lOMoARcPSD| 61457685
BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ Ý THC XÃ HỘI
VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC XÃ HỘI HIỆN
NAY.
Giáo viên :
ớng dẫn Sinh viên
thc :
hiện
MSSV :
lOMoARcPSD| 61457685
MỤC LỤC
LỜI MỞ
ĐẦU.............................................................................................. ....3
NỘI DUNG NGHIÊN
CỨU.............................................................................3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ Ý THỨC XÃ HỘI VÀ MỐI
QUAN HỆ BIN CHỨNG CỦA Ý THỨC VI TỒN TẠI XÃ
HỘI....................................3
luận chung về ý thức
hội..........................................................................3
Khái niệm.............................................................................................
...........4
Kết cấu của ý thức
hội................................................................................4
Tính giai cấp của ý thức
hội.......................................................................6
Các hình thái của ý thức
hội......................................................................6
Tính độc lập tương đối của ý thức
xãhội.......................................................10
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRONG CÔNG TÁC
Y DỰNG XÃ HỘI MỚI VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VI BN THÂN
SINH VIÊN..................12
Xây dựng ý thức hội Việt Nam
hiệnnay.................................................12
Vai trò của ý thức xã hội với bản
thân............................................................15
KẾT
LUẬN.............................................................................................
........17
TÀI LIỆU THAM
KHẢO..............................................................................18
lOMoARcPSD| 61457685
A. LỜI MỞ ĐU
ớc qua hàng ngàn năm lịch sử, con người đã ch lũy và đúc kết những
tưởng ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của loài người. Trên
cơ sở những giá trị tư tưởng đó và tổng kết thời đại, triết học Mác – Lênin đưc
hình thành trở thành hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa biện chứng.
Những sai lầm, hạn chế của chủ nghĩa duy tâm, siêu hình đã được khắc phục bởi
duy vật biện chứng, để rồi từ đó ta có một cách nhìn đúng đắn hơn về hai lĩnh
vực lớn nhất của thế giới, đó chính vật chấtthức mối quan hệ giữa chúng.
Vật chất ý thức mối quan hệ biện chứng, vật chất trước ý thức có sau.
Trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động trở lại vật chất
Mối quan hệ giữa vật chất ý thức từ trước đến nay luôn nắm giữ vai trò
hết sức quan trọng trong thực ễn cuộc sống. Những vấn đtriết học về mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa định hướng cho cuộc sống hàng ngày vừa
sở, phương hướng cho hoạt động y dựng phát triển hội. Ngày nay đất
ớc ngày càng phát triển, khoa học công nghệ cũng trở nên ến bộ hơn,
song song với đó ý thức vkhái niệm vật chất ngày càng trở nên ràng. Đó
cũng chính hội để cho giới trẻ hội nhận thức nhất về tầm quan
trọng của thế giới quan khoa học hiện đại. Quá trình phát triển kinh tế - hội
trong bối cảnh hội nhập đã những động không nhỏ đến quan niệm của giới
trẻ về hôn nhân. Đlàm vấn đnày, em đã chọn đề tài “Quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức liên hệ với quan niệm
về hôn nhân của giới trhiện naylàm chủ đề nghiên cứu nhằm thể hiện rõ hơn
về mối quan hệ gia vật chất ý thức những ảnh hưởng của đến quan
nim của giới trẻ về hôn nhân..
Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và cách mạng công nghiệp
lần thứ đang đặt trước chúng ta nhiều hội không ít khó khăn thách thức,
làm mờ đi các ranh giới quốc gia, đẩy mạnh hòa nhập giữa các nền văn hóa
y dựng con người mới với tư cách công dân toàn cầu. Vì vậy, càng phải y
dựng ý thức xã hội với những đặc điểm phù hợp hơn trong điều kiện phát trin
mạnh mẽ của khoa học công nghệ và bối cảnh hiện nay.
Trong sự phát triển của mỗi nhân, ngoài các yếu tố thuận về chthể, họ
còn bị chi phối bởi quan điểm, tư tưởng, nh cảm, tâm trạng, truyền thống của
cộng đồng, tức bị chi phối bởi ý thức xã hội. Để làm rõ hơn về vấn đề đó, em
đã chọn đtài “Quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về ý thức hội vn
dụng quan điểm trong xây dựng ý thức xã hội hiện naylàm chủ đề nghiên cứu
lOMoARcPSD| 61457685
nhằm thể hiện rõ hơn vai trò của ý thức xã hội và những ảnh hưởng của nó đến
công cuộcy dựng xã hội mới phù hợp với xu hướng của Việt Nam hiện nay.
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: LÝ LUN CHUNG VỀ Ý THỨC XÃ HỘI VÀ MỐI
QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA Ý THỨC VỚI TỒN TẠI XÃ HỘI
1. Lý luận chung về ý thức xã hội.
Đời sống xã hội có hai lĩnh vực quan trọng là lĩnh vực vật chất và lĩnh vực
nh thần, đó cũng chính hai lĩnh vực tồn tại hội và ý thức xã hội. Vì vậy, cùng
với việc phân ch các quy luật của sự phát triển xã hội, các quan hệ kinh tế và
các quan hệ chính trị - xã hội thì không thể không chú trọng đến mt quan trng
khác của đời sống hội là ý thức xã hội. Trong triết học Mác - Lênin khái niệm ý
thức xã hội gắn liền với khái niệm tn tại xã hội.
1.1. Khái niệm.
Khái niệm ý thức xã hội dùng để ch phương diện sinh hoạt tỉnh thần của
hội, nảy sinh từ tồn tại hội phản ánh tồn tại hội trong những giai đon
phát triển nhất định. Ý thức hội bao gồm toàn bộ tưởng, quan điểm lý luận
những tâm tư, nh cảm, phong tục tập quán của một cộng đồng. Ý thức
hội là một phần của đời sống, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội, là cái gương phản ánh tồn tại xã hi.
Tồn tại xã hội toàn bộ sinh hoạt vật chất những điều kiện sinh hoạt
vật chất của xã hội. Tn tại xã hội của con người là thực tại xã hội khách quan, là
một kiểu vật chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được ý thức xã hội phản
ánh. Trong các quan hệ xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa con người với giới tự
nhiên và quan hệ giữa con người vi con người là những quan hệ cơ bản nht.
1.2. Kết cấu của ý thức xã hội.
Ý thức hội bao gồm tâm hội htưởng hội. Trong hệ
ởng hội thì quan trọng nhất các quan điểm, các học thuyết và các
ởng. Trong tâm lý xã hội có nh cảm, tâm trạng, truyền thống...nảy sinh từ tồn
tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội những giai đoạn phát triển nhất định. Ý
thức hội phản ánh tồn tại hội, đó học thuyết của Mác”. Tuy nhiên, đây
không phải là sự phản ánh thụ động, bất động, trong gương mà là một quá trình
biện chứng phức tạp, kết quả của mối quan hệ hoạt động, ch cực của con
người đối với hiện thực.
lOMoARcPSD| 61457685
Ý thức hội mặc mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với ý thức
nhân, cùng phản ánh tồn tại hội, song giữa ý thức hội ý thức cá nhân vẫn
có sự khác nhau tương đối vì chúng ở hai trình độ khác nhau.
Ý thức nhân chính thế giới nh thần của các nhân riêng lcụ
thể. Ý thức của các nhân khác nhau được quy định bởi những đặc điểm của
cuộc sống riêng, của việc giáo dục và điều kiện hình thành nhân cách riêng ca
cá nhân. Dù ít dù nhiều, ý thức của các cá nhân khác nhau đều phản ánh tồn tại
hội các mức độ khác nhau, song không phải bao giờ cũng đại diện cho
quan điểm chung, phbiến của một cộng đồng người, của một tập đoàn xã hội
hay của một thời đại xã hội nhất định nào đó.
Ý thức xã hội thông thường hay ý thức thường ngày những tri thức,
những quan niệm của con người hình thành một cách trực ếp trong các hoạt
động trực ếp hằng ngày nhưng chưa đưc hệ thống hóa, chưa được tổng hợp
khái quát hóa.
Ý thức luận hay ý thức khoa học những tưởng, những quan đim
được tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa thành các học thuyết xã hội dưới
dạng các khái niệm, các phạm trù, các quy luật.
Ý thức xã hội thông thường phản ánh một cách sinh động và trực ếp các
mặt khác nhau của cuộc sống hằng ngày của con người. Ý thức hội thông
thường tuy trình độ thấp hơn ý thức luận nhưng lại phong phú hơn ý thức
luận. Chính những tri thức kinh nghiệm phong pcủa ý thức thông thường
là chất liệu, là cơ sở và ền đề quan trng cho sự hình thành ý thức lý luận.
Ý thức luận hay ý thức khoa học khả năng phản ánh hiện thực
khách quan một cách sâu sắc, chính xác, bao quát vạch ra được những mối
liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu mang nh quy luật của các sự vật và các
quá trình xã hội. Đồng thời, ý thức khoa học khả năng phản ánh vượt trước
hiện thực.
Tâm lý xã hội là ý thức xã hội thể hiện trong ý thức cá nhân. Tâm lý xã hội
bao gồm toàn bộ tư tưởng, nh cảm, tâm trạng, thói quen, nếp sống, nếp nghĩ,
phong tục, tập quán, ước muốn...của một người, một tập đoàn người, một bộ
phận xã hội hay của toàn thể xã hội hình thành dưới tác động trực ếp của cuc
sống hằng ny của họ và phản ánh cuộc sống đó.
Tâm hội cũng phản ánh một cách trực ếp tự phát những điều kiện
sinh hoạt hằng ngày của con người cho nên chỉ ghi lại những dễ thấy, những
lOMoARcPSD| 61457685
nằm trên bề mặt của tồn tại hội. Do vậy, khác với ý thức luận, tâm xã
hội chưa đủ khnăng để vạch ra những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất
yếu mang nh quy luật của các sự vật và các quá trình xã hội. Mặc vậy, cần
coi trọng vai trò của tâmxã hội trong việc phát triển ý thức xã hội, nhất việc
sớm nắm bắt những dư luận xã hội thể hiện trạng thái tâm lý và nhu cầu xã hội
đa dạng của nhân dân trong những hoàn cảnh và điều kiện khác
nhau.
Hệ tư tưởng là giai đoạn phát triển cao hơn của ý thức xã hội, là snhn
thức luận về tn tại xã hội. Hệ tưởng khả năng đi sâu vào bản chất của
mọi mối quan hệ hội; kết quả của stổng kết, sự khái quát hóa các kinh
nghiệm xã hội đhình thành nên những quan điểm, những tưởng về chính
trị, pháp luật, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo...
Tâm hội hệ ởng thuộc hai trình đkhác nhau của ý thức xã
hội nhưng chúng có mối liên hệ qua lại và tác động qua lại lẫn nhau. Nếu tâm lý
hội thể thúc đẩy hoặc cản trở sự hình thành sếp nhận một hệ
ởng nào đó; có thể giảm bớt sự xơ cứng hoặc công thức cứng nhắc của hệ tư
ởng, thì trái lại, hệ tư tưởng khoa học có thể bổ sung, làm gia tăng hàm lượng
trí tuệ cho tâm xã hội, góp phần thúc đẩy tâm xã hội phát triển theo chiều
ớng ch cực.
1.3. Tính giai cấp của ý thức xã hội.
Tính giai cấp của ý thức hội biểu hiện cả tâm hội lẫn hệ
ởng. Nếu trình độ tâm hội mỗi giai cấp hội đều nh cảm, tâm
trạng, thói quen, thiện cảm hay ác cảm riêng thì ở trình độ hệ tư tưởng nh giai
cấp thể hiện rệt sâu sắc hơn nhiều. Ở trình độ này sự đối lập giữa các hệ tư
ởng của những giai cấp khác nhau thường là không dung hòa
nhau.
Và khi đó, hệ ởng thống trị trong xã hội hệ tưởng của giai cấp
thống trị. Vđiều này C. Mác và Ph. Ăngghen viết: Trong mọi thời đại, những
ởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai
cấp nào lực lượng vật chất thống trị trong hội thì cũng lực lượng nh thần
thống trị trong hội. Giai cấp nào chi phối những liệu sản xuất vật chất thì
cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất nh thần”.
lOMoARcPSD| 61457685
Hệ tưởng của giai cấp thống trị trong các xã hội giai cấp đối kháng
bao giờ cũng bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, của chế độ người bóc
lột người. Trái lại, hệ tưởng của giai cấp bị trbao giờ cũng bảo vệ quyền lợi
của những người bị bóc lột, của đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức nhằm
lật đổ chế độ người bóc lột người đó.
Tuy nhiên, khi khẳng định nh giai cấp của ý thức hội thì quan niệm duy
vật về lịch sử cũng cho rằng, ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động
qua lại với nhau. Không chỉ giai cấp bị thống trị chu ảnh hưởng tưởng của giai
cấp thống trị mà giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp b
thống trị. Điều này thường xảy ra trong giai đoạn phong trào cách mạng của giai
cấp bị thống trị lên cao. Khi đó những người ến bộ trong giai cấp thống trị, nhất
những trí thức, sẽ từ bỏ giai cấp xuất thân đchuyển sang hàng ngũ của giai
cấp cách mạng. Lịch sử cho thấy, không ít những người trong số trí thức đó đã
trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.
1.4. Các hình thái của ý thức xã hội.
Ý thức chính trị
phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, hội giữa các giai cấp, các
dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp dối với quyền lực nhà
ớc. Ý thức chính trị thực ễn thông thưởng hình thành từ trực ếp từ các hoạt
động thực ễn trong môi trưởng chính trị của xã hội. Ở trạng thái tâm lý xã hội,
những cảm xúc tâm trạng về chính trị của quần chúng cảm xúc tâm trạng
về chính trị của quần chúng thưởng thiếu bền vùng không ổn định. Những
trạng thái tâm lí xã hội như vậy lại đóng vai trò to lớn và trực ếp đối với hành vi
chính trị của quần chúng đông đảo.
Thông qua đó hệ tư tưởng chính trị tác động vào đời sống chính trị của
hội. Htưởng của một giai cấp chính trị nhất định phản ánh trực ếp tập trung
lợi ích giai cấp của giai cấp ấy. Ý thức chính trị được thể hiện trong đường lối,
cương lĩnh chính trcủa các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như
trong luật pháp chính sách nhà nước - công cụ của giai cấp thống trị, hệ tưởng
chính trị được hình thành một cách tự
giác.
Vì lợi ích của giai cấp của mình, ý thức chính trị đặc biệt hệ tưởng
chính trị có vai trò rất quan trọng đối với sphát triển xã hội. Thông qua tổ chc
nhà nước tác động trở lại cơ sở kinh tế thể trong những giới hạn nhất
lOMoARcPSD| 61457685
định làm thay đổi sở kinh tế. Hệ tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống nh thần của hội, thâm nhập vào các hình thái ý thức hội
khác, tác động ch cực hoặc êu cực của hệ tư tưởng chính trị cũng như ý thức
chính trị nói chung phụ thuộc vào nh ến bộ, cách mạng hoặc phản ến bộ,
phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó.
Khi giai cấp đó ến bộ, cách mạng êu biểu làm cho xu thế phát triển đi
lên của lịch sử thi hệ tư tưởng chính trị của nó có tác động ch cực đến sự phát
triển xã hội. Khi giai cấp đỏ trthành lạc hậu, phản cách động thi hệ tưởng
chính trị của nó có tác động êu cực, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Ý thức pháp quyền
Cũng như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước.
Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung và hình thức. Ý thức pháp
quyền phản ảnh trực ếp các quan hệ kinh tế của hội, trước hết các quan
hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật. Pháp luật ý chí của giai
cấp thống trị được thể hiện thành luật lệ do đó Pháp luật ý chỉ của giai cấp
thống trị được thể hiện thành luật lệ, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ
có một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có
các giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại những ý thức khác nhau về
pháp luật, phản ảnh lợi ích của giai cấp minh. Do đó, hiệu lực của pháp luật không
những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà còn phụ thuộc vào
trình độ hiu biết và tâm lí pháp luật của xã hội. Ý thức khoa học
Ý thức khoa học với nh chất là một hình thái xã hội là hệ thống phản ánh
tri thức chân thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm
thông qua thực ễn. Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh
vực của tự nhiên, xã hội và tư duy trong khi các hình thái ý thức xã hội khác chi
phản ánh một mặt một khía cạnh nào đó của đời sống xã hội mà thôi. Đó là mt
trong những điểm khác biệt của ý thức khoa học với các hình thái ý thức xã hội
khác.
Khoa học có thể tồn tại dưới dạng hệ thống lý luận chung nhất hoặc dưới
dạng cụ th là các trị thức chuyên ngành. Hình thức biểu hiện chủ yếu của ý thức
khoa học là các phạm trù, định luật, quy luật và là ngôn ngữ chuyên môn hóa, là
công cụ của tư duy khoa học.
Tri thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức hội khác, hình
thành các khoa học tương ứng từng hình thái ý thức đó. Nhờ tri thức khoa học
lOMoARcPSD| 61457685
mà con người không ngừng vươn tới cái mới để tạo ra một thế gii mới và ngày
càng thể hiện vị thế làm chủ tự nhiên, làm chủ hội m chủ bản thân
mình.
Nguồn gốc sâu xa của khoa học do nhu cầu phát triển sản xuất. Cùng với
sự phát triển của sản xuất và thực ễn xã hội, khoa học cũng không ngừng phát
triển. Trong qtrình đó, vai trò của khoa học trong đời sống hội ny cảng
tăng lên. Ngày nay, trong stự động hóa sản xuất, tri thức khoa học được kết
nh trong mọi nhân tố của lực lượng sản xuất - trong đối tượng lao động, kỹ
thuật, quá trình công nghệ và cả trong những hình thức tổ chức tương ứng của
sản xuất; người lao động không còn là nhân t thao tác trực ếp trong hệ thống
kỹ thuật chủ yếu vận dụng tri thức khoa học để điều khiển quá trình sn
xuất; khoa học cho phép hoàn thiện các phương pháp sản xuất, hoàn thiện việc
quản kinh tế. Do những biến đổi căn bản vvai trò của khoa học đối với sản
xuất mà khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực ếp.
Ý thức thẩm m
Đối với phần ý thức thẩm mĩ, thì đây là sự phản ánh hiện thực vào ý thức
con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức sáng tạo cái Dẹp. Trong các
hoạt động thưởng thức và sáng tạo cái đẹp nghệ thuật là biểu hiện cao nhất ca
ý thức thẩm mĩ.
Ý thức thẩm mĩ bắt nguồn từ tồn tại xã hội. Khác với khoa học và triết học
phản ánh thế giới bằng khái niệm, phạm trù, quy luật; nghệ thuật phản ảnh thế
giới phản ảnh thế gii một cách sinh động cụ thể, bằng những hình tượng nghệ
thuật. Hình tượng nghệ thuật tuy phản ánh cái bản chất của đời sống hiện thực
nhưng phản ảnh thông qua cái cả biệt, cụ thể - cảm nh, sinh động. Hình tượng
nghệ thuật cũng nhận thức cái chung trong cái riêng, cái bản chất trong cái hiện
ợng, nhận thức cải phổ biến trong cái cả biệt. Song cái biệt trong nghệ thuật
phải cái điển hình. Và nếu nhả nghệ thuật tạo ra cái điển hình thì phải cái
diễn hình đã được cbiệt hóa.
Sự phát triển của nghthuật về cả nội dung và hình thức không thể tách
khỏi sự phát triển của tồn tại xã hội nhưng nghệ thuật có nh độc lập tương đối
rất rõ nét trong sự phát triển của mình. Không phải bao giờ nghệ thuật cũng phản
ánh tn tại một cách trực ếp, dễ thấy. Do dó, Mác dã viết: “Đối với nghệ thuật,
người ta biết rằng những thời kỳ hưng thịnh nhất của hoàn toàn không tương
ứng với sự phát triển chung của hội, do đó cũng không tương ứng với sự phát
lOMoARcPSD| 61457685
triển của cơ sở vật chất của xã hội, cơ sở này dường như cấu thành cốt lõi của t
chức xã hội.
Trong xã hội có sphân chia giai cấp, bao ginghệ thuật cũng mang nh
giai cấp Tinh giai cấp của nghệ thuật biểu hiện trước hết chkhông thể
không chịu sự tác động của thế giới quan, các quan điểm chính trị của một giai
cấp, không thể đứng ngoài chính trị và các quan hệ kinh tế. Trong hội chia
thành các giai cấp phủ nhận mỗi liên hệ của nghệ thuật với chính trị thì hoàn
toàn sai lầm.
Khi nhấn mạnh nh giai cấp của nghệ thuật, trong xã hội có giai cấp, quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ nhận nh nhân loại chung của ,
không ít tác phẩm nghệ thuật giá trị của chúng được lưu truyền khắp thế gii
qua các thời đại mặc dù tác giả là đại biểu của một giai cp nhất định. Có những
nền nghệ thuật của một dân tộc nhất định nhưng đã trở thành những giá trị văn
hóa ểu biểu của cả nhân loại. Tính giai cấp của nghệ thuật, cách mạng ến
bộ không những không mâu thuẫn với nh nhân loại ngược lại còn làm
sâu sắc giá trị toàn nhân loại.
Ý thức tôn giáo
Nguồn gốc của tôn giáo phái m trong tồn tại hội, trong quan hệ gia
con người với tự nhiên lẫn trong các quan hệ hội của con người. Khi những
công cụ lao động và phương ện sản xuất còn kém phát triển, con người dễ cảm
thy yếu đuổi bất lực trước giới tự nhiên. Sự bất lực sợ hãi của con người
trước những sức mạnh của giới tự nhiên là một trong những nguồn gốc của tôn
giáo. Nguồn gốc của tôn giáo còn nằm trong những mối quan hệ hội. Trong
điều kiện xã hội có áp bức giai cấp và có nh tự phát còn là những đặc trưng của
sự phát triển hội. Những quy luật hội biểu hiện như những thế lực
quáng, trói buộc con người thường xuyên quyết định đến số phận của họ
khiến con người sợ hãi dó là một trong những nguồn gốc của tôn giáo.
Ý thức tôn giáo với nh cách hình thái hội gồm cỏ tâm lí tôn giáo
hệ tưởng tôn giáo. Tâm tôn giáo toàn bộ những biểu tượng, nh cảm,
tâm trạng thói quen của quần chúng về n ngưỡng tôn giáo. Hệ tưởng tôn
giáo là hthống giáo lý do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo ra truyền trong
hội. Dung về mặt lịch sử, tâm li tôn giáo hệ tưởng tôn giáo hai giai
đoạn phát triển của ý thức tôn giáo nhưng chúng liên htác động qua lại và bổ
lOMoARcPSD| 61457685
sung nhau. Tâm tôn giáo dem lại cho hệ ởng tôn giáo một nh chất đặc
trưng, một sắc thái nh cảm riêng.
Nếu như ý thức tôn giáo hướng con người vào thế giới những ảo tưởng,
siêu tự nhiên thì trái lại, ý thức khoa học lại mang một nhiệm vụ cao cả là hưởng
con người việc biến đổi hiện thực, cải tạo thế giới để để phc vnhu cầu cuộc
sống ngảy nhiều mt ngày cảng tốt hơn, cao hơn của con người.
Ý thức triết học
Đây là loại ý thức đặc biệt cao nhất của tri thức cũng như của các ý thức
xã hội. Triết học nhất Triết học Mác-Lênin cung cấp cho con người tri thức về
thế giới nmột chỉnh thể thông qua việc tổng kết toàn bộ lịch sử phát triển của
khoa học và chính bản thân triết học. Khi đánh giá mối liên hệ của nh thần với
triết học, Hêghen khẳng định: “Xét từ góc độ nh thẩn, chúng ta có thể gọi Triết
học là cái cần thiết nhất." Với Mác thì “mọi triết học chân chính đều là nh hoa
về mặt nh thần của thời đại minh” nên nhất định sẽ thời triết học,
không chỉ về bên trong, theo nội dung của nó về cả bên ngoài, theo sự biu
hiện của nó, sếp xúc tác động qua lại với thế giới hiện thực của thời đại
mình.
Với cách một hinh thái ý thức hội, triết học nói chung nhất
triết học duy vật biện chứng nói riêng, smệnh trở thành thế giới quan, mà
sở và hạt nhân của thế giới quan đó tri thức. Chính thế giới quan đó giúp
con người trlời cho các câu hỏi được nhân loại từ xưa tới nay thường xuyên
đặt ra cho mình.
Như vậy, thế giới quan triết học bao hảm trong cả nhân sinh quan.
Trong thời đại hiện nay, thế giới quan khoa học chân chính nhất là thế giới quan
triết học duy vật biện chứng. Triết học duy vật biện chứng vai trò to lớn để
nhận thức đúng đắn ý nghĩa và vai trò của các hình thái ý thức hội khác; để
xác định dùng dẫn vị trí của những hình thái y trong cuộc sống và trong xã hội
để nhận thức nh quy luật cùng những đặc điểm và sự phát triển của chúng.
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội.
Sở dĩ nó có biểu hiện đó là do nguyên nhân sau:
Sự biến đổi của tồn tại xã hội thường được diễn ra với tc độ nhanh mà ý
thức xã hội không thể phản ánh kịp và trở nên lạc hậu hơn. Hơn nữa, ý thức xã
lOMoARcPSD| 61457685
hội lại cái phản ánh cho sự tồn tại xã hội nên chỉ biến đổi sau khi sbiến
đổi của tn tại xã hội.
Do sức mạnh của thói quen, truyền thống và tập quán cũng như do nh
lạc hậu bảo thủ của một số hình thái ý thức hội. Trong hội sự phân
chia giai cấp, những giai cấp và lực lượng phản ến bộ thường sẽ lưu giữ một số
tư tưởng có lợi cho họ nhằm chống lại các lực lượng mong muốn xã hội ến bộ.
Như vậy, ý thức lạc hậu êu cực không thể mất đi một cách dễ dàng.
Vậy nên trong sự nghiệp xây dựng hội mới cần phải thường xuyên tăng cường
công tác tưởng, đấu tranh chống lại các âm mưu, hành động phá hoại từ
những lực lượng đối lập về mặt tư tưởng và kiên trì xoá bỏ những tàn dư của ý
thức cũ.
Ý thức xã hội có thợt trước sự tồn tại xã hội.
Triết học Mác Lênin đã thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định
thì tưởng của con người, nhất những tưởng khoa học ên ến thể
ợt trước cả sự phát triển của tồn tại hội, dự báo trước được tương lai và có
tác dụng t chức, chỉ đạo các hoạt động thực ễn của con người.
Sở ý thức xã hội thể ợt trước được bởi đặc điểm của tưởng
khoa học quy định. Tư tưởng khoa học thường khái quát được tồn tại xã hội đã
thể rút ra những quy luật phát triển chung cho hội. Quy luật đó không
những phản ánh đúng về quá khứ, hiện tại còn dự báo đúng của tồn tại
hội ở tương lai.
Ý thức xã hội có nh kế thừa trong sự phát triển
Lịch sử phát triển đời sống nh thần xã hội đã cho thấy rằng, những quan
điểm lý luận mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không. Mà
đưc tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại đi trước.
Trong hội có phân chia giai cấp, nh chất kế tha của ý thức xã hội luôn
gắn liền với nh chất giai cấp của nó. Những giai cấp khác nhau skế thừa những
nội dung ý thức khác nhau của các thời đại đi trước. Các giai cấp ên ến thường
sẽ kế thừa những di sản tư tưởng ến bộ của xã hội cũ đã để lại.
Do ý thức xã hội có nh kế thừa nên khi nghiên cứu một tư tưởng nào đó
thì phải dựa vào quan hệ kinh tế hiện tại và phải chú ý đến từng giai đoạn phát
triển tưởng trước đó nữa. Có như vậy mới hiểu rõ được vì sao một nước
lOMoARcPSD| 61457685
trình độ phát triển tương đối kém về kinh tế nhưng lại tưởng trình độ
cao.
Ý thức xã hội tác động trở lại sự tồn tại xã hội
Chnghĩa duy vật lịch sử không những chống đối lại quan điểm duy tâm
tuyệt đối hoá về vai trò của ý thức hội mà còn bác bỏ luôn quan điểm duy vật
tầm thường khi đã phnhận tác động ch cực của ý thức xã hội đối với tồn tại
hội.
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển hội còn phải phụ
thuộc vào từng điều kiện lịch sử cụ thể; vào nh chất của các mối quan hệ kinh
tế tưởng đã nảy sinh trên đó; vào vai trò lịch scủa các giai cấp mang
ngọn cờ tưởng vào mức độ mở rộng của những tưởng trong quần chúng.
Sự tác động của ý thức hội tới tồn tại hội được biểu hiện qua hai
chiu hướng. Nếu ý thức xã hội ến bộ thì sẽ có tác động thúc đẩy tn tại xã hội
phát triển, còn ý thức xã hội lạc hậu sẽ gây cản trở cho sự phát triển của tồn tại
hội.
Như vậy, các nguyên của chủ nghĩa duy vật lịch sử nói về nh độc lập
tương đối của ý thức xã hội đã chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý
thức xã hội. Nó đã bác bỏ quan điểm siêu hình, máy móc và tầm thường về mối
quan hệ gia tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRONG CÔNG TÁC
Y DỰNG XÃ HỘI MỚI VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI BẢN THÂN
SINH VIÊN
1. Xây dựng ý thức xã hội Việt Nam hiện nay.
Trong sự phát triển của mỗi nhân, ngoài các yếu tố thuận về chthể, họ
còn bị chi phối bởi quan điểm, tư tưởng, nh cảm, tâm trạng, truyền thống của
cộng đồng, tức bị chi phối bởi ý thức hội. Vì vy, khi ý thức hội ến bộ,
lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá nhân ngược lại.
Bởi thế, muốn y dựng hội mới, tất yếu phải xây dựng ý thức hội mới và
việc xây dựng ý thức hội mới trở thành một nhiệm vụ của công cuộc y dựng
hội mới.
Có thể hiểu ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng là toàn bộ quan
điểm, tư tưởng, nh cảm, tâm trạng... của xã hội mới mà hạt nhân là chủ nghĩa
Mác - nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Nhà nước
lOMoARcPSD| 61457685
phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội
mới. Trên thực tế, ý thức hội mới đó biểu hiện rất phong phú, đa dạng. Ngoài
hệ tư tưởng, nó còn được biểu hiện ra ở tâm trạng, nh cảm, nhu cầu và cả thói
quen, phong tục, tập quán của cộng đồng xã hội.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định: "Xã hội xã hội
chnghĩa Đảng, Nhà nước nhân dân ta y dựng là một hội dân giàu,
ớc mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá ên ến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Vit
Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng ến bộ; có Nhà nước pháp
quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản; quan hệ hữu nghvà hợp tác với các nước trên thế
giới".
Cùng với định hướng bản trong việc phát triển các lĩnh vực của đời sống
xã hội, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng ếp tục khẳng định một
số định hướng lớn trong quá trình xây dựng ý thức xã hội mới.
Thnhất, xây dựng ý thức hội mới snghiệp toàn dân, đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây tưởng bản khẳng định chủ thch cực cũng đối tượng phục
vụ chính của hội mới. Ý thức xã hội mới phản ánh lợi ích của nhân dân chính
do nhân n xây dựng. Tinh thần y được thể hiện trong các quan điểm, chủ
trương của Đảng Nhà nước, trong các chính sách cụ thcủa từng ngành, từng
địa phương. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
ớc đều có sự tham gia y dựng của nhân dân, phản ánh lợi ích của nhân dân.
Nhân dân có quyền và trách nhiệm trong việc xây dựng, hoạch định và thi hành
các chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nước; y dựng, tuyên truyền,
quảng bá, phát triển ý thức xã hội mới.
Để làm tốt vai trò lãnh đạo, Đảng phải đổi mới, tự chỉnh đốn nhằm nâng
cao năng lực, sức chiến đấu trước hết bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ
của Đảng.
Thhai, xây dựng ý thức hội mới trên sở đẩy mạnh sự nghiệp xây
dựng và phát triển nền văn hóa ên ến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn
lOMoARcPSD| 61457685
hóa thực sự trthành mục êu, động lực của phát triển, thành nền tảng nh
thn của xã hội.
Sự phát triển xã hội không chỉ đời sống vật chất, còn đời sống
nh thần. Đó hai mặt không thể thiếu và giữa chúng sự gắn bó, tác động
tương hỗ thể làm giàu, phong phú cho nhau cũng thkìm hãm nhau
trong quá trình phát triển. Bên cạnh kinh tế, văn hóa luôn đóng vai trò quyết
định trong quá trình phát triển sự trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc. Quan
điểm y dựng phát triển nền văn hóa ên ến, đậm đà bản sắc dân tộc đã
được Đảng ta đề cập đến từ rất sớm, được phản ánh trong Đề cương văn hóa
Việt Nam (năm 1943), trong các văn kiện sau đó của Đảng.
hội chúng ta xây dựng hội nền văn hóa ên ến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Mốc đánh giá sự đổi mới toàn diện trong tư duy về văn hóa của
Đảng thể hin ở Nghị quyết Trung ương 5 về xây dựng phát triển nền văn hóa
Việt Nam ên ến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đảng ta đã khẳng định: “trong quá
trình xây dựng nền văn hóa mới, chúng ta không chỉ cý giữ gìn, kế thừa những
giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc, còn phải chú trọng ếp thu, kế thừa nh
hoa văn hóa của nhân loại”.
Thba, y dựng ý thức hội mới gắn với việc tăng ờng học tập luận,
tuyên truyền, giáo dục, vận dụng sáng tạo phát triển chủ nghĩa Mác - nin,
tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng trở thành nền tảng và kim
chỉ nam cho nhận thức, hành động của toàn Đảng và nhân dân.
Bài học đầu ên từ 5 bài học mà Đảng ta đã rút ra sau 20 năm đổi mới là:
Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục êu độc lập dân tộc chủ nghĩa
hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ CMinh”. Đây không
phải mới, bởi nh thần y đã được Đảng ta Chủ tịch HChí Minh đặt ra
ngay từ những ngày đầu cách mạng. Năm 1939, khi đưa ra quan điểm của mình
về đưng lối của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Phải t chức học tập để hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình
độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên”.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi vào giai đoạn quyết định,
trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Người đã khẳng
định: “Học tp chnghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, tchc - là những
việc cần thiết của Đảng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, trong Diễn văn
khai mạc, một lần nữa, Người khẳng định: “Chúng ta phải ra sức học tập chủ
lOMoARcPSD| 61457685
nghĩa Mác - Lênin, tăng cường giáo dục tưởng trong Đảng. Vấn đề y ếp
tục được Đảng ta khẳng định qua các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt, trong giai đon
hiện nay, nó được coi một nội dung quan trng trong công tác y dựng Đảng.
Bởi lẽ, để givững vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững định hướng hội
chnghĩa, bên cạnh yêu cầu về năng lực, trình độ chuyên môn, đạo đức cách
mạng, đảng viên còn phải phẩm chất chính trtốt, kiên định lập trường độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội... Do vậy, xây dựng ý thức xã hội mới cần ếp tục
tăng cường hoạt động luận, nghiên cứu sâu rộng có những bổ sung về
luận để làm phong pkho tàng tri thức của chủ nghĩa Mác - Lênin trong nh
hình mi.
Thtư, y dựng ý thức xã hội mới cần ý thức sâu sắc sự kết hợp chặt chẽ
giữa việc “xây” và “chống.
Ý thức xã hội mới là cốt lõi trong đời sống nh thần xã hội mới; nó không
hình thành một cách tự phát trong ng hội cũ; cần được chủ động
nhận thức, y dựng, truyền thành ý thức chung của con người trong xã hội
mới, thành động lực nh thần của con người trong quá trình xây dựng hội
mới. Vì vậy, cần y dựng ý thức hội mới đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Cùng với việc y dựng, bồi dưỡng ý thức
hội mới, cần chống những biểu hiện cản trở sự nghiệp xây dựng đó.
Vhệ tưởng, đó việc tập trung khắc phục nh trạng suy thoái về
ởng chính trtrong một bộ phận cán bộ, đảng viên tại Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ chính khóa IX, Đảng ta đã nhấn mạnh: Thường xuyên chỉ
đạo uốn nn những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư
ởng, suy giảm niềm n vào chủ nghĩa hội sự lãnh đạo của Đảng, đấu
tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa nhân, những biểu hiện hội,
thực dụng, phái, cục bộ, phê phán bác bỏ các quan điểm sai trái thù địch, chủ
động đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực lợi dụng vấn đề tôn giáo,
dân tộc và nhân quyền chống phá cách mạng nước ta”. Không dừng ở gốc độ hệ
tư tưởng trong tâm lý xã hội cũng cần có những biểu hiện phải khắc phục.
Hiện nay, chúng ta cần khắc phục những biểu hiện tâm lý vốn được coi
hậu quả của nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp - tâm thụ động, trông
ch, ỷ lại, xin cho, đối phó; khắc phục tâm lý của nền kinh tế ểu nông, sản xuất
nhlâu dài của lịch sử và hiện nay vẫn còn tồn tại tâm lạc hậu, kinh nghiệm
chủ nghĩa, tùy ện, đố kỵ, coi thường pháp luật và cả những tâm lý vốn khá phổ
lOMoARcPSD| 61457685
biến những nước chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, như tâm trọng nam
khinh nữ, tâm gia trưởng... Đặc biệt, trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản ,
những tâm y còn nhiều biểu hiện, biến tướng y hậu quả nặng nề,
biến họ thành những kẻ cơ hội, cá nhân chủ nghĩa.
2. Vai trò của ý thức xã hội với bản thân.
Hiện nay, xã hội đang quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nói chung, và với
giáo dục sinh viên nói riêng. Với cương vị một sinh viên Đại học, theo em để
nâng cao chất lượng học tp cả trong và ngoài nhà trường, mỗi sinh viên cần:
Thnhất, cần thay đổi nhận thức của bản thân về vic học đại học. Cần
hiểu ro việc học đại học khác học phổ thông chlên đại học thì tự học
chính, thời gian học ở nhà phải chiếm đa số. Nhưng phần lớn sinh viên hiện nay
vẫn còn dành quá nhiều thời gian của mình để phục vụ cho việc giải trí như là:
sinh nhật, ệc tùng, đi chơi và đó là ý thức.
Thhai, triết học đã chỉ ra rằng mọi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan
trong thế giới đều mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Các môn học cũng vậy, chúng
ta có thể bắt gặp nhiều sự liên kết kiến thức giữa các môn học, lấy dụ các phạm
trù Quan hệ sản xuất, “Lực lượng sản xuất, “Phương thức sản xuất" trong môn
kinh tế - chính trị thể bắt gặp trong triết học. Chỉ ra như vậy để thấy rằng
chúng ta cần có sự liên hệ giữa các môn học với nhau, giữa các bài học với nhau
bởi hệ thống kiến thức được trình bày theo một trình tnhất định.
Thứ ba, bản thân phải xác lập được những yếu tố khách quan ảnh hưởng
đến môi trường tự nhiên vạn vật thiên nhiên sống đời thường hằng ngày, vật
chất quyết định hành động ý thức nên con người nên phải ý thức được những
vật chất của môi trường tự nhiên vạn vật thiên nhiên sống đời thường không đủ
thn để sở hữu hành vi phù phù thích hợp với thực ễn khách quan.
Thứ tư, cần nhớ một điều rất quan trọng là học trên lớp không bao giờ
đầy đủ. lẽ một thói quen đã ăn sâu trong ý nghĩ chúng ta đó phải đến
trường thì mới gọi là học còn khi ở ngoài trường thì việc học đối với chúng ta chỉ
là thứ yếu, chúng ta cần thay đổi suy nghĩ êu cực này.
Bởi như Galileo đã từng nói: Anh không thể dạy cho người khác bất cứ
điều gì, mà anh chỉ có thể giúp cho người Ủy m ra chân lý. Vì vậy giáo dục nhà
trường chỉ mang nh chất gọi mở còn tương lai của chúng ta phụ thuộc vào chính
chúng ta. Những con người thành công trong cuộc sống là những con người biết
học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người, bằng mọi cách và qua mọi nội dung.
lOMoARcPSD| 61457685
Sinh viên với ý thức cần xác định các biện pháp thực hiện tổ chức các hoạt
động thực ễn. Cuối cùng bằng snỗ lực ý trí của mình, thquyết định
làm cho mình hoạt động đúng thành công khi phản ánh đúng thế giới khách
quan, đó sở quan trọng trong việc xác định mục êu, phương hướng,
biện pháp chính xác.
Thc tế cho thấy ý thức của sinh viên thường biến đổi theo hai xu hướng:
Xu hướng ch cực: Khi đứng trước những mâu thuẫn, bằng sự thông minh,
sức sáng tạo và nghị lực, nhiều sinh viên biết tận dụng mọi cơ hội, mọi khả năng
để ợt qua những thử thách của cuộc sống sinh viên và đi từ thành công trong
học tập đến những thành công trong nghiên cứu khoa học, trong hoạt động đoàn
thể, do đó họ có thể tự n bước vào đời.
Xu hướng êu cực: Biểu hiện thái độ thơ, trách nhiệm, sự bi quan,
chán nản, trông chờ, lại hay những hành động nh cực đoan, chạy theo
lợi ích của cá nhân, cơ hội, vụ lợi, đua theo cái xấu, giả dối, gian lận trong thi cử.
Cần phải sắp xếp thời gian giữa học tập các hoạt động khác trong đó thời gian
dành cho học tập phải chiếm đa svà chúng ta cần phải tuân thủ chặt chẽ thi
gian biểu đó.
C. KẾT LUN
Việt Nam đang trên đường y dựng một nền văn hóa mới, với tưởng
mới, con người mới nhưng vẫn giữ được nét đậm đà bản sắc dân tộc. Để làm
được điều đó, chúng ta phải thường xuyên đấu tranh xóa bỏ tàn của hội
cũ, đồng thời giữ gìn, phát huy những tư tưởng, lối sống, văn hóa tốt đẹp. Bên
cạnh những giá trị tốt đẹp, vẫn còn có những mặt tối, ví dụ như tư tưởng trọng
nam kinh nữ, nhân chủ nghĩa, cục bộ địa phưng, tưởng tùy ện tự do.... Đó
là những hạn chế mà trong điều kiện hiện nay, muốn xây dựng một nền văn hóa
mới chúng ta cần phải lọc bỏ, xóa bỏ để ến bộ.
Thông qua việc nghiên cứu về ý thức xã hội, ta nhận ra được rằng, muốn
giải quyết một vấn đề, hiện tượng ý thức xã hội, ta cần nghiên cứu toàn diện về
mối quan hệ của ý thức xã hội và tồn tại hội, đồng thời ta cũng cần xem xét
đến nh độc lập của nó. Trên tất cả, một điều ta không được quên: muốn thay
đổi ý thức hội, trước hết phải thay đổi tồn tại xã hội, đặc biệt nhất trong
phương thức sản xuất.
Ngày nay sinh viên đang là lực lượng xã hội đông đảo cùng toàn dân tham
gia ch cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Họ tri thức
lOMoARcPSD| 61457685
khoa học và niềm n vững chắc vào đường lối đúng đắn của đảng, êu biểu cho
trí tuệ của dân tộc. Sinh viên sẵn sàng vào xu thế hội nhập của dân tộc ta với
cộng đồng thế giới nhằm hướng tới mục êu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Để có ngun lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa Đảng
Nhà nước cần coi trng việc đầu cho giáo dục đào tạo mét trong những
ớng chính của đầu phát triển, giáo dục và đào tạo phải thực sự trthành
quốc sách hàng đầu. Việc xây dựng nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hóa phải ến hành với tốc độ quy phù hợp, đáp ứng được yêu cầu
của mỗi thời kỳ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, Nội,
1995, Tập 23.
2. Bộ giáo dục và đào tạo,Giáo trình triết học Mác – Lênin.
3. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác Lênin, Nhà xuất bản giáokhoa Mác
Lênin, Hà Nội, 1976.
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. hps://hoikhuyenhoc.phutho.gov.vn/Chuyen-muc-n/Chi-et-n/tle/
2203/ctle/120

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61457685
BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ Ý THỨC XÃ HỘI
VÀ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC XÃ HỘI HIỆN NAY. Giáo viên :
hướng dẫn Sinh viên thực : hiện MSSV : lOMoAR cPSD| 61457685 MỤC LỤC LỜI MỞ
ĐẦU.............................................................................................. ....3 NỘI DUNG NGHIÊN
CỨU.............................................................................3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ Ý THỨC XÃ HỘI VÀ MỐI
QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA Ý THỨC VỚI TỒN TẠI XÃ
HỘI....................................3 Lý luận chung về ý thức xã
hội..........................................................................3
Khái niệm............................................................................................. ...........4 Kết cấu của ý thức xã
hội................................................................................4 Tính giai cấp của ý thức xã
hội.......................................................................6 Các hình thái của ý thức xã
hội......................................................................6 Tính độc lập tương đối của ý thức
xãhội.......................................................10
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRONG CÔNG TÁC
XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI BẢN THÂN
SINH VIÊN..................12 Xây dựng ý thức xã hội ở Việt Nam
hiệnnay.................................................12
Vai trò của ý thức xã hội với bản
thân............................................................15 KẾT
LUẬN............................................................................................. ........17 TÀI LIỆU THAM
KHẢO..............................................................................18 lOMoAR cPSD| 61457685 A. LỜI MỞ ĐẦU
Bước qua hàng ngàn năm lịch sử, con người đã tích lũy và đúc kết những
tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của loài người. Trên
cơ sở những giá trị tư tưởng đó và tổng kết thời đại, triết học Mác – Lênin được
hình thành và trở thành hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa biện chứng.
Những sai lầm, hạn chế của chủ nghĩa duy tâm, siêu hình đã được khắc phục bởi
duy vật biện chứng, để rồi từ đó ta có một cách nhìn đúng đắn hơn về hai lĩnh
vực lớn nhất của thế giới, đó chính là vật chất-ý thức và mối quan hệ giữa chúng.
Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, vật chất có trước và ý thức có sau.
Trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động trở lại vật chất
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức từ trước đến nay luôn nắm giữ vai trò
hết sức quan trọng trong thực tiễn cuộc sống. Những vấn đề triết học về mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa định hướng cho cuộc sống hàng ngày vừa là
cơ sở, phương hướng cho hoạt động xây dựng và phát triển xã hội. Ngày nay đất
nước ngày càng phát triển, khoa học và công nghệ cũng trở nên tiến bộ hơn,
song song với đó là ý thức về khái niệm vật chất ngày càng trở nên rõ ràng. Đó
cũng chính là cơ hội để cho giới trẻ có cơ hội nhận thức rõ nhất về tầm quan
trọng của thế giới quan khoa học và hiện đại. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội
trong bối cảnh hội nhập đã có những tá động không nhỏ đến quan niệm của giới
trẻ về hôn nhân. Để làm rõ vấn đề này, em đã chọn đề tài “Quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và liên hệ với quan niệm
về hôn nhân của giới trẻ hiện nay” làm chủ đề nghiên cứu nhằm thể hiện rõ hơn
về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và những ảnh hưởng của nó đến quan
niệm của giới trẻ về hôn nhân..
Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và cách mạng công nghiệp
lần thứ tư đang đặt trước chúng ta nhiều cơ hội và không ít khó khăn thách thức,
làm mờ đi các ranh giới quốc gia, đẩy mạnh hòa nhập giữa các nền văn hóa và
xây dựng con người mới với tư cách là công dân toàn cầu. Vì vậy, càng phải xây
dựng ý thức xã hội với những đặc điểm phù hợp hơn trong điều kiện phát triển
mạnh mẽ của khoa học công nghệ và bối cảnh hiện nay.
Trong sự phát triển của mỗi cá nhân, ngoài các yếu tố thuận về chủ thể, họ
còn bị chi phối bởi quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống của
cộng đồng, tức là bị chi phối bởi ý thức xã hội. Để làm rõ hơn về vấn đề đó, em
đã chọn đề tài “Quan điểm của chủ nghĩa mác – lênin về ý thức xã hội và vận
dụng quan điểm trong xây dựng ý thức xã hội hiện nay”
làm chủ đề nghiên cứu lOMoAR cPSD| 61457685
nhằm thể hiện rõ hơn vai trò của ý thức xã hội và những ảnh hưởng của nó đến
công cuộc xây dựng xã hội mới phù hợp với xu hướng của Việt Nam hiện nay.
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ Ý THỨC XÃ HỘI VÀ MỐI
QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CỦA Ý THỨC VỚI TỒN TẠI XÃ HỘI
1. Lý luận chung về ý thức xã hội.
Đời sống xã hội có hai lĩnh vực quan trọng là lĩnh vực vật chất và lĩnh vực
tinh thần, đó cũng chính là hai lĩnh vực tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Vì vậy, cùng
với việc phân tích các quy luật của sự phát triển xã hội, các quan hệ kinh tế và
các quan hệ chính trị - xã hội thì không thể không chú trọng đến mặt quan trọng
khác của đời sống xã hội là ý thức xã hội. Trong triết học Mác - Lênin khái niệm ý
thức xã hội gắn liền với khái niệm tồn tại xã hội. 1.1. Khái niệm.
Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tỉnh thần của
xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn
phát triển nhất định. Ý thức xã hội bao gồm toàn bộ tư tưởng, quan điểm lý luận
và những tâm tư, tình cảm, phong tục tập quán của một cộng đồng. Ý thức xã
hội là một phần của đời sống, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội, là cái gương phản ánh tồn tại xã hội.
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt
vật chất của xã hội. Tồn tại xã hội của con người là thực tại xã hội khách quan, là
một kiểu vật chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được ý thức xã hội phản
ánh. Trong các quan hệ xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa con người với giới tự
nhiên và quan hệ giữa con người với con người là những quan hệ cơ bản nhất.
1.2. Kết cấu của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội bao gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Trong hệ tư
tưởng xã hội thì quan trọng nhất là các quan điểm, các học thuyết và các tư
tưởng. Trong tâm lý xã hội có tình cảm, tâm trạng, truyền thống...nảy sinh từ tồn
tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội ở những giai đoạn phát triển nhất định. “Ý
thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, đó là học thuyết của Mác”. Tuy nhiên, đây
không phải là sự phản ánh thụ động, bất động, trong gương mà là một quá trình
biện chứng phức tạp, là kết quả của mối quan hệ hoạt động, tích cực của con
người đối với hiện thực. lOMoAR cPSD| 61457685
Ý thức xã hội mặc dù có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với ý thức cá
nhân, cùng phản ánh tồn tại xã hội, song giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân vẫn
có sự khác nhau tương đối vì chúng ở hai trình độ khác nhau.
Ý thức cá nhân chính là thế giới tinh thần của các cá nhân riêng lẻ và cụ
thể. Ý thức của các cá nhân khác nhau được quy định bởi những đặc điểm của
cuộc sống riêng, của việc giáo dục và điều kiện hình thành nhân cách riêng của
cá nhân. Dù ít dù nhiều, ý thức của các cá nhân khác nhau đều phản ánh tồn tại
xã hội ở các mức độ khác nhau, song không phải bao giờ nó cũng đại diện cho
quan điểm chung, phổ biến của một cộng đồng người, của một tập đoàn xã hội
hay của một thời đại xã hội nhất định nào đó.
Ý thức xã hội thông thường hay ý thức thường ngày là những tri thức,
những quan niệm của con người hình thành một cách trực tiếp trong các hoạt
động trực tiếp hằng ngày nhưng chưa được hệ thống hóa, chưa được tổng hợp và khái quát hóa.
Ý thức lý luận hay ý thức khoa học là những tư tưởng, những quan điểm
được tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa thành các học thuyết xã hội dưới
dạng các khái niệm, các phạm trù, các quy luật.
Ý thức xã hội thông thường phản ánh một cách sinh động và trực tiếp các
mặt khác nhau của cuộc sống hằng ngày của con người. Ý thức xã hội thông
thường tuy ở trình độ thấp hơn ý thức lý luận nhưng lại phong phú hơn ý thức
lý luận. Chính những tri thức kinh nghiệm phong phú của ý thức thông thường
là chất liệu, là cơ sở và tiền đề quan trọng cho sự hình thành ý thức lý luận.
Ý thức lý luận hay là ý thức khoa học có khả năng phản ánh hiện thực
khách quan một cách sâu sắc, chính xác, bao quát và vạch ra được những mối
liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu mang tính quy luật của các sự vật và các
quá trình xã hội. Đồng thời, ý thức khoa học có khả năng phản ánh vượt trước hiện thực.
Tâm lý xã hội là ý thức xã hội thể hiện trong ý thức cá nhân. Tâm lý xã hội
bao gồm toàn bộ tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, thói quen, nếp sống, nếp nghĩ,
phong tục, tập quán, ước muốn...của một người, một tập đoàn người, một bộ
phận xã hội hay của toàn thể xã hội hình thành dưới tác động trực tiếp của cuộc
sống hằng ngày của họ và phản ánh cuộc sống đó.
Tâm lý xã hội cũng phản ánh một cách trực tiếp và tự phát những điều kiện
sinh hoạt hằng ngày của con người cho nên chỉ ghi lại những gì dễ thấy, những lOMoAR cPSD| 61457685
gì nằm trên bề mặt của tồn tại xã hội. Do vậy, khác với ý thức lý luận, tâm lý xã
hội chưa đủ khả năng để vạch ra những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất
yếu mang tính quy luật của các sự vật và các quá trình xã hội. Mặc dù vậy, cần
coi trọng vai trò của tâm lý xã hội trong việc phát triển ý thức xã hội, nhất là việc
sớm nắm bắt những dư luận xã hội thể hiện trạng thái tâm lý và nhu cầu xã hội
đa dạng của nhân dân trong những hoàn cảnh và điều kiện khác nhau.
Hệ tư tưởng là giai đoạn phát triển cao hơn của ý thức xã hội, là sự nhận
thức lý luận về tồn tại xã hội. Hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất của
mọi mối quan hệ xã hội; là kết quả của sự tổng kết, sự khái quát hóa các kinh
nghiệm xã hội để hình thành nên những quan điểm, những tư tưởng về chính
trị, pháp luật, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo...
Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng thuộc hai trình độ khác nhau của ý thức xã
hội nhưng chúng có mối liên hệ qua lại và tác động qua lại lẫn nhau. Nếu tâm lý
xã hội có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự hình thành và sự tiếp nhận một hệ tư
tưởng nào đó; có thể giảm bớt sự xơ cứng hoặc công thức cứng nhắc của hệ tư
tưởng, thì trái lại, hệ tư tưởng khoa học có thể bổ sung, làm gia tăng hàm lượng
trí tuệ cho tâm lý xã hội, góp phần thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng tích cực.
1.3. Tính giai cấp của ý thức xã hội.
Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện cả ở tâm lý xã hội lẫn ở hệ tư
tưởng. Nếu ở trình độ tâm lý xã hội mỗi giai cấp xã hội đều có tình cảm, tâm
trạng, thói quen, thiện cảm hay ác cảm riêng thì ở trình độ hệ tư tưởng tính giai
cấp thể hiện rõ rệt và sâu sắc hơn nhiều. Ở trình độ này sự đối lập giữa các hệ tư
tưởng của những giai cấp khác nhau thường là không dung hòa nhau.
Và khi đó, hệ tư tưởng thống trị trong xã hội là hệ tư tưởng của giai cấp
thống trị. Về điều này C. Mác và Ph. Ăngghen viết: “Trong mọi thời đại, những tư
tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai
cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần
thống trị trong xã hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì
cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần”. lOMoAR cPSD| 61457685
Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trong các xã hội có giai cấp đối kháng
bao giờ cũng bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, của chế độ người bóc
lột người. Trái lại, hệ tư tưởng của giai cấp bị trị bao giờ cũng bảo vệ quyền lợi
của những người bị bóc lột, của đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức nhằm
lật đổ chế độ người bóc lột người đó.
Tuy nhiên, khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội thì quan niệm duy
vật về lịch sử cũng cho rằng, ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động
qua lại với nhau. Không chỉ giai cấp bị thống trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai
cấp thống trị mà giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị
thống trị. Điều này thường xảy ra trong giai đoạn phong trào cách mạng của giai
cấp bị thống trị lên cao. Khi đó những người tiến bộ trong giai cấp thống trị, nhất
là những trí thức, sẽ từ bỏ giai cấp xuất thân để chuyển sang hàng ngũ của giai
cấp cách mạng. Lịch sử cho thấy, không ít những người trong số trí thức đó đã
trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.
1.4. Các hình thái của ý thức xã hội.
Ý thức chính trị
Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các
dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp dối với quyền lực nhà
nước. Ý thức chính trị thực tiễn thông thưởng hình thành từ trực tiếp từ các hoạt
động thực tiễn trong môi trưởng chính trị của xã hội. Ở trạng thái tâm lý xã hội,
những cảm xúc và tâm trạng về chính trị của quần chúng cảm xúc và tâm trạng
về chính trị của quần chúng thưởng thiếu bền vùng và không ổn định. Những
trạng thái tâm lí xã hội như vậy lại đóng vai trò to lớn và trực tiếp đối với hành vi
chính trị của quần chúng đông đảo.
Thông qua đó hệ tư tưởng chính trị tác động vào đời sống chính trị của xã
hội. Hệ tư tưởng của một giai cấp chính trị nhất định phản ánh trực tiếp tập trung
lợi ích giai cấp của giai cấp ấy. Ý thức chính trị được thể hiện trong đường lối,
cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như
trong luật pháp chính sách nhà nước - công cụ của giai cấp thống trị, hệ tư tưởng
chính trị được hình thành một cách tự giác.
Vì lợi ích của giai cấp của mình, ý thức chính trị đặc biệt là hệ tư tưởng
chính trị có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Thông qua tổ chức
nhà nước nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể trong những giới hạn nhất lOMoAR cPSD| 61457685
định làm thay đổi cơ sở kinh tế. Hệ tư tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống tinh thần của xã hội, nó thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội
khác, tác động tích cực hoặc tiêu cực của hệ tư tưởng chính trị cũng như ý thức
chính trị nói chung phụ thuộc vào tinh tiến bộ, cách mạng hoặc phản tiến bộ,
phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó.
Khi giai cấp đó tiến bộ, cách mạng tiêu biểu làm cho xu thế phát triển đi
lên của lịch sử thi hệ tư tưởng chính trị của nó có tác động tích cực đến sự phát
triển xã hội. Khi giai cấp đỏ trở thành lạc hậu, phản cách động thi hệ tư tưởng
chính trị của nó có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Ý thức pháp quyền
Cũng như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước.
Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung và hình thức. Ý thức pháp
quyền phản ảnh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là các quan
hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật. Pháp luật là ý chí của giai
cấp thống trị được thể hiện thành luật lệ do đó Pháp luật là ý chỉ của giai cấp
thống trị được thể hiện thành luật lệ, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ
có một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có
các giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại có những ý thức khác nhau về
pháp luật, phản ảnh lợi ích của giai cấp minh. Do đó, hiệu lực của pháp luật không
những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà còn phụ thuộc vào
trình độ hiểu biết và tâm lí pháp luật của xã hội. Ý thức khoa học
Ý thức khoa học với tính chất là một hình thái xã hội là hệ thống phản ánh
tri thức chân thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm
thông qua thực tiễn. Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh
vực của tự nhiên, xã hội và tư duy trong khi các hình thái ý thức xã hội khác chi
phản ánh một mặt một khía cạnh nào đó của đời sống xã hội mà thôi. Đó là một
trong những điểm khác biệt của ý thức khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác.
Khoa học có thể tồn tại dưới dạng hệ thống lý luận chung nhất hoặc dưới
dạng cụ thể là các trị thức chuyên ngành. Hình thức biểu hiện chủ yếu của ý thức
khoa học là các phạm trù, định luật, quy luật và là ngôn ngữ chuyên môn hóa, là
công cụ của tư duy khoa học.
Tri thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác, hình
thành các khoa học tương ứng từng hình thái ý thức đó. Nhờ tri thức khoa học lOMoAR cPSD| 61457685
mà con người không ngừng vươn tới cái mới để tạo ra một thế giới mới và ngày
càng thể hiện rõ vị thế làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.
Nguồn gốc sâu xa của khoa học là do nhu cầu phát triển sản xuất. Cùng với
sự phát triển của sản xuất và thực tiễn xã hội, khoa học cũng không ngừng phát
triển. Trong quá trình đó, vai trò của khoa học trong đời sống xã hội ngày cảng
tăng lên. Ngày nay, trong sự tự động hóa sản xuất, tri thức khoa học được kết
tinh trong mọi nhân tố của lực lượng sản xuất - trong đối tượng lao động, kỹ
thuật, quá trình công nghệ và cả trong những hình thức tổ chức tương ứng của
sản xuất; người lao động không còn là nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống
kỹ thuật mà chủ yếu là vận dụng tri thức khoa học để điều khiển quá trình sản
xuất; khoa học cho phép hoàn thiện các phương pháp sản xuất, hoàn thiện việc
quản lý kinh tế. Do những biến đổi căn bản về vai trò của khoa học đối với sản
xuất mà khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Ý thức thẩm mỹ
Đối với phần ý thức thẩm mĩ, thì đây là sự phản ánh hiện thực vào ý thức
con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức và sáng tạo cái Dẹp. Trong các
hoạt động thưởng thức và sáng tạo cái đẹp nghệ thuật là biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mĩ.
Ý thức thẩm mĩ bắt nguồn từ tồn tại xã hội. Khác với khoa học và triết học
– phản ánh thế giới bằng khái niệm, phạm trù, quy luật; nghệ thuật phản ảnh thế
giới phản ảnh thế giới một cách sinh động cụ thể, bằng những hình tượng nghệ
thuật. Hình tượng nghệ thuật tuy phản ánh cái bản chất của đời sống hiện thực
nhưng phản ảnh thông qua cái cả biệt, cụ thể - cảm tính, sinh động. Hình tượng
nghệ thuật cũng nhận thức cái chung trong cái riêng, cái bản chất trong cái hiện
tượng, nhận thức cải phổ biến trong cái cả biệt. Song cái cá biệt trong nghệ thuật
phải là cái điển hình. Và nếu nhả nghệ thuật tạo ra cái điển hình thì phải là cái
diễn hình đã được cả biệt hóa.
Sự phát triển của nghệ thuật về cả nội dung và hình thức không thể tách
khỏi sự phát triển của tồn tại xã hội nhưng nghệ thuật có tính độc lập tương đối
rất rõ nét trong sự phát triển của mình. Không phải bao giờ nghệ thuật cũng phản
ánh tồn tại một cách trực tiếp, dễ thấy. Do dó, Mác dã viết: “Đối với nghệ thuật,
người ta biết rằng những thời kỳ hưng thịnh nhất của nó hoàn toàn không tương
ứng với sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tương ứng với sự phát lOMoAR cPSD| 61457685
triển của cơ sở vật chất của xã hội, cơ sở này dường như cấu thành cốt lõi của tổ chức xã hội.
Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, bao giờ nghệ thuật cũng mang tính
giai cấp Tinh giai cấp của nghệ thuật biểu hiện trước hết ở chỗ nó không thể
không chịu sự tác động của thế giới quan, các quan điểm chính trị của một giai
cấp, không thể đứng ngoài chính trị và các quan hệ kinh tế. Trong xã hội chia
thành các giai cấp mà phủ nhận mỗi liên hệ của nghệ thuật với chính trị thì hoàn toàn sai lầm.
Khi nhấn mạnh tính giai cấp của nghệ thuật, trong xã hội có giai cấp, quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin không phủ nhận tính nhân loại chung của nó,
không ít tác phẩm nghệ thuật mà giá trị của chúng được lưu truyền khắp thế giới
qua các thời đại mặc dù tác giả là đại biểu của một giai cấp nhất định. Có những
nền nghệ thuật của một dân tộc nhất định nhưng đã trở thành những giá trị văn
hóa tiểu biểu của cả nhân loại. Tính giai cấp của nghệ thuật, cách mạng và tiến
bộ không những không mâu thuẫn với tính nhân loại mà ngược lại còn làm rõ
sâu sắc giá trị toàn nhân loại.
Ý thức tôn giáo
Nguồn gốc của tôn giáo phái tim trong tồn tại xã hội, trong quan hệ giữa
con người với tự nhiên lẫn trong các quan hệ xã hội của con người. Khi những
công cụ lao động và phương tiện sản xuất còn kém phát triển, con người dễ cảm
thấy yếu đuổi bất lực trước giới tự nhiên. Sự bất lực và sợ hãi của con người
trước những sức mạnh của giới tự nhiên là một trong những nguồn gốc của tôn
giáo. Nguồn gốc của tôn giáo còn nằm trong những mối quan hệ xã hội. Trong
điều kiện xã hội có áp bức giai cấp và có tinh tự phát còn là những đặc trưng của
sự phát triển xã hội. Những quy luật xã hội biểu hiện như những thế lực mù
quáng, trói buộc con người và thường xuyên quyết định đến số phận của họ
khiến con người sợ hãi dó là một trong những nguồn gốc của tôn giáo.
Ý thức tôn giáo với tính cách là hình thái xã hội gồm cỏ tâm lí tôn giáo và
hệ tư tưởng tôn giáo. Tâm lý tôn giáo là toàn bộ những biểu tượng, tình cảm,
tâm trạng thói quen của quần chúng về tín ngưỡng tôn giáo. Hệ tư tưởng tôn
giáo là hệ thống giáo lý do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo ra và truyền bá trong
xã hội. Dung về mặt lịch sử, tâm li tôn giáo và hệ tư tưởng tôn giáo là hai giai
đoạn phát triển của ý thức tôn giáo nhưng chúng liên hệ tác động qua lại và bổ lOMoAR cPSD| 61457685
sung nhau. Tâm lí tôn giáo dem lại cho hệ tư tưởng tôn giáo một tính chất đặc
trưng, một sắc thái tình cảm riêng.
Nếu như ý thức tôn giáo hướng con người vào thế giới những ảo tưởng,
siêu tự nhiên thì trái lại, ý thức khoa học lại mang một nhiệm vụ cao cả là hưởng
con người và việc biến đổi hiện thực, cải tạo thế giới để để phục vụ nhu cầu cuộc
sống ngảy nhiều mặt và ngày cảng tốt hơn, cao hơn của con người.
Ý thức triết học
Đây là loại ý thức đặc biệt và cao nhất của tri thức cũng như của các ý thức
xã hội. Triết học nhất là Triết học Mác-Lênin cung cấp cho con người tri thức về
thế giới như một chỉnh thể thông qua việc tổng kết toàn bộ lịch sử phát triển của
khoa học và chính bản thân triết học. Khi đánh giá mối liên hệ của tinh thần với
triết học, Hêghen khẳng định: “Xét từ góc độ tinh thẩn, chúng ta có thể gọi Triết
học là cái cần thiết nhất." Với Mác thì “mọi triết học chân chính đều là tinh hoa
về mặt tinh thần của thời đại minh” nên nhất định sẽ có thời kì mà triết học,
không chỉ về bên trong, theo nội dung của nó mà về cả bên ngoài, theo sự biểu
hiện của nó, sẽ tiếp xúc và tác động qua lại với thế giới hiện thực của thời đại mình.
Với tư cách là một hinh thái ý thức xã hội, triết học nói chung và nhất là
triết học duy vật biện chứng nói riêng, có sứ mệnh trở thành thế giới quan, mà
cơ sở và hạt nhân của thế giới quan đó là tri thức. Chính thế giới quan đó giúp
con người trả lời cho các câu hỏi được nhân loại từ xưa tới nay thường xuyên đặt ra cho mình.
Như vậy, thế giới quan triết học bao hảm trong nó cả nhân sinh quan.
Trong thời đại hiện nay, thế giới quan khoa học chân chính nhất là thế giới quan
triết học duy vật biện chứng. Triết học duy vật biện chứng có vai trò to lớn để
nhận thức đúng đắn ý nghĩa và vai trò của các hình thái ý thức xã hội khác; để
xác định dùng dẫn vị trí của những hình thái ấy trong cuộc sống và trong xã hội
để nhận thức tính quy luật cùng những đặc điểm và sự phát triển của chúng.
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội.
Sở dĩ nó có biểu hiện đó là do nguyên nhân sau:
Sự biến đổi của tồn tại xã hội thường được diễn ra với tốc độ nhanh mà ý
thức xã hội không thể phản ánh kịp và trở nên lạc hậu hơn. Hơn nữa, ý thức xã lOMoAR cPSD| 61457685
hội lại là cái phản ánh cho sự tồn tại xã hội nên chỉ biến đổi sau khi có sự biến
đổi của tồn tại xã hội.
Do sức mạnh của thói quen, truyền thống và tập quán cũng như do tính
lạc hậu và bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội. Trong xã hội có sự phân
chia giai cấp, những giai cấp và lực lượng phản tiến bộ thường sẽ lưu giữ một số
tư tưởng có lợi cho họ nhằm chống lại các lực lượng mong muốn xã hội tiến bộ.
Như vậy, ý thức lạc hậu và tiêu cực không thể mất đi một cách dễ dàng.
Vậy nên trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới cần phải thường xuyên tăng cường
công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại các âm mưu, hành động phá hoại từ
những lực lượng đối lập về mặt tư tưởng và kiên trì xoá bỏ những tàn dư của ý thức cũ.
Ý thức xã hội có thể vượt trước sự tồn tại xã hội.
Triết học Mác – Lênin đã thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định
thì tư tưởng của con người, nhất là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể
vượt trước cả sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo trước được tương lai và có
tác dụng tổ chức, chỉ đạo các hoạt động thực tiễn của con người.
Sở dĩ ý thức xã hội có thể vượt trước được là bởi đặc điểm của tư tưởng
khoa học quy định. Tư tưởng khoa học thường khái quát được tồn tại xã hội đã
có và có thể rút ra những quy luật phát triển chung cho xã hội. Quy luật đó không
những phản ánh đúng về quá khứ, hiện tại mà còn dự báo đúng của tồn tại xã hội ở tương lai.
Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần xã hội đã cho thấy rằng, những quan
điểm lý luận ở mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không. Mà nó
được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại đi trước.
Trong xã hội có phân chia giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội luôn
gắn liền với tính chất giai cấp của nó. Những giai cấp khác nhau sẽ kế thừa những
nội dung ý thức khác nhau của các thời đại đi trước. Các giai cấp tiên tiến thường
sẽ kế thừa những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ đã để lại.
Do ý thức xã hội có tính kế thừa nên khi nghiên cứu một tư tưởng nào đó
thì phải dựa vào quan hệ kinh tế hiện tại và phải chú ý đến từng giai đoạn phát
triển tư tưởng trước đó nữa. Có như vậy mới hiểu rõ được vì sao một nước có lOMoAR cPSD| 61457685
trình độ phát triển tương đối kém về kinh tế nhưng lại có tư tưởng ở trình độ cao.
Ý thức xã hội tác động trở lại sự tồn tại xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống đối lại quan điểm duy tâm
tuyệt đối hoá về vai trò của ý thức xã hội mà còn bác bỏ luôn quan điểm duy vật
tầm thường khi đã phủ nhận tác động tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội còn phải phụ
thuộc vào từng điều kiện lịch sử cụ thể; vào tính chất của các mối quan hệ kinh
tế mà tư tưởng đã nảy sinh trên đó; vào vai trò lịch sử của các giai cấp mang
ngọn cờ tư tưởng và vào mức độ mở rộng của những tư tưởng trong quần chúng.
Sự tác động của ý thức xã hội tới tồn tại xã hội được biểu hiện qua hai
chiều hướng. Nếu ý thức xã hội tiến bộ thì sẽ có tác động thúc đẩy tồn tại xã hội
phát triển, còn ý thức xã hội lạc hậu sẽ gây cản trở cho sự phát triển của tồn tại xã hội.
Như vậy, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử nói về tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội đã chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý
thức xã hội. Nó đã bác bỏ quan điểm siêu hình, máy móc và tầm thường về mối
quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TRONG CÔNG TÁC
XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI BẢN THÂN SINH VIÊN
1. Xây dựng ý thức xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Trong sự phát triển của mỗi cá nhân, ngoài các yếu tố thuận về chủ thể, họ
còn bị chi phối bởi quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống của
cộng đồng, tức là bị chi phối bởi ý thức xã hội. Vì vậy, khi ý thức xã hội tiến bộ,
lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá nhân và ngược lại.
Bởi thế, muốn xây dựng xã hội mới, tất yếu phải xây dựng ý thức xã hội mới và
việc xây dựng ý thức xã hội mới trở thành một nhiệm vụ của công cuộc xây dựng xã hội mới.
Có thể hiểu ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng là toàn bộ quan
điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng... của xã hội mới mà hạt nhân là chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước lOMoAR cPSD| 61457685
phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội
mới. Trên thực tế, ý thức xã hội mới đó biểu hiện rất phong phú, đa dạng. Ngoài
hệ tư tưởng, nó còn được biểu hiện ra ở tâm trạng, tình cảm, nhu cầu và cả thói
quen, phong tục, tập quán của cộng đồng xã hội.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định: "Xã hội xã hội
chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu,
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế
phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới".
Cùng với định hướng cơ bản trong việc phát triển các lĩnh vực của đời sống
xã hội, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng tiếp tục khẳng định một
số định hướng lớn trong quá trình xây dựng ý thức xã hội mới.
Thứ nhất, xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp toàn dân, đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là tư tưởng cơ bản khẳng định chủ thể tích cực cũng là đối tượng phục
vụ chính của xã hội mới. Ý thức xã hội mới phản ánh lợi ích của nhân dân và chính
do nhân dân xây dựng. Tinh thần này được thể hiện trong các quan điểm, chủ
trương của Đảng và Nhà nước, trong các chính sách cụ thể của từng ngành, từng
địa phương. Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân dân, phản ánh lợi ích của nhân dân.
Nhân dân có quyền và trách nhiệm trong việc xây dựng, hoạch định và thi hành
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng, tuyên truyền,
quảng bá, phát triển ý thức xã hội mới.
Để làm tốt vai trò lãnh đạo, Đảng phải đổi mới, tự chỉnh đốn nhằm nâng
cao năng lực, sức chiến đấu mà trước hết là bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng.
Thứ hai, xây dựng ý thức xã hội mới trên cơ sở đẩy mạnh sự nghiệp xây
dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn lOMoAR cPSD| 61457685
hóa thực sự trở thành mục tiêu, động lực của phát triển, thành nền tảng tinh thần của xã hội.
Sự phát triển xã hội không chỉ có đời sống vật chất, mà còn có đời sống
tinh thần. Đó là hai mặt không thể thiếu và giữa chúng có sự gắn bó, tác động
tương hỗ có thể làm giàu, phong phú cho nhau và cũng có thể kìm hãm nhau
trong quá trình phát triển. Bên cạnh kinh tế, văn hóa luôn đóng vai trò quyết
định trong quá trình phát triển và sự trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc. Quan
điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã
được Đảng ta đề cập đến từ rất sớm, được phản ánh trong Đề cương văn hóa
Việt Nam (năm 1943), trong các văn kiện sau đó của Đảng.
Xã hội mà chúng ta xây dựng là xã hội có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Mốc đánh giá sự đổi mới toàn diện trong tư duy về văn hóa của
Đảng thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 5 về xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đảng ta đã khẳng định: “trong quá
trình xây dựng nền văn hóa mới, chúng ta không chỉ chú ý giữ gìn, kế thừa những
giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn phải chú trọng tiếp thu, kế thừa tinh
hoa văn hóa của nhân loại”.
Thứ ba, xây dựng ý thức xã hội mới gắn với việc tăng cường học tập lý luận,
tuyên truyền, giáo dục, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng trở thành nền tảng và kim
chỉ nam cho nhận thức, hành động của toàn Đảng và nhân dân.
Bài học đầu tiên từ 5 bài học mà Đảng ta đã rút ra sau 20 năm đổi mới là:
“Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây không
phải là mới, bởi tinh thần này đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra
ngay từ những ngày đầu cách mạng. Năm 1939, khi đưa ra quan điểm của mình
về đường lối của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Phải tổ chức học tập để có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình
độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên”.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi vào giai đoạn quyết định,
trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Người đã khẳng
định: “Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, tổ chức - là những
việc cần thiết của Đảng”. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, trong Diễn văn
khai mạc, một lần nữa, Người khẳng định: “Chúng ta phải ra sức học tập chủ lOMoAR cPSD| 61457685
nghĩa Mác - Lênin, tăng cường giáo dục tư tưởng trong Đảng”. Vấn đề này tiếp
tục được Đảng ta khẳng định qua các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt, trong giai đoạn
hiện nay, nó được coi là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.
Bởi lẽ, để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa, bên cạnh yêu cầu về năng lực, trình độ chuyên môn, đạo đức cách
mạng, đảng viên còn phải có phẩm chất chính trị tốt, kiên định lập trường độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội... Do vậy, xây dựng ý thức xã hội mới cần tiếp tục
tăng cường hoạt động lý luận, nghiên cứu sâu rộng và có những bổ sung về lý
luận để làm phong phú kho tàng tri thức của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tình hình mới.
Thứ tư, xây dựng ý thức xã hội mới cần ý thức sâu sắc sự kết hợp chặt chẽ
giữa việc “xây” và “chống”.
Ý thức xã hội mới là cốt lõi trong đời sống tinh thần xã hội mới; nó không
hình thành một cách tự phát mà trong lòng xã hội cũ; nó cần được chủ động
nhận thức, xây dựng, truyền bá thành ý thức chung của con người trong xã hội
mới, thành động lực tinh thần của con người trong quá trình xây dựng xã hội
mới. Vì vậy, cần xây dựng ý thức xã hội mới đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Cùng với việc xây dựng, bồi dưỡng ý thức xã
hội mới, cần chống những biểu hiện cản trở sự nghiệp xây dựng đó.
Về hệ tư tưởng, đó là việc tập trung khắc phục tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên tại Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ chính khóa IX, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Thường xuyên chỉ
đạo uốn nắn những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư
tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng, đấu
tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện cơ hội,
thực dụng, bè phái, cục bộ, phê phán bác bỏ các quan điểm sai trái thù địch, chủ
động đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực lợi dụng vấn đề tôn giáo,
dân tộc và nhân quyền chống phá cách mạng nước ta”. Không dừng ở gốc độ hệ
tư tưởng trong tâm lý xã hội cũng cần có những biểu hiện phải khắc phục.
Hiện nay, chúng ta cần khắc phục những biểu hiện tâm lý vốn được coi là
hậu quả của nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp - tâm lý thụ động, trông
chờ, ỷ lại, xin cho, đối phó; khắc phục tâm lý của nền kinh tế tiểu nông, sản xuất
nhỏ lâu dài của lịch sử và hiện nay vẫn còn tồn tại tâm lý lạc hậu, kinh nghiệm
chủ nghĩa, tùy tiện, đố kỵ, coi thường pháp luật và cả những tâm lý vốn khá phổ lOMoAR cPSD| 61457685
biến ở những nước chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, như tâm lý trọng nam
khinh nữ, tâm lý gia trưởng... Đặc biệt, trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,
những tâm lý này còn có nhiều biểu hiện, biến tướng và gây hậu quả nặng nề,
biến họ thành những kẻ cơ hội, cá nhân chủ nghĩa.
2. Vai trò của ý thức xã hội với bản thân.
Hiện nay, xã hội đang quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nói chung, và với
giáo dục sinh viên nói riêng. Với cương vị là một sinh viên Đại học, theo em để
nâng cao chất lượng học tập cả trong và ngoài nhà trường, mỗi sinh viên cần:
Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức của bản thân về việc học đại học. Cần
hiểu ro việc học đại học khác học phổ thông ở chỗ là lên đại học thì tự học là
chính, thời gian học ở nhà phải chiếm đa số. Nhưng phần lớn sinh viên hiện nay
vẫn còn dành quá nhiều thời gian của mình để phục vụ cho việc giải trí như là:
sinh nhật, tiệc tùng, đi chơi và đó là ý thức.
Thứ hai, triết học đã chỉ ra rằng mọi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan
trong thế giới đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Các môn học cũng vậy, chúng
ta có thể bắt gặp nhiều sự liên kết kiến thức giữa các môn học, lấy ví dụ các phạm
trù “Quan hệ sản xuất”, “Lực lượng sản xuất”, “Phương thức sản xuất" trong môn
kinh tế - chính trị có thể bắt gặp trong triết học. Chỉ ra như vậy để thấy rằng
chúng ta cần có sự liên hệ giữa các môn học với nhau, giữa các bài học với nhau
bởi hệ thống kiến thức được trình bày theo một trình tự nhất định.
Thứ ba, bản thân phải xác lập được những yếu tố khách quan ảnh hưởng
đến môi trường tự nhiên vạn vật thiên nhiên sống đời thường hằng ngày, vì vật
chất quyết định hành động ý thức nên con người nên phải ý thức được những
vật chất của môi trường tự nhiên vạn vật thiên nhiên sống đời thường không đủ
thốn để sở hữu hành vi phù phù thích hợp với thực tiễn khách quan.
Thứ tư, cần nhớ một điều rất quan trọng là học ở trên lớp không bao giờ
là đầy đủ. Có lẽ một thói quen đã ăn sâu trong ý nghĩ chúng ta đó là phải đến
trường thì mới gọi là học còn khi ở ngoài trường thì việc học đối với chúng ta chỉ
là thứ yếu, chúng ta cần thay đổi suy nghĩ tiêu cực này.
Bởi như Galileo đã từng nói: “Anh không thể dạy cho người khác bất cứ
điều gì, mà anh chỉ có thể giúp cho người Ủy tìm ra chân lý”. Vì vậy giáo dục nhà
trường chỉ mang tính chất gọi mở còn tương lai của chúng ta phụ thuộc vào chính
chúng ta. Những con người thành công trong cuộc sống là những con người biết
học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người, bằng mọi cách và qua mọi nội dung. lOMoAR cPSD| 61457685
Sinh viên với ý thức cần xác định các biện pháp thực hiện tổ chức các hoạt
động thực tiễn. Cuối cùng bằng sự nỗ lực và ý trí của mình, có thể quyết định
làm cho mình hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng thế giới khách
quan, vì đó là cơ sở quan trọng trong việc xác định mục tiêu, phương hướng, biện pháp chính xác.
Thực tế cho thấy ý thức của sinh viên thường biến đổi theo hai xu hướng:
Xu hướng tích cực: Khi đứng trước những mâu thuẫn, bằng sự thông minh,
sức sáng tạo và nghị lực, nhiều sinh viên biết tận dụng mọi cơ hội, mọi khả năng
để vượt qua những thử thách của cuộc sống sinh viên và đi từ thành công trong
học tập đến những thành công trong nghiên cứu khoa học, trong hoạt động đoàn
thể, do đó họ có thể tự tin bước vào đời.
Xu hướng tiêu cực: Biểu hiện ở thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm, ở sự bi quan,
chán nản, trông chờ, ỷ lại hay ở những hành động có tính cực đoan, chạy theo
lợi ích của cá nhân, cơ hội, vụ lợi, đua theo cái xấu, giả dối, gian lận trong thi cử.
Cần phải sắp xếp thời gian giữa học tập và các hoạt động khác trong đó thời gian
dành cho học tập phải chiếm đa số và chúng ta cần phải tuân thủ chặt chẽ thời gian biểu đó. C. KẾT LUẬN
Việt Nam đang trên đường xây dựng một nền văn hóa mới, với tư tưởng
mới, con người mới nhưng vẫn giữ được nét đậm đà bản sắc dân tộc. Để làm
được điều đó, chúng ta phải thường xuyên đấu tranh xóa bỏ tàn dư của xã hội
cũ, đồng thời giữ gìn, phát huy những tư tưởng, lối sống, văn hóa tốt đẹp. Bên
cạnh những giá trị tốt đẹp, vẫn còn có những mặt tối, ví dụ như tư tưởng trọng
nam kinh nữ, cá nhân chủ nghĩa, cục bộ địa phưng, tư tưởng tùy tiện tự do.... Đó
là những hạn chế mà trong điều kiện hiện nay, muốn xây dựng một nền văn hóa
mới chúng ta cần phải lọc bỏ, xóa bỏ để tiến bộ.
Thông qua việc nghiên cứu về ý thức xã hội, ta nhận ra được rằng, muốn
giải quyết một vấn đề, hiện tượng ý thức xã hội, ta cần nghiên cứu toàn diện về
mối quan hệ của ý thức xã hội và tồn tại xã hội, đồng thời ta cũng cần xem xét
đến tính độc lập của nó. Trên tất cả, có một điều ta không được quên: muốn thay
đổi ý thức xã hội, trước hết phải thay đổi tồn tại xã hội, đặc biệt nhất là trong phương thức sản xuất.
Ngày nay sinh viên đang là lực lượng xã hội đông đảo cùng toàn dân tham
gia tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Họ có tri thức lOMoAR cPSD| 61457685
khoa học và niềm tin vững chắc vào đường lối đúng đắn của đảng, tiêu biểu cho
trí tuệ của dân tộc. Sinh viên sẵn sàng vào xu thế hội nhập của dân tộc ta với
cộng đồng thế giới nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Để có nguồn lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa Đảng
và Nhà nước cần coi trọng việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo là mét trong những
hướng chính của đầu tư phát triển, giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành
quốc sách hàng đầu. Việc xây dựng nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hóa phải tiến hành với tốc độ quy mô phù hợp, đáp ứng được yêu cầu
của mỗi thời kỳ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, Hà Nội, 1995, Tập 23. 2.
Bộ giáo dục và đào tạo,Giáo trình triết học Mác – Lênin. 3.
Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nhà xuất bản giáokhoa Mác – Lênin, Hà Nội, 1976. 4.
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 5.
https://hoikhuyenhoc.phutho.gov.vn/Chuyen-muc-tin/Chi-tiet-tin/title/ 2203/ctitle/120