



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61432759
CHƯƠNG 1 BỔ SUNG HÀNH PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn cho thấy, sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội
khách quan và hết sức phức tạp, nó xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới trong
đó không ngoại trừ Việt Nam. Bởi vậy, dù muốn hay không, thì với điều kiện hiện
nay chúng ta cũng khó có thể xóa nỏ được hiện tượng này. Tuy nhiên, nếu chúng ta
có những giải pháp phù hợp, kịp thời thì vẫn có thể hạn chế nó ở mức độ nhất định,
để tạo ra những động lực cho các cá nhân phấn đấu làm giàu, cải thiện chất lượng
cuộc sống và ngăn chặn những tác động tiêu cực của nó đối với đời sống xã hội hơn.
Những năm gần đây, nền kinh tế thị trường ở nước ta một mặt đã mở ra những cơ
hội cho người dân làm giàu bằng chính năng lực của mình, nhưng mặt khác, nó cũng
tạo ra những điều kiện, môi trường cho một bộ phận những người làm giàu một cách
không hợp pháp. Và chính đó đã tạo ra một sự bất công bằng xã hội. Hơn nữa, nếu
tình trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta diễn ra một cách tự phát mà không có sự
can thiệp của chính quyền các cấp và ý thức của bản thân mỗi cá nhân trong xã hội,
thì sự phân hóa đó có thể dẫn đến những nguy cơ bất ổn, làm tăng sự bất bình đẳng
xã hội, thậm chí, nó có thể dẫn đến nguy cơ lệch hướng xã hội chủ nghĩa. Vì lẽ đó,
sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam hiện nay không chỉ thu hút được các nhà nghiên
cứu mà còn là vấn để được cả xã hội quan tâm. MẶT ĐỐI LẬP a.
Về việc giải quyết mặi thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học đã chia triết học thành
haitrường phái lớn, đó là:Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Đối với việc giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học, những người cho rằng bản
chất thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất là cái có trước và lOMoAR cPSD| 61432759
quyết định ý thức, được gọi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác
nhau của chủ nghĩa duy vật. b.
Việc giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học chia quan điểm về nhận
thứcthành hai phái: Khả tri luận - phái bao hàm những quan điếm thừa nhận khả năng nhận thức
của con người - và bất khả tri luận - phái bao hàm những quan điểm phủ nhận khả năng đó.
Những người cho rằng: bản chất thế giới là ý thức; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai;
ý thức quyết định vật chất, được gọi là các nhà duy tâm; học thuyết của họ hợp thành những môn
phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.
- Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội, đó là: sự xem xét phiến diện,
tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức và thường gắn
với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động. Chú nghĩa duy tâm và tôn
giáo cũng thường có mối liên hệ mật thiết với nhau, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển.
Trong lịch sử, chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ
nghĩa duy tâm khách quan. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con
người. Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng
định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là "phức hợp những cảm giảc" của cá nhân. Chủ nghĩa duy tâm
khách quan cũng thừa nhận tinh thứ nhất của tinh thần, ý thức nhưng tinh thần, ý thức ấy là tinh
thần khách quan, ý thức khách quan có trước, tồn tại độc lập với giới tự nhiên, với con người và
thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau, như: "ý niệm tuyệt đối", "tinh thần tuyệt đối" hay "lý tính thế giới", v.v.
Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc
từ thực tiễn và sự phát triển của khoa học. Chính qua thực tiễn và khái quát hóa thức của nhân loại
trong nhiều lĩnh vực, chủ nghĩa duy vật thể hiện là hệ thống tri thức lý luận chung nhất gắn với lợi
ích của các lực lượng xã hội tiến bộ, định hướng cho các lực lượng này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Chương 2: Vật chất + Ý thức
Câu 1: Ptich định nghĩa vật chất của Lenin
1. Vật chất là một phạm trù triết học.
“Vật chất” ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh
học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học thông thường khác…
Cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe máy…).
“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái
quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn. lOMoAR cPSD| 61432759
Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái gì
rộng hơn phạm trù vật chất. Ta không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không gian nhất
định, vì không có gì rộng hơn nó.
2. Vật chất là thực tại khách quan.
Vật chất tồn tại khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức
của con người. “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt
cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất.
Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay không thì vật chất
luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ.
3. Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác.
Vật chất, tức là thực tại khách quan, là cái có trước cảm giác (nói rộng ra là ý thức). Như thế, vật
chất “sinh ra trước”, là tính thứ nhất. Cảm giác (ý thức) “sinh ra sau”, là tính thứ hai.
Do tính trước – sau như vậy, vật chất không lệ thuộc vào ý thức, nhưng ý thức lệ thuộc vào vật chất.
Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa có ý thức vì chưa có
con người. Đây ví dụ cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý thức.
Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên giác quan
(mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người. Đây là ví dụ cho thấy ý thức lệ thuộc vào vật chất. Như thế,
ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
4. Vật chất được giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh.
Vật chất là một phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện qua các dạng cụ
thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái bàn, quả táo…) mà các giác quan của con người
(tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận được.
Giác quan của con người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại
của vật chất, tức là nhận thức được vật chất. Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với
vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người về vật chất càng sâu sắc, toàn diện. Nói
rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh, là hình
ảnh của vật chất trong bộ óc con người.
Ý THỨC: Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác – Lenin là một phạm trù được quyết định với
phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người
và có sự cải biến và sáng tạo. Ý thức có mối quan biện chứng với vật chất. Nguồn gốc:
Theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của nó cùng
mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến
bộ óc con người từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan.
Như vậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người về thế giới khách quan. lOMoAR cPSD| 61432759
- Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quátrinh
tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất song
phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học;
phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (tức phản ánh ý thức). Những hình thức này
tương ứng với quá trình tiến hoá của vật chất tự nhiên.
+ Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh. Phản ánh vật lý,
hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý - hoá qua
quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất
vô sinh. Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động.
+ Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh. Tương
ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính
kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp
bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, v.v.
khi nhận sự tác động trong môi trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần
kinh tạo ra năng lực cam giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ
chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống.
+ Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển đến trình độ có hệ thần kinh
trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống.
+ Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động,sáng tạo chỉ có ở con người. Đây là sự phản
ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin.
Thứ hai, nguồn gốc xã hội
Xã hội ở đây được hiểu là những hành vi lao động, hành vi ứng xử và ngôn ngữ của con người
được sử dụng để thể hiện những nội dung của ý thức một cách chi tiết và chân thực nhất.
Lao động chính là những hoạt động của con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên
nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp cới nhu cầu của con người. Lao động sẽ tác động đến ý
thức của con người cần phải làm gì và làm như thế nào để có thể thực hiện công việc một cách có
hiệu quả nhất, vừa tiết kiệm được thời gian và công sức. Do đó, lao động có một tác động rất lơn
đến việc hình thành suy nghĩ của con người.
Hành vi ứng xử giữa người với người cũng chính là yếu tố tác động sâu sắc đến việc hình thành,
thay đổi ý thức của mỗi người. Khi một đứa trẻ được giáo dục và sinh sống tại một môi trường
sống lành mạnh, văn minh sẽ vô tình giúp đứa trẻ nhận thức được bản thân cũng phải có những
hành vi ứng xử như thế thì mới đúng và giống với mọi người xung quanh. Như vậy, việc con người
đối xử với nhau chân thật hay lừa dối lẫn nhau cũng sẽ khiến cho người rơi vào hoàn cảnh đó nhận
thức được việc làm như thế là sai hay đúng, có lợi cho bản thân hay không và dần dần hình thành
nên suy nghĩ của bản thân. lOMoAR cPSD| 61432759
Ngôn ngữ cũng tương tự như hành vi con người. Con người sử dụng chung một loại ngôn ngữ
trong một quốc gia sẽ nhận thức được đây là một dân tộc và cần có những hành vi ứng xử phù hợp
hơn. Đồng thời khi con người sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ ra quan điểm của bản thân cũng sẽ khiến
cho đối phương nhận thức được những hàm ý trong lời nói và hình thành nên ý thức của bản thân
về một vụ việc nào đó. Do đó, ngôn ngữ chính là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin
mang nội dung ý thức, không có ngôn ngữ thì thì ý thức không thể tồn tại được. Như vậy, chúng
ta có thể thấy ý thức được hình thành dựa trên hai nguồn gốc trên. Những yếu tố trên sẽ tác động
mạnh mẽ đến việc hình thành ý thức của con người. Nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết
định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn
ngữ; đó là hai chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa thành bộ óc người,
khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức. Bản chất:
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con
người thông qua hoạt động thực tiễn vì vậy mà bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan. Và chính vì vậy, ý thức sẽ phản ánh thực tế khách quan thế giới của con người.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là những nội dung mà ý
thức đều xuất phát từ thực tiễn, những yếu tố xuất hiện trong thực tiễn sẽ là cơ sở để ý thức được hình thành ;
Sự phán ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn cần sử dụng mà bắt buộc
phải tạo ra những giá trị, phát minh thiết kế hiện đại và hữu ích hơn để đáp ứng cho nhu cầu thực tế của xã hội.
Phản ánh ý thức là sự sáng tạo, vì phản ánh đó bao giớ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản
phẩm của các quan hệ xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất ý thức có tính xã hội.
Vậy, bản chất của ý thức chính là sự phản ánh chân thật và đầy đủ nhất của ý thức. Hành vi con
người cũng chính là yếu tố thể hiện bản chất cúa ý thức. Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. (Tham khảo)
Dựa trên cơ sở lý luận phản ánh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức là sự phản ánh
hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người nhưng không phải là sự phản ánh giản đơn, mà
phản ánh một cách năng động và sáng tạo. ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. -
Để hiểu rõ hơn bản chất của ý thức, chúng ta phải biết rằng: cả vật chất và ý thức đều tồn
tại.Nhưng giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập. Vật chất là cái được phản ánh tồn tại
khách quan, nhưng khi nó đã được chuyển vào trong đầu óc người ta thì nó lại trở thành hình ảnh
chủ quan, là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, (tức ý thức). Vì vậy, không thể đồng nhất
hoặc tách rời cái được phản ánh (vật chất) với cái phản ánh (ý thức). -
Thứ hai, khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nhưng nó không phải
nhưlà hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật, mà là sự phản ánh năng động sáng
tạo. Do đó chỉ con người mới có ý thức, ý thức được ra đời trong quá trình con người hoạt động
cải tạo thế giới, chính vì vậy C.Mc viết: ý thức “ chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào
trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó ”. lOMoAR cPSD| 61432759
Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện thống nhất của ba mặt sau: -
Một là, nhận thức của con người bao giờ cũng xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống đặt ra,
do đónhững ý tưởng, tức sự suy tính phải có trước khi hành động, đó là quá trình chọn lọc các
thông tin, lựa chọn phương thức hành động, chứ không thụ động như ở động vật. -
Hai là, những thông tin được sao, chép lại, dưới dạng hình ảnh tinh thần được lưu giữ lại
trongóc. Thực chất, đây là quá trình bắt đầu sáng tạo, có nghĩa là đối tượng vật chất đã trở thành
ý tưởng phi vật chất để rồi suy diễn, tưởng tượng theo ý tưởng của mình. -
Ba là, chuyển sự tưởng tượng từ trong óc ra bên ngoài, và bằng lao động con người đã
biếnnhững ý tưởng thành hiện thực, giai đoạn này con người phải lựa chọn những phương pháp,
phương tiện, công cụ để tiến hành lao động nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Do đó chúng ta phải
thấy được ý thức bao giờ cũng gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ bởi các
quy luật sinh học mà chủ yếu là các quy luật xã hội, các quy ước được hình thành trong quan hệ
sản xuất, do đó ý thức mang bản chất xã hội và lịch sử. Vai trò:
Vai trò của ý thức có một tầm quan trọng đối với thực tiễn cuộc sống và khẳng định vật chất là
nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức, còn ý thức chỉ là sản phẩm, là sự phản ánh chân
thật về thế giới khách quan. Và hành động của con người chỉ xuất phát từ những yếu tố tác động
của thế giới khách quan.
Điều này đã tạo cho con người sự thông minh, nhạy bén để có thể ứng phó kịp thời với các tác
động của môi trường xung quanh. Từ đó giúp tạo nên các giá trị thực tiễn cho đời sống xã hội,
nhiều công trình kiến trúc được tạo nên, nhiều phát minh khoa học được hình thành do ý thức của
con người dự đoán được những thiên tai, hay những thay đổi của tương lai…
Không những vậy, việc ý thức tốt về một vấn đề nào đó giúp cho con người hạn chế được những
hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng hậu quả xấu đến sự phát triển của quốc gia. Các quốc
gia có thể mở rộng mối quan hệ ngoại giao với nhau về kinh tế để cùng nhau hợp tác phát triển,
xây dựng đất nước và thị trường thế giới ngày càng phát triển hiện đại hơn.
Như vậy, nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không
trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực
lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận
dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của
ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động
đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định.
Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có
hiệu quả. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con
người để tác động, cải tạo thế giới khách quan. Cấu trúc ý thức: lOMoAR cPSD| 61432759
- Cấu trúc theo chiều ngang: gồm có tri thức và tình cảm.
+ Tri thức là kết quả nhận thức của con người về thế giới, được diễn đạt dưới hình thức ngôn ngữ
hoặc các hệ thống ký hiệu. Được tách ra làm hai loại tri thức. Tri thức thông thường, là những nhận
thức thu nhận được từ hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân, mang tính chất cảm tính trực tiếp,
bề ngoài rời rạc chưa được hệ thống hoá. Tri thức khoa học là những nhận thức đã được đúc kết
từ thực tiễn thành lý luận, kinh nghiệm. Ngày nay, tri thức đang là yếu tố giữ vai trị quyết định đối
với sự phát triển kinh tế, vì vậy, đầu tư vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng
kinh tế dài hạn bền vững.
+ Tình cảm là sự rung động của con người với xung quanh gây cho con người có cảm giác vui
buồn, yêu thương, căm giận… Vì vậy, một khi tri thức được gắn với tình cảm thì hoạt động của
con người sẽ được tăng thêm gấp bội lần.
-. Cấu trúc theo chiều dọc:
+ Tự ý thức, ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới.
+ Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đó gần như trở thành bản
năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sau của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng.
+ Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con
người xảy ra mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí được
biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau và chỉ là mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của con người.
(Phân tích sâu trong bản HÀNH)
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vai trò tác dụng của ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận
Dựa trên cơ sở lý luận phản ánh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất là cái có trước
ý thức là cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức có thể tác
động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người, vì vậy con người phải tôn trọng
thực tiễn khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của mình.
a. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được thể hiện :
+ Vật chất tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức, là cái có trước, cái được phản ánh. Ý
thức là cái có sau, là cái phản ánh
+ Vật chất là cái được phản ánh, nhưng khi những hình ảnh của vật chất, tức thế giới khách quan
đã được chuyển vào trong óc người ta ( sao chép, chép lại, chụp lại) thì nó lại trở thành hình ảnh
chủ quan, là hình ảnh tinh thần của thế giới khách quan (tức ý thức). Chính vì vậy, Mác viết “ lOMoAR cPSD| 61432759
Chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó “.
+ Ý thức là cái phản ánh: Trước hết xét về nguồn gốc, ý thức là một thuộc tính của vật chất, nhưng
không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người.
+ Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức, có chức năng phản ánh, nhưng không phải là sự phản
ánh giản đơn, mà phản ánh mang tính năng động sáng tạo trên cơ sở gắn liền với lao động và sau
lao động là ngôn ngữ thì ý thức mới có thể xuất hiện, như vậy ý thức phụ thuộc vo hoạt động của
bộ óc người. Do đó, khi bộ óc bị tổn thương thì nhận thức sẽ không chính xác nữa. Vì vậy, khi
chưa có bộ óc người thì không thể có ý thức.
b. Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất:
Ý thức là sự phản ảnh thế giới khách quan hiện thực vào bộ óc con người, song ý thức lại có khả
năng cải tạo, làm thay đổi hiện thực khách quan, nhưng bản thân của ý thức không thể tự nó làm
thay đổi được hiện thực khách quan. Ý thức chỉ mới là khu nhận thức, còn việc cải tạo hiện thực
khách quan lại cần phải có sự nổ lực hành động của con người thì lúc đó những ý tưởng, những
sáng tạo mới có thể trở thành hiện thực được, do đó nhận thức đúng được quy luật vận động của
thế giới khách quan thì đó mới là cơ sở để hoạt động của con người đạt được mục tiêu, và phương
hướng đã đề ra. Ngược lại, ý thức của con người phản ánh sai thế giới khách quan thì kết quả sẽ
không thể đạt được như mong muốn.
c. Vai trò của ý thức: nhờ có ý thức mà trong quá trình thực tiễn con người có thể lựa chọn phương
án, phương thức nào có hiệu quả nhất để hoạt động và biết phân biệt được cái nào đúng, cái nào
sai, lợi hại, cái gì nên làm, cái gì nên tránh.
d. Ý nghĩa và phương pháp luận:
Để phát huy được tính năng động chủ quan của con người thì trong hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn, phải tôn trọng tính khách quan, do đó trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực
tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho hoạt động
của mình chứ không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chương trình hành động, nếu lấy
ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh duy ý chí. Trên cơ
sở đó Đảng ta đã rút ra bài học “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế,
phải tôn trọng quy luật khách quan”. Để phát huy được nhân tố chủ quan, vai trò tích cực sáng tạo
của ý thức nhằm đáp ứng được yêu cầu xây dựng lực lượng sản xuất trong suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội mà nhiệm vụ trung tâm là phải công nghiệp hóa và hiện đại hoá, phải “lấy việc
phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, muốn vậy
“phải khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt
Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu”. lOMoAR cPSD| 61432759
Bài học vận dụng: ½ trang: lựa lựa mà chép
Thứ nhất, vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải
xuất phát từ thực tế khách quan. Đầu tiên, bản thân mỗi người phải tự xác định được các điều kiện
khách quan ảnh hưởng đến cuộc sống học tập của bản thân. Là sinh viên năm nhất sư phạm, học
theo học chế tín chỉ, sống trong đất nước Việt Nam – một đất nước đang phát triển nằm trên bán
đảo Đông Dung, tôi tự nhận thức được rằng điều kiện của đất nước còn khó khăn, cơ sở vật chất
vẫn chưa hoàn thiện và hiện đại để đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Ví dụ như trong trường Đại học
Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh vì lý do thiếu giảng viên nên một số tiết học phải lùi vào buổi
chiều tối để tiện cho việc giảng dạy hay đối với những bộ môn chuyên ngành ở khoa Anh như
Nghe-Nói-Đọc-Viết, do thiếu thốn về trang thiết bị nên quá trình giảng dạy của giảng viên và quá
trình học tập của học sinh đều bị ảnh hưởng.
Mặt khác, mỗi người cần phải đặc biệt chú ý tôn trong tỉnh khách quan và hành động theo các qui
luật mang tính khách quan, thể hiện qua một số hành động như: tuân thủ theo thời khóa biểu mà
mỗi khoa đã giao cho học sinh để đi học đúng giờ, tham dự các tiết học đầy đủ đồng thời làm theo
những lời mà giảng viên hưng dẫn. Ngoài ra, cần phải tuân thủ theo đúng nội qui nhà trường, chấp
hành đúng ký luật đặc biệt là những qui chế về việc cấm thi, học là
Thứ hai, vì ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất nên cần phải phát huy tính năng động chủ
quan tức là phải phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của ý thức. Theo qui định của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tổ chức đăng
ký học phần vì vậy bản thân cần phải chủ động hơn, năng nổ trong từng tiết học.
Trong kết cấu của ý thức thì tri thức là yếu tố quan trọng nhất. Tri thức là phương thức vận động
và tồn tại của ý thức. Chính vì vậy, sinh viên cần phải tích cực trong học tập, chủ động tìm hiểu và
khai thác vấn đề, khi học bài không quá phụ thuộc vào giảng viên mà thay vào đó nên suy nghĩ
những ý tưởng mới của riêng mình. Vi dụ như những buổi học nhóm hay thảo luận kỹ năng, bản
thân tôi thường tìm đến kho kiến thức của thư viện hoặc tài liệu rong kho sách của khoa để trau
dồi vốn kiến thức chuyên ngành. Tuy nhiên những tri thức tiếp thu từ sách vở là chưa đủ, xã hội
luôn đòi hỏi mỗi người phải có một vốn kỹ năng sống dày dặn. Muốn làm được như vậy thì chúng
ta cần tham gia vào các hoạt động tình nguyện ngoài trời hay tìm kiếm một công việc làm thêm
phù hợp để hiểu được giá trị của đồng tiền.
Tình cảm là những rung động của con người trong các mối quan hệ với hiện thực. Nhờ có tình cảm
mà tri thức mới có sức mạnh và sau đó trở thành cơ sở cho hành động. Nói cách khác, tình cảm là
động lực lớn nhất thúc đẩy chúng ta đi đến thành công. Đối với sinh viên khoa Anh như tôi, để đạt
thành tích tốt trong học tập cũng như phát triển trong tương lai, cần phải có niềm đam mê đối với
mỗi môn học bất kể là môn chuyên ngành hay môn đại cương. Thiết nghĩ cần phải tạo cảm giác.
thoải mái và tinh thần vui vẻ khi học tập từ đó mới tạo ra được hứng thú để tìm tôi vọng của cha
mẹ, tình cảm gia đình góp phần giúp bản thân vượt qua những khó khăn để tiếp tục con đường học tập.
Niềm tin là động cơ tỉnh thần định hướng cho những hoạt động của con người. Là một sinh viên
tốt thì cần phải biết đặt niềm tin nhiều thứ. Đầu tiên, cần phải có niềm tin ở ban thân mình, phải
biết đặt ra hoài bão, ước mơ nhưng không được là quên việc thực hiện hóa nó bằng các kế hoạch lOMoAR cPSD| 61432759
chắc chắn. Có niềm tin thì chắc chắn sẽ có động lực để phấn đấu, vươn lên nhằm đạt được những
mục tiêu cao đẹp. Cụ thể là, mục tiêu bây giờ tôi chính là tốt nghiệp đại học với tầm bắn loại khá
trở trên nhưng muốn thực hiện được điều ấy thì phải lập ra thời gian biểu học tập sự thể với một
phương pháp học dùng dẫn kèm theo Ý chí biểu hiện cho sức mạnh tinh thần của con người, giúp
con người vượt qua những khó khăn, trở ngại để đạt được những mục tiêu đã đặt ra. Môi tường
đại học ẩn chứa nhiều thử thách và cám dỗ vì vậy chúng ta cần phải xây dựng cho mình một ý chí
kiên định để tránh xa những thói hư tật xấu. Ví dụ như, cuộc sống sinh viên tự do đòi hỏi tôi phải
lập ra những qui tắc riêng cho bản thân để giữ vững lập trường của mình trước những cạm bẫy
trước mắt: tránh tụ tập nhậu nhẹt sa đà, không vì lười biếng mà cúp học, chưa học bài xong chưa
đi ngủ chưa họ bài đủ chưa đi chơi, không nên chạy theo những công việc chỉ sinh ra lợi ích tức
thờ mà bỏ bê việc học, nên học theo tinh thần của câu nói:”Học, học nữa, học mãi” của Lê-nin.
Thứ ba, cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như bệnh bảo thủ trì trệ. Cụ thể là cần
phải tiếp thu có chọn lọc những ý kiến mới, việc hôm nay không nên để ngày mai, không chủ quan
trước mọi tình huống, phải biết lắng nghe và tiếp thu sự góp ý của người khác. Ví dụ như sau một
bài thuyết trình thì phải nán lại lắng nghe ý kiến chỉnh sửa của cả lớp và giảng viên hay khi làm
bài hoặc họp nhóm cần phải sáng tạo, đột phá, cải tiến cái cũ nhưng không nên quá cầu toàn. Khi
đăng kí học phần không nên đăng kí quá nhiều tránh việc không kham nổi.
Thứ tư, khi giải thích các hiện tượng xã hội cần phải tính đến các điều kiện vật chất lẫn yếu tố tinh
thần, điều kiện khách quan lẫn yếu tố khách quan. Ví dụ đối với việc đăng lý học phần, sinh viên
cần phải tính đến năng lực học tập của bản thân. điều kiện tài chính của gia đình, cân nhắc quỹ
thời gian, không đăng ký học phần một cách tràn lan với mục đích tốt nghiệp sớm tránh trường
hợp học không theo kịp, dẫn đến hao phi tiền bạc, thời gian, công sức mà kết quả lại không đực như ý muốn. 6 CẶP PHẠM TRÙ
2.1. Cái riêng - cái chung
2.1.1 Phạm trù cái riêng, cái chung
Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định; còn
phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan
hệ,... lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Trong mỗi sự vật, hiện tượng ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất, đó là những đặc
tính, những tính chất,... chỉ tồn tai một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở
các sự vật, hiện tượng khác.
Ví dụ: Mỗi người là một thể thực riêng biệt, bên trong mỗi người đều có điểm chung như
có đầu óc để quan sát và điều khiển hành vi của mình. Có trái tim để cảm nhận thế giới xung quanh. lOMoAR cPSD| 61432759
2.1.2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Theo quan điểm duy vật biện chứng: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại
khách quan. Trong đó, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu
hiện sự tồn tại của nó; cái chung không tồn tại biệt lập tách rời cái riêng, tức là không
tách rời mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể. Trang ch 甃ऀ Giáo dục
Thứ Ba, 20/12/2022 - 12:04 Tăng giảm cỡ chữ:
Phạm trù triết học là gì? Ví dụ về 6 cặp phạm trù trong triết học? •
Tác giả : Bùi Tuấn An •
Tham vấn bởi: Luật sư Lê Minh Trường
Phạm trù triết học là gì? Sau đây hãy cùng Luật Minh Khuê tìm hiểu về phạm trù triết học và 6
cặp phạm trù cơ bản trong triết học nhé! Mục lục bài viết •
1. Phạm trù triết học là gì? •
2. Sáu cặp phạm trù trong triết học • 2.1. Cái riêng - cái chung •
2.1.1 Phạm trù cái riêng, cái chung •
2.1.2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung •
2.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận •
2.2. Nguyên nhân và kết quả •
2.2.1. Phạm trù nguyên nhân, kết quả •
2.2.2 . Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả lOMoAR cPSD| 61432759 •
2.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận •
2.3. Tất nhiên - ngẫu nhiên •
2.3.1. Phạm trù tất nhiên, ngẫu nhiên •
2.3.2 Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên •
2.3.3. Ý nghĩa phương pháp luận •
2.4. Nội dung - hình thức •
2.4.1. Phạm trù nội dung, hình thức •
2.4.2. Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức •
2.4.3. Ý nghĩa phương pháp luận •
2.5. Bản chất - hiện tượng •
2.5.1. Phạm trù bản chất, hiện tượng •
2.5.2 . Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng •
2.5.3. Ý nghĩa phương pháp luận •
2.6. Khả năng - hiện thực •
2.6.1. Phạm trù khả năng, hiện thực •
2.6.2. Quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực •
2.6.3. Ý nghĩa phương pháp luận
1. Phạm trù triết học là gì?
Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên
hệ chung, cơ bản nhất c 甃ऀ a các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định. Mỗi bộ môn
khoa học đều có hệ thống phạm trù riêng c 甃ऀ a mình phản ánh những mặt, những thuộc tính,
những mối liên hệ cơ bản và phổ biến thuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu. thí dụ, trong toán
có phạm trù "số", "hình", "điểm", "mặt phẳng",..., trong vật lý học có các phạm trù "khối lượng",
"vận tốc", "gia tốc",... trong kinh tế học có phạm trù "hàng hóa", "giá trị", "tiền tệ".
Các phạm trù trên đây, chỉ phản ánh những mối liên hệ chung trên một lĩnh vực hiện thực nhất
định thuộc phạm vi nghiên cứu c 甃ऀ a các môn khoa học chuyên ngành. Khác với điều đó, các
phạm trù c 甃ऀ a phép biện chứng duy vật như "vật chất", "ý thức", "vận động".... là những khái
niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến
nhất không phải chỉ c 甃ऀ a một lĩnh vực nhất định nào đấy c 甃ऀ a hiện thực, mà c 甃ऀ a toàn bộ
thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên lOMoAR cPSD| 61432759
nhân xuất hiện, đều có quá trình vận động, biến đổi, đều có mâu thuẫn, có nội dung và hình
thức,... nghĩa là đều có những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ được phản ánh trong
các phạm trù c 甃ऀ a phép biện chứng duy vật. Do vậy, giữa phạm trù c 甃ऀ a các khoa học cụ thể
và phạm trù c 甃ऀ a phép biện chứng có mối quan hệ biện chứng với nhau; đó là mối quan hệ
giữa cái riêng và cái chung. Với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép
biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất bao quát các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, và
tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản, đó là các cặp phạm trù cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả,…
2. Sáu cặp phạm trù trong triết học
2.1. Cái riêng - cái chung
2.1.1 Phạm trù cái riêng, cái chung
Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định; còn phạm
trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ,... lặp lại
phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Trong mỗi sự vật, hiện tượng ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất, đó là những đặc tính,
những tính chất,... chỉ tồn tai một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
Ví dụ: Mỗi người là một thể thực riêng biệt, bên trong mỗi người đều có điểm chung như có đầu
óc để quan sát và điều khiển hành vi c 甃ऀ a mình. Có trái tim để cảm nhận thế giới xung quanh.
2.1.2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Theo quan điểm duy vật biện chứng: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan.
Trong đó, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại c 甃ऀ a
nó; cái chung không tồn tại biệt lập tách rời cái riêng, tức là không tách rời mỗi sự vật, hiện tượng,
quá trình cụ thể. Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, không có cái riêng tồn tại
độc lập tuyệt đối tách rời cái chung.
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộ phận nhưng
sâu sắc, bản chất hơn cái riêng. Bởi vì, cái riêng là tổng hợp c 甃ऀ a cái chung và cái đơn nhất; còn
cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính quy luật c 甃ऀ a nhiều cái riêng.
Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện xác định.
Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung đã được V.I.Lênin khái quát ngắn gọn: "Như
vậy, các mặt đối lập (cái riêng đối lập với cái chung) là đồng nhất: cái riêng chỉ tồn tại trong mối lOMoAR cPSD| 61432759
liên hệ đưa đến cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Bất cứ cái
riêng (nào cũng) là cái chung. Bất cứ cái chung nào cũng là (một bộ phận, một khía cạnh, hay một
bản chất) c 甃ऀ a cái riêng. Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi
vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đ 甃ऀ vào cái chung,... Bất cứ cái riêng
nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác (sự
vật, hiện tượng, quá trình),...
2.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Cần phải nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng cụ thể trong các hoạt động của
con người; không nhận thức cái chung thì trong thực tiễn giải quyết mỗi cái riêng, mỗi
trường hợp cụ thể sẽ vấp phải những sai lầm, mất phương hướng. Muốn nắm được cái
chung thì cần phải xuất phát từ những cái riêng bởi cái chung không tồn tại trừu tượng ngoài những cái riêng.
Mặt khác, cần phải được cá biệt hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể;
khắc phục bệnh giáo điều, siêu hình, máy móc, hoặc cục bộ, địa phương trong vận dụng
mỗi cái chung để giải quyết mỗi trường hợp cụ thể. Trong hoạt động nhận thức và thực
tiễn, cũng cần phải biết tận dụng các điều kiện cho sự chuyển hóa giữa cái đơn nhất và
cái chung theo những mục đích nhất định, bởi vì giữa cái chung và cái đơn nhất có thể
chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện cụ thể.
2.2. Nguyên nhân và kết quả
2.2.1. Phạm trù nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật,
hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau thì gây nên một biến đổi nhất định.
Phạm trù kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa
các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng tạo
nên. Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện. Nguyên cớ là cái không có mối liên
hệ bản chất với kết quả. Điều kiện là những yếu tố bên ngoài tác động tới hình thành kết quả.
Ví dụ: Gieo gió ắt sẽ gặp bảo, làm việc phi pháp sự ác đến ngay, ở hậu gặp hậu ở bạc gặp bạc lOMoAR cPSD| 61432759
2.2.2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất
yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định; và ngược lại, không có
kết quả nào không có nguyên nhân.
Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn
kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân.Một nguyên nhân có thể sinh ra một
hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên. Sự
tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra theo
các hướng thuận, nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả,
nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián
tiếp, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,... Ngược lại, một nguyên nhân có
thể dẫn đến nhiều kết quả, trong đó có kết quả chính và phụ, cơ bản và không cơ bản,
trực tiếp và gián tiếp,...Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân
đầu tiên và kết quả cuối cùng. Ph.Ăngghen viết: "Chúng ta cũng thấy rằng nguyên nhân
và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp
dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường
hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới thì những khái niệm
ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua
lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí
cho nhau; cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở lúc khác
lại là kết quả, và ngược lại".
2.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân của các sự
vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực khách quan chứ không phải ở ngoài thế giới đó.
Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại
nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ
thể trong nhận thức và thực tiễn.
Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại một kết quả có thể có
nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn toàn diện và
lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân - quả. lOMoAR cPSD| 61432759
2.3. Tất nhiên - ngẫu nhiên
2.3.1. Phạm trù tất nhiên, ngẫu nhiên
Phạm trù tất nhiên dùng để chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu
vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định, nó phải xảy ra như thế, không
thể khác. Còn phạm trù ngẫu nhiên dùng để chỉ cái do các nguyên nhân bên ngoài, do
sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định, do đó nó có thể xuất hiện hoặc
không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc như thế khác.
Ví dụ: Để đạt được kết quả nhất trong việc học tập thì cần siêng năng, chăm chỉ là điều
tất nhiên, tuy nhiên tới ngày thi thì mắc vấn đề sức khỏe nên làm bài thi kết quả thấp là điều ngẫu nhiên.
2.3.2 Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan và đều có vai trò nhất định đối với sự
vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng, trong đó cái tất nhiên đóng vai trò quyết định.
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất biện chửng với nhau; không có cái
tất nhiên thuần túy và ngẫu nhiên thuần túy. Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi
cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất
nhiên, là cái bổ sung cho tất nhiên. Ph.Ăngghen cho rằng: "Cái mà người ta quả quyết
cho là tất yếu lại hoàn toàn do những ngẫu nhiên thuần túy cấu thành, và cái được coi là
ngẫu nhiên, lại là hình thức dưới đó ẩn nấp cái tất yếu". Ranh giới giữa cái tất yếu và
ngẫu nhiên có tính chất tương đối. Trong những điều kiện nhất định, chúng chuyển hóa
lẫn nhau, tất nhiên trở thành ngẫu nhiên và ngẫu nhiên trở thành tất nhiên
2.3.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phải căn cứ vào cái tất nhiên chứ không
phải căn cứ vào cái ngẫu nhiên. Tuy nhiên không được bỏ qua cái ngẫu nhiên, không
tách rời cái tất nhiên khỏi cái ngẫu nhiên. Cần xuất phát từ cái ngẫu nhiên để đạt đến
cái tất nhiên, và khi dựa vào cái tất nhiên phải chú ý đến cái ngẫu nhiên. Tất yếu và ngẫu
nhiên có thể chuyển hóa cho nhau. Vì vậy, cần tạo ra những điều kiện nhất định để cản
trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo mục đích nhất định. lOMoAR cPSD| 61432759
2.4. Nội dung - hình thức
2.4.1. Phạm trù nội dung, hình thức
Phạm trù nội dung là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố,
những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng. Trong khi đó, phạm trù hình thức dùng để
chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng đó, là hệ thống các mối liên
hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó.
Ví dụ: Nội dung trong một cuốn sách như thế nào sẽ quyết định phải làm bìa như thế đó,
nếu nội dung buồn mà lại có cách bố trí tiêu đề và màu bìa là gam màu vui nhộn thì sẽ
rất phản cảm, người đọc sẽ không bao giờ quyết định đọc cuốn sách đó.
2.4.2. Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, vì vậy không
có một hình thức nào không chứa dựng nội dung, đồng thời không có nội dung nào lại
không tồn tại trong một hình thức nhất định. Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong
nhiều hình thức, và cùng một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung. Mối quan hệ
giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó nội dung quyết định
hình thức và hình thức tác động trở lại nội dung. Khuynh hướng chủ đạo của nội dung
là khuynh hướng biến đổi còn hình thức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện
tượng. Nội dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợp. Tuy nhiên,
không phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa nội dung và hình thức. Nội
dung quyết định hình thức nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại
nội dung. Hình thức phù hợp với nội dung thì sẽ thúc đẩy nội dung phát triển. Nếu hình
thức không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung.
2.4.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Nội dung và hình thức luôn luôn thống nhất hữu cơ với nhau. Vì vậy, trong hoạt động
nhận thức và thực tiễn, không được tách rời giữa nội dung và hình thức, hoặc tuyệt đối
hóa một trong hai mặt đó. Nội dung quyết định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện
tượng thì trước hết phải căn cứ vào nội dung. Muốn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước
hết phải thay đổi nội dung của nó. Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của
hình thức đối với nội dung; mặt khác cũng cần phải thực hiện những thay đổi đối với
những hình thức không còn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung. lOMoAR cPSD| 61432759
2.5. Bản chất - hiện tượng
2.5.1. Phạm trù bản chất, hiện tượng
Phạm trù bản chất là phạm trù dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối
liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong, qui định sự vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng đó. Phạm trù hiện tượng là phạm trù dùng để chỉ sự biểu hiện của
những mặt, những mối liên hệ đó trong những điều kiện xác định. Ví dụ: Nước có bản
chất là lỏng thì sẽ thể hiện ra bằng hiện tượng.
2.5.2. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập
với nhau. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng: bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra
qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định.
Không có bản chất tồn tại thuần túy tách rời hiện tượng, cũng như không có hiện tượng
lại không biểu hiện của một bản chất nào đó.
Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo. Khi bản chất mất đi thì hiện tượng
cũng mất theo. Vì vậy, Lênin viết: "Bản chất hiện ra, còn hiện tượng có tính bản chất".
Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng: Sự đối lập của mâu thuẫn biện chứng thể hiện:
bản chất là cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng là cái riêng biệt phong phú và đa dạng.
Bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài. Bản chất là cái tương đối ổn định,
còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi.
2.5.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nhận thức đúng sự vật, hiện tượng thì không dừng lại ở hiện tượng bên ngoài mà
phải đi vào bản chất. Phải thông qua nhiều hiện tượng khác nhau mới nhận thức đúng
bản chất. Lênin viết: " Tư tưởng của người ta đi sâu một cách vô hạn, từ hiện tượng đến
bản chất, từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai". Mặt khác, bản chất phản ánh tính
tất yếu, tính qui luật nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải căn cứ vào bản chất chư
không căn cứ vào hiện tượng thì mới có thể đánh giá một cách đầy đủ, chính xác về sự vật, hiện tượng đó.
2.6. Khả năng - hiện thực
2.6.1. Phạm trù khả năng, hiện thực
Phạm trù khả năng dùng để chỉ những gì hiện có, hiện đang tồn tại thực sự. Còn phạm
trù hiện thực dùng để chỉ những gì chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các điều kiện tương ứng. lOMoAR cPSD| 61432759
Ví dụ: Trước mắt là bút, giấy và thước kẻ là hiện thực thì khả năng có thể tạo ra được một hộp đựng quà.
2.6.2. Quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối liên hệ thống nhất, không tách rời, luôn luôn
chuyển hóa lẫn nhau. Quá trình đó biểu hiện: khả năng chuyển hóa thành hiện thực, và
hiện thực lại chứa đựng những khả năng mới; khả năng mới, trong những điều kiện nhất
định, lại chuyển hóa thành hiện thực. Trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự
vật, hiện tượng có thể tồn tại một hoặc nhiều khả năng: khả năng thực tế, khả năng tất
nhiên, khả năng ngẫu nhiên, khả năng gần, khả năng xa,... Trong đời sống xã hội, khả
năng chuyển hóa thành hiện thực phải có điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Nhân tố chủ quan là tính tích cực xã hội của ý thức chủ thể con người để chuyển hóa
khả năng thành hiện thực. Điều kiện khách quan là sự tổng hợp các mối quan hệ về hoàn
cảnh, không gian, thời gian để tạo nên sự chuyển hóa ấy.
2.6.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phải dựa vào hiện thực để xác lập nhận
thức và hoạt động. Lênin cho rằng: "Chủ nghĩa Mác căn cứ vào những sự thật chứ
không phải dựa vào những khả năng... người Macxit chỉ có thể sử dụng, để làm căn cứ
cho chính sách của mình, những sự thật được chứng minh rõ rệt và không thể chối cãi
được". Tuy nhiên, trong nhận thức và thực tiễn cũng cần phải nhận thức toàn diện các
khả năng từ trong hiện thực để có được phương pháp hoạt động thực tiễn phù hợp với
sự phát triển trong những hoàn cảnh nhất định. Tích cực phát huy nhân tố chủ quan trong
việc nhận thức và thực tiễn để biến khả năng thành hiện thực theo mục đích nhất định.
. Vận dụng sáng tạo cặp phạm trù trong lĩnh vực kinh doanh
Sau khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thìnhãn hàng hoá, tên giao
dịch thương hiệu trở thành một sự nhận biết của ngườikinh doanh, của khách hàng. Rồi khi đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam thì nhãnhiệu đẹp, hấp dẫn sẽ gây ấn tượng và thu hút người mua hàng.
Các doanh nghiệpphải liên tục cho ra mẫu mã sản phẩm mới. Khi thay đổi hình thức của sản
phẩmthì doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến nội dung của nó bởi nội dung ý thứcphải luôn đi
kèm với nhau, không thể tách rời nhau, trong đó nội dung có vai tròquyết định còn hình thức thúc
đẩy nội dung phát triển. Đó chính là vấn đề màcặp phạm trù "Nội dung - hình thức" của Triết học
Mác đề cập tới.Thương hiệu là kết quả của sự hoàn thiện của nhãn hiệu khi đã được đăngký bảo
hộ bản quyền. Nó là tên của một sản phẩm của doanh nghiệp để giúpphân biệt rõ ràng vị thế của
sản phẩm trên thị trường. Nó là công cụ hữu hiệu đểkhách hàng nhận biết được sự tồn tại của sản
phẩm và có ý định sử dụng sảnphẩm.Có nhiều giác độ để đánh giá nhận thức về giá trị của thương
hiệu, nhữngnét chung của giá trị thương hiệu là lOMoAR cPSD| 61432759
Giá trị hữu hình: Tổng thu nhập thêm từ sản phẩm có nhãn hiệu cao hơnthu nhập từ sản phẩm cùng
loại nhưng không có thương hiệu. Giá bán khác nhauchính là giá trị của thương hiệu.Giá trị vô
hình: đi với sản phẩm không thể tính bằng tiền hoặc con số cụthể mà quan con đường tiếp thị tạo
nhu cầu ở người tiêu dùng luôn muốn trả giácao hơn cho những sản phẩm có tên tuổi so với những
sản phẩm khác tuy chúngđều có chất lượng tốt như nhau. Sự nhận thức về chất lượng: Nhận thức
tổng quát của người tiêu dùng vềchất lượng và hình ảnh đối với sản phẩm. Qua nhiều năm tiếp thị,
xây dựng hìnhảnh, chăm sóc thương hiệu và sản xuất theo chất lượng, Công ty đã hướng ngườitiêu
dùng đến chỗ nhận thức rằng tất cả sản phẩm do Công ty sản xuất đều cóchất lượng tuyệt hảo. Sau
khi có nhiều sự kiện liên quan đến việc chống bán phá giá: triển khaithực hiện hiệp định thương
mại Việt - Mỹ: việc cấm dùng và quảng cáo nhãnhiệu có từ catfish: một số nhãn hiệu hàng hoá của
Việt Nam bị các doanh nhânnước ngoài đăng ký ở nước ngoài, tình trạng tranh chấp nhãn hiệu:
tình trạnghàng giả ngày càng tinh vi… tất cả những tác động này đã tạo nên một áp lực lớntrong
xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan quản lý Nhà nướcđều vào cuộc. Từ cuối
năm 2001 đến nay, thương hiệu trở thành vấn đề thời sựcủa đời sống kinh tế thương mại, ngày
càng giành được sự quan tâm của giớidoanh nghiệp và doanh nhân trong nước
2. Vận dụng sáng tạo cặp phạm trù trong lĩnh vực giao tiếp ứng xử
Giao tiếp là hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa con người với con người.Trong quá trình đó, các bên
tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc vớinhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp. Ứng
xử là cách thức con người lựa chọn để đối xử với nhau trong giao tiếpsao cho phù hợp và hiệu quả;
Là phản ứng của con người khi nhận được cách đốixử của người khác, trong những tình huống cụ
thể.Văn hóa giao tiếp, ứng xử là những hành vi ứng xử được con người lựachọn khi giao tiếp với
nhau, sao cho vừa đạt được mục đích giao tiếp ở một mứcđộ nhất định, vừa mang lại sự hài lòng
cho các bên, phù hợp với hoàn cảnh vàđiều kiện cụ thể.Vận dụng các cặp phạm trù triết học vào
kỹ năng giao tiếp ứng xử là kỹnăng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh
vực triếthọc vào thực tế. Kỹ năng giao tiếp là quá trình sử dụng các phương tiện ngônngữ và phi
ngôn ngữ để định hướng, điều chỉnh và điều khiển quá trình giao tiếpđạt tới mục đích nhất
định.Vận dụng sáng tạo những cặp phạm trù thường được đánh giá qua cácthao tác, các hoạt động
cụ thể và hiệu quả thực tiễn. Nhưng để có kỹ năng tốt,con người cần có hiểu biết đúng về những
gì mình đang làm, đang thực hiện.Một người có thể bắt chước người khác nhiều thao tác và làm
nhiều lần rồitrở nên thành thục, hoặc thành thói quen. Kỹ năng như vậy được đánh giá là đãcó,
nhưng thụ động, chưa đầy đủ. Những kỹ năng này chỉ phù hợp trong một sốlĩnh vực kỹ thuật có
thao tác đơn giản.Người có kỹ năng tốt là người có khả năng vận dụng thành thạo những trithức
đã học vào thực thế và biết áp dụng những cặp phạm trù trong triết học .Chỉ khi họ hình dung được
nội dung và hình thức của cuộc nói chuyện, bản chấtvà hiện tượng, khả năng và hiện thực trong
cuộc nói chuyện ấy với tất cả tâmhuyết và sự chủ động của mình, khi đó mới được coi là kỹ năng
tốt. Điều này ặc biệt quan trọng đối với kỹ năng giao tiếp, vì kỹ năng này không chỉ là nhữngthao
tác đơn thuần với máy móc mà là sự thể hiện hành vi đối với con người.Ứng dụng nội dung và
hình thức trong vấn đề giao tiếp.Theo những nội dung khác nhau, thì ta có thể phân biệt hoạt động
giaotiếp thành nhiều hình thức khác nhau.Theo tính chất tiếp xúc : Có giao tiếp trực tiếp và giao
tiếp gián tiếp (thôngqua văn bản, điện thoại, qua các phương tiện lưu giữ và truyền tin khác).Theo
vị thế trong giao tiếp: có giao tiếp ở thế mạnh, thế yếu và thế cânbằng.Theo ngôn ngữ: có giao tiếp
bằng ngôn từ và phi ngôn từ.Theo mục đích giao tiếp: có giao tiếp để Biết (lấy thông tin để hoặc
thỏamãn nhu cầu biết, hoặc biết để thực thi, biết để giám sát, kiểm tra; biết đề truyềntin); giao tiếp