ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HỘI NHÂN VĂN
KHOA NHÂN HỌC - NGÀNH TÔN GIÁO HỌC
***
TIỂU
LUẬN
GIỮA
KỲ
MÔN
HỌC:
CHỦ
NGHĨA
HỘI
KHOA
HỌC
CHỦ
ĐỀ:
VẤN
ĐỀ
DÂN
TỘC
TÔN
GIÁO
TRO THỜI
KỲ
QUÁ
ĐỘ
LÊN
CHỦ
NGHIA
HỘI
GIẢNG VIÊN: ThS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÀNH
HK 2 NK: 2023-2024
Thành phố Hồ Chí Minh, 2024
1
1
DANH
SÁCH THÀNH
VIÊN
Họ
n
MSSV
1.
Trần
Duy
2356220009
2.
Lâm
Gia
Hân
2356220014
3.
Ngô
Ngọc
Gia n
2356220016
4.
Huỳnh
Thị
Kim Hoa
2356220018
5.
Nguyễn
Thị
Ngọc
Mai
2356220026
6.
Phạm
Ngọc
Mai
2356220027
7.
Thị
Phương
Nn
2356220032
8.
Phạm
Nguyễn
Khánh
Nhi
2356220034
9.
Đỗ
Thị
Hương
Quỳnh
2356220037
10.
Long
Đức
Thịnh
2356220046
11.
Trần
Ngọc
Mỹ
Tn
2356220050
12.
Nguyễn
Tường Trí
2356220051
13.
Trần
Chí
2356220052
14. Nguyễn
Thị
Huỳnh
Nhung
1856090180
2
LỜI CẢM ƠN
Xuyên
suốt
quá trình học
tập
môn
Chủ nghĩa hội khoa học,
giảng
viên Nguyễn Thị Phương Thành đã truyền đạt cho các thành viên trong nhóm
chúng em những kiến thức chuyên ngành rất bổ ích quan trọng trong sự
nghiệp học thuật. Bên cạnh đó, đã tạo điều kiện cho nhóm tiếp cận kiến
thức môn học một cách chủ động sáng tạo hơn thông qua việc thuyết trình
diễn kịch. Cách học này không những giúp chúng em tiếp thu kiến thức
một cách toàn diện sâu sắc hơn còn hội để nhóm chúng em rèn
luyện thêm các kỹ ng mềm, không chỉ phục vụ việc học khi còn ngồi trên
ghế nhà trường còn giúp ích cho chúng em trong công việc sau này.
Nhóm chúng em xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô - thạc sỹ
Nguyễn Thị Phương Thành.
Kính cảm ơn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn chia sẻ những kiến thức
quan trọng giúp nhóm chúng em hoàn thành bài thuyết trình này.
Trong quá trình thực hiện bài thuyết trình diễn kịch, nhóm chúng em
khó tránh khỏi còn những thiếu sót về một số nội dung. Chúng em rất mong
sẽ đưa ra những lời nhận xét góp ý chân thực nhất để nhóm thể cải
thiện nội dung bài thuyết trình cũng như rút kinh nghiệm cho các bài sau!
Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn mong rằng sẽ tiếp tục
nhận được
sự
giảng
dạy
giúp
đỡ
trong
những
chặng
đường
học tập
tiếp
theo
từ
cô.
Kính
trọng,
Nhóm
“Luôn
giữ
bình tĩnh”.
3
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh thế giới hiện đại, sự biến đổi không ngừng của các hệ
thống chín trị, kinh tế hội đã đặt ra những thách thức hội mới
cho quá trình xây dựng phát triển các quốc gia. Đặc biệt, trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa hộ vai trò của vấn đề dân tộc tôn giáo trở nên
cùng quan trọng phức tạp. Đâ không chỉ những yếu tố cấu thành nên
bản sắc văn a hội của mỗi quốc gia, còn những động lực
mạnh mẽ tác động đến diễn trình tiến n chủ nghĩa hội.
Vấn đề dân tộc tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị,
kinh tế hội, đòi hỏi một sự hiểu biết toàn diện để thể quản
phát huy những giá trị tích cực của các vấn đề này một cách hiệu quả. Sự đa
dạng về dân tộc tô giáo, nếu được tiếp cận phát huy đúng đắn sẽ
nguồn lực quan trọng góp phần vào sự phát triển bền vững hòa bình. Ngược
lại, nếu không được giải quyết một cách khéo léo, những vấn đề này thể
dẫn đến xung đột, chia rẽ làm suy yếu quá trình phát triển hội của
mỗi một quốc gia nói riêng toàn Thế giới nói chung.
Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc về vai trò của vấn đề dân tộc
tôn giá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội không chỉ một nhiệm vụ
khoa học còn một yêu cầu thực tiễn cấp bách. Bài tiểu luận sẽ cung
cấp quan điểm bản chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, tôn giáo;
mối tương quan giữa dân tộc v tôn giáo. Đồng thời, nắm quan điểm, nội
dung chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng Nhà nước Việt Nam hiện nay.
4
MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
...............................................................................
1
LỜI CẢM ƠN
.........................................................................................................
2
LỜI MỞ ĐẦU
........................................................................................................
3
MỤC LỤC
................................................................................................................
4
CHƯƠNG 6: VẤN ĐÊ DÂN TỘC TÔN GIÁO TRONG THƠI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA HỘI ..................................................................................... 5
I.
DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA HỘI
....
5
1. Khái niệm, đặc trưng: ............................................................................................. 5
1.1. Dân
tộc
với
nghĩa
rộng:
Quốc
gia ............................................................ 5
1.2. Dân
tộc
với
nghĩa
hẹp:
Cộng
đồng
tộc
người .......................................... 7
2. Chủ
nghĩa
Mác
Lênin
về
vấn
đề dân
tộc ........................................................... 8
2.1. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc: V.I. Lênin phát hiện
ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển quan hệ dân tộc: ..................... 8
2.2. Cương
lĩnh dân
tộc
của
chủ
nghĩa
Mác
Lênin: ..................................... 9
3. Dân
tộc
quan hệ
dân
tộc
Việt
Nam ........................................................... 11
3.1. Đặc
điểm dân
tộc
Việt
Nam ................................................................ 11
3.2. Quan
điểm, chính
sách
của
Đảng
về
vấn
đề
dân
tộc ............................. 12
II.
TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA
HỘI14
1. Quan
điểm
chủ nghĩa
Mác
Lênin về
tôn
giáo .................................................. 14
1.1. Bản
chất,
nguồn
gốc
tôn
giáo ................................................................. 14
1.1.1. Bản
chất
của
tôn
giáo .................................................................... 14
1.1.2. Nguồn
gốc
tôn
giáo ...................................................................... 14
1.1.3. Tính chất của tôn giáo .................................................................... 15
1.2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên ch nghĩa
hội ............................................................................................................... 16
2. Tôn
giáo
Việt
Nam
chính
sách
tôn
giáo
của
Đảng,
Nhà
nước
ta
hiện
nay:
. ............................................................................................................................. 18
2.1. Đặc
điểm tôn
giáo
Việt
Nam ............................................................... 18
2.2. Chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo
hiện nay ...........................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
..................................................................................
20
5
CHƯƠNG
6:
VẤN
ĐỀ
DÂN TỘC
TÔN
GIÁO
TRONG THỜI
KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA HỘI
I.
DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA
HỘI
1.
Khái niệm, đặc trưng:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc quá trình phát triển
lâu d của hội loài người, trải qua các nh thức cộng đồng từ thấp đến cao,
bao
gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. S biến đổi của phương thức sản xuất
chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng tộc người.
phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất bản chủ nghĩa
được
xác
lập thay
thế phương thức
sản
xuất
phong
kiến.
Khi
phương
thức
sản
xut
bản chủ nghĩa thay thế phong kiến, tức khi hội chuyển từ một nền
kinh tế dựa trên quan hệ lệ phong kiến sang một nền kinh tế dựa trên
sở hữu nh và thị trường tự do, các địa vị hội kinh tế bắt đầu thay
đổi. Việc này tạo đi kiện cho việc hình thành dân tộc, những nhóm người
các quan hệ kinh tế x hội mới, như những nhóm nông dân, thương nhân,
hoặc công nhân, bắt đầu nhận
biết
tự
nhận
mình
một
đơn
vị
dân
tộc
riêng
biệt,
với
các
quan
hệ
lợi ích
chung đặc biệt. Do đó, quá trình này đánh dấu sự hình thành phát triển của
dân tộc trong hội phương Tây theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
phương Đông, dân tộc được hình thành trên sở một nền văn hóa, một
tâm dân tộc đã phát triển tương đối chín mùi một cộng đồng kinh tế tuy
đã đạt tới một mức độ nhất định, song nhìn chung còn kém phát triển
trạng thái phân Trong phương Đông, dân tộc thường được hình thành dựa
trên một nền văn a tâm dân tộc đã phát triển từ trước, thể bao
gồm các giá trị, truyền thống, ngô ngữ, quan hệ hội đặc biệt. Tuy nhiên,
mặc đã sự phát triển đáng kể trong cộng đồng kinh tế văn hóa, dân
tộc phương Đông thường vẫn kém phát triển so với dân tộc phương Tây.
Điều này thể do một số yếu tố, bao gồm sự chậm trễ trong quá trình công
nghiệp hóa hiện đại hóa, sự ảnh hưởng của các h thống hội truyền
thống, sự phân tán của cộng đồng dân tộc. Do đó, dân tộc phương Đông
thường đang trong trạng thái phân tán, tức chưa thể tập trung tổ
chức
mạnh
mẽ
như
dân
tộc
phương
Tây. n
tộc
được
hiểu
theo
hai
nghĩa
rộng nghĩa hẹp.
1.1.
Dân tộc với nghĩa rộng: Quốc gia
Khái
niệm:
Dân
tộc
(Nation)
chỉ
một
cộng
đồng người
ổn
định
làm
thành
6
nhân dân một nước, lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, ngôn ngữ
chung thức về sự thống nhất của mình, gắn với nhau bởi quyền lợi
chính trị, kinh tế,
7
truyền thống văn hóa truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch
sử lâu dài dựng nước giữ nước. Theo nghĩa rộng, dân tộc 5 đặc trưng
bản:
Thứ nhất, chung một vùng lãnh thổ ổn định: Lãnh thổ: một khái niệm
về không
gian
gồm
vùng
đất,
vùng
trời,
vùng
biển thuộc
quyền
sở
hữu
của
mỗi
quốc gia dân tộc. Đối với cộng đồng quốc gia dân tộc (nation), yếu tố lãnh
thổ thiêng liêng nhất. Cho nên bảo vệ chủ quyền quốc gia nghĩa vụ
trách nhiệm cao nhấ của mỗi thành viên dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu a,
thành viên quốc gia dân tộc không chỉ trú vùng lãnh thổ của mình
còn phân tán khắp thế giới => lãnh thổ không còn hẹp trong biên giới hữu
hình, được mở rộng thành đường biên giới “mềm”, phân định ranh giới giữa
các quốc gia dân tộc bằng dấu ấn văn a.
Thứ
hai,
chung một
phương
thức
sinh
hoạt
kinh
tế.
Đây
đặc
trưng
quan trọng nhất của dân tộc. sở liên kết các bộ phận, các thành viên
của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của dân tộc. Khi chung một
phương thức sinh hoạt kinh tế giúp tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các thành
viên trong cộng đồng quốc gia dân
tộc.
Khi
mọi
người cùng
làm
việc
trong
các
hoạt động
kinh
tế
tương
tự,
họ xu hướng hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, tạo
ra sự gắn đoàn kết.
Thứ ba, chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp. Trong một quốc gia
nhiều cộng đồng tộc người với các ngôn ngữ khác nhau, nhưng bao giờ
cũng sẽ ngôn ngữ chung, thống nhất (về cấu trúc ngữ pháp từ vựng
bản). Chẳng hặn như Việt Nam dân tộc Khmer ngôn ng riêng tiếng
Khmer, dân tộc Tày tiếng Tày,..nhưng ngôn ngữ thống nhất chung Việt
Nam ta tiếng Việt.
Thứ tư, chung một nền văn hóa tâm lý. Văn hóa yếu tố quan
trọng tron sự liên kết cộng đồng. Văn hóa của quốc gia dân tộc (nation) gắn
liền với văn hóa của
các
cộng
đồng tộc
người
(ethnics)
trong
một
quốc
gia,
được
biểu
hiện
qua tâm lý,
tính
cách,
phong tục,
tập
quán,
lối
sống. Văn
hóa
của
một
quốc
gia
dân
tộc không thể tự bản thân phát triển phải trải
qua sự giao lưu với dòng chảy văn hóa của các dân tộc khác, nhưng đồng thời
luôn ý thức bảo tồn tránh nguy đồng hóa về văn hóa (Hòa nhập nhưng
không hòa tan).
Cuối cùng, chung một nhà nước (nhà nước dân tộc). Đây yếu tố phân
biệt dân tộc quốc gia dân tộc tộc người. Nhà nước đặc trưng cho thể chế
chính trị của dân tộc, đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc gia,
dân tộc khác trên thế giới.
Tựu trung, các đặc trưng trên mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại
kết hợp với nhau tạo nên tính ổn định, bền vững của cộng đồng quốc gia dân
tộc.
8
1.2.
Dân tộc với nghĩa hẹp: Cộng đồng tộc người
Khái
niệm:
Dân
tộc
(Ethnie):
cộng
đồng
tộc
người
được hình
thành
trong
lịch sử, mối liên hệ chặt chẽ bền vững, chung ý thức tự giác
tộc người, ngôn ngữ văn hóa. Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa
phát triển cao hơn những nhân
tố
tộc người
của
các
cộng
đồng đó.
Với
nghĩa
hẹp
này,
dân
tộc
mang
ý
nghĩa bộ phận hay thành phần của quốc gia. Các
đặc trưng bản của dân tộc - tộc người theo nghĩa hẹp:
Thứ nhất, cộng đồng về ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết;
hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói. Đây tiêu chí bản để phân biệt các tộc
người khác nhau. Việt
Nam
dân
tộc
H'mông
ngôn
ngữ
riêng
nói
tiếng
H'mông,
dân
tộc
Khmer
ngôn
ngữ
riêng
tiếng
Khmer,
dân
tộc
Tày
tiếng Tày,….
Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển, những tộc người không
còn ngôn ngữ mẹ đẻ nữa. Dân tộc Ơ đu xưa vốn tiếng Ơ-đu nhưng hiện nay
hầu như không còn ai sử dụng.
Thứ hai, cộng đồng về văn hóa. bao gồm văn hóa vật thể văn hóa phi
vật thể phản
ánh
truyền
thống, lối
sống, phong
tục
tập
quán,
tín
ngưỡng,
tôn
giáo
của
từng tộc người. Hiện nay, xu thế giao lưu văn hóa tồn tại song song
với xu thế phát huy bảo tồn bản sắc văn hóa của một tộc người.
Thứ ba, ý thức tự giác tộc người. Đây tiêu chí quan trọng nhất để phân
biệt c tộc người quyết định sự tồn tại phát triển của mỗi tộc người. Các
tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình, đồng thời
ý thức tự khẳng định sự tồn tại phát triển của mỗi tộc người. Sự ý thức
tự giác tộc người này liên quan đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm
tộc người. Chẳng hạn như người Thái các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn
La, Điện Biên Lễ Hội Xên Mường,
đây
một
trong
những
lễ hội
truyền
thống
quan
trọng
nhất.
Lễ
hội
này nhằm cúng tế thần linh, cầu mong mùa
màng bội thu cuộc sống an lành. Người H'Mông Tết Nào Chầu (Tết
Trồng Cây) vào dịp đầu xuân để người H'Mông
tạ
ơn
thần
linh, cầu
mùa
màng
bội
thu
gia
đình
hạnh
phúc.
Những
dụ
trên minh họa ràng về ý thức tự giác của các tộc người Việt Nam trong
việc bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống, qua đó góp phần làm
giàu thêm văn hóa dân tộc tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng. Cả ba
tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người xuyên suốt quá trình phát
triển, đồng thời căn cứ để xem xét phân định các tộc người Việt Nam.
Như vậy, về định nghĩa “Dân tộc” hai cách hiểu rộng hẹp không đồng
nhất nhưng gắn mật thiết với nhau. Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc
người, dân tộc tộc người bộ phận hình thành dân tộc quốc gia. Dân tộc tộc
người ra đời tro những quốc gia nhất định thông thường những nhân tố
hình thành dân tộc tộc người
không tách
rời
với
những
nhân
tố
hình
thành
quốc
gia. Đó
do khi
nói đến dân tộc Việt Nam thì không thể bỏ qua 54
cộng đồng tộc người, trái lại, khi n
9
đến 54 cộng đồng tộc người Việt Nam phải gắn liền với sự nh thành
phát triển của dân tộc Việt Nam.
2.
Chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc:
2.1.
Hai xu ớng khách quan của sự phát triển dân tộc: V.I.
Lênin phát ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển quan hệ
dân tộc:
Xu hướng thứ nhất: cộng đồng dân muốn tách ra để hình thành cộng
đồng tộc độc lập. Nguyên nhân do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý
thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồng dân đó
muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập. Điều đó thể hiện nét trong
phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa phụ
thuộc (điển hình như Việt Nam), họ muốn thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của
các nước thực dân, đế quốc.
TK XIX Chủ nghĩa bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn
đế quố chủ
nghĩa,
đưa
quân
đội,
khí,
dùng
lực
để xâm
lược
các
quốc
gia
(Châu
Á Châu Phi), cả Trung Nam Mĩ. Các nước Châu
Phi bị xâm lược bởi An Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ. Do sự thức
tỉnh, trưởng thành về ý thức dân tộc sớm như đã nói thì các cái cộng đồng
dân tộc này muốn tách ra thành lập dân tộc độc lập. Tiểu biểu như
nhân dân Ấn Độ Libya dành độc lập năm 195 tiếp đó một loạt các
nước Châu Phi khác. lịch sử ghi nhận năm 1970 Năm Châu Phi với 17
nước được trao trả độc lập đến 1975 cuộc đấu tranh chống thực dân Bồ Đào
Nha, chủ nghĩa thực dân Châu Phi
cùng hệ thống thuộc địa bản bị
tan rã. Hay Châu Á Việt Nam ta một dụ điển hình, bị Thực d
Pháp
Nhật
xâm
lược.
đến
cách
mạng tháng
8
thành
công
ta
tuyên
bố
không còn thuộc địa của Nhật Pháp, tuyên bố chế độ phong kiến rút
lui trong hoà bình không đổ máu. Thành lập nước VNDCCH vào 2/9/1945.
Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc
nhiều quốc
gia
muốn
liên
hiệp
lại
với
nhau.
Xu hướng
này
nổi lên
trong giai
đoạn
chủ nghĩa
bản đã
phát
triển
thành
chủ
nghĩa đế
quốc
đi
bóc lột
thuộc
địa;
Nguyên nhân do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa
học công nghệ, của giao lưu kinh tế văn hóa trong hội bản chủ
nghĩa đã làm xuất hiện nhu cầ xóa
bỏ
hàng
rào
ngăn
cách
giữa
các
dân
tộc,
thúc
đẩy
các
dân
tộc
xích
lại
gần
nha
Quốc tế III của Lênin đã chỉ ra việc công nhân đấu tranh chống lại sự áp
bức của giai cấp sản, chống chế độ sở hữu nhân bản chủ nghĩa.
sự liên hiệp dân tộc thuộc địa bị áp bức để chống chủ nghĩa thực dân, đế
quốc,… Quốc tế III d Lênin thành lập không chỉ quan điểm của Mác TK
XIX (Giai cấp công nhân
toàn
thế
giới
liên hiệp
lại)
Lênin
đã
phát triển
thành
giai
cấp chủ
nghĩa
cách
10
mạng sản hay cách mạng giải phóng dân tộc chung một kẻ thù
thế các dân tộc liên hiệp lại, đoàn kết lại với nhau. Xu hướng này không chỉ
trong thời đấu
tranh
giải
phóng
dân
tộc
cả
sau
khi
giành
được
độc
lập
dân
tộc
thì việc
xoá
10
bỏ rào cản, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau vẫn luôn diễn ra. Nếu
xưa c hội
như
hội
liên
hiệp thuộc
địa,
Liên
bang chủ
nghĩa
Viết,…
thì
ngày
nay nhiều hội như hội Châu Á Thái Bình Dương hay Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam
Á
(ASEAN),…
Hai
xu
hướng
này
được
biểu
hiện
rất
đa
dạng
phong phú,
thể
hiện:
Trong phạm vi một quốc gia: Xu hướng thứ nhất thể hiện trong sự nỗ lực
của từng dân tộc (tộc người) để đi tới sự tự do, bình đẳng phồn vinh của
dân tộc mình. Cố gắng xoá bỏ sự phân biệt sắc tộc, chủng tộc. Xu hướng
thứ hai thể hiện sự xuất hiện những động lực thúc đẩy các dân tộc trong một
cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hòa hợp với nhau mức độ cao
hơn trên mọi lĩnh vực của đời sống hội.
Trong phạm vi quốc tế: Xu hướng thứ nhất thể hiện trong phong trào giải
phóng dân tộc nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc chống chính sách thực
dân đô hộ dưới mọi hình thức, phá bỏ mọi áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế
quốc Độc lập dân tộc chính mục tiêu chính trị chủ yếu của mọi quốc gia
trong thời đại ngày nay. Xu hướng thứ hai thể hiện xu thế các dân tộc
muốn xích lại gần nhau, hợp tác với nhau để hình thành liên minh dân tộc
phạm vi khu vực hoặc toàn cầu.
Hai xu hướng khách quan này sự thống nhất biện chứng với nhau trong
tiến trình phát triển của mỗi quốc gia của toàn nhân loại, hai xu hướng
này luôn tác động qua lại với nhau, hỗ trợ cho nhau, mọi sự vi phạm
mối quan hệ biện chứ này đều dẫn tới những hậu quả tiêu cực, khó lường.
hiện nay, hai xu hướng trê diễn ra khá phức tạp trên phạm vi quốc tế
trong từng quốc gia, thậm chí bị lợi dụng vào mục đích chính trị nhằm thực
hiện chiến lược "diễn biến hòa bình".
2.2.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác Lênin:
sở của Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin gồm sở
luận c sở thực tiễn. sở luận dựa trên chủ nghĩa Mác - Ăngghen về
mối quan hệ giữa dân
tộc
giai cấp
cũng
với
việc phân
tích
hai
xu
hướng
khách quan trong sự
phát triển
dân
tộc.
sở thực
tiễn
bắt
nguồn
từ
kinh
nghiệm
của
phong trào
cách
mạng thế giới cụ thể cách mạng Nga trong
việc giải quyết các vấn đề dân tộc những năm đầu TK XX.
Nội
dung
cương
lĩnh
dân
tộc
chủ
nghĩa
Mác
nin:
“Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên
hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại.” (V.I Lênin, 1980, 375)
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng. Quyền thiêng liêng của các dân tộc
(không phụ thuộc vào số lượng, trình độ phát triển, dân tộc lớn hay nhỏ…) thì
các dân tộc đề quyền lợi nghĩa vụ như nhau trên tất cả lĩnh vực. Trong
10
một quốc gia nhiều dân
tộc thì phải đảm bảo quyền bình đẳng dân tộc phải được pháp luật bảo vệ.
Hiện nay vẫn còn nạn phân biệt chủng tộc trên thế giới, nổi bật nạn phân
biệt chủng tộc, màu da giữa người da trắng với người da đen hay luật
Apartheid sắp xếp người dân theo ba nhóm chủng tộc chính: người da trắng,
người Bantu hay người châu Phi da đen, người da màu hay người nguồn
gốc lai Nelson Mandela - cố tổng thống
Nam
phi
vị
anh
hùng
của
dân
tộc
Nam Phi
trong
cuộc đấu
tranh
chống phân biệt chủng tộc Apartheid. Bên
cạnh đó, khắc phục được nh trạng chênh lệch
về trình độ, phát triển kinh tế, văn hóa dân tộc cho nên Nhà Nước thể
ban hành các chính ch như miễn giảm học phí, mở lớp dạy học, cung cấp
giống cây trồng, phương
thức
canh
tác
mới.
Hai điều
trên
phải
được
thực
hiện
trong thực tế
(một
số nhà nước vẫn đưa chính sách về quyền bình đẳng
dân tộc vào trong hiến pháp
nhưng trong thực tiễn vẫn không chia rẽ phân biệt). Giữa các quốc gia
dân t quyền bình đẳng dân tộc phải gắn liền với đấu tranh chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa quyền nước lớn, chống sự áp
bức bóc lột của cá nước bản phát triển.
Dân tộc được quyền tự quyết. Quyền dân tộc được tự quyết định vận mệnh
của mình (tự lựa chọn chế độ chính trị con đường phát triển của dân tộc
mình) bao gồm quyền tách ra quyền tự liên hiệp với các dân tộc khác trên
sở bình đẳn Quyền dân tộc tự quyết này phải xuất phát từ thực tiễn đó
đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân đảm bảo sự thống nhất giữa
lợi ích dân tộc lợi ích của giai cấp công nhân. Tuy nhiên quyền dân tộc
tự quyết này dễ thành chiêu bài cho các thế lực thù địch lợi dụng để can
thiệp vào công việc nội bộ của các nước (lợi dụng quyền tự liện hiệp với các
quốc gia dân tộc khác),
kích động đòi ly khai dân tộc (lợi dụng quyền tách
ra). Trong lịch sử nước ta đã thời bị tước đi quyền tự quyết định vận
mệnh của mình, khi thực dân Pháp xâm lược đã chia nước ta thành 3 xứ với
3 chế độ chính trị khác nhau: Nam Kỳ thuộc địa, Trung Kỳ l xứ bảo hộ
Bắc kỳ xứ nửa bảo hộ. Với tinh thần đấu tranh, giành độc lập dân tộc
thì dân tộc Việt Nam đã được quyền tự quyết định vận mệnh của mình,
một nước hoàn toàn độc lập.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Điều này phản ánh sự thống nhất
giữa giả phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn chặt chẽ
giữa tinh thần chủ nghĩa
yêu
nước
chủ
nghĩa
quốc
tế
chân chính.
Đây
nội
dụng
chủ yếu,
vai trò quan trọng trong việc xem xét thực hiện hai
nội dung trên (bình đẳng, tự quyết). Đồng thời yếu tố sức mạnh của giai cấp
công nhân giai cấp bị bóc lột trong hình trình đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc.
Nội dung cương lĩnh dân tộc chủ nghĩa Mác Lênin chính sở
luận quan trọng để các Đảng Cộng Sản vận dụng thực hiện chính sách dân tộc.
3.
Dân tộc quan hệ dân tộc Việt Nam:
3.1.
Đặc điểm dân tộc Việt Nam:
Việt Nam được xem một Quốc gia đa dân tộc những đặc điểm
nổi bật sau:
Thứ
nhất,
sự
chênh
lệch
về
số
dân
của
các
dân
tộc.
Việt
Nam
tổng
cộng
l
54 dân tộc. Trong đó, dân tộc kinh chiếm đa số với 85,3% tổng số dân. 53
dân tộc còn lại Việt Nam thì 6 dân tộc dân số chiếm trên 1triệu
người (dân tộc chiếm số đông nhất với 1,85tr người, dân tộc Thái, Mường,
Mông, Khmer Nùng). 11 dân tộc dân số dưới 5 nghìn người. Trong
đó, dân tộc Ơ-Đu dân số t nhất với 428 người. Địa bàn sinh sống chủ
yếu của các dân tộc thiểu số vùng trung du, miền núi phía Bắc Tây
Nguyên. Các dân tộc thiểu số, đặc biệt nhữn dân
tộc
ít
người sẽ
gặp nhiều
khó
khăn
trong
việc
tổ
chức
cuộc
sống,
bảo
tồn tiếng nói địa phương, văn
hóa dân tộc cũng như duy trì phát triển giống nòi. Nhằm giải quyết
những
vấn
đề
trên
thì
Đảng
cũng
như
Nhà
nước
ta
đã
những
chính
sách đặc
biệt quan tâm đến việc phát triển dân số hợp đối với các dân tộc thiểu số.
Thứ
hai,
các
dân
tộc
trú
xen
kẽ nhau.
Việt
Nam vốn
được
xem
nơi
chuyển
của
nhiều
dân
tộc
trên
khu vực
Đông
Nam Á.
Tính
chất chuyển
này
đã làm cho
bản
đồ
trú
của
các
dân
tộc
trở
nên
phân
tán
xen
kẽ
nhau.
Do
vậy,
khôn
một dân tộc nào Việt Nam lãnh thổ tộc người riêng, duy nhất trên
một địa bàn. Điều này nghĩa các dân tộc Việt Nam không lãnh thổ
tập trung riên biệt, phân bố sống lẫn lộn với nhau trên cùng một khu vực.
Việc sinh sống trên cũng một lãnh thổ nhưng không lãnh thổ riêng cho
từng tộc người cả mặt tích cực tiêu cực. Về tích cực thì điều này giúp
tạo thuận lợi trong việc các dân tộc giúp đỡ lẫn nhau, mở rộng giao lưu tăng
cường hiểu biết giữa các dân tộc từ đó góp phần xây dựng một nền văn
hóa thống nhất trong đa dạng. Về mặt tiêu cực
thì khi các dân tộc sinh sống cùng với nhau sẽ dễ phát sinh mâu thuẫn, xung
đột từ đó dễ dàng tạo kẽ hở để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng, gây
chia rẽ ả hưởng đến sự đoàn kết của dân tộc.
Thứ ba, các dân tộc thiểu số Việt Nam phân bố chủ yếu địa bàn vị
trí chiế lược quan trọng. Mặc chiếm 14,3% dân số, trong 53 dân tộc thiểu
số lại trú trên ¾ diện tích lãnh thổ đặc biệt những vùng lãnh thổ
trọng yếu của nước ta (biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa,...). Một số dân
tộc thì vẫn mối quan hệ dòng tộc với các nước láng giềng khu vực vd
như dân tộc hoa, Thái, Khmer,... do vậy thì dễ tạo kẽ hở để các thế lực thù
địch lợi dụng để gây mất nh đoàn kết giữa các dân tộc,...
Thứ tư, các dân tộc Việt Nam trình độ phát triển không đều. Các
dân tộc nước
ta
sự chệnh
lệch khá
lớn
về
trình
độ phát
triển.
Về
phương
diện
hội, trình độ tổ chức đời sống quan hệ hội của các dân
tộc thiểu số thì không giống
nhau. Về phương diện kinh tế thì những trình độ phát triển rất khác nhau.
Về văn hóa thì trình độ dân trí, chuyên môn kỹ thuật của các dân tộc thiểu số
còn thấp.
Muốn bình đẳng thì trước hết cần phải tiến hành xóa, giảm bớt khoảng cách
phát triển giữa các dân tộc. Đây được xem nội dung quan trọng trong
đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thứ năm, các dân tộc Việt Nam truyền thống đoàn kết, gắn lâu đời
trong cộng đồng dân tộc quốc gia thống nhất.
Thứ sáu, mỗi dân tộc bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong
phú đ dạng
của
nền
văn
hóa
Việt
Nam thống
nhất.
Đảng
Cộng
sản
Việt
Nam ngay
từ
khi ra đời đã thực hiện nhất quán những nguyên tắc bản của
chủ nghĩa Mác về dân tộc. Dựa theo những thực tiễn lịch sử đấu tranh cách
mạng để xây dựng bảo vệ Tổ
quốc
thì
Đảng
Nhà
nước
ta
luôn
coi
trọng
vấn
đề
dân
tộc
đặc
biệt
trong đề
xây
dựng
khối đại
đoàn
kết
dân
tộc.
Mỗi thời
kỳ
thì Đảng
Nhà
nước
ta
coi việc giải quyết đúng đắn các
vấn đề về dân tộc nhiệm vụ tính chiến lược.
3.2.
Quan điểm, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc
Quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc: Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ
khi ra đời đã thực hiện nhất quán những nguyên tắc bản của chủ nghĩa
Mác về dân tộc Vấn
đề
dân tộc
đoàn
kết toàn
dân
tộc
vấn đề
chiến
lược
bản,
lâu
dài
cũng vấn đề cấp bách hiện nay. Các dân tộc trong
đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát
triển xây dựng, bảo vệ Tổ quốc…Kiên quyết đấu tranh với âm mưu chia rẽ
dân tộc. Phát triển toàn diện chính
trị, kinh tế, văn hóa, hội an ninh quốc phòng, gắn tăng trưởng kinh tế
với giải quyết các vấn đề hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc. Ưu tiên
đầu phát triển kinh tế- hội c vùng dân tộc miền núi. Đây nhiệm của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Công tác dân tộc thực hiện chính sách dân
tộc nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành,
của toàn bộ hệ thống chính trị.
Chính sách dân tộc bản của Đảng nhà nước ta được thể hiện cụ thể
nhữ điểm sau:
Về chính trị: thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng
phát triển giữa các dân tộc.
Về kinh tế: chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - hội miền núi,
vùng đồn bào các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng phát triển, từng
bước khắc phục khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, giữa các dân tộc.
Về văn hoá: xây dựng nền văn hoá VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Giữ phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người, phát triển
ngôn ngữ, xâ dựng đời sống văn hoá sở, nâng cao trình độ văn hoá cho
nhân dân các dân tộc.
Về hội: thực hiện chính sách hội, đảm bảo an sinh hội trong
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về an ninh quốc phòng: Tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên sở
đảm bảo ổn định chính trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn
hội.
II.
TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA
HỘI
1.
Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về tôn go
1.1.
Bản chất, nguồn gốc tôn go
1.1.1.
Bản chất của tôn giáo:
Ph. Ăngghen cho rằng: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ sự phản ánh
ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng bên ngoài
chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ sự phản ánh trong đó những lực
lượng trần thế đã mang
hình
thức
những
lực
lượng
siêu
trần
thế”.
Chủ
nghĩa Mác
-
Lênin
cho
rằng, tôn giáo một hình thái ý thức hội phản
ánh ảo hiện thực khách quan.Thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự
nhiên hội trở thành siêu nhiên, thần một cách tiếp cận khác, tôn
giáo một thực thể hội chẳng hạn như: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo…
với các tiêu chí bản sau: niềm tin sâu sắc vào đấng si nhiên (niềm tin
tôn giáo); hệ thống giáo thuyết (giáo lý, giáo luật, lễ nghi); h thống
sở
thờ
tự
người
hoạt
động tôn
giáo
chuyên
nghiệp
hay
không
chuyên
nghiệp; hệ thống tín đồ đông đảo.
Tôn giáo hiện tượng hội- văn hoá do con người sáng tạo ra. Về
phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, sự
khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác
- Lênin. Mặc sự khác biệt về thế giới quan, nhưng những người cộng
sản với lập trường mácxít không bao giờ thái độ xem thường hoặc trấn áp
những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân
dân;
ngược
lại,
luôn
tôn
trọng
quyền
tự do
tín
ngưỡng,
theo hoặc
không
theo tôn giáo của nhân dân. Trong
những điều kiện cụ th của hội, những người cộng sản những người
tín ngưỡng tôn giáo thể cùng nhau xây dựng một hội tốt đẹp hơn
thế giới hiện thực. hội ấy chính hội quần chúng tín đồ cũng
từng ước phản ánh qua một số tôn giáo. Tôn giáo tín ngưỡng
tuy không đồng nhất, nhưng sự giao thoa nhất định
tín niềm tin muội, viển vông, không dựa một sở khoa học
nào. tín dị đoan niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên,
thần thánh đến mức độ muội, cuồng tín, dẫn đến những hành vi cực đoan,
sai lệch quá mức, trái với các giá trị văn a, đạo đức, pháp luật, gây tổn hại
cho nhân, hội cộng đồng.
1.1.2.
Nguồn gốc tôn giáo:
Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - hội : Trong hội công nguyên thủy,
do lự lượng sản xuất chưa phát triển, trước thiên nhiên hùng tác động
chi phối khiế cho
con
người cảm
thấy
yếu
đuối
bất
lực,
không
giải thích
được,
nên
con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí.
Khi hội xuất hiện các
giai cấp đối kháng, áp bức bất công, do không giải thích được nguồn gốc
của sự phân hóa giai cấp áp bức bóc lột bất công, tội ác,…, cộng với lo
sợ trước sự thống trị của các lực lượng hội, con người trông chờ vào sự
giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế.
Nguồn gốc nhận thức: một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức
của con người về tự nhiên, hội chính bản thân mình giới hạn.
Khi khoảng cách giữa “biết” “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều
khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thông
qua lăng kính các tôn giáo.
Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình độ
dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn điều kiện, mảnh
đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển.
Nguồn gốc tâm lý: Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, hội,
hay trong những lúc ốm đau, bệnh tật; ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy
ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm một việc lớn
1.1.3.
Tính chất của tôn go:
Tính lịch sử của tôn giáo : Tôn giáo một hiện tượng hội tính
lịch sử, nghĩa sự hình thành, tồn tại phát triển khả năng
biến đổi trong những giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế
độ chính trị - hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đến một
giai đoạn lịch sử nào đó, khi khoa
học
giáo dục giúp
cho
đại
đa
số
quần
chúng nhân dân nhận
thức
được bản chất các hiện tượng tự nhiên hội
thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của n trong đời sống hội cả
trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
Tính quần chúng của tôn giáo: Tôn giáo một hiện tượng hội phổ
biến tất cả
các
dân
tộc, quốc
gia,
châu
lục.
Tính
quần
chúng
của
tôn
giáo
không
chỉ
biểu hiện số lượng tín đồ rất đông đảo (gần 3/4 dân số
thế giới); còn thể hiện các tôn giáo nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần
của một bộ phận quần chúng nhân dân
Tính chính trị của tôn giáo : Khi hội chưa giai cấp, tôn giáo chỉ
phản ánh nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân thế
giới xung quanh nh, tôn giáo chưa mang tính chính trị. Tính chất chính trị
của tôn giáo chỉ xuất hiện khi hội đã phân chia giai cấp, sự khác
biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo sản phẩm
của những điều kiện kinh tế - hội, phản ánh
lợi
ích, nguyện
vọng
của các
giai
cấp
khác
nhau trong cuộc
đấu
tranh
giai
cấp, đấu tranh dân tộc, nên
tôn giáo mang nh chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử
dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai
cấp
lao động
tiến bộ
hội,
tôn giáo
mang tính
chính trị
tiêu
cực,
phản
tiến
bộ
1.2.
Nguyên
tắc giải
quyết
vấn
đề
tôn
giáo trong
thời
kỳ
quá
độ
lên
chủ ng hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại, tuy đã
sự biến đổi trên nhiều mặt. vậy, khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần đảm
bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng không tín ngưỡng
của nhân dân. Tín ngưỡng tôn giáo niềm tin sâu sắc của quần chúng vào
đấng tối ca đấng thiêng liêng nào đó họ tôn thờ, thuộc lĩnh vực ý thức
tưởng. Do đó, tự do tín ngưỡng tự do không tín ngưỡng thuộc quyền tự do
tưởng của nhân dân Quyền
này
nói
lên
rằng việc
theo đạo
đổi
đạo, hay
không theo
đạo
thuộc
quyền
tự do lựa chọn của mỗi người dân, không một
nhân, tổ chức nào, Chủ nghĩa hội khoa học kể cả những chức sắc tôn
giáo, tổ chức hội giáo…được quyền can thiệp
vào sự lựa chọn này. Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản tự do theo đạo, đổi
đạo, bỏ đạo hay đe dọa, bắt buộc người n phải theo đạo đều xâm phạm đến
quyền tự do tưởng của họ. dụ: người chồng ép vợ nh đổi từ đạo Thiên
Chúa sang đạo Phật đ giống với gia đình, dòng họ nhà chồng; hành vi này vi
phạm Điều 24 Hiến pháp 2013 Luật Hôn nhân Gia đình "quyền Bình
đẳng Hôn nhân Gia đình trong quan
hệ
nhân
thân".
Tôn
trọng quyền
tự
do
tín
ngưỡng
cũng
chính
tôn
trọng quyền
con người, thể hiện
bản
chất
ưu
việt
của
chế
độ
hội
chủ
nghĩa.
Nhà
nước hội chủ nghĩa không can
thiệp không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đến quyền tự do tín
ngưỡng, quyền lựa chọn theo hay không theo tôn giáo của nhân dân. c tôn
giáo hoạt động tôn giáo bình thường, các sở thờ tự, các các phương tiện
phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của người dân được nhà nước
hội
chủ
nghĩa
tôn trọng
bảo
hộ.
dụ: Nhà nước Việt Nam cho phép các
nhà
thờ, giáo xứ đạo Thiên Chúa hằng tuần tổ chức các buổi đọc Kinh thánh,
nghe giảng và xem những tiết mục liên quan đến Thiên Chúa giáo.
Thứ hai, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn
liền với quá trình cải tạo hội cũ, xây dựng hội mới. Nguyên tắc này để
khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ hướng vào việc giải quyết những ảnh
hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân không chủ
trương can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. dụ: Việt Nam bài
trừ các "tà đạo", các giáo hội không đượ Nhà
nước
cho phép
như
Hội
Thánh
Đức
Chúa Trời tại
thành
phố
Hồ
Chí
Minh; trừng phạt những người mạo danh
các mục đi lang thang ngoài đường hòng
trục lợi từ lòng tin, lòng hướng Phật của người dân. Chủ nghĩa Mác - Lênin
chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân
tồn tại hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng này sinh trong tưởng con người, phải
xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Điều cần thiết trước hết phải xác lập
được một thế giới hiện thực không áp bức, bất công, nghèo đói thất
học…cũng như những tệ
nạn nảy sinh trong hội. Đó một quá trình lâu dài, không thể thực hiện
được nếu ch rời việc cải tạo hội cũ, xây dựng hội mới. dụ: Việt
Nam hiện n đi trên con đường quá độ lên chủ nghĩa hội - một hội
"dân giàu, nước mạnh,
công bằng, bình đẳng, văn minh", thực hiện tiêu chí đó để người dân sẽ bỏ đi
nhữn ảo tưởng, những tưởng xa vời, tiêu cực, cực đoan như minh hôn trong
các gia
đình
nhà
giàu
con, cháu
chưa
lập
gia
đình
mất
sớm.
Thứ ba, phân biệt hai mặt chính trị tưởng của tôn giáo trong quá
trình giải quyết vấn đề tôn giáo. + Trong hội công nguyên thủy, tín
ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuần túy về tưởng. Nhưng khi hội đã xuất
hiện giai cấp thì dấu ấn giai cấp chính trị ít nhiều đều in trong các tôn
giáo. Từ đó, hai mặt chính trị v tưởng thường thể hiện mối quan hệ
với nhau trong vấn đề tôn giáo bản thân mỗi tôn giáo. dụ: trong hội
chiếm hữu lệ, những tầng lớp, giai cấp n lệ bị áp bức, bóc lột, bần cùng
nặng nề bởi chủ (chính trị), thế họ tin tưởng rằng một thế lực siêu
trần thế thể cứu giúp họ cho họ tự do, hạnh phúc (tư tưởng). Mặt chính
trị phản ánh mối quan hệ giữa tiến bộ phản tiến bộ, phản ánh mâu thuẫn
đối kháng về lợi ích kinh tế chính trị giữa các giai cấp, mâu thuẫn giữa những
thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng với lợi ích nhân dân
lao động. Mặt tưởng biểu hiện sự khác nhau về niềm tin, mức độ tin tưởng
giữa những người tín ngưỡng tôn giáo những người không theo tôn giáo,
cũng như những
người
tín
ngưỡng,
tôn
giáo
khác
nhau,
phản
ánh
mâu
thuẫn
không
mang tính đối kháng. dụ: Thực dân Pháp đã sử dụng tôn giáo
để đàn áp phong trào đ tranh của nhân dân ta: “các sứ giả của Chúa nộp
những người An Nam yêu nước
cho
bọn
chiến
thắng
đem
lên
máy
chém
hay
giá
treo
cổ”.
Trái
lại,
trong
Kinh
thánh
của đạo Thiên Chúa đã truyền lại rằng: Mọi con người được tạo nên theo hình
ảnh của Chúa được ban quyền làm chủ trụ, làm chủ thế giới. Phân biệt
hai mặt chính trị tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo thực chất
phân biệt tính chấ khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản
thân tôn giáo trong vấn đề tôn giáo. Sự phân biệt này, trong thực tế không
đơn giản, bởi lẽ, trong đời sống hội, hiện tượng nhiều khi phản ánh sai
lệch bản chất, vấn đề chính trị tưởng trong tôn giáo thường đan xen
vào nhau. Mặt khác, trong hội đối khán giai
cấp,
tôn
giáo
thường
bị
yếu
tố
chính trị
chi
phối
rất sâu sắc, nên
khó
nhận biết vấn đề chính trị hay
tưởng thuần tuý trong tôn giáo. Việc phân biệt hai mặt này cần thiết nhằm
tránh khuynh hướng cực đoan trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề
liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. dụ: người dân Việt Nam cảm thấy ăn
thịt chuyện bình thường, nhưng Hồi giáo, họ tôn sùng con bò, bắt
những người theo đạo Hồi không được ăn thịt bò.
Cuối cùng, quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn
giáo. Chủ nghĩa hội khoa học Tôn giáo không phải một hiện tượng
hội bất biến, ngược
lại,
luôn
luôn
vận
động
biến
đổi
không
ngừng
tuỳ
thuộc
vào
những điều kiện kinh tế - hội - lịch sử cụ thể. Mỗi tôn giáo đều
lịch sử hình thành, quá trình tồn tại phát triển nhất định. những thời kỳ
lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống hội
không giống nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về
những lĩnh vực của đời sống hội luôn sự khác biệt. vậy, cần phải
quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đán
giá ứng xử đối với những vấn đề liên quan đến tôn giáo đối với
từng tôn giáo cụ thể. dụ: triều đại phong kiến, Phật giáo được truyền
vào Việt Nam để hình thành giá trị văn hóa chùa, làng. Còn ngày nay, đạo
Phật không chỉ giữ gìn văn hóa đền chùa còn tổ chức rất nhiều buổi tọa
đàm giảng dạy, khóa tu, các lễ thi lễ phóng sanh, siêu độ cho các vong linh
mới qua đời,...
2.
Tôn giáo Việt Nam chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà
nước ta h
2.1.
Đặc điểm tôn giáo Việt Nam:
Việt Nam quốc gia nhiều tôn giáo. (Đa dân tộc nên đa tôn giáo
các tôn giáo lớn chủ yếu được du nhập từ bên ngoài)
Tôn giáo Việt Nam đa dạng, đan xen, chung sống hòa bình, không
xung đột chiến tranh tôn giáo. (đôi lúc các tôn giáo mâu thuẫn bốc
đồng nhưng những u thuẫn bốc đồng đó chủ yếu do sự kích động của
các thế lực phản động từ bên ngoài)
Tín đồ các tôn giáo Việt Nam phần lớn nhân dân lao động, lòng
yêu nước, tinh thần dân tộc
Hàng ngũ chức sắc các tôn giáo vai trò, vị trí quan trọng trong giáo
hội, uy tín, ảnh hưởng với tín đồ. (các công tác, chủ trương của Đảng
Nhà nước tác độn vào các tôn giáo, tín đồ nhưng đặc biệt tác động vào
các chức sắc các tôn giáo để họ hiểu đúng về chủ trương, chính sách để họ
thực hiện tốt từ đó các chức sắc vận động các tín đồ của mình thực hiện
tốt đường lối, chính sách, chủ trương)
Các tôn giáo Việt Nam đều quan hệ với các tổ chức, nhân tôn
giáo nướ ngoài. (các tôn giáo lớn Việt Nam chủ yếu du nhập từ nước
ngoài cho nên quan hệ với các tổ chức, nhân tôn giáo nước
ngoài. thế cần phải những chính sách phù hợp)
2.2.
Chính
sách của
Đảng, Nhà
nước
Việt
Nam
đối
với
tín
ngưỡng,
tôn
giáo hiện nay
Tín ngưỡng, tôn giáo nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH nước ta.
Đảng Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Trong đó đoàn kết giữa những người theo, những người không theo tôn
giáo, giữa các tôn giáo khác nhau để bảo vệ, xây dựng đất nước.
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo công tác vận động quần chúng.
Đây một trong các nội dung quan trọng của công tác tôn giáo tôn giáo
liên quan đến niềm tin, tâm lý, tình cảm
Công tác tôn giáo trách nhiệm của cả h thống chính trị, trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân
tất cả các quốc gia đều phải thực hiện vấn đtheo đạo và truyền đạo tuân thủ
pháp luật cho một tín đồ tôn giáo thì vẫn công dân của đất ớc, đã
công dân của một đất nước thì phải tuân thủ hiến pháp, pháp luật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình Chủ nghĩa hội khoa học.
(2021).
Chính
trị
quốc gia
Sự
thật.
V.I
Lênin.
(1980). Lênin Toàn Tập (Vol.
25).
Tiến
bộ.

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NHÂN HỌC - NGÀNH TÔN GIÁO HỌC *** TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
MÔN HỌC: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC CHỦ ĐỀ: VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRO THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA XÃ HỘI
GIẢNG VIÊN: ThS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÀNH HK 2 – NK: 2023-2024
Thành phố Hồ Chí Minh, 2024 1 DANH SÁCH THÀNH VIÊN Họ và tên MSSV 1. Trần Duy 2356220009 2. Lâm Gia Hân 2356220014 3. Ngô Ngọc Gia Hân 2356220016 4. Huỳnh Thị Kim Hoa 2356220018 5. Nguyễn Thị Ngọc Mai 2356220026 6. Phạm Ngọc Mai 2356220027 7. Vũ Thị Phương Nhân 2356220032 8. Phạm Nguyễn Khánh Nhi 2356220034
9. Đỗ Thị Hương Quỳnh 2356220037 10. Long Đức Thịnh 2356220046 11. Trần Ngọc Mỹ Trân 2356220050 12. Nguyễn Tường Trí 2356220051 13. Trần Chí Vĩ 2356220052
14. Nguyễn Thị Huỳnh Nhung 1856090180 1 LỜI CẢM ƠN
Xuyên suốt quá trình học tập môn Chủ nghĩa xã hội khoa học, giảng
viên Nguyễn Thị Phương Thành đã truyền đạt cho các thành viên trong nhóm
chúng em những kiến thức chuyên ngành rất bổ ích và quan trọng trong sự
nghiệp học thuật. Bên cạnh đó, cô đã tạo điều kiện cho nhóm tiếp cận kiến
thức môn học một cách chủ động và sáng tạo hơn thông qua việc thuyết trình
và diễn kịch. Cách học này không những giúp chúng em tiếp thu kiến thức
một cách toàn diện và sâu sắc hơn mà còn là cơ hội để nhóm chúng em rèn
luyện thêm các kỹ năng mềm, không chỉ phục vụ việc học khi còn ngồi trên
ghế nhà trường mà còn giúp ích cho chúng em trong công việc sau này.
Nhóm chúng em xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô - thạc sỹ
Nguyễn Thị Phương Thành.
Kính cảm ơn Cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và chia sẻ những kiến thức
quan trọng giúp nhóm chúng em hoàn thành bài thuyết trình này.
Trong quá trình thực hiện bài thuyết trình và diễn kịch, nhóm chúng em
khó tránh khỏi còn những thiếu sót về một số nội dung. Chúng em rất mong
Cô sẽ đưa ra những lời nhận xét và góp ý chân thực nhất để nhóm có thể cải
thiện nội dung bài thuyết trình cũng như rút kinh nghiệm cho các bài sau!
Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn và mong rằng sẽ tiếp tục
nhận được sự giảng dạy và giúp đỡ trong những chặng đường học tập tiếp theo từ cô. Kính trọng,
Nhóm “Luôn giữ bình tĩnh”. 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh thế giới hiện đại, sự biến đổi không ngừng của các hệ
thống chín trị, kinh tế và xã hội đã đặt ra những thách thức và cơ hội mới
cho quá trình xây dựng và phát triển các quốc gia. Đặc biệt, trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hộ vai trò của vấn đề dân tộc và tôn giáo trở nên
vô cùng quan trọng và phức tạp. Đâ không chỉ là những yếu tố cấu thành nên
bản sắc văn hóa và xã hội của mỗi quốc gia, mà còn là những động lực
mạnh mẽ có tác động đến diễn trình tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề dân tộc và tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị,
kinh tế và xã hội, đòi hỏi một sự hiểu biết toàn diện để có thể quản lý và
phát huy những giá trị tích cực của các vấn đề này một cách hiệu quả. Sự đa
dạng về dân tộc và tô giáo, nếu được tiếp cận và phát huy đúng đắn sẽ là
nguồn lực quan trọng góp phần vào sự phát triển bền vững và hòa bình. Ngược
lại, nếu không được giải quyết một cách khéo léo, những vấn đề này có thể
dẫn đến xung đột, chia rẽ và làm suy yếu quá trình phát triển xã hội của
mỗi một quốc gia nói riêng và toàn Thế giới nói chung.
Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc về vai trò của vấn đề dân tộc và
tôn giá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không chỉ là một nhiệm vụ
khoa học mà còn là một yêu cầu thực tiễn cấp bách. Bài tiểu luận sẽ cung
cấp quan điểm cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, tôn giáo;
mối tương quan giữa dân tộc v tôn giáo. Đồng thời, nắm rõ quan điểm, nội
dung chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay. 3 MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN ............................................................................... 1
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................... 2
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 3
MỤC LỤC ................................................................................................................ 4
CHƯƠNG 6: VẤN ĐÊ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THƠI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ..................................................................................... 5
I. DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA XÃ HỘI .... 5
1. Khái niệm, đặc trưng: ............................................................................................. 5
1.1. Dân tộc với nghĩa rộng: Quốc gia ............................................................ 5
1.2. Dân tộc với nghĩa hẹp: Cộng đồng tộc người .......................................... 7
2. Chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc ........................................................... 8
2.1. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc: V.I. Lênin phát hiện
ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển quan hệ dân tộc: ..................... 8
2.2. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin: ..................................... 9
3. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam ........................................................... 11
3.1. Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam ................................................................ 11
3.2. Quan điểm, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc ............................. 12
II. TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA XÃ HỘI14
1. Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo .................................................. 14
1.1. Bản chất, nguồn gốc tôn giáo ................................................................. 14
1.1.1. Bản chất của tôn giáo .................................................................... 14
1.1.2. Nguồn gốc tôn giáo ...................................................................... 14
1.1.3. Tính chất của tôn giáo .................................................................... 15
1.2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ............................................................................................................... 16
2. Tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay:
. ............................................................................................................................. 18
2.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam ............................................................... 18
2.2. Chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo
hiện nay ...........................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 20 4
CHƯƠNG 6: VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA XÃ HỘI
I. DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA XÃ HỘI
1. Khái niệm, đặc trưng:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là quá trình phát triển
lâu d của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao
gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự biến đổi của phương thức sản xuất
chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng tộc người.
Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Khi phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa thay thế phong kiến, tức là khi xã hội chuyển từ một nền
kinh tế dựa trên quan hệ nô lệ và phong kiến sang một nền kinh tế dựa trên
sở hữu tư nh và thị trường tự do, các địa vị xã hội và kinh tế bắt đầu thay
đổi. Việc này tạo đi kiện cho việc hình thành dân tộc, vì những nhóm người có
các quan hệ kinh tế và x hội mới, như những nhóm nông dân, thương nhân,
hoặc công nhân, bắt đầu nhận
biết và tự nhận mình là một đơn vị dân tộc riêng biệt, với các quan hệ và lợi ích
chung đặc biệt. Do đó, quá trình này đánh dấu sự hình thành và phát triển của
dân tộc trong xã hội phương Tây theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ở phương Đông, dân tộc được hình thành trên cơ sở một nền văn hóa, một
tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín mùi và một cộng đồng kinh tế tuy
đã đạt tới một mức độ nhất định, song nhìn chung còn kém phát triển và ở
trạng thái phân tá Trong phương Đông, dân tộc thường được hình thành dựa
trên một nền văn hóa và tâm lý dân tộc đã phát triển từ trước, có thể bao
gồm các giá trị, truyền thống, ngô ngữ, và quan hệ xã hội đặc biệt. Tuy nhiên,
mặc dù đã có sự phát triển đáng kể trong cộng đồng kinh tế và văn hóa, dân
tộc ở phương Đông thường vẫn kém phát triển so với dân tộc ở phương Tây.
Điều này có thể do một số yếu tố, bao gồm sự chậm trễ trong quá trình công
nghiệp hóa và hiện đại hóa, sự ảnh hưởng của các h thống xã hội truyền
thống, và sự phân tán của cộng đồng dân tộc. Do đó, dân tộc ở phương Đông
thường đang ở trong trạng thái phân tán, tức là chưa thể tập trung và tổ chức
mạnh mẽ như dân tộc ở phương Tây. Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
1.1. Dân tộc với nghĩa rộng: Quốc gia
Khái niệm: Dân tộc (Nation) chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành 5
nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ
chung và có thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, 6
truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch
sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa rộng, dân tộc có 5 đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, có chung một vùng lãnh thổ ổn định: Lãnh thổ: là một khái niệm
về không gian gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển thuộc quyền sở hữu của
mỗi quốc gia dân tộc. Đối với cộng đồng quốc gia dân tộc (nation), yếu tố lãnh
thổ là thiêng liêng nhất. Cho nên bảo vệ chủ quyền quốc gia là nghĩa vụ và
trách nhiệm cao nhấ của mỗi thành viên dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa,
thành viên quốc gia dân tộc không chỉ cư trú ở vùng lãnh thổ của mình mà
còn phân tán khắp thế giới => lãnh thổ không còn bó hẹp trong biên giới hữu
hình, mà được mở rộng thành đường biên giới “mềm”, phân định ranh giới giữa
các quốc gia – dân tộc bằng dấu ấn văn hóa.
Thứ hai, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng
quan trọng nhất của dân tộc. Là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên
của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của dân tộc. Khi có chung một
phương thức sinh hoạt kinh tế giúp tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các thành
viên trong cộng đồng quốc gia dân tộc. Khi mọi người cùng làm việc trong
các hoạt động kinh tế tương tự, họ có xu hướng hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, tạo
ra sự gắn bó và đoàn kết.
Thứ ba, có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp. Trong một quốc gia
có nhiều cộng đồng tộc người với các ngôn ngữ khác nhau, nhưng bao giờ
cũng sẽ có ngôn ngữ chung, thống nhất (về cấu trúc ngữ pháp và từ vựng cơ
bản). Chẳng hặn như ở Việt Nam có dân tộc Khmer có ngôn ngữ riêng là tiếng
Khmer, dân tộc Tày có tiếng Tày,..nhưng ngôn ngữ thống nhất chung ở Việt Nam ta là tiếng Việt.
Thứ tư, có chung một nền văn hóa và tâm lý. Văn hóa là yếu tố quan
trọng tron sự liên kết cộng đồng. Văn hóa của quốc gia dân tộc (nation) gắn
liền với văn hóa của các cộng đồng tộc người (ethnics) trong một quốc gia,
được biểu hiện qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán, lối sống. Văn hóa
của một quốc gia dân tộc không thể tự bản thân nó phát triển mà phải trải
qua sự giao lưu với dòng chảy văn hóa của các dân tộc khác, nhưng đồng thời
luôn có ý thức bảo tồn tránh nguy cơ đồng hóa về văn hóa (Hòa nhập nhưng không hòa tan).
Cuối cùng, có chung một nhà nước (nhà nước dân tộc). Đây là yếu tố phân
biệt dân tộc quốc gia và dân tộc tộc người. Nhà nước là đặc trưng cho thể chế
chính trị của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc gia,
dân tộc khác trên thế giới.
Tựu trung, các đặc trưng trên có mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại và
kết hợp với nhau tạo nên tính ổn định, bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc. 7
1.2. Dân tộc với nghĩa hẹp: Cộng đồng tộc người
Khái niệm: Dân tộc (Ethnie): là cộng đồng tộc người được hình thành
trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác
tộc người, ngôn ngữ và văn hóa. Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và
phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó. Với nghĩa
hẹp này, dân tộc mang ý nghĩa là bộ phận hay thành phần của quốc gia. Các
đặc trưng cơ bản của dân tộc - tộc người theo nghĩa hẹp:
Thứ nhất, cộng đồng về ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết;
hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói. Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc
người khác nhau. Việt Nam dân tộc H'mông có ngôn ngữ riêng và nói tiếng
H'mông, dân tộc Khmer có ngôn ngữ riêng là tiếng Khmer, dân tộc Tày có
tiếng Tày,…. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, có những tộc người không
còn ngôn ngữ mẹ đẻ nữa. Dân tộc Ơ đu xưa vốn có tiếng Ơ-đu nhưng hiện nay
hầu như không còn ai sử dụng.
Thứ hai, cộng đồng về văn hóa. bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi
vật thể phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn
giáo của từng tộc người. Hiện nay, xu thế giao lưu văn hóa tồn tại song song
với xu thế phát huy bảo tồn bản sắc văn hóa của một tộc người.
Thứ ba, ý thức tự giác tộc người. Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân
biệt c tộc người và quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người. Các
tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình, đồng thời
là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người. Sự ý thức
tự giác tộc người này liên quan đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý
tộc người. Chẳng hạn như người Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn
La, Điện Biên có Lễ Hội Xên Mường, đây là một trong những lễ hội truyền
thống quan trọng nhất. Lễ hội này nhằm cúng tế thần linh, cầu mong mùa
màng bội thu và cuộc sống an lành. Người H'Mông có Tết Nào Pê Chầu (Tết
Trồng Cây) vào dịp đầu xuân để người H'Mông
tạ ơn thần linh, cầu mùa màng bội thu và gia đình hạnh phúc. Những ví dụ
trên minh họa rõ ràng về ý thức tự giác của các tộc người ở Việt Nam trong
việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống, qua đó góp phần làm
giàu thêm văn hóa dân tộc và tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng. Cả ba
tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người xuyên suốt quá trình phát
triển, đồng thời là căn cứ để xem xét và phân định các tộc người ở Việt Nam.
Như vậy, về định nghĩa “Dân tộc” có hai cách hiểu rộng và hẹp không đồng
nhất nhưng gắn bó mật thiết với nhau. Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc
người, dân tộc tộc người là bộ phận hình thành dân tộc quốc gia. Dân tộc tộc
người ra đời tro những quốc gia nhất định và thông thường những nhân tố
hình thành dân tộc tộc người không tách rời với những nhân tố hình thành
quốc gia. Đó là lý do khi nói đến dân tộc Việt Nam thì không thể bỏ qua 54
cộng đồng tộc người, trái lại, khi n 8
đến 54 cộng đồng tộc người ở Việt Nam phải gắn liền với sự hình thành và
phát triển của dân tộc Việt Nam.
2. Chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc:
2.1. Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc: V.I.
Lênin phát ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển quan hệ dân tộc:
Xu hướng thứ nhất: cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng
đồng dâ tộc độc lập. Nguyên nhân là do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý
thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó
muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập. Điều đó thể hiện rõ nét trong
phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa và phụ
thuộc (điển hình như Việt Nam), họ muốn thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của
các nước thực dân, đế quốc.
Ở TK XIX Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn
đế quố chủ nghĩa, đưa quân đội, vũ khí, dùng vũ lực để xâm lược các quốc
gia ở (Châu Á và Châu Phi), ở cả Trung Mĩ và Nam Mĩ. Các nước Châu
Phi bị xâm lược bởi An Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ. Do sự thức
tỉnh, trưởng thành về ý thức dân tộc sớm như đã nói thì các cái cộng đồng
dân tộc này muốn tách ra và thành lập dân tộc độc lập. Tiểu biểu như là
nhân dân Ấn Độ và Libya dành độc lập năm 195 và tiếp đó là một loạt các
nước Châu Phi khác. Và lịch sử ghi nhận năm 1970 là Năm Châu Phi với 17
nước được trao trả độc lập đến 1975 cuộc đấu tranh chống thực dân Bồ Đào
Nha, chủ nghĩa thực dân cũ ở Châu Phi cùng hệ thống thuộc địa cơ bản bị
tan rã. Hay ở Châu Á có Việt Nam ta là một ví dụ điển hình, bị Thực d
Pháp và Nhật xâm lược. Và đến cách mạng tháng 8 thành công ta tuyên
bố không còn là thuộc địa của Nhật và Pháp, tuyên bố chế độ phong kiến rút
lui trong hoà bình và không đổ máu. Thành lập nước VNDCCH vào 2/9/1945.
Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở
nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này nổi lên trong giai
đoạn chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi bóc lột
thuộc địa; Nguyên nhân là do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa
học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản chủ
nghĩa đã làm xuất hiện nhu cầ xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc,
thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nha
Quốc tế III của Lênin đã chỉ ra việc công nhân đấu tranh chống lại sự áp
bức của giai cấp Tư sản, chống chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. có
sự liên hiệp cá dân tộc thuộc địa bị áp bức để chống chủ nghĩa thực dân, đế
quốc,… Quốc tế III d Lênin thành lập không chỉ là quan điểm của Mác ở TK XIX (Giai cấp công nhân
toàn thế giới liên hiệp lại) mà Lênin đã phát triển thành giai cấp chủ nghĩa cách 9
mạng vô sản hay cách mạng giải phóng dân tộc có chung một kẻ thù và vì
thế các dân tộc liên hiệp lại, đoàn kết lại với nhau. Xu hướng này không chỉ
là trong thời đấu tranh giải phóng dân tộc mà cả sau khi giành được độc lập dân tộc thì việc xoá 10
bỏ rào cản, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau vẫn luôn diễn ra. Nếu
xưa có c hội như hội liên hiệp thuộc địa, Liên bang chủ nghĩa Xô Viết,…
thì ngày nay có nhiều hội như hội Châu Á Thái Bình Dương hay Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),…
Hai xu hướng này được biểu hiện rất đa dạng và phong phú, thể hiện:
Trong phạm vi một quốc gia: Xu hướng thứ nhất thể hiện trong sự nỗ lực
của từng dân tộc (tộc người) để đi tới sự tự do, bình đẳng và phồn vinh của
dân tộc mình. Cố gắng xoá bỏ sự phân biệt sắc tộc, chủng tộc. Xu hướng
thứ hai thể hiện sự xuất hiện những động lực thúc đẩy các dân tộc trong một
cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hòa hợp với nhau ở mức độ cao
hơn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong phạm vi quốc tế: Xu hướng thứ nhất thể hiện trong phong trào giải
phóng dân tộc nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc và chống chính sách thực
dân đô hộ dưới mọi hình thức, phá bỏ mọi áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế
quốc Độc lập dân tộc chính là mục tiêu chính trị chủ yếu của mọi quốc gia
trong thời đại ngày nay. Xu hướng thứ hai thể hiện ở xu thế các dân tộc
muốn xích lại gần nhau, hợp tác với nhau để hình thành liên minh dân tộc ở
phạm vi khu vực hoặc toàn cầu.
Hai xu hướng khách quan này có sự thống nhất biện chứng với nhau trong
tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại, hai xu hướng
này luôn có tác động qua lại với nhau, hỗ trợ cho nhau, mọi sự vi phạm
mối quan hệ biện chứ này đều dẫn tới những hậu quả tiêu cực, khó lường.
Và hiện nay, hai xu hướng trê diễn ra khá phức tạp trên phạm vi quốc tế và
trong từng quốc gia, thậm chí nó bị lợi dụng vào mục đích chính trị nhằm thực
hiện chiến lược "diễn biến hòa bình".
2.2. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin:
Cơ sở của Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin gồm cơ sở lý
luận và c sở thực tiễn. Cơ sở lý luận dựa trên chủ nghĩa Mác - Ăngghen về
mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp cũng với việc phân tích hai xu hướng
khách quan trong sự phát triển dân tộc. Cơ sở thực tiễn bắt nguồn từ kinh
nghiệm của phong trào cách mạng thế giới và cụ thể là cách mạng Nga trong
việc giải quyết các vấn đề dân tộc những năm đầu TK XX.
Nội dung cương lĩnh dân tộc chủ nghĩa Mác – Lênin:
“Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên
hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại.” (V.I Lênin, 1980, 375)
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng. Quyền thiêng liêng của các dân tộc
(không phụ thuộc vào số lượng, trình độ phát triển, dân tộc lớn hay nhỏ…) thì
các dân tộc đề quyền lợi và nghĩa vụ như nhau trên tất cả lĩnh vực. Trong 10 một quốc gia nhiều dân
tộc thì phải đảm bảo quyền bình đẳng dân tộc phải được pháp luật bảo vệ.
Hiện nay vẫn còn nạn phân biệt chủng tộc trên thế giới, nổi bật là nạn phân
biệt chủng tộc, màu da giữa người da trắng với người da đen hay là luật
Apartheid sắp xếp người dân theo ba nhóm chủng tộc chính: người da trắng,
người Bantu hay người châu Phi da đen, và người da màu hay người có nguồn
gốc lai và Nelson Mandela - cố tổng thống Nam phi là vị anh hùng của dân
tộc Nam Phi trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc Apartheid. Bên
cạnh đó, khắc phục được tình trạng chênh lệch
về trình độ, phát triển kinh tế, văn hóa dân tộc cho nên Nhà Nước có thể
ban hành các chính sách như miễn giảm học phí, mở lớp dạy học, cung cấp
giống cây trồng, phương thức canh tác mới. Hai điều trên phải được thực
hiện trong thực tế (một số nhà nước vẫn đưa chính sách về quyền bình đẳng
dân tộc vào trong hiến pháp
nhưng trong thực tiễn nó vẫn không chia rẽ và phân biệt). Giữa các quốc gia
dân t quyền bình đẳng dân tộc phải gắn liền với đấu tranh chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa bá quyền nước lớn, và chống sự áp
bức bóc lột của cá nước tư bản phát triển.
Dân tộc được quyền tự quyết. Quyền dân tộc được tự quyết định vận mệnh
của mình (tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc
mình) bao gồm quyền tách ra và quyền tự liên hiệp với các dân tộc khác trên
cơ sở bình đẳn Quyền dân tộc tự quyết này phải xuất phát từ thực tiễn đó là
đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân và đảm bảo sự thống nhất giữa
lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân. Tuy nhiên quyền dân tộc
tự quyết này dễ thành chiêu bài cho các thế lực thù địch lợi dụng để can
thiệp vào công việc nội bộ của các nước (lợi dụng quyền tự liện hiệp với các
quốc gia dân tộc khác), kích động đòi ly khai dân tộc (lợi dụng quyền tách
ra). Trong lịch sử nước ta đã có thời kì bị tước đi quyền tự quyết định vận
mệnh của mình, khi thực dân Pháp xâm lược đã chia nước ta thành 3 xứ với
3 chế độ chính trị khác nhau: Nam Kỳ là thuộc địa, Trung Kỳ l xứ bảo hộ
và Bắc kỳ là xứ nửa bảo hộ. Với tinh thần đấu tranh, giành độc lập dân tộc
thì dân tộc Việt Nam đã được quyền tự quyết định vận mệnh của mình, là
một nước hoàn toàn độc lập.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Điều này phản ánh sự thống nhất
giữa giả phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ
giữa tinh thần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Đây là
nội dụng chủ yếu, có vai trò quan trọng trong việc xem xét và thực hiện hai
nội dung trên (bình đẳng, tự quyết). Đồng thời là yếu tố sức mạnh của giai cấp
công nhân và giai cấp bị bóc lột trong hình trình đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
Nội dung cương lĩnh dân tộc chủ nghĩa Mác – Lênin chính là cơ sở lý
luận quan trọng để các Đảng Cộng Sản vận dụng thực hiện chính sách dân tộc. 10
3. Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam:
3.1. Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam:
Việt Nam được xem là một Quốc gia đa dân tộc và có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, có sự chênh lệch về số dân của các dân tộc. Việt Nam có tổng cộng l
54 dân tộc. Trong đó, dân tộc kinh chiếm đa số với 85,3% tổng số dân. 53
dân tộc còn lại ở Việt Nam thì có 6 dân tộc có dân số chiếm trên 1triệu
người (dân tộc Tà chiếm số đông nhất với 1,85tr người, dân tộc Thái, Mường,
Mông, Khmer và Nùng). Có 11 dân tộc có dân số dưới 5 nghìn người. Trong
đó, dân tộc Ơ-Đu có dân số t nhất với 428 người. Địa bàn sinh sống chủ
yếu của các dân tộc thiểu số là vùng trung du, miền núi phía Bắc và Tây
Nguyên. Các dân tộc thiểu số, đặc biệt là nhữn dân tộc ít người sẽ gặp nhiều
khó khăn trong việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói địa phương, văn
hóa dân tộc cũng như duy trì và phát triển giống nòi. Nhằm giải quyết những
vấn đề trên thì Đảng cũng như Nhà nước ta đã có những chính sách đặc
biệt quan tâm đến việc phát triển dân số hợp lý đối với các dân tộc thiểu số.
Thứ hai, các dân tộc cư trú xen kẽ nhau. Việt Nam vốn được xem là nơi
chuyển cư của nhiều dân tộc trên khu vực Đông Nam Á. Tính chất chuyển
cư này đã làm cho bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán và xen kẽ nhau. Do vậy, khôn
có một dân tộc nào ở Việt Nam có lãnh thổ tộc người riêng, duy nhất trên
một địa bàn. Điều này có nghĩa là các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ
tập trung riên biệt, phân bố và sống lẫn lộn với nhau trên cùng một khu vực.
Việc sinh sống trên cũng một lãnh thổ nhưng không có lãnh thổ riêng cho
từng tộc người có cả mặt tích cực và tiêu cực. Về tích cực thì điều này giúp
tạo thuận lợi trong việc các dân tộc giúp đỡ lẫn nhau, mở rộng giao lưu tăng
cường hiểu biết giữa các dân tộc mà từ đó góp phần xây dựng một nền văn
hóa thống nhất trong đa dạng. Về mặt tiêu cực
thì khi các dân tộc sinh sống cùng với nhau sẽ dễ phát sinh mâu thuẫn, xung
đột từ đó dễ dàng tạo kẽ hở để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng, gây
chia rẽ và ả hưởng đến sự đoàn kết của dân tộc.
Thứ ba, các dân tộc thiểu số Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị
trí chiế lược quan trọng. Mặc dù chiếm 14,3% dân số, trong 53 dân tộc thiểu
số lại cư trú trên ¾ diện tích lãnh thổ và đặc biệt là ở những vùng lãnh thổ
trọng yếu của nước ta (biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa,...). Một số dân
tộc thì vẫn có mối quan hệ dòng tộc với các nước láng giềng và khu vực vd
như dân tộc hoa, Thái, Khmer,... do vậy thì dễ tạo kẽ hở để các thế lực thù
địch lợi dụng để gây mất tính đoàn kết giữa các dân tộc,...
Thứ tư, các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều. Các
dân tộc ở nước ta có sự chệnh lệch khá lớn về trình độ phát triển. Về
phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống và quan hệ xã hội của các dân
tộc thiểu số thì không giống
nhau. Về phương diện kinh tế thì có những trình độ phát triển rất khác nhau.
Về văn hóa thì trình độ dân trí, chuyên môn kỹ thuật của các dân tộc thiểu số còn thấp.
Muốn bình đẳng thì trước hết cần phải tiến hành xóa, giảm bớt khoảng cách
phát triển giữa các dân tộc. Đây được xem là nội dung quan trọng trong
đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thứ năm, các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời
trong cộng đồng dân tộc – quốc gia thống nhất.
Thứ sáu, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong
phú đ dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất. Đảng Cộng sản Việt
Nam ngay từ khi ra đời đã thực hiện nhất quán những nguyên tắc cơ bản của
chủ nghĩa Mác về dân tộc. Dựa theo những thực tiễn lịch sử đấu tranh cách
mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì Đảng và Nhà nước ta luôn coi
trọng vấn đề dân tộc đặc biệt là trong đề xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc. Mỗi thời kỳ thì Đảng và Nhà nước ta coi việc giải quyết đúng đắn các
vấn đề về dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược.
3.2. Quan điểm, chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc
Quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc: Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ
khi ra đời đã thực hiện nhất quán những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa
Mác về dân tộc Vấn đề dân tộc và đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến
lược cơ bản, lâu dài và cũng là vấn đề cấp bách hiện nay. Các dân tộc trong
đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát
triển và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc…Kiên quyết đấu tranh với âm mưu chia rẽ
dân tộc. Phát triển toàn diện chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng, gắn tăng trưởng kinh tế
với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc. Ưu tiên
đầu tư phát triển kinh tế-xã hội các vùng dân tộc miền núi. Đây là nhiệm của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân
tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành,
của toàn bộ hệ thống chính trị.
Chính sách dân tộc cơ bản của Đảng và nhà nước ta được thể hiện cụ thể ở nhữ điểm sau:
Về chính trị: thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng
phát triển giữa các dân tộc.
Về kinh tế: chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi,
vùng đồn bào các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng phát triển, từng
bước khắc phục khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, giữa các dân tộc.
Về văn hoá: xây dựng nền văn hoá VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Giữ gì và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người, phát triển
ngôn ngữ, xâ dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân các dân tộc.
Về xã hội: thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Về an ninh quốc phòng: Tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên cơ sở
đảm bảo ổn định chính trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
II. TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHIA XÃ HỘI
1. Quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo
1.1. Bản chất, nguồn gốc tôn giáo
1.1.1. Bản chất của tôn giáo:
Ph. Ăngghen cho rằng: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài
chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực
lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”. Chủ
nghĩa Mác - Lênin cho rằng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản
ánh hư ảo hiện thực khách quan.Thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự
nhiên và xã hội trở thành siêu nhiên, thần bí Ở một cách tiếp cận khác, tôn
giáo là một thực thể xã hội chẳng hạn như: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo…
với các tiêu chí cơ bản sau: có niềm tin sâu sắc vào đấng si nhiên (niềm tin
tôn giáo); có hệ thống giáo thuyết (giáo lý, giáo luật, lễ nghi); có h thống cơ
sở thờ tự người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp hay không chuyên
nghiệp; có hệ thống tín đồ đông đảo.
Tôn giáo là hiện tượng xã hội- văn hoá do con người sáng tạo ra. Về
phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự
khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác
- Lênin. Mặc dù có sự khác biệt về thế giới quan, nhưng những người cộng
sản với lập trường mácxít không bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp
những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; ngược lại, luôn tôn trọng
quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân. Trong
những điều kiện cụ thể của xã hội, những người cộng sản và những người có
tín ngưỡng tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở
thế giới hiện thực. Xã hội ấy chính là xã hội mà quần chúng tín đồ cũng
từng mơ ước và phản ánh nó qua một số tôn giáo. Tôn giáo và tín ngưỡng
tuy không đồng nhất, nhưng có sự giao thoa nhất định
Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông, không dựa một cơ sở khoa học
nào. Mê tín dị đoan là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên,
thần thánh đến mức độ mê muội, cuồng tín, dẫn đến những hành vi cực đoan,
sai lệch quá mức, trái với các giá trị văn hóa, đạo đức, pháp luật, gây tổn hại
cho cá nhân, xã hội và cộng đồng.
1.1.2. Nguồn gốc tôn giáo:
Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội : Trong xã hội công xã nguyên thủy,
do lự lượng sản xuất chưa phát triển, trước thiên nhiên hùng vĩ tác động và
chi phối khiế cho con người cảm thấy yếu đuối và bất lực, không giải thích
được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí.
Khi xã hội xuất hiện các
giai cấp đối kháng, có áp bức bất công, do không giải thích được nguồn gốc
của sự phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác,…, cộng với lo
sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hội, con người trông chờ vào sự
giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế.
Nguồn gốc nhận thức: ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức
của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn.
Khi mà khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều
mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thông
qua lăng kính các tôn giáo.
Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình độ
dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh
đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển.
Nguồn gốc tâm lý: Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội,
hay trong những lúc ốm đau, bệnh tật; ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy
ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm một việc lớn
1.1.3. Tính chất của tôn giáo:
Tính lịch sử của tôn giáo : Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính
lịch sử, nghĩa là nó có sự hình thành, tồn tại và phát triển và có khả năng
biến đổi trong những giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế
độ chính trị - xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đến một
giai đoạn lịch sử nào đó, khi khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần
chúng nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội
thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của n trong đời sống xã hội và cả
trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
Tính quần chúng của tôn giáo: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ
biến ở tất cả các dân tộc, quốc gia, châu lục. Tính quần chúng của tôn
giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ rất đông đảo (gần 3/4 dân số
thế giới); mà còn thể hiện ở các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần
của một bộ phận quần chúng nhân dân
Tính chính trị của tôn giáo : Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo chỉ
phản ánh nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế
giới xung quanh mình, tôn giáo chưa mang tính chính trị. Tính chất chính trị
của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác
biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm
của những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các
giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên
tôn giáo mang tính chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử
dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp
lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ
1.2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ ng xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại, tuy đã
có sự biến đổi trên nhiều mặt. Vì vậy, khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân. Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin sâu sắc của quần chúng vào
đấng tối ca đấng thiêng liêng nào đó mà họ tôn thờ, thuộc lĩnh vực ý thức tư
tưởng. Do đó, tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng thuộc quyền tự do
tư tưởng của nhân dân Quyền này nói lên rằng việc theo đạo đổi đạo, hay
không theo đạo là thuộc quyền tự do lựa chọn của mỗi người dân, không một
cá nhân, tổ chức nào, Chủ nghĩa xã hội khoa học kể cả những chức sắc tôn
giáo, tổ chức hội giáo…được quyền can thiệp
vào sự lựa chọn này. Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản tự do theo đạo, đổi
đạo, bỏ đạo hay đe dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đều xâm phạm đến
quyền tự do tưởng của họ. Ví dụ: người chồng ép vợ mình đổi từ đạo Thiên
Chúa sang đạo Phật để giống với gia đình, dòng họ nhà chồng; hành vi này vi
phạm Điều 24 Hiến pháp 2013 và Luật Hôn nhân và Gia đình "quyền Bình
đẳng Hôn nhân Và Gia đình trong quan hệ nhân thân". Tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con người, thể hiện bản chất ưu
việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa không can
thiệp và không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đến quyền tự do tín
ngưỡng, quyền lựa chọn theo hay không theo tôn giáo của nhân dân. Các tôn
giáo và hoạt động tôn giáo bình thường, các cơ sở thờ tự, các các phương tiện
phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của người dân được nhà nước Xã
hội chủ nghĩa tôn trọng và bảo hộ. Ví dụ: Nhà nước Việt Nam cho phép các
nhà thờ, giáo xứ đạo Thiên Chúa hằng tuần tổ chức các buổi đọc Kinh thánh,
nghe giảng và xem những tiết mục liên quan đến Thiên Chúa giáo.
Thứ hai, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn
liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Nguyên tắc này để
khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ hướng vào việc giải quyết những ảnh
hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân mà không chủ
trương can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Ví dụ: Việt Nam bài
trừ các "tà đạo", các giáo hội không đượ Nhà nước cho phép như Hội Thánh
Đức Chúa Trời tại thành phố Hồ Chí Minh; trừng phạt những người mạo danh
là các mục sư đi lang thang ngoài đường hòng
trục lợi từ lòng tin, lòng hướng Phật của người dân. Chủ nghĩa Mác - Lênin
chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân
tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng này sinh trong tư tưởng con người, phải
xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Điều cần thiết trước hết là phải xác lập
được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói và thất
học…cũng như những tệ
nạn nảy sinh trong xã hội. Đó là một quá trình lâu dài, và không thể thực hiện
được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Ví dụ: Việt
Nam hiện n đi trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội - một xã hội "dân giàu, nước mạnh,
công bằng, bình đẳng, văn minh", thực hiện tiêu chí đó để người dân sẽ bỏ đi
nhữn ảo tưởng, những tư tưởng xa vời, tiêu cực, cực đoan như minh hôn trong các gia
đình nhà giàu có con, cháu chưa lập gia đình mà mất sớm.
Thứ ba, phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng của tôn giáo trong quá
trình giải quyết vấn đề tôn giáo. + Trong xã hội công xã nguyên thủy, tín
ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuần túy về tư tưởng. Nhưng khi xã hội đã xuất
hiện giai cấp thì dấu ấn giai cấp – chính trị ít nhiều đều in rõ trong các tôn
giáo. Từ đó, hai mặt chính trị v tư tưởng thường thể hiện và có mối quan hệ
với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tôn giáo. Ví dụ: trong xã hội
chiếm hữu nô lệ, những tầng lớp, giai cấp n lệ bị áp bức, bóc lột, bần cùng
nặng nề bởi chủ nô (chính trị), vì thế họ tin tưởng rằng có một thế lực siêu
trần thế có thể cứu giúp họ và cho họ tự do, hạnh phúc (tư tưởng). Mặt chính
trị phản ánh mối quan hệ giữa tiến bộ và phản tiến bộ, phản ánh mâu thuẫn
đối kháng về lợi ích kinh tế chính trị giữa các giai cấp, mâu thuẫn giữa những
thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng với lợi ích nhân dân
lao động. Mặt tư tưởng biểu hiện sự khác nhau về niềm tin, mức độ tin tưởng
giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không theo tôn giáo,
cũng như những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, phản ánh mâu
thuẫn không mang tính đối kháng. Ví dụ: Thực dân Pháp đã sử dụng tôn giáo
để đàn áp phong trào đ tranh của nhân dân ta: “các sứ giả của Chúa nộp
những người An Nam yêu nước
cho bọn chiến thắng đem lên máy chém hay giá treo cổ”. Trái lại, trong Kinh thánh
của đạo Thiên Chúa đã truyền lại rằng: Mọi con người được tạo nên theo hình
ảnh của Chúa và được ban quyền làm chủ vũ trụ, làm chủ thế giới. Phân biệt
hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo thực chất là
phân biệt tính chấ khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản
thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Sự phân biệt này, trong thực tế không
đơn giản, bởi lẽ, trong đời sống xã hội, hiện tượng nhiều khi phản ánh sai
lệch bản chất, mà vấn đề chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thường đan xen
vào nhau. Mặt khác, trong xã hội có đối khán giai cấp, tôn giáo thường bị
yếu tố chính trị chi phối rất sâu sắc, nên khó nhận biết vấn đề chính trị hay tư
tưởng thuần tuý trong tôn giáo. Việc phân biệt hai mặt này cần thiết nhằm
tránh khuynh hướng cực đoan trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề
liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Ví dụ: người dân Việt Nam cảm thấy ăn
thịt bò là chuyện bình thường, nhưng ở Hồi giáo, họ tôn sùng con bò, bắt
những người theo đạo Hồi không được ăn thịt bò.
Cuối cùng, quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn
giáo. Chủ nghĩa xã hội khoa học Tôn giáo không phải là một hiện tượng xã
hội bất biến, ngược lại, nó luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng tuỳ
thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội - lịch sử cụ thể. Mỗi tôn giáo đều
có lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển nhất định. Ở những thời kỳ
lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội
không giống nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về
những lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy, cần phải có
quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đán
giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với
từng tôn giáo cụ thể. Ví dụ: Ở triều đại phong kiến, Phật giáo được truyền
vào Việt Nam để hình thành giá trị văn hóa chùa, làng. Còn ngày nay, đạo
Phật không chỉ giữ gìn văn hóa đền chùa mà còn tổ chức rất nhiều buổi tọa
đàm giảng dạy, khóa tu, các lễ thiề lễ phóng sanh, siêu độ cho các vong linh mới qua đời,...
2. Tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta h
2.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam:
Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo. (Đa dân tộc nên có đa tôn giáo
và các tôn giáo lớn chủ yếu được du nhập từ bên ngoài)
Tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, đan xen, chung sống hòa bình, không có
xung đột và chiến tranh tôn giáo. (đôi lúc các tôn giáo có mâu thuẫn bốc
đồng nhưng những mâu thuẫn bốc đồng đó chủ yếu là do sự kích động của
các thế lực phản động từ bên ngoài)
Tín đồ các tôn giáo Việt Nam phần lớn là nhân dân lao động, có lòng
yêu nước, tinh thần dân tộc
Hàng ngũ chức sắc các tôn giáo có vai trò, vị trí quan trọng trong giáo
hội, có uy tín, ảnh hưởng với tín đồ. (các công tác, chủ trương của Đảng và
Nhà nước tác độn vào các tôn giáo, tín đồ nhưng đặc biệt là tác động vào
các chức sắc các tôn giáo để họ hiểu đúng về chủ trương, chính sách để họ
thực hiện tốt từ đó các chức sắc vận động các tín đồ của mình thực hiện
tốt đường lối, chính sách, chủ trương)
Các tôn giáo ở Việt Nam đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn
giáo ở nướ ngoài. (các tôn giáo lớn ở Việt Nam chủ yếu du nhập từ nước
ngoài cho nên nó có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước
ngoài. Vì thế cần phải có những chính sách phù hợp)
2.2. Chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.
Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Trong đó có đoàn kết giữa những người theo, những người không theo tôn
giáo, giữa các tôn giáo khác nhau để bảo vệ, xây dựng đất nước.
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Đây là một trong các nội dung quan trọng của công tác tôn giáo vì tôn giáo
liên quan đến niềm tin, tâm lý, tình cảm
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân
Ở tất cả các quốc gia đều phải thực hiện vấn đề theo đạo và truyền đạo tuân thủ
pháp luật vì cho dù là một tín đồ tôn giáo thì vẫn là công dân của đất nước, và đã là
công dân của một đất nước thì phải tuân thủ hiến pháp, pháp luật. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học. (2021). Chính trị quốc gia Sự thật.
V.I Lênin. (1980). Lênin Toàn Tập (Vol. 25). Tiến bộ.