Lý luận về sản xuất hàng hoá
Vận dụng lý luận về sản xuất hàng hoá để phát triển kinh tế thị
trường của nước ta
I. Lý luận về sản xuất hàng h
1. Khái niệm
Lao động sản xuất là hoạt động mục đích ý thức của con người tác động vào tự
nhiên, cải tạo tự nhiên để phúc vụ lợi ích cho con người.
Lao động sản xuất là sự kết hợp của 3 yếu tố: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và
sức lao động.
2. Hàng hoá
2.1. Khái niệm và thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá sản phẩm của lao động, thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán.
Sản phẩm của lao động là hàng hoá khi nhằm đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường.
Hàng hoá có dạng vật thể hoặc phi vật thể.
Hàng h hai thuộc tính là giá trị sử dụng giá trị. Thứ nhất, giá trị sử dụng của
hàng hoá công dụng của sản phẩm, có thể thoa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Nhu cầu đó thể nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần, thể nhu cầu tiêu
dùng cá nhân, có thể là nhu cầu cho sản xuất.
Thứ hai, giá trị của hàng hoá là lao động hội của người sản xuất kết tinh trong hàng
hoá. Giá trị hàng hoá được đo bằng số lượng lao động để sản xuất ra hàng hoá đó. Sản
xuất của 1 loại hàng hoá thể nhiều người sản xuất với thời gian lao động khác
nhau. Do đó lượng giá trị hàng hoá không được đo bằng thời gian lao động cá biệt mà
được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết (Thời gian lo động xã hội cần thiết là
thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó với trình độ thành thạo trung bình, cường
độ trung bình, mức độ, cường độ trung bình của hội. Thông thường trong thực tế,
thời gian lao động xã hội cần thiết chính do thời gian lao động cá biệt của những người
cung cấp đại bộ phân hàng hoá đó trên thị trường quyết định).
2.2. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá: Theo C.Mac, hàng hoá tính hai
thuộc tính sở dĩ là do lao động của người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là: mặt cụ
thể và mặt trừu tượng của lao động.
Thứ nhất, lao động cụ thể lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định. Lao động cụ thể mục đích, đối tượng, công cụ,
phương pháp lao động riêng kết quả riêng. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng
của hàng hoá.
Thứ hai, lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể
đến hình thức cụ thể của nó, sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất
hàng hoá về cơ bắp, thần kinh, trí óc. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá.
Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sản xuất hàng hoá, trong khi
đó lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hang hoá.
2.3. Lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá.
Lượng giá trị hàng hoá là lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hoá. Lượng lao động
hao phí được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá được sản xuất ra bao hàm: c + v + m
Trong đó: c là bộ phận giá trị cũ do lao động cụ thể chuyển sang, (v+m) bộ phận giá
trị mới do lao động trừu tượng tạo ra.
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị lượng giá trị của hàng hoá có thể kể đến bao
gồm năng suất lao động và tính chất phức tạp của lao động.
Về năng suất lao động:
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng
sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản
xuất ra một đơn vị sản phẩm. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động bao
gồm: trình độ sản xuất quản tổ chức, mức độ trình độ trang bị kĩ thuật, hiệu quả
của liệu sản xuất điều kiện tự nhiên. Khi năng suất lao động tăng lên, số lượng
sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian tăng nhưng tổng lao động hao phí trong
thời gian đó không đổi, vậy lao động hao phí trong một sản phẩm sẽ giảm xuống
giá trị của một giá trị hàng hoá giảm. Về cường độ lao động, cường độ lao động là mức
độ khẩn trương tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất. Khi cường độ lao động
tăng lên, số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian ng tăng, tuy nhiên
tổng lao động hao phí trong thời gian đó cũng tăng tương ứng, do đó hao phí lao động
không đổi và giá trị sản phẩm cũng không thay đổi. Như vậy để giảm giá trị của hàng
hoá ta cần tăng năng suất lao động chứ không phải tăng cường độ lao động.
Về tính chất phức tạp của lao động:
Căn cứ vào độ phức tạp của lao động mà chia lao động thành lao động giản đơn và lao
động phức tạp. Lao động giản đơn lao động không qua đào tạo, không yêu cầu
chuyên sâu về kĩ năng, chuyên môn, nghiệp vụ. Còn lao đông phức tạp lao động
được qua đào tạo bài bản, thành thạo về kĩ năng nghiệp vụ theo yêu cầu chuyên môn
nhất định.
Trong cùng một đơn vụ thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động
giản đơn.
II. Vận dụng lí luận về sản xuất hàng hoá để phát triển kinh tế thị trường của nước ta hiện
nay:
1. Tình hình kinh tế thị trường của nước ta hiện nay:
Kinh tế thị trường nền kinh tế mà nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển, nhiều
loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động phát triển trong một chế cạnh
tranh bình đẳng và ổn định. Tại Việt Nam nền kinh tế thị trường được phát triển theo
hướng hội Chủ nghĩa. Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN nền tảng của
nền kinh tê quốc dân là chế độ công hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ
đạo, khác với KTTT trong nền kinh tế bản chủ nghĩa hoạt động trên nền tảng của
chế độ hữu về tư liệu sản xuất, do đó c công ty tư bản nắm gisự phát triển của
nền kinh tế một cách độc quyền. Nền Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN do có
sự can thiệp của nhà nước XHCN bảo vệ được quyền lợi chính đáng của toàn thể nhân
dân lao động, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh”.
Có thểi, sau 35 năm đổi mới và phát triển, nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay
đang ngày ng hoàn thiện hơn the hướng hiện đại, hội nhập đồng bộ. Nước ta từ
một trong những nước nghèo nhất thế giới vươn lên thành quốc gia đang phát triển với
nhiều thành tựu đáng kể: Liên tiếp trong 4 năm 2016-2019, Việt Nam đứng top 10 trong
các nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới, một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành
công nhất. Quy mô nền kinh tế cũng tăng trưởng mạnh mẽ từ con số 6,3 tỉ USD vào
năm 1989 lên 343 tỉ USD vào năm 2020.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nền kinh tế thị trường vẫn cho thấy một số điểm
yếu kém, thể kể đến như: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế cho thấy những tiến bvượt
bậc, tuy nhiên vẫn còn chậm, chưa bền vững, vẫn còn dưới mức tiềm năng, lực lượng
sản xuất chưa được giải phóng triệt để, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh
quốc tế chưa cao. Thứ hai, việc phân bổ nguồn lực cho phát triển còn dàn trải, lãng phí,
chưa ng bằng, chưa đem lại hiệu quả cao. Thứ ba, nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát
triển quá nhanh gây một số hậu quả tiêu cực lên môi trường, xã hội, hành vi con người.
2. Giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường của nước ta:
2.1. Về vấn đề tăng trưởng kinh tế chưa bền vững:
Không thể bàn cãi về sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thị trường của nước ta trong
giai đoạn 1989-nay, tuy nhiên hiện nay, Việt Nam vẫn được coi là một quốc gia có thu
nhập trung bình thấp, mức tăng trưởng vẫn còn chưa bền vững, đây chưa phải là mức
tăng trưởng kinh tế lý tưởng, vậy nên cần những giải pháp để giải quyết vấn đề này:
Thứ nhất, phát triển kinh tế chưa đồng đều là do lực lượng sản xuất vẫn còn phân hoá
chưa đồng đều, năng suất lao động thấp. Năng suất lao động của lực lượng lao động
nước ta còn thấp chủ yếu là do tỉ lệ lao động giản đơn chưa qua đào tạo vẫn còn cao.
vậy ta cần nâng cao phổ cập giáo dục cho người dân, đảm bảo lực lượng lao động
đều trình độ phổ thông đều được qua đào tạo bài bản về chuyên môn, năng sản
xuất thông qua các trường đại học, trung cấp, trường nghề, trung tâm dạy nghề. Ngoài
ra, để nâng cao năng suất lao động, ta cần ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công
nghệ, áp dụng công nghệ mới vào hình sản xuất, giảm áp lực cho công nhân
người lao động đồng thời tăng số lượng và chất lượng sản phẩm được tạo ra.
Thứ hai, ta cần nâng cao nhận thức vcơ chế kinh tế thị trường cho người dân, nâng
cao hiểu biết về đặc điểm, chế của nền kinh tế thị trường, nâng cao nhận thức về
quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào chế thị trường. Từ đó
lực lượng lao động tham gia tích cực vào nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế thị trường.
2.2. Về vấn đề phân bố nguồn lực cho phát triển còn chua hiệu quả:
Lực lượng lao động phân bổ không đồng đều giữa các khu vực, khu vực đồng bằng,
thành thị tập trung nhiều nhân lực, trong khi đó vùng Tây Nguyên và vùng núi, ng
thôn thưa dân hơn, dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng.
Vùng núi, vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa chậm được cải thiện, ít được hưởng lợi
về tăng trưởng kinh tế nên đã kém phát triển còn tăng trưởng chậm. Để giải quyết vấn
đề này, ta cần nâng cao nhận thức của người dân địa phương về phát triển kinh tế, cùng
với đó các chính sách hỗ trợ về kinh tế về địa phương, như chính sách vay vốn, chính
sách phát triển du lịch, cung cấp may móc, thiết bị để hỗ trợ việc sản xuất hàng hoá
địa phương, ngoài ra Chính phủ cũng cần có những chính sách phổ cập giáo dục về địa
phương như chính sách khuyến khích trẻ đến trường hay mở những lớp dạy nghề cho
bà con.
2.3. Về vấn đề xã hội, con người, môi trường:
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường dẫn đến tình trạng phân hoá giàu
nghèo, cạnh tranh không nh mạnh giữa các tổ chức doanh nghiệp với nhau. Yếu tố
vật chất được đcao, yếu tố tinh thần, đạo đức đôi khi bị xem nhẹ, do vậy đã xuất hiện
bất bình đẳng xã hội, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng.
Để giảm thiểu vấn đề này, Chính phủ cần tạo một môi trường kinh tế vĩ n định,
kiểm soát lạm phát, xoá bỏ danh giới giàu nghèo, đưa ra những chính sách hỗ trhộ
nghèo, miễn giảm học phí cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, Nhà
nước cũng cần những chính sách hỗ trợ vốn cho những doanh nghiệp khởi nghiệp,
doanh nghiệp vừa và nhỏ để sự phát triển đồng đều được diễn ra.
Sự phát triển của kinh tế thị trường còn dẫn đến một hệ luỵ khác môi trường bị tàn
phá. Chất tải từ các nhà máy công nghiệp thải ra trong quá trình sản xuất gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường, nguồn nước,… Để giảm thiểu tình trạng này, Nhà nước
cần ban hành những bộ luật ràng về xử lý chất thải của những nhà máy trước ki thải
ra môi trường và cần có những biện pháp răn đe, xử phạt nặng những doanh nghiệp
hành vi vi phạm.
Tài liệu tham khảo
- Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin (Dành cho bậc đại học – không chuyên lý luận
chính trị) – Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Báo Tạp chí Cộng sản
- Báo Quốc phòng toàn dân
- Tạp chí Tài chính

Preview text:

Lý luận về sản xuất hàng hoá
Vận dụng lý luận về sản xuất hàng hoá để phát triển kinh tế thị
trường của nước ta
I. Lý luận về sản xuất hàng hoá 1. Khái niệm
Lao động sản xuất là hoạt động có mục đích và ý thức của con người tác động vào tự
nhiên, cải tạo tự nhiên để phúc vụ lợi ích cho con người.
Lao động sản xuất là sự kết hợp của 3 yếu tố: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. 2. Hàng hoá
2.1. Khái niệm và thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán.
Sản phẩm của lao động là hàng hoá khi nhằm đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường.
Hàng hoá có dạng vật thể hoặc phi vật thể.
Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Thứ nhất, giá trị sử dụng của
hàng hoá là công dụng của sản phẩm, có thể thoa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần, có thể là nhu cầu tiêu
dùng cá nhân, có thể là nhu cầu cho sản xuất.
Thứ hai, giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng
hoá. Giá trị hàng hoá được đo bằng số lượng lao động để sản xuất ra hàng hoá đó. Sản
xuất của 1 loại hàng hoá có thể có nhiều người sản xuất với thời gian lao động khác
nhau. Do đó lượng giá trị hàng hoá không được đo bằng thời gian lao động cá biệt mà
được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết (Thời gian lo động xã hội cần thiết là
thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó với trình độ thành thạo trung bình, cường
độ trung bình, mức độ, cường độ trung bình của xã hội. Thông thường trong thực tế,
thời gian lao động xã hội cần thiết chính do thời gian lao động cá biệt của những người
cung cấp đại bộ phân hàng hoá đó trên thị trường quyết định). 2.2.
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá: Theo C.Mac, hàng hoá có tính hai
thuộc tính sở dĩ là do lao động của người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là: mặt cụ
thể và mặt trừu tượng của lao động.
Thứ nhất, lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định. Lao động cụ thể có mục đích, đối tượng, công cụ,
phương pháp lao động riêng và kết quả riêng. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá.
Thứ hai, lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể
đến hình thức cụ thể của nó, là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất
hàng hoá về cơ bắp, thần kinh, trí óc. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá.
Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sản xuất hàng hoá, trong khi
đó lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hang hoá. 2.3.
Lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá.
Lượng giá trị hàng hoá là lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hoá. Lượng lao động
hao phí được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
Lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá được sản xuất ra bao hàm: c + v + m
Trong đó: c là bộ phận giá trị cũ do lao động cụ thể chuyển sang, (v+m) là bộ phận giá
trị mới do lao động trừu tượng tạo ra.
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị lượng giá trị của hàng hoá có thể kể đến bao
gồm năng suất lao động và tính chất phức tạp của lao động.
• Về năng suất lao động:
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng
sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản
xuất ra một đơn vị sản phẩm. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động bao
gồm: trình độ sản xuất quản lý tổ chức, mức độ và trình độ trang bị kĩ thuật, hiệu quả
của tư liệu sản xuất và điều kiện tự nhiên. Khi năng suất lao động tăng lên, số lượng
sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian tăng nhưng tổng lao động hao phí trong
thời gian đó không đổi, vậy lao động hao phí trong một sản phẩm sẽ giảm xuống và
giá trị của một giá trị hàng hoá giảm. Về cường độ lao động, cường độ lao động là mức
độ khẩn trương tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất. Khi cường độ lao động
tăng lên, số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian cũng tăng, tuy nhiên
tổng lao động hao phí trong thời gian đó cũng tăng tương ứng, do đó hao phí lao động
không đổi và giá trị sản phẩm cũng không thay đổi. Như vậy để giảm giá trị của hàng
hoá ta cần tăng năng suất lao động chứ không phải tăng cường độ lao động.
• Về tính chất phức tạp của lao động:
Căn cứ vào độ phức tạp của lao động mà chia lao động thành lao động giản đơn và lao
động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động không qua đào tạo, không yêu cầu
chuyên sâu về kĩ năng, chuyên môn, nghiệp vụ. Còn lao đông phức tạp là lao động
được qua đào tạo bài bản, thành thạo về kĩ năng và nghiệp vụ theo yêu cầu chuyên môn nhất định.
Trong cùng một đơn vụ thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.
II. Vận dụng lí luận về sản xuất hàng hoá để phát triển kinh tế thị trường của nước ta hiện nay:
1. Tình hình kinh tế thị trường của nước ta hiện nay:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà có nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển, nhiều
loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động và phát triển trong một cơ chế cạnh
tranh bình đẳng và ổn định. Tại Việt Nam nền kinh tế thị trường được phát triển theo
hướng Xã hội Chủ nghĩa. Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có nền tảng của
nền kinh tê quốc dân là chế độ công hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ
đạo, khác với KTTT trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hoạt động trên nền tảng của
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, do đó các công ty tư bản nắm giữ sự phát triển của
nền kinh tế một cách độc quyền. Nền Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN do có
sự can thiệp của nhà nước XHCN bảo vệ được quyền lợi chính đáng của toàn thể nhân
dân lao động, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Có thể nói, sau 35 năm đổi mới và phát triển, nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
đang ngày càng hoàn thiện hơn the hướng hiện đại, hội nhập và đồng bộ. Nước ta từ
một trong những nước nghèo nhất thế giới vươn lên thành quốc gia đang phát triển với
nhiều thành tựu đáng kể: Liên tiếp trong 4 năm 2016-2019, Việt Nam đứng top 10 trong
các nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành
công nhất. Quy mô nền kinh tế cũng tăng trưởng mạnh mẽ từ con số 6,3 tỉ USD vào
năm 1989 lên 343 tỉ USD vào năm 2020.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nền kinh tế thị trường vẫn cho thấy một số điểm
yếu kém, có thể kể đến như: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế cho thấy những tiến bộ vượt
bậc, tuy nhiên vẫn còn chậm, chưa bền vững, vẫn còn dưới mức tiềm năng, lực lượng
sản xuất chưa được giải phóng triệt để, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh
quốc tế chưa cao. Thứ hai, việc phân bổ nguồn lực cho phát triển còn dàn trải, lãng phí,
chưa công bằng, chưa đem lại hiệu quả cao. Thứ ba, nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát
triển quá nhanh gây một số hậu quả tiêu cực lên môi trường, xã hội, hành vi con người.
2. Giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường của nước ta: 2.1.
Về vấn đề tăng trưởng kinh tế chưa bền vững:
Không thể bàn cãi về sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thị trường của nước ta trong
giai đoạn 1989-nay, tuy nhiên hiện nay, Việt Nam vẫn được coi là một quốc gia có thu
nhập trung bình thấp, mức tăng trưởng vẫn còn chưa bền vững, đây chưa phải là mức
tăng trưởng kinh tế lý tưởng, vậy nên cần những giải pháp để giải quyết vấn đề này:
Thứ nhất, phát triển kinh tế chưa đồng đều là do lực lượng sản xuất vẫn còn phân hoá
chưa đồng đều, năng suất lao động thấp. Năng suất lao động của lực lượng lao động
nước ta còn thấp chủ yếu là do tỉ lệ lao động giản đơn chưa qua đào tạo vẫn còn cao.
Vì vậy ta cần nâng cao phổ cập giáo dục cho người dân, đảm bảo lực lượng lao động
đều có trình độ phổ thông và đều được qua đào tạo bài bản về chuyên môn, kĩ năng sản
xuất thông qua các trường đại học, trung cấp, trường nghề, trung tâm dạy nghề. Ngoài
ra, để nâng cao năng suất lao động, ta cần ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công
nghệ, áp dụng công nghệ mới vào mô hình sản xuất, giảm áp lực cho công nhân và
người lao động đồng thời tăng số lượng và chất lượng sản phẩm được tạo ra.
Thứ hai, ta cần nâng cao nhận thức về cơ chế kinh tế thị trường cho người dân, nâng
cao hiểu biết về đặc điểm, cơ chế của nền kinh tế thị trường, nâng cao nhận thức về
quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào cơ chế thị trường. Từ đó
lực lượng lao động tham gia tích cực vào nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế thị trường. 2.2.
Về vấn đề phân bố nguồn lực cho phát triển còn chua hiệu quả:
Lực lượng lao động phân bổ không đồng đều giữa các khu vực, khu vực đồng bằng,
thành thị tập trung nhiều nhân lực, trong khi đó vùng Tây Nguyên và vùng núi, nông
thôn thưa dân hơn, dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng.
Vùng núi, vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa chậm được cải thiện, ít được hưởng lợi
về tăng trưởng kinh tế nên đã kém phát triển còn tăng trưởng chậm. Để giải quyết vấn
đề này, ta cần nâng cao nhận thức của người dân địa phương về phát triển kinh tế, cùng
với đó là các chính sách hỗ trợ về kinh tế về địa phương, như chính sách vay vốn, chính
sách phát triển du lịch, cung cấp may móc, thiết bị để hỗ trợ việc sản xuất hàng hoá ở
địa phương, ngoài ra Chính phủ cũng cần có những chính sách phổ cập giáo dục về địa
phương như chính sách khuyến khích trẻ đến trường hay mở những lớp dạy nghề cho bà con. 2.3.
Về vấn đề xã hội, con người, môi trường:
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường dẫn đến tình trạng phân hoá giàu
nghèo, cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức doanh nghiệp với nhau. Yếu tố
vật chất được đề cao, yếu tố tinh thần, đạo đức đôi khi bị xem nhẹ, do vậy đã xuất hiện
bất bình đẳng xã hội, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng.
Để giảm thiểu vấn đề này, Chính phủ cần tạo một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định,
kiểm soát lạm phát, xoá bỏ danh giới giàu nghèo, đưa ra những chính sách hỗ trợ hộ
nghèo, miễn giảm học phí cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, Nhà
nước cũng cần có những chính sách hỗ trợ vốn cho những doanh nghiệp khởi nghiệp,
doanh nghiệp vừa và nhỏ để sự phát triển đồng đều được diễn ra.
Sự phát triển của kinh tế thị trường còn dẫn đến một hệ luỵ khác là môi trường bị tàn
phá. Chất tải từ các nhà máy công nghiệp thải ra trong quá trình sản xuất gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến môi trường, nguồn nước,… Để giảm thiểu tình trạng này, Nhà nước
cần ban hành những bộ luật rõ ràng về xử lý chất thải của những nhà máy trước ki thải
ra môi trường và cần có những biện pháp răn đe, xử phạt nặng những doanh nghiệp có hành vi vi phạm. Tài liệu tham khảo
- Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin (Dành cho bậc đại học – không chuyên lý luận
chính trị) – Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Báo Tạp chí Cộng sản
- Báo Quốc phòng toàn dân - Tạp chí Tài chính