

















Preview text:
Lời cảm ơn Lời mở đàu
Phần 1: Cơ sở lý thuyết 1.1. Khái niệm về lạm phát 1.2. Phân loại lạm phát 1.3.
Nguyên nhân dẫn đến lạm phát 1.4.
Tác động của lạm phát
1.4.1. Tác động tích cực
1.4.2. Tác động tiêu cực 1.5.
Các giải pháp kiềm thế lạm phát
1.5.1. Kích thích tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu áp dụng mô hình VECM từ dữ liệu chỉ số lạm phát và tăng
trưởng kinh tế theo thời gian với tần suất năm, được thu thập trong giai đoạn từ
1989 đến 2016 để kiểm định tính dừng, đồng liên kết và kiểm định nhân quả
Granger, qua đó đánh giá mối quan hệ giữa lạm phát với tăng trưởng kinh tế và dự
báo ngưỡng lạm phát mục tiêu các nhà kinh tế học đã phát hiện ra mối tương quan
mật thiết giữa 2 yếu tố này.
Nếu tốc độ phát triển kinh tế phù hợp với lượng cung tiền, hiện tượng
người người nhà nhà “đổ xô” đầu tư sẽ không diễn ra, lượng tiền trên thị trường
được giữ ổn định nhờ đó có thể tránh được tình trạng lạm phát nếu các yếu tố cố
liên quan đến lạm phát không tác động lên nền kinh tế.
1.5.2. Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ hay chính sách quản lý lưu thông tiền tệ là phương tiện
của các cơ quan quản lý tiền tệ nhà nước ( ngân hàng trung ương) nhằm quản lý
lượng cung tiền nhằm hướng đến một lãi suất nhờ đó đạt được mức ổn định và
tăng trưởng kinh tế phù hợp,… Các công cụ để đạt được mục tiêu này gồm: thay
đổi lãi suất chiết khẩu, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và các nghiệp vụ thị trường
mở. Với mục tiêu chủ chốt là lượng cung tiền và lãi suất thì lạm phát chính là một
trong những đối tượng được cơ quan quản lý tiền tệ nhà nước quan tâm hàng đầu.
Việc kiểm soát lạm phát cũng là một trong những ưu tiên lớn của các nhà kinh tế.
1.5.3. Tỷ giá hối đoái cố định
Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ tỷ giá Forex , tỷ ,
giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được
trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một
quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác
Dưới một chế độ tỷ giá hối đoái cố định, đồng tiền của một quốc gia được
gắn về giá trị với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ khác (hoặc đôi khi đến
một thước đo giá trị, chẳng hạn như vàng). Một tỷ giá hối đoái cố định thường
được sử dụng để ổn định giá trị đồng tiền, đối diện đồng tiền mà nó cố định vào.
Nó cũng có thể được sử dụng như một phương tiện để kiểm soát lạm phát. Tuy
nhiên, vì giá trị của đồng tiền tham chiếu tăng lên và hạ xuống, do đó, đồng tiền
không ổn định so với nó. Điều này về cơ bản có nghĩa là tỷ lệ lạm phát của nước
có chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị xác định bởi tỷ lệ lạm phát của nước mà đồng
tiền này cố định vào. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cố định ngăn chặn chính phủ trong
việc sử dụng chính sách tiền tệ trong nước để đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô. 1.5.4. Bản vị vàng
Bản vị vàng là một hệ thống tiền tệ trong đó phương tiện trao đổi phổ biến
của một vùng là tiền giấy mà thường có thể chuyển đổi tự do với một lượng cố
định được đặt ra từ trước của vàng. Bản vị này quy định cụ thể cách mà sự ủng hộ
vàng sẽ được thực hiện, bao gồm cả số lượng tiền vàng trên một đơn vị tiền tệ.
Loại tiền tệ chính nó không có giá trị bẩm sinh, nhưng được chấp nhận bởi các
thương nhân vì nó có thể được hoàn trả lại cho tiền vàng tương đương. Một
Mỹ chứng nhận bạc, ví dụ, có thể được hoàn trả cho một phần bạc thực tế.
1.5.5. Kiểm soát tiền lương và giá cả
Một phương pháp khác đã được thử trong quá khứ là kiểm soát tiền lương và giá
cả (chính sách thu nhập). Việc kiểm soát tiền lương và giá cả kết hợp với phân phối
đã thành công trong môi trường chiến tranh. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng trong các
bối cảnh khác là hỗn hợp hơn rất nhiều. Thất bại đáng chú ý của việc sử dụng bao
gồm áp đặt kiểm soát tiền lương và giá cả năm 1972 bởi Richard Nixon. Ví dụ thành
công hơn bao gồm Hòa ước giá cả và thu nhập tại Úc và Thỏa hiệp Wassenaar tại Hà Lan.
Nói chung, kiểm soát tiền lương và giá cả được coi là một biện pháp tạm thời và
đặc biệt, chỉ có hiệu quả khi kết hợp với các chính sách được thiết kế để làm giảm
những nguyên nhân cơ bản của lạm phát trong chế độ kiểm soát tiền lương và giá cả,
ví dụ, chiến thắng cuộc chiến đang chiến đấu. Chúng thường có tác dụng hư hỏng, do
các tín hiệu méo mó mà chúng gửi cho thị trường. Giá thấp giả tạo thường gây ra
phân phối và sự thiếu hụt và khuyến khích đầu tư trong tương lai, dẫn đến tình trạng
thiếu nhưng xa hơn. Phân tích kinh tế thông thường là bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ
mà dưới giá đều được tiêu thụ quá nhiều. Ví dụ, nếu giá chính thức của bánh mì là
quá thấp, sẽ có quá ít bánh mì với giá chính thức, và có quá ít đầu tư trong việc làm
bánh mì của thị trường để đáp ứng nhu cầu trong tương lai, do đó làm trầm trọng thêm
các vấn đề trong lâu dài. 1.5.6. Kiểm soát giá
Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát giá cả đối với một số mặt hàng
thiết yếu, ví dụ như xăng dầu, lương thực.
Tuy nhiên, việc kiểm soát giá cả cần được thực hiện một cách thận trọng để tránh gây
ra những tác động tiêu cực đến thị trường.
1.5.7. Nâng cao năng suất lao động
Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tăng cung hàng hóa và dịch vụ, từ đó giúp
giảm bớt áp lực lên giá cả. Chính phủ có thể hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nâng
cao năng suất lao động bằng cách cung cấp các chương trình đào tạo, nghiên cứu và phát triển.
1.5.8. Trợ cấp chi phí sinh hoạt
Sức mua thực tế của các khoản thanh toán cố định đang bị xói mòn bởi lạm
phát trừ khi chúng được điều chỉnh lạm phát để giữ giá trị thực sự không đổi. Ở
nhiều nước, hợp đồng lao động, trợ cấp hưu trí, và các quyền lợi của chính phủ (ví
dụ như an sinh xã hội) được gắn với một chỉ số chi phí sinh hoạt, thường đến chỉ
số giá tiêu dùng. Một trợ cấp chi phí sinh hoạt (COLA) điều chỉnh lương dựa trên
những thay đổi trong chỉ số chi phí sinh hoạt. Tiền lương thường được điều chỉnh
hàng năm trong nền kinh tế lạm phát thấp. Trong khi lạm phát phi mã nó được
điều chỉnh thường xuyên hơn. Chúng cũng có thể được gắn với một chỉ số giá sinh
hoạt mà thay đổi theo vị trí địa lý khi di chuyển nhân viên.
Phần 2: Tình trạng lạm phát ở Mỹ
2.1. Tình hình lạm phát trên thế giới hiện nay
Năm 2024, lạm phát bình quân toàn cầu được dự báo sẽ giảm xuống 5,8%, từ mức 6,8% của năm 2023...
Trên toàn cầu, tình hình lạm phát đang có xu hướng hạ nhiệt. Tuy nhiên, các nhà phân
tích nhận định vẫn có nguy cơ xảy ra một làn sóng lạm phát tăng mạnh do xung đột địa
chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, thị trường lao động mạnh hơn dự
báo cũng có thể thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, từ đó đẩy giá cả leo thang.
Năm 2024, lạm phát bình quân toàn cầu được dự báo sẽ giảm xuống 5,8%, từ mức 6,8%
của năm 2023. IMF nhận định áp lực giá cả trên thế giới sẽ giảm bớt khi các quốc gia duy
trì chính sách tiền tệ thắt chặt, giá năng lượng giảm, cùng với thị trường lao động mạnh.
2.2. Tình tình lạm phát ở Mỹ vừa qua và hiện nay
2.2.1. Tình hình lạm phát của Mỹ vừa qua
2.2.2. Tình hình lạm phát của Mỹ hiện nay (2024)
Biểu đồ thể hiện CPI của nước Mỹ cuối năm 2023 đầu năm 2024
Theo hãng tin CNBC, báo cáo ra ngày 12/3/2024 của Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS)
cho thấy chỉ số giá tiêu dùng tại Mỹ, thước đo phổ biến về giá cả hàng hóa và dịch vụ,
tăng 0,4% trong tháng và 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng của tháng 2 đúng
như kỳ vọng trước đó, nhưng tỷ lệ lạm phát tính theo năm thì cao hơn một chút so với
mức dự báo 3,1% từ một cuộc thăm dò ý kiến của Dow Jones.
Loại trừ giá thực phẩm và năng lượng thì CPI cơ bản tăng 0,4% trong tháng 2 và tăng
3,8% theo năm. Cả hai đều cao hơn 1/10 điểm phần trăm so với dự báo.
Chi phí năng lượng tăng 2,3% đã làm gia tăng mức lạm phát toàn phần. Chi phí thực
phẩm không đổi trong tháng, trong khi chi phí về nhà ở tăng thêm 0,4%.
Báo cáo của BLS chỉ ra, mức tăng giá của năng lượng và nhà ở chiếm hơn 60% tổng mức
tăng. Xăng tăng 3,8% trong tháng 2 trong khi giá thuê nhà tăng 0,4%.
Tại Mỹ, tăng trưởng kinh tế chậm lại được nhận định sẽ là nguyên nhân giúp giảm lạm
phát về mức 2,6% năm 2024. Con số này gần với mức mục tiêu lạm phát 2% của Cục Dự
trữ Liên bang Mỹ (Fed) khi liên tục tăng lãi suất trong năm qua. Dù Fed đã phát tín hiệu
rằng những điều tồi tệ nhất đã qua, nhưng nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn tiềm ẩn những
nguy cơ có thể đẩy lạm phát tăng lên. Tính tới tháng 11/2023, lượng tiền tiết kiệm dư
thừa (excess savings) cộng dồn của các hộ gia đình Mỹ là 290 tỷ USD và số tiền này có
thể tiếp tục đẩy nhu cầu tiêu dùng và từ đó kéo lạm phát đi lên.
2.3. Nguyên nhân lạm phát ở Mỹ
Lạm phát ở Mỹ đang ở mức cao nhất trong 40 năm qua, với tỷ lệ tăng 7,5% so với
cùng kỳ năm ngoái vào tháng 1 năm 2023. Có nhiều yếu tố góp phần vào tình trạng này, bao gồm:
1. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao:
Sau đại dịch COVID-19, người dân Mỹ có xu hướng bắt đầu chi tiêu nhiều hơn cho
hàng hóa và dịch vụ, dẫn đến nhu cầu tăng cao. Sự tăng lên của cầu nhưng lại không có
sự thay đổi của cung làm cho thiếu hụt hàng hóa từ đó đẩy giá của các sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ. Không chỉ dừng lại ở đó, ngày 13/2, Quốc hội Mỹ đã chính thức thông qua
lần cuối kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD, nhằm đưa kinh tế nước này thoát
khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ hiện nay, các gói kích thích kinh tế này cũng góp phần gia tăng nhu cầu tiêu dùng.
2. Gián đoạn chuỗi cung ứng:
Trong những năm gần đây, ta đã chứng kiến hai sự kiến lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến nền kinh tế của thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng đó là đại dịch COVID-19 và
chiến tranh Nga-Ukraine. Hai biến cố nói trên gây ra nhiều gián đoạn cho chuỗi cung ứng
toàn cầu, khiến cho việc vận chuyển hàng hóa trở nên khó khăn và đắt đỏ hơn. Việc đứt
gãy của chuỗi cung ứng sẽ làm cả một quy trình bị chậm lại làm cho thời gian sản xuất
một đơn vị hàng hóa tăng lên cộng hưởng với việc thiếu hụt nguồn cung làm có giá các
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ bị “thổi phồng”. 3. Giá năng lượng tăng:
Trong quý đầu của năm 2024 tại Mỹ, theo trang tin trực tuyến Vaultelectricity, nhiều
bang có mức giá tăng cao, trong đó có bang tăng hơn 27,47 USD/kWh (tương đương
6.810 đồng/kWh). Người tiêu dùng Mỹ đối mặt với hóa đơn tiền điện tăng là do giá khí
đốt tự nhiên biến động, thời tiết khắc nghiệt. Một trong những nguyên nhân chính dẫn
đến sự tăng giá của năng lượng và vật liệu thô chính là do cuộc chiến giữa Nga và
Ukraine. Giá dầu mỏ và khí đốt tự nhiên tăng cao do nhiều yếu tố, bao gồm nhu cầu tăng
cao, gián đoạn chuỗi cung ứng và căng thẳng địa chính trị. Ngoài ra, việc giá xăng tăng
cao cũng “đẩy” chi phí sản xuất do vậy ảnh hưởng đến giá cả của nhiều hàng hóa và dịch vụ khác. 4. Mức lương tăng:
Với tình trạng khủng hoảng kéo dài, nguồn nhân lực khan hiếm, để cung cấp nguồn
nhân lực cho bộ máy sản xuất buộc các doanh nghiệp phải tăng mức lương để thu hút
thêm nhân lực. Việc tăng mức lương lên đồng nghĩa với việc người lao động sẽ có nhiều
tiền hơn để chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ. Với nhu cầu tăng cao, việc tăng giá hàng
hóa dịch vụ là điều khó tránh khỏi và nếu tình trạng này tiếp diễn trong thời gian dài tình
trạng lạm phát sẽ ngày càng trở nên “trầm kha” 5. Kỳ vọng lạm phát:
Kỳ vọng lạm phát cao có thể khiến người tiêu dùng và doanh nghiệp dự đoán giá
cả sẽ tiếp tục tăng trong tương lai, dẫn đến việc họ tăng chi tiêu và đầu tư ngay bây giờ,
càng làm cho lạm phát tăng cao hơn.
Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng có thể góp phần vào lạm phát ở Mỹ, bao gồm: Giá nhà đất tăng cao Giá thực phẩm tăng cao
Chính sách tiền tệ nới lỏng của Cục Dự trữ Liên bang (Fed)
Phần 3: Các giải pháp kiềm chế phạm phát
3.1. Những thuận lợi và khó khăn 3.1.1. Thuận lợi:
3.1.1.a. Nền kinh tế Mỹ có sức phục hồi mạnh mẽ:
Nhìn vào những thành tựu mà nước Mỹ đã đạt được trong giai đoạn 2019 – 2023, ta hoàn
toàn có thể khẳng định được sức phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế này. Sau đại dịch
COVID-19, chúng ta đã chứng kiến sự lao dốc của kinh tế thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng.
Biểu đồ 1: TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC (GDP) THỰC CỦA MỸ TRÒNG GIAI
ĐOẠN TỪ 2017 ĐẾN HẾT QUÝ 3 NĂM 2021
GDP là thước đo rộng nhất về hoạt động kinh tế, tính bằng giá trị của hàng hoá và dịch
vụ được tạo ra trong phạm vi một quốc gia. Dữ liệu GDP giúp hiểu về quy mô của một
nền kinh tế và nền kinh tế đó đang vận hành ra sao. Quý 1/2020, GDP cả năm, đã điều
chỉnh theo yếu tố mùa vụ (annualized, seasonally adjusted) của Mỹ đạt 19 nghìn tỷ USD.
Quý 2/2020, dưới sức ép suy giảm tăng trưởng kinh tế mà Covid gây ra, GDP cả năm của
Mỹ giảm còn 17,3 nghìn tỷ USD. Quý 3/2021, GDP cả năm của nước này đạt 19,5 nghìn
tỷ USD, nghĩa là đã vượt 500 tỷ USD so với mức trước đại dịch.
Biểu đồ 2: Chỉ số S&P 500
Là thước đo rộng nhất của thị trường chứng khoán Mỹ, chỉ số S&P 500 đo giá cổ phiếu
của 500 công ty niêm yết đại chúng lớn nhất nước này. Tỷ trọng của mỗi cổ phiếu trong
chỉ số được dựa trên vốn hoá thị trường của doanh nghiệp, nghĩa là những công ty vốn
hoá lớn như Apple và Amazon có tỷ trọng lớn hơn trong S&P 500 so với những công ty nhỏ hơn.
Covid đã khiến S&P 500 sụt từ đỉnh trước đại dịch là hơn 3.380 điểm vào hôm 14/2
xuống mức đáy gần 2.305 điểm vào hôm 20/3, tương đương giảm gần 32% chỉ trong
vòng hơn 1 tháng. Sau đó, cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, chỉ số liên tục phục hồi
và lập đỉnh cao mọi thời đại. So với mức đáy trong đại dịch, S&P 500 hiện đã tăng hơn 104%.
Biểu đồ 3: Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm
Diễn biến của lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm có thể ảnh hưởng trực tiếp
đến người tiêu dùng Mỹ, thông qua tác động lên lãi suất các khoản vay thế chấp nhà, vay
mua xe, vay đi học, và thẻ tín dụng. Lợi suất này cũng là một thước đo quan trọng về
niềm tin của nhà đàu tư. Khi nhà đầu tư kỳ vọng tăng trưởng kinh tế Mỹ mạnh hơn trong
tương lai, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm thường tăng. Ngược lại, khi họ
kỳ vọng tăng trưởng thấp và lạm phát thấp, lợi suất này thường giảm.
Sau khi chạm đáy 0,55% vào cuối tháng 7 năm ngoái, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ
hạn 10 năm đã tăng lên gần 1,5% trong thời gian gần đây, cách không xa ngưỡng 1,6% trước đại dịch.
Chỉ với ba “bằng chứng” trên ta có thể chắc chắn nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn nhất
thế giới với sức phục hồi mạnh mẽ. Điều này giúp cho Mỹ có nhiều dư địa để thực hiện
các chính sách kiềm chế lạm phát mà không ảnh hưởng quá nhiều đến tăng trưởng kinh tế.
3.1.1.b. Hệ thống tài chính Mỹ phát triển:
Hệ thống tài chính Mỹ là một trong những hệ thống phức tạp và lớn nhất trên thế giới. Nó
bao gồm nhiều tổ chức và thị trường khác nhau, tất cả đều đóng vai trò quan trọng trong
việc cung cấp vốn cho nền kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Một số thành phần chính của hệ thống tài chính Mỹ:
1. Ngân hàng trung ương: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) là ngân hàng trung ương của
Hoa Kỳ. Fed có trách nhiệm giám sát và điều chỉnh hệ thống tài chính, cung cấp thanh
khoản cho các ngân hàng, và duy trì sự ổn định của hệ thống tiền tệ.
2. Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là những tổ chức tài chính nhận tiền
gửi từ công chúng và cung cấp các khoản vay, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ tài chính khác.
3. Thị trường vốn: Thị trường vốn là nơi các công ty và chính phủ huy động vốn bằng
cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu.
4. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng: Các tổ chức tài chính phi ngân hàng bao gồm
các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ tương hỗ, và các công ty cho vay thế chấp.
5. Thị trường phái sinh: Thị trường phái sinh là nơi các nhà đầu tư giao dịch các hợp
đồng để phòng ngừa rủi ro hoặc đầu cơ vào giá của các tài sản khác.
Phương thức vận hành của hệ thống tài chính Mỹ:
Ở nước Mỹ về cơ bản hệ thống tài chính dựa vào thị trường với thị trường chứng khoán
phát triển bậc nhất thế giới. Khối lượng tín dụng do ngân hàng cung ứng chiếm một phần
rất nhỏ so với khối lượng cổ phiếu và trái phiếu phát hành trên sàn giao dịch, nó chỉ
chiếm 15% đến 20%. Hệ thống tài chính Mỹ phát triển và hiệu quả giúp cho việc truyền
tải chính sách tiền tệ đến nền kinh tế diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.
Hệ thống tài chính Mỹ hoạt động bằng cách kênh tiền tiết kiệm từ các hộ gia đình và các
doanh nghiệp sang những người và doanh nghiệp cần vốn để đầu tư và phát triển. Các
ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong quá trình này bằng cách nhận tiền
gửi từ công chúng và cung cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Thị trường vốn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Các công ty và chính phủ có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu
trên thị trường vốn. Các nhà đầu tư mua cổ phiếu và trái phiếu có thể kiếm được lợi
nhuận từ việc đầu tư vào các công ty và chính phủ này.
Hệ thống tài chính Mỹ là một hệ thống phức tạp và quan trọng. Hệ thống này đóng
vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và cung cấp các dịch vụ tài chính
cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, hệ thống tài chính Mỹ cũng có một số rủi ro,
và chính phủ Mỹ cần tiếp tục áp dụng các quy định để giảm thiểu rủi ro này.
Ngoài ra, hệ thống tài chính Mỹ còn có một số đặc điểm nổi bật sau:
Tính cạnh tranh cao: Hệ thống tài chính Mỹ có tính cạnh tranh cao giữa các ngân
hàng và các tổ chức tài chính khác. Điều này giúp thúc đẩy đổi mới và cung cấp các dịch
vụ tài chính tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Tính minh bạch: Hệ thống tài chính Mỹ có tính minh bạch cao. Các tổ chức tài
chính được yêu cầu phải công bố thông tin tài chính của họ một cách công khai. Điều này
giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt hơn.
Tính hiệu quả: Hệ thống tài chính Mỹ hoạt động hiệu quả trong việc cung cấp vốn
cho nền kinh tế. Hệ thống này giúp huy động vốn từ các hộ gia đình và doanh nghiệp và
chuyển nó sang những người và doanh nghiệp cần vốn để đầu tư và phát triển.
3.1.1.c. Sự tin tưởng của công chúng vào chính phủ: Nhánh hành pháp:
Tổng thống: Joseph Robinette Biden Jr. (Dân chủ)
Phó Tổng thống: Kamala Devi Harris (Dân chủ)
Nội các: Gồm 15 Bộ trưởng và các quan chức cấp cao khác Nhánh lập pháp:
Quốc hội: Gồm hai viện: o
Thượng viện: 100 thành viên, mỗi bang có 2 đại diện. o
Hạ viện: 435 thành viên, được phân chia theo tỷ lệ dân số của mỗi bang. Đảng phái:
Đảng Dân chủ: Kiểm soát cả Hạ viện và Thượng viện.
Đảng Cộng hòa: Là đảng đối lập.
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, ta có thể thấy sự tín nhiệm của người dân Hoa
Kỳ vào tổng thống Joseph Robinette Biden Jr.
Ngày 3.11.2020, tổng thống Biden đã giành đươc 264 phiếu đại cử tri dẫn trước ông Donald Trump 50 phiếu.
Ngày 7.11.2020, ông Biden lại tiếp tục dẫn trước với 74,5 triệu phiếu phổ thông và cao
hơn ông Donald Trump 3,5 triệu phiếu.
Ngày 14.12.2022, các đại cử tri toàn bộ 50 bang ở Mỹ và thủ đô Washingtion D.C đi bỏ
phiếu cho ứng cử viên tổng thống và phó tổng thống và ông Biden lại tiếp tục áp đảo với 306 đại cử tri.
Đến ngày 20.12.2022, ông Biden chính thức là “ vị chủ nhân mới” của nhà Trắng.
Với những số liệu trên ta thấy người dân Mỹ có niềm tin cao vào chính phủ và các tổ
chức tài chính. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách kiềm
chế lạm phát dễ dàng hơn. 3.1.2. Khó khăn:
3.1.2.a. Lạm phát có nhiều nguyên nhân:
Lạm phát ở nước Mỹ những năm gần đây được gia tăng bởi nhiều nguyên nhân: Nhu cầu
tiêu dùng tăng sau Covid, gián đoạn chuỗi cung ứng, giá năng lượng tăng, mức lương
tăng, kỳ vọng lạm phát của các nhà kinh doanh,…. Chính vì có quá nhiều nguyên nhân
thúc đẩy lạm phát, vào từng thời kỳ nguyên nhân chính gây ra lạm phát cũng bị thay đổi.
điều này gây khó dễ cho các nhà quản lý trong việc tìm ra tác nhân chính thúc đẩy lạm
phát. Tuy nhiên để có thể giải quyết hiệu quả vấn đề này, các nhà hoạch định cần xác
định rõ nguyên nhân chính và chủ đạo gây ra lạm phát để đưa ra những biện pháp
khắc. Có thể nói việc tìm ra “thủ phạm chính” dẫn đến lạm phát là một vấn đề gây “ đau
đầu” cho chính phủ Mỹ.
3.1.2.b. Tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế:
Việc thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát, đặc biệt là việc tăng lãi suất, có thể ảnh
hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Giảm chi tiêu của người tiêu dùng: Khi lãi suất tăng, chi phí vay vốn của người tiêu
dùng cũng tăng theo. Điều này có thể khiến họ giảm chi tiêu cho các mặt hàng không
thiết yếu, chẳng hạn như nhà cửa, ô tô và các thiết bị điện tử.
Giảm đầu tư của doanh nghiệp: Lãi suất cao cũng có thể khiến doanh nghiệp khó vay
vốn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, thiết bị và nghiên cứu phát triển. Điều này có thể làm
giảm năng suất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong dài hạn.
Tăng gánh nặng nợ nần: Lãi suất cao có thể khiến gánh nặng nợ nần của chính phủ
và doanh nghiệp tăng lên. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ vỡ nợ và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.
Suy thoái kinh tế: Trong một số trường hợp, việc tăng lãi suất có thể dẫn đến suy
thoái kinh tế. Điều này xảy ra khi lãi suất cao khiến chi tiêu của người tiêu dùng và
doanh nghiệp giảm mạnh, dẫn đến giảm việc làm và thu nhập.
Ảnh hưởng đến thị trường tài chính: Lãi suất cao có thể khiến thị trường tài chính
biến động mạnh, ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và trái phiếu. Điều này có thể khiến các
nhà đầu tư lo lắng và giảm đầu tư vào thị trường tài chính.
Ảnh hưởng đến các nước đang phát triển: Lãi suất cao ở Hoa Kỳ có thể khiến dòng
vốn chảy ra khỏi các nước đang phát triển, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của họ.
Việc áp dụng các chính sách kiềm chế lạm
3.1.2.c. Rủi ro suy thoái kinh tế:
CHỈ SỐ SẢN XUẤT TỪ VIỆN QUẢN LÝ NGUỒN CUNG (ISM) CỦA MỸ
Trong tháng 3, một thước đo quan trọng về hoạt động sản xuất của Mỹ đã giảm tháng thứ
5 liên tiếp, cho thấy mức hoạt động yếu nhất kể từ sau khi đại dịch Covid-19 bắt đầu năm 2020.
Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Mỹ của ISM
(ISM Manufacturing PMI) đã giảm xuống còn 44,3 điểm trong tháng trước, từ mức 47,7
điểm của tháng 2, đánh dấu mức thấp nhất kể từ tháng 5/2020.
“Trong 70 năm qua, cứ khi nào chỉ số sản xuất của ISM giảm xuống dưới 45 điểm, trong
12 lần thì có 11 lần (ngoại trừ năm 1967) suy thoái kinh tế đã xảy ra”, nhóm chiến lược gia của BofA chỉ ra. ĐƠN ĐẶT HÀNG MỚI
Cấu phần đơn đặt hàng mới trong chỉ số sản xuất của ISM tháng 3 ở mức 44,3 điểm. Điều
này cho thấy lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất có thể sẽ lại giảm trong quý
1/2023, đúng như dự báo của các nhà phân tích Phố Wall.
Theo các chiến lược gia của BofA, chỉ số đơn đặt hàng mới ở dưới mức 45 điểm đã xảy
ra đồng thời với tình trạng “suy thoái lơi nhuận doanh nghiệp” (tăng trưởng lợi nhuận
giảm trong 2 quý liên tiếp) ít nhất 4 lần trong vòng vài thập kỷ qua. Đó là vào các năm 1991, 2001, 2008 và 2020.
Theo khảo sát với các nhà phân tích của FactSet, lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) của các
công ty trong S&P 500 được dự báo giảm 6,8% trong quý 1/2023, sau khi ghi nhận suy giảm trong quý 4/2022.
LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TOÀN CẦU
Nhìn rộng ra toàn cầu, mô hình dự báo tăng trưởng lợi nhuận toàn cầu của BofA cho thấy
sự sụt giảm mạnh trong nửa đầu năm 2023.
Kết hợp các dữ liệu khác nhau từ xuất khẩu của châu Á, điều kiện tài chính ở Trung Quốc
cho đế lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ, mô hình này cho thấy EPS toàn cầu có thể giảm
16% so với cùng kỳ năm 2022 vào tháng 8 năm nay.
ĐƯỜNG CONG LỢI SUẤT TRÁI PHIẾU KHO BẠC MỸ
Đường cong lợi suất trái phiếu kho bạc đảo ngược là một tín hiệu đáng tin cậy cho thấy
một cuộc suy thoái có thể sẽ xảy ra trong năm tới.
Tuy nhiên, khi suy thoái đã bắt đầu hoặc chuẩn bị bắt đầu, đường cong này sẽ dốc hơn do
lợi suất trái phiếu dài hạn giảm nhanh hơn so với lợi suất trái phiếu ngắn hạn. Đây là một
dấu hiệu mà các nhà đầu tư xem xét để đầu tư dài hạn vào các tài sản tương đối an toàn.
Theo các chiến lược gia của BofA, điều này có vẻ đã xảy ra, khi chênh lệch lợi suất giữa
trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm (4,058%) và trái phiếu kho bạc 10 năm (3,44%) đã giảm
xuống dưới mức 50 điểm phần trăm, từ mức chênh lệch hơn 100 điểm phần trăm một tháng trước.
Từ các số liệu trên ta thấy việc xảy ra suy thoái kinh tế là hoàn toàn có thể xảy ra, việc
suy thoải kinh tế nổ ra gây khó dễ cho việc kiểm soát lạm phát của Mỹ.
3.1.2.d. Sự phản đối của các nhóm lợi ích: Các nhóm lợi ích, ví dụ như các doanh
nghiệp và người lao động, có thể phản đối các chính sách kiềm chế lạm phát vì những
chính sách này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của họ.
Ngoài ra, còn có một số khó khăn khác như:
Khó khăn trong việc dự đoán xu hướng lạm phát: Việc dự đoán xu hướng lạm phát là
một việc khó khăn, do đó, việc thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát cũng có thể gặp nhiều rủi ro.
Sự bất đồng giữa các nhà hoạch định chính sách: Có thể có sự bất đồng giữa các nhà
hoạch định chính sách về cách thức kiềm chế lạm phát. Điều này có thể làm chậm quá
trình thực hiện các chính sách.
3.2. Các giải pháp chính sách của Mỹ
3.2.1. Chính sách tiền tệ:
Tăng lãi suất: Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã tăng lãi suất liên bang 4 lần trong năm
2022, và dự kiến sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong năm 2023. Việc tăng lãi suất sẽ khiến chi phí vay
vốn cao hơn, qua đó làm giảm nhu cầu tiêu dùng và đầu tư, góp phần kiềm chế lạm phát.
Giảm bảng cân đối kế toán: Fed cũng đang thu hẹp bảng cân đối kế toán, vốn đã tăng lên
đáng kể trong thời kỳ đại dịch COVID-19. Việc thu hẹp bảng cân đối kế toán sẽ hút bớt thanh
khoản khỏi hệ thống tài chính, góp phần giảm áp lực lạm phát.
3.2.2. Chính sách tài khóa:
Giảm chi tiêu chính phủ: Chính quyền Biden đang nỗ lực giảm chi tiêu chính phủ, một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao.
Tăng thuế: Việc tăng thuế có thể giúp giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, qua đó góp
phần kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc tăng thuế cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. 3.2.3. Giải pháp khác:
Giải quyết các vấn đề về chuỗi cung ứng: Các vấn đề về chuỗi cung ứng đã góp phần làm
tăng giá cả hàng hóa. Chính phủ Mỹ đang nỗ lực giải quyết các vấn đề này bằng cách hợp tác
với các quốc gia khác và đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông.
Tăng cường cạnh tranh: Chính phủ Mỹ đang thực hiện các biện pháp để tăng cường cạnh
tranh trong nền kinh tế, qua đó giúp giảm giá cả hàng hóa và dịch vụ. Kết luận Tài liệu tham khảo
Tạp chí tài chính, 29/12/2018, Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với lạm phát và dự
ngưỡng lạm phát phù hợp cho Việt Nam: https://tapchitaichinh.vn/quan-he-giua-tang-
truong-kinh-te-voi-lam-phat-va-du-bao-nguong-lam-phat-phu-hop-cho-viet-nam.html
ThS Nguyễn Minh Sáng & ThS Ngô Nữ Diệu Khuê, 3/2015,
https://www.uef.edu.vn/newsimg/tap-chi-uef/2015-03-04-21/4-so-21.pdf
Hà Thu, 3/2024, https://vnexpress.net/lam-phat-my-tiep-tuc-tang-toc-4721539.html
An Huy, 15/12/2021, https://vneconomy.vn/buc-tranh-kinh-te-my-qua-12-bieu-do.htm
Hoài Thu, 13/4/2023, https://vneconomy.vn/12-bieu-do-cho-thay-suy-thoai-kinh-te-toan- cau-co-the-da-bat-dau.htm