này xảy
rra khi lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất phong kiến không còn đáp ứng
được sự phát triển của xã hội.
1.2 Các đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng:
Phủ định biện chứng có hai đặc điểm cơ bản là tính khách quan tính kế
thừa. Ngoài ra còn có tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
Thứ nhất, tính khách quan của phủ định biện chứng bắt nguồn từ sự phủ định
nằm ngay bên trong bản than của sự vật và hiện tượng. Đó là kết quả của quá trình
giải quyết mâu thuẫn tất yếu, bên trong của bản thân nó, tạo ra khả năng cái mới lOMoARcPSD| 36086670
thay thế cái cũ (lượng đổi dẫn dến chất đổi, cái mới ra đời thay thế cái cũ). Phủ
định biện chứng tạo điều kiện, làm tiền đề cho sự phát triển. Vì vậy, phủ định biện
chứng là sự tự than phủ định.
Ví dụ: Hạt giống khi ta đem gieo xuống đất và có đủ điều kiện về nước, đất,
ánh sáng, độ ẩm, không khí,… tất yếu sẽ nảy mầm thành cây con, do sự tác động
chính của các yếu tố bên trong chính hát giống(đó là lá mầm, than mầm, chồi
mầm,…), đó là cái vốn có của hạt giống đó, làm cho hạ giống đó nảy mầm thành
cây con. Khi đó, cây con sẽ là cái phủ định của hạt giống.
Thứ hai, tính kế thùa của phủ định biện chứng được thể hiện thông qua việc
phủ định biện chứng là kết quả của sư phát triển tự than của sự vật, cho việc nó
không có sự phá hủy hoàn toàn cái cũ. Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái
cũ, là sự phát triển tiêp tục của cái cũ trên cơ sở bỏ đi những mặt tiêu cực, thừa
thãi, lỗi thời, lạc hậu của cái cũ và chọn lọc, giữ lại, cải tạo những mặt còn thích
hợp, tích cực, bổ sung những mặt mới phù hợp với hiện thực.
Ví dụ:Ban đầu, các điện thoại di động xuất hiện với tính năng cơ bản, giới
hạn trọng việc thực hiện cuộc gọi và nhắn tin. Tuy nhiên, với sự phát triển của
công nghệ, xuất hiện sự phản đối và mâu thuẫn bởi người tiêu dung, điện thoại di
động đã phát triển thành điện thoại thông minh nhiều tính năng tiên tiến hơn.
Với đặc điểm như vậy, phủ định biện chứng không chỉ là nhân tố khắc phục
cái cũ, mà còn gắn liền cái cũ với cái mới, cái khẳng định với cái phủ định. Vì vậy,
phủ định biện chứng trở thành mắt xích, khuynh hướng tất yếu của sự liên hệ và
sự phát triển. 1.3 Nội dung quy luật phủ định của phủ định:
Quy luật phủ ddingj của phủ định thể hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuân
trong bản than sư vật quyết định. Mỗi lần phủ định là sự đấu tranh và chuyển đổi giữa các
mặt đối lập trong bản thân sự vật - giữa mặt khẳng định và mặt phủ định. Sự phủ định lần
thứ nhất diễn ra khiến cho sự vật cũ biến thành cái đối lập với sự khẳng định mới.Sự phủ
định lần thứ hai, sự vật mới với tư cách là sự phủ định của phủ định đối lập với sự phủ định
quay trở lại chỗ cũ nhưng không còn nguyên vẹn như sự vật cũ mà trên nền tảng cao hơn, toàn diện hơn.
Phủ định của phủ định là sự thống nhất biện chứng giữa khẳng định và phủ định, là
kết quả của sự tổng hợp giữa khẳng định ban đầu và phủ định ban đầu cũng như tất cả các
yếu tố tích cực trong giai đoạn phủ định. Sự tổng hợp này là sự chắt lọc các giai đoạn đã lOMoARcPSD| 36086670
qua nên nội dung phong phú và toàn diện hơn. Kết quả của sự phủ định của phủ định là sự
kết thúc của một chu kỳ phát triển và là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo. Mọi
chuyện tiếp tục phát triển một cách biện chứng. Cứ như thế, những điều mới lại càng trở
nên mới hơn. Theo triết học Mác - Lênin, quy luật phủ định của phủ định là quy luật phổ
quát của sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư tưởng.
Trong chuỗi những phủ định tạo nên quá trình phát triển của sự vật, mỗi phủ định biện
chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự phát triển hơn nữa của sự vật tiếp theo
của nó. Sau sự phủ định tiếp theo, nhưng thiết lập lại bản gốc mới, cao hơn, nó thể hiện rõ
sự tiến bộ của sự việc. Những lần phủ định tiếp theo đó được gọi là sự phủ định của phủ
định. Phủ định của phủ định xuất hiện cái mới như là một sự tổng hợp và kế thừa những
yếu tố tích cực của cái cũ, và những điểm tích cực ấy sẽ tiếp tục được duy trì và phát triển
trong những lần phủ định tiếp theo.Vì thế, mới là kết quả phủ định của phủ định có nội
dung toàn diện và tiến bộ hơn những lời khẳng định ban đầu và cái phủ định sau đó. Do đó,
sự phát triển diễn ra thông qua sự phủ định biện chứng Sẽ tạo ra một xu hướng tăng bền
vững - nhưng không phải là một đường thẳng hình chiếc nhẫn. Nhận xét về con đường này,
V.I. Lênin viết:“Sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một
hình thức khác, ở một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể nói
là theo đường tròn ốc chứ không theo đường thẳng...”
Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng phát triển tất yếu của sự vật - xu hướng
phát triển. Nhưng sự phát triển này không phải diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường “xoắn ốc”.
Sự phát triển theo đường "xoáy ốc" là sự biểu thị rõ ràng, đầy đủ các đặc trưng của
quá trình phát triển biện chứng của sự vật: tính kế thừa, tính lặp lại, tính phát triển lên. Mỗi
vòng của đường "xoáy ốc" luôn thể hiện sự lặp lại, nhưng cao hơn, thể hiện trình độ cao
hơn của sự phát triển. Tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao được thể hiện ở sự nối
tiếp nhau từ dưới lên của các vòng trong đường "xoáy ốc".
Tóm lại, quy luật phủ định của phủ định phản ánh mối quan hệ, sự kế thừa ở khâu
trung gian giữa cái bị phủ định và sự phủ định; vì có kế thừa cho nên phủ định biện chứng
không phải là sự phủ định sạch trơn mà là tiền đề cho sự phát triển của sự vật.Phủ định
biện chứng là điều kiện cho sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa những
nội dung tích cực từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nên tính chu kì của sự phát triển.
Ví dụ về quy luật phủ định của phủ định: -
Một quả trứng là sự khẳng định ban đầu (trong điều kiện được ấp). Phủ định lần 1
tạo ragà mái con. Sau đó phủ định lần 2 (gà mái con lớn lên)sinh ra nhiều quả trứng. -
Một hạt thóc là sự khẳng định ban đầu (được gieo trồng). Phủ định lần 1 tạo ra cây
lúa.Sau đó phủ định lần 2 là cây lúa sinh ra nhiều hạt thóc. -
Ở cả hai câu trên, chúng ta thấy có một chu kỳ phát triển: Từ một quả trứng ban
đầu đếnnhiều quả trứng mới. Từ một hạt thóc ban đầu đến nhiều hạt thóc mơi. Từ một
đến nhiều tức là đã có sự phát triển lên nấc thang cao hơn. 1.4 Ý nghĩa phương pháp
luận của phép biện chứng về phủ định: lOMoARcPSD| 36086670
Quy luật phủ ddingj của phủ định đã chỉ rõ sự phát triển là khuynh hướng chung, là
tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Tuy nhiên, quá trình phát triển
không diễn ra theo đường thẳng nhưng quanh co phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định,
nhiều khâu trung gian. Điều đó giúp chúng ta tránh được cách nhìn phiến diện, giản đơn
trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội, và do vậy
cần phải kiên trì đổi mới, khắc phục khuynh hướng bi quan, chán nản, dao động trước
những khó khăn của sự phát triển.
Phải có cái nhìn biện chứng trong khi phê phán cái cũ, cần phải biết sàng lọc, kế
thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ, tránh thái độ "hư vô chủ nghĩa", "phủ định sạch trơn".
Vì vậy, một quan niệm chân chính về sự phát triển phải là một thái độ ủng hộ cái mới, đấu
tranh cho cái mới, chống lại cái cũ, cái lỗi thời kìm hãm sự phát triển. Trong cuộc sống
hằng ngày, chúng ta cần ủng hộ lối sống mới, đạo đức mới cũng như những lý thuyết khoa học mới. CHƯƠNG 2
VẬN DỤNG QUY LUẬT VÀO VIỆC TÌM HIỂU CHỦ TRƯƠNG,
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG ĐỂ XÂY DỰNG, PHĀT TRIỂN NỀN VĂN
HÓA VIỆT NAM TIÊN TI 쨃 ĀN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
2.1 Chủ trương xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam:
Để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà, đậm đà bản sắc dân tộc, làm
cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định các
chủ trương, biện pháp sau:
Một là, củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa
dạng. Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu,
thiết thực hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan,
đơn vị, doanh nghiệp, làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống. Tiếp tục
đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn
minh trong việc cưới, tang, lễ hội. Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt
Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người
Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Xã hội hóa các hoạt động văn hóa, chú trọng
nâng cao đời sống văn hóa ở nông thôn, vùng khó khăn, thu hẹp khoảng cách hưởng thụ
văn hóa giữa các vùng, các nhóm xã hội, giữa đô thị và nông thôn...
Hai là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản
văn hóa truyền thống, cách mạng. Tiếp tục phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh lOMoARcPSD| 36086670
chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Khuyến khích
tìm tòi, thể nghiệm những phương thức thể hiện và phong cách nghệ thuật mới, đáp ứng
nhu cầu tinh thần lành mạnh, đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công
chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, khắc phục yếu kém, nâng
cao tính khoa học, sức thuyết phục của hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật.
Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn
hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật...
Ba là, phát triển hệ thống thông tin đại chúng. Chú trọng nâng cao tính tư tưởng,
phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện
thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước; khắc phục xu hướng thương mại
hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản. Tập trung đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị, tư tưởng,
nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt, yêu cầu của thời kỳ mới. Phát triển và mở rộng việc
sử dụng internet, đồng thời có biện pháp quản lý, hạn chế mặt tiêu cực,...
Bốn là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa; đổi mới, tăng
cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước con người Việt
Nam với thế giới; mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin đối thoại,
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, báo chí, xuất hiện. Tiếp thu những kinh nghiệm tốt
về phát triển văn hóa của các nước; giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật đặc sắc của
nước ngoài với công chúng Việt Nam; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế về bảo đảm quyền
sở hữu trí tuệ, quyền tác giả. lOMoARcPSD| 36086670
2.2 Đặc trưng của nền văn hóa XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: 1 -
Giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là những giá trị xã hội tốt đẹp nhất, ước mơ
ngàn đời của loài người, cho nên cũng là mục tiêu phấn đấu của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy,
đây là đặc trưng phổ quát, có tính bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự khác
nhau căn bản, sự tiến bộ hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội
trước đó. Xã hội tư bản có đời sống vật chất và tiện nghi rất cao; dân có thể giàu, nước có
thể mạnh, nhưng từ trong bản chất của chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể có công bằng
và dân chủ: nhà nước là nhà nước tư sản; giàu có là cho nhà tư bản; sự giàu mạnh có được
bằng quan hệ bóc lột. Trong xã hội như vậy, người dân không thể là chủ và làm chủ xã hội.
Xây dựng xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” là quá trình vô cùng khó khăn, gian khổ
và lâu dài trong hoàn cảnh và điều kiện Việt Nam - một nước còn nghèo, đang phát triển,
chưa có “nền đại công nghiệp” (điều kiện cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội như
C.Mác đã chỉ rõ), v.v.. Nhưng để trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng
nêu trên, không có cách nào khác là toàn Đảng, toàn dân ta phải nỗ lực sáng tạo, chiếm lĩnh
các đỉnh cao của xã hội. Và, Việt Nam đang từng bước đạt tới các mục tiêu cần có trong hiện thực.
Đảng ta đã vạch ra phương hướng, chính sách cụ thể, có cơ sở lý luận - thực tiễn để thực
hiện trong hiện thực: “nước mạnh” gắn với “dân giàu”, “công bằng” và “văn minh”, bảo
đảm “dân chủ”; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức; phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc; hoàn thiện nhà nước pháp quyền với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; v.v.. 2 -
Xã hội “do nhân dân làm chủ”.
“Làm chủ” được coi là bản chất và quyền tự nhiên của con người, bởi xã hội là xã hội của
loài người, xã hội đó do con người tự xây dựng, tự quyết định sứ mệnh của mình; tuy nhiên
trong thực tiễn lại là chuyện khác. Lịch sử đấu tranh cho tiến bộ của nhân dân các dân tộc
trên thế giới chính là lịch sử đấu tranh giành và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Chỉ
đến chủ nghĩa xã hội, nhân dân mới thực sự có được quyền đó. Cho nên “nhân dân làm chủ
xã hội” là đặc trưng quan trọng và quyết định nhất trong những đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa. Đặc trưng này không thể tách rời những yêu cầu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”. Nói dân giàu, nước mạnh chính là thể hiện vai trò chủ thể của
nhân dân đối với nhà nước - dân là chủ. “Dân chủ” trong đặc trưng nêu trên chính là nền
dân chủ của xã hội - xã hội vận hành theo chế độ và nguyên tắc dân chủ. Và chính nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện xã hội “do nhân dân làm chủ”. Dân chủ xã hội chủ
nghĩa là bản chất của chế độ ta; với bản chất nêu trên, nó vừa là mục tiêu, lại vừa là động
lực của sự phát triển đất nước. Để có một xã hội do nhân dân thực sự làm chủ, chúng ta
phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để bảo đảm “tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải là “công bộc”
của nhân dân, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy
phục vụ nhân dân; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ. lOMoARcPSD| 36086670 3
- “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”.
Để có được một xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, điều tiên quyết là xã hội
đó phải có một nền kinh tế phát triển. Bởi vì kinh tế là lực lượng vật chất, nguồn sức mạnh lOMoARcPSD| 36086670
nội tại của cơ thể xã hội, nó quyết định sự vững vàng và phát triển của xã hội. Đến lượt
mình, nền kinh tế đó chỉ có thể phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại. Mác đã
khẳng định: chủ nghĩa xã hội chỉ thực hiện được bởi “một nền đại công nghiệp”. Nền đại
công nghiệp phát triển trên cơ sở khoa học - công nghệ, là hiện thân và là yếu tố tạo nên
lực lượng sản xuất hiện đại. Lực lượng sản xuất hiện đại quyết định việc nâng cao năng
suất của nền sản xuất - yếu tố quy định sự phát triển lên trình độ cao của phương thức sản
xuất mới. Trên cơ sở đó thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tiến bộ phù hợp để thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Với các nội dung và lô-gíc vận động như đã luận giải
trên, Đảng ta đã tập trung phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
mà trước mắt là hoàn thiện thể chế của nó; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức, nhằm xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại để có một
nền kinh tế phát triển cao - điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững xã hội xã hội chủ nghĩa. 4
- “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Nếu như “nền kinh tế phát triển cao” là nội lực, là sức mạnh vật chất cho phát triển xã hội
thì văn hóa là nguồn lực tinh thần bên trong của phát triển xã hội. Văn hóa là tinh hoa con
người và dân tộc, tinh hoa xã hội và thời đại; bởi vậy, nó là sức mạnh con người và dân
tộc, sức mạnh xã hội và thời đại. Mỗi nền văn hóa phải kết tinh tinh hoa và sức mạnh thời
đại để tiến tới đỉnh cao thời đại, đồng thời phải chuyển hóa chúng thành các giá trị của dân
tộc, làm đậm đà thêm bản sắc riêng của mình. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, vì vậy, chính là mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời là động lực và sức
mạnh thúc đẩy xã hội đó phát triển. Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta
cần kế thừa và phát huy những giá trị, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc;
đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và văn hóa thời đại để phát triển văn hóa
Việt Nam thực sự là nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là nền
tảng tinh thần của xã hội, là động lực và sức mạnh cho xã hội phát triển. Hơn nữa, bản chất
xã hội xã hội chủ nghĩa là tiến bộ, khoa học và nhân văn. Cho nên, chủ nghĩa xã hội đồng
chất và cùng chiều với văn hóa; phấn đấu cho những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội cũng
chính là phấn đấu cho những giá trị văn hóa - xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội văn hóa
cao. Những phẩm chất, những giá trị của xã hội xã hội chủ nghĩa là những phẩm chất và
giá trị phổ quát của xã hội tương lai. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa xã hội xã hội
chủ nghĩa là một xã hội đại đồng không tồn tại những bản sắc riêng biệt. Xã hội xã hội chủ
nghĩa là một vườn hoa muôn sắc các phẩm chất, các giá trị, ở đó bản sắc văn hóa các dân
tộc, cộng đồng người khác nhau phải được độc lập tồn tại, tôn vinh, phát huy, phát triển.
Chính vì vậy, Đảng ta chủ trương phát triển nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc
dân tộc; thống nhất trong đa dạng, làm phong phú diện mạo văn hóa Việt Nam. 5
- “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
Nói đến cùng, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, quá trình phấn đấu đạt tới những giá trị của
xã hội xã hội chủ nghĩa đều là vì con người. Con người là thực thể cao nhất của giới tự
nhiên, nó là sản phẩm của thiên nhiên nhưng cao siêu và bí ẩn gấp ngàn lần thiên nhiên.
Bởi con người có trí tuệ và tình cảm, có khát vọng và khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao
hiểu biết để tạo cho mình một thế giới Người - thế giới Văn hóa. Cho nên lịch sử của loài
người là lịch sử con người đấu tranh xóa bỏ mọi lực cản thiên nhiên và xã hội để vươn tới lOMoARcPSD| 36086670
một xã hội cao đẹp nhất - xã hội đó chính là xã hội xã hội chủ nghĩa. Bản chất xã hội xã hội
chủ nghĩa, trình độ phát triển của xã hội chủ nghĩa, rõ ràng, là bản chất và trình độ phát 8
triển người, của con người. Xã hội xã hội chủ nghĩa phải đem lại ấm no cho con người như
là đòi hỏi tiên quyết. Nhưng bản tính con người là không bao giờ thỏa mãn với những gì đã
đạt được. Con người phải được tự do - tự do không chỉ bó hẹp trong nghĩa được giải phóng
khỏi áp bức bóc lột, nô dịch, kìm hãm về mặt xã hội. Điều quan trọng hơn là nó được thăng
hoa tiềm năng trí tuệ, tình cảm và năng lực vốn có để thực hiện những khát vọng cao đẹp
của mình. Sự phát triển toàn diện con người là ước mơ, khát vọng của con người tự do. Xã
hội xã hội chủ nghĩa chính là nơi: sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự
phát triển tự do của tất cả mọi người... như C.Mác đã nói. Đặc trưng người nhất của khát
vọng con người là hạnh phúc. Bởi có thể người ta giàu có, đầy đủ tiện nghi, được phát
triển, song vẫn bất hạnh. Hạnh phúc là trạng thái yên lành, hài hòa, là tinh thần thoải mái
biểu hiện sự mãn nguyện thanh cao nhất của con người. Phấn đấu đạt tới một xã hội bảo
đảm hạnh phúc cho con người, đó là một xã hội văn hóa cao. 6
- “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp đỡ nhau cùng phát triển”.
Nếu như các đặc trưng nêu trên (kinh tế, văn hóa, con người) là những yếu tố thuộc phẩm
chất bên trong tạo nên một chỉnh thể xã hội, thì ở đặc trưng này đòi hỏi những yếu tố thiết
yếu cho sự tồn tại bền vững của xã hội lành mạnh. “Bình đẳng” là một phẩm chất và giá trị
nhân quyền thể hiện trình độ phát triển và chất nhân văn cao của xã hội. Một đòi hỏi quan
trọng của xã hội chủ nghĩa là bảo đảm bình đẳng không chỉ cho cá nhân người công dân,
mà còn ở cấp độ cho tất cả các cộng đồng, các dân tộc trong một quốc gia. Ngay trong xã
hội hiện đại, ở các nước phát triển, thực hiện bình đẳng giữa các tộc người, các dân tộc
cũng đang là vấn đề nan giải. Mặt khác, “đoàn kết” là sức mạnh - đó là một chân lý. Các
nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
đã kêu gọi: Những người lao động ở tất cả các nước trên thế giới đoàn kết lại (C.Mác); còn
trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát một chân lý: Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công. Đồng thời đây cũng là một giá trị đặc
trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa. “Bình đẳng” và “đoàn kết” chính là nền tảng của sự “tôn
trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Tôn trọng và giúp nhau không chỉ là tình thương, lòng
nhân đạo, mà thực sự là đòi hỏi, yêu cầu, trách nhiệm và điều kiện thiết yếu cho sự phát
triển của từng cá nhân, cộng đồng, dân tộc; là một tiêu chuẩn quan trọng của xã hội phát
triển. Đoàn kết toàn dân, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc đã làm nên thành công
của cách mạng Việt Nam. Và giờ đây, tinh thần đó, phương châm đó đang là những nét đặc
sắc của giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 7
- “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.
Nhà nước pháp quyền là một hình thức quản lý nhà nước trên một trình độ cao và hiệu quả.
Nó điều hành hoạt động của các cơ quan nhà nước và xã hội bằng pháp luật. Nhưng vấn đề
ở đây là pháp luật nào? Pháp luật của ai và vì ai?
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và xã
hội bằng pháp luật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân; vì vậy, là nhà nước của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân. lOMoARcPSD| 36086670
Đây là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng là liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý
xã hội bằng hệ thống pháp luật đó và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. 8
Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân
công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Tiếp tục hoàn
thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là đòi hỏi khách quan để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa hiện nay. Xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không thể nào
khác là dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đảng mang bản chất, lý tưởng, nội dung xã
hội chủ nghĩa, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
8 - “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”. Theo
nguyên lý phát triển xã hội, đặc biệt trong thế giới hiện đại, mỗi quốc gia là một bộ phận
hợp thành cộng đồng quốc tế. Sự phát triển quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có
được khi đẩy mạnh “quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Quan hệ hữu
nghị và hợp tác chính là thể hiện bản chất hòa hảo, thiện chí và tạo điều kiện cho các quốc
gia hội nhập, tiếp thu những thành quả phát triển của mỗi bên, tích lũy kinh nghiệm và rút
ngắn quá trình phát triển của mỗi nước. Điều có ý nghĩa lớn lao hơn là ở chỗ, “hữu nghị”,
“hợp tác”, “phát triển” chính là bản chất, là khát vọng hòa đồng theo bản chất trí tuệ và tình
cảm nhân văn cao cả có tính nhân loại của con người, của loài người; điều thể hiện bản chất
cao đẹp nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Qua đó chúng ta thấy quan điểm, đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam trước sau đều phù hợp với bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa nêu trên. Đây là một đặc
trưng nổi bật của nội dung và mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Và
chính nó là yếu tố, điều kiện để Việt Nam phát triển nhanh chóng trên con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội. Để thực hiện được đặc trưng nêu trên, Đảng ta vạch ra đường lối đối ngoại:
độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa giàu mạnh, văn minh.
* Với tinh thần và tư duy biện chứng về phát triển xã hội, Đảng ta quan niệm: Tiến lên
chủ nghĩa xã hội là một quá trình vận động, chuyển hóa liên tục, không ngừng phát
triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Các đặc trưng của xã hội
xã hội chủ nghĩa cũng luôn luôn vận động, chuyển hóa và phát triển. Mười, mười lăm,
hai mươi năm tới, các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa hiện nay chắc chắn sẽ có
những bổ sung mới đáp ứng đòi hỏi mới của phát triển xã hội. Điều đó đặt ra cho Đảng
ta trọng trách là phải không ngừng đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận lOMoARcPSD| 36086670
để vừa tiếp tục khám phá ra những vấn đề, những nội dung, những đặc trưng mới, vừa
sáng suốt lãnh đạo toàn dân ta xây dựng xã hội đạt tới các phẩm chất và các giá trị,
vươn tới các đặc trưng mới của xã hội xã hội chủ nghĩa trong tương lai. 8
2.3 Đánh giá chung thực trạng việc xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay:
2.3.1 Những kết quả đạt đươc:
a. Vận dụng triệt để linh hoạt tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác
– Lênin trong việc xây dựng nền văn hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc. Nhà nước Việt Nam đang không ngừng chú trọng xây dựng và phát
huy bản sắc dân tộc:
Tư tưởng Hồ Chí minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện sâu sắc về những
vấn đềcơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của những năm bôn ba, lăn lộn trong hoạt
động thực tiễn, nghiên cứu, học tập, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Từ đó, Hồ Chí Minh đã có những
sáng tạo lớn, đặc sắc về lý luận, hiện thực hóa, làm phong phú, giàu có Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đang soi đường để chúng ta phát huy và xây dựng nền văn
hóa XHCN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Lịch sử cho thấy, sức mạnh nội sinh là văn hóa yêu nước, đó là sức mạnh trực tieeos,
góp phần giữ nước, giải phóng và thống nhất đất nước. Điều quan tâm hiện nay là phải
chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam, trong đó, nội hàm quan trong nhất là
ý thức bảo vệ Tổ quốc, tình yêu Tổ quốc , nawg lực bảo vệ Tổ quốc. Chungsta phải giữ
cho được bản sắc truyền thống, căn cước văn hóa Việt Nam để tự tin hội nhập quốc tế.
Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta càng thấy đường lối mở rộng quan hệ quốc tế
trên cơ sở độc lập tự chủ của Đảng ta nói chung và nói riêng trong xây dựng phát triển nền
văn hóa Việt Nam vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là hết sức đúng đắn và sáng suốt.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương thứ 5 chỉ rõ: “phương hướng chung, đồng thời là
nhiệm vụ bao quát của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và
truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc, tiếp thụ những tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn
bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng lOMoARcPSD| 36086670
đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo nên trên
đất nước ta đời sống tinh thần cao đjep, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ
đặc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Nghị quyết Trung ương 5 “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc” vừa đáp ứng đúng những đòi hổi bức xúc của cuộc sống vừa là
định hướng chiến lược cơ bản cho sự nghiệp xây dựng, củng cố và không ngừng tăng
cường nền tảng tinh thần xã hội ta. 8
b. Lễ Hội Truyền Thống:
Quảng Bá và Tổ Chức: Các lễ hội truyền thống được tổ chức rộng rãi và quảng
bá mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm từ cả nước và quốc tế. Đây là cơ hội để những giá trị
văn hóa truyền thống được thể hiện và truyền đạt.
Gia Tăng Ý Thức Cộng Đồng: Các lễ hội tạo cơ hội để cộng đồng tham gia, trải
nghiệm, và tự hào về di sản văn hóa của mình. Điều này giúp tăng cường ý thức và sự
gắn kết trong cộng đồng.
c.Âm nhạc và nghệ thuật:
Bảo Tồn và Phát Triển Nghệ Thuật Dân Gian: Chính phủ và các tổ chức nghệ
thuật hỗ trợ bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian. Các sự kiện, triển lãm, và chương
trình nghệ thuật được tổ chức để thúc đẩy sự sáng tạo và truyền đạt giá trị văn hóa.
Giáo Dục và Đào Tạo: Các chương trình giáo dục và đào tạo về âm nhạc và nghệ
thuật truyền thống được phát triển để truyền đạt kỹ năng và kiến thức cho thế hệ trẻ.
d. Giáo dục và nghiên cứu:
Nghiên cứu và ghi chép: các tổ chức và trường đại học thực hiện nghiên cứu về văn
hóa dân tộc, ghi chép lại lịch sử và truyền thống để tạo nguồn tài liệu quan trọng.
Giáo dục đa dạng văn hóa: Các chương trình giáo dục được thiết kế để giới thiệu
và giáo dục về sự đa dạng văn hóa của Việt Nam, từ những buổi giảng đến việc tích hợp
nội dung văn hóa vào chương trình học.
Những nổ lực này không chỉ giúp bảo tồn mà còn thúc đẩy sự phát triển và tái tạo
văn hóa dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. lOMoARcPSD| 36086670
e.Giáo dục và truyên truyền:
Chính phủ và các tổ chức xã hội thường xuyên tổ chức các chương trình giáo dục
và tuyên truyền nhằm giúp người dân hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc. 8
Chương trình giáo dục:
Nâng cao hiểu biết lịch sử: Các chương trình giáo dục tập trung vào việc giảng
dạy lịch sử quốc gia, với sự chú trọng đặc biệt vào những sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc.
Giáo dục đa dạng văn hóa: Chương trình giáo dục được thiết kế để giới thiệu và
giáo dục về đa dạng văn hóa của Việt Nam, từ ngôn ngữ, trang phục truyền thống đến các phong tục tập quán.
Chương trình tuyên truyền:
Quảng bá làn song cộng đồng: Các chiến dịch tuyên truyền được tổ chức trên
nhiều phương tiện truyền thông để đảm bảo tiếp cận rộng rãi, từ truyền hình đến các
kênh truyền thông xã hội.
Tổ Chức Sự Kiện và Hội Nghị: Các sự kiện và hội nghị được tổ chức để chia sẻ
thông tin và tạo cơ hội cho cộng đồng thảo luận và tương tác về văn hóa dân tộc.
Tuyên Truyền Trong Cộng Đồng: Các tổ chức thường xuyên tuyên truyền trực
tiếp trong cộng đồng, tận dụng các nguồn lực cộng đồng để truyền đạt thông điệp một cách hiệu quả.
f.Tài trợ và hỗ trợ chính sách:
Hỗ trợ tài chính: Chính phủ cung cấp tài trợ để hỗ trợ các chương trình giáo dục và tuyên
truyền, đặc biệt là những dự án có ảnh hưởng sâu rộng đến cộng đồng. lOMoARcPSD| 36086670
Chính Sách Khuyến Khích Tham Gia: Các chính sách được thiết kế để khuyến
khích cộng đồng và cá nhân tham gia vào các hoạt động giáo dục và tuyên truyền về văn hóa dân tộc.
Phát triển nền kinh tế và xã hội: Việt Nam đang phát triển nhanh chóng về mặt
kinh tế và xã hội, điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi để người dân có thêm thời gian
và tài nguyên để duy trì và phát triển văn hóa. 8
2.3.2 Phần hạn chế:
a. Gặp nhiều khó khan thách thức trong giai đoạn hiện đại đổi mới:
Ảnh hưởng từ văn hóa đa dạng: Đối với thách thức từ sự đa dạng văn hóa do
quá trình toàn cầu hóa, có nguy cơ mất mát một số giá trị truyền thống.
Thách thức từ công nghệ và truyền thông: Sự phổ biến của công nghệ và
truyền thông có thể tạo ra thách thức trong việc duy trì giữa truyền thống và hiện đại.
Phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn
hóa dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu
hóa, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, internet, mạng xã
hội. Biên cương văn hóa tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm
lấn của các nền tảng xuyên biên giới.
b. Đạo đức một số cán bộ, người dân trở nên suy thoái:
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, điều kiện sinh hoạt vật chất
của cán bộ và nhân dân ta còn rất khó khăn và thiếu thốn, nhưng các quan hệ xã hội đều
thấm đẫm tình người. Hình ảnh "bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" mà nhà thơ Tố Hữu
đã viết trong bài thơ "Việt Bắc", quả đã phản ánh đúng lối sống của người Việt Nam ta
một thời gian khó. Việc nhân dân tự động phá nhà mình để làm đường cho xe chở pháo
ra mặt trận, cũng là chuyện phổ biến trong những năm tháng chiến tranh.
Ngày nay, tình hình đã khác trước. Sau mấy chục năm tiến hành đổi mới, nhằm
phát triển kinh tế - xã hội, từ một nước chậm phát triển, nước ta đã trở thành nước
đang phát triển và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng. Sự tăng trưởng kinh tế
như vậy, lẽ ra phải tạo điều kiện để duy trì và phát triển những giá trị tinh thần tốt đẹp
mà dân tộc và cách mạng đã sáng tạo ra. Nhưng, cuộc sống lại không diễn ra như lOMoARcPSD| 36086670
mong muốn của chúng ta. Bên cạnh một số đông nhân dân, cán bộ, đảng viên, vẫn cố
gắng bảo vệ, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, thì đã xuất hiện một bộ
phận không ít người quay lưng lại với các giá trị đó, thậm chí trở thành những nạn
nhân thảm hại của chủ nghĩa cá nhân.
c. Nguy cơ mai một truyền hống văn hóa bản sắc dân tộc:
“Văn hóa còn thì dân tộc còn” là khẳng định hết sức đúng đắn về vị trí và vai trò của
văn hóa trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời là một trong những yếu
tố mà từ khi ra đời, tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn luôn
cùng toàn dân nỗ lực bảo đảm, phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã và đang xuất hiện một 8
số hiện tượng có thể đẩy tới nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi cần được
kịp thời chấn chỉnh. Điển hình là bộ phận lớp trẻ hiện nay có tâm lý sống buông thả, quay
lưng lại với văn hóa, giá trị đạo đức truyền thống. Cùng với sự phát triển của các phương
tiện thông tin đại chúng, trên các mạng thông tin toàn cầu liên tục tuyên truyền các hình
ảnh, tin tức, ấn phẩm độc hại, không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. lOMoAR cPSD| 36086670 8
2.2 Giải pháp khắc phục hạn chế:
Phủ định các yếu tố tiêu cực trong văn hóa hiện tại: Đối mặt và phủ định các
yếu tố tiêu cực, như những đặc điểm hạn chế hay đặc tính lạc hậu trong văn hóa hiện tại.
Điều này có thể bao gồm việc đối mặt với những hạn chế trong giáo dục, tự do ngôn
luận, hay các giáo lý cũ kỹ.
Tạo ra những đổi mới và tiến triển: Khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong
các lĩnh vực như nghệ thuật, giáo dục, và khoa học. Sự phủ định của phủ định có thể làm
nảy sinh ra những ý tưởng mới và tiến triển tích cực.
Thúc Đẩy Sự Hiểu Biết Và Tôn Trọng Đa Dạng Văn Hóa: Tạo ra môi trường
thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng đa dạng văn hóa, từ văn hóa dân gian đến văn hóa
đương đại. Điều này giúp phủ định những đặc tính hạn chế của sự đơn điệu hay giữ nguyên.
Tăng Cường Vai Trò Của Giáo Dục:Tăng cường giáo dục để phát triển ý thức
văn hóa và tình yêu quê hương. Giáo dục có thể giúp vượt qua những đặc điểm tiêu cực
và tạo ra thế hệ trí thức và sáng tạo.
Khuyến Khích Sự Hợp Tác và Giao Lưu: Khuyến khích sự hợp tác và giao lưu
giữa các tầng lớp xã hội, giữa các thế hệ, và giữa các dân tộc. Sự giao lưu giúp phủ định
những tư duy hẹp hòi và mở ra tầm nhìn mới.
Kết Hợp Giữa Truyền Thống và Hiện Đại: Phát triển mô hình tích hợp giữa giáo
dục văn hóa truyền thống và giáo dục hiện đại để tạo nền tảng cho một thế hệ đối thoại.
Tăng Cường Nghiên Cứu và Sáng Tạo: Hỗ trợ nghiên cứu và sáng tạo văn hóa để
duy trì và phát triển giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng.
Tổ Chức Sự Kiện Văn Hóa Đa Dạng: Tổ chức các sự kiện và hoạt động văn hóa
nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng giữa các cộng đồng văn hóa khác nhau.
Giáo Dục Ý Thức Xã Hội: Tăng cường giáo dục ý thức xã hội để thúc đẩy tinh thần
đoàn kết và sự hiểu biết giữa các tầng lớp xã hội. lOMoAR cPSD| 36086670 8
Hợp Tác Quốc Tế Trong Bảo Tồn Văn Hóa: Hợp tác với cộng đồng quốc tế để
chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm giải pháp chung trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Kết Luận lOMoAR cPSD| 36086670 8 K 쨃 ĀT LUẬN
Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật của phép biện chứng
duy vật, cung cấp cái nhìn rõ ràng, thuyết phục về quá trình vận động và phát triển
của sự vật, hiện tượng. Phủ định là sự thay thế hình thái tồn tại này bằng hình thái
tồn tại khác. Phủ định biện chứng là sự phủ định tự nhiên, có kế thừa và tạo ra
những điều kiện cho sự phát triển của sự vật. Phủ định của phủ định là chuỗi các
phủ định biện chứng, tạo nên quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chu kỳ của các quá trình phát triển là hình xoáy ốc. Sự vật trải qua hai lần
phủ định cơ bản với ba hình thái tồn tại để đi lên một hình thái mới cao cấp hơn
nhưng vẫn duy trì được những đặc điểm tích cực và loại bỏ những đặc điểm tiêu
cực của hình thái cũ. Phát triển theo đường xoắn ốc thể hiện tính chất biện chứng
của sự phát triển. Đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên theo đường xoắn ốc.
Quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng không là đường thẳng, không phải
là đường tròn mà là đường xoắn ốc. Trong quá trình phát triển, có nhiều giai đoạn
khác nhau, trong đó có cả giai đoạn thụt lùi. Nhưng cuối cùng sự vật, hiện tượng
vẫn sẽ tiến lên. Vậy nên cần có niềm tin vào sự phát triển tiến lên của sự vật.
Trong quá trình phát triển, không thể phủ định toàn bộ những gì thuộc về cái cũ
mà cần chọn lọc để giữ lại cái tích cực, bỏ đi cái tiêu cực.
Quy luật phủ định của phủ định có thể ứng dụng rất nhiều vào hoạt động
trong đời sống. Bài viết đề cập đến việc sử dụng quy luật phủ định của phủ định
vào việc vận dụng nguyên lý này vào chủ trương xây dựng văn hóa Việt Nam tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Với việc áp dụng quan điểm Triết học Mác Lênin
vào định hướng trong công việc xây dựng, phát triển đất nước, Việt Nam vẫn đang
đi đúng hướng trong công cuộc đổi mới. Phủ định biện chứng đã đưa ra được xu
hướng phát triển đúng đắn của văn hóa Việt Nam, làm dồi dào thêm nền văn hóa
dân tộc, đồng thời vẫn giữ lại được những di sản trước đó. Dù quy lOMoARcPSD| 36086670
luật đã ra đời gần 2 thế kỉ trước, nhưng đến nay vẫn giữ nguyên được giá trị đúng đắn , bền vững của mình.
Như vậy, trong thời đại ngày nay, hội nhập đang trở thành một xu thế khách
quan. Dân tộc Việt Nam, hay bất cứ một dân tộc nào khác không thể nằm ngoài
quĩ đạo đó. Hội nhập là con đường tất yếu, là lẽ sống còn của cả dân tộc. Vấn đề
đặt ra là chúng ta hội nhập như thế nào. Rõ ràng, chúng ta với tư thế chủ động, hội
nhập trên cơ sở tự khẳng định mình, nổ lực để vượt lên chính mình, nghĩa là, thông
qua quá trình hội nhập, chúng ta có thể nhận thức đầy đủ hơn, có ý thức hơn trong
việc bảo tồn, phát huy bản sắc của dân tộc mình. Đồng thời trong quá trình đó,
chúng ta sẽ thấy được những hạn chế của những truyền thống có khả năng cản trở
sự tiến bộ để tìm cách khắc phục. Một khi đã nhận thức được như vậy, chắc chắn
chúng ta sẽ kết hợp hài hoà các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, trên cơ
sở bảo tồn bản sắc dân tộc, giữ lấy những gì là tinh hoa, loại bỏ dần các yếu tố lỗi
thời, tăng cường giao lưu, học hỏi với bên ngoài thì sẽ vượt qua được những thử
thách, sẽ khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống. Với tinh thần
và bản lĩnh của người Việt Nam, chúng ta sẽ “phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”,
kết hợp sức mạnh dân tộc với những ưu thế của thời đại để phát triển đất nước và
từng bước khẳng định vị thế bản lĩnh của dân tộc mình trước cộng đồng. 8 lOMoARcPSD| 36086670
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ GD&ĐT, Giáo trình "Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lênin",
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.
[2]. Hồ Sỹ Quý, Vấn đề lớn nhất của văn hóa Việt Nam hiện nay: Giả dối được
coi là bình thường. Đường dẫn: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn
/2017/12/29/van-de-lon-nhat-cua-van-ha-viet-nam-hien-nay-gia-doi-duoc- coil-bnh-thuong/
[3]. Khánh Minh, Ứng xử đúng đắn với các di sản. Đường dẫn: https://nhandan
.com.vn/binh-luan-phe-phan/ung-xu-dung-dan-voi-cac-di-san280379
[4]. Lịch Quyên Ánh & Thanh Phương, Nhiều người trẻ quá thụ động. Đường dẫn:
https://thanhnien.vn/giao-duc/nhieu-nguoi-tre-qua-thu-dong-584422.html
[5]. Nguyễn Công Sơn, Giải pháp khắc phục tác động tiêu cực của văn hoá
phương Tây đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Đường dẫn:
http://hvlq.vn/tintuc/tin-trong-nuoc/giai-phap-khac-phuc-tac-dong-tieu-cuc- cuavan-hoa-phuong-tay.html
[6]. Phạm Lan Oanh & Nguyễn Hoàng, Hướng dẫn quản lý, tổ chức lễ hội truyền
thống ở cơ sở, NXB CTQG - ST, Hà Nội, 2015.
[7]. PGS.TS Phạm Văn Linh, Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đường dẫn: http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---
traodoi/xay dung-va-phat-trien-nen-van-hoa-viet-nam-tien-tien-dam-da-ban-sac- dan -toc.html lOMoARcPSD| 36086670
[8]. PGS, TS Nguyễn Viết Thông, Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi
mới. Đường dẫn: https://nhandan.com.vn/chinh-tri-hangthang/day-manhtoandien-
dong-bo-cong- cuoc-doi-moi-606015/ 8
[9]. Thiện Văn & Hà Hoàng, Phòng, chống sự tha hóa con người và những lệch
chuẩn văn hóa. Đường dẫn: http://www.xaydungdang.org.vn/Home/giai_bua_ liem
vang/2020/13604/Phong-chong-su-tha-hoa-con-nguoi-va-nhung-lech- chuanvan.aspx
[10]. Thành Nam, Đừng làm xấu hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Đường dẫn:
https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/dung-lam-xau-hinhanhdat-
nuoc-va-con- nguoi-viet-nam-259435
[11]. Tư liệu văn kiện Đại hội Đảng. Đường dẫn: https://tulieuvankien.dangcongsan.
vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang
[12]. V.I.Lênin: "Toàn tập", Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1981.
[13]. Wikipedia. (2016). Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đường dẫn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Đại_hội_Đại_biểu_toàn_quốc_Đảng _Cộng_sản_Việt_ Nam 8