



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
———————————— TIỂU LUẬN
VẤN ĐỀ XÃ HỘI HỌC GẮN VỚI
VIỆC ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
Môn: Xã hội học đại cương
Giảng viên: ThS. Nguyễn Văn Chánh Nhóm: 7
Thủ Đức, ngày 18 tháng 4 năm 2024 Mục lục A. NỘI DUNG I.
Giới thiệu xã hội học đô thị...................................................................................................5 1.
Khái niệm xã hội học đô thị[1]............................................................................................5 2.
Một số hướng tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu Xã hội học đô thị..............................5
2.1. Trường phái Chicago.....................................................................................................5
2.1.1. Quan điểm của Louis Wirth[4].................................................................................5
2.1.2 Cách tiếp cận[5]..........................................................................................................5
2.1.3. Đặc điểm xã hội học đô thị theo trường phái Chicago [6].....................................5
2.1.4. Tác động xã hội của đô thị hoá và hệ thống điều chỉnh xã hội [7]........................5
2.1.5. Kết luận.....................................................................................................................5
2.2. Trào lưu nghiên cứu các cộng đồng trong xã hội học đô thị.......................................5
2.2.1. Nguồn gốc và bối cảnh lịch sử................................................................................6
2.2.2. Các hướng tiếp cận nghiên cứu cộng đồng............................................................6
2.3.3 Các hình thức cộng đồng đô thị mới.......................................................................6 II.
Giới thiệu vấn đề đô thị hóa..............................................................................................6 1.
Khái niệm, bản chất đô thị hóa.........................................................................................6 2.
Ba chiều hướng của đô thị hóa.........................................................................................6 3.
Các yếu tố thúc đẩy đô thị hóa.........................................................................................6
3.1. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa...................................................................................6
3.2. Di cư từ nông thôn lên thành thị...................................................................................6 4.
Kết luận...............................................................................................................................7 III.
Tác động của đô thị hóa đến với xã hội...........................................................................7 1.
Tác động tích cực...............................................................................................................7
1.1. Cơ hội việc làm và phát triển kinh tế:..........................................................................7
1.1.1. Gia tăng cơ hội việc làm..........................................................................................7
1.1.2. Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế......................................................................8
1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động....................................................8
1.1.4. Thu hút đầu tư, thúc đẩy sản xuất và gia tăng thu nhập cho người dân............8
1.2. Nâng cao mức sống và tiếp cận dịch vụ công:..............................................................8
1.2.1. Phát triển cơ sở hạ tầng:.........................................................................................8
1.2.2. Đa dạng văn hóa và lối sống hiện đại.....................................................................8
1.2.3. Tiếp thu lối sống hiện đại........................................................................................9
1.2.4. Xu hướng làm việc từ xa.........................................................................................9
1.3. Kết luận............................................................................................................................9 2.
Tác động tiêu cực...............................................................................................................9
2.1. Di dân và áp lực dân số..................................................................................................9
2.1.1. Khó khăn trong việc làm, gia tăng thất nghiệp...................................................10
2.1.2. Thiếu nhà ở và gia tăng các khu nhà trọ tạm bợ:...............................................10
2.2. Áp lực hạ tầng và ảnh hưởng chất lượng đô thị, môi trường sống..........................10
2.2.1. Giao thông quá tải và ùn tắc nghiêm trọng.........................................................10
2.2.2. Ô nhiễm môi trường..............................................................................................10
2.3. Biến đổi các giá trị gia đình và quan hệ xã hội...........................................................11
2.3.1. Gia đình hạt nhân thay thế gia đình truyền thống.............................................11
2.3.2. Tình trạng cha mẹ đi làm xa, con cái thiếu sự quan tâm...................................11
2.3.3 Quan hệ hàng xóm lỏng lẻo, tình làng nghĩa xóm mai một.................................11
2.4. Tội phạm và các vấn đề an sinh xã hội.......................................................................12
2.4.1. Gia tăng trộm cắp, cướp giật và tội phạm ma tuý..............................................12
2.4.2. Sự bất bình đẳng giữa người giàu và nghèo........................................................12
2.4.3. Thiếu chính sách an sinh xã hội cho lao động nhập cư......................................12
2.5. Tâm lý............................................................................................................................12
2.5.1. Cảm giác cô đơn và cô lập.....................................................................................12
2.5.2. Stress và lo âu.........................................................................................................13
2.5.3. Gia tăng bệnh lý tâm thần.....................................................................................13 3.
Đô thị hóa ở Việt Nam.....................................................................................................13 IV.
Giải pháp phát triển đô thị bền vững.............................................................................14 1.
Thúc đẩy thực hiện các chương trình, đề án của Chính phủ.......................................14
2. Đổi mới công nghệ, quy trình và tăng cường hợp tác..................................................14
3. Kiểm soát quy hoạch và quá trình đô thị hoá................................................................15
4. Nâng cao chất lượng đô thị, quản lý đất đai hiệu quả...................................................15
5. Phát triển các đô thị hạt nhân cốt lõi cấp vùng..............................................................15 2
6. Mở rộng đô thị và tăng tỷ lệ đô thị hóa dựa trên phát triển dân số lành mạnh.........15
7. Lập quy hoạch bảo vệ môi trường.....................................................................................16
V. Định hướng phát triển đô thị bền vững................................................................................16
1. Ứng dụng phương pháp quy hoạch chiến lược hợp nhất:............................................16
2. Quy hoạch mang tính chiến lược, linh hoạt và dài hạn:...............................................17
3. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng:........................................................................17
4. Phát triển đô thị thân thiện với môi trường:..................................................................17
5. Xác định vai trò đô thị trong mối quan hệ vùng:...........................................................18
6. Chọn mô hình phát triển đô thị phù hợp:......................................................................18
7. Xây dựng môi trường sống công bằng và bền vững:.....................................................18
8. Phát triển hạ tầng đô thị đồng bộ:..................................................................................18
9. Nâng cao năng lực quản lý đô thị:...................................................................................18
10.Tăng cường hệ thống quan trắc và phòng chống thiên tai:............................................19
11. Kết luận...............................................................................................................................19 B. TÀI LIỆU THAM KHẢO.
C. BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN 3
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
I. Giới thiệu xã hội học đô thị
1. Khái niệm xã hội học đô thị[1]
Xã hội học đô thị là một lĩnh vực của Xã hội học, nghiên cứu về cuộc sống đô thị nói chung
(ứng xử xã hội trong các hoạt động đô thị), do cấu trúc, chức năng của đô thị hình thành. các vấn
đề xã hội nảy sinh trong cuộc sống đô thị, bao gồm: cơ cấu xã hội, lối sống, các vấn đề quy
hoạch, nhà ở, và chính sách đô thị. Lịch sử phát triển môn học này gắn liền với quá trình đô thị
hóa tại châu Âu, Bắc Mỹ, và các khu vực khác từ cuối thế kỷ XIX.[1]
Xã hội học đô thị, nói một cách gần gũi, là ngành học giúp chúng ta hiểu được con người
sống như thế nào trong không gian đô thị, nơi đông đúc, nhiều áp lực nhưng cũng đầy cơ hội.
Theo giáo trình của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, xã hội học đô thị không chỉ nói về nhà
cao tầng, đường xá hay kiến trúc, mà tập trung vào cách con người tương tác với nhau trong môi
trường đó: họ tạo dựng quan hệ, thích nghi với nhịp sống nhanh, và cả những va chạm xã hội do
phân hóa giàu – nghèo, nhập cư, tệ nạn hay cô lập tinh thần.
Ngành học này ra đời từ sớm, khoảng đầu thế kỷ 20, và phát triển mạnh ở những nước
công nghiệp hóa, điển hình là Mỹ, nơi Trường phái Chicago đặt nền móng cho cách tiếp cận đô
thị như một “hệ sinh thái xã hội”. Ở đó, mỗi nhóm người chiếm lĩnh một khu vực khác nhau,
hình thành nên những “khu tự nhiên” với văn hóa, hành vi và lối sống đặc trưng. Khi đô thị phát
triển nhanh, không phải ai cũng theo kịp. Có người thích nghi, có người bị tụt lại phía sau, và đó
chính là lúc xã hội học đô thị phát huy vai trò của mình: nhận diện các vấn đề, lý giải nguyên
nhân và đề xuất giải pháp.[1]
Từ góc độ thực tế, xã hội học đô thị mang lại cái nhìn sâu sắc để các nhà làm chính sách
hiểu rằng: một thành phố đẹp không chỉ nằm ở bề ngoài mà còn nằm ở việc cư dân trong đó cảm
thấy an toàn, được kết nối và có cơ hội phát triển bình đẳng. Vì thế, ngành học này ngày càng trở
nên cần thiết trong bối cảnh đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay.[1]
2. Một số hướng tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu Xã hội học đô thị.
2.1. Trường phái Chicago
Đây là hướng nghiên cứu tiên phong trong xã hội học đô thị, gắn liền với Đại học
Chicago. [2] Các học giả như Robert E. Park, Ernest W. Burgess và Louis Wirth đã cho rằng đô
thị có thể được hiểu như một hệ sinh thái xã hội, nơi các nhóm cư dân tương tác theo những quy
luật tự nhiên tương tự như sự cạnh tranh, cộng sinh giữa các loài thực vật. Nhờ đó, các yếu tố
như phân bố dân cư, quá trình thích nghi, và sự hòa nhập vào cuộc sống hiện đại được phân tích
một cách sâu sắc (Park, Burgess, & McKenzie, 1925).
[3] Trường phái Chicago nhấn mạnh vào cơ cấu dân số
và sinh thái học của các đô thị, vào
tình trạng xã hội thiếu tổ chức, những hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh cũng như trạng thái
tâm lý xã hội của dân cư đô thị. (Giáo trình Xã Hội học Đô thị, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
2.1.1. Quan điểm của Louis Wirth[4]
Louis Wirth, một thành viên tiêu biểu của Trường phái Chicago, đã có đóng góp quan
trọng trong việc phân tích các vấn đề xã hội phát sinh từ quá trình đô thị hóa. Trong bài viết
“Urbanism as a Way of Life” (1938), ông cho rằng sự gia tăng mật độ dân số, tính đa dạng xã
hội và sự phân hóa trong các đô thị hiện đại dẫn đến việc suy yếu các mối quan hệ xã hội truyền
thống. Điều này gây ra hiện tượng tha hóa, cô lập và bất ổ tâm lý ở cư dân đô thị.[4]
Mật độ dân số cao và sự phân hoá xã hội[4]
Louis Wirth cho rằng các đô thị hiện đại có mật độ dân số rất cao và sự phân hóa rõ rệt về
mặt xã hội, kinh tế và văn hóa. Điều này khiến cuộc sống đô thị trở nên phức tạp và ít mang tính
gắn kết. Mỗi người chỉ đảm nhận một vai trò nhỏ trong xã hội, dẫn đến sự chuyên biệt hóa trong
quan hệ giữa người với người (Wirth, 1938).
Hiện tượng tha hoá và cô lập[4]
Khi các mối quan hệ xã hội trở nên hời hợt, con người trong đô thị dễ rơi vào trạng thái
bị cô lập, cảm thấy lạc lõng và xa lạ ngay giữa đám đông. Wirth dùng cụm từ “urban anonymity”
để mô tả sự vô danh, không còn mối quan hệ thân mật như ở cộng đồng làng xã truyền thống.
Sự tan rã của thiết chế xã hội truyền thống[4]
Đô thị hóa làm xói mòn các thiết chế như gia đình, cộng đồng địa phương hay tôn giáo.
Những ràng buộc xã hội yếu đi, người dân đô thị không còn dựa vào mạng lưới xã hội chặt chẽ
để hỗ trợ lẫn nhau, từ đó phát sinh nhiều vấn đề như bất ổn tâm lý, tội phạm hay vô gia cư.
Cuối cùng, theo Louis Wirth, quá trình đô thị hóa hiện đại không chỉ làm thay đổi cấu
trúc không gian sống mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần và các mối quan hệ xã
hội của con người. Khi các thiết chế truyền thống dần suy yếu, con người dễ cảm thấy cô lập, lạc
lõng ngay giữa lòng đô thị đông đúc, và đó chính là một trong những mặt trái khó tránh khỏi của đời sống đô thị.
2.1.2 Cách tiếp cận[5]
Sinh thái học đô thị: Trường phái Chicago xem đô thị như một hệ sinh thái, nơi các nhóm
dân cư phân bố và tương tác với nhau theo các quy luật tương tự sinh học, như cạnh tranh hay
cộng sinh. Cách tiếp cận này giúp làm rõ các khu vực dân cư hình thành và thay đổi như thế nào theo thời gian.
Cấu trúc xã hội: Nghiên cứu tập trung vào tác động của các dòng di cư, nhập cư và sự
phân tầng xã hội đến tổ chức không gian đô thị. Các yếu tố này định hình sự khác biệt rõ rệt giữa
các nhóm cư dân, ảnh hưởng đến cả cấu trúc lẫn chức năng của từng khu vực trong thành phố.
Phương pháp nghiên cứu: Các nhà xã hội học Chicago chủ trương đi sâu vào đời sống
thực tế của cư dân đô thị thông qua nghiên cứu thực địa, quan sát tham gia và phân tích định 5
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
tính. Phương pháp này giúp họ hiểu sâu sắc hơn về hành vi, lối sống và các vấn đề xã hội trong đô thị.
2.1.3. Đặc điểm xã hội học đô thị theo trường phái Chicago [6]
Trường phái xã hội học Chicago cho rằng đô thị không phải là một cộng đồng thống nhất
mà chứa đựng nhiều tiểu văn hóa, dẫn đến sự phân hóa xã hội rõ rệt. Điều này tạo ra cách biệt
giữa các tầng lớp và khu vực, khiến các cá nhân dễ bị tách rời khỏi các mối quan hệ xã hội
truyền thống và cảm thấy cô lập. Môi trường đô thị hiện đại, với sự đa dạng văn hóa và mật độ
dân số cao, càng làm gia tăng cảm giác tách biệt giữa các cá nhân, mặc dù họ sống trong một
cộng đồng đông đúc[6].
2.1.4. Tác động xã hội của đô thị hoá và hệ thống điều chỉnh xã hội [7]
Hệ quả xã hội do quá trình đô thị hoá
Trường phái Chicago không chỉ xem đô thị là hiện tượng vật lý mà còn phân tích sâu các
rối loạn xã hội tiềm ẩn bên trong. Họ cho rằng quá trình đô thị hóa quá nhanh, thiếu định hướng
có thể làm xói mòn cấu trúc xã hội truyền thống, dẫn đến vô gia cư, tan vỡ gia đình, gia tăng tội
phạm và bất ổn tâm lý. Theo họ, đây là biểu hiện của một hệ thống xã hội thiếu tổ chức, nơi các
mối quan hệ truyền thống dần rạn nứt trước nhịp sống đô thị hiện đại.
Thiết chế xã hội như một cơ chế điều chỉnh
Trong bối cảnh đô thị hóa, khi các quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, các thiết chế như
gia đình, tôn giáo, báo chí và giáo dục giữ vai trò then chốt trong việc duy trì trật tự và điều
chỉnh xung đột xã hội. Chúng là điểm tựa giúp xã hội không mất phương hướng giữa những biến
động của đời sống đô thị.
Gia đình: Được xem là nơi đầu tiên hình thành nhân cách và hành vi của mỗi con người.
Chính trong không gian gần gũi này, các giá trị đạo đức và văn hóa truyền thống được truyền dạy
và nuôi dưỡng, tạo nên nền móng vững chắc cho sự phát triển của xã hội.
Tôn giáo: Góp phần duy trì đời sống tinh thần và lan tỏa những giá trị đạo lý, qua đó xây
dựng sự đồng thuận và gắn kết cộng đồng trong một xã hội đang biến đổi.
Báo chí: Là cầu nối giữa thông tin và công chúng, không chỉ phản ánh thực trạng xã hội
mà còn góp phần định hướng suy nghĩ, tạo dư luận tích cực và duy trì sự ổn định trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng 2.1.5. Kết luận
Trường phái Chicago đã mở ra một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu xã hội học
đô thị, coi đô thị là một hệ sinh thái xã hội với những đặc điểm và quy luật riêng. Họ nhấn mạnh
rằng đô thị hóa nhanh chóng và thiếu định hướng có thể phá vỡ cấu trúc xã hội truyền thống, dẫn
đến hàng loạt vấn đề như vô gia cư, tội phạm, tan vỡ gia đình và bất ổn tâm lý. Thay vì nhìn
nhận các hiện tượng này một cách riêng lẻ, trường phái Chicago xem đó là hệ quả của một xã hội 6
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
đang thiếu tổ chức. Những tư tưởng cốt lõi của họ vẫn giữ nguyên giá trị trong việc phân tích các
vấn đề đô thị hiện đại, góp phần định hình nền tảng lý thuyết cho ngành xã hội học đô thị ngày nay.
2.2. Trào lưu nghiên cứu các cộng đồng trong xã hội học đô thị.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, các thành phố trở thành nơi tập trung dân cư và đa dạng
văn hóa. "Cộng đồng" đô thị vì thế trở thành đối tượng nghiên cứu trọng tâm của xã hội học,
nhằm hiểu cách con người tổ chức đời sống, xây dựng quan hệ và bản sắc trong không gian đô
thị. Trào lưu nghiên cứu này không chỉ mang ý nghĩa học thuật mà còn góp phần định hình chính
sách xã hội đô thị bền vững.
2.2.1. Nguồn gốc và bối cảnh lịch sử
Trào lưu nghiên cứu các cộng đồng đô thị bắt đầu từ Trường phái Chicago vào đầu thế kỷ
20. Robert Park và Ernest Burgess xem đô thị như một hệ sinh thái xã hội, trong đó các nhóm
người chiếm các vùng lân cận trung tâm theo một trật tự nhất định (Park, Burgess & McKenzie,
1925)[8]. Họ xem cộng đồng như một thể chức tự nhiên, giúp duy trì trật tự và hỗ trợ xã hội cho
các cá nhân trong đô thị.
Các nghiên cứu thời kỳ này tập trung vào các khu nhập cư, nhóm thiểu số, người nghèo
đô thị và cách họ duy trì cộng đồng dưới áp lực xã hội và kinh tế. Louis Wirth (1938) cho rằng
đối với đô thị, cộng đồng có xu hướng lỏng lẻ hơn, quan hệ xã hội mỏng hơn và phụ thuộc nhiều
vào vai trò của thiết chế.
2.2.2. Các hướng tiếp cận nghiên cứu cộng đồng
Tiếp cận sinh thái học xã hội
Sinh thái học xã hội coi đô thị như một hệ sinh học với các mối quan hệ giữa các nhóm
người và không gian đô thị. Các nghiên cứu tại Chicago đã cho thấy cách các cộng đồng hình
thành theo quy luật "tự nhiên", thồng qua sự di chuyển, cạnh tranh và phân chia không gian địa lý (Hawley, 1986)[9].
Tiếp cận tương tác và văn hóa-biểu tượng
Trái ngược với sinh thái học, hướng tiếp cận tương tác nhấn mạnh đến cách con người
tạo ra ý nghĩa cho không gian sống và môi trường xã hội của họ. Cộng đồng được hiểu như một
thực tế mang tính tưởng tượng, được duy trì bằng ký ức, giá trị, lối sống và nghi lễ (Anderson,
2006) [10]. Nghiên cứu về các "cộng đồng tưởng tượng" đã mở rộ ra khái niệm cộng đồng không
chỉ giới hạn trong không gian địa lý.
Tiếp cận phê phán và hậu hiện đại.
Các nhà xã hội học phê phán như Castells (1977) hay Harvey nhấn mạnh vai trò của
quyền lực và độc quyền kinh tế trong việc tạo ra các cộng đồng bị thiệt thòi.[11] Các khu nghèo,
các dự án tân quy hoá (gentrification) đã đặt ra vấn đề về quyền được sống trong thành phố và sự 7
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
công bằng xã hội (Harvey, 2008). Trong khi đó, các nhà hậu hiện đại như Bauman (2001) lại đề
cao sự phân mảnh và bất định của cộng đồng hiện đại.[12]
2.3.3 Các hình thức cộng đồng đô thị mới
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghệ số, các cộng đồng đô thị trên khái niệm truyền
thống đang dần được thay thế bằng các hình thức mớ i: cộng đồng ảo, cộng đồng tạm cư, cộng
đồng xuyên quốc gia. Những míi quan hệ không còn giới hạn trong không gian địa lý, mà diễn ra
trên nền tảng mạng, thông qua các thế giới ảo (Wellman & Gulia, 1999)[13]. Tuy nhiên, câu hỏi
đặt ra là liệu những cộng đồng ảo đó có thay thế được sự gắn kết và hỗ trợ xã hội mà các cộng
đồng trực diện mang lại hay không. II.
Giới thiệu vấn đề đô thị hóa
1. Khái niệm, bản chất đô thị hóa
Theo tài liệu Nhập môn Xã hội học, đô thị hóa được mô tả như một quá trình mà trong đó
sự tăng trưởng nhanh về kinh tế kéo theo sự phát triển quy mô dân số, mật độ dân số và cấu trúc
xã hội mới (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006)[13]. Đây không đơn thuần là sự mở rộng không gian đô
thị, mà là một tiến trình phức tạp có tác động đến nhiều mặt như nghề nghiệp, môi trường, lối
sống, văn hóa và kỹ thuật (trang 252).[13]
2. Ba chiều hướng của đô thị hóa.
Đô thị hóa theo chiều rộng: Gắn với việc tăng quy mô dân số, diện tích đất đô
thị, số lượng đô thị trong một quốc gia, đây là hình thức mở rộng vật lý không
gian đô thị nhằm đáp ứng nhu cầu dân cư và kinh tế.
Đô thị hóa theo chiều sâu: Là sự biến đổi về chất lượng sống, lối sống, quan hệ
cộng đồng và mức độ tổ chức xã hội ở đô thị, phản ánh mức độ phát triển nội tại của các thành phố.
Kết hợp giữa đô thị hóa theo chiều rộng và chiều sâu: Được coi là hướng phát
triển toàn diện, bền vững, nhằm giải quyết đồng thời các vấn đề về dân số, hạ tầng
và chất lượng sống (trang 252–253)[13]
3. Các yếu tố thúc đẩy đô thị hóa.
3.1.Công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và dịch vụ tại các đô thị đã tạo ra nhiều cơ hội
việc làm, thu hút lao động từ nông thôn lên thành thị. Đây là một trong những nguyên nhân chính
thúc đẩy quá trình đô thị hóa tại Việt Nam. Khi các khu công nghiệp, khu chế xuất và trung tâm
thương mại được hình thành, nhu cầu về nguồn nhân lực ngày càng tăng, tạo nên một dòng di cư
từ nông thôn ra thành thị nhằm tìm kiếm việc làm và cải thiện mức sống (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006, tr. 250–251).[13]
3.2. Di cư từ nông thôn lên thành thị 8
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
Thiếu việc làm ổn định, cơ sở hạ tầng hạn chế và điều kiện sống khó khăn ở nông thôn
khiến nhiều người dân buộc phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm cơ hội mới tại các thành phố lớn.
Đây là xu hướng phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia đang phát triển khác.
Sự dịch chuyển này làm gia tăng nhanh dân số đô thị, từ đó đặt ra nhiều thách thức về quy hoạch
và cung ứng dịch vụ công (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006, tr. 252).[13]
3.3. Gia tăng dân số tự nhiên
Tại các khu vực đô thị, tỷ lệ sinh vẫn cao hơn tỷ lệ tử vong, đặc biệt trong các giai đoạn
bùng nổ dân số. Điều này góp phần làm tăng nhanh dân số đô thị, từ đó đòi hỏi sự mở rộng cơ sở
hạ tầng, nhà ở và các dịch vụ xã hội. Quá trình này gián tiếp thúc đẩy đô thị hóa theo chiều rộng
(Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006, tr. 252).[13]
3.4. Chính sách phát triển đô thị
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ và định hướng phát triển
đô thị một cách bền vững. Một trong những chính sách nổi bật là Nghị quyết số 06-NQ/TW
(2022) về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết này nhấn mạnh mục tiêu hình thành hệ thống đô thị thông
minh, có khả năng kết nối khu vực và quốc tế, qua đó thúc đẩy nhanh tốc độ và chất lượng đô thị
hóa (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022).[14]
3.5. Tác động của thiên tai và môi trường
Nông thôn Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, nhưng hoạt động này ngày càng
gặp khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu. Hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn và
sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên đã làm giảm chất lượng cuộc sống ở nhiều vùng nông thôn.
Hệ quả là nhiều người dân lựa chọn rời bỏ quê hương để đến các đô thị, nơi họ hy vọng tìm được
môi trường sống và làm việc ổn định hơn (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006, tr. 251–253).[13] 4. Kết luận
Tựu chung lại đô thị hóa là một tiến trình phức tạp và chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố
khác nhau, bao gồm kinh tế, xã hội, chính sách và môi trường. Tại Việt Nam, công nghiệp hóa,
di cư, gia tăng dân số, chính sách đô thị và tác động của biến đổi khí hậu đều góp phần quan
trọng thúc đẩy đô thị hóa. Việc hiểu rõ những yếu tố này là điều kiện cần thiết để xây dựng chiến
lược phát triển đô thị bền vững trong tương lai. III.
Tác động của đô thị hóa đến với xã hội.
1. Tác động tích cực.
1.1. Cơ hội việc làm và phát triển kinh tế:
1.1.1. Gia tăng cơ hội việc làm.
Quá trình đô thị hoá trong những năm gần đây đã mang lại nhiều tác động tích cực trên
nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội. Trước hết, đô thị hoá đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình gia tăng cơ 9
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
hội làm cho người lao động. Đô thị hóa thu hút dân cư từ nông thôn lên thành phố, mở rộng thị
trường lao động và tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, công
nghệ thông tin, tài chính, du lịch...[16] . Sự xuất hiện của các tập đoàn doanh nghiệp lớn tại đô thị
đã tạo ra hàng chục ngàn cơ hội việc làm cho người lao động. Cụ thể vào năm 2020, tập đoàn
FPT – một trong những tập đoàn công nghệ hàng đầu Việt Nam đã đứng thứ 2 trên danh sách
500 nhà tuyển dụng hàng đầu cả nước[17] . Từ đó cho thấy số cơ hội việc làm mà các tập đoàn
doanh nghiệp đã tạo ra cho người lao động trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. 1.1.2.
Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
Với sự phát triển của công nghệ, quá trình sản xuất trở nên hiệu quả hơn, từ đó đẩy nhanh
tốc độ sản xuất và tăng tốc độ phát triển kinh tế. Trong vòng 10 năm qua, tốc độ phát triển đô thị
ở Việt Nam đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giúp đạt được nhiều mục tiêu phát triển[18].
1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.
Đô thị hoá góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông, lâm nghiệp sang công
nghiệp, xây dựng, dịch vụ, nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế nhờ ứng dụng công nghệ[19]
Theo báo cáo số liệu Tỷ trọng nhóm ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP có xu
hướng giảm xuống, từ 24,53% năm 2000 còn 11,88% vào năm 2022 (bình quân giảm 0,73%/
năm). Trái lại, Tỷ trọng nhóm ngành Công nghiệp và xây dựng có xu hướng tăng mạnh nhất, từ
mức 36,73% năm 2000 lên mức 38,26% vào năm 2022 (bình quân tăng 0,26%/năm)[20]
1.1.4. Thu hút đầu tư, thúc đẩy sản xuất và gia tăng thu nhập cho người dân.
Cuối cùng, đô thị hóa tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước,
đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Ví dụ, chỉ trong quý I năm 2024, Hà Nội đã
thu hút 946,8 triệu USD vốn FDI – tăng gần 500% so với cùng kỳ năm 2023, dẫn đầu cả nước
trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài (Đại Đoàn Kết, 2024). Những dòng vốn này không
chỉ tạo ra việc làm mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế[21]
1.2. Nâng cao mức sống và tiếp cận dịch vụ công:
1.2.1. Phát triển cơ sở hạ tầng:
Bên cạnh việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đô thị hóa còn kéo theo việc cải thiện đáng kể cơ sở
hạ tầng và dịch vụ công cộng như giao thông, y tế, giáo dục,... góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống. TP HCM đã giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông bằng cách phát triển tuyến Metro số
1 tại TP. Hồ Chí Minh, tuyến metro số 1 dự kiến vận hành 220 chuyến mỗi ngày, phục vụ hơn
80.000 hành khách. Điều này đồng nghĩa với việc giảm đáng kể số lượng phương tiện cá nhân
trên đường phố, góp phần giảm ùn tắc giao thông[22]. Về vấn đề giáo dục, nhiều trường ở các
thành phố lớn triển khai học trực tuyến, giáo án điện tử, bảng thông minh giúp học sinh tiếp cận
kiến thức hiện đại hơn. Sự cải thiện về y tế được thể hiện trong việc bệnh viện ở các TP lớn trang 10
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
bị đầy đủ thiết bị máy móc như Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) và Bệnh viện Chợ Rẫy
(TP.HCM) có hệ thống máy chụp MRI, CT-scan, robot phẫu thuật, giúp chẩn đoán và điều trị
bệnh nhanh chóng, đặc biệt trong các ca cấp cứu tim mạch, chấn thương sọ não[23].
1.2.2. Đa dạng văn hóa và lối sống hiện đại.
Quá trình đô thị hóa đã có tác động mạnh mẽ đến việc di dân từ những vùng, khu vực
khác nhau đến các thành phố lớn. Từ đó tạo ra sự đa dạng văn hóa của các vùng miền và sự phát
triển ngày nay đã tạo nên lối sống hiện đại. Quá trình đô thị hóa đã thu hút những người nước
ngoài đến Việt Nam để khởi nghiệp, từ đó có sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia với Việt
Nam[24]. Như ở TP.HCM, khu phố Nhật Bản và khu phố Hàn Quốc thu hút nhiều người nước
ngoài sinh sống, giúp người dân Việt Nam dễ dàng trải nghiệm văn hóa ẩm thực, ngôn ngữ của các nước khác[25].
1.2.3. Tiếp thu lối sống hiện đại.
Đô thị hóa giúp người dân dễ dàng tiếp cận với công nghệ, thời trang, giải trí, ẩm thực và
phong cách sống hiện đại từ nhiều nước trên thế giới. Các phương tiện truyền thông, mạng xã hội
đã giúp giới trẻ cập nhật nhanh chóng hơn về xu hướng toàn cầu. Theo nghiên cứu của một bài
báo quốc tế Thị trường dịch vụ ăn uống Việt Nam được định giá 22,23 tỷ USD vào năm 2024 và
dự kiến đạt 26,89 tỷ USD vào năm 2030, phản ánh sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng và sự
phổ biến của các chuỗi thức ăn nhanh như McDonald’s và KFC[26].
1.2.4. Xu hướng làm việc từ xa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và chuyển đổi số, làm việc từ xa trở thành xu hướng phổ biến.
Các thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội đang chứng kiến sự gia tăng nhu cầu không gian làm
việc linh hoạt. Một số doanh nghiệp tiêu biểu đã áp dụng hình thức này có thể kể đến WeWork,
UpGen, Toong… Các nhân sự trẻ đang dần ưa chuộng hình thức làm việc này vì nó giúp ích
trong việc tiết kiệm thời gian di chuyển[27]. 1.3. Kết luận
Nhìn chung, đô thị hoá không chỉ đóng vai trò là động lực phát triển kinh tế, thúc đẩy quá
trình tăng trưởng kinh tế, tạo nên hàng ngàn cơ hội việc làm cho người lao động, mà còn góp
phần hình thành nên một xã hội văn minh, hiện đại với chất lượng sống ngày càng được cải thiện
thông qua việc phát triển đổi mới khoa học công nghệ và cải tiến các dịch vụ công. Những lợi
ích mà đô thị hoá mang lại chính là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội.
2. Tác động tiêu cực
Mặc dù đô thị hóa đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, mở rộng cơ hội việc
làm và hiện đại hóa hạ tầng, quá trình này cũng kéo theo nhiều hệ quả tiêu cực. Những tác động
bất lợi không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà còn làm biến đổi sâu sắc cấu trúc xã hội và
chất lượng sống của người dân đô thị. 11
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
2.1. Di dân và áp lực dân số
Quá trình đô thị hoá làm gia tăng người di cư từ nông thôn lên thành thị để tìm kiếm cơ hội việc
làm và cuộc sống tốt hơn. Tuy nhiên, gia tăng dân số quá nhanh lại tạo áp lực lên hạ tầng đô thị,
kinh tế và chất lượng sống của người dân. [28]
2.1.1. Khó khăn trong việc làm, gia tăng thất nghiệp
Nhiều người di cư từ nông thôn lên thành phố với hy vọng tìm việc làm, nhưng thị trường
lao động không thể đáp ứng đủ, dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc làm việc trong điều kiện thiếu ổn định. [29]
Ví dụ: Theo Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của người di cư cao hơn
so với người không di cư (2,53% so với 2,01%). Đặc biệt, nữ giới di cư có tỷ lệ thất nghiệp cao
hơn nam giới, lần lượt là 2,82% và 2,20%. Trong số những người di cư đang thất nghiệp, 69,7%
là những người di cư tới thành thị. [30]
2.1.2. Thiếu nhà ở và gia tăng các khu nhà trọ tạm bợ.
Do trong quá trình đô thị hoá đồng nghĩa với việc bùng nổ dân số, dẫn đến tình trạng
người đông mà không có nhà để ở. Việc đó sẽ làm tăng giá nhà đất ở thành phố, dẫn đến việc
nhiều người lao động phải sống trong các khu nhà trọ chật chội, thiếu tiện nghi.
Ví dụ: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, trong tổng số 1,5 triệu lao động
đang làm việc tại các khu công nghiệp, trung bình có 60% là người ngoại tỉnh và hầu hết trong số
họ đều có nhu cầu nhà ở. Tuy nhiên, do thiếu hụt nhà ở xã hội, nhiều công nhân phải thuê trọ tại
các khu nhà tạm bợ, không đảm bảo điều kiện sống. [31]
2.2. Áp lực hạ tầng và ảnh hưởng chất lượng đô thị, môi trường sống.
Dân số tăng nhanh khiến hệ thống giao thông, y tế, giáo dục và dịch vụ công cộng
không theo kịp, làm giảm chất lượng sống và gây ô nhiễm môi trường.
2.2.1. Giao thông quá tải và ùn tắc nghiêm trọng
Quá trình đô thị hóa không đồng bộ với phát triển hạ tầng giao thông đã dẫn đến tình
trạng ùn tắc nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân.
Ví dụ: Theo Bộ Xây dựng, năm 2001, Hà Nội có gần 1 triệu xe máy và hơn 100.000 ô tô.
Đến cuối năm 2007, con số này đã tăng gấp đôi, với khoảng 1,9 triệu xe máy và 200.000 ô tô.
Tốc độ phát triển của các phương tiện giao thông trong giai đoạn này là 12%/năm đối với ô tô và
15%/năm đối với xe máy. Sự gia tăng nhanh chóng này gây áp lực lớn lên hệ thống giao thông đô thị. [32] 12
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
2.2.2. Ô nhiễm môi trường
Bùng nổ dân số trong quá trình đô thị hoá ngày nay càng làm suy giảm đến chất lượng
môi trường, cùng với sự mọc lên nhanh chóng của các công trình nhà máy và khí thải từ các phương tiện giao thông.
Ví dụ: Báo cáo môi trường quốc gia 2016-2020 cho thấy nồng độ bụi PM 2.5 trung bình
hằng năm tại Hà Nội vượt gần hai lần quy chuẩn quốc gia, với 30,5% số ngày trong năm 2019 có
chỉ số AQI ở mức kém và xấu. Thành phố xác định 5 nguồn chính gây ô nhiễm không khí, bao
gồm giao thông, công nghiệp, dân sinh, đốt sinh khối và nông nghiệp, trong đó giao thông là
nguồn phát thải lớn nhất. [33]
2.3. Biến đổi các giá trị gia đình và quan hệ xã hội.
Đô thị hóa làm thay đổi cấu trúc gia đình và quan hệ xã hội, khi con người phải thích
nghi với nhịp sống nhanh, áp lực kinh tế lớn hơn.
2.3.1. Gia đình hạt nhân thay thế gia đình truyền thống
Ở thành phố, các gia đình nhỏ (bố mẹ, con cái) dần thay thế mô hình gia đình nhiều
thế hệ. Điều này khiến sự gắn kết giữa các thế hệ suy giảm.
Ví dụ: Theo Tạp chí Cộng sản, gia đình Việt Nam đang có xu hướng hạt nhân hóa,
giảm dần về quy mô, đặc biệt ở khu vực đô thị. Năm 2009, trung bình có 3,66 người/hộ, trong đó
đô thị là 3,78 người/hộ và nông thôn là 3,84 người/hộ. Đến năm 2019, quy mô giảm xuống còn
3,6 người/hộ (chung), 3,4 người/hộ (đô thị) và 3,6 người/hộ (nông thôn). Sự thu nhỏ quy mô gia
đình này giúp các cặp vợ chồng trẻ có không gian riêng tư và tự chủ hơn trong cuộc sống, nhưng
đồng thời làm suy giảm mối quan hệ gắn bó giữa các thế hệ trong gia đình. [34]
*Gia đình hạt nhân: loại hình gia đình gồm bố, mẹ bà con cái sống chung trong một căn
nhà hoặc cùng một không gian sinh hoạt. Trong loại hình gia đình này không có những thành
viên khác như ông bà, chú bác, hay anh chị em của bố mẹ sống chung trong một nhà.
2.3.2. Tình trạng cha mẹ đi làm xa, con cái thiếu sự quan tâm
Trẻ em không nhận được sự quan tâm đầy đủ về mặt tinh thần, thiếu sự giáo dục và
kỉ luật từ cha mẹ dẫn đến trẻ mất cân bằng định hướng tương lai và gia tăng tình trạng “trẻ em bỏ học, lao động sớm”.
Ví dụ: Tại xã Đô Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An; trẻ em phải sống xa cha mẹ và
sự tự lập từ nhỏ, không được quan tâm sát xao về học tập, giáo dục đạo đức, sức khoẻ tinh thần,
tâm lý bất ổn dẫn đến tình trạng một số thanh thiếu niên bỏ học từ lớp 9 để đi làm.
2.3.3 Quan hệ hàng xóm lỏng lẻo, tình làng nghĩa xóm mai một
Ở đô thị, người dân có xu hướng sống khép kín để bảo vệ quyền riêng tư, không
muốn chia sẻ thông tin cá nhân và tình trạng “sống gần nhau, nhưng không biết mặt nhau” ở các khu chung cư. 13
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
Ví dụ: Nhiều cư dân chỉ chào nhau xã giao trong thang máy, ít khi giao tiếp hay giúp
đỡ nhau khi gặp khó khăn. Một số trường hợp xảy ra sự cố như trộm cắp nhưng hàng xóm không
quan tâm hoặc ngại can thiệp (do người ta sợ bị liên lụy đến những tình huống có liên quan ví dụ
đến xã hội đen, giang hồ,…)
2.4. Tội phạm và các vấn đề an sinh xã hội.
Tốc độ đô thị hóa nhanh kéo theo sự gia tăng các vấn đề xã hội như tội phạm, trộm
cắp, ma túy, bạo lực và bất bình đẳng xã hội.
2.4.1. Gia tăng trộm cắp, cướp giật và tội phạm ma tuý
Ví dụ: Khu vực đông dân nhập cư như quận Bình Chánh (TP.HCM) thường xảy ra
tình trạng trộm cắp tài sản, do nhiều người lao động nghèo không có việc làm ổn định (sự thiếu
thốn dồn họ vào bước đường cùng, đi đến con đường trộm cắp).
*Năm 2021, trên địa bàn thành phố xảy ra 2.452 vụ trộm cắp trong tổng số 3.971 vụ
phạm pháp hình sự (chiếm 61,75%). Năm 2022, con số này tăng lên 2.816 vụ trộm cắp trong
tổng số 4.266 vụ phạm pháp hình sự (chiếm 74,33%). [35]
2.4.2. Sự bất bình đẳng giữa người giàu và nghèo
Khi các thành phố phát triển nhanh, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Người
giàu có điều kiện sống tốt, trong khi người nghèo phải vật lộn với cuộc sống khó khăn.
Ví dụ: Theo Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ thu nhập giữa
nhóm 20% dân số giàu nhất và nhóm 20% dân số nghèo nhất có xu hướng giảm nhẹ, từ 9,3 lần
năm 2012 xuống còn 8,07 lần vào năm 2020. Tuy nhiên, mức chênh lệch này vẫn còn cao, cho
thấy sự phân hóa giàu nghèo đáng kể trong xã hội. [36]
2.4.3. Thiếu chính sách an sinh xã hội cho lao động nhập cư
Nhiều người lao động di cư không được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội.
Ví dụ: Nhiều lao động nhập cư không được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm
xã hội và y tế. Chẳng hạn, có tới 76,5% lao động di cư trong khu vực phi chính thức chưa tham
gia bảo hiểm y tế, và 71% không tiếp cận được dịch vụ y tế công, điều này ảnh hưởng đến khả
năng chăm sóc sức khỏe và bảo vệ bản thân trước các rủi ro về sức khỏe. [37] 2.5. Tâm lý
Đô thị hoá ảnh hưởng đến tâm lý do môi trường sống ô nhiễm, tiếng ồn và không gian
chật chội gây căng thẳng. Mối quan hệ cộng đồng giảm sút, khiến nhiều người cảm thấy cô đơn
và cô lập. Các áp lực công việc, học hành và tài chính cũng làm gia tăng stress. Sự phân hóa giàu
nghèo trong đô thị tạo cảm giác thất vọng, trong khi thiếu không gian xanh khiến người dân khó
thư giãn và giảm căng thẳng. [38] 14
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
Ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của người dân, bao gồm:
2.5.1. Cảm giác cô đơn và cô lập
Sự giảm sút các mối quan hệ cộng đồng truyền thống khiến nhiều người cảm thấy
thiếu kết nối xã hội.
Ví dụ: Tại TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự
pha trộn giữa văn hóa đô thị và nông thôn, làm thay đổi lối sống và hành vi ứng xử của người
dân. Sự đa dạng về thành phần dân cư và sự giao thoa văn hóa có thể khiến một số người cảm
thấy mất đi sự gắn kết cộng đồng truyền thống, dẫn đến cảm giác cô đơn và cô lập xã hội. [39]
2.5.2. Stress và lo âu
Tiếng ồn, ô nhiễm, và tắc nghẽn giao thông trong đô thị làm gia tăng căng thẳng và
lo âu. Chẳng hạn tại Hà Nội, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã làm gia tăng giá trị đất đai và
bất động sản, gây áp lực lên nhu cầu không gian sống và việc làm. Điều này dẫn đến việc phá bỏ
nhiều công trình di sản để xây dựng các khu ở cao tầng mới, gây mất mát về văn hóa và lịch sử,
đồng thời tạo ra căng thẳng và lo âu cho người dân về việc mất đi bản sắc và không gian sống quen thuộc.
2.5.3. Gia tăng bệnh lý tâm thần.
Cư dân đô thị có nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu do căng thẳng và thiếu hỗ trợ cộng đồng.
Ví dụ: Cư dân đô thị có nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu do căng thẳng và thiếu hỗ trợ cộng
đồng. Nghiên cứu tại Thái Nguyên cho thấy, tỷ lệ trầm cảm ở người dân từ 18 đến 65 tuổi là
36,9%, trong đó các yếu tố như áp lực công việc, môi trường sống và thiếu không gian xanh góp
phần làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh. [40] 2.6. Kết luận
Đô thị hóa thúc đẩy phát triển kinh tế và hạ tầng, nhưng cũng gây áp lực lên nhà ở, việc
làm và dịch vụ công. Hệ quả là thất nghiệp, ô nhiễm, suy giảm chất lượng sống, cùng với sự thay
đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng và gia tăng bất bình đẳng xã hội.
3 Đô thị hóa ở Việt Nam.
Nói tóm lại, đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, mang lại nhiều cơ hội phát
triển nhưng đồng thời cũng tạo ra những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội và văn hóa. Sự
gia tăng tầng lớp trung lưu, cùng với sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt giữa các khu vực trung tâm
và ngoại thành ở các đô thị lớn như Hà Nội hay TP.HCM, đã đặt ra vấn đề bất bình đẳng trong
tiếp cận các dịch vụ thiết yếu như y tế, giáo dục và việc làm[41].
Sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ công nghệ như Grab, Shopee, Lazada... cũng
làm thay đổi thói quen sinh hoạt và lối sống người dân, từ mua sắm, giải trí đến di chuyển
[42] .Song song đó, truyền thông hiện đại và mạng xã hội khiến con người dễ tiếp nhận những xu
hướng mới, nhưng cũng dễ xa rời các giá trị truyền thống[43] 15
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
Bên cạnh những thay đổi tích cực, đô thị hóa cũng kéo theo nhiều vấn đề xã hội như thiếu
nhà ở, đặc biệt cho người thu nhập thấp – hiện có hơn 3 triệu người đô thị chưa có chỗ ở ổn định
(Báo Pháp Luật). Một số địa phương còn đối mặt với gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình đẳng
trong việc tham gia vào các quyết định công cộng của nhóm yếu thế (Báo An Giang, Báo Phụ nữ Thủ đô).
Về hạ tầng, Việt Nam đã đạt tỷ lệ đô thị hóa khoảng 42,7% và dự kiến sẽ lên đến 70%
vào năm 2050 (Tuổi Trẻ)[45] 47. Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng hệ thống metro,
phát triển nhà ở xã hội và xử lý rác thải đô thị (Môi Trường)[46] . Đồng thời, chiến lược quy hoạch
4 vùng đô thị lớn (Vùng đô thị Hà Nội, vùng đô thị TP. Hồ Chí Minh, vùng đô thị miền Trung và
vùng đô thị Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long) cũng đang được triển khai để đảm bảo
phát triển bền vững và cân bằng giữa các vùng miền (VnEconomy)[47] .
Đô thị hóa là quá trình không thể đảo ngược, nhưng cần được định hướng hợp lý để
không chỉ phát triển hạ tầng mà còn nâng cao chất lượng sống và gìn giữ bản sắc văn hóa cho
người dân đô thị Việt Nam.
3.1. Đô thị hoá ở nông thôn:
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và công nghiệp hoá, đô thị hóa không còn là quá trình diễn
ra riêng biệt tại các thành phố lớn mà đang lan rộng tới các vùng nông thôn. Quá trình đô thị hoá
ở nông thôn là sự chuyển đổi từ mô hình nông thôn truyền thống sang mô hình có nhiều đặc
điểm của đô thị, đã và đang làm thay đổi sâu sắc diện mạo kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam.
Tuy nhiên, song hành với những cơ hội phát triển, quá trình này cũng bộc lộ nhiều thách thức về
quản lý, văn hóa và môi trường. Theo Tổng cục Thống kê (2022), tỷ lệ đô thị hóa tại Việt Nam
đạt khoảng 41%, với xu hướng ngày càng có nhiều xã nông thôn được công nhận là “xã nông
thôn mới nâng cao” – phản ánh mức độ hiện đại hóa hạ tầng và dịch vụ tương đương các đô thị
nhỏ.[48] Một số thành tựu nổi bật như:
3.1.1. Xây dựng nông thôn mới (NTM):
Đến cuối năm 2024, khoảng 78,7% số xã trên cả nước đạt chuẩn NTM, trong đó có
2.225 xã đạt chuẩn NTM nâng cao và 532 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu. Bình quân mỗi xã đạt
17,5 tiêu chí, tăng 0,6 tiêu chí so với năm trước.[49]
3.1.2. Phát triển hạ tầng nông thôn:
Hệ thống thủy lợi, phòng chống thiên tai, ngăn mặn, chống sạt lở, sụt lún, và các công
trình phục vụ sản xuất nông nghiệp được đầu tư nâng cấp, giúp tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu.[50]
3.1.3. Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn:
Quyết định 891/QĐ-TTg năm 2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn
thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm phát triển các khu dân cư nông thôn ven đô,
hình thành các điểm dân cư tập trung nông thôn xanh, sinh thái.[51]
3.1.4. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP): 16
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
Cả nước có hơn 14.642 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, với 73,2% đạt 3 sao,
23,5% đạt 4 sao và 51 sản phẩm đạt 5 sao.[52]
Đô thị hóa ở nông thôn Việt Nam là một xu hướng tất yếu trong tiến trình hiện đại hoá
đất nước. Tuy nhiên, quá trình này chỉ thật sự mang lại lợi ích lâu dài nếu được định hướng
đúng đắn, có sự phối hợp giữa nhà nước và người dân, và đi kèm với các chính sách bảo vệ môi
trường, giữ gìn văn hóa và đảm bảo công bằng xã hội. 3.
Giải pháp phát triển đô thị bền vững.
1. Thúc đẩy thực hiện các chương trình, đề án của Chính phủ
Một trong những giải pháp quan trọng để hướng đến phát triển đô thị bền vững là đẩy
mạnh việc thực hiện các chương trình, đề án do Chính phủ phê duyệt. Trong thời gian qua, Chính
phủ Việt Nam đã ban hành nhiều đề án có tầm chiến lược, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đổi
mới tư duy phát triển và nâng cao năng lực quản lý đô thị. Các chính sách về phân bổ đất đai hợp
lý, định giá bất động sản minh bạch, phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, cũng như cải
thiện điều kiện sống cho người dân được xác định là những mục tiêu cốt lõi. Đặc biệt, đề án
“Phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2013–2020” đã đặt nền móng quan
trọng cho việc tích hợp yếu tố môi trường và khả năng thích ứng vào trong quy hoạch và quản lý
đô thị. Việc triển khai chặt chẽ các nội dung của đề án này sẽ giúp các đô thị nâng cao khả năng
chống chịu trước thiên tai, nước biển dâng và các tác động khác của biến đổi khí hậu
Thực tế, nhiều địa phương đã chủ động thực hiện các chương trình cụ thể. Chẳng hạn,
Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện chương trình "Xây dựng đô thị thông minh 2020 -
2030", tập trung vào công nghệ như quản lý giao thông, dữ liệu số hóa và điều hành đô thị thông
minh.[48] Bên cạnh đó, đề án "Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến
đổi khí hậu" cũng là một điển hình cho nỗ lực bảo vệ hệ thống đô thị ven biển khỏi nguy cơ
nước biển dâng, góp phần duy trì ổn định môi trường sống cho hàng triệu người dân trong khu vực.[49]
2. Đổi mới công nghệ, quy trình và tăng cường hợp tác
Các đô thị cần ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển bền
vững và cải thiện chất lượng sống. Đồng thời, cải cách thủ tục hành chính và thu hút đầu tư theo
mô hình đối tác công – tư (PPP-Public- Private Partnership) nhằm phát triển hạ tầng đồng bộ.
Chính quyền đô thị cũng cần có đội ngũ đủ năng lực để thực thi hiệu quả các chính sách phát triển..
Ví dụ: Hà Nội triển khai hệ thống
camera giao thông thông minh giúp quản lý và điều tiết
giao thông tự động.[50] TP.
Đà Nẵng ứng dụng công nghệ AI trong quản lý hệ thống cấp thoát
nước để giảm tình trạng ngập úng đô thị.[51]
3. Kiểm soát quy hoạch và quá trình đô thị hoá
Quy hoạch cần phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, có tầm nhìn dài hạn và tính khả thi.
Việc điều chỉnh quy hoạch phải được kiểm soát chặt chẽ, tăng cường thanh tra, xử lý vi phạm để 17
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
bảo đảm tính đồng bộ. Đô thị hóa phải gắn với phát triển hạ tầng giao thông và tiện ích công cộng.
Ví dụ: Khu đô thị Phú Mỹ Hưng (TP.HCM) được quy hoạch đồng bộ, có hệ thống đường sá,
cây xanh và hạ tầng hiện đại.[52] Ngược lại, nhiều khu đô thị ở Hà Nội như Linh Đàm bị điều
chỉnh quy hoạch liên tục, dẫn đến tình trạng mật độ dân cư cao, thiếu không gian xanh.[53]
4. Nâng cao chất lượng đô thị, quản lý đất đai hiệu quả
Để nâng cao chất lượng đô thị và quản lý đất đai hiệu quả, cần kiểm soát chặt chẽ việc
điều chỉnh quy hoạch nhằm tránh tình trạng quy hoạch “treo” hoặc các dự án bị bỏ hoang, gây
lãng phí tài nguyên. Nghị định 11/2013/NĐ-CP của Chính phủ đã đặt ra yêu cầu lập khu vực
phát triển đô thị để làm cơ sở đầu tư, từ đó giúp đảm bảo tính đồng bộ và minh bạch trong triển
khai các dự án. Việc thành lập các Ban quản lý khu vực phát triển đô thị cũng là giải pháp cần
thiết nhằm giám sát tiến độ, chất lượng cũng như quá trình thực hiện dự án.
Chẳng hạn, dự án khu đô thị Thủ Thiêm (TP.HCM) được quy hoạch bài bản nhưng
vướng mắc về quản lý đất đai khiến việc phát triển bị chậm trễ. [54] Ngược lại, khu đô thị
Ecopark (Hưng Yên) là mô hình thành công, phát triển đô thị bền vững, có nhiều không gian
xanh và cơ sở hạ tầng đồng bộ.[55]
5. Phát triển các đô thị hạt nhân cốt lõi cấp vùng
Đô thị hóa cần được thực hiện có quy hoạch, tránh tình trạng tự phát. Phát triển các đô thị
hạt nhân cấp vùng là định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và giảm tải
cho các đô thị lớn. Các đô thị hạt nhân cần gắn với trung tâm công nghiệp quốc gia để thu hút lao
động, tạo động lực lan tỏa ra các khu vực lân cận. Bên cạnh đó, việc mở rộng hệ thống giao
thông kết nối như tàu điện ngầm, đường sắt tốc độ cao hay xe buýt nhanh sẽ góp phần giảm áp
lực giao thông và dân cư cho các thành phố trung tâm. Quá trình đô thị hóa cần đi kèm với quy
hoạch rõ ràng, tránh tình trạng phát triển tự phát, thiếu đồng bộ.
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai) phát triển đô thị
hạt nhân để giảm tải áp lực cho TP.HCM và tạo sự liên kết vùng hiệu quả.[56] Còn Hà Nội mở
rộng khu đô thị vệ tinh như Hòa Lạc, Sơn Tây để giãn dân và phát triển đồng đều.[57]
6. Mở rộng đô thị và tăng tỷ lệ đô thị hóa dựa trên phát triển dân số lành mạnh
Việc mở rộng đô thị và tăng tỷ lệ đô thị hóa cần được thực hiện song song với phát triển
dân số lành mạnh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Quá trình đô thị hóa không chỉ tập trung
vào mở rộng diện tích mà còn phải đảm bảo ổn định dân cư ở cả đô thị và nông thôn. Một trong
những giải pháp quan trọng là xây dựng nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, đồng thời cải
tạo và nâng cấp hạ tầng đô thị một cách đồng bộ. Ngoài ra, cần chú trọng quy hoạch các không
gian công cộng, phát triển cây xanh và mặt nước để tạo môi trường sống trong lành, bền vững.
Tiêu biểu như chương trình phát triển nhà ở xã hội tại Bình Dương, giúp công nhân,
người lao động có nơi ở ổn định.[58] Hay dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè (TP.HCM) 18
ĐÔ THỊ HÓA GẮN VỚI XÃ HỘI HỌC, VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM
giúp nâng cao chất lượng sống của người dân.[59]
7. Lập quy hoạch bảo vệ môi trường
Lập quy hoạch đô thị cần gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi trường, trong đó việc quản lý
tài nguyên nước, kiểm soát chất thải và giảm phát thải khí nhà kính là những nội dung cốt lõi. Để
đạt được điều này, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến môi trường, đồng thời thúc
đẩy các mô hình tăng trưởng xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Việc phân loại rác
tại nguồn, giảm khí CO2 và tái chế chất thải cần được triển khai đồng bộ trong các khu đô thị.
Ví dụ: TP.HCM áp dụng mô hình phân loại rác tại nguồn, giảm ô nhiễm và tăng khả năng tái chế.[60] Hà
Nội triển khai hệ thống xe buýt điện Vinbus, giảm khí thải và phát triển giao thông xanh.[61]
8. Phát triển giao thông đô thị và tăng cường giao thông công cộng
Phát triển hệ thống giao thông bền vững là yếu tố then chốt trong quá trình đô thị hóa.
Việc đầu tư vào các phương tiện giao thông công cộng hiện đại như metro, xe buýt nhanh không
chỉ giúp giảm ùn tắc mà còn góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống. Bên cạnh
đó, ứng dụng công nghệ thông minh vào quản lý giao thông cũng cần được đẩy mạnh nhằm tối
ưu hóa vận hành và điều tiết lưu lượng phương tiện.
Dự án Metro Hà Nội và TP.HCM giúp giảm tình trạng ùn tắc, khuyến khích người dân sử
dụng giao thông công cộng.[62] Ngoài
ra ứng dụng MyGo, BeBike hỗ trợ xe công nghệ giúp giảm
áp lực lên giao thông cá nhân.
Những giải pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng sống của cư dân đô thị mà còn
đóng góp và việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường tại các đô thị Việt
Nam. Việc áp dụng các chiến lược phát triển đô thị bền vững sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc
cho tương lai của thành phố, đồng thời đảm bảo sự phát triển hài hoà và bền vững cho cộng đồng.
V. Định hướng phát triển đô thị bền vững
1. Ứng dụng phương pháp quy hoạch chiến lược hợp nhất:
Phương pháp quy hoạch chiến lược hợp nhất giúp đảm bảo sự thống nhất giữa các quy
hoạch từ trung ương đến địa phương, tạo ra một hệ thống phát triển đô thị đồng bộ và hiệu quả.
Dựa trên Quyết định 153/2004/QĐ-TTg về phát triển bền vững, phương pháp này đặc biệt chú
trọng đến tính dài hạn và bền vững, thay vì chỉ tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn hoặc cục
bộ. Điều này giúp tránh sự chồng chéo trong quy hoạch giữa các ngành và các cấp quản lý.
Định hướng: Xây dựng khung chính sách chung cho đô thị bền vững. Kết hợp nhiều lĩnh
vực như giao thông, môi trường, kinh tế và xã hội vào một kế hoạch thống nhất. Ví dụ: TP.
Hồ Chí Minh đã triển khai Chương trình phát triển đô thị bền vững gắn với
biến đổi khí hậu theo Quyết định 153/2004/QĐ-TTg, trong đó tập trung vào cải tạo kênh rạch, 19