











Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CHỦ ĐỀ XÃ HỘI HÓA
● Khái niệm xã hội hóa? Xã hội hóa cá nhân?
● Các giai đoạn trong quá trình xã hội hóa ● Ý nghĩa xã hội hóa Ý nghĩa xã hội hóa
Chúng ta nên hiểu như thế nào về sự tác động qua lại của ba môi
trường xã hội hóa: gia đình, trường học, xã hội Liên hệ thực tế
GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Bình Group 4 1 MỤC LỤC
Giới thiệu và đánh giá sự tương tác của các thành viên trang 3 Khái niệm xã hội hóa trang 4
Các giai đoạn của quá trình xã hội hóa trang 5
Ý nghĩa của xã hội hóa trang 7 2
GIỚI THIỆU VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ TƯƠNG TÁC CỦA CÁC THÀNH VIÊN HỌ VÀ TÊN THÀNH VIÊN CÔNG VIỆC ĐÁNH GIÁ
Trần Nguyễn Cẩm Vân (leader)
Thuyết trình, PowerPoint, hỗ trợ 10d tìm kiếm thông tin Lê Thị Mỹ Hoa
Thuyết trình, thông tin (phần 3) 10d Huỳnh Mai PowerPoint 10d Phạm Ngọc Phương Uyên Word 10d Trương Nhứt Tính Word 10d Nguyễn Lâm Thư Thông tin (phần 1 và 3) 10d Võ Hoàng Hồng Thắm Thông tin (phần 2 và 3) 10d Nguyễn Thị Tố Uyên Thông tin (phần 2) 10d Nguyễn Lan Hương
Thông tin (phần 3), hậu cần 10d Phạm Lê Xuân Trúc Thông tin (phần 3) 10d Lê Nguyễn Ngọc Quỳnh Thông tin (phần 3) 10d 3 Dẫn đề:
Những em bé khi mới sinh ra chỉ thực hiện được những phản xạ bẩm sinh. Nhưng dần theo thời
gian, những đứa bé này có thể hiểu được ý nghĩa của những biểu hiện giao tiếp nhờ vào sự tiếp xúc
với những người xung quanh. Đứa trẻ có thể thực hiện được những gì mà các thành viên trong gia
đình hướng dẫn, ví dụ như nói ba ba, ma ma,…Tương tự như vậy, đứa trẻ cũng học được cách ứng
xử qua những nhóm bạn trong môi trường giáo dục qua những cách thức khác nhau (chính thức
hoặc không chính thức). Khi kết thúc quá trình học tập, tham gia vào các nhóm phức tạp, con
người trưởng thành này đã hiểu được những giá trị và nghĩa vụ của các vị trí xã hội mà họ nắm giữ.
Trong quá trình giao tiếp, chính những người đóng vai trò hướng dẫn đứa trẻ, giáo dục nó tiếp thu
những giá trị xã hội cũng phải tiếp thu từ những người khác trong xã hội.
⇒ Quá trình dạy và học này được gọi là xã hội hóa.
I- KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA
1. Khái niệm xã hội hóa
Thuật ngữ xã hội hóa có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
TS Trần Thị Kim Xuyến và Th.S Nguyễn Thị Hồng Xoan đã định nghĩa : “Xã hội hóa là
một quá trình mà trong đó văn hóa được truyền đạt …Nhờ quá trình xã hội hóa mà xã hội có
thể tồn tại và luân chuyển nền văn minh của mình từ thế hệ này qua thế hệ khác .”
Nhà xã hội học người Nga G. Andreeva cũng đã có một định nghĩa khác tương đồng : "Xã hội
hóa là quá trình hai mặt . Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm
nhập vào xã hội, vào hệ thống xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách có chủ động các
mối quan hệ thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các quan hệ xã hội"
2. Khái niệm xã hội hóa cá nhân
Theo quan niệm Triết học thì xã hội hóa cá nhân là quá trình biến đổi từ thực thể sinh học thành thực thể xã hội.
Đó là quá trình người hóa. Quá trình người hóa ấy chỉ có trong xã hội loài người, nếu tách khỏi
cộng đồng xã hội thì không thể thành người. ví dụ như một người sống trong rừng mà nhóm trình
bày về văn hóa ở tuần trước có nhắc đến, rõ rang ông ấy không thể giao tiếp và ăn thịt sống như các
loài động vật, vì khi không có sự xã hội hóa cá nhân nên ông ta đã không thể cư xử ,hành động,
sinh hoạt và có tư duy như một con người bình thường. 4
Xã hội hóa cá nhân không diễn ra trong một ngày hay hai ngày, mà đó là một quá trình diễn ra
xuyên suốt cuộc đời chứ không phải một giai đoạn nhất định. Một người trưởng hai mươi tuổi
không thể có tư duy của một em bé 5 tuổi.
Như vậy, cá nhân trong xã hội hóa không chỉ là kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hóa nó thành
những giá trị, xu hướng của cá nhân để tham giá tái tạo sản xuất chúng trong xã hội.
Chính vì thế, xã hội hóa cá nhân là quá trình xã hội trong đó con người học tập và hành động
dưới tác động của các yếu tố xã hội sao cho phù hợp với những gì học được từ xã hội. Hay nói cách
khác, xã hội hóa cá nhân là quá trình làm cho con người từ một thực thể sinh học thành một thực thể xã hội.
II- Các giai đoạn trong quá trình xã hội hóa
Bàn về xã hội hóa, các nhà xã hội học thường quan tâm đến 4 môi trường xã hội hóa quan trọng
như sau: gia đình, trường học, xã hội, truyền thông đại chúng. 1. Môi trường gia đình
Mỗi người đều sinh ra trong một gia đình. Quá trình xã hội hoá của một người từ những năm
tháng đầu tiên của cuộc đời có ảnh hưởng quyết định tới thái độ và hành vi khi đã lớn, cho nên gia
đình, như là nhóm người đầu tiên mà mỗi cá nhân trong mọi xã hội thường phải phụ thuộc vào, rõ
ràng là một môi trường xã hội hoá đầu tiên và có tầm quan trọng chính yếu.
Để trưởng thành, mỗi người cần phải trải qua một thời gian dài ở gia đình trước khi có thể tự sinh
sống. Quá trình xã hội hoá rất cần thiết để mỗi cá nhân trở thành những thành viên xã hội một
cách đầy đủ, chính vì vậy, gia đình, như một môi trường xã hội đầu tiên là nơi cá nhân tiếp xúc và
trải qua quá trình xã hội hoá của mình, ở đó, mỗi người được học để biết mình là ai, mình cần trở
thành người như thế nào, và phải biết đối xử với người khác ra sao… 5
Gia đình là một nhóm xã hội nhỏ, chính vì vậy, xã hội hoá được thực hiện chủ yếu qua giao tiếp
trực tiếp. Quá trình xã hội hoá của đứa trẻ được theo dõi chặt chẽ và được điều chỉnh ngay.
Phần lớn ảnh hưởng của gia đình trong giai đoạn sơ khai của quá trình xã hội hoá được thực hiện
một cách không chính thức và không có chủ định và là sản phẩm của tương tác xã hội giữa những
người gần gũi nhất về tinh thần và thể chất. Trong bước khởi đầu đó, chúng ta cũng học được
nhiều thông qua quan sát và kinh nghiệm. Chẳng hạn trong gia đình người ta dạy con
phải chào khách khi họ vào nhà, không được hỗn với người lớn hay “ ăn coi nồi ngồi coi
hướng”... Như vậy một cách không chủ đích, người ta đã dạy trẻ con nhiều hơn cái mà họ
hình dung (đó là phép lịch sử, sự lễ phép, nền văn hóa Việt Nam, sống sao cho đẹp lòng người…)
Sự tiếp thu trong giai đoạn đầu của xã hội hóa, không đơn thuần thông qua những sự răn dạy bằng
lời nói mà còn thông qua hành vi của các thành viên trong gia đình. Ví dụ như “sóng trước đổ
đâu sóng sau đổ đó”.... Câu chuyện của Leon Tolstoi đã viết lại một trường hợp ba mẹ làm
gương xấu cho con. “ Trong một gia đình nọ, có một ông cụ già yếu đến nỗi mỗi lần ăn súp ông
ta lại làm rơi vãi súp ra ngoài. Trong một lần, ông ta đã làm rơi vỡ chiếc đĩa. Người con trai là chủ
nhà đã lấy một cái máng gỗ cho bố dùng trong bữa ăn để khỏi rơi vỡ. Hôm sau khi ra vườn, ông
nhìn thấy đứa con trai mình đang loay hoay đục đẽo một cái gì đó, ông hỏi cậu bé làm gì thì nhận
được câu trả lời: “Con đẽo một chiếc máng gỗ để sau này con già con sẽ đưa cho bố dùng trước khi
ăn cơm”. Người cha lúc này chợt hiểu ra và ngay lập tức bỏ chiếc máng gỗ dành cho ông cụ đi và
từ đó chăm sóc cha mình chu đáo hơn.
=> Nếu người cha không thay đổi hành vi bất hiếu với ông cụ thì trong tương lai người
cha sẽ bị người con đối xử y như vậy. -> Tầm quan trọng của môi trường gia đình đối với trẻ em.
2. Môi trường trường học
Môi trường trường hợp là những thiết chế được lập ra có chủ đích 6
Trường học có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với cách nhìn nhận thông thường của mọi người: là nơi
các cá nhân đến để tiếp thu kiến thức. Khi một đứa trẻ tới trường, nó tiếp thu không phải chỉ các
môn học của nhà trường mà cả những quy tắc và những cách thức quy định hành vi . Học
sinh phải học không chỉ lịch sử và địa lý cũng như các môn học khác mà còn cả cách thức quan hệ
với giáo viên và các bạn học như khi nào được phép phát biểu, cách thức tuân thủ giờ giấc của lớp
học,. . cũng như những cách thức nhìn nhận về thế giới khác.
Ví dụ: học sinh ngoài các môn học qui định (toán, lý hóa…) còn phải học cách làm sao quan hệ tốt
với bạn bè và thầy cô trong trường sao cho mọi người yêu mến và chấp nhận mình. 3. Môi trường xã hội
Thông thường các nhóm xã hội được thiết lập một cách có ý thức vì những mục tiêu cụ thể nào
đó (nhà máy, tiểu đội trong quân đội, nhóm nghiên cứu trong viện nghiên cứu,. ). Tuy nhiên, theo
quan điểm xã hội học, mỗi nhóm xã hội bất kể vì mục đích gì đều thực hiện các hành vi theo một khuôn mẫu nhất định.
Chẳng hạn, một người lính có thể vi phạm nội qui quân đội đặt ra và chịu kỉ luật nhưng
không thể không trung thành với các chiến hữu trong đơn vị mặc dù biết họ vi phạm điều
lệ. Hay một người bất chấp vi phạm luật, không tố cáo khi bạn mình vi phạm luật lệ giao
thông . Ở đây, tuy người lính là một chiến sĩ trong quân đội nhưng anh ta đã trung thành với đồng
đội với tư cách là một người bạn trung thành với một thành viên trong một nhóm nhỏ ở tiểu đội.
Những thành viên của mỗi nhóm đều mong đợi các cá nhân trong nhóm tuân thủ khuôn mẫu
này, chừng nào còn muốn là thành viên của nhóm đó. Sức ép của nhóm đòi hỏi các khuôn mẫu
hành vi thường vượt lên những giá trị do bên ngoài đặt ra.
Phạm vi chung nhất mà quá trình xã hội hóa thực hiện được là phổ biến chung cho toàn xã hội
một cách có tổ chức , có định hướng. Đó là thông tin đại chúng với mọi hình thức: sách, báo, tạp
chí, phim ảnh, nhà hát và truyền hình… là cơ chế ảnh hưởng để phổ biến tư tưởng, giá trị và niềm
tin mà xã hội mong muốn.
III- Ý NGHĨA XÃ HỘI HÓA 1. Ý nghĩa xã hội hóa
Xã hội hóa là nền tảng quan trọng của loài người:
● Làm cho con người từ một thực thể sinh học trở thành một thực thể xã hội . Khi
con người đến với hành tinh này chỉ là một sinh vật mang bản năng sinh tồn và chịu sự chi
phối của quy luật đấu tranh sinh tồn. Chính vì thế mà con người cần du nhập nền văn hóa
của loài người vào mỗi cá thể thông qua quá trình xã hội hóa để trở thành con người xã 7
hội. Sự khác nhau giữa con người xã hội và con người sinh học đó chính là con người xã
hội mang bản thể xã hội và chịu sự chi phối của quy luật cộng đồng.
● Hình thành nên nhân cách, xây dựng nên cái tôi và khuôn mẫu hành vi của mỗi
con người trong xã hội. Trải qua quá trình tiếp xúc với xã hội loài người và quá trình xã
hội hóa, con người sẽ ý thức được tính cách nào phù hợp hoặc không phù hợp trong giai
đoạn xã hội hiện nay. Từ đó con người sẽ phát huy những điểm sáng trong tính cách của
mình, loại bỏ những thói hư tật xấu, bài trừ những hũ tục để phù hợp với xã hội ngày nay.
● Xã hội hóa giúp con người lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm, nền văn hóa mới
-> thực hiện tốt vai trò của mình trong xã hội -> sáng tạo ra những giá trị mới cho
xã hội. Điều này khẳng định được tính tích cực của con người khi trải qua quá trình xã
hội hóa. Họ không chỉ thụ động tiếp thu nền văn hóa trước mà còn biết vận dụng tri thức,
kinh nghiệm thực tiễn để sáng tạo nên nền văn hóa mới, kinh nghiệm mới cho thế hệ mai sau.
Ví dụ: Bi kịch của hai cô bé người sói. Vào những năm 1920, người ta đã tìm thấy hai cô bé
đang được một con sói cái nuôi dưỡng trong một khu rừng ở Ấn Độ, đó là Kamala 8 tuổi và
Amala 3 tuổi. Sau này hai cô gái đã được một mục sư đem về nuôi dưỡng với ý định giúp đỡ hai
đứa bé quay về với xã hội loài người. Tuy nhiên do mất đi quá trình giáo dục từ sớm nên hai cô bé
không hề có một biểu hiện của tính người. Thứ nhất, không mặc đồ, không biết xấu hổ và thường
xuyên dùng móng cào rách quần áo. Thứ hai, không ăn được đồ chín, chỉ ăn thịt sống thậm chí là
thịt thối rửa. Thứ ba, không chịu đi ngủ, không chịu đắp chăn, có xu hướng hoạt động về đêm và
thích hú to. Thứ tư, không biết đi hay đi thẳng lưng, không biết nói chuyện. Nguyên nhân cơ bản
là do mất đi quá trình xã hội hóa từ lúc mới sinh ra, không được tiếp xúc với môi trường sống của
con người và không được tiếp nhận bất kì sự giáo dục nào ngay từ nhỏ. Kết quả là không lâu sau
đó hai cô gái lần lượt qua đời cho bệnh tật và không thể sống cuộc sống của loài người. 8
⇒ Xã hội hóa sinh ra con người thêm một lần nữa trong bản thể tri thức, xã hội. Con người
không chỉ thụ động tiếp thu nền văn hóa, những kinh nghiệm của người đi trước mà còn sáng tạo
ra những giá trị mới, văn hóa mới cho thế hệ mai sau. Quá trình xã hội hóa là một quá trình
không bao giờ dừng lại.
2. Sự tác động qua lại của ba môi trường xã hội hóa
Ba môi trường trong xã hội hóa diễn ra tuần tự lần lượt từ gia đình -> trường học -> xã hội
Bên cạnh đó, ba môi trường này vẫn tác động đan xen vào nhau
Môi trường gia đình chịu sự tác động của:
● Trường học: đứa trẻ khi đến tuổi đến trường sẽ tiếp xúc với một nhóm bạn trong trường
được gọi là nhóm tương đương. Chúng sẽ học được từ bạn những xu hướng đồng trang
lứa chẳng hạn như phong cách nói chuyện, gout thời trang,. Cùng với sự phát triển của
truyền thông đại chúng, thế hệ gen Z có xu hướng thích quay “tóp tóp”. .
Môi trường trường học chịu sự tác động của:
● Gia đình: lúc này gia đình đóng vai trò là người dẫn dắt , hướng những đứa trẻ đến những
điều tốt đẹp, tích cực, tránh xa những thói hư tật xấu trong xã hội. Gia đình trở thành
niềm động viên, chỗ dựa tinh thần cho trẻ. Ví dụ: an ủi khi con bị điểm thấp,. . Gia
đình còn giúp trẻ định hướng tương lai. Ví dụ: dựa vào tính cách và năng lựa gợi ý nghề
nghiệp phù hợp với con… 9
● Xã hội: ngoài nhóm bạn ở trường học, trẻ có xu hướng dần tiếp xúc với nhóm bạn ngoài xã
hội, tham gia các hoạt động cộng đồng-> tiếp xúc với những cái hay cũng như tiêu cực
trong xã hội -> chọn lọc những cái hay -> tích lũy làm kinh nghiệm -> áp dụng cho môi
trường giáo dục và làm hành trang sau này
Môi trường xã hội (khi này cá nhân đã trưởng thành) chịu sự tác động của
● Gia đình: là niềm động viên, động lực cố gắng cho mỗi cá thân. Và đặc biệt khi cá nhân kết
hôn, trong quá trình xây dựng tiểu văn hóa cho gia đình nhỏ thì văn hóa của gia đình cùng
với văn hóa chung của xã hội và sự sáng tạo của cá nhân trong quá trình học tập ở trường
sẽ tạo nên một tiểu văn hóa mới
● Trường học: cá nhân sử dụng kiến thức và kĩ năng mềm đã học được ở trường học làm
nền tảng xây dựng tương lai và cuộc sống riêng. Bên cạnh đó một vài phần sẽ có xu hướng
quay trở lại trường học để nâng cao kiến thức chuyên ngành -> nâng cao địa vị trong cuộc
sống. Chẳng hạn như học lên thạc sĩ, tiến sĩ,. .
Ví dụ: Trong thực tế cá nhân có thể đã đi làm, đã có gia đình, nhưng vẫn tiếp tục học tập và có
nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ quan hay trong quan hệ vợ chồng, họ vẫn có thể tìm cha mẹ
để tìm một lời khuyên. (Nhập Môn Xã Hội Học (NXB Đại Học Quốc Gia 2005) - Trần Thị Kim
Xuyến, Nguyễn Thị Hồng Xoan)
→Cả ba môi trường tác động theo hướng tuần tự và đan xen . Chúng ta sẽ mắc sai lầm nếu vạch
ra ranh giới quá chặt chẽ giữa các giai đoạn tương ứng với những môi trường đó. 3. Liên hệ thực tế
Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn sau khi rời xa quê hương lên TPHCM
học tập vẫn giữ liên lạc với gia đình. Gia đình luôn là nguồn động lực, động viên con trong suốt
thời gia xa quê hương, xa gia đình. Bên cạnh đó, gia đình vẫn còn thực hiện chức năng giáo dục
con cái chứ không phụ thuộc hết vào nhà trường, gia đình hướng con mình đến những giá trị
đúng đắn, tránh xa những cái xấu đặc biệt khi độ tuổi sinh viên là độ tuổi có nhiều thay đổi về tâm
sinh lý. Bên cạnh đó, sinh viên dần mở mang tầm nhìn của mình hơn khi tiêp xúc nhiều với xã hội,
dần tham gia vào các hoạt động xã hội, cộng đồng để tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn và kĩ
năng mềm. Vì vậy, ta có thể thấy 3 môi trường này luôn hoạt động tuần tự và đan xen với nhau, dù
cho trẻ ở môi trường nào thì vẫn chịu sự tác động của những môi trường còn lại.
Giả sử thiếu đi môi trường gia đình?
Đối với lứa tuổi đặc biệt này, nếu không có gia đình dìu dắt và định hướng sinh viên sẽ không thể
tự mình định ra những lối đi đúng đắn, dễ sa vào những hoạt động ăn chơi gây ảnh hưởng đến sự 10
phát triển của bản thân như: ma túy, thuốc lá, thâu đêm trong những trò chơi ảo,. . Ngoài ra sinh
viên sẽ không biết tìm ai làm nguồn động viên khi gặp những chuyện buồn, bất trắc…
Giả sử thiếu đi môi trường xã hội?
Trẻ chỉ biết những kiến thức do gia đình và nhà trường truyền lại chứ không có môi trường để
thực hành và tích lũy kinh nghiệm. “ Học đi đôi với hành”. HẾT 11