
















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TIỂU LUẬN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐÈ BÀI: NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. XÂY
DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM Tên sinh viên : Lớp học phần : LLNL1107(122)_15 Mã sinh viên :
Giảng viên hướng dẫn :
Hà Nội, tháng 9 năm 2022 MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 3
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn .......................................................................... 3
B. NỘI DUNG...................................................................................................................... 4
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN ........................................ 4
1. Khái niệm nhà nước pháp quyền ........................................................................... 4
2. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền ........................................... 4
3. Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền.............................................................. 4
4. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền ở mỗi quốc gia...................................... 5
PHẦN 2: NỘI DUNG CƠ BẢN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM ................................................................................ 5
1. Quá trình nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam .............................................................................................................................. 5
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền .............................................. 5
1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền XHCN
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân .................................................................. 6
1.3 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam .............................................................................................................................. 7
2. Tình hình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
dân, do dân, vì dân ...................................................................................................... 7
2.1 Những kết quả đạt được ....................................................................................... 7
2.2 Những hạn chế yếu kém ....................................................................................... 8
2.3 Nguyên nhân hạn chế ............................................................................................ 9
PHẦN 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ............................................................. 10
3.1 Giải pháp chung .................................................................................................. 10
3.2 Sự vận dụng của bản thân em Hoàng Thị Lệ - cũng như các sinh viên Việt
Nam trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam .................................................................................................. 13
C. KẾT LUẬN ................................................................................................................... 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 16 2 A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với
các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại. Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo
chung đó. Tuy nhiên, xét về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề cần nghiện cứu và
giải quyết. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác
định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục
tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội. Sự xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong báo cáo
chính trị của Đại hội IX không chỉ là khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc
đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường
pháp chế mà còn là sự đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp xây dựng Nhà
nước kiểu mới, một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chủ nghĩa xã hội thành công không
chỉ cần có một lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động cao hơn hẳn chủ nghĩa tư
bản mà còn cần có một hệ thống chính trị được đổi mới, một nhà nước đủ sức quản lý xã
hội thích ứng với sự phát triển. Mô hình nhà nước pháp chế xã hội chủ nghĩa trước đây
không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường, không đáp ứng được yêu cầu của
sự mở cửa giao lưu ngày càng rộng rãi. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải là nhà
nước kế thừa được những giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền tư sản, đồng thời phải
có những nét đặc thù thể hiện rõ tính ưu việt của một chế độ xã hội tiến bộ hơn, một nền
dân chủ hoàn thiện hơn.
Hiểu được tầm quan trọng của xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa em
xin chọn đề tài: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong bài viết này
em sẽ đề cập chủ yếu những vấn đề lý luận chung và thực trạng xây dựng và hoàn thiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ những bất cập đưa ra một số giải
pháp nhằm góp phần hoàn thiện hơn.
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Làm sáng tỏ về mặt lý luận nguồn gốc, đặc trưng, bản chất của nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài này góp phần chỉ ra nội dung và định hướng xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, kết quả đạt được và những vấn đề còn hạn chế, bất
cập còn tồn tại. Qua đó cũng phần nào giúp các nhà lãnh đạo nói chung cũng như nhà
nước có những giải pháp chính sách phù hợp để nâng cao chất lượng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 3 B. NỘI DUNG
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1. Khái niệm nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là mô hình nhà nước đề cao pháp luật, được thành lập, tổ
chức hoạt động và quản lý mọi vấn đề liên quan đến kinh tế – xã hội của quốc gia đều
bằng pháp luật. Tại các nhà nước pháp quyền này thì pháp luật trở thành công cụ điều
chỉnh hữu hiệu và quan trọng nhất để duy trì và phát triển đất nước. Mỗi cá nhân, tổ chức
trong quốc gia đó đều phải phục tùng pháp luật một cách tuyệt đối. Các quyền và nghĩa vụ
của mỗi cá nhân đều đã được ghi nhận và được đảm bảo thực hiện bởi hệ thống tòa án.
Hay nói cách khác, nhà nước pháp quyền chính lànhà nước của dân, do dân và vì dân.
2. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền
- Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ.
- Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
- Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi
lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.
- Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân
được làm tất cả trừ những điều luật cấm.
- Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo
các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực. Tính chất vàcách
thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà
nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể
tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành phápvà quyền tư pháp.
Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soátchặt chẽ với các cơ chế
kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước vàbên ngoài bộ máy nhà nước.
- Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp.
- Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong các
mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội. 5
3. Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền
Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là những giá trị phổ
biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Do vậy nhà nước pháp quyền không
phải là một kiểu nhà nước. Điều này có ý nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn liền với một
nền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái
kinh tế - xã hội, nhưng không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ. Nhà nước pháp
quyền với tính chất là một cách thức tổ chức vàvận hành của một chế độ nhà nước và xã
hội có thể xây dựng trong điều kiện chế độ xã hội xã hội. Như vậy trong nhận thức lý luận
và trong thực tiễn tồn tại nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.
4. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền ở mỗi quốc gia
Nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù
của mỗi một quốc gia, dân tộc. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi
hàng loạt yếu tố. Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được
xác định bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống - văn hoá, tâm lý xã hội của mỗi một
dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá và môi trường địa lý. Các yếu tố này
không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi một dân tộc trong quá trình dựng
nước, giữ nước và phát triển của mình mà cònquyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các
giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền.
PHẦN 2: NỘI DUNG CƠ BẢN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1. Quá trình nhận thức và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị
tríđặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng, củng cố một nhà
nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Các tư tưởng Hồ Chủ Tịch về Nhà nước thật sự to
lớn, sâu sắc không chỉ được thể hiện trong các bài viết, các bài phát biểu, trong cácvăn
kiện quan trọng do Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng và ban hành mà cả trong hành động
thực tiễn của Người trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền có thể khái quát trên các quan điểm sau:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân: là nhà nước của
dân, do chính nhân dân lập qua thông qua chế độ bầu cử dân chủ. Trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, một nhà nước của dân, không chỉ do dân lập ra thông qua bầu cử dân chủ mà còn là
nhà nước chịu sự kiểm tra, giám sát, định đoạt của nhân dân. 6
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước: được thể hiện sâu
sắc trong các văn kiện pháp lý quan trọng của đất nước do chính người chỉ đạo xây dựng
và ban hành. Hồ Chí Minh đã đưa vào mô hình tổ chức bộ máy nhà nước những yếu tố
hợp lý và khoa học của nguyên tắc phân quyền.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật: Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật
dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế. Nhà nước sử dụng pháp luật để
quản lý xã hội. Pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp
công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ
quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.
1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền XHCN
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Sau Cách mạng Tháng 8/1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Đólà
một nhà nước kiểu mới, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. “Cách mạngTháng
Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dângần một
trăm năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây dựng nền tảng cho nướcViệt Nam
dân chủ cộng hoà độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong
lịch sử nước nhà…”. Đảng ta khẳng định, nhiệm vụ lịch sử của Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà là “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiến quốc gia trên
nền tảng dân chủ”. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng
về Nhànước, tổ chức bộ máy nhà nước đã được thể chế hoá trong bản Hiến pháp đầu tiên -
Hiến pháp 1946. Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) đã xác định: “Nhà nước XHCN là
Nhà nước chuyên chính vô sản, một tổ chức thực hiện quyền làm chủ tập thể của giai cấp
côngnhân và nhân dân lao động, một tổ chức thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo
củamình đối với tiến trình phát triển xã hội…”. Quan điểm của Đảng về Nhà nước chuyên
chính vô sản đã được thể chế hoá trong Hiến pháp 1980 “Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt
Nam là nhà nước chuyên chính vô sản. Sứ mệnh lịch sử của Nhà nước đó là thực hiện
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân tiến hành
đồng thời ba cuộc cách mạng: Cáchmạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ
thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt,
xoá bỏ chế độ người bóc lột người, đập tan mọi sự chống đối của bọn phản cách mạng
trong nước, mọi hành độngxâm lược và phá hoại của kẻ thù bên ngoài, xây dựng thành
công XHCN, tiến tới chủnghĩa cộng sản; góp phần củng cố hoà bình và đẩy mạnh sự
nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới” (Điều 2 - Hiến pháp 1980).
Phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về chuyên chính vô sản trong
thờikỳ quá độ lên chủ CNXH, Đảng ta xác định “quyền làm chủ tập thể của nhân dân 7
laođộng mà nòng cốt là liên minh công nông, thực hiện bằng nhà nước dưới sự lãnh đạo
củaĐảng tiên phong của giai cấp công nhân, đó là chuyên chính vô sản.
Nhà nước ta, vì vậy, là nhà nước chuyên chính vô sản”. Nhà nước có mối liên hệ
thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng vàlắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu
sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện phápkiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ
quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân
dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhànước theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công.
1.3 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở
Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp.
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối
thượng của pháp luật trong đời sống xã hội.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo vệquyền con
người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ giữa Nhànước và công dân,
giữa Nhà nước và xã hội.
- Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ
việc thực hiện quyền lực nhà nước.
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo. Đối với Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, quyết
định phương hướng chính trị của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự là tổ chức
thực hiện quyền lực của nhân dân, thực sự của dân, do dân và vì dân, để thực hiện thành
công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Nhà nước triển khai tổ
chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân
tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…
2. Tình hình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
dân, do dân, vì dân
2.1 Những kết quả đạt được
- Trong việc thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước: 8
Các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy nhà nước đã dần được cơ cấu lại
theo hướng mở rộng xã hội hóa, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cộng đồng, Nhà nước
chỉ đảm nhiệm những công việc thực sự cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã
hội, vì sự phát triển của toàn xã hội hoặc những gì mà mỗi cá nhân công dân không thể tự
mình giải quyết nếu thiếu sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước. Trong mối quan hệ với
công dân, bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước đang dần chuyển từ tư duy lãnh
đạo, quyền uy - phục tùng sang tư duy vềnhà nước phục vụ, cán bộ, công chức có nghĩa
vụ, trách nhiệm phục vụ nhân dân, thực sự trở thành “công bộc” của nhân dân.
- Về tổ chức bộ máy nhà nước:
+ Quốc hội đã trở thành yếu tố cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam
XHCN, yếu tố quy định mối quan hệ quyền lực và pháp luật, yếu tố bảo đảm để ý chí của
nhân dân trở thành ý chí của Nhà nước. Có thể nói, hoạt động của Quốc hội ngày càng
được đổi mới, dân chủ, hiệu quả hơn. Quốc hội ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu và
mong mỏi của các tầng lớp nhân dân.
+ Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Trên cơ sở các nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước
quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan, Chủ tịch nước trong các
nhiệm kỳ qua đã phát huy tốt vị trí, vai trò của mình trên các lĩnh vực, đóng góp quan
trọng vào thành tựu chung của đất nước.
+ Chính phủ đã có một bước đổi mới căn bản cả về tổ chức và phương thức hoạt
động, từ Chính phủ tập thể sang kết hợp giữa chế độ trách nhiệm của tập thể Chính phủ và
vai trò cá nhân của Thủ tướng Chính phủ. Có thể nói, hoạt động của Chính phủ, các bộ
ngày càng chuyên nghiệp hơn, công khai, minh bạch hơn góp phần đưa đất nước vượt qua
những giai đoạn khó khăn, vượt qua khủng hoảng kinhtế để đạt được nhiều thành công
trong phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn vừa qua.
+ Tòa án nhân dân được xác định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, cơ quan xét
xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án trong
thời gian qua đang được nghiên cứu để đổi mới, cải cách hơn, không phụ thuộc vào đơn vị
hành chính”, mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án, qua đó, tăng cường khả năng kiểm
soát của tư pháp đối với hệ thống cơ quan hành chính.
- Về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Chất lượng lãnh đạo của Đảng được nâng cao hơn, tình trạng tổ chức Đảng bao
biện làm thay Nhà nước đã có bước giảm đáng kể, việc dân chủ hoá phương thức lãnh đạo
của Đảng có bước tiến quan trọng, trong khi vai trò lãnh đạo của Đảng được giữ vững và
tăng cường thì vai trò của Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể ngày càng được phát huy. Nhờ
vậy, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện ngày càng tốt hơn. 9
2.2 Những hạn chế yếu kém
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của nhà nước ta cũng đang bộc lộ nhiều yếu kém:
- Bộ máy nhà nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham nhũng,
lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệu lực quản lý, điều hành
chưa cao; kỷ cương xã hội còn bị buông lỏng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước ta.
- Quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới; chưa phát huy đầy đủ
mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị trường. Đất đai, vốn và
tài sản nhà nước chưa được quản lý chặt chẽ, sử dụng lãng phí và thất thoát nghiêm trọng.
- Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn có những
điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ, phân cấp trung ương - địa phương
còn một số mặt chưa cụ thể (như về quản lý đầu tư, tài chính, tổ chức bộ máy, kết hợp
quản lý theo ngành và lãnh thổ...), làm cho tình trạng tập trung quan liêu cũng như phân
tán, cục bộ chậm được khắc phục.
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước vẫn còn tình trạng buông lỏng và bao
biện, chống chéo nên chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực điều hành của bộ máy nhà nước.
- Quốc hội mặc dù hoạt động ngày càng dân chủ và hiệu quả hơn nhưng kết quả
trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định vấn đề quan trọng của đất nước chưa đáp
ứng sự kỳ vọng của nhân dân. Hoạt động của Quốc hội chưa thực sự chuyên nghiệp, tỷ lệ
đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tuy đã được tăng lên theo từng nhiệm kỳ nhưng
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu
Quốc hội còn nhiều hạn chế nên chưa đáp ứng được khối lượng công việc ngày càng
nhiều, với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng.
2.3 Nguyên nhân hạn chế
Có nhiều nguyên nhân gây nên những yếu kém của hệ thống chính trị, của bộ máy
nhà nước, trong đó chủ yếu là:
- Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi
nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việcphải vừa làm,
vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm.
- Đảng chưa làm tốt việc lãnh đạo cụ thể hoá nghị quyết của Đảng về xây dựng nhà
nước để có chủ trương kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn đổi mới, đặc
biệt là những vấn đề nổi lên ngày càng bức xúc như tình trạng quan liêu, lãng phí, tham
nhũng, thiếu trách nhiệm trong bộ máy nhà nước; thiếu những biện pháp tổ chức thực hiện 10
đường lối, chủ trương kiên quyết, hợp lý và đủ mạnh để tạo chuyểnbiến tích cực nhằm
khắc phục những khuyết điểm, yếu kém.
- Chưa kịp thời tổng kết thực tiễn và còn thiếu cơ sở khoa học khi quyết định một
số chủ trương về sắp xếp điều chỉnh tổ chức bộ máy ở trung ương và địa phương nên khi
thực hiện có vướng mắc, hiệu quả và tác dụng còn hạn chế.
- Các cơ quan nhà nước chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm trong việc quán triệt và
tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; trong việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn, bảo đảm
sự trong sạch và nâng cao hiệu quả hoạt động ở từng cơ quan, đơn vị.
- Các đoàn thể quần chúng chưa chú trọng xây dựng các nội dung cụ thể, thiết
thực và đổi mới phương thức hoạt động để tổ chức vận động nhân dân phát huy quyền làm
chủ trong việc tham gia xây dựng chính quyền, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức
nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, sống, làm việc theo hiến pháp, pháp luật.
PHẦN 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 3.1 Giải pháp chung
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định mục tiêu chung là: “Tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân
dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới
hệ thống chính trị”. Để thực hiện được mục tiêu này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII đề ra 08 giải pháp cụ thể để xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn tới. Cụ thể như sau:
- Một là, “Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”:
Giải pháp này xuất phát từ thực tế chúng ta còn lúng túng trong việc xác định vai trò, chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp
và quyền tư pháp. Đây là nhiệm vụ, cũng là giải pháp hết sức quan trọng, bởi thực hiện
được giải pháp này thì chức năng của từng cơ quan nhà nước sẽ rõ ràng, không chồng
chéo, không bỏ sót; như vậy, hoạt động của bộ máy nhà nước mới thống nhất và hiệu quả.
Khi các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp được xác định rõ ràng thì việc phối
hợp, kiểm soát quyền lực mới hiệu quả, tránh được tình trạng lạm quyền, lộng quyền, độc
đoán hoặc buông lỏng quyền lực. Tuy nhiên, quyền lực của Nhà nước Việt Nam là quyền
lực của Nhân dân, do vậy không thể dùng quyền lực của Nhân dân phân chia cho cơ quan, 11
bộ phận nào của Nhà nước. Quyền lực nhà nước của chúng ta về bản chất luôn là thống nhất.
- Hai là, “Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả
thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người
dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển
nhanh, bền vững”: Giải pháp này cũng xuất phát từ thực tế việc xây dựng hệ thống pháp
luật còn chưa đầy đủ, thiếu kịp thời, nhiều điều luật thiếu tính khả thi
- Ba là, “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội
thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân
chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong
thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám
sát tối cao”: Để thực hiện được giải pháp này, cần tiếp tục thực hiện tốt ba biện pháp cụ thể sau:
+ Thứ nhất, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, tập trung xây
dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo
đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, lấy
phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân
dân bầu hoặc phê chuẩn. Gắn với nhiệm vụ này cần “đẩy nhanh tiến độ ban hành các luật
trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013”.
+ Thứ hai, thiết lập đồng bộ, gắn kết cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân. Với Mặt trận Tổ quốc, cần “thực
hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước”. Đối với
Nhân dân, phải thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
+ Thứ ba, bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng
hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách; giảm đại biểu hoạt động ở các cơ quan hành pháp, tư pháp.
- Bốn là, “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp
quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch”. Để thực
hiện tốt giải pháp này cần thực hiện tốt năm biện pháp cụ thể sau:
+ Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh
gọn, hiệu lực, hiệu quả, trên cơ sở tổ chức hợp lý các bộ đa ngành, đa lĩnh vực.
+ Thứ hai, phát huy đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ 12
quan chấp hành của Quốc hội, tập trung vào quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch; tăng cường năng lực dự báo, phân tích và đề xuất chính sách dựa
trên luận cứ khoa học và thực tiễn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Thứ ba, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính
phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương; khắc
phục triệt để tình trạng chồng chéo, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
+ Thứ tư, bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, đồng thời phát huy vai trò chủ
động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành.
+ Thứ năm, nâng cao chất lượng dịch vụ công; tiếp tục sắp xếp, tổ chức lại các đơn
vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả.
- Năm là, “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công
bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”. Để thực hiện tốt
giải pháp này, cần thực hiện tốt bốn biện pháp cụ thể sau:
+ Thứ nhất, hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân.
+ Thứ hai, nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong
đó có Chiến lược xây dựng pháp luật và cải cách tư pháp.
+ Thứ ba, tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt
động và uy tín của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan
thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp.
+ Thứ tư, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các loại tranh chấp, khiếu kiện theo
luật định; phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với hoạt động tội phạm và vi phạm pháp
luật. Trong đó tiếp tục: “Thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”.
- Sáu là, “Tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa
bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt theo luật định” . Để
thực hiện tốt giải pháp này, cần triển khai thực hiện tốt ba biện pháp cụ thể sau:
+ Thứ nhất, thực hiện và tổng kết việc thí điểm chính quyền đô thị nhằm xây dựng
và vận hành các mô hình quản trị chính quyền đô thị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
+ Thứ hai, gắn kết và đổi mới tổ chức, bộ máy và cơ chế hoạt động của Mặt trận
Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp. 13
+ Thứ ba, cải cách phân cấp ngân sách nhà nước theo hướng phân định rõ ngân
sách Trung ương, ngân sách địa phương, bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung
ương, nâng cao tính chủ động, tự chủ của ngân sách địa phương.
- Bảy là, “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng
lực, uy tín, phục vụ Nhân dân và sự phát triển của đất nước”. Để thực hiện được giải pháp
này, cần thực hiện tốt ba biện pháp cụ thể sau:
+ Thứ nhất, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ,
chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển.
+ Thứ hai, có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích
bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo,
dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.
+ Thứ ba, có cơ chế sàng lọc thay thế kịp thời những người không hoàn thành
nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật,
không còn uy tín đối với Nhân dân.
- Tám là, “Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp
luật”. Để thực hiện tốt giải pháp này, cần thực hiện ba biện pháp cụ thể sau:
+ Thứ nhất, tập trung chỉ đạo quyết liệt, đầu tư hợp lý nguồn lực và các điều kiện
để thực hiện tốt các nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật,
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.
+ Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính, kiện toàn tổ chức, tinh giản hợp lý đầu mối,
bỏ cấp trung gian, tinh giản biên chế.
+ Thứ ba, tích cực thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử, tăng cường kết nối, trao
đổi thông tin thường xuyên giữa chính quyền các cấp, giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp.
Qua phân tích các nội dung nêu trên cho thấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII của Đảng đã đề ra hệ thống các giải pháp đồng bộ, toàn diện nhằm xây dựng, hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, tinh gọn,
hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân phục vụ.
3.2 Sự vận dụng của bản thân em Hoàng Thị Lệ - cũng như các sinh viên Việt
Nam trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng một nhà
nước thực sự của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân đạo,
công bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; nhà nước được tổ chức và vận hành một 14
cách khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ chức, hoạt động của nhà nước phải đặt
trên cơ sở pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Để từng bước góp phần xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một công dân Việt
Nam em đã và đang cố gắng thực hiện tốt những việc sau:
- Là một học sinh trước hết em cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ
phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu
thương và giúp đỡ những người xung quanh, nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình
đối với quê hương, đất nước, chỉ biết đến bản thân mình, coi việc chung là việc của người
khác. Mỗi chúng ta cần phải cố gắng không chỉ vì tương lai của mình mà còn để xây dựng
đất nước giàu đẹp xứng đáng với những gì được hưởng
- Quan tâm đến đời sống chính trị- xã hội của địa phương, đất nước, đồng thời
thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời
vận động mọi người xung quanh cùng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
- Tôn trọng pháp luật, tôn trọng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Tích cực rèn luyện đạo đức, tác phong; lối sống trong sáng, lành mạnh, tránh xa
các tệ nạn xã hội; biết đấu tranh chống các biểu hiện của lối sống lai căng, thực dụng, xa
rời các giá trị văn hoá- đạo đức truyền thống của dân tộc.
- Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, Cảnh giác trước âm mưu
chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc
làm gây tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
- Vận động bạn bè, người thân thực hiện tốt nghĩa vụ xây dựng và hoàn thiện nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Thấm nhuần được đạo đức, tư tưởng và mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lennin, các quan điểm của Đảng Cộng Sản
Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam. Trên tinh
thần đó để giữ các giá trị tốt đẹp, các tinh thần cống hiến trong tổ chức, cho nhân dân. Em
đã, sẽ không ngừng học tập nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành tốt
mọi nhiệm vụ được giao. Từ đó mang đến các kiến thức, kinh nghiệm vững vàng. Cũng
như xây dựng tinh thần trách nhiệm cao trong phân công nhiệm vụ. Cũng như hoàn thành
các công việc chung trong hoạt động của tổ chức. Luôn đặt nhiệm vụ thực hiện lên hàng
đầu, với quyền và lợi ích cho nhân dân. 15 C. KẾT LUẬN
Ở Việt Nam, khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN” lần đầu tiên được nêu ra
tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29/11/1991) và
tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảngnăm
1994 cũng như trong các văn kiện khác của Đảng. Tiếp theo là tại các Đại hội lầnthứ X và
XI của Đảng đã có bước phát triển về chất trong nhận thức về xây dựng Nhàn ước pháp quyền XHCN ở nước ta.
Thể chế hoá quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng, Điều 2
Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà
nướcpháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa
XHCNViệt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà
nềntảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3.
Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơquan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đang phải đối mặt với
không ít khó khăn, thách thức. Yêu cầu đặt ra là Đảng phải luôn đảm bảo được tínhchính
đáng trong cầm quyền của mình thể hiện uy tín, sự tin tưởng, sự cuốn hút củaĐảng đối với
Nhân dân; tính hiệu quả trong lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đáp ứng yêu
cầu, lợi ích của Nhân dân. Do đó, việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải
trình của các CQHCNN là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa to lớn đối với công cuộc xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Với cương vị là một sinh viên – công dân Việt Nam em xin hứa sẽ luôn tôn trọng,
có trách nhiệm, thái độ đúng đắn các đạo đức, tư tưởng và mong ước của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lennin, các quan điểm của Đảng
Cộng Sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam.
Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tiếp thu các kiến thức đã được học trên trường đồng
thời tự rèn luyện, học hỏi thêm để hình thành cho mình lối sống theo quy tắc, thói quen
chấp hành đúng quy định pháp luật và biết phát hiện, phòng, chống những hành vi vi
phạm pháp luật.Tự học để trang bị kiến thức, tự rèn luyện sức khỏe, tự kỷ luật bản thân là
điều sinh viên cũng như bản thân em phải thực hiện để hoàn thiện không chỉ về nhân cách, 16
tư tưởng mà còn là công cụ hỗ trợ trở thành nguồn nhân lực có ích cho đất nước và xã hội,
góp phần nhỏ bé của mình để xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý
luận chính trị). Nxb Chính trị quốc gia sự thật.
2. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, t.1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. Studocu:
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-ha-noi/anthropology-for-
everyone/tieu-luan-nha-nuoc-phap-quyen-tthanh-final-26/21009450?origin=home-recent-
4. Tạp chí tổ chức nhà nước
https://tcnn.vn/news/detail/51275/Giai-phap-xay-dung-hoan-thien-Nha-nuocphap-
quyen-xa-hoi-chu-nghia-Viet-Nam-theo-tinh-than-Nghi-quyet-Dai-hoiXIII-cua-
Dang.html?fbclid=IwAR0p8yf4tBDc9e-dbfLGp-
BOZ55BxbGlB1t9skqsUNByPpskXxRRxjmJDJg 18