-
Thông tin
-
Quiz
Tiểu luận - Triết học Mác Lenin| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Tiểu luận - Triết học Mác Lenin| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Môn: Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:






















Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ----o0o---- BÀI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ
CHỦ QUAN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Môn học : Triết học
Họ và tên học viên : Vi Thị Hà Nhi Mã học viên : CH310408 Lớp
: Triết học_(222)_K31_CT_VL_01
Giảng viên hướng dẫn
: TS. Nguyễn Văn Thuân Hà Nội – 2022 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................3
1. Tầm quan trọng của đề tài........................................................................................3
2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................................4
3. Kết cấu bài tiểu luận.................................................................................................5
PHẦN I..............................................................................................................................5
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG...........................................................................5
1.1. Quan điểm triết học về mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan......................5 1.1.1.
Khái niệm “khách quan” và “chủ quan”.........................................................5 1.1.2.
Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan..................................6
1.2. Mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong nền kinh tế thị trường..............6 1.2.1.
Khái quát về nền kinh tế thị trường................................................................6 1.2.2.
Mối quan hệ về khách quan và chủ quan trong nền kinh tế thị trường...........7
PHẦN 2.............................................................................................................................8
ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY............................................................................8
2.1. Điều kiện khách quan trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay...............8
2.1.1. Những nhân tố quốc tế ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường
Việt Nam.....................................................................................................................8
2.1.2. Điều kiện khách quan trong nước tác động đến nền kinh tế thị trường Việt Nam
................................................................................................................................... 11
2.2. Vai trò của nhân tố chủ quan trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay. .14
2.2.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam................................................14
2.2.2. Vai trò quản lý của nhà nước Việt Nam...........................................................14
2.2.3. Năng lực làm chủ của nhân dân trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay
................................................................................................................................... 15
PHẦN 3...........................................................................................................................16
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ
QUAN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY............16
3.1. Những thành tựu cơ bản của nền kinh tế thị trường Việt Nam...............................16
3.1.1. Những thành tựu kinh tế..................................................................................16
3.1.2. Những thành tựu xã hội...................................................................................16
3.2. Những hạn chế còn tồn tại trong nền kinh tế thị trường Việt Nam.........................17
PHẦN 4...........................................................................................................................18
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT HUY THÀNH TỰU VÀ KHẮC PHỤC HẠN
CHẾ CÒN TỒN TẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM...........18
4.1. Phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay................................................................................................................................18
4.2. Đề xuất khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay................................................................................................................19
KẾT LUẬN......................................................................................................................20
Tài liệu tham khảo............................................................................................................21
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Diễn giải 1 KTTT Kinh tế thị trường 2 XHCN Xã hội chủ nghĩa 3 KHCN Khoa học công nghệ 4 WTI West Texas Intermediate
Một loại dầu thô làm mức giá chuẩn trong giá dầu 5 GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa 6 NXB Nhà xuất bản 7 GII Global Innovation Index
Chỉ số đổi mới toàn cầu 8 HDI Human Development Index
Chỉ số phát triển con người LỜI MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng của đề tài
Trên con đường phát triển kinh tế, hội nhập toàn cầu, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,
lần đầu tiên tại Đại hội IX (năm 2001), thuật ngữ “nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa” đã được Đảng sử dụng như một kim chỉ nam cho sự phát triển nền kinh tế
Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế toàn cầu đang có nhiều diễn biến phức
tạp, khó lường, được dự báo nguy cơ lạm phát và rơi vào trạng thái kinh tế trì trệ
(stagflation) bởi những yếu tố như môi trường, xã hội, đại dịch Covid 19, chính trị, thì
việc làm rõ các thành tố cấu tạo và ảnh hưởng lên nền kinh tế thị trường, phương hướng
và những giải pháp cụ thể là vô cùng cần thiết để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam
trở thành nước phát triển, có thu nhập cao và hội nhập cùng toàn thế giới.
Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu tiến tới dài hạn của công cuộc đổi mới và nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình tổng quát được Đảng và Nhà nước lựa
chọn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định rằng: “Đưa ra quan điểm phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng
tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới,
xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và có tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”. Qua
đây chỉ rõ rằng định hướng nền kinh tế thị trường hiện nay là kết quả đúc rút của một quá
trình lâu dài và được quan tâm đặc biệt để đảm bảo sự phát triển của đất nước ra thế giới.
Trong những năm qua, toàn dân ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc phát
triển kinh tế, thương mại hóa, công nghiệp hóa hiện đại hóa thì vẫn còn tồn tại những hạn
chế và nguy cơ tiềm tàng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế hiện tại và công
cuộc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chính vì vậy, đề tài “Tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” là một vấn đề mang tính cập nhật và cấp
thiết, nhằm phân tích và làm rõ các yếu tố tác động trực tiếp đến nền kinh tế thị trường, từ
đó xây dựng được tư duy đúng đắn cho trước tiên là học viên môn Triết học do Tiến sĩ
Nguyễn Văn Thuân hướng dẫn, tiếp đến là những vấn đề vĩ mô cần bàn luận về phát huy
nội lực sẵn có và đề xuất phương hướng cải thiện những hạn chế còn tồn tại. Bài tiểu luận
này nhằm mục đích phân tích rõ ràng, khách quan những vấn đề liên quan đến đề tài, từ
lý luận đến thực tiễn, dựa trên những quan điểm triết học, tình hình kinh tế thế giới và
Việt Nam cùng những con số cụ thể đầy tính xác thực. Từ đó, một cách chủ quan đưa ra
những kết luận từ nghiên cứu cá nhân và đề xuất để phát huy cũng như khắc phục những
hạn chế để góp phần hoàn thiện con đường phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa những lý luận cơ bản liên quan đến khách quan và chủ quan, vai
trò của các yếu tố đó trong nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, phân tích những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, đánh giá toàn diện để chỉ ra những mặt thành công, mặt hạn chế, những bài học
kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết.
Thứ tư, đề xuất một số giải pháp phát huy những thành tựu và giải quyết những hạn chế còn tồn tại
3. Kết cấu bài tiểu luận
Phần 1: Những lý luận cơ bản liên quan đến khách quan và chủ quan trong nền
kinh tế thị trường
Phần 2: Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong nền kinh tế thị trường
tại Việt Nam hiện nay
Phần 3: Đánh giá tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với
nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay
Phần 4: Đề xuất phương hướng phát huy thành tựu và khắc phục hạn chế còn tồn
tại trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam NỘI DUNG PHẦN I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN KHÁCH QUAN VÀ CHỦ
QUAN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Quan điểm triết học về mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan
1.1.1. Khái niệm “khách quan” và “chủ quan”
Trong tư tưởng của V.I.Lênin
Điều kiện khách quan dưới quan điểm của Lênin được xác định là những hoàn cảnh
không phụ thuộc vào “ý thức và ý chí, ước mơ và lý thuyết của những cá nhân này hay
khác”, nhưng nó lại là cơ sở hoạt động của con người, căn cứ xác định xu hướng, tính
chất, nhiệm vụ phát triển xã hội, chế định ý chí và các dự định của các chủ thể, trực tiếp
xác định nội dung hoạt động của họ đặt ra trước con người những nhiệm vụ cũng như
cung cấp phương tiện cho việc giải quyết chúng.
Đối với nhân tố chủ quan, Lênin cho rằng đây là hành trang tinh thần, tư tưởng của mọi
người, tính tự giác và có tổ chức, sự chín chắn chính trị nhằm hướng đến đạt những mục
tiêu nhất định. Nhân tố chủ quan phản ánh những lợi ích của giai cấp xã hội, mang tính
giai cấp mà thành tố quan trọng của nó là trạng thái tâm lý của những người tham gia vào
hoạt động cải biến xã hội.
Một cách đơn giản hơn, điều kiện khách quan là tổng thể các mặt, các quá trình, yếu tố kể
cả vật chất lẫn tinh thần độc lập với chủ thể, không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể mà
có khả năng chi phối hoạt động của chủ thể. Nhân tố chủ quan là tổng thể các yếu tố
thuộc về năng lực, phẩm chất của chủ thể, tạo nên tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong
hoạt động nhận thức và vận dụng, cải biến điều kiện khách quan nhằm hướng đến thực
hiện mục tiêu đã đặt ra.
1.1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan
Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại
lẫn nhau. Chúng là hai mặt, hai yếu tố không thể tách rời trong mọi hoạt động của mỗi
chủ thể. Điều kiện khách quan bao giờ cũng là cơ sở, tiền đề, căn cứ, giữ vai trò quyết
định chủ quan, quy định nội dung cũng như sự vận động biến đổi của chủ quan. Bên cạnh
đó, trong khi khẳng định khách quan là nhân tố có vai trò quyết định, triết học Mác-Lênin
không những không phủ nhận mà còn đánh giá vai trò của tính năng động chủ quan.
Nhân tố chủ quan không chỉ phản ánh được năng lực trí tuệ và tinh thần của chủ thể mà
còn là nguồn động lực chính thúc đẩy chủ thể thực hiện mục tiêu. Chính vì vậy nên nhân
tố chủ quan luôn được đánh giá cao bởi nó không hoàn toàn thụ động mà đòi hỏi phải
phát huy những yếu tố cấu thành nên, như tính tích cực, sáng tạo, tự giác, chủ động của
chủ thể trong việc nhận thức và vận dụng quy luật khách quan để cải biến hiện thực.
1.2. Mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong nền kinh tế thị trường
1.2.1. Khái quát về nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường, theo PGS.TS Trần Văn Bão, “là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ
cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được thông qua
mua bán, trao đổi bằng tiền trên thị trường. Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó
các quan hệ giữa các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, trao đổi, lưu thông
các yếu tố của sản xuất kinh doanh đều thông qua thị trường. Đặc trưng cơ bản của kinh
tế thị trường là tính tự chủ của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cao; hàng hóa dịch dịch
đa dạng, phong phú, giá cả hàng hóa dịch vụ hình thành trên thị trường; cạnh tranh là môi
trường kinh doanh của nền kinh tế thị trường và các quan hệ kinh tế - thương mại trong
nền kinh tế thị trường phải là quan hệ kinh tế mở.”
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Theo khoản 1, Điều 51 Hiến pháp 2013 quy định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.”
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội
nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo; đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
1.2.2. Mối quan hệ về khách quan và chủ quan trong nền kinh tế thị trường
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan theo lập
trường duy vật biện chứng có ý nghĩa rất sâu sắc đối với nền kinh tế thị trường của Việt
Nam và cụ thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nắm vững quan điểm của triết
học Mác-Lênin về mối quan hệ khách quan và chủ quan, vận dụng vào việc xác định
đường lối, mục tiêu, phương hướng và phương pháp cách mạng; đồng thời cũng cho thấy,
việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ này là cả một quá trình nghiên cứu, tìm tòi với
nhiều khó khăn và phức tạp. Song, vấn đề đặt ra là tìm câu trả lời cho mối quan hệ mật
thiết giữa “khách quan” và “chủ quan” để từ đó xác định được mục tiêu và hướng đi đúng đắn.
Khách quan là nhân tố giữ vai trò quyết định chủ quan nên trong nhận thức. Những điều
kiện khách quan cơ bản phải kể đến hiện nay là sự hội nhập, toàn cầu hóa; sự phát triển
của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ; trình độ phát triển kinh tế; tình hình chính trị
xã hội; đặc điểm môi trường tự nhiên; đường lối, chủ trương lãnh đạo của nhà nước; hay
các thế lực phản động, thù địch. Từ đó, phải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho “nhân
tố chủ quan”, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, tôn trọng sự thật, có
những quyết định chủ quan liên quan thực tế và chặt chẽ với các điều kiện khách quan.
Nhận thức đúng đắn khách quan là tiền đề xác định mục tiêu, phương hướng, nội dung,
biện pháp phù hợp làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của chủ thể từng bước cải biến
khách quan theo mục đích đặt ra. PHẦN 2
ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Điều kiện khách quan trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay
2.1.1. Những nhân tố quốc tế ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam
Việt Nam đã hội nhập sâu với kinh tế thế giới và là nền kinh tế có độ mở lớn. Vậy nên khi
xuất hiện những biến động của chính trị, kinh tế - tài chính thế giới thì một điều tất yếu sẽ
tác động đến kinh tế - tài chính Việt Nam trên nhiều góc độ. Theo cập nhật mới nhất vào
năm 2021, dù trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, song nền kinh tế thế
giới năm 2021 vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực đi đôi với những biến đổi tiêu cực,
mang tính ảnh hưởng chung đến kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tình hình thế giới, khu vực
Hiện nay, theo TS. Nguyễn Đức Lợi, tình hình thế giới và khu vực đang có những biến
đổi phực tạp, khó lường và nhanh chóng khi trật tự đa cực đang hình thành ngày một rõ
nét; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Trung Quốc – Mỹ; chủ nghĩa
dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bảo hộ cũng tác động không nhỏ đến những nước đang phát
triển và những nước nhỏ về không chỉ sự phát triển chung mà cả sự tăng trưởng kinh tế
nói riêng. Vì Việt Nam có vị trí địa lý đặc thù, chịu sự tác động nằng nề từ các thách thức
an ninh phi truyền thống, dẫn đến việc nền kinh tế cũng sẽ bị tác động và chi phối một
phần bởi tình hình chính trị tại những nước có liên quan. Điều này đặt ra vấn đề cho
Đảng và Nhà nước, những nhà lãnh đạo có những đường lối và chủ trương đúng đắn để
vừa đảm bảo an ninh quốc gia, vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế, hội nhập toàn cầu.
Lạm phát và giá cả hàng hóa tăng
Trong năm 2021, lạm phát thế giới có xu hướng tăng do sự hồi phục của nhu cầu sản xuất
và tiêu dùng toàn cầu. Theo số liệu thực tế, tại một số nước phát triển, lạm phát có xu
hướng tăng từ 0,7% (năm 2020) lên 2,8% (năm 2021); tại các nước đang phát triển và
mới nổi cũng tăng lần lượt từ 5,1% (năm 2020) lên 5,4% (năm 2021).
Sự hồi phục của nhu cầu sản xuất và tiêu dùng toàn cầu cũng đẩy giá cả hàng hóa thế giới
tăng. Giá dầu thế giới trong năm 2021 tăng chủ yếu do lượng tồn kho toàn cầu giảm và
niềm tin về triển vọng nhu cầu năng lượng trong thời gian tới sẽ tiếp tục tăng. Trong đó,
giá dầu WTI bình quân giao ngay đạt 67,92 USD/thùng (tính đến ngày 20/12/2021), tăng
73,43% so với năm 2020; giá dầu Brent bình quân giao ngay đạt 70,70 USD/thùng (tính
đến ngày 20/12/2021), tăng 68,51% so với năm 2020. Đặc biệt, trong năm 2022, toàn thế
giới chứng kiến cảnh một số yếu tố chính trị đã đẩy giá dầu thế giới lên đỉnh của 14 năm.
Việt Nam cũng không là ngoại lệ của những vấn đề chung trên thế giới này khi thông tin
được cập nhật đến ngày 15/09/2022, giá xăng dầu vẫn ở mức cao, theo báo cáo của Tổng
cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư, giá xăng, dầu tăng 10% sẽ khiến lạm phát
tăng 0,36 điểm phần trăm và tăng trưởng kinh tế giảm 0,5 điểm phần trăm. Thương mại thế giới
Theo xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, Thương mại hóa không còn là cụm từ xa lạ
đối với nền kinh tế thị trường. Trong năm 2021, nhờ tác động của các gói kích thích kinh
tế và chiến lược tiêm chủng được triển khai rộng rãi, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng toàn
cầu phục hồi, thương mại thế giới đã dần phục hồi, cán cân thương mại thặng dư tại hầu
hết các nước. Việt Nam đã ký kết các hiệp định thương mại lớn, đặc biệt là các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương (CPTPP) và hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA).
Đây là một cơ hội phục hồi và phát triển nền kinh tế lớn mà nước ta, ngành xuất nhập
khẩu cần phải nắm bắt.
Sự phát triển của cuộc cách mạng KHCN
Khoa học và công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Trong xu thế phát triển của thế giới, các quốc gia đang có nhiều cơ hội để
được chia sẻ và tận dụng các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 và khoa học công
nghệ với các công nghệ mới, phương thức sản xuất mới, mô hình kinh doanh mới, ...
Cuộc cách mạng 4.0 tiếp tục diễn ra nhanh chóng đặc biệt với những công nghệ trong
lĩnh vực AI(Artificial Intelligence) – trí tuệ nhân tạo, rô-bốt, công nghệ chế tạo hấp dẫn,
công nghệ nano, công nghệ sinh học, hệ thống data dữ liệu lớn,… những thành tựu này
ngày càng tương tác thúc đẩy nhau tạo ra một thế giới được số hóa, tự động hóa, hiệu quả
và thông minh hơn. Nó tác động to lớn đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống, về kinh
tế, xã hội, môi trường trên toàn cầu. Nhiều năm qua Việt Nam đã xem KHCN đóng vai
trò then chốt vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và nhiều chính
sách phát triển KHCN đã được triển khai. Xuất phát rõ ràng ngay từ Hiến pháp 2013,
“Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích
tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành
tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng
lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ.” Tuy nhiên, sự phát triển của KHCN và
ứng dụng KHCN chưa thật sự đạt nhiều kết quả như kỳ vọng, phụ thuộc khá nhiều vào sự
phát triển KHCN trên thế giới, việc áp dụng cũng là một vấn đề đặt ra để giải quyết. Xu hướng toàn cầu hóa
Tình hình toàn cầu hóa ở Việt Nam đang có những tiến bộ vượt bậc trong vòng 5 năm đổ
lại. Năm 2017, tỷ lệ thương mại so với GDP của Việt Nam đạt tới hơn 200%, con số cao
nhất trong nhóm những nước có trên 50 triệu dân trong khảo sát của World Bank tính từ
năm 1960. Trong nhóm 20 quốc gia đông dân nhất thế giới, Việt Nam đã vượt hẳn so với
quốc gia đứng vị trí thứ hai là Thái Lan, với 122%. Theo một nghiên cứu của Pew năm
2014, 95% người Việt cho rằng “thương mại là tốt”, một minh chứng cho việc người dân
ý thức được sức mạnh và tầm quan trọng của toàn cầu hóa. Mực dù Việt Nam nhận được
vô số những lợi ích từ việc thương mại hóa, nhưng một đất nước đang phát triển với nền
kinh tế quá hội nhập vẫn tiềm tàng nhiều rủi ro.
Bên cạnh đó, GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, trong một bài viết về “Những xu hướng mới
của kinh tế thế giới và tác động đến kinh tế Việt Nam”, đã nhận định rằng “toàn cầu hóa
biến đổi với diện mạo mới, kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại”. Điều này có thể xảy ra
chủ yếu ở các nước phát triển, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng khiến cho thương
mại toàn cầu tăng trưởng chậm lại. Ví dụ điển hình là việc thực hiện chính sách bảo hộ
thương mại của Mỹ, mặc dù vẫn cam kết về thương mại tự do những với điều kiện phải
có sự “công bằng”. Sự kiên quyết năm ở việc không đành đổi lợi ích quốc gia để hệ thống
tự do thương mại ảnh hưởng đến doanh nghiệp và việc làm nội bộ nước Mỹ. (bằng cách
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Mỹ và tăng rào cản thương mại với hàng nhập khẩu từ
các nước nhằm thu hút đầu tư, một bài toán khó với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa qua Mỹ).
Biến đổi môi trường và khí hậu
Hiện nay, toàn nhân loại càng ngày càng phải đối mặt với nhiều những thảm họa thiên tai
cực kỳ nguy hiểm và khó lường. Biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, có thể làm
đảo lộn những tiến bộ xã hội, kinh tế mà cả thể giới đã đạt được. Thiên tai xảy ra nhiều
hơn, trái đất nóng lên, mực nước biển dâng cao, thời tiết cực đoan là những từ khóa mà
cả thế giới phải quan tâm và hậu quả thì chính con người gánh chịu. Từ việc khí hậu và
môi trường sống bị thay đổi và ảnh hưởng, làn sóng di cư nổi lên làm xung đột xuất hiện,
một số chuyên gia còn dự đoán rằng xu thế hướng nội sẽ hình thành để bảo tồn các nguồn
tài nguyên khan hiếm. Từ đó, những thay đổi không cân bằng và rủi ro sẽ xuất hiện trên
nhiều quốc gia, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế toàn cầu. Nguy cơ này đặt ra
cũng là một căn cứ để yêu cầu các quốc gia đẩy mạnh những mô hình phát triển kinh tế
phù hợp, thích ứng với những thay đổi môi trường, khí hậu có dự báo hay thậm chí là đột ngột, bùng phát.
2.1.2. Điều kiện khách quan trong nước tác động đến nền kinh tế thị trường Việt Nam
Tình hình phát triển kinh tế
Dù Việt Nam là một trong những nước đang phát triển mới trong một vài thập kỷ gần đây
nhưng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt được kết quả tích cực trong một số lĩnh
vực. Đầu tiên, hạ tầng số phát triển tương đối nhanh, đạt trình độ tương đương với các
quốc gia tốp đầu trong khu vực. Đến nay (2022), Việt Nam đã có hơn 1 triệu km cáp
quang phủ rộng khắp cả nước với tốc độ truy cập cao, trở thành nước đứng thứ 2
ASEAN, thứ 4 châu Á và thứ 10 thế giới trong chuyển đổi mạng Internet sang thế hệ
mới. Về hạ tầng dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu được Nhà nước xây dựng trong một số
ngành và lĩnh vực như cơ sở về dân cư (thay đổi từ CMTND sang CCCD được thực thi
vào 2021), cơ sở dữ liệu về đất đai, tài nguyên, nhà cửa, kinh doanh, thương mại, xuất
nhập khẩu (ví dụ điển hình là sự phát triển hiện đại hóa trên Cổng thông tin dữ liệu một
cửa của ngành Hải quan),…
Thứ hai, ngành công nghiệp chế tạo, chế biến tiếp tục đóng vai trò là động lực dẫn dắt
của nền kinh tế với mức tăng 7,79% so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu nền kinh tế quý I
năm 2022 đối với ngành “Nông, lâm nghiệp và thủy sản” là 12%, “Công nghiệp và xây
dựng” là 37%, “Dịch vụ” là 42%, “Thuế SP trừ trợ trợ cấp SP” là 9%. Các chỉ số này lần
lượt trong quý I năm 2021 là 11%, 38%, 42%, 9%.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế không có thay đổi quá rõ ràng vì từ năm 2021 Việt Nam bắt
đầu bước vào giai đoạn phục hồi kinh tế. Song, sự thay đổi 1% tại lĩnh vực Nông, lâm
nghiệp và thủy sản lại chủ yếu rơi vào ngành lâm nghiệp. Diện tích rừng bị thiệt hại do
cháy, chặt phát là 216,5 ha, giảm 40,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là vấn đề
mang tầm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống con người và nền kinh tế khi diện tích rừng ngày
càng giảm sút, tốc độ trồng rừng mới không kịp để bảo vệ môi trường và con người trong những đợt thiên tai.
Những khởi sắc tiếp tục diễn ra trong năm 2022 với ngành sản xuất công nghiệp khi tăng
7,07% toàn ngành so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp chế tạo chế biến tăng
7,79%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,42%,…
Thứ ba, sự quay lại hoạt động của các doanh nghiệp khi số lượng doanh nghiệp mới
thành lập tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 3/2022, 14,3 nghìn doanh nghiệp
thành lập mới với số vốn đăng ký là 193,6 nghìn tỷ đồng, tăng 96,3% về số doanh nghiệp
và tăng 127,3% về vốn đăng ký. Bên cạnh đó, kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của
các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy tình hình lạc quan về sản
xuất kinh doanh. Đây là kết quả của một cuộc quyết tâm phục hồi và phát triển kinh tế
của Quốc hội và Chính phủ, tạo niềm tin và động lực cho cộng đồng các doanh nghiệp.
Thứ tư, hoạt động du lịch được tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ. Sau quãng thời gian
chững lại vì đại dịch Covid-19, dịch vụ thương mại đang khá sôi động trở lại với số lượt
khách quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh do nước ta đã mở cửa du lịch và nhiều đường bay
quốc tế được khôi phục trở lại. Qua đây chứng tỏ quyết định của Nhà nước đúng đắn khi
mở cửa đúng thời điểm, vừa hạn chế được dịch bùng phát, rơi vào trạng thái khó kiểm
soát mà vừa phục hồi lại được nền kinh tế.
Cuối cùng, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa ngày càng phát triển và thúc đẩy bởi
những hiệp định thương mại quốc tế, sau đại dịch đã phục hồi mạnh mẽ. Tổng kim ngạch
xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 176,35 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước,
trong đó xuất khẩu tăng 12,9%, nhập khẩu tăng 15,9%. Tình hình chính trị
Việt Nam là một đất nước “theo chế độ xã hội chủ nghĩa với cơ chế có duy nhất một đảng
chính trị lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam”. Qua chặng đường hơn 20 năm tiến hành
công cuộc đổi mới, Đảng đã có bước phát triển rõ rệt về trình độ lý luận, tư duy lý luận,
thể hiện qua sự thống nhất về chính trị, đường lối, chủ trương và đặc biệt trong việc phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, Việt Nam được
đánh giá là một nước có nền chính trị ổn định nhất trong khu vực khi luôn có thái độ tôn
trọng và gìn giữ hòa bình giữa các quốc gia, đề cao tính trung lập giữa các quan hệ quốc
tế. Nền kinh tế chung từ đó có sự tăng trưởng nhanh dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước, định hướng và điều tiết của kinh tế nhà nước. Tình hình xã hội
Thứ nhất, về vấn đề việc làm hiện nay, sau khi kiểm soát được hiệu quả dịch Covid-19,
thị trường lao động có nhiều tín hiệu khởi sắc. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đạt 68
% tăng 0,5 điểm phần trăm so với quý trước. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm
giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng lại đi kèm là một biểu hiện của lạm phát tăng. Bởi
theo nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế, William Philips, đã
đưa ra một mô hình giải thích về mối quan hệ tương quan giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất
nghiệp. Nghiên cứu đã cho rằng 2 chỉ số này có mối quan hệ tương quan mật thiết với
nhau, nghịch biến với nhau.
Thứ hai, đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện, đời sống
nhân dân khu vực nông thôn được cải thiện. Bên cạnh đó ngành giáo dục cũng triển khai
nhiều giải pháp tổ chức giảng dạy linh hoạt để ứng biến với Covid-19, đảm bảo được một
phần chất lượng giáo dục. Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vẫn luôn
được quan tâm và thực hiện.
Điều kiện tự nhiên, môi trường
Lãnh thổ Việt Nam với đặc điểm nổi bật là lãnh thổ trải dài có vị trí tiếp giáp 4 nước trên
đất liền và đường bờ biển kéo dài 3260km, là một vị thế vàng trong việc giao thương và
phát triển kinh tế. Tại vị trí cửa ngõ của khu vực này, nước ta có sự thuận lợi trong giao
lưu với các nước và đẩy mạnh kinh tế. Vận chuyển hàng hóa đường hàng không hay
đường biển đều trở nên dễ dàng khi nằm ở vị trí đắc địa này.
Song, bên cạnh những lợi thế nhất định thì Việt Nam cũng phải đối mặt với một số vấn đề
trở ngại nhất định. Thứ nhất, khí hậu khắc nghiệt, luôn phải đối chọi với thiên tai bão lũ
hàng năm đòi hỏi sự đồng lòng phòng chống thiên tai của các cấp lãnh đạo và nhân dân
cả nước. Tiếp đến, vấn đề hiểm họa môi trường sinh thái ở Việt Nam dưới sự tác động của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biến đổi khí hậu, quy mô dân số gần 100 triệu dân, đã biểu
hiện cụ thể qua thống kê cụ thể như: năm 1945 rừng bao phủ chiếm 43,8% mà hiện nay
chỉ còn xấp xỉ 28%; diện tích đất trồng trọt bị sói mòn tăng mạnh lên khoảng 13,4 triệu
ha; tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải nhà máy tăng cao; nồng độ bụi ở đô thị
vượt mức nhiều lần quá chỉ tiêu cho phép và thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh
nhiều lần nằm trong top các thành phố ô nhiễm không khí nhất toàn Châu Á. Thực trạng
này đặt ra thách thức lớn cho các nhà lãnh đạo khi quyết định chủ trương, đường lối để
đảm bảo phát triển kinh tế và đảm bảo cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường.
2.2. Vai trò của nhân tố chủ quan trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay
2.2.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển nền kinh tế thị trường được thực hiện xuyên
suốt qua các kỳ Đại hội của Đảng với việc đề ra các phương hướng, định hướng, mục tiêu
và các giải pháp phát triển theo từng thời kỳ, giai đoạn, thực tiễn xã hội. Đảng ta đã xác
định rõ kinh tế tư nhân có vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế và kinh tế nhà nước
đóng vai trò điều tiết. Nếu xem nền kinh tế như một con tàu thì nền kinh tế tư nhân đóng
vai trò là động cơ con tàu, nó quyết định con tàu chạy nhanh hay chậm. Vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước được Đảng xác định nhằm hướng dẫn, dẫn dắt hướng đi và được
xem như bánh lái cho con tàu, hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện vai trò lãnh đạo trong phát triển nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa,
Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy nhằm tiếp thu những giá trị tích cực của
nhân loại trong phát triển kinh tế để xác định những chủ trương, đường lối, chiến lược
phù hợp, sách lược đúng đắn với điều kiện xã hội của Việt Nam. Trong bối cảnh thế giới
có nhiều diễn biến phức tạo thì vai trò lãnh đạo của Đảng là một trong những yêu cầu
hàng đầu của sự nghiệp cách mạng.
2.2.2. Vai trò quản lý của nhà nước Việt Nam
Thực tiễn cho thấy rằng, vai trò nhà nước thể hiện rõ ở việc xây dựng và hoàn thiện thể
chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và lãnh mạnh, sử dụng các công cụ,
chính sách, nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản
xuất kinh doanh. Nhà nước đóng vai trò làm chủ thể quản lý, chủ động điều tiết, giảm các
tác động tiêu cực của thị trường, kiến tạo nên môi trường phát triển, các chủ thể kinh tế
được đa dạng hóa, khắc phục khuyết tật của thị trường. Nhà nước vừa phải quản lý, vừa
giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường qua các hệ thống luật pháp,
chính sách; giải quyết tốt các vấn đề quan trọng, cấp bách đang đặt ra hiện nay, như: tái
cấu trúc nền kinh tế; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, phát
triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phù hợp
với điều kiện cụ thể của đất nước trong bối cảnh mới của thời đại; nâng cao chất lượng,
hiệu quả kinh tế, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước, nâng cao vai trò của kinh tế
tập thể; phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; hoàn thiện hệ
thống luật pháp, cơ chế, chính sách; đẩy mạnh cải cách hành chính, khắc phục tình trạng
bộ máy quản lý hành chính tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh thông qua
mệnh lệnh hành chính; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tích
cực và chủ động hội nhập quốc tế, phát huy có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế của đất
nước; kịp thời phát hiện và giải quyết hợp lý những mâu thuẫn nảy sinh từ KTTT trong
bối cảnh toàn cầu hóa...
2.2.3. Năng lực làm chủ của nhân dân trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng chủ nghĩa xã hội, nhân
dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng phục vụ mà nền kinh tế hướng tới. Để tối ưu hóa các
tiềm năng của điều kiện khách quan thì năng lực làm chủ của nhân dân phải được chú
trọng, đề cao và phát huy. Đó là một trong những nhân tố chủ quan then chốt nhắm bảo
đảm sự thành công của toàn bộ công cuộc đổi mới đất nước nói chung, quá trình phát
triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng. Về bản chất, phát triển kinh tế lớn
mạnh cốt lõi để phát triển xã hội và thay đổi cuộc sống của nhân dân nên chính nhân dân
là nhân tố quyết định. Vậy nên, việc hoàn thiện cơ chế để nhân dân được bình đẳng đóng
góp ý kiến và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh
tế, xã hội là vấn đề tất yếu. Để thực hiện được điều này, Đảng và Nhà nước đã ban hành
những quyết định, chính sách bảo vệ và đảm bảo quyền được phát huy chính bản thân
mình của nhân dân và tạo điều kiện cho nhân dân tiếp xúc được kiến thức, đường lối của
Đảng, lãnh đạo của nhà nước.
Tuy nhiên, để phát huy quyền và năng lực làm chủ của nhân dân, ngoài việc nâng cao
chất lượng cuộc sống, kích thích lợi ích của người lao động, phải nâng cao trình độ dân
trí. Nền giáo dục theo hướng “chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý
luận gắn với thực tiễn”, ưu tiên đầu tư cho giáo dục. Giáo dục và đào tạo phải được xem
là yếu tố quyết định trong việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, điều này được
xác định rõ trong Hiến pháp 2013.
Đồng thời, Chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe và tầm vóc con người được chú
trọng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Với sự phát triển toàn diện
của con người, quyền và năng lực làm chủ của nhân dân được phát huy sẽ là nhân tố quan
trọng đóng góp vào sự thành công của công cuộc đổi mới nói chung, xây dựng và phát
triển nền KTTT định hướng XHCN nói riêng. PHẦN 3
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ
CHỦ QUAN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Những thành tựu cơ bản của nền kinh tế thị trường Việt Nam
3.1.1. Những thành tựu kinh tế
Đất nước đã bước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh. Trong vòng
20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,34%/năm, thuộc loại cao ở
khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á. Tốc độ tăng GDP giai đoạn 2016 - 2019 khá
cao, bình quân 6,8%. Mặc dù năm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-
19 nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 ước đạt khoảng 5,9% và thuộc
nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới. GDP của năm 2021 là 5.116 nghìn
tỷ đồng, GDP 6 tháng đầu năm 2022 là 2.602 nghìn tỷ đồng, tăng 6,42%.
Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản
xuất với thị trường. Về cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống.
Các chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần được phát huy ngày càng tốt hơn
tiềm năng của các thành phần kinh tế Kinh tế nhà nước được sắp xếp . , đổi mới, nâng cao
chất lượng và hiệu quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng
yếu của nền kinh tế. Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các
nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống
chính trị cũng như của các cấp, các ngành và toàn xã hội, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu quan trọng và toàn diện đặc biệt trong lĩnh vực KHCN. Những đóng góp về
KHCN trong phát triển kinh tế xã hội được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Trong bảng xếp
hạng GII năm 2020, Việt Nam xếp hạng 42/131, năm 2021 xếp hạng 71/170 nền kinh tế
về đổi mới sáng tạo toàn cầu.
3.1.2. Những thành tựu xã hội
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Trong lĩnh vực lao động và việc làm, theo kết quả Điều tra lao động – việc làm năm
2018, tổng số lực lượng lao động cả nước là 55,35 triệu người, số lao động có việc làm là
54,52 triệu người. Tỷ lệ thất nghiệp được duy trì ở mức thấp với khoảng 1,2 triệu lao động.
Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng. Việt Nam đã “hoàn thành
sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015. Sự nghiệp
giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm
non, tiểu học đến cao đẳng, đại học.
Hoạt động khoa học và công nghệ có bước tiến đáng ghi nhận. Đội ngũ cán bộ khoa học
và công nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật) đã góp
phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách
đổi mới của Đảng và Nhà nước.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ. Bảo hiểm y tế được mở rộng đến
khoảng gần 60% dân số năm 2018 và đến năm 2022 đã lên đến hơn 91% dân số. Các chỉ
số sức khỏe cộng đồng được nâng lên. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em và người già giảm. Công
tác tiêm chủng mở rộng được thực hiện, nhiều dịch bệnh hiểm nghèo trước đây đã được
thanh toán hoặc khống chế.
Chỉ số HDI của Việt Nam là 0,703 vào năm 2021, tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn
cầu lên vị trí 115/191 quốc gia.
3.2. Những hạn chế còn tồn tại trong nền kinh tế thị trường Việt Nam Về kinh tế
Một là, quá trình đổi mới nhận thức về KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm trễ.
Nhận thức về bản chất và nguyên tắc vận hành của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa
còn chưa được phổ cập đến tất cả toàn dân, nên đã tạo ra sự thiếu đồng bộ, thiếu nhất
quán và những bất cập trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Vì vậy nên
chưa huy động được tối đa tiềm lực để phát triển kinh tế. Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị
trường và xã hội ở một số khía cạnh chưa được xử lý phù hợp, rõ ràng, minh bạch.
Hai là, quá trình hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, tăng trưởng kinh tế còn
chậm, chưa bền vững, còn chồng chéo, mâu thuẫn, lực lượng sản xuất chưa được giải
phóng triệt để, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh quốc tế chưa cao.
Ba là, hiệu quả hoạt động của các chủ thể kinh tế, các loại hình doanh nghiệp còn nhiều
hạn chế. Các chủ thể kinh tế chưa thực sự được bình đẳng khi tiếp cận các nguồn lực xã
hội. Cải cách hành chính diễn ra chưa thực sự gấp rút. Môi trường đầu tư kinh doanh còn
thiếu mức độ minh bạch và ổn định. Quyền tự do kinh doanh một phần nào đó chưa được tôn trọng đầy đủ.
Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát triển KTTT định hướng
XHCN chưa đáp ứng đủ yêu cầu về đổi mới kinh tế. Kiểm soát quyền lực, phân câp và
phân quyền rõ ràng nhưng chưa thực sự hoàn hảo để cải thiện khuyết điểm trong kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế có biến chuyển nhưng còn thiếu sự chủ động trong phòng ngừa,
xử lý tranh chấp thương mại và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Về xã hội
Việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển còn dàn trải, lãng phí, chưa công bằng, chưa
đem lại hiệu quả cao; vấn đề phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tệ nạn xã hội có
chiều hướng gia tăng; đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phân dân cư, nhất là
nông dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa chậm được cải thiện, ít được hưởng lợi từ thành
quả tăng trưởng chung của nền kinh tế. Yếu tố vật chất được đề cao, yếu tố tinh thần, đạo
đức có lúc, có nơi bị xem nhẹ. Do vậy, đã xuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa vị kỷ,
cá nhân, coi trọng đồng tiền, xem thường truyền thống đạo lý, tác động xấu tới đời sống
xã hội. Tuy cũng có những thành tựu nhất định nhưng nhìn ra thế giới, Việt Nam vẫn
đang là nước phải nỗ lực nhiều từ Đảng Nhà nước và toàn dân. PHẦN 4
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT HUY THÀNH TỰU VÀ KHẮC PHỤC
HẠN CHẾ CÒN TỒN TẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
4.1. Phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, không
ngừng chỉnh đốn Đảng, củng cố và nâng cao vai trò của tổ chức Đảng và nâng cao chất
lượng Đảng viên trong phát triển KTTT định hướng XHCN. Giữ vững và không ngừng
nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế, tăng cường sự
lãnh đạo và kiểm tra thường xuyên đối với nền kinh tế. Bên cạnh đó, đẩy mạnh xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN, hoàn thiện lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, Nhà nước có
những chính sách phù hợp để phát huy sự năng động của nền KTTT, không để tình trạng
cứng nhắc, mệnh lệnh hành chính, quan liêu, tham nhũng, bộ máy cồng kềnh làm ảnh
hưởng đến sự phát triển chung.
Thứ hai, nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân trong phát triển KTTT định hướng
XHCN. Xác định nhân dân là trung tâm, nhà nước là “của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân”. Để có được sự thành công vượt bậc, cải thiện được những điểm còn hạn chế
thì đường lối lãnh đạo của Đảng và “lòng dân” phải cùng nhất trí và đồng thuận. Điều
này đòi hỏi nâng cao vai trò làm chủ của nhân dân với mọi tài sản quốc gia, quyền làm
chủ của nhân dân với việc nêu ý kiến, kiểm tra, giám sát; sự chủ động tiếp cận thông tin,
bồi dưỡng cá nhân từ nhân dân và sự tạo điều kiện thuận lợi của cơ quan các cấp trong
việc phát triển kinh tế.
4.2. Đề xuất khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Giải pháp kinh tế - xã hội
Để hoàn thiện công cuộc đổi mới đất nước, kiên định phát triển nền kinh tế đất nước theo
KTTT định hướng XHCN, các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và các chính sách
giải quyết vấn đề xã hội nên được ưu tiên hàng đầu. Trước thực tế kinh tế phát triển còn
chậm, chưa bền vững, sự thiếu đồng bộ trong thể chế, sự thiếu hụt trong một số vấn đề
liên quan đến con người còn tồn tại (được chỉ rõ tại mục 3.2) thì Đảng và Nhà nước cần
thực hiện các giải pháp hoàn thiện chính sách về kinh tế, xã hội nhằm tạo ra một môi
trường phát triển nền kinh tế công bằng, năng lực nhân dân được nâng cao và quyền của
nhân dân được thể hiện công bằng, bình đẳng như sau:
- Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động, diễn biến trong nền kinh tế trong
nước và quốc tế để có những định hướng, chủ trương, đường lối đúng đắn
- Phối kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, xây dựng kế
hoạch cụ thể, khoa học để cân đối hợp lý các nguồn lực phù hợp với từng vùng lãnh thổ quốc gia
- Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu
- Huy động, phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn dân tạo môi trưởng tăng trưởng
thực thi tốt chính sách kinh tế
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều tiết kinh tế của Đảng và Nhà nước
- Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao để thực hiện
tốt các chính sách, chiến lược kinh tế, đảm bảo cho sự cạnh tranh công bằng, phát
triển giữa các chủ thể kinh tế
- Tận dụng tốt tình hình khởi sắc của thể giới, hiệp định thương mại tự do đã ký kết,
nắm bắt cơ hội để phục hồi cũng như phát triển nền kinh tế. Phát triển và ban hành
luật để đảm bảo quyền và nghĩa vụ thực hiện của các chủ thể kinh tế. Giải pháp giáo dục
Xác định được nhân dân là trung tâm, đối tượng phục vụ hướng tới, năng lực của nhân
dân cần phải được phát triển để hiện thực hóa những định hướng, chiến lược lớn của đất
nước. Đảng và Nhà nước ta cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo một môi
trường bình đẳng, ai ai cũng có quyền được học và phát triển, tham gia vào nền kinh tế.
Đây là giải pháp quan trọng, chủ chốt, cốt lõi, quyết định thay đổi cục diện của nền kinh
tế và tương lai của đất nước.
Giải pháp về mặt pháp luật
Pháp luật tồn tại để bảo vệ lợi ích của nhân dân, lợi ích chung của toàn xã hội. Trong nền
KTTT định hướng XHCN, pháp luật càng được chú trọng và cần phải tác động tích cực
đến các chủ thể kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích của người tham gia vào nền kinh tế, quy
định rõ ràng nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước, nhân dân và các mối quan hệ trong nền kinh
tế. Pháp luật phải là công cụ có hiệu lực trong việc đảm bảo bình đẳng, minh bạch, phòng
chống tham nhũng, quan liêu, đảm bảo một môi trường hoàn hảo để là nền tảng vững
chắc cho phát triển kinh tế. KẾT LUẬN
Kể từ khi Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền
KTTT định hướng XHCN đến nay, việc xây dựng, hoàn thiện cũng như phát triển thể chế
thị trường luôn là vấn đề trọng tâm, được Đảng và Nhà nước luôn đề cập đến trong các
kỳ Đại hội. Thực tế sau 35 năm đổi mới, những thành quả lớn lao của công cuộc đổi mới
đã được thể hiện rõ ràng ở kết quả là một nền kinh tế tương đối ổn định, hội nhập và
không ngừng phát triển. Để có được những thành tựu này, không thể không kể đến sự
lãnh đạo tài tình của Đảng, sự phối hợp nhịp nhàng của các thành phần kinh tế, nhân dân
và được định hình, thúc đẩy bởi những yếu tố khác mà theo ngôn ngữ chuyên môn đó là
điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Bài viết về đề tài “Tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” đã phân tích được bao quát những vấn đề liên
quan, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường và cụ thể là sự phát triển
của nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam. Từ đó, một số phương hướng hoàn
thiện thể chế, phát triển KTTT, khắc phục những hạn chế còn tồn tại được đề xuất.
KTTT định hướng XHCN được xem là một phương tiện để xây dựng xã hội chủ nghĩa,
phát triển đất nước, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Để có được sự tăng
trưởng kinh tế đó, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa những điều kiện khách quan và các
nhân tố chủ quan để dần nâng cao sự ổn định và vững mạnh. Hai yếu tố này luôn song
hành cùng nhau, bổ trợ cho nhau và không thể tách rời. Điều kiện khách quan là nhân tố
có vai trò quyết định yếu tố chủ quan. Song, yếu tố chủ quan lại phản ánh được năng lực
trí tuệ và tinh thần của chủ thể và nguồn động lực chính thúc đẩy chủ thể thực hiện mục
tiêu. Khi nhận thức rõ được điều này, những chiến lược, chính sách kinh tế - xã hội được
đặt ra để phát triển KTTT sẽ trở nên thực tế hơn, hiệu quả và chất lượng hơn. Trên hết,
nhận thức này là yêu cầu tiên quyết để tiến đến gần hơn với mục tiêu dài hạn đối với toàn
Đảng, toàn dân trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Đức Lợi (2022), “Tác động của tình hình thế giới, khu vực đối với Việt
Nam trong bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc”, Tuyên giáo – Tạp chí của ban Tuyên giáo trung ương.
2. Tổng cục Thống kê, Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội (2022)
3. Vũ Văn Hà (2022), “Gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,
Trang thông tin điện tử Hội đồng lý luận trung ương
4. “Kinh tế thế giới năm 2021 và triển vọng năm 2022”, Cổng thông tin điện tử Viện
chiến lược và chính sách tài chính
5. Phan Mạnh Toàn (2021), “Nhân tố chủ quan trong phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Lý luận chính trị(lyluanchinhtri.vn)
6. Trần Đình Thảo (2021), “Về mối quan hệ giữa ổn định chính trị và phát triển kinh
tế ở Việt Nam”, Institute of Philosophy Vietnam
7. Trần Nguyễn Tuyên (2021), “Một số vấn đề về môi trường ở Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí của Ban tuyên giáo trung ương
8. “Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng,
hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế”, Bộ Khoa học và Công nghệ
9. Nguyễn Anh Tuấn (2013), “Biện chứng cái chủ quan và cái khách quan trong tư tưởng của V.I.Lênin”
10. Nguyễn Thị Hào (2021), “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN theo quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII”, Khoa Lý luận chính trị Đại học Kinh tế quốc dân
11. Bộ GD&ĐT (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà Nội
12. Trần Văn Bão (2016), Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân.