BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
----------
TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA HẬU COVID-19 ĐẾN SỨC KHỎE
TINH THẦN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VĂN HIẾN NĂM 2025.
Giảng viên giảng dạy: TS. Lê Thị Hoàng Liễu
Mã lớp học phần: 243SOS30309
Đặng Ngọc Nhã Sương 231A170536
Võ Đình Tấn 231A150223
Đặng Ngọc Thanh 231A170808
Lý Thu Thảo 231A150144
Nguyễn Thị Trúc Thi 231A170724
Phạm Bách Giang Thi 221A170800
TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2025
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
----------
TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA HẬU COVID-19 ĐẾN SỨC KHỎE
TINH THẦN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
VĂN HIẾN NĂM 2025.
Mã lớp học phần: 243SOS30309
Đặng Ngọc Nhã Sương 231A170536
Võ Đình Tấn 231A150223
Đặng Ngọc Thanh 231A170808
Lý Thu Thảo 231A150144
Nguyễn Thị Trúc Thi 231A170724
Phạm Bách Giang Thi 221A170800
LỜI CAM KẾT
Chúng tôi, những thành viên thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học với chủ đề
“Ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên Đại học Văn
Hiến năm 2025”, xin cam đoan rằng đây công trình nghiên cứu độc lập do chính
nhóm chúng tôi thực hiện, không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác. Tất cả các số
liệu, kết quả, tài liệu thông tin được sử dụng trong đề tài đều được thu thập một
cách trung thực, ràng về nguồn gốc. Mọi tài liệu tham khảo từ các nguồn khác đều
được chúng tôi trích dẫn đầy đủ, ràng theo đúng quy định về đạo đức nghiên cứu
khoa học.Chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của nội
dung nghiên cứu trong đề tài này.
Chúng tôi xin cam đoan lời khai trên là đúng sự thật.
NHẬN XÉT NHÓM
Stt Họ và tên MSSV Trách nhiệm Mức độ
tham gia
tên
1 Đặng Ngọc Nhã Sương 231A170536 Phần 1.2 – 2.4 & Bảng
3.1.1 – 3.1.2 – 3.1.3 &
Câu hỏi khảo sát
99%
2 Võ Đình Tấn 231A150223 Đặt vấn đề & Phần 1.1 –
2.2 & Bảng 3.1.4 – 3.1.5
– 3.1.6 & Câu hỏi khảo
sát
99%
3 Đặng Ngọc Thanh 231A170808 Đặt vấn đề & Phần 2.7 –
2.8 & Bảng 3.1.7 – 3.1.8
– 3.1.9 & Câu hỏi khảo
sát
99%
4 Lý Thu Thảo 231A150144 Đặt vấn đề & Phần 1.1.2
– 2.5 & Bảng 3.2.10 &
Câu hỏi khảo sát
99%
5 Nguyễn Thị Trúc Thi 231A170724 Phần 1.1 – 1.3 – 2.6 &
Bảng 3.2.10 & Câu hỏi
khảo sát
100%
6 Phạm Bách Giang Thi 221A170800 Phần 2.1 - 2.3 & Bảng
3.2.10 & Câu hỏi khảo
sát & Tổng hợp, word
100%
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Stt Viết tắt Giải thích
1 COVID-19 Coronavirus Disease 2019
2 DASS -21 Depression Anxiety Stress Scales – 21 items
3 HBM Health Belief Model
4 SBT Social Buffering Theory
5
WHO
World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
6
SARS-CoV-2
Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2
(virus corona gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2)
7
PTSD
Post-Traumatic Stress Disorder
(Rối loạn căng thẳng sau sang chấn hoặc đôi khi gọi
là Rối loạn stress sau chấn thương)
8 VHU Trường Đại học Văn Hiến
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Số bảng Tên bảng Trang
1 Bảng 3.1.1 Bảng phân bố khảo sát theo giới tính 22
2 Bảng 3.1.2 Phân bố khảo sát theo ngành 22
3 Bảng 3.1.3 Phân bố khảo sát theo năm học 22
4 Bảng 3.1.4 Phân bố mẫu khảo sát đã từng nhiễm COVID-19 chưa 22
5 Bảng 3.1.5 Phân bố mẫu khảo sát theo thời gian nhiễm COVID-19 22
6 Bảng 3.1.6 Phân bố mẫu khảo sát theo số lần tiêm vắc xin COVID-19 22
7 Bảng 3.1.7 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên kết quả xét nghiệm 22
8 Bảng 3.1.8 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên triệu chứng trong thời gian
mắc bệnh
22
9 Bảng 3.1.9 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên sự thay đổi lối sống sau
khi khỏi bệnh
22
10 Bảng
3.2.10
Đánh giá mức độ Lo âu - Trầm cảm – Stress ( Thang đo
DASS – 21)
23
11 Bảng
3.3.11
Ảnh hưởng của hậu COVID-19 (Thang đo Likert) 24
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................1
Mục tiêu nghiên cứu chung..............................................................................3
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể...............................................................................3
Câu hỏi nghiên cứu...........................................................................................3
Giả thuyết nghiên cứu.......................................................................................3
Khung nghiên cứu.............................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT...................................................................5
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước................................................................5
1.2 Lý thuyết ứng dụng.....................................................................................9
1.3 Khái niệm..................................................................................................11
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................13
2.1 Phương pháp nghiên cứu...........................................................................13
2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu...................................................................14
2.3 Công cụ nghiên cứu...................................................................................14
2.4 Cách thu thập số liệu.................................................................................16
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu....................................................16
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu.........................................................................19
2.7 Ý nghĩa của nghiên cứu.............................................................................20
2.8 Tính mới của đề tài....................................................................................20
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................21
3.1 Thông tin người điền phiếu.......................................................................21
Bảng 3.1.1 Bảng phân bố khảo sát theo giới tính........................................21
Bảng 3.1.2 Phân bố khảo sát theo ngành.....................................................21
Bảng 3.1.3 Phân bố khảo sát theo năm học.................................................21
Bảng 3.1.4 Phân bố mẫu khảo sát đã từng nhiễm COVID-19 chưa............21
Bảng 3.1.5 Phân bố mẫu khảo sát theo thời gian nhiễm COVID-19..........21
Bảng 3.1.6 Phân bố mẫu khảo sát theo số lần tiêm vắc xin COVID-19.....22
Bảng 3.1.7 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên kết quả xét nghiệm..................22
Bảng 3.1.8 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên triệu chứng trong thời gian mắc
bệnh.............................................................................................................22
Bảng 3.1.9 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên sự thay đổi lối sống sau khi khỏi
bệnh.............................................................................................................22
3.2. Đánh giá mức độ Lo âu - Trầm cảm – Stress...........................................23
Bảng 3.2.10 Đánh giá mức độ Lo âu - Trầm cảm – Stress ( Thang đo DASS
– 21).............................................................................................................23
3.3 Ảnh hưởng của hậu COVID-19.................................................................24
3.3.11 Ảnh hưởng của hậu COVID-19 (Thang đo Likert)..........................24
BÀN LUẬN........................................................................................................26
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ.........................................................................26
.............................................................................................................................26
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN...............................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................28
PHỤ LỤC 1. BỘ CÂU HỎI KHẢO SÁT.......................................................29
ĐẶT VẤN Đ
Đại dịch COVID-19 không chỉ một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu mà còn để
lại những hệ lụy sâu sắc trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệtlĩnh vực giáo
dục sức khỏe tinh thần. Trong đó, sinh viên đại học nhóm đối tượng đang trong
giai đoạn chuyển tiếp từ vị thành niên sang người trưởng thành được xem một
trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất trước những biến động về môi trường sống,
học tập và định hướng tương lai do đại dịch gây ra.
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sức khỏe tinh thần của sinh viên
bị ảnh hưởng nặng nề trong sau giai đoạn dịch bệnh. C thể, theo nghiên cứu của
Hoàng Thị Vân cộng sự (2022), tại Trường Đại học Đại Nam, tỷ lệ sinh viên
biểu hiện rối loạn lo âu lên đến 34,1%, trong khi 10,7% sinh viên được ghi nhận bị
stress. Tại Trường Đại học Y Nội, một nghiên cứu quy lớn cho thấy 67,21%
sinh viên dấu hiệu trầm cảm, 68,40% lo âu 26,42% bị căng thẳng các mức
độ khác nhau sau dịch. Trong khi đó, tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, nghiên
cứu của Thị Phương Đài cộng sự (2023) với hơn 1.200 sinh viên cho thấy
đến 94% sinh viên báo cáo mức độ lo lắng từ trung bình đến cao, 93,5% bị ảnh
hưởng trong quá trình học tập.
Đặc biệt, tại TP. Hồ Chí Minh – nơi từng tâm điểm của đợt bùng phát dịch lớn
nhất cả nước sinh viên càng chịu nhiều áp lực hơn khi vừa phải đối mặt với môi
trường học tập bị thay đổi đột ngột, vừa chịu nh hưởng bởi điều kiện sống, tài chính
và lo lắng về sức khỏe bản thân và gia đình. Nghiên cứu của Đỗ Trọng Thành Phan
Bùi Gia Thủy (2022) tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho thấy 83,3% sinh viên
cho rằng việc thực hành lâm sàng bị gián đoạn, mối lo lắng lớn nhất của họ liên
quan đến sức khỏe người thân nguy lây nhiễm trong cộng đồng. Những dẫn
chứng trên cho thấy đại dịch không chỉ thách thức về mặt thể chất còn sốc
tinh thần kéo dài đối với sinh viên.
Tuy nhiên, dễ nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam đều
tập trung vào khối ngành y, nơi sinh viên chịu áp lực nghề nghiệp học thuật cao.
Trong khi đó, các trường ngoài công lập nơi tập trung đông đảo sinh viên đến từ
nhiều vùng miền khác nhau, với điều kiện kinh tế học tập không đồng đều lại
1
chưa được nghiên cứu đầy đủ, hệ thống. Trường Đại học Văn Hiến là một trong những
sở giáo dục ngoài công lập tiêu biểu tại TP. Hồ Chí Minh, với sinh viên theo học
nhiều ngành nghề không thuộc lĩnh vực y tế, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi
các tác động gián tiếp của đại dịch, như: học online kéo dài, giãn cách hội, giảm
tương tác bạn bè – giảng viên, hạn chế các hoạt động ngoại khóa, áp lực tài chính và lo
lắng về triển vọng nghề nghiệp sau khi ra trường.
Đáng chú ý, sau khi dịch bệnh được kiểm soát hoạt động học tập trở lại bình
thường, một bộ phận sinh viên vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn về mặt tâm lý. Nhiều
em rơi vào trạng thái mất động lực học tập, cảm giác lập, thiếu định hướng căng
thẳng kéo dài. Đây những biểu hiện của ảnh hưởng hậu COVID-19 giai đoạn
các triệu chứng tâm không còn ràng, dễ quan sát như trong thời kỳ dịch bùng
phát, nhưng lại âm thầm khó phát hiện hơn. Nếu không những nghiên cứu
chuyên sâucác biện pháp can thiệp phù hợp, hệ quả sẽ kéo dài, ảnh hưởng đến chất
lượng học tập và phát triển nhân cách của sinh viên trong dài hạn.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu chuyên biệt về sức khỏe tinh thần của sinh
viên Trường Đại học Văn Hiến giai đoạn hậu COVID-19 mang ý nghĩa cấp thiết cả
về luận thực tiễn. Về luận, đề tài góp phần bổ sung vào hệ thống các nghiên
cứu trong nước hiện còn thiếu về nhóm sinh viên ngoài khối ngành y tại các trường
đại học ngoài công lập. Về thực tiễn, việc khảo sát trực tiếp tại Văn Hiến giúp xác định
rõ thực trạng tâm lý của sinh viên, từ đó làm cơ sở để nhà trường xây dựng các chương
trình hỗ trợ tâm học tập phù hợp với đặc thù đối tượng, bối cảnh nhu cầu cụ
thể.
Tính mới của đề tài thể hiện ở hai điểm cốt lõi. Đề tài tập trung vào giai đoạn hậu
COVID-19, khi các biểu hiện tâm như lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, giảm tập
trung... không còn rệt như trong thời điểm dịch bùng phát, nhưng lại dai dẳng, âm
dễ bị bỏ qua. Đây giai đoạn chưa được nhiều nghiên cứu chú trọng, đặc biệt đối
với sinh viên không thuộc khối ngành y. Ngoài ra, đề tài khảo sát tại Trường Đại học
Văn Hiến, một trường ngoài công lập với sinh viên hoàn cảnh học tập xuất thân
đa dạng nhóm đối tượng ít được nghiên cứu nhưng lại dễ bị tổn thương về mặt tinh
thần sau đại dịch.
2
Xuất phát từ những do nêu trên, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài:
“Ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên Trường
Đại học Văn Hiến”. Mục tiêu của đề i đánh giá một cách toàn diện mức độ
biểu hiện của các vấn đề tâm phổ biến sinh viên sau đại dịch, đồng thời xác định
những yếu tố tác động, nhóm sinh viên có nguy cơ cao và đề xuất các biện pháp hỗ trợ
phù hợp.
Đề tài không chỉ góp phần nâng cao nhận thức về sức khỏe tinh thần trong môi
trường đại học, mà còn hướng đến xây dựng một hệ thống chăm sóc tâm học đường
bền vững, nhân văn – điều đang rất cần thiết trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam
hậu COVID-19. Bằng cách cung cấp dữ liệu nghiên cứu thực tiễn, đề tài kỳ vọng sẽ
bước khởi đầu cho các hoạt động chăm sóc tinh thần hệ thống hơn cho sinh viên,
đồng thời thúc đẩy các chính sách hỗ trợ đồng bộ giữa nhà trường, giảng viên và các tổ
chức liên quan trong việc đồngnh cùng sinh viên vượt qua khó khăn tâm sau đại
dịch.
Mục tiêu nghiên cứu chung
Nghiên cứu ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên
Đại học Văn Hiến.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
-Tỉ lệ sinh viên Trường Đại học Văn Hiến bị ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến
sức khỏe tinh thần năm 2025.
- Mức độ ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên tại
Trường Đại học Văn Hiến.
Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Có bao nhiêu sinh viên Trường Đại học Văn Hiến bị ảnh hưởng của
hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng sức khỏe tinh thần của sinh viên Trường Đại học
Văn Hiến hậu COVID-19 là như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Trên 20% sinh viên Trường Đại học Văn Hiến đã từng mắc
COVID-19 bị ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần.
3
Giả thuyết 2: Mức độ ảnh hưởng của sinh viên Trường Đại học Văn Hiến do hậu
COVID-19 rất nhiều đến sức khỏe tinh thần căng thẳng, stress, rối loạn lo âu, trầm
cảm, kiệt sức.
Khung nghiên cứu
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước
Đại dịch COVID-19 không chỉ gây ra những hậu quả về thể chất kinh tế,
còn để lại nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe tâm thần, đặc biệt trong nhóm
sinh viên ngành sức khỏe những người vừa đối tượng học tập đặc thù, vừa lực
lượng dự bị cho ngành y tế. Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Hoàng Thị Vân cùng
cộng sự (2022) “Tác động của đại dịch COVID-19 đến sức khỏe tâm thần của sinh
viên khối ngành sứ khỏe Trường Đại học Đại Nam năm 2021 2022” được đăng trên
Tạp chí Y học Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 422 sinh viên khối ngành
sức khỏe đã cung cấp những số liệu quan trọng phản ánh mức độ nh hưởng tâm
trong giai đoạn 2021–2022.
Kết quả cho thấy, tỷ lệ sinh viên biểu hiện trầm cảm 1,7%, stress 10,7%
lo âu 34,1%, được đánh giá bằng thang đo Lo âu Trầm cảm Stress (DASS -
21). Đây là công cụ được chuẩn hóa quốc tế, có độ tin cậy và khả năng so sánh cao với
các nghiên cứu tương tự trong và ngoài nước.
Đáng c ý, mối liên hệ ràng giữa năm học theo chương trình đào tạo với
rối loạn lo âu trầm cảm, đặc biệt nhóm sinh viên năm cuối đối tượng thường
xuyên phải đối mặt với áp lực tốt nghiệp, thực tập lâm sàng tìm kiếm việc làm.
Ngoài ra, các yếu tố dịch tễ học như từng sinh sống hoặc di chuyển qua vùng dịch, lo
ngại về tác dụng phụ của vắc xin, lo lắng về triển vọng nghề nghiệp trong tương lai
cũng được xác định là có liên quan đáng kể đến mức độ stress và lo âu ở sinh viên.
Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây tại các trường đại học khác như Đại
học Y Nội hay các sở đào tạo y khoa tại miền Trung, miền Nam, mức độ rối
loạn tâm sinh viên Đại học Đại Nam xu hướng thấp hơn. Tuy nhiên, không
thế mà mức độ ảnh hưởng tại đây bị đánh giá thấp, bởi tỷ lệ lo âu hơn 1/3 tổng số sinh
viên được khảo sát vẫn cho thấy mức độ áp lựcm đáng kể, nhất trong bối cảnh
hậu đại dịch.
5
Từ các dữ liệu trên, nghiên cứu đi đến luận điểm chính rằng đại dịch COVID-19
đã tạo ra một áp lực tâm không nhỏ đối với sinh viên ngành sức khỏe tại Trường
Đại học Đại Nam, biểu hiện qua các mức độ khác nhau của lo âu, stress trầm cảm.
Những biểu hiện này mối liên hệ chặt chẽ với năm học, cảm nhận về rủi ro tiêm
chủng, cũng như mức độ bất an về tương lai nghề nghiệp vốn các yếu tố phổ biến
trong nhóm sinh viên khối ngành sức khỏe tại Việt Nam hiện nay.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhómc giả đề xuất các giải pháp hỗ trợ sức khỏe
tâm thần dành riêng cho sinh viên ngành sức khỏe, bao gồm: tăng cường hoạt động
vấn tâm trong trường học, thiết lập hệ thống hỗ trợ đồng đẳng, cải thiện môi trường
học tập sau dịch xây dựng chương trình định hướng nghề nghiệp phù hợp với giai
đoạn phục hồi ngành y tế.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng tồn tại một số hạn chế nhất định. Thứ nhất,
nghiên cứu chỉ tập trung khảo t tại một trường đại học thục, nên chưa phản ánh
đầy đủ thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên ngành sức khỏe tại các cơ sở công
lập hoặc ở các vùng miền khác. Thứ hai, phương pháp cắt ngang chỉ cho phép đánh giá
tại một thời điểm cụ thể, chưa theo dõi được sự thay đổi về thời gian hoặc tác động lâu
dài của đại dịch đối với sức khỏe tinh thần. Cuối cùng, nghiên cứu chưa khai thác sâu
các yếu tố hội nhân như hoàn cảnh gia đình, điều kiện học tập, cũng như khả
năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần vốn các yếu tố thể góp phần
giải đầy đủ hơn về chế ảnh hưởng của đại dịch đối với nhóm sinh viên đặc thù
này.
Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Đỗ Trọng Thành Phan Bùi Gia Thủy (2022)
“ Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến tâm lí của sinh viên: Nghiên cứu trường hợp
tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành” đăng trên Tạp chí Giáo dục nhằm khảo sát
mức độ ảnh hưởng của đại dịch đến tâm sinh viên theo đặc điểm giới tính nơi cư
trú.
Nghiên cứu được triển khai trong khoảng thời gian từ ngày 01 đến 31/8/2021 với
612 sinh viên tham gia khảo sát thông qua bảng u hỏi theo thang đo Likert 5 mức
độ. Mẫu khảo sát gồm 264 nam (43,1%) 348 nữ (56,9%), trong đó phần lớn sinh
viên sống cùng gia đình (79,4%) còn lại sống riêng (20,6%). Nghiên cứu tập trung
6
vào ba khía cạnh chính: mức độ nhận thức về COVID-19, ảnh hưởng của dịch bệnh
đến môi trường học tập và hoạt động thực hành, và mức độ lo âu về tâm lý.
Về nhận thức, đa số sinh viên cho biết họ sử dụng các biện pháp phòng tránh
COVID-19 cảm thấy thay đổi rệt trong sinh hoạt hằng ngày do đại dịch. Một số
khác cho biết khảng tự tin phát hiện triệu chứng bệnh cảm nhận rủi ro mắc bệnh
của họ không cao, tuy nhiên vẫn sự khác biệt đáng kể giữa sinh viên sống riêng
sống cùng gia đình sinh viên sống riêng thường mức độ lo lắng nhận thức rủi
ro cao hơn.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến môi trường học tập
của sinh viên. đến 83,3% sinh viên cho rằng hoạt động thực hành lâm sàng bị gián
đoạn nghiêm trọng, chỉ 6,7% đang thực hành trên bệnh nhân vào thời điểm khảo sát.
Mức độ đồng thuận của sinh viên đối với việc vẫn muốn thực hành trong thời gian
dịch bệnh hoặc chấp nhận rủi ro để thực hành đều mức thấp (trung bình chỉ 2,45–
2,71 điểm trên thang đo 5 điểm). Điều y cho thấy sự bất an của sinh viên khi tiếp
cận môi trường học tập thực tế trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp.
Về mặt tâm lý, nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ lo lắng cao nhất của sinh viên
về sức khỏe của người thân nếu bị nhiễm COVID-19 (trung bình 4,74 điểm). Bên cạnh
đó, những lo lắng phổ biến khác bao gồm sợ lây nhiễm từ người không có triệu chứng,
quá tải bệnh viện thiếu thiết bị bảo hộ. Đáng chú ý, sự khác biệt rệt giữa sinh
viên nam nữ trong nhiều biểu hiện tâm lý: sinh viên nữ xu hướng lo lắng nhiều
hơn sinh viên nam trong hầu hết các khía cạnh, từ sức khỏe người thân đến nguy
nhập viện các rủi ro học tập. Đồng thời, sinh viên sống riêng cũng mức độ lo
lắng cao hơn so với sinh viên sống với gia đình.
Một điểm đáng quan tâm khác các yếu tố khiến sinh viên cảm thấy an tâm để
quay lại trường học sau đại dịch. Theo kết quả khảo sát, yếu tố được lựa chọn nhiều
nhất "đã tiêm vắc xin đầy đủ", tiếp theo "có xét nghiệm COVID-19 rộng rãi"
"được cung cấp dụng cụ bảo hộ đầy đủ". Điều này cho thấy, sinh viên không chỉ quan
tâm đến nội dung học thuật còn rất chú trọng đến điều kiện an toàn về mặt y tế
trong quá trình học tập và thực hành.
Tổng thể, nghiên cứu đã chỉ ra rằng COVID-19 không chỉ vấn đề dịch tễ học
còn một thách thức lớn đối với sức khỏe tinh thần của sinh viên. Những lo âu,
7
bất an và sự thay đổi trong hành vi học tập, thực hành là các phản ứng hoàn toàn có cơ
sở cần được quan tâm đúng mức. Trong bối cảnh chưa nhiều nghiên cứu chuyên
biệt về sinh viên Việt Nam, đặc biệt khối ngành y, thì nghiên cứu của Đỗ Trọng
Thành và Phan Bùi Gia Thủy đã cung cấp những dữ liệu mang tính nền tảng, góp phần
giúp các trường đại học xây dựng chính sách hỗ trợ tâm học đường phù hợp kịp
thời hơn.
Đại dịch COVID-19, đặc biệt trong đợt bùng phát lần thứ tư tại Việt Nam, đã gây
ra những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống, trong đó sinh viên ngành y
lực lượng tương lai của ngành y tế – là nhóm đối tượng chịu nhiều áp lực cả về học tập
lẫn tâm lý. Một nghiên cứu do Lê Thị Phương Đài cùng cộng sự “ Khảo sát ảnh hưởng
của COVID-19 đến sinh viên Y khoa trong đợt bùng phát dịch lần thứ 4 năm 2021”
đăng trên Tạp chí Y dược Cần Thơ” được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược Cần
Thơ trên 1.295 sinh viên theo thiết kế mô tả cắt ngang đã cung cấp các số liệu đáng lưu
ý về mức độ ảnh hưởng của đại dịch đến năm khía cạnh chính: học tập, đi lại, giải trí,
sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần.
Kết quả cho thấy, học tập lĩnh vực bị tác động mạnh nhất với 93,5% sinh viên
cho biết bị ảnh hưởng, đặc biệt nhóm sinh viên hệ liên thông vốn chịu áp lực kép
giữa học hành công việc. Bên cạnh đó, 34,4% sinh viên phản ánh hoạt động giải trí
bị gián đoạn nghiêm trọng. Trong khi đó, sức khỏe thể chất bị ảnh hưởng ít n, khi
gần một nửa sinh viên (46,6%) đánh giá mức độ tác động thấp. Đáng chú ý, sức
khỏe tinh thần khía cạnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất: đến 94% sinh viên báo cáo
mức độ lo lắng từ trung bình đến cao. Tuy nhiên, sự khác biệt theo giới tính không
rệt, trong khi hệ đào tạo mối liên hệ thống ý nghĩa với mức độ ảnh hưởng
trong học tập và tâm lý.
Các kết quả trên cho thấy đại dịch đã gây ra áp lực lớn lên sinh viên ngành y, đặc
biệt khía cạnh học thuật tinh thần. Sinh viên hệ liên thông vốn ít hội tiếp
cận tài nguyên học trực tuyến và phải cân bằng giữa học tập và mưu sinh – là nhóm dễ
tổn thương hơn cả. Mặc dù các lĩnh vực khác như giải trí hay thể chất có bị ảnh hưởng,
mức độ không cao cho thấy sinh viên y có khả năng thích nghi tương đối tốt trong điều
kiện giãn cách xã hội.
8
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng để lại nhiều khoảng trống cần được tiếp tục khai
thác. Cụ thể, nguyên nhân của sự lo âu cao chưa được làm liệu đến từ học tập, áp
lực tài chính, hay lo lắng về sức khỏe nhân gia đình. Nghiên cứu cũng chưa so
sánh mức độ ảnh hưởng giữa sinh viên năm đầu và năm cuối – nhóm có thể chịu nhiều
áp lực nghề nghiệp hơn. Ngoài ra, thiếu dữ liệu định tính chưa phân tích các chiến
lược đối phó sinh viên sử dụng như thể thao, mạng hội hay vấn tâm lý. Cuối
cùng, do chỉ khảo sát tại một thời điểm, nghiên cứu chưa thể phản ánh được tác động
lâu dài của đại dịch.
Những phát hiện này gợi mở hướng nghiên cứu sâu hơn về sức khỏe tâm thần
sinh viên y khoa, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu xây dựng các chương trình hỗ trợ phù
hợp để tăng cường khả năng phục hồi tinh thần cho nhóm đối tượng đặc thù này trong
giai đoạn hậu đại dịch.
1.2 Lý thuyết ứng dụng
Trong bối cảnh hậu COVID-19, sinh viên đại học đặc biệt nhóm đến từ tỉnh,
sinh viên năm cuối hoàn cảnh khó khăn đối tượng dễ bị ảnh hưởng tiêu cực
về thể chất tinh thần. Tại Trường Đại học Văn Hiến, nhiều sinh viên ghi nhận các
biểu hiện như lo âu kéo dài, giảm tập trung khó thích nghi khi trở lại học trực tiếp.
Trên sở đó, nghiên cứu này vận dụng thuyết Niềm tin Sức khỏe (Health Belief
Model - HBM) của Rosenstock (1974) để phân tích các yếu tố tâm hành vi liên
quan đến sức khỏe tinh thần khả năng học tập của sinh viên trong giai đoạn hậu
dịch bệnh.
Cụ thể, HBM bao gồm sáu thành phần được áp dụng như sau:
- Nhận thức nguy cơ: sinh viên lo lắng sẽ tái nhiễm hoặc gặp các triệu chứng
hậu COVID như mệt mỏi, giảm trí nhớ, mất động lực.
- Mức độ nghiêm trọng: ảnh hưởng đến tiến độ học tập , cơ hội nghề nghiệp và
sức khỏe tinh thần của sinh viên như trầm cảm, mất ngủ…
- Lợi ích nhận thức: tin rằng tham gia vấn tâm lý, rèn luyện thể chất, trở lại
lớp học giúp cải thiện tinh thần và kết quả học tập.
- Rào cản nhận thức: ngại tìm kiếm sự hỗ trợ do thiếu thông tin, chi phí cao,
hoặc sợ bị đánh giá tiêu cực.
9
- Tín hiệu hành động: thông tin từ nhà trường, giảng viên, bạn hoặc trải
nghiệm tiêu cực có thể thúc đẩy thay đổi hành vi.
- Hiệu quả bản thân: niềm tin vào khả năng tự quản cảm xúc, sắp xếp việc
học, thích nghi dễ dàng lại với môi trường học tập.
Việc ứng dụng HBM trong nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố
ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng phục hồi học tập, tìm kiếm hỗ trợ tâm lý, từ đó đề
xuất các chương trình can thiệp phù hợp giúp sinh viên trường Văn Hiến ổn định tâm
lý và thích nghi hiệu quả trong giai đoạn hậu đại dịch COVID-19.
Theo Thuyết Đệm Xã hội (Social Buffering Theory - SBT) do Sheldon Cohen
Thomas Ashby Wills (1985) đề xuất, sự hỗ trợ từ người khác đóng vai trò như một
"tấm đệm" giúp nhân giảm bớt tác động tiêu cực của các yếu tố gây căng thẳng lên
sức khỏe tâm thần. Đối với sinh viên Đại học Văn Hiến trong bối cảnh năm 2025
thời điểm hậu đại dịch COVID-19 thuyết này càng trở nên ý nghĩa thực tiễn.
Sau thời gian dài học tập bị gián đoạn, phải thích nghi với hình thức học online, đối
mặt với sự cô lậphội và áp lực nghề nghiệp gia tăng, nhiều sinh viên vẫn đang phải
vật lộn để phục hồi về mặt tinh thần. Trong tình huống này, sự hỗ trợ từ gia đình, bạn
bè, giảng viên hay cộng đồng học thuật đóng vai trò cùng quan trọng trong việc
giúp sinh viên cảm thấy được kết nối, được thấu hiểu thêm nội lực để vượt qua
khó khăn. Việc áp dụng Thuyết Đệm hội vào nghiên cứu triển khai các hoạt
động hỗ trợ sinh viên Đại học Văn Hiến không chỉ giúp làm mối liên hệ giữa môi
trường hội sức khỏe tâm thần, còn sở để xây dựng các chiến lược can
thiệp phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng đời sống học đường trong thời kỳ phục hồi
sau đại dịch.
thuyết Tương tác về Stress (Lazarus & Folkman, 1984) cung cấp khuôn khổ
giải cách nhân phản ứng m trước những tình huống gây căng thẳng, thông
qua ba giai đoạn: đánh giá cấp (nhận diện mức độ đe dọa), đánh giá thứ cấp (xem
xét khả năng nguồn lực đối phó), lựa chọn chiến lược đối phó (hành động cụ thể
để ứng phó). Các chiến lược này thường chia thành hai nhóm: đối phó tập trung vào
vấn đề (như lập kế hoạch học tập, tìm giải pháp cụ thể) đối phó tập trung vào cảm
xúc (như lo âu, tránh hoặc tìm kiếm san ủi). Trong bối cảnh hậu COVID-19, sinh
viên Đại học Văn Hiến đã đang phải đối mặt với nhiều yếu tố gây căng thẳng như
10
mất kết nối học tập, áp lực học bù, bất ổn tâm lý. Việc áp dụng thuyết Đối phó
với Stress giúp hiểu hơn nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trong mức độ căng
thẳng, khả năng phục hồi thích nghi giữa các sinh viên. Từ đó, thuyết này cũng
đóng vai trò làm nền tảng để thiết kế các chương trình hỗ trợ sức khỏe tinh thần, giúp
sinh viên giảm căng thẳng, phục hồi hiệu quả nâng cao năng lực thích ứng trong
môi trường học tập mới sau đại dịch.
1.3 Khái niệm
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố định nghĩa chính thức đầu tiên về hội
chứng hậu COVID-19 (postal COVID-19 condition). Theo đó, tình trạng hậu COVID-
19 xảy ra ở những người có tiền sử nhiễm bệnh với các triệu chứng và kéo dài ít nhất 2
tháng không thể giải thích bằng chẩn đoán thay thế. Tình trạng này thể khiến
sức khỏe người bệnh bị suy giảm kéo dài, tác động nghiêm trọng đến khả năng
quay trở lại làm việc hoặc tham gia cuộc sống hội. Tình trạng hậu COVID-19 xảy
ra những người tiền sử nhiễm SARS-CoV-2, thường trong vòng 3 tháng kể từ
khi khởi phát COVID-19 với các triệu chứng kéo dài ít nhất 2 tháng không thể giải
thích bằng các chẩn đoán khác. Các triệu chứng thường gặp bao gồm: mệt mỏi kéo dài,
khó thở, rối loạn giấc ngủ, suy giảm khả năng tập trung, lo âu, trầm cảm, các rối
loạn tâm thần khác. Những ảnh hưởng này không chỉ gây suy giảm thể chất mà còn tác
động đến khả năng làm việc, học tập và chất lượng sống của người bệnh.
Đặc biệt nhóm dân số trẻ như sinh viên, hậu COVID-19 thể m gián đoạn
quá trình học tập, gây căng thẳng kéo dài làm giảm hiệu quả hoạt động hàng ngày.
Với môi trường học tập thay đổi liên tục, áp lực học hành cao thiếu ổn định tâm
trong giai đoạn hậu dịch bệnh, sinh viên trở thành đối tượng dễ bị tổn thương trước
những hậu quả tâm o dài do COVID-19 để lại. Việc nhận diện nghiên cứu về
hậu COVID-19 giúp xác định được mức độ ảnh hưởng lâu dài của đại dịch, từ đó xây
dựng các chiến lược hỗ trợ sức khỏe thể chất và tinh thần phù hợp.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe tâm thần trạng thái
khỏe mạnh về mặt tinh thần giúp con người có thể đối phó với những căng thẳng trong
cuộc sống, nhận ra khả năng của mình, học tập tốt làm việc tốt, cũng như đóng góp
cho cộng đồng”. Một người có sức khỏe tinh thần tốt không có nghĩa là không gặp khó
11
khăn, màngườikhả năng vượt qua và phục hồi sau những thách thức về mặt tâm
lý.
Trong bối cảnh hậu COVID-19, sức sức khỏe tinh thần trở thành vấn đề ngày
càng đáng quan tâm, đặc biệt là ở sinh viên – nhóm đang trong giai đoạn phát triển tâm
sinh mạnh mẽ, phải đối mặt với nhiều áp lực như học tập, định hướng nghề nghiệp
thích nghi hội. Các tác động tiêu cực của đại dịch như giãn cách hội kéo dài,
thay đổi phương thức học trực tuyến, mất kết nối hội, lo lắng về tương lai... đã làm
gia tăng tỷ lệ các rối loạn tâm thần như lo âu, trầm cảm, rối loạn căng thẳng sau sang
chấn (PTSD) sinh viên. Việc nghiên cứu sức khỏe tinh thần trong giai đoạn hậu dịch
cần thiết nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng thiết kế các biện pháp can thiệp phù
hợp để nâng cao chất lượng sống và học tập cho nhóm đối tượng này.
12

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN ---------- TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA HẬU COVID-19 ĐẾN SỨC KHỎE
TINH THẦN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN NĂM 2025.
Giảng viên giảng dạy: TS. Lê Thị Hoàng Liễu
Mã lớp học phần: 243SOS30309
Đặng Ngọc Nhã Sương 231A170536
Võ Đình Tấn 231A150223
Đặng Ngọc Thanh 231A170808
Lý Thu Thảo 231A150144
Nguyễn Thị Trúc Thi 231A170724
Phạm Bách Giang Thi 221A170800
TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2025
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN ---------- TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA HẬU COVID-19 ĐẾN SỨC KHỎE
TINH THẦN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN NĂM 2025.
Mã lớp học phần: 243SOS30309
Đặng Ngọc Nhã Sương 231A170536
Võ Đình Tấn 231A150223
Đặng Ngọc Thanh 231A170808
Lý Thu Thảo 231A150144
Nguyễn Thị Trúc Thi 231A170724
Phạm Bách Giang Thi 221A170800 LỜI CAM KẾT
Chúng tôi, những thành viên thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học với chủ đề
“Ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên Đại học Văn
Hiến năm 2025”, xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu độc lập do chính
nhóm chúng tôi thực hiện, không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác. Tất cả các số
liệu, kết quả, tài liệu và thông tin được sử dụng trong đề tài đều được thu thập một
cách trung thực, rõ ràng về nguồn gốc. Mọi tài liệu tham khảo từ các nguồn khác đều
được chúng tôi trích dẫn đầy đủ, rõ ràng theo đúng quy định về đạo đức nghiên cứu
khoa học.Chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của nội
dung nghiên cứu trong đề tài này.
Chúng tôi xin cam đoan lời khai trên là đúng sự thật. NHẬN XÉT NHÓM Stt Họ và tên MSSV Trách nhiệm Mức độ tham gia tên 1 Đặng Ngọc Nhã Sương
231A170536 Phần 1.2 – 2.4 & Bảng 99%
3.1.1 – 3.1.2 – 3.1.3 & Câu hỏi khảo sát 2 Võ Đình Tấn
231A150223 Đặt vấn đề & Phần 1.1 – 99%
2.2 & Bảng 3.1.4 – 3.1.5
– 3.1.6 & Câu hỏi khảo sát 3 Đặng Ngọc Thanh
231A170808 Đặt vấn đề & Phần 2.7 – 99%
2.8 & Bảng 3.1.7 – 3.1.8
– 3.1.9 & Câu hỏi khảo sát 4 Lý Thu Thảo
231A150144 Đặt vấn đề & Phần 1.1.2 99%
– 2.5 & Bảng 3.2.10 & Câu hỏi khảo sát 5 Nguyễn Thị Trúc Thi
231A170724 Phần 1.1 – 1.3 – 2.6 & 100%
Bảng 3.2.10 & Câu hỏi khảo sát 6 Phạm Bách Giang Thi
221A170800 Phần 2.1 - 2.3 & Bảng 100%
3.2.10 & Câu hỏi khảo sát & Tổng hợp, word DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Stt Viết tắt Giải thích 1 COVID-19 Coronavirus Disease 2019 2 DASS -21
Depression Anxiety Stress Scales – 21 items 3 HBM Health Belief Model 4 SBT Social Buffering Theory 5 World Health Organization WHO
(Tổ chức Y tế Thế giới) 6
Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 SARS-CoV-2
(virus corona gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2) 7 Post-Traumatic Stress Disorder PTSD
(Rối loạn căng thẳng sau sang chấn hoặc đôi khi gọi
là Rối loạn stress sau chấn thương) 8 VHU
Trường Đại học Văn Hiến DANH MỤC BẢNG BIỂU STT Số bảng Tên bảng Trang 1
Bảng 3.1.1 Bảng phân bố khảo sát theo giới tính 22 2
Bảng 3.1.2 Phân bố khảo sát theo ngành 22 3
Bảng 3.1.3 Phân bố khảo sát theo năm học 22 4
Bảng 3.1.4 Phân bố mẫu khảo sát đã từng nhiễm COVID-19 chưa 22 5
Bảng 3.1.5 Phân bố mẫu khảo sát theo thời gian nhiễm COVID-19 22 6
Bảng 3.1.6 Phân bố mẫu khảo sát theo số lần tiêm vắc xin COVID-19 22 7
Bảng 3.1.7 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên kết quả xét nghiệm 22 8
Bảng 3.1.8 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên triệu chứng trong thời gian 22 mắc bệnh 9
Bảng 3.1.9 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên sự thay đổi lối sống sau 22 khi khỏi bệnh 10 Bảng
Đánh giá mức độ Lo âu - Trầm cảm – Stress ( Thang đo 23 3.2.10 DASS – 21) 11 Bảng
Ảnh hưởng của hậu COVID-19 (Thang đo Likert) 24 3.3.11 MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................1
Mục tiêu nghiên cứu chung..............................................................................3
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể...............................................................................3
Câu hỏi nghiên cứu...........................................................................................3
Giả thuyết nghiên cứu.......................................................................................3
Khung nghiên cứu.............................................................................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT...................................................................5
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước................................................................5
1.2 Lý thuyết ứng dụng.....................................................................................9
1.3 Khái niệm..................................................................................................11
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................13
2.1 Phương pháp nghiên cứu...........................................................................13
2.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu...................................................................14
2.3 Công cụ nghiên cứu...................................................................................14
2.4 Cách thu thập số liệu.................................................................................16
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu....................................................16
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu.........................................................................19
2.7 Ý nghĩa của nghiên cứu.............................................................................20
2.8 Tính mới của đề tài....................................................................................20
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................21
3.1 Thông tin người điền phiếu.......................................................................21
Bảng 3.1.1 Bảng phân bố khảo sát theo giới tính........................................21
Bảng 3.1.2 Phân bố khảo sát theo ngành.....................................................21
Bảng 3.1.3 Phân bố khảo sát theo năm học.................................................21
Bảng 3.1.4 Phân bố mẫu khảo sát đã từng nhiễm COVID-19 chưa............21
Bảng 3.1.5 Phân bố mẫu khảo sát theo thời gian nhiễm COVID-19..........21
Bảng 3.1.6 Phân bố mẫu khảo sát theo số lần tiêm vắc xin COVID-19.....22
Bảng 3.1.7 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên kết quả xét nghiệm..................22
Bảng 3.1.8 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên triệu chứng trong thời gian mắc
bệnh.............................................................................................................22
Bảng 3.1.9 Phân bố mẫu khảo sát dựa trên sự thay đổi lối sống sau khi khỏi
bệnh.............................................................................................................22
3.2. Đánh giá mức độ Lo âu - Trầm cảm – Stress...........................................23
Bảng 3.2.10 Đánh giá mức độ Lo âu - Trầm cảm – Stress ( Thang đo DASS
– 21).............................................................................................................23
3.3 Ảnh hưởng của hậu COVID-19.................................................................24
3.3.11 Ảnh hưởng của hậu COVID-19 (Thang đo Likert)..........................24
BÀN LUẬN........................................................................................................26
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ.........................................................................26
.............................................................................................................................26
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN...............................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................28

PHỤ LỤC 1. BỘ CÂU HỎI KHẢO SÁT.......................................................29 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch COVID-19 không chỉ là một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu mà còn để
lại những hệ lụy sâu sắc trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực giáo
dục và sức khỏe tinh thần. Trong đó, sinh viên đại học – nhóm đối tượng đang trong
giai đoạn chuyển tiếp từ vị thành niên sang người trưởng thành – được xem là một
trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất trước những biến động về môi trường sống,
học tập và định hướng tương lai do đại dịch gây ra.
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sức khỏe tinh thần của sinh viên
bị ảnh hưởng nặng nề trong và sau giai đoạn dịch bệnh. Cụ thể, theo nghiên cứu của
Hoàng Thị Vân và cộng sự (2022), tại Trường Đại học Đại Nam, tỷ lệ sinh viên có
biểu hiện rối loạn lo âu lên đến 34,1%, trong khi 10,7% sinh viên được ghi nhận bị
stress. Tại Trường Đại học Y Hà Nội, một nghiên cứu quy mô lớn cho thấy 67,21%
sinh viên có dấu hiệu trầm cảm, 68,40% có lo âu và 26,42% bị căng thẳng ở các mức
độ khác nhau sau dịch. Trong khi đó, tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, nghiên
cứu của Lê Thị Phương Đài và cộng sự (2023) với hơn 1.200 sinh viên cho thấy có
đến 94% sinh viên báo cáo mức độ lo lắng từ trung bình đến cao, và 93,5% bị ảnh
hưởng trong quá trình học tập.
Đặc biệt, tại TP. Hồ Chí Minh – nơi từng là tâm điểm của đợt bùng phát dịch lớn
nhất cả nước – sinh viên càng chịu nhiều áp lực hơn khi vừa phải đối mặt với môi
trường học tập bị thay đổi đột ngột, vừa chịu ảnh hưởng bởi điều kiện sống, tài chính
và lo lắng về sức khỏe bản thân và gia đình. Nghiên cứu của Đỗ Trọng Thành và Phan
Bùi Gia Thủy (2022) tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho thấy 83,3% sinh viên
cho rằng việc thực hành lâm sàng bị gián đoạn, và mối lo lắng lớn nhất của họ liên
quan đến sức khỏe người thân và nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng. Những dẫn
chứng trên cho thấy đại dịch không chỉ là thách thức về mặt thể chất mà còn là cú sốc
tinh thần kéo dài đối với sinh viên.
Tuy nhiên, dễ nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam đều
tập trung vào khối ngành y, nơi sinh viên chịu áp lực nghề nghiệp và học thuật cao.
Trong khi đó, các trường ngoài công lập – nơi tập trung đông đảo sinh viên đến từ
nhiều vùng miền khác nhau, với điều kiện kinh tế và học tập không đồng đều – lại 1
chưa được nghiên cứu đầy đủ, hệ thống. Trường Đại học Văn Hiến là một trong những
cơ sở giáo dục ngoài công lập tiêu biểu tại TP. Hồ Chí Minh, với sinh viên theo học ở
nhiều ngành nghề không thuộc lĩnh vực y tế, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi
các tác động gián tiếp của đại dịch, như: học online kéo dài, giãn cách xã hội, giảm
tương tác bạn bè – giảng viên, hạn chế các hoạt động ngoại khóa, áp lực tài chính và lo
lắng về triển vọng nghề nghiệp sau khi ra trường.
Đáng chú ý, sau khi dịch bệnh được kiểm soát và hoạt động học tập trở lại bình
thường, một bộ phận sinh viên vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn về mặt tâm lý. Nhiều
em rơi vào trạng thái mất động lực học tập, cảm giác cô lập, thiếu định hướng và căng
thẳng kéo dài. Đây là những biểu hiện của ảnh hưởng hậu COVID-19 – giai đoạn mà
các triệu chứng tâm lý không còn rõ ràng, dễ quan sát như trong thời kỳ dịch bùng
phát, nhưng lại âm thầm và khó phát hiện hơn. Nếu không có những nghiên cứu
chuyên sâu và các biện pháp can thiệp phù hợp, hệ quả sẽ kéo dài, ảnh hưởng đến chất
lượng học tập và phát triển nhân cách của sinh viên trong dài hạn.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu chuyên biệt về sức khỏe tinh thần của sinh
viên Trường Đại học Văn Hiến ở giai đoạn hậu COVID-19 mang ý nghĩa cấp thiết cả
về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, đề tài góp phần bổ sung vào hệ thống các nghiên
cứu trong nước hiện còn thiếu về nhóm sinh viên ngoài khối ngành y và tại các trường
đại học ngoài công lập. Về thực tiễn, việc khảo sát trực tiếp tại Văn Hiến giúp xác định
rõ thực trạng tâm lý của sinh viên, từ đó làm cơ sở để nhà trường xây dựng các chương
trình hỗ trợ tâm lý – học tập phù hợp với đặc thù đối tượng, bối cảnh và nhu cầu cụ thể.
Tính mới của đề tài thể hiện ở hai điểm cốt lõi. Đề tài tập trung vào giai đoạn hậu
COVID-19, khi các biểu hiện tâm lý như lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, giảm tập
trung... không còn rõ rệt như trong thời điểm dịch bùng phát, nhưng lại dai dẳng, âm ỉ
và dễ bị bỏ qua. Đây là giai đoạn chưa được nhiều nghiên cứu chú trọng, đặc biệt đối
với sinh viên không thuộc khối ngành y. Ngoài ra, đề tài khảo sát tại Trường Đại học
Văn Hiến, một trường ngoài công lập với sinh viên có hoàn cảnh học tập và xuất thân
đa dạng – nhóm đối tượng ít được nghiên cứu nhưng lại dễ bị tổn thương về mặt tinh thần sau đại dịch. 2
Xuất phát từ những lý do nêu trên, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài:
“Ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên Trường
Đại học Văn Hiến”. Mục tiêu của đề tài là đánh giá một cách toàn diện mức độ và
biểu hiện của các vấn đề tâm lý phổ biến ở sinh viên sau đại dịch, đồng thời xác định
những yếu tố tác động, nhóm sinh viên có nguy cơ cao và đề xuất các biện pháp hỗ trợ phù hợp.
Đề tài không chỉ góp phần nâng cao nhận thức về sức khỏe tinh thần trong môi
trường đại học, mà còn hướng đến xây dựng một hệ thống chăm sóc tâm lý học đường
bền vững, nhân văn – điều đang rất cần thiết trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam
hậu COVID-19. Bằng cách cung cấp dữ liệu nghiên cứu thực tiễn, đề tài kỳ vọng sẽ là
bước khởi đầu cho các hoạt động chăm sóc tinh thần có hệ thống hơn cho sinh viên,
đồng thời thúc đẩy các chính sách hỗ trợ đồng bộ giữa nhà trường, giảng viên và các tổ
chức liên quan trong việc đồng hành cùng sinh viên vượt qua khó khăn tâm lý sau đại dịch.
Mục tiêu nghiên cứu chung
Nghiên cứu ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên Đại học Văn Hiến.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
-Tỉ lệ sinh viên Trường Đại học Văn Hiến bị ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến
sức khỏe tinh thần năm 2025.
- Mức độ ảnh hưởng của hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần của sinh viên tại
Trường Đại học Văn Hiến.
Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Có bao nhiêu sinh viên Trường Đại học Văn Hiến bị ảnh hưởng của
hậu COVID-19 đến sức khỏe tinh thần?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng sức khỏe tinh thần của sinh viên Trường Đại học
Văn Hiến hậu COVID-19 là như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Trên 20% sinh viên Trường Đại học Văn Hiến đã từng mắc
COVID-19 bị ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần. 3
Giả thuyết 2: Mức độ ảnh hưởng của sinh viên Trường Đại học Văn Hiến do hậu
COVID-19 rất nhiều đến sức khỏe tinh thần căng thẳng, stress, rối loạn lo âu, trầm cảm, kiệt sức. Khung nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Tổng quan các nghiên cứu trước
Đại dịch COVID-19 không chỉ gây ra những hậu quả về thể chất và kinh tế, mà
còn để lại nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe tâm thần, đặc biệt trong nhóm
sinh viên ngành sức khỏe – những người vừa là đối tượng học tập đặc thù, vừa là lực
lượng dự bị cho ngành y tế. Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Hoàng Thị Vân cùng
cộng sự (2022) “Tác động của đại dịch COVID-19 đến sức khỏe tâm thần của sinh
viên khối ngành sứ khỏe Trường Đại học Đại Nam năm 2021 – 2022” được đăng trên
Tạp chí Y học Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 422 sinh viên khối ngành
sức khỏe đã cung cấp những số liệu quan trọng phản ánh mức độ ảnh hưởng tâm lý
trong giai đoạn 2021–2022.
Kết quả cho thấy, tỷ lệ sinh viên có biểu hiện trầm cảm là 1,7%, stress là 10,7%
và lo âu là 34,1%, được đánh giá bằng thang đo Lo âu – Trầm cảm – Stress (DASS -
21). Đây là công cụ được chuẩn hóa quốc tế, có độ tin cậy và khả năng so sánh cao với
các nghiên cứu tương tự trong và ngoài nước.
Đáng chú ý, có mối liên hệ rõ ràng giữa năm học theo chương trình đào tạo với
rối loạn lo âu và trầm cảm, đặc biệt ở nhóm sinh viên năm cuối – đối tượng thường
xuyên phải đối mặt với áp lực tốt nghiệp, thực tập lâm sàng và tìm kiếm việc làm.
Ngoài ra, các yếu tố dịch tễ học như từng sinh sống hoặc di chuyển qua vùng dịch, lo
ngại về tác dụng phụ của vắc xin, và lo lắng về triển vọng nghề nghiệp trong tương lai
cũng được xác định là có liên quan đáng kể đến mức độ stress và lo âu ở sinh viên.
Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây tại các trường đại học khác như Đại
học Y Hà Nội hay các cơ sở đào tạo y khoa tại miền Trung, miền Nam, mức độ rối
loạn tâm lý ở sinh viên Đại học Đại Nam có xu hướng thấp hơn. Tuy nhiên, không vì
thế mà mức độ ảnh hưởng tại đây bị đánh giá thấp, bởi tỷ lệ lo âu hơn 1/3 tổng số sinh
viên được khảo sát vẫn cho thấy mức độ áp lực tâm lý đáng kể, nhất là trong bối cảnh hậu đại dịch. 5
Từ các dữ liệu trên, nghiên cứu đi đến luận điểm chính rằng đại dịch COVID-19
đã tạo ra một áp lực tâm lý không nhỏ đối với sinh viên ngành sức khỏe tại Trường
Đại học Đại Nam, biểu hiện qua các mức độ khác nhau của lo âu, stress và trầm cảm.
Những biểu hiện này có mối liên hệ chặt chẽ với năm học, cảm nhận về rủi ro tiêm
chủng, cũng như mức độ bất an về tương lai nghề nghiệp – vốn là các yếu tố phổ biến
trong nhóm sinh viên khối ngành sức khỏe tại Việt Nam hiện nay.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp hỗ trợ sức khỏe
tâm thần dành riêng cho sinh viên ngành sức khỏe, bao gồm: tăng cường hoạt động tư
vấn tâm lý trong trường học, thiết lập hệ thống hỗ trợ đồng đẳng, cải thiện môi trường
học tập sau dịch và xây dựng chương trình định hướng nghề nghiệp phù hợp với giai
đoạn phục hồi ngành y tế.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng tồn tại một số hạn chế nhất định. Thứ nhất,
nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát tại một trường đại học tư thục, nên chưa phản ánh
đầy đủ thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên ngành sức khỏe tại các cơ sở công
lập hoặc ở các vùng miền khác. Thứ hai, phương pháp cắt ngang chỉ cho phép đánh giá
tại một thời điểm cụ thể, chưa theo dõi được sự thay đổi về thời gian hoặc tác động lâu
dài của đại dịch đối với sức khỏe tinh thần. Cuối cùng, nghiên cứu chưa khai thác sâu
các yếu tố xã hội và cá nhân như hoàn cảnh gia đình, điều kiện học tập, cũng như khả
năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần – vốn là các yếu tố có thể góp phần
lý giải đầy đủ hơn về cơ chế ảnh hưởng của đại dịch đối với nhóm sinh viên đặc thù này.
Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Đỗ Trọng Thành và Phan Bùi Gia Thủy (2022)
“ Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến tâm lí của sinh viên: Nghiên cứu trường hợp
tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành” đăng trên Tạp chí Giáo dục nhằm khảo sát
mức độ ảnh hưởng của đại dịch đến tâm lý sinh viên theo đặc điểm giới tính và nơi cư trú.
Nghiên cứu được triển khai trong khoảng thời gian từ ngày 01 đến 31/8/2021 với
612 sinh viên tham gia khảo sát thông qua bảng câu hỏi theo thang đo Likert 5 mức
độ. Mẫu khảo sát gồm 264 nam (43,1%) và 348 nữ (56,9%), trong đó phần lớn sinh
viên sống cùng gia đình (79,4%) và còn lại sống riêng (20,6%). Nghiên cứu tập trung 6
vào ba khía cạnh chính: mức độ nhận thức về COVID-19, ảnh hưởng của dịch bệnh
đến môi trường học tập và hoạt động thực hành, và mức độ lo âu về tâm lý.
Về nhận thức, đa số sinh viên cho biết họ có sử dụng các biện pháp phòng tránh
COVID-19 và cảm thấy thay đổi rõ rệt trong sinh hoạt hằng ngày do đại dịch. Một số
khác cho biết khả năng tự tin phát hiện triệu chứng bệnh và cảm nhận rủi ro mắc bệnh
của họ không cao, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt đáng kể giữa sinh viên sống riêng và
sống cùng gia đình – sinh viên sống riêng thường có mức độ lo lắng và nhận thức rủi ro cao hơn.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến môi trường học tập
của sinh viên. Có đến 83,3% sinh viên cho rằng hoạt động thực hành lâm sàng bị gián
đoạn nghiêm trọng, chỉ 6,7% đang thực hành trên bệnh nhân vào thời điểm khảo sát.
Mức độ đồng thuận của sinh viên đối với việc vẫn muốn thực hành trong thời gian
dịch bệnh hoặc chấp nhận rủi ro để thực hành đều ở mức thấp (trung bình chỉ 2,45–
2,71 điểm trên thang đo 5 điểm). Điều này cho thấy sự bất an của sinh viên khi tiếp
cận môi trường học tập thực tế trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp.
Về mặt tâm lý, nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ lo lắng cao nhất của sinh viên là
về sức khỏe của người thân nếu bị nhiễm COVID-19 (trung bình 4,74 điểm). Bên cạnh
đó, những lo lắng phổ biến khác bao gồm sợ lây nhiễm từ người không có triệu chứng,
quá tải bệnh viện và thiếu thiết bị bảo hộ. Đáng chú ý, có sự khác biệt rõ rệt giữa sinh
viên nam và nữ trong nhiều biểu hiện tâm lý: sinh viên nữ có xu hướng lo lắng nhiều
hơn sinh viên nam trong hầu hết các khía cạnh, từ sức khỏe người thân đến nguy cơ
nhập viện và các rủi ro học tập. Đồng thời, sinh viên sống riêng cũng có mức độ lo
lắng cao hơn so với sinh viên sống với gia đình.
Một điểm đáng quan tâm khác là các yếu tố khiến sinh viên cảm thấy an tâm để
quay lại trường học sau đại dịch. Theo kết quả khảo sát, yếu tố được lựa chọn nhiều
nhất là "đã tiêm vắc xin đầy đủ", tiếp theo là "có xét nghiệm COVID-19 rộng rãi" và
"được cung cấp dụng cụ bảo hộ đầy đủ". Điều này cho thấy, sinh viên không chỉ quan
tâm đến nội dung học thuật mà còn rất chú trọng đến điều kiện an toàn về mặt y tế
trong quá trình học tập và thực hành.
Tổng thể, nghiên cứu đã chỉ ra rằng COVID-19 không chỉ là vấn đề dịch tễ học
mà còn là một thách thức lớn đối với sức khỏe tinh thần của sinh viên. Những lo âu, 7
bất an và sự thay đổi trong hành vi học tập, thực hành là các phản ứng hoàn toàn có cơ
sở và cần được quan tâm đúng mức. Trong bối cảnh chưa có nhiều nghiên cứu chuyên
biệt về sinh viên Việt Nam, đặc biệt là khối ngành y, thì nghiên cứu của Đỗ Trọng
Thành và Phan Bùi Gia Thủy đã cung cấp những dữ liệu mang tính nền tảng, góp phần
giúp các trường đại học xây dựng chính sách hỗ trợ tâm lý học đường phù hợp và kịp thời hơn.
Đại dịch COVID-19, đặc biệt trong đợt bùng phát lần thứ tư tại Việt Nam, đã gây
ra những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống, trong đó sinh viên ngành y –
lực lượng tương lai của ngành y tế – là nhóm đối tượng chịu nhiều áp lực cả về học tập
lẫn tâm lý. Một nghiên cứu do Lê Thị Phương Đài cùng cộng sự “ Khảo sát ảnh hưởng
của COVID-19 đến sinh viên Y khoa trong đợt bùng phát dịch lần thứ 4 năm 2021”
đăng trên Tạp chí Y dược Cần Thơ” được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược Cần
Thơ trên 1.295 sinh viên theo thiết kế mô tả cắt ngang đã cung cấp các số liệu đáng lưu
ý về mức độ ảnh hưởng của đại dịch đến năm khía cạnh chính: học tập, đi lại, giải trí,
sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần.
Kết quả cho thấy, học tập là lĩnh vực bị tác động mạnh nhất với 93,5% sinh viên
cho biết bị ảnh hưởng, đặc biệt là nhóm sinh viên hệ liên thông – vốn chịu áp lực kép
giữa học hành và công việc. Bên cạnh đó, 34,4% sinh viên phản ánh hoạt động giải trí
bị gián đoạn nghiêm trọng. Trong khi đó, sức khỏe thể chất bị ảnh hưởng ít hơn, khi
gần một nửa sinh viên (46,6%) đánh giá mức độ tác động là thấp. Đáng chú ý, sức
khỏe tinh thần là khía cạnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất: có đến 94% sinh viên báo cáo
mức độ lo lắng từ trung bình đến cao. Tuy nhiên, sự khác biệt theo giới tính không rõ
rệt, trong khi hệ đào tạo có mối liên hệ thống kê có ý nghĩa với mức độ ảnh hưởng
trong học tập và tâm lý.
Các kết quả trên cho thấy đại dịch đã gây ra áp lực lớn lên sinh viên ngành y, đặc
biệt ở khía cạnh học thuật và tinh thần. Sinh viên hệ liên thông – vốn có ít cơ hội tiếp
cận tài nguyên học trực tuyến và phải cân bằng giữa học tập và mưu sinh – là nhóm dễ
tổn thương hơn cả. Mặc dù các lĩnh vực khác như giải trí hay thể chất có bị ảnh hưởng,
mức độ không cao cho thấy sinh viên y có khả năng thích nghi tương đối tốt trong điều kiện giãn cách xã hội. 8
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng để lại nhiều khoảng trống cần được tiếp tục khai
thác. Cụ thể, nguyên nhân của sự lo âu cao chưa được làm rõ – liệu đến từ học tập, áp
lực tài chính, hay lo lắng về sức khỏe cá nhân và gia đình. Nghiên cứu cũng chưa so
sánh mức độ ảnh hưởng giữa sinh viên năm đầu và năm cuối – nhóm có thể chịu nhiều
áp lực nghề nghiệp hơn. Ngoài ra, thiếu dữ liệu định tính và chưa phân tích các chiến
lược đối phó mà sinh viên sử dụng như thể thao, mạng xã hội hay tư vấn tâm lý. Cuối
cùng, do chỉ khảo sát tại một thời điểm, nghiên cứu chưa thể phản ánh được tác động lâu dài của đại dịch.
Những phát hiện này gợi mở hướng nghiên cứu sâu hơn về sức khỏe tâm thần
sinh viên y khoa, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu xây dựng các chương trình hỗ trợ phù
hợp để tăng cường khả năng phục hồi tinh thần cho nhóm đối tượng đặc thù này trong
giai đoạn hậu đại dịch.
1.2 Lý thuyết ứng dụng
Trong bối cảnh hậu COVID-19, sinh viên đại học – đặc biệt là nhóm đến từ tỉnh,
sinh viên năm cuối và có hoàn cảnh khó khăn – là đối tượng dễ bị ảnh hưởng tiêu cực
về thể chất và tinh thần. Tại Trường Đại học Văn Hiến, nhiều sinh viên ghi nhận các
biểu hiện như lo âu kéo dài, giảm tập trung và khó thích nghi khi trở lại học trực tiếp.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu này vận dụng Lý thuyết Niềm tin Sức khỏe (Health Belief
Model - HBM) của Rosenstock (1974) để phân tích các yếu tố tâm lý – hành vi liên
quan đến sức khỏe tinh thần và khả năng học tập của sinh viên trong giai đoạn hậu dịch bệnh.
Cụ thể, HBM bao gồm sáu thành phần được áp dụng như sau:
- Nhận thức nguy cơ: sinh viên lo lắng sẽ tái nhiễm hoặc gặp các triệu chứng
hậu COVID như mệt mỏi, giảm trí nhớ, mất động lực.
- Mức độ nghiêm trọng: ảnh hưởng đến tiến độ học tập , cơ hội nghề nghiệp và
sức khỏe tinh thần của sinh viên như trầm cảm, mất ngủ…
- Lợi ích nhận thức: tin rằng tham gia tư vấn tâm lý, rèn luyện thể chất, trở lại
lớp học giúp cải thiện tinh thần và kết quả học tập.
- Rào cản nhận thức: ngại tìm kiếm sự hỗ trợ do thiếu thông tin, chi phí cao,
hoặc sợ bị đánh giá tiêu cực. 9
- Tín hiệu hành động: thông tin từ nhà trường, giảng viên, bạn bè hoặc trải
nghiệm tiêu cực có thể thúc đẩy thay đổi hành vi.
- Hiệu quả bản thân: niềm tin vào khả năng tự quản lý cảm xúc, sắp xếp việc
học, thích nghi dễ dàng lại với môi trường học tập.
Việc ứng dụng HBM trong nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố
ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng phục hồi học tập, tìm kiếm hỗ trợ tâm lý, từ đó đề
xuất các chương trình can thiệp phù hợp giúp sinh viên trường Văn Hiến ổn định tâm
lý và thích nghi hiệu quả trong giai đoạn hậu đại dịch COVID-19.
Theo Thuyết Đệm Xã hội (Social Buffering Theory - SBT) do Sheldon Cohen và
Thomas Ashby Wills (1985) đề xuất, sự hỗ trợ từ người khác đóng vai trò như một
"tấm đệm" giúp cá nhân giảm bớt tác động tiêu cực của các yếu tố gây căng thẳng lên
sức khỏe tâm thần. Đối với sinh viên Đại học Văn Hiến trong bối cảnh năm 2025 –
thời điểm hậu đại dịch COVID-19 – lý thuyết này càng trở nên có ý nghĩa thực tiễn.
Sau thời gian dài học tập bị gián đoạn, phải thích nghi với hình thức học online, đối
mặt với sự cô lập xã hội và áp lực nghề nghiệp gia tăng, nhiều sinh viên vẫn đang phải
vật lộn để phục hồi về mặt tinh thần. Trong tình huống này, sự hỗ trợ từ gia đình, bạn
bè, giảng viên hay cộng đồng học thuật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
giúp sinh viên cảm thấy được kết nối, được thấu hiểu và có thêm nội lực để vượt qua
khó khăn. Việc áp dụng Thuyết Đệm Xã hội vào nghiên cứu và triển khai các hoạt
động hỗ trợ sinh viên Đại học Văn Hiến không chỉ giúp làm rõ mối liên hệ giữa môi
trường xã hội và sức khỏe tâm thần, mà còn là cơ sở để xây dựng các chiến lược can
thiệp phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng đời sống học đường trong thời kỳ phục hồi sau đại dịch.
Lý thuyết Tương tác về Stress (Lazarus & Folkman, 1984) cung cấp khuôn khổ
lý giải cách cá nhân phản ứng tâm lý trước những tình huống gây căng thẳng, thông
qua ba giai đoạn: đánh giá sơ cấp (nhận diện mức độ đe dọa), đánh giá thứ cấp (xem
xét khả năng và nguồn lực đối phó), và lựa chọn chiến lược đối phó (hành động cụ thể
để ứng phó). Các chiến lược này thường chia thành hai nhóm: đối phó tập trung vào
vấn đề (như lập kế hoạch học tập, tìm giải pháp cụ thể) và đối phó tập trung vào cảm
xúc (như lo âu, né tránh hoặc tìm kiếm sự an ủi). Trong bối cảnh hậu COVID-19, sinh
viên Đại học Văn Hiến đã và đang phải đối mặt với nhiều yếu tố gây căng thẳng như 10
mất kết nối học tập, áp lực học bù, và bất ổn tâm lý. Việc áp dụng Lý thuyết Đối phó
với Stress giúp hiểu rõ hơn nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trong mức độ căng
thẳng, khả năng phục hồi và thích nghi giữa các sinh viên. Từ đó, lý thuyết này cũng
đóng vai trò làm nền tảng để thiết kế các chương trình hỗ trợ sức khỏe tinh thần, giúp
sinh viên giảm căng thẳng, phục hồi hiệu quả và nâng cao năng lực thích ứng trong
môi trường học tập mới sau đại dịch. 1.3 Khái niệm
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố định nghĩa chính thức đầu tiên về hội
chứng hậu COVID-19 (postal COVID-19 condition). Theo đó, tình trạng hậu COVID-
19 xảy ra ở những người có tiền sử nhiễm bệnh với các triệu chứng và kéo dài ít nhất 2
tháng mà không thể giải thích bằng chẩn đoán thay thế. Tình trạng này có thể khiến
sức khỏe người bệnh bị suy giảm kéo dài, có tác động nghiêm trọng đến khả năng
quay trở lại làm việc hoặc tham gia cuộc sống xã hội. Tình trạng hậu COVID-19 xảy
ra ở những người có tiền sử nhiễm SARS-CoV-2, thường là trong vòng 3 tháng kể từ
khi khởi phát COVID-19 với các triệu chứng kéo dài ít nhất 2 tháng và không thể giải
thích bằng các chẩn đoán khác. Các triệu chứng thường gặp bao gồm: mệt mỏi kéo dài,
khó thở, rối loạn giấc ngủ, suy giảm khả năng tập trung, lo âu, trầm cảm, và các rối
loạn tâm thần khác. Những ảnh hưởng này không chỉ gây suy giảm thể chất mà còn tác
động đến khả năng làm việc, học tập và chất lượng sống của người bệnh.
Đặc biệt ở nhóm dân số trẻ như sinh viên, hậu COVID-19 có thể làm gián đoạn
quá trình học tập, gây căng thẳng kéo dài và làm giảm hiệu quả hoạt động hàng ngày.
Với môi trường học tập thay đổi liên tục, áp lực học hành cao và thiếu ổn định tâm lý
trong giai đoạn hậu dịch bệnh, sinh viên trở thành đối tượng dễ bị tổn thương trước
những hậu quả tâm lý kéo dài do COVID-19 để lại. Việc nhận diện và nghiên cứu về
hậu COVID-19 giúp xác định được mức độ ảnh hưởng lâu dài của đại dịch, từ đó xây
dựng các chiến lược hỗ trợ sức khỏe thể chất và tinh thần phù hợp.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe tâm thần là trạng thái
khỏe mạnh về mặt tinh thần giúp con người có thể đối phó với những căng thẳng trong
cuộc sống, nhận ra khả năng của mình, học tập tốt và làm việc tốt, cũng như đóng góp
cho cộng đồng”. Một người có sức khỏe tinh thần tốt không có nghĩa là không gặp khó 11
khăn, mà là người có khả năng vượt qua và phục hồi sau những thách thức về mặt tâm lý.
Trong bối cảnh hậu COVID-19, sức sức khỏe tinh thần trở thành vấn đề ngày
càng đáng quan tâm, đặc biệt là ở sinh viên – nhóm đang trong giai đoạn phát triển tâm
sinh lý mạnh mẽ, phải đối mặt với nhiều áp lực như học tập, định hướng nghề nghiệp
và thích nghi xã hội. Các tác động tiêu cực của đại dịch như giãn cách xã hội kéo dài,
thay đổi phương thức học trực tuyến, mất kết nối xã hội, lo lắng về tương lai... đã làm
gia tăng tỷ lệ các rối loạn tâm thần như lo âu, trầm cảm, rối loạn căng thẳng sau sang
chấn (PTSD) ở sinh viên. Việc nghiên cứu sức khỏe tinh thần trong giai đoạn hậu dịch
là cần thiết nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng và thiết kế các biện pháp can thiệp phù
hợp để nâng cao chất lượng sống và học tập cho nhóm đối tượng này. 12