lOMoARcPSD| 61431571
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO POHE
*****
TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC – LENIN
Quan điểm của chủ nghĩa Mác về giai cấp – đấu tranh giai cấp và sự vận
Sinh viên: Nguyễn Hữu Trung
Mã sinh viên: 11231942
Lớp: Thương mại điện tử CLC 65B
Giảng viên hướng dẫn: T.S Lê Ngọc Thông
HÀ NỘI – 2023
lOMoARcPSD| 61431571
MỞ ĐẦU
Tbuổi bình minh của lịch sử nhân loại, triết học là một trong những môn khoa
học đầu tiên và là nền tảng quan trọng cho các khoa học đương đại. Lịch sử phát
triển của triết học phong phú và đa dạng từ cổ đại đến hiện đại, từ Đông sang Tây,
trong đó không thể kể đến triết học Mác với chủ nghĩa duy vật lịch sử đã áp dụng
thành công phép biện chứng duy vật vào trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử,
hội; từ đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các quốc gia đang trên
con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam, với cách một nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
hội, cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Triết học duy vật lịch sử, với những nội
dung đầy tính thực tiễn cung cấp, đã cung cấp sở luận quan trọng cho
hầu hết các hoạt động, chính sách của nhà nước. Trong đó, nội dung liên quan
đến giai cấp thể coi đơn vị kiến thức cốt yếu, giàu tính thời sự, vẫn còn
nguyên giá trị ngay trong thời buổi hôm nay.
Dựa trên tinh thần đó, em đã viết bài tiểu luận mang tên: “Quan điểm của chủ
nghĩa Mác về giai cấp đấu tranh giai cấp sự vận dụng quan điểm ấy vào
phân tích qtrình đấu tranh giai cấp Việt Nam”. Trong quá trình làm bài,
do sự hạn chế về mặt kỹ năng kiến thức nên sự sai sót không thể tránh khỏi.
Kính mong các thầy sẽ góp ý để bài làm của em trở nên hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
lOMoARcPSD| 61431571
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 2
NỘI DUNG ............................................................................................................ 4
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ....................................................................................... 4
1) Tổng quan học thuyết duy vật lịch sử ............................................................. 4
2) Quan điểm của triết học duy vật lịch sử về giai cấp và đấu tranh giai cấp .... 4
a) Khái niệm giai cấp .......................................................................................... 4
b) Nguồn gốc giai cấp ......................................................................................... 5
c) Kết cấu xã hội - giai cấp ................................................................................. 6
d) Đấu tranh giai cấp ........................................................................................... 7
B. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP
VÀO CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN TI VIỆT NAM ... 7
1) Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam gắn liền với tiến trình đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước ................................................................................. 7
a) Trong thời kì thuộc địa .................................................................................... 8
b) Trong kháng chiến chống Pháp…………………………………………… 10
............................................................................................................................... 9
c) Trong kháng chiến chống Mỹ ......................................................................... 9
2) Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam hiện nay ..................................................... 10
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………. 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………… 17
lOMoARcPSD| 61431571
NỘI DUNG
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1) Tổng quan học thuyết duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy vật lịch sử một thành phần bản của triết học Mác được
phổ biến rộng rãi hơn như là học thuyết triết học duy vật biện chứng của lĩnh
vực hội. dung hòa thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng đnghiên cứu sự vận
động và tiến bộ của loài người trong đời sống và lịch sử xã hội.
Ngược lại với các triết từng có, chủ nghĩa duy vật lịch sử giải thích những
biến chuyển trong hội loài người thông qua việc nâng cao các tiêu chuẩn
sản xuất, từ việc cải tiến công cụ lao động. Sự thay đổi về hiệu suất sản xuất
làm chuyển hóa quan hệ sản xuất, từ đó các quan hệ hội thích ứng với quan
hệ sản xuất và các tư tưởng nảy sinh từ các quan hệ xã hội đó cũng thay đổi.
Khi sở hạ tầng thay đổi, các kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên đó
cũng sẽ thay đổi. Các chuyển động kinh tế dẫn đến những thay đổi trong chính
trị. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác đã trở thành phương pháp luận của
nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như kinh tế, logic, lịch sử hội
học.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng sự vận động phát triển của xã hội
được quyết định bởi các hoạt động vật chất, các yếu tố vật chất các quan hệ
vật chất trong xã hội. Chính tồn tại xã hội quyết định xã hội, tức là ý thức xã
hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã các thông tin về phương thức sản xuất,
luận kinh tế - xã hội, cách mạng xã hội, nhà nước, vấn đề con người và ý thức.
Xã hội và sự tồn tại xã hội. Ni dung trung tâm đặc biệt là lý luận về các hình
thái kinh tế - xã hội..
2) Quan điểm của triết học duy vật lịch svề giai cấp đấu tranh giai
cấp
a) Khái niệm giai cấp
Trong lịch sử triết học trước Mác, vấn đề giai cấp đã nhiều lần được nêu ra,
đặc biệt trong các tác phẩm kinh điển của triết học sản. Tuy nhiên, do những
hạn chế về tư tưởng lịch sử đương thời, các triết gia sản thường cố tình
đề cập đến những chđnhạy cảm như quyền sở hữu liệu sản xuất, từ đó
cố tình làm mờ đi sự phân biệt giai cấp. và xung đột giai cấp nhằm bảo vệ và
hợp pháp hóa stồn tại và thống trị của những kẻ thống trị bóc lột. Họ định
nghĩa một cách đơn giản như sau: “Giai cấp một nhóm người cùng
vai trò xã hội, lối sống, mức sống, địa vị xã hội, uy tín,
lOMoARcPSD| 61431571
v.v.” Nói chung, định nghĩa như vậy mang tính chủ quan không thể hiện
một mục tiêu nào cả và tính chất cần thiết của khái niệm lớp.
Trái lại, Các Mác đã đi tìm cái cốt lõi của cấu hội, cấu giai cấp
kinh tế. Theo Mác, sự hình thành hội giai cấp là do sự phát triển của lịch
sử xã hội. Đặc trưng của quan hệ giai cấp là quan hệ giai cấp, trong đó có tập
đoàn người này bị bóc lột bởi tập đoàn người khác. Mác cho rằng chỉ thể
hiểu đúng nội hàm khái niệm giai cấp khi gắn với đời sống kinh tế, đời sống
sản xuất vật chất.
Kế thừa quan điểm tiến bộ và sáng tạo của Mác và Ăngghen, Lênin đã đưa
ra định nghĩa khái quát, khoa học nhất về giai cấp rằng giai cấp “là những tập
đoàn người to lớn, khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã
hội nhất định trong lịch sử, về quan hệ của họ đối với những liệu sản xuất
(thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận), về vai
trò của họ trong tổ chức lao động hội, do đó khác nhau về ch thức
hưởng thụ phần của cải hội ít hay nhiều họ được hưởng. Giai cấp
những tập đoàn người, mà một tập đoàn thể chiếm đoạt lao động của các
tập đoàn khác, do địa vị khác nhau của họ trong một chế độ kinh tế hội nhất
định”[2].
Tđịnh nghĩa trên, ta thể rút ra được các đặc trưng bản của giai cấp
như sau:
- Sự khác biệt vđịa vị (đặc điểm tổng thể) trong một hệ thống sản xuất xã hội cụ thể.
- Những khác biệt trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất (đặc điểm cơ bản)
-Có nhiều vai trò trong việc tổ chức và lãnh đạo công tác xã hội
- Sự khác biệt về loại mức thu nhập (những đặc điểm tất yếu nảy sinh từ ba đặc
điểm trên)
=> Đặc điểm quan trọng nhất: sự khác biệt về địa vị trong một hệ thống sản xuất
xã hội cụ thể. Bởi vì đây là tiêu chí khách quan để phân biệt cá nhân này với giai
cấp này hay giai cấp khác: chủ hay lệ (trong chế độ lệ), địa chủ hay nông
dân (trong chế độ phong kiến), giai cấp vô sản tư nhân hay giai cấp vô sản (trong
chủ nghĩa tư bản)
b) Nguồn gốc giai cấp
Giai cấp thực ra là một hiện tượng xã hội bắt đầu từ lâu trong lịch sử và gắn
liền với những điều kiện vật chất cụ thể của sản xuất trong xã hội.
lOMoARcPSD| 61431571
Các tác gia của các tác phẩm của chủ nghĩa Mác cho rằng “Sự tồn tại, xuất
hiện hay mất đi của các giai cấp chgắn với những giai đoạn phát triển lịch sử
nhất định của sản xuất.” Nguyên nhân sâu xa của sự ra đời giai cấp là do hiệu
suất hoạt động tăng lên, của cải vật chất trong hội xuất hiện phần dư, hệ quả
tập đoàn người này thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn người khác.
Bên cạnh đó, nguyên nhân trực tiếp của ra đời giai cấp là sự xuất hiện chế độ
hữu về liệu sản xuất. Chừng nào tư liệu sản xuất trọng yếu của cộng đồng
còn nằm trong tay một nhóm người hay còn nhân thì chừng đó giai cấp
không thể bị xóa bỏ.
Điều đó có nghĩa rằng trong một xã hội với nền sản xuất các đồ vật lạc hậu,
của cải vật chất hạn chế, lực lượng sản xuất chưa phát triển năng suất lao
động thấp kém như hội công sản nguyên thủy chắc chắn không thể tồn tại
phân hóa giai cấp. Đồng thời, trong hội nguyên thủy, mọi công cụ của
cải làm ra đều thuộc về cộng đồng, không xuất hiện hữu về tư liệu sản xuất
nên ắt giai cấp cũng không có điều kiện để sinh thành, phát triển.
Qua quá trình phát triển, các công cụ lao động được cải tiến năng suất
tăng lên rất nhiều, phân làm việc hội to đó được hình thành, xuất hiện của
cải dư thừa. Từ đây, hệ thống giai cấp được hình thành theo những con đường
phức tạp. Những người thực sự nắm quyền trong bộ lạc thị tộc lạm dụng quyền
của mình để chiếm thành của riêng từ đó các tầng lớp hội được tự do trao
đổi, bphân hóa thành các giai cấp khác nhau. Các cuộc chiến tranh, cướp bóc
trong hội chính là điều kiện góp phần đẩy nhanh quá trình này. Tù binh bị
bắt trong các cuộc chiến tranh bị sử dụng làm nô lệ để sản xuất.
Tđây, hội cộng sản nguyên thủy tan hội chiếm ra đời, trở
thành xã hội có phân hóa giai cấp đầu tiên trong lịch sử.
c) Kết cấu xã hội - giai cấp
cấu xã hội - Giai cấp được định nghĩa tổng thể các giai cấp mối quan
hệ giữa các giai cấp tồn tại trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.
Hai giai cấp bản nhất những cái xuất hiện trong bối cảnh các phương
thức sản xuất thống trị của hội. Sự xung đột giữa hai giai cấp này sẽ xuất
hiện như một mâu thuẫn cơ bản trong phương thức sản xuất.
Ngoài giai cấp sở, trong hội còn một tầng lớp không cơ sở, đặc biệt
trong các hội sở hữu lệ, những người thể trở thành nông dân nếu
đất đai khan hiếm. Trong hội phong kiến giai cấp lgiai cấp chủ
nô là tàn tích của xã hội cũ. Trong xã hội tư bản, giai cấp không cơ bản là địa
chủ và nông dân còn lại.
lOMoARcPSD| 61431571
Tầng lớp trung lưu (trí thức, học giả, tu sĩ, v.v.) không có địa vị kinh tế độc
lập, nhưng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của toàn hội đ
ứng phó với những hoàn cảnh thay đổi. Trong lịch sử, những lớp này rất hữu
ích cho lớp này hay lớp khác.
Những phân tích chi tiết trên về cơ cấu giai cấp và sự biến đổi giai cấp đã
phần nào giúp hiểu vị trí, vai trò, vị thế chính trị của mỗi giai cấp trong
các phong trào lịch sử, nhất là trong các cuộc đấu tranh hiện nay.
d) Đấu tranh giai cấp
Vmặt khái niệm, Theo V.I.Lênin, đấu tranh giai cấp đấu tranh của một
bộ phận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần
chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền đặc
lợi, bọn áp bức bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân
làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp
sản”.[3] Còn Các Mác lại khẳng định: “Lịch sử tất cả các hội tồn tại từ
trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”[4]
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong hội giai cấp, giai cấp thống trị
chiếm đoạt sức lao động của giai cấp, giai cấp bị trị. Bởi vì sự hình thành giai
cấp cũng là sự hình thành những lợi ích khác nhau. Lợi ích giai cấp không phải
do ý thức giai cấp quyết định mà được tạo ra một cách khách quan bởi vị thế
kinh tế - hội của giai cấp đó. Các giai cấp bóc lột luôn dùng mọi phương
tiện, phương pháp hữu hình hình để bảo vệ vị thế giai cấp của mình,
duy trì trật tự xã hội cho phép chúng bóc lột, bóc lột và thống trị các giai cấp
khác. Trong những trường hợp như vậy, lợi ích bản của giai cấp thống trị
sẽ xung đột với lợi ích bản của giai cấp thống trị. Theo quy luật thông
thường, ở đâu có áp bức, bóc lột thì ở đó vẫn có đấu tranh giai cấp chống áp
bức, bóc lột. Đây là nguyên nhân trực tiếp của đấu tranh giai cấp..
Tuy nhiên, đấu tranh giai cấp không phải là hiện tượng thường trực trong
lịch sử. Theo chủ nghĩa Mác, cuộc đấu tranh của giai cấp sản sẽ cuộc đấu
tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, sau khi
chế độ chuyên chính vô sản được thiết lập, giai cấp sản bắt đầu sự biến đổi
toàn diện xã hội cũ và tập trung tiêu diệt các lực lượng phản kháng.
B. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ ĐẤU TRANH GIAI
CẤP VÀO CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CỦA GIAI CẤP SẢN TẠI VIỆT
NAM
1) Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam gắn liền với tiến trình đấu tranh giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước
Xuyên suốt tiến trình hình thành, sự tiến bộ của tầng lớp công nhân tại Việt
Nam, phong trào cách mạng sản gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc.
Do diễn ra trong bối cảnh một bước nửa phong kiến, nửa thuộc địa, đấu
lOMoARcPSD| 61431571
tranh của giai cấp vô sản tại Việt Nam có cnhững nét chung cũng như những
đặc điểm khu biệt với phong trào cách mạng vô sản trên toàn thế giới.
a) Trong thời kì thuộc địa
Đầu thế kỷ 20, mầm mống của chủ nghĩa tư bản đã nảy mầm ở Việt Nam do
ảnh hưởng của sự bóc lột thuộc địa, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của tầng
lớp công nhân. Giai cấp công nhân khi đó sẽ đóng vai trò quyết định trong sự
phát triển của nước ta. cuộc cách mạng. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng
Mười Nga năm 1917 struyền rộng rãi của chủ nghĩa Mác - Lênin
Việt Nam, giai cấp ng nhân dần được bộc lộ. Với sự ra đời của Đại hội đỏ
Bắc Bộ (28/7/1929) Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), phong trào công
nhân chuyển ttự phát sang tự giác. Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam tiếp
tục trỗi dậy, phát triển về mọi mặt và viết nên trang sử vẻ vang. Chính từ đây,
giai cấp công nhân Việt Nam, thông qua đội tiên phong Đảng Cộng sản Việt
Nam, đã trở thành người lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Ngay sau khi Đảng
Cộng sản Việt Nam thành lập, một hình thức chính quyền mới lần đầu tiên ra
đời ở Việt Nam: chính phủ công nhận, chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Tnăm 1932 đến năm 1935, tầng lớp công nhân Việt Nam thực sđã bthực
dân Pháp đàn áp một cách man. Điều này dường như đã phá vỡ mối liên hệ
giữa đảng và quần chúng, giữa công đoàn đỏ phong trào lao động. Hơn nữa,
cuộc khủng hoảng kinh tế vẫn còn rất sâu và kéo dài, tình cảnh của người lao
động ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi của cán bộ,
đảng viên lòng nhiệt thành cách mạng của giai cấp công nhân, phong trào
cách mạng bắt đầu hồi phục trên khắp cả nước.
1936-1939 là thời kỳ của các phong trào cách mạng sôi động những thắng
lợi chưa từng có nhằm đòi tự do, dân chủ, lương thực, quần áo, hòa bình cho
giai cấp công nhân Việt Nam dưới ách thống trị của Pháp. Hàng trăm cuộc
đình công tổ chức đã giành thắng lợi, yêu cầu chính quyền thuộc địa phải
đáp ứng những nhu cầu thiết thực của người lao động, như lương cao hơn, giờ
làm việc ngắn hơn và các quyền tự do dân chủ khác.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, chính sách thuộc địa
của các nước đế quốc ngày càng nghiêm khắc, giai cấp công nhân Việt Nam
buộc phải thay đổi con đường tiến hành cách mạng. Tháng 5 năm 1941, Hội
nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thay đổi phương hướng chiến
lược, ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Mặt trận Việt Minh
được thành lập tổ chức quần chúng trở thành Hội cứu quốc. Sau tháng 5
năm 1945, phong trào công nhân chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh
vũ trang, khởi nghĩa cục bộ, thành lập chính quyền nhân dân cách mạng. Đến
ngày 2/9/1945, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, quyết đoán của Đảng do lãnh đạo
Nguyễn Ái Quốc vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân, nhân dân cả nước
đã vùng lên giành chính quyền, đoàn kết lại.
lOMoARcPSD| 61431571
b) Trong kháng chiến chống Pháp
Sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam chúng ta phải đối mặt với số khó
khăn, trong đó nạn đói, ngu dốt, nội xâm, ngoại xâm, phát triển kinh tế - xã
hội. Chính quyền non trẻ phải bảo vệ thành quả cách mạng. Trong thời kỳ này,
giai cấp này đã tham gia đấu tranh để giữ gìn các sở sản xuất của chính
quyền cách mạng, tham gia đình công, phá hoại các sở kinh tế lớn của thuộc
địa Pháp trong vùng.
Để thống nhất tổ chức trên toàn quốc, Hiệp hội Công nhân Cứu trợ Quốc gia
đã được đổi thành "công đoàn lao động" tại cuộc họp ngày 20 tháng 6 năm
1946. Tiếp theo quyết định của Hội nghị này, ngày 20/7/1946, Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam tuyên bố chính thức thành lập long trọng giới thiệu
trước đông đảo công nhân cả nước tại Nhà hát lớn Nội. Đây skiện
then chốt đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân và phong trào lao
động Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, giai cấp công nhân tiếp tục giữ vai trò
quan trọng trong cách mạng dân tộc, cạnh tranh sản xuất để cải thiện đời sống
cung cấp nhu yếu phẩm cho chiến tranh. những vùng bị địch chiếm đóng,
giai cấp công nhân tiếp tục thành lập phát triển các công đoàn, đẩy mạnh
đấu tranh kinh tế, chính trị, góp phần làm suy yếu địch.
Đặc biệt vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam đã vận động giai cấp công nhân cùng với giai cấp nông dân, xây
dựng liên minh công nông vững mạnh làm nòng cốt. Xây dựng và củng cố
chính quyền nhân dân. Đặc biệt, giai cấp vô sản Việt Nam đã góp phần tích
cực vào những chiến thắng nổi tiếng của Điện Biên Phủ trên năm châu làm
chấn động thế giới làm nên 9 năm kháng chiến oanh liệt chống thực dân
Pháp đầy hy sinh, gian khổ và anh hùng. lòng dũng cảm của người Việt.
c) Trong kháng chiến chống Mỹ
Bắt đầu từ năm 1954, sau khi Công ước Geneva được ký kết, Việt Nam tạm
thời bị chia cắt thành hai miền, mỗi miền hai nhiệm vụ riêng biệt. Miền Bắc
đã hoàn toàn giải phóng bắt đầu xây dựng chủ nghĩa hội, nhưng miền
Nam vẫn n dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ, nhiệm vụ giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước vẫn chưa hoàn thành.
miền Bắc, khó khăn tiếp tục đổ lên vai người lao động khi đất nước hồi
phục. Các nhóm công nhân quan quản lao động chịu trách nhiệm sở
hữu đất đai đã khuyến khích sản xuất, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí.
Điều này giúp hoạt động sản xuất của nhà máy có thể phục hồi trong thời gian
ngắn.
Ở miền Nam, phong trào lao động và công đoàn hoạt động trong điều kiện
hết sức khó khăn, đế quốc Mỹ và tay sai của Ngô Đình Diệm ra sức khủng
lOMoARcPSD| 61431571
bố, đàn áp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đình trệ, đời sống người lao
động trở nên khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng chỉ đạo các doanh nghiệp đô
thị, đồn điền bám đất, bám dân, phát triển lực lượng đấu tranh tìm mọi cách
tổ chức công nhân.
Qua những phân tích trên thể thấy, phong trào lao động, đấu tranh giai
cấp, giải phóng giai cấp Việt Nam mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong chiến tranh, mục tiêu
giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Cuộc cách mạng này được thực hiện
bởi một khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn, tập trung vào liên minh giữa giai
cấp công nhân và nông dân. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đánh dấu sự ra đời của chế độ chuyên chính vô sản đầu tiên ở Đông Nam Á
dành được sự thắng lợi của tầng lớp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng đi
đầu trong công tác sự nghiệp giải phóng dân tộc.
2) Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam hiện nay
Trong thời kỳ quá độ lên hội chủ nghĩa nước ta, đấu tranh giai cấp mang
tính tất yếu, mang những tính chất của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản sau
khi đã giành được chính quyền. Theo luận của Mác, trong thời này, giai
cấp sản đã chiến thắng về mặt chính trị nhưng lực lượng của giai cấp sản
vẫn chưa bị triệt tiêu, luôn tìm mọi cách giành lại địa vị mất. vậy, sứ
mệnh lịch sử của giai cấp sản phải tiếp tục đấu tranh để củng cố thắng
lợi, xây dựng xã hội mới
Trong thời buổi hiện nay, đấu tranh giai cấp ở nước ta đã có nhiều thay đổi
nhưng nhìn chung vẫn còn đang tiếp diễn, mang những nét đặc trưng của thời
đại toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xét bối cảnh hiện
thời, cuộc đấu tranh của giai cấp sản trên mặt trận chính trị nước ta đã
giành được thắng lợi. Tuy vậy, cuộc chiến vẫn diễn ra hết sức căm go trên các
mặt trận khác.
Cụ thể hơn, trong nền kinh tế, sự đấu tranh vẫn xảy ra trước hai luống quan
điểm là ưu tiên phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Trong tiến trình công
nghiệp hóa đất nước tại một nước đang phát triển như Việt Nam, các yếu tố
tiêu cực tác động đến môi trường không thể tránh khỏi. Trong khi đó, so với
thời điểm cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trong quá khứ, vấn đề môi
trường hiện nay lại những diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu. Sự mâu
thuẫn này, đòi hỏi Đảng và Nnước cần có những chính sách phù hợp để cân
đối được cả hai mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, do trong nền kinh tế vẫn còn tồn tại tư hữu, tồn tại nền kinh tế
nhân nên mâu thuẫn giữa chủ sdụng lao động và người lao động không
thể tránh khỏi. Kết quả là có các cuộc ngừng việc tập thể đã diễn ra cục bộ, rải
rác trên phạm vi cả nước trong xuất thời gian qua. Điều này đòi hỏi giai cấp
công nhân cần phát huy hiệu quả hơn vai trò lãnh đạo của mình, thúc đẩy sự
lOMoARcPSD| 61431571
hoạt động tích cực của Công Đoàn đđiều hòa mâu thuẫn, bảo vệ lợi ích chính
đáng của người lao động.
Bên cạnh đó, do tính chất đa dạng thành phần của nền kinh tế nên smâu
thuẫn giữa các thành phần kinh tế không thể tránh khỏi, tiêu biểu nhất
mâu thuẫn giữa thành phần kinh tế nhân kinh tế Nhà nước. Trong khi nền
kinh tế nhân mang tính chất năng động, góp phần lớn vào ngân sách n
nước thì nền kinh tế nhà nước vẫn còn chưa được cải tiến toàn diện, năng suất
lao động chưa cao. Tuy vậy, trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa, thành phần Nnước vẫn cần giữ vững vai trò lãnh đạo, chủ
đạo trong nền kinh tế, nhằm hạn chế tối đa tình trạng bóc lột, độc quyền, thâu
tóm nền kinh tế của chủ sở hữu bản và đảm bảo được những lợi ích cơ bản,
chính đáng cho người dân. Để giải quyết mâu thuẫn này và bảo vệ được thành
quả của cách mạng vô sản, Đảng cộng sản Việt Nam cần giữ vững vai trò lãnh
đạo của mình trong nền kinh tế, tiếp tục hoàn thiện các chính sách thu hút nhân
tài tham gia vào khối Nhà nước, tối ưu hóa năng suất lao động và tạo ra hành
lang pháp phù hợp để kinh tế phát triển nhưng vẫn đảm bảo vai trò trung tâm
của kinh tế nhà nước.
Tuy nhiên, đấu tranh giai cấp trong kinh tế một yếu tố quan trọng chứ
không phải động lực duy nhất trong giai đoạn này để thúc đẩy phát triển
kinh tế. Ngoài đấu tranh giai cấp ra, các động lực khác như đấu tranh trên mặt
trận đạo đức, tưởng, văn hóa…. cũng đóng vai trò quan trọng không kém.
Chính vì vậy, không nên có tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp.
Kế tiếp, mặc đấu tranh chính trị đã tạm kết thúc trong bối cảnh nước ta
hiện nay nhưng trên mặt trận tưởng, cuộc đấu tranh của giai cấp sản
cũng đang diễn ra âm thầm mà quyết liệt, cam go, phức tạp và ngay càng trở
nên khó lường bởi sự phát triển của công nghệ thông tin.
Đầu tiên, cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra ngay trong mỗi con người, nhất là
ở đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái xấu và
cái ác, giữa lòng chính trực chủ nghĩa hội, giữa lương tâm lòng
tham,… Sự mâu thuẫn giữa các thái cực này cùng quyết liệt, quyết định
xem tình trạng tha hóa, biến chất, suy đồi đạo đức diễn ra trong hàng ngũ
cán bộ hay không.
Thứ hai, đấu tranh tưởng còn diễn ra trong nội bộ các quan, tổ chức
chính quyền. Ở cấp độ đấu tranh này, nhiệm vụ của Đảng và giai cấp sản
ngăn chặn sự tự phát triển và tự thay đổi. Nói cách khác, điều này nhằm ngăn
chặn sự suy thoái từ bên trong. Ngăn chặn tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên chuyển biến tiêu cực, mất dần chuẩn mực cộng
sản, đi chệch khỏi nguyên tắc, giá trị. các vấn đề của chủ nghĩa Mác. Mất niềm
tin nghiêm trọng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vào
đường lối, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quá trình
này sẽ dẫn đến tình trạng những đảng viên Cộng sản chân chính bị suy thoái
lOMoARcPSD| 61431571
thành những phần tử chống Đảng, nhà nước cách mạng. cấp độ vi mô,
việc tự phát triển và tự chuyển hóa dẫn đến sự bất hòa trong nội bộ thể chế, tổ
chức. Một bộ phận trí thức đã rời bỏ ban lãnh đạo đảng. Nếu không được ngăn
chặn kịp thời triệt để có thể dẫn đến suy thoái tổ chức tự hủy hoại. Tệ
hơn nữa, nếu tình trạng này xảy ra cấp độ vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển đổi t
hệ thống xã hội chủ nghĩa sang hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Cuối cùng, trên lĩnh vực tư tưởng, Đảng, dân tộc ta đấu tranh chống những
luận điệu vu khống, xuyên tạc, chủ yếu của các phần tử phản bội nước ngoài,
nhằm làm suy yếu các phái, khối đoàn kết lớn của dân tộc, thúc đẩy phát
triển hòa bình lật đổ. tìm kiếm một âm mưu gây ra nó. Dẫn dắt tbên trong.
Nhờ sự hỗ trợ của phương tiện công nghệ, các thế lực thù địch đã góp phần
phổ biến những quan điểm, thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách,
pháp luật của Đảng. Vu khống, bịa đặt, vu khống hình ảnh lãnh đạo cấp cao
nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu lòng tin của nhân
dân đối với Đảng, nhà nước. Mục đích chính của các thế lực này là bóp méo,
phủ nhận chủ nghĩa Mác thay thế bằng hệ tưởng sản. Khuyến khích
âm mưu thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị. phá hoại sự đồng thuận
hội gây mất ổn định chính trị. Thống trị và kiểm soát nền kinh tế của các
nước hội chủ nghĩa. Chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống hội chủ nghĩa
phù hợp với giá trị Mỹ và phương Tây. Thực hiện kế hoạch hiệu hóa lực
lượng trang các nước hội chủ nghĩa.;... Nhìn chung, các hình thức chống
phá nói trên không mới nhưng đang ngày càng phát triển theo hướng phức tạp
hơn. Hiện tượng diễn biến hóa bình đã góp phần thúc đẩy sự tan của hệ
thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào thế kỉ 20, từ đó đặt ra cho phong trào
sản thế kỉ 21 một sứ mệnh phải bảo vệ được chủ quyền trên không gian
mạng, bảo vệ thành quả cách mạng ngay trên mặt trận tư tưởng, triệt tiêu các
mầm mống phản động ngay từ trong trứng nước để chúng không diễn biến
thành sự chống đối, sụp đổi ngay từ bên trong.
Nhìn chung, mặt trận đấu tranh tưởng của giai cấp sản Việt Nam thời
đại mới không tiếng súng nhưng lại diễn biến hết sức gay go và khó lường,
đòi hỏi hàng ngũ lãnh đạo cách mạng phải không ngừng hoàn thiện, truyền bá
đường lối tưởng cách mạng, nhằm bảo vệ vững chắc thành trì cách mạng
sản, thành công hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước tiến lên hội chủ
nghĩa.
Ngoài ba mặt trận chính là chính trị, kinh tế tư tưởng, đấu tranh giai cấp
nước ta hiện nay còn một lĩnh vực phức hợp, lan tỏa đến mọi khía cạnh
của đời sống. Cỏ thể điểm qua một vài mặt trận khác để thấy được tính phức
hợp của cuộc đấu tranh ấy như sau:
Về đối ngoại:Ở Việt Nam, nhờ quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, quan
hệ dân tộc xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt của đời
sống kinh tế - xã hội của đất nước. Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam kiên trì ch
lOMoARcPSD| 61431571
trương xây dựng quan hệ hữu nghị với các nước, các dân tộc trên thế giới dựa
trên tinh thần đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đồng thời bảo đảm
giữ vững độc lập, chủ quyền của mình. Quyền dân tộc dựa trên tinh thần độc
lập, tự chủ của dân tộc. Việt Nam cam kết không tham gia các tchức quân
sự, liên minh quân sự. Tôn trọng hòa bình và hợp tác với tất cả các nước trên
thế giới.
Về quốc phòng an ninh: Mục đích của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
ngăn chặn, ngăn chặn mọi âm mưu, âm mưu, hành động xâm phạm độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, biển, đảo của Tổ quốc.
Ngăn chặn xung đột trang tấn công mạng và tránh mọi nguy chiến
tranh. Ngăn chặn các mối đe dọa an ninh truyền thống phi truyền thống,
kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thụ động hoặc bất
ngờ, bảo vệ Đảng, nhà nước, nhân dân hệ thống hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích quốc gia.
Về thông tin – truyền thông: Đảng và Nhà nước cần khai thác triệt để mạng
internet, các phương tiện truyền thông, công nghệ tin học để chuyển tải cho
người dân cách nhận diện đấu tranh trước các quan điểm sai trái, các ấn
phẩm văn hoá độc hại.
Về văn hóa: Cần ngăn chặn hiện tượng lan tỏa, tôn sùng thái quá các hệ giá
trị phương Tây trong một bộ phận dân chúng, đặc biệt là ở đối tượng giới trẻ.
Cần đấu tranh quyết liệt với sự xâm lăng văn hóa, sự quay lại phê phán lịch sử
các giá trị truyền thống, stuyên truyền cực đoan chủ nghĩa nhân, chủ
nghĩa tiêu thụ dẫn tới sự sụp đổ cấu trúc xã hội, đánh mất hứng thú lao động,
học tập và cống hiến ở một bộ phận giới trẻ.
Về vấn đề dân tộc: Nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy
bình đặng giữa các dân tộc, đề cao lợi ích dân tộc cần được Đảng Nhà nước
đặt lên hàng đầu, đặc biệt chú ý phản biện và ngăn chặn luận điệu vu cáo Việt
Nam vi phạm dân chủ nhân quyền, phân biệt đối xử kì thị người dân tộc
thiểu số. Ngoài ra, vấn đề xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí các đối tượng
đồng bào thiểu số, khu vực kinh tế chậm phát triển cũng cần được quan tâm
và đề cao.
Về vấn đề tôn giáo: Xét thực trạng một số ít quan chức cấp cao, thành viên
của một số tôn giáo nhiều tham vọng chính trị, chịu sự tác động tuyên
truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực, đảng phái, nhà nước thù địch trong
ngoài nước, chủ yếu giai cấp vô sản, đlàm được điều này phù hợp.
phải chính sách và biện pháp quản lý. Đảng và Nhà nước phải kiên trì chính
sách nhất quán tôn trọng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
người dân.
lOMoARcPSD| 61431571
KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên, có thể thấy học thuyết duy vật lịch sử đã đưa ra nội
dung tương đối toàn diện, đầy đủ về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, có
ý nghĩa luận sâu sắc, kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam tkhi giai
cấp công nhân được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho
đến nay.
Cách mạng sản tại Việt Nam trong quá khứ mang đặc trưng của cuộc cách
mạng sản diễn ra trong bối cảnh thuộc địa, gắn liền đấu tranh giải phóng
giai cấp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Dưới ngọn cờ lãnh đạo
của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân, liên minh công nông Việt Nam đã
giành được chính quyền từ tay phong kiến thực dân, lãnh đạo toàn thể nhân
dân làm nên những chiến thắng vang dội, hoàn thành mục tiêu giải phóng
thống nhất đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù tương quan lực lượng nghiêng về hướng
lợi cho giai cấp sản nhưng chúng ta cũng không thể là trước âm mưu của
các thế lực thù địch những mâu thuẫn nội tại ngay trong nội bộ quốc gia.
Dù hệ thống tư bản chủ nghĩa đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng vẫn không
thể triệt tiêu bản chất bóc lột, và tính đối kháng với giai cấp sản, luôn nhăm
nhe phá hoại thành quả của cách mạng tại nước ta.
Chính vậy, cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên hội chủ
nghĩa hiện nay vẫn sẽ diễn ra âm thầm nhưng hết sức phức tạp, quyết liệt
và căm go. Để giành được chiến thắng sau cùng trong cuộc chiến ấy, giai cấp
sản Việt Nam dưới sự tiên phong lãnh đạo của Đảng Cộng sản cần tăng
cường vai trò luận, thấm nhuần vận dụng linh hoạt quan điểm của chủ
nghĩa Mác về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Điều này có ý nghĩa quan
trọng đối với thắng lợi sau cùng của cách mạng sản, thành công đưa đất
nước tiến lên xã hội chủ nghĩa trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GIÁO TRÌNH:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình những nguyên bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2018.
WEBSITES:
lOMoARcPSD| 61431571
1. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-
cacluan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-
tiet//asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/ cong-tac-doi-ngoai-trong-
dau-tranh-phong-ngua-cac-hoat-dong-loi-dung-quanhe-dan-toc-xuyen-
bien-gioi-chong-pha-viet-nam-hien-nay 30/01/2022
2. http://m.tapchiqptd.vn/vi/bao-ve-to-quoc/mot-so-van-de-ve-dau-
tranhquoc-phong-trong-tinh-hinh-moi-16793.html 03/03/2021
3. https://truongchinhtri.edu.vn/home/dau-tranh-bao-ve-nen-tang-tu-
tuongcua-dang/nhan-thuc-dung-ve-dau-tranh-giai-cap-o-viet-nam-hien-
nay-1088.html 24/02/2021
4. https://moha.gov.vn/nghi-quyet-tw4/gioi-thieu-nqtw4/tu-dien-bien-
tuchuyen-hoa-khai-niem-bieu-hien-va-nguyen-nhan-40197.html
23/12/2018
5. https://dbnd.quangngai.gov.vn/mnews.aspx?id=2358
6. http://congdoanquangnam.org.vn/Default.aspx?
tabid=656&Group=11&NID=5&tom-tat-qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-
triencua-giai-cap-cong-nhan-va-to-chuc-cong-doan-viet-nam-phan-
1&language=enUS

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61431571
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE ***** TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC – LENIN
Quan điểm của chủ nghĩa Mác về giai cấp – đấu tranh giai cấp và sự vận
dụng quan điểm ấy vào phân tích quá trình đấu tranh giai cấp ở Việt Nam
Sinh viên: Nguyễn Hữu Trung Mã sinh viên: 11231942
Lớp: Thương mại điện tử CLC 65B
Giảng viên hướng dẫn: T.S Lê Ngọc Thông HÀ NỘI – 2023 lOMoAR cPSD| 61431571 MỞ ĐẦU
Từ buổi bình minh của lịch sử nhân loại, triết học là một trong những môn khoa
học đầu tiên và là nền tảng quan trọng cho các khoa học đương đại. Lịch sử phát
triển của triết học phong phú và đa dạng từ cổ đại đến hiện đại, từ Đông sang Tây,
trong đó không thể kể đến triết học Mác với chủ nghĩa duy vật lịch sử đã áp dụng
thành công phép biện chứng duy vật vào trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, xã
hội; từ đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các quốc gia đang trên
con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam, với tư cách là một nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Triết học duy vật lịch sử, với những nội
dung đầy tính thực tiễn mà nó cung cấp, đã cung cấp cơ sở lý luận quan trọng cho
hầu hết các hoạt động, chính sách của nhà nước. Trong đó, nội dung liên quan
đến giai cấp có thể coi là đơn vị kiến thức cốt yếu, giàu tính thời sự, vẫn còn
nguyên giá trị ngay trong thời buổi hôm nay.
Dựa trên tinh thần đó, em đã viết bài tiểu luận mang tên: “Quan điểm của chủ
nghĩa Mác về giai cấp – đấu tranh giai cấp và sự vận dụng quan điểm ấy vào
phân tích quá trình đấu tranh giai cấp ở Việt Nam”.
Trong quá trình làm bài,
do sự hạn chế về mặt kỹ năng và kiến thức nên sự sai sót là không thể tránh khỏi.
Kính mong các thầy sẽ góp ý để bài làm của em trở nên hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! lOMoAR cPSD| 61431571 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 2
NỘI DUNG ............................................................................................................ 4
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ....................................................................................... 4
1) Tổng quan học thuyết duy vật lịch sử ............................................................. 4
2) Quan điểm của triết học duy vật lịch sử về giai cấp và đấu tranh giai cấp .... 4
a) Khái niệm giai cấp .......................................................................................... 4
b) Nguồn gốc giai cấp ......................................................................................... 5
c) Kết cấu xã hội - giai cấp ................................................................................. 6
d) Đấu tranh giai cấp ........................................................................................... 7
B. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP
VÀO CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN TẠI VIỆT NAM ... 7
1) Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam gắn liền với tiến trình đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước ................................................................................. 7
a) Trong thời kì thuộc địa .................................................................................... 8
b) Trong kháng chiến chống Pháp…………………………………………… 10
............................................................................................................................... 9
c) Trong kháng chiến chống Mỹ ......................................................................... 9
2) Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam hiện nay ..................................................... 10
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………. 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………… 17 lOMoAR cPSD| 61431571 NỘI DUNG
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1)
Tổng quan học thuyết duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một thành phần cơ bản của triết học Mác và được
phổ biến rộng rãi hơn như là học thuyết triết học duy vật biện chứng của lĩnh
vực xã hội. Nó dung hòa thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiên cứu sự vận
động và tiến bộ của loài người trong đời sống và lịch sử xã hội.
Ngược lại với các triết lý từng có, chủ nghĩa duy vật lịch sử giải thích những
biến chuyển trong xã hội loài người thông qua việc nâng cao các tiêu chuẩn
sản xuất, từ việc cải tiến công cụ lao động. Sự thay đổi về hiệu suất sản xuất
làm chuyển hóa quan hệ sản xuất, từ đó các quan hệ xã hội thích ứng với quan
hệ sản xuất và các tư tưởng nảy sinh từ các quan hệ xã hội đó cũng thay đổi.
Khi cơ sở hạ tầng thay đổi, các kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên đó
cũng sẽ thay đổi. Các chuyển động kinh tế dẫn đến những thay đổi trong chính
trị. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác đã trở thành phương pháp luận của
nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như kinh tế, logic, lịch sử và xã hội học.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng sự vận động và phát triển của xã hội
được quyết định bởi các hoạt động vật chất, các yếu tố vật chất và các quan hệ
vật chất trong xã hội. Chính tồn tại xã hội quyết định xã hội, tức là ý thức xã hội.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã có các thông tin về phương thức sản xuất, lý
luận kinh tế - xã hội, cách mạng xã hội, nhà nước, vấn đề con người và ý thức.
Xã hội và sự tồn tại xã hội. Nội dung trung tâm đặc biệt là lý luận về các hình thái kinh tế - xã hội..
2) Quan điểm của triết học duy vật lịch sử về giai cấp và đấu tranh giai cấp a)
Khái niệm giai cấp
Trong lịch sử triết học trước Mác, vấn đề giai cấp đã nhiều lần được nêu ra,
đặc biệt trong các tác phẩm kinh điển của triết học tư sản. Tuy nhiên, do những
hạn chế về tư tưởng và lịch sử đương thời, các triết gia tư sản thường cố tình
đề cập đến những chủ đề nhạy cảm như quyền sở hữu tư liệu sản xuất, từ đó
cố tình làm mờ đi sự phân biệt giai cấp. và xung đột giai cấp nhằm bảo vệ và
hợp pháp hóa sự tồn tại và thống trị của những kẻ thống trị và bóc lột. Họ định
nghĩa nó một cách đơn giản như sau: “Giai cấp là một nhóm người có cùng
vai trò xã hội, lối sống, mức sống, địa vị xã hội, uy tín, lOMoAR cPSD| 61431571
v.v.” Nói chung, định nghĩa như vậy mang tính chủ quan và không thể hiện
một mục tiêu nào cả và tính chất cần thiết của khái niệm lớp.
Trái lại, Các Mác đã đi tìm cái cốt lõi của cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp là
kinh tế. Theo Mác, sự hình thành xã hội có giai cấp là do sự phát triển của lịch
sử xã hội. Đặc trưng của quan hệ giai cấp là quan hệ giai cấp, trong đó có tập
đoàn người này bị bóc lột bởi tập đoàn người khác. Mác cho rằng chỉ có thể
hiểu đúng nội hàm khái niệm giai cấp khi gắn nó với đời sống kinh tế, đời sống sản xuất vật chất.
Kế thừa quan điểm tiến bộ và sáng tạo của Mác và Ăngghen, Lênin đã đưa
ra định nghĩa khái quát, khoa học nhất về giai cấp rằng giai cấp “là những tập
đoàn người to lớn, khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã
hội nhất định trong lịch sử, về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất
(thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận), về vai
trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và do đó khác nhau về cách thức
hưởng thụ phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là
những tập đoàn người, mà một tập đoàn có thể chiếm đoạt lao động của các
tập đoàn khác, do địa vị khác nhau của họ trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”[2]
.
Từ định nghĩa trên, ta có thể rút ra được các đặc trưng cơ bản của giai cấp như sau:
- Sự khác biệt về địa vị (đặc điểm tổng thể) trong một hệ thống sản xuất xã hội cụ thể.
- Những khác biệt trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất (đặc điểm cơ bản)
-Có nhiều vai trò trong việc tổ chức và lãnh đạo công tác xã hội
- Sự khác biệt về loại và mức thu nhập (những đặc điểm tất yếu nảy sinh từ ba đặc điểm trên)
=> Đặc điểm quan trọng nhất: sự khác biệt về địa vị trong một hệ thống sản xuất
xã hội cụ thể. Bởi vì đây là tiêu chí khách quan để phân biệt cá nhân này với giai
cấp này hay giai cấp khác: chủ nô hay nô lệ (trong chế độ nô lệ), địa chủ hay nông
dân (trong chế độ phong kiến), giai cấp vô sản tư nhân hay giai cấp vô sản (trong chủ nghĩa tư bản)
b) Nguồn gốc giai cấp
Giai cấp thực ra là một hiện tượng xã hội bắt đầu từ lâu trong lịch sử và gắn
liền với những điều kiện vật chất cụ thể của sản xuất trong xã hội. lOMoAR cPSD| 61431571
Các tác gia của các tác phẩm của chủ nghĩa Mác cho rằng “Sự tồn tại, xuất
hiện hay mất đi của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử
nhất định của sản xuất.” Nguyên nhân sâu xa của sự ra đời giai cấp là do hiệu
suất hoạt động tăng lên, của cải vật chất trong xã hội xuất hiện phần dư, hệ quả
là tập đoàn người này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn người khác.
Bên cạnh đó, nguyên nhân trực tiếp của ra đời giai cấp là sự xuất hiện chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất. Chừng nào tư liệu sản xuất trọng yếu của cộng đồng
còn nằm trong tay một nhóm người hay còn cá nhân thì chừng đó giai cấp không thể bị xóa bỏ.
Điều đó có nghĩa rằng trong một xã hội với nền sản xuất các đồ vật lạc hậu,
của cải vật chất hạn chế, lực lượng sản xuất chưa phát triển và năng suất lao
động thấp kém như xã hội công sản nguyên thủy chắc chắn không thể tồn tại
phân hóa giai cấp. Đồng thời, trong xã hội nguyên thủy, mọi công cụ và của
cải làm ra đều thuộc về cộng đồng, không xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuất
nên ắt giai cấp cũng không có điều kiện để sinh thành, phát triển.
Qua quá trình phát triển, các công cụ lao động được cải tiến và năng suất
tăng lên rất nhiều, phân làm việc xã hội to đó được hình thành, xuất hiện của
cải dư thừa. Từ đây, hệ thống giai cấp được hình thành theo những con đường
phức tạp. Những người thực sự nắm quyền trong bộ lạc thị tộc lạm dụng quyền
của mình để chiếm thành của riêng từ đó các tầng lớp xã hội được tự do trao
đổi, bị phân hóa thành các giai cấp khác nhau. Các cuộc chiến tranh, cướp bóc
trong xã hội chính là điều kiện góp phần đẩy nhanh quá trình này. Tù binh bị
bắt trong các cuộc chiến tranh bị sử dụng làm nô lệ để sản xuất.
Từ đây, xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã và xã hội chiếm nô ra đời, trở
thành xã hội có phân hóa giai cấp đầu tiên trong lịch sử. c)
Kết cấu xã hội - giai cấp
Cơ cấu xã hội - Giai cấp được định nghĩa là tổng thể các giai cấp và mối quan
hệ giữa các giai cấp tồn tại trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.
Hai giai cấp cơ bản nhất là những cái xuất hiện trong bối cảnh các phương
thức sản xuất thống trị của xã hội. Sự xung đột giữa hai giai cấp này sẽ xuất
hiện như một mâu thuẫn cơ bản trong phương thức sản xuất.
Ngoài giai cấp cơ sở, trong xã hội còn có một tầng lớp không cơ sở, đặc biệt
là trong các xã hội sở hữu nô lệ, những người có thể trở thành nông dân nếu
đất đai khan hiếm. Trong xã hội phong kiến có giai cấp nô lệ và giai cấp chủ
nô là tàn tích của xã hội cũ. Trong xã hội tư bản, giai cấp không cơ bản là địa
chủ và nông dân còn lại. lOMoAR cPSD| 61431571
Tầng lớp trung lưu (trí thức, học giả, tu sĩ, v.v.) không có địa vị kinh tế độc
lập, nhưng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của toàn xã hội và để
ứng phó với những hoàn cảnh thay đổi. Trong lịch sử, những lớp này rất hữu
ích cho lớp này hay lớp khác.
Những phân tích chi tiết trên về cơ cấu giai cấp và sự biến đổi giai cấp đã
phần nào giúp hiểu rõ vị trí, vai trò, vị thế chính trị của mỗi giai cấp trong
các phong trào lịch sử, nhất là trong các cuộc đấu tranh hiện nay.
d) Đấu tranh giai cấp
Về mặt khái niệm, Theo V.I.Lênin, đấu tranh giai cấp là “đấu tranh của một
bộ phận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần
chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền đặc
lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân
làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư
sản”.
[3] Còn Các Mác lại khẳng định: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ
trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”
[4]
Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị
chiếm đoạt sức lao động của giai cấp, giai cấp bị trị. Bởi vì sự hình thành giai
cấp cũng là sự hình thành những lợi ích khác nhau. Lợi ích giai cấp không phải
do ý thức giai cấp quyết định mà được tạo ra một cách khách quan bởi vị thế
kinh tế - xã hội của giai cấp đó. Các giai cấp bóc lột luôn dùng mọi phương
tiện, phương pháp hữu hình và vô hình để bảo vệ vị thế giai cấp của mình,
duy trì trật tự xã hội cho phép chúng bóc lột, bóc lột và thống trị các giai cấp
khác. Trong những trường hợp như vậy, lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị
sẽ xung đột với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị. Theo quy luật thông
thường, ở đâu có áp bức, bóc lột thì ở đó vẫn có đấu tranh giai cấp chống áp
bức, bóc lột. Đây là nguyên nhân trực tiếp của đấu tranh giai cấp..
Tuy nhiên, đấu tranh giai cấp không phải là hiện tượng thường trực trong
lịch sử. Theo chủ nghĩa Mác, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản sẽ là cuộc đấu
tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, sau khi
chế độ chuyên chính vô sản được thiết lập, giai cấp vô sản bắt đầu sự biến đổi
toàn diện xã hội cũ và tập trung tiêu diệt các lực lượng phản kháng.
B. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ ĐẤU TRANH GIAI
CẤP VÀO CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN TẠI VIỆT NAM
1) Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam gắn liền với tiến trình đấu tranh giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước
Xuyên suốt tiến trình hình thành, sự tiến bộ của tầng lớp công nhân tại Việt
Nam, phong trào cách mạng vô sản gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc.
Do diễn ra trong bối cảnh là một bước nửa phong kiến, nửa thuộc địa, đấu lOMoAR cPSD| 61431571
tranh của giai cấp vô sản tại Việt Nam có cả những nét chung cũng như những
đặc điểm khu biệt với phong trào cách mạng vô sản trên toàn thế giới.
a) Trong thời kì thuộc địa
Đầu thế kỷ 20, mầm mống của chủ nghĩa tư bản đã nảy mầm ở Việt Nam do
ảnh hưởng của sự bóc lột thuộc địa, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của tầng
lớp công nhân. Giai cấp công nhân khi đó sẽ đóng vai trò quyết định trong sự
phát triển của nước ta. cuộc cách mạng. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng
Mười Nga năm 1917 và sự truyền bá rộng rãi của chủ nghĩa Mác - Lênin ở
Việt Nam, giai cấp công nhân dần được bộc lộ. Với sự ra đời của Đại hội đỏ
Bắc Bộ (28/7/1929) và Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930), phong trào công
nhân chuyển từ tự phát sang tự giác. Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam tiếp
tục trỗi dậy, phát triển về mọi mặt và viết nên trang sử vẻ vang. Chính từ đây,
giai cấp công nhân Việt Nam, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt
Nam, đã trở thành người lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Ngay sau khi Đảng
Cộng sản Việt Nam thành lập, một hình thức chính quyền mới lần đầu tiên ra
đời ở Việt Nam: chính phủ công nhận, chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Từ năm 1932 đến năm 1935, tầng lớp công nhân Việt Nam thực sự đã bị thực
dân Pháp đàn áp một cách dã man. Điều này dường như đã phá vỡ mối liên hệ
giữa đảng và quần chúng, giữa công đoàn đỏ và phong trào lao động. Hơn nữa,
cuộc khủng hoảng kinh tế vẫn còn rất sâu và kéo dài, tình cảnh của người lao
động ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi của cán bộ,
đảng viên và lòng nhiệt thành cách mạng của giai cấp công nhân, phong trào
cách mạng bắt đầu hồi phục trên khắp cả nước.
1936-1939 là thời kỳ của các phong trào cách mạng sôi động và những thắng
lợi chưa từng có nhằm đòi tự do, dân chủ, lương thực, quần áo, hòa bình cho
giai cấp công nhân Việt Nam dưới ách thống trị của Pháp. Hàng trăm cuộc
đình công có tổ chức đã giành thắng lợi, yêu cầu chính quyền thuộc địa phải
đáp ứng những nhu cầu thiết thực của người lao động, như lương cao hơn, giờ
làm việc ngắn hơn và các quyền tự do dân chủ khác.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, chính sách thuộc địa
của các nước đế quốc ngày càng nghiêm khắc, giai cấp công nhân Việt Nam
buộc phải thay đổi con đường tiến hành cách mạng. Tháng 5 năm 1941, Hội
nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thay đổi phương hướng chiến
lược, ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Mặt trận Việt Minh
được thành lập và tổ chức quần chúng trở thành Hội cứu quốc. Sau tháng 5
năm 1945, phong trào công nhân chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh
vũ trang, khởi nghĩa cục bộ, thành lập chính quyền nhân dân cách mạng. Đến
ngày 2/9/1945, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, quyết đoán của Đảng do lãnh đạo
Nguyễn Ái Quốc và vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân, nhân dân cả nước
đã vùng lên giành chính quyền, đoàn kết lại. lOMoAR cPSD| 61431571
b) Trong kháng chiến chống Pháp
Sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam chúng ta phải đối mặt với vô số khó
khăn, trong đó có nạn đói, ngu dốt, nội xâm, ngoại xâm, phát triển kinh tế - xã
hội. Chính quyền non trẻ phải bảo vệ thành quả cách mạng. Trong thời kỳ này,
giai cấp này đã tham gia đấu tranh để giữ gìn các cơ sở sản xuất của chính
quyền cách mạng, tham gia đình công, phá hoại các cơ sở kinh tế lớn của thuộc địa Pháp trong vùng.
Để thống nhất tổ chức trên toàn quốc, Hiệp hội Công nhân Cứu trợ Quốc gia
đã được đổi thành "công đoàn lao động" tại cuộc họp ngày 20 tháng 6 năm
1946. Tiếp theo quyết định của Hội nghị này, ngày 20/7/1946, Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam tuyên bố chính thức thành lập và long trọng giới thiệu
trước đông đảo công nhân cả nước tại Nhà hát lớn ở Hà Nội. Đây là sự kiện
then chốt đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân và phong trào lao động Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, giai cấp công nhân tiếp tục giữ vai trò
quan trọng trong cách mạng dân tộc, cạnh tranh sản xuất để cải thiện đời sống
và cung cấp nhu yếu phẩm cho chiến tranh. Ở những vùng bị địch chiếm đóng,
giai cấp công nhân tiếp tục thành lập và phát triển các công đoàn, đẩy mạnh
đấu tranh kinh tế, chính trị, góp phần làm suy yếu địch.
Đặc biệt vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam đã vận động giai cấp công nhân cùng với giai cấp nông dân, xây
dựng liên minh công nông vững mạnh làm nòng cốt. Xây dựng và củng cố
chính quyền nhân dân. Đặc biệt, giai cấp vô sản Việt Nam đã góp phần tích
cực vào những chiến thắng nổi tiếng của Điện Biên Phủ trên năm châu làm
chấn động thế giới và làm nên 9 năm kháng chiến oanh liệt chống thực dân
Pháp đầy hy sinh, gian khổ và anh hùng. lòng dũng cảm của người Việt. c)
Trong kháng chiến chống Mỹ
Bắt đầu từ năm 1954, sau khi Công ước Geneva được ký kết, Việt Nam tạm
thời bị chia cắt thành hai miền, mỗi miền có hai nhiệm vụ riêng biệt. Miền Bắc
đã hoàn toàn giải phóng và bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng miền
Nam vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ, nhiệm vụ giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước vẫn chưa hoàn thành.
Ở miền Bắc, khó khăn tiếp tục đổ lên vai người lao động khi đất nước hồi
phục. Các nhóm công nhân và cơ quan quản lý lao động chịu trách nhiệm sở
hữu đất đai đã khuyến khích sản xuất, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí.
Điều này giúp hoạt động sản xuất của nhà máy có thể phục hồi trong thời gian ngắn.
Ở miền Nam, phong trào lao động và công đoàn hoạt động trong điều kiện
hết sức khó khăn, đế quốc Mỹ và tay sai của Ngô Đình Diệm ra sức khủng lOMoAR cPSD| 61431571
bố, đàn áp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đình trệ, đời sống người lao
động trở nên khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng chỉ đạo các doanh nghiệp đô
thị, đồn điền bám đất, bám dân, phát triển lực lượng đấu tranh và tìm mọi cách tổ chức công nhân.
Qua những phân tích trên có thể thấy, phong trào lao động, đấu tranh giai
cấp, giải phóng giai cấp ở Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong chiến tranh, mục tiêu
giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Cuộc cách mạng này được thực hiện
bởi một khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn, tập trung vào liên minh giữa giai
cấp công nhân và nông dân. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đánh dấu sự ra đời của chế độ chuyên chính vô sản đầu tiên ở Đông Nam Á và
dành được sự thắng lợi của tầng lớp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng đi
đầu trong công tác sự nghiệp giải phóng dân tộc. 2)
Đấu tranh giai cấp tại Việt Nam hiện nay
Trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đấu tranh giai cấp mang
tính tất yếu, mang những tính chất của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản sau
khi đã giành được chính quyền. Theo lí luận của Mác, trong thời kì này, giai
cấp vô sản đã chiến thắng về mặt chính trị nhưng lực lượng của giai cấp tư sản
vẫn chưa bị triệt tiêu, luôn tìm mọi cách giành lại địa vị dã mất. Vì vậy, sứ
mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là phải tiếp tục đấu tranh để củng cố thắng
lợi, xây dựng xã hội mới
Trong thời buổi hiện nay, đấu tranh giai cấp ở nước ta đã có nhiều thay đổi
nhưng nhìn chung vẫn còn đang tiếp diễn, mang những nét đặc trưng của thời
đại toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xét bối cảnh hiện
thời, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên mặt trận chính trị ở nước ta đã
giành được thắng lợi. Tuy vậy, cuộc chiến vẫn diễn ra hết sức căm go trên các mặt trận khác.
Cụ thể hơn, trong nền kinh tế, sự đấu tranh vẫn xảy ra trước hai luống quan
điểm là ưu tiên phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Trong tiến trình công
nghiệp hóa đất nước tại một nước đang phát triển như Việt Nam, các yếu tố
tiêu cực tác động đến môi trường là không thể tránh khỏi. Trong khi đó, so với
thời điểm cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trong quá khứ, vấn đề môi
trường hiện nay lại có những diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu. Sự mâu
thuẫn này, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp để cân
đối được cả hai mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, do trong nền kinh tế vẫn còn tồn tại tư hữu, tồn tại nền kinh tế tư
nhân nên mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là không
thể tránh khỏi. Kết quả là có các cuộc ngừng việc tập thể đã diễn ra cục bộ, rải
rác trên phạm vi cả nước trong xuất thời gian qua. Điều này đòi hỏi giai cấp
công nhân cần phát huy hiệu quả hơn vai trò lãnh đạo của mình, thúc đẩy sự lOMoAR cPSD| 61431571
hoạt động tích cực của Công Đoàn để điều hòa mâu thuẫn, bảo vệ lợi ích chính
đáng của người lao động.
Bên cạnh đó, do tính chất đa dạng thành phần của nền kinh tế nên sự mâu
thuẫn giữa các thành phần kinh tế là không thể tránh khỏi, tiêu biểu nhất là
mâu thuẫn giữa thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế Nhà nước. Trong khi nền
kinh tế tư nhân mang tính chất năng động, góp phần lớn vào ngân sách nhà
nước thì nền kinh tế nhà nước vẫn còn chưa được cải tiến toàn diện, năng suất
lao động chưa cao. Tuy vậy, trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, thành phần Nhà nước vẫn cần giữ vững vai trò lãnh đạo, chủ
đạo trong nền kinh tế, nhằm hạn chế tối đa tình trạng bóc lột, độc quyền, thâu
tóm nền kinh tế của chủ sở hữu cơ bản và đảm bảo được những lợi ích cơ bản,
chính đáng cho người dân. Để giải quyết mâu thuẫn này và bảo vệ được thành
quả của cách mạng vô sản, Đảng cộng sản Việt Nam cần giữ vững vai trò lãnh
đạo của mình trong nền kinh tế, tiếp tục hoàn thiện các chính sách thu hút nhân
tài tham gia vào khối Nhà nước, tối ưu hóa năng suất lao động và tạo ra hành
lang pháp lí phù hợp để kinh tế phát triển nhưng vẫn đảm bảo vai trò trung tâm của kinh tế nhà nước.
Tuy nhiên, đấu tranh giai cấp trong kinh tế là một yếu tố quan trọng chứ
không phải là động lực duy nhất trong giai đoạn này để thúc đẩy phát triển
kinh tế. Ngoài đấu tranh giai cấp ra, các động lực khác như đấu tranh trên mặt
trận đạo đức, tư tưởng, văn hóa…. cũng đóng vai trò quan trọng không kém.
Chính vì vậy, không nên có tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp.
Kế tiếp, mặc dù đấu tranh chính trị đã tạm kết thúc trong bối cảnh nước ta
hiện nay nhưng trên mặt trận tư tưởng, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
cũng đang diễn ra âm thầm mà quyết liệt
, cam go, phức tạp và ngay càng trở
nên khó lường bởi sự phát triển của công nghệ thông tin.
Đầu tiên, cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra ngay trong mỗi con người, nhất là
ở đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái xấu và
cái ác, giữa lòng chính trực và chủ nghĩa cơ hội, giữa lương tâm và lòng
tham,… Sự mâu thuẫn giữa các thái cực này vô cùng quyết liệt, quyết định
xem tình trạng tha hóa, biến chất, suy đồi đạo đức có diễn ra trong hàng ngũ cán bộ hay không.
Thứ hai, đấu tranh tư tưởng còn diễn ra trong nội bộ các cơ quan, tổ chức
chính quyền. Ở cấp độ đấu tranh này, nhiệm vụ của Đảng và giai cấp vô sản là
ngăn chặn sự tự phát triển và tự thay đổi. Nói cách khác, điều này nhằm ngăn
chặn sự suy thoái từ bên trong. Ngăn chặn tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên chuyển biến tiêu cực, mất dần chuẩn mực cộng
sản, đi chệch khỏi nguyên tắc, giá trị. các vấn đề của chủ nghĩa Mác. Mất niềm
tin nghiêm trọng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vào
đường lối, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quá trình
này sẽ dẫn đến tình trạng những đảng viên Cộng sản chân chính bị suy thoái lOMoAR cPSD| 61431571
thành những phần tử chống Đảng, nhà nước và cách mạng. Ở cấp độ vi mô,
việc tự phát triển và tự chuyển hóa dẫn đến sự bất hòa trong nội bộ thể chế, tổ
chức. Một bộ phận trí thức đã rời bỏ ban lãnh đạo đảng. Nếu không được ngăn
chặn kịp thời và triệt để có thể dẫn đến suy thoái tổ chức và tự hủy hoại. Tệ
hơn nữa, nếu tình trạng này xảy ra ở cấp độ vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển đổi từ
hệ thống xã hội chủ nghĩa sang hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Cuối cùng, trên lĩnh vực tư tưởng, Đảng, dân tộc ta đấu tranh chống những
luận điệu vu khống, xuyên tạc, chủ yếu của các phần tử phản bội ở nước ngoài,
nhằm làm suy yếu các bè phái, khối đoàn kết lớn của dân tộc, thúc đẩy phát
triển hòa bình và lật đổ. tìm kiếm một âm mưu gây ra nó. Dẫn dắt từ bên trong.
Nhờ sự hỗ trợ của phương tiện công nghệ, các thế lực thù địch đã góp phần
phổ biến những quan điểm, thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách,
pháp luật của Đảng. Vu khống, bịa đặt, vu khống hình ảnh lãnh đạo cấp cao
nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu lòng tin của nhân
dân đối với Đảng, nhà nước. Mục đích chính của các thế lực này là bóp méo,
phủ nhận chủ nghĩa Mác và thay thế nó bằng hệ tư tưởng tư sản. Khuyến khích
và âm mưu thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị. phá hoại sự đồng thuận
xã hội và gây mất ổn định chính trị. Thống trị và kiểm soát nền kinh tế của các
nước xã hội chủ nghĩa. Chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa
phù hợp với giá trị Mỹ và phương Tây. Thực hiện kế hoạch vô hiệu hóa lực
lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa.;... Nhìn chung, các hình thức chống
phá nói trên không mới nhưng đang ngày càng phát triển theo hướng phức tạp
hơn. Hiện tượng diễn biến hóa bình đã góp phần thúc đẩy sự tan rã của hệ
thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào thế kỉ 20, từ đó đặt ra cho phong trào
vô sản ở thế kỉ 21 một sứ mệnh phải bảo vệ được chủ quyền trên không gian
mạng, bảo vệ thành quả cách mạng ngay trên mặt trận tư tưởng, triệt tiêu các
mầm mống phản động ngay từ trong trứng nước để chúng không diễn biến
thành sự chống đối, sụp đổi ngay từ bên trong.
Nhìn chung, mặt trận đấu tranh tư tưởng của giai cấp vô sản Việt Nam thời
đại mới dù không tiếng súng nhưng lại diễn biến hết sức gay go và khó lường,
đòi hỏi hàng ngũ lãnh đạo cách mạng phải không ngừng hoàn thiện, truyền bá
đường lối tư tưởng cách mạng, nhằm bảo vệ vững chắc thành trì cách mạng
vô sản, thành công hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ba mặt trận chính là chính trị, kinh tế và tư tưởng, đấu tranh giai cấp
ở nước ta hiện nay còn là một lĩnh vực phức hợp, lan tỏa đến mọi khía cạnh
của đời sống. Cỏ thể điểm qua một vài mặt trận khác để thấy được tính phức
hợp của cuộc đấu tranh ấy như sau:
Về đối ngoại:Ở Việt Nam, nhờ quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, quan
hệ dân tộc xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt của đời
sống kinh tế - xã hội của đất nước. Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam kiên trì chủ lOMoAR cPSD| 61431571
trương xây dựng quan hệ hữu nghị với các nước, các dân tộc trên thế giới dựa
trên tinh thần đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đồng thời bảo đảm
giữ vững độc lập, chủ quyền của mình. Quyền dân tộc dựa trên tinh thần độc
lập, tự chủ của dân tộc. Việt Nam cam kết không tham gia các tổ chức quân
sự, liên minh quân sự. Tôn trọng hòa bình và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới.
Về quốc phòng an ninh: Mục đích của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc là
ngăn chặn, ngăn chặn mọi âm mưu, âm mưu, hành động xâm phạm độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, biển, đảo của Tổ quốc.
Ngăn chặn xung đột vũ trang và tấn công mạng và tránh mọi nguy cơ chiến
tranh. Ngăn chặn các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống,
kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thụ động hoặc bất
ngờ, bảo vệ Đảng, nhà nước, nhân dân và hệ thống xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia.
Về thông tin – truyền thông: Đảng và Nhà nước cần khai thác triệt để mạng
internet, các phương tiện truyền thông, công nghệ tin học để chuyển tải cho
người dân cách nhận diện và đấu tranh trước các quan điểm sai trái, các ấn
phẩm văn hoá độc hại.
Về văn hóa: Cần ngăn chặn hiện tượng lan tỏa, tôn sùng thái quá các hệ giá
trị phương Tây trong một bộ phận dân chúng, đặc biệt là ở đối tượng giới trẻ.
Cần đấu tranh quyết liệt với sự xâm lăng văn hóa, sự quay lại phê phán lịch sử
và các giá trị truyền thống, sự tuyên truyền cực đoan chủ nghĩa cá nhân, chủ
nghĩa tiêu thụ dẫn tới sự sụp đổ cấu trúc xã hội, đánh mất hứng thú lao động,
học tập và cống hiến ở một bộ phận giới trẻ.
Về vấn đề dân tộc: Nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy
bình đặng giữa các dân tộc, đề cao lợi ích dân tộc cần được Đảng và Nhà nước
đặt lên hàng đầu, đặc biệt chú ý phản biện và ngăn chặn luận điệu vu cáo Việt
Nam vi phạm dân chủ nhân quyền, phân biệt đối xử và kì thị người dân tộc
thiểu số. Ngoài ra, vấn đề xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí ở các đối tượng
đồng bào thiểu số, khu vực kinh tế chậm phát triển cũng cần được quan tâm và đề cao.
Về vấn đề tôn giáo: Xét thực trạng một số ít quan chức cấp cao, thành viên
của một số tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị, chịu sự tác động tuyên
truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực, đảng phái, nhà nước thù địch trong
và ngoài nước, chủ yếu là giai cấp vô sản, để làm được điều này là phù hợp.
phải có chính sách và biện pháp quản lý. Đảng và Nhà nước phải kiên trì chính
sách nhất quán tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. lOMoAR cPSD| 61431571 KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên, có thể thấy học thuyết duy vật lịch sử đã đưa ra nội
dung tương đối toàn diện, đầy đủ về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, có
ý nghĩa lí luận sâu sắc, là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam từ khi giai
cấp công nhân được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay.
Cách mạng vô sản tại Việt Nam trong quá khứ mang đặc trưng của cuộc cách
mạng vô sản diễn ra trong bối cảnh thuộc địa, gắn liền đấu tranh giải phóng
giai cấp và giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Dưới ngọn cờ lãnh đạo
của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân, liên minh công nông Việt Nam đã
giành được chính quyền từ tay phong kiến và thực dân, lãnh đạo toàn thể nhân
dân làm nên những chiến thắng vang dội, hoàn thành mục tiêu giải phóng và
thống nhất đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù tương quan lực lượng nghiêng về hướng có
lợi cho giai cấp vô sản nhưng chúng ta cũng không thể lơ là trước âm mưu của
các thế lực thù địch và những mâu thuẫn nội tại ngay trong nội bộ quốc gia.
Dù hệ thống tư bản chủ nghĩa đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng vẫn không
thể triệt tiêu bản chất bóc lột, và tính đối kháng với giai cấp vô sản, luôn nhăm
nhe phá hoại thành quả của cách mạng tại nước ta.
Chính vì vậy, cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ
nghĩa hiện nay vẫn sẽ có diễn ra âm thầm nhưng hết sức phức tạp, quyết liệt
và căm go. Để giành được chiến thắng sau cùng trong cuộc chiến ấy, giai cấp
vô sản Việt Nam dưới sự tiên phong lãnh đạo của Đảng Cộng sản cần tăng
cường vai trò lí luận, thấm nhuần và vận dụng linh hoạt quan điểm của chủ
nghĩa Mác về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Điều này có ý nghĩa quan
trọng đối với thắng lợi sau cùng của cách mạng vô sản, thành công đưa đất
nước tiến lên xã hội chủ nghĩa trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO GIÁO TRÌNH:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2018. WEBSITES: lOMoAR cPSD| 61431571 1.
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-
cacluan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-
tiet//asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/ cong-tac-doi-ngoai-trong-
dau-tranh-phong-ngua-cac-hoat-dong-loi-dung-quanhe-dan-toc-xuyen-
bien-gioi-chong-pha-viet-nam-hien-nay 30/01/2022 2.
http://m.tapchiqptd.vn/vi/bao-ve-to-quoc/mot-so-van-de-ve-dau-
tranhquoc-phong-trong-tinh-hinh-moi-16793.html 03/03/2021 3.
https://truongchinhtri.edu.vn/home/dau-tranh-bao-ve-nen-tang-tu-
tuongcua-dang/nhan-thuc-dung-ve-dau-tranh-giai-cap-o-viet-nam-hien- nay-1088.html 24/02/2021 4.
https://moha.gov.vn/nghi-quyet-tw4/gioi-thieu-nqtw4/tu-dien-bien-
tuchuyen-hoa-khai-niem-bieu-hien-va-nguyen-nhan-40197.html 23/12/2018 5.
https://dbnd.quangngai.gov.vn/mnews.aspx?id=2358 6.
http://congdoanquangnam.org.vn/Default.aspx?
tabid=656&Group=11&NID=5&tom-tat-qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-
triencua-giai-cap-cong-nhan-va-to-chuc-cong-doan-viet-nam-phan- 1&language=enUS