I HTRƯỜNG ĐẠ ỌC THƯƠNG MẠI
BÀI TH O LU N
HC PH N L CH S NG ĐẢ
ĐỀ TÀI
TÌM HI U CÔNG CU C XÂY D NG CH I NGHĨA XÃ H
MIN BC VI T NAM N 1954 1975 GIAI ĐOẠ
Mã LHP : 251_HCMI0131_02
Ging viên : Lê Văn Nguyên
Nhóm th c hi n
: 5
Hà N i, 2025
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5
STT Họ và tên MSV Nhiệm vụ Đánh giá
01 Nguyễn Thu Hường 23D150113 Chương II
02 Phm Th Mai Hường 23D270066 Ni dung
03
Phm Ngc Khánh
23D121022 Chương II
04
Nguyễn Đức Khiêm
23D150114
Chương II
05
Đinh Phương Linh
23D150114
Chương I
06
Hoàng Ng o Linh c Th
23D270068
Chương II
07 Lưu Thị M Linh 22D170106 Chương I
08
Nguyn Khánh Linh
(Nhóm trưởng)
23D290078 Thuyết trình
09 Nguyễn Phương Linh 23D150116 Chương II
10
Nguyn Th Khánh Linh
23D150070
Chương III
2
11
Nguyn Thùy Linh
23D290026
Chương I
12 Phan Hà Linh 23D150026 Powerpoint
3
MC L C
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................... 4
PHN M U ................................................................................................................ 5ĐẦ
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA XÃ HỘ CH I MI N B C VI T
NAM .................................................................................................................................... 6
1.1. M t s v n v CNXH mi n B t Nam ........................................... 6 ấn đề cơ b c Vi
1.2. Hoàn c nh xây d ng CNXH mi n B c Vi t Nam ................................................. 8
1.3. Đặc điểm CNXH min Bc ................................................................................. 10
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH XÂY DNG CNXH MIN BC (1954 1975)....... 13
2.1. Giai đoạn 1954 1960 ............................................................................................ 13
2.2. Giai đoạ 1965: Bướn 1961 c đầu xây dng CNXH .............................................. 15
2.3. Giai đoạ ến đấn 1965 1975: Va sn xut, va chi u ........................................... 16
2.4. Thành t u và h n ch .............................................................................................. 23 ế
2.4.1. Thành t u ......................................................................................................... 23
2.4.2. H n ch ............................................................................................................ 30 ế
2.5. Ý nghĩa và bài hc kinh nghim ............................................................................. 32
2.5.1. Ý nghĩa ............................................................................................................. 32
2.5.2. Bài h c ............................................................................................................. 33
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ KT LUN ............................................................... 35
KT LU N ...................................................................................................................... 37
TÀI LI U THAM KH O ............................................................................................... 38
4
LỜI CẢM ƠN
Sau m t th i gian h c t p, nghiên c u tìm hi tài ểu, nhóm 5 đã hoàn thành đề
tho lu n: Tìm hi u công cu c xây d ng ch i nghĩa xã hộ mi n B c Vi t Nam giai
đoạn 1954 1975
Đầu tiên, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn thy
Văn Nguyên đã giảng dạy, cung cấp cho chúng em những kiến thức, nội dung
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bài thảo luận. Những nhận xét, góp
ý của cô và các bạn là những ý kiến quý báu giúp nhóm hoàn thành chủ đề này. 5
Trong quá trình thực hiện, không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Vì
vậy, nhóm rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ thy các bạn để rút kinh
nghiệm cho bản thân mỗi nhân trong nhóm cũng như học hỏi hoàn thiện kiến
thức còn thiếu sót.
Kính chúc th y nhiều sức khỏe, hạnh phúc thành công trên con đường sự
nghiệp giảng dạy.
Nhóm 5 xin trân trọng cảm ơn!
5
PHN M U ĐẦ
Giai đoạn 1954 1975 là một trong những chặng đường đặc biệt nhất trong lịch
sử dân tộc Việt Nam hiện đại. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ Hiệp định Genève m
1954, đất ớc tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị đối lập. Miền
Bắc được giải phóng hoàn toàn, đứng trước nhiệm vụ lịch sử vừa phải khôi phục một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, vừa tiến hành quá độ lên chủ
nghĩa hội, đồng thời gánh c sứ mệnh “hậu phương lớn” chi viện cho cuộc đấu tranh
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh gay gắt, mâu thuẫn Trung ngày càng sâu
sắc cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ Việt Nam không ngừng leo thang,
công cuộc xây dựng chnghĩa hội ở miền Bắc không diễn ra trong điều kiện hòa bình
thông thường mà phải tiến hành song song với nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ cứu ớc,
dưới mưa bom bão đạn, với tinh thần “vừa sản xuất, vừa chiến đấu”. Đây chính đặc điểm
nổi bật xuyên suốt, tạo nên một hình xây dựng chủ nghĩa hội chưa từng có tiền
lệ trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
vậy, việc nghiên cứu công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc Việt
Nam giai đoạn 1954 1975 không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thành tựu, hạn
chế, nguyên nhân bài học lịch sử của một giai đoạn đầy thử thách, còn góp phần
khẳng định tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà
Đảng và nhân dân ta đã kiên định lựa chọn. Đồng thời, những kinh nghiệm quý báu từ giai
đoạn này vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa hôm nay.
6
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHĨA XÃ HỘ CH I MIN BC
VIT NAM
1.1. M t s v n v CNXH mi n B t Nam ấn đề bả c Vi
1.1.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công (1954 1960)
Sau hiệp định Genève, miền Bắc chứng kiến sự thay đổi quy dân số, lực lượng
công nhân nông trường quốc doanh tăng nhanh, đồng thời hàng chục vạn quân viễn chinh
Pháp, ngụy quân ngụy quyền rút vào Nam, nhiều giáo dân ở đồng bằng Bắc Bộ di vào -
Nam. Sự chuyển quân tập kết đã khởi đầu sự thay đổi hội sâu sắc: Miền Bắc tiếp nhận
lực lượng nòng cốt kháng chiến đồng thời loại bỏ về mặt chính trị các tổ chức xã hội từng
phục vụ bộ máy thực dân. Từ đó giải kết hội thực dân hóa, tạo nền tảng cho các biến
đội xã hội tiếp theo.
Hình 1: Mi n B c hoàn thành c i cách ru t ộng đấ
Ngun: Internet
Về công cuộc cải cách ruộng đất, đã xóa bỏ giai cấp địa chủ và giải phóng nông dân
khỏi quan hệ sản xuất phong kiến. Lần đầu tiên xuất hiện một giai cấp nông dân sở hữu
ruộng đất tương đối bình quân. Cải cách ruộng đâst phá vỡ cấu trúc phong kiến nông
thôn, làm suy giảm các quan hệ bất bình đẳng vốn bất lợi cho nông dân nghèo.
Để xây dựng miền bắc theo con đường XHCN, hạn chế sự phát triển của kinh tê tư
bản trong nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp
7
được phát động ngày càng được nâng cao. Song song phong trào hợp tác hóa ngành nghề
thủ công. Hợp tác hóa đã tạo ra một kết cấu xã hội mới trong nông thông và tiểu thủ công
Sau khi hòa bình lập lại miền Bắc, nhiệm vụ chủ yếu khôi phục kinh tế, ổn định đời
sống nhân dân và từng bước cải tạo xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhà nước tiến
hành cải cách ruộng đất dựa trên nền tảng bần nông, đoàn kết với trung nông, xóa bỏ chế
độ địa chủ phong kiến, xóa bỏ tàn dư phong kiến, trao ruộng cho nông dân; đồng thời khôi
phục sản xuất ng nông nghiệp cải tạo công thương nghiệp bản doanh bằng
biện pháp hòa bình, không tịch thu liệu sản xuất sử dụng hình thức công họp
doanh, sắp xếp việc làm cho người tư sản và dần cải tạo họ thành người lao động. Hệ thống
chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố, đưa miền Bắc từng bước thoát khỏi nền kinh
tế nông nghiệp lạc hậu, tạo cơ sở ban đầu cho công cuộc xây dựng CNXH.
1.1.2. Xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, phát triển thế tiến công của cách mạng
miền Nam (1961 1965)
Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 1965), nhiều hội nghị chuyên đề -
nhằm cụ thể hóa đường lối đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn. Đồng thời, Đảng phát
động tổ chưa nhiều cuộc vận động và phong trào thi đua sôi nổi trong nhân dân và các địa
phương. Trong thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc đã không ngừng
chi viện cho cách mạng miền Nam cả sức người và sức của, các đoàn cán bộ, chiễn sĩ cùng
vũ khí, đạn dược bí mật,... bất chấp mọi hiểm nguy khó khăn gian khổ.
Hình 2: Đạ ủa Đải hi III c ng - Xây dng CNXH Min Bc
Ngun: Internet
8
Đại hội III của Đảng (1960) xác định miền Bắc căn cứ địa của cả nước, tiến hành
xây dựng CNXH toàn diện. Miền Bắc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 1965)
với trọng tâm phát triển công nghiệp nặng, đồng thời đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp,
mở rộng hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa. Nền kinh tế bắt đầu cấu công – nông nghiệp
XHCN, đời sống nhân dân được cải thiện, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố. Đây
là giai đoạn đặt nền tảng vật chất kỹ thuật và tinh thần cho CNXH ở miền Bắc.
1.1.3. 1975) Vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa, vừa kháng chiến chống Mỹ (1965
- Xây dựng hậu phương chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc;
giữ vững thế chiến lược tấn công, đánh bại chiến lược Chiến tranh cục bộ” của đế quốc
Mỹ (1965 1968): Khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc thực hiện chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, miền Bắc vừa phải bảo vệ mình, vừa chi viện cho
tiền tuyến. Dưới mưa bom đạn, miền Bắc vẫn duy trì sản xuất, phân tán nhà máy, xây dựng
hệ thống phòng không nhân dân hậu phương vững chắc. Nhân dân hăng hái thi đua “vừa
sản xuất, vừa chiến đấu”, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, giữ
vững vai trò căn cứ địa của cách mạng cả nước.
Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc và đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc (1969 1975): Sau khi Mỹ tạm ngừng ném bom, miền Bắc khẩn
trương khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng và tiếp tục chi viện mạnh mẽ cho miền Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo hậu cần cho các chiến
dịch lớn, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Miền Bắc vừa là hậu phương kiên
cường, vừa là lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, góp phần quyết định o thắng lợi
hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước.
1.2. Hoàn c nh xây d ng CNXH mi n B t Nam c Vi
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định 7/1954), đất nước tạm chia Genève (0
làm hai miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kmới. Miền Nam bị
Mỹ Diệm chiếm đóng, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa phụ thuộc. Hiệp định Genève
(1954) được kết đã đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Miền
Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
9
Đây là một quá trình lịch sử đặc biệt, diễn ra trong bối cảnh trong nước còn nhiều khó khăn
và bối cảnh quốc tế đầy biến động của Chiến tranh Lạnh. Chính hoàn cảnh ấy đã quy định
con đường, nhiệm vụ phương thức xây dựng chủ nghĩa hội (CNXH) ở miền Bắc, một
quá trình vừa mang tính tất yếu khách quan, vừa gắn liền với yêu cầu giải phóng miền Nam
và thống nhất đất nước.
1.2.1. B i c c ảnh trong nướ
Sau khi Hiệp định 7/1954) có hiệu lực, Miền Bắc được giải phóng hoàn Genève (0
toàn bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, tiến hành cải tạo hội chủ nghĩa
xây dựng sở vật chất kỹ thuật của chnghĩa hội. Đưa miền Bắc tiến lên chủ
nghĩa hội, xây dựng miền Bắc vững mạnh tạo sở cho cuộc đấu tranh thống nhất
đất nước.
Tuy nhiên, xuất phát điểm của miền Bắc rất thấp: nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
công nghiệp nhỏ, sản xuất thủ công chủ yếu; cơ sở hạ tầng bị chiến tranh tàn phá nặng
nề, đời sống nhân dân còn nghèo đói. Nhà ớc dân chủ nhân dân mới được thành lập,
chưa có kinh nghiệm quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Cùng lúc đó, miền Bắc phải gánh sứ mệnh kép: vừa xây dựng CNXH, vừa là “hậu
phương lớn” chi viện cho miền Nam. Đảng Nhà nước xác định nhiệm vụ chiến lược:
khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, thực hiện cải cách ruộng đất, cải tạo quan hệ sản xuất
theo hướng xã hội chủ nghĩa, và phát triển kinh tế quốc doanh làm nền tảng.
Về tổ chức chính trị, Đảng đã sớm xác định mô hình chủ đạo là của Nhà nước
hợp tác xã, tập thể hóa nông nghiệp, xây dựng công nghiệp quốc doanh nhằm thay đổi quan
hệ sản xuất, tạo nền tảng hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, còn rất nhiều khó khăn: thiếu vốn,
thiếu kỹ thuật, nguồn nhân lực yếu; điều này nh hưởng tới tốc độ và hiệu quả của việc xây
dựng.
Bối cảnh trong nước buộc miền Bắc phải khẩn trương khôi phục xây dựng.
Nhưng vì xuất phát điểm thấp và nhiệm vụ kép (xây dựng chi viện chiến tranh), nên tốc
độ hiệu quả bị ảnh hưởng. Việc xác định CNXH mục tiêu ràng “xây dựng sở
vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa hội” cho thấy Đảng lựa chọn đường lối mang tính
chiến lược dài hạn.
10
1.2.2. B i c nh qu c tế
Trong bối cảnh quốc tế, thời kỳ 1954 1975 là giai đoạn mà trật tự thế giới bị chi
phối mạnh mẽ bởi cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai hệ thống hội đối lập: tư bản chủ nghĩa
đứng đầu là Hoa Kỳ và xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô. Sự phát triển lớn mạnh của
hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là sức mạnh kinh tế – quân sự – khoa học của Liên Xô,
đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc khôi phục phát triển đất nước sau
chiến tranh.
Song song đó, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh cũng
dâng cao, cổ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam, khẳng định xu thế
“độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa hội”. Tuy nhiên, tình hình thế giới cũng đầy
biến động: mâu thuẫn Trung từ đầu những năm 1960 ngày càng gay gắt, gây chia rẽ
nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, làm cho Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì cân
bằng quan hệ quốc tế và tranh thủ viện trợ.
Cùng lúc, đế quốc Mỹ đẩy mạnh chính sách can thiệp chiến tranh xâm lược
miền Nam Việt Nam, biến miền Bắc trở thành mục tiêu oanh tạc chiến lược. Chiến tranh
lan rộng ra toàn quốc, khiến miền Bắc phải xây dựng CNXH trong điều kiện “vừa sản xuất,
vừa chiến đấu”.
Bối cảnh quốc tế vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với miền Bắc. Sự hỗ trợ của
các nước xã hội chủ nghĩa là nguồn lực to lớn giúp miền Bắc khôi phục kinh tế, xây dựng
cơ sở vật chất, song đồng thời, chiến tranh lạnh và sự chia rẽ trong phe XHCN khiến Việt
Nam phải chủ động thích ứng và phát huy tinh thần “tự lực cánh sinh”.
1.3. Đặc điểm CNXH min Bc
Quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm
1975 là một giai đoạn lịch sử chịu sự chi phối mạnh mẽ của hoàn cảnh "một nước, hai chế
độ" cuộc chiến tranh kéo dài. Dựa trên các vấn đề bản bối cảnh được xác định,
CNXH ở miền Bắc mang những đặc điểm sau:
1.3.1. Tính ch t kép và s m v chi n tranh ưu tiên cho nhiệ ế
Đặc điểm nổi bật và xuyên suốt nhất của CNXH ở miền Bắc là việc phải thực hiện
đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: vừa xây dựng CNXH, vừa kháng chiến chống. Miền
11
Bắc không chỉ tiến hành xây dựng sở vật chất, kỹ thuật theo ớng hội chủ nghĩa
(thực hiện Kế hoạch 5 năm, phát triển công nghiệp nặng) mà còn phải đóng vai trò là "hậu
phương lớn" kiên cường, chi viện tối đa cho miền Nam. Đặc biệt trong giai đoạn 19 65
1975, việc xây dựng phải diễn ra trong điều kiện "vừa sản xuất, vừa chiến đấu" chống
lại chiến tranh phá hoại. Điều này buộc nền kinh tế phải được tổ chức theo cơ chế ưu tiên
quốc phòng, phân tán sản xuất huy động mọi nguồn lực cho chiến trường, khiến tính
chất quân sự hóa thâm nhập sâu vào đời sống kinh tế và xã hội.
1.3.2. lên CNXH t xu m th p Quá độ ất phát điể
Miền Bắc bắt đầy thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội (CNXH) từ năm 1954, bỏ
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, theo đường lối “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”.
Đặc điểm của thời kỳ này là xây dựng CNXH ở miền Bắc là một quá trình quá độ đặc biệt
do phải đi lên từ một xuất phát điểm thấp: một nền kinh tế căn bản là nông nghiệp lạc hậu,
công nghiệp nhỏ và cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề. Hoàn cảnh này đòi hỏi Đảng và Nhà
nước phải thực hiện các bước cải tạo cấp tốc và triệt để. Miền Bắc đã tiến hành cải tạo quan
hệ sản xuất thông qua cải cách ruộng đất, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đẩy mạnh hợp tác
hóa nông nghiệp cùng với cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Mục tiêu là nhanh
chóng thiết lập một cấu công nông nghiệp CNXH, với nền tảng kinh tế quốc doanh
tập thể, nhằm tạo ra sở ban đầu cho CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển bản chủ
nghĩa.
1.3.3. M c tiêu chi c g n li n v i th ng nh c ến lư ất đất nướ
Việc xây dựng CNXH ở miền Bắc không chỉ vì lợi ích của miền Bắc còn mang
mục đích chiến lược tối cao giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đại hội III
của Đảng đã xác định miền Bắc là căn cứ địa của cả nước. Mọi nỗ lực khôi phục phát
triển kinh tế, củng cố hệ thống chính quyền dân chủ nhân n đều nhằm xây dựng miền
Bắc vững mạnh để làm chỗ dựa tạo sở vật chất, kỹ thuật cho cuộc đấu tranh chung.
Tính chất này khiến sự phát triển kinh tế bị giới hạn chịu sự chi phối nặng nề của yêu
cầu hậu cần và chi viện chiến trường.
12
1.3.4. V tranh th vi n tr và t l c cánh sinh trong b i c nh qu ấn đề c tế
Mặc việc xây dựng CNXH nhận được sự htrợ to lớn từ các nước xã hội chủ
nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc), tạo điều kiện khôi phục phát triển đất nước, nhưng quá
trình này lại diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh và sự mâu thuẫn Xô Trung gay gắt.
Tình hình quốc tế đầy biến động này khiến Việt Nam gặp khó khăn trong việc cân bằng
quan hệ và tranh thủ viện trợ. Do đó, việc xây dựng CNXH ở miền Bắc luôn phải kết hợp
sự hỗ trợ quốc tế với tinh thần "tự lực cánh sinh" phát huy nội lực, đặc biệt trong việc
tổ chức phòng không và duy trì sản xuất dưới mưa bom.
Tóm lại, CNXH miền Bắc một hình chịu sự chi phối của chiến tranh
mục tiêu thống nhất, được xây dựng trên nền tảng kinh tế lạc hậu, buộc phải áp dụng đường
lối tập trung hóa và ưu tiên quốc phòng một cách tuyệt đối.
13
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH XÂY DNG CNXH MIN BC (1954 1975)
2.1. Giai đoạn 1954 1960: Khôi phc kinh tế sau chiến tranh và ci to XHCN
Sau Hiệp định năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng phải đối Genève
mặt với hậu quả nặng nề của chiến tranh. Cơ sở hạ tầng bị tàn phá, sản xuất đình trệ, nguồn
vốn nhân lực khan hiếm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Chính quyền cách
mạng mới Nhà ớc Dân chủ Nhân dân đứng trước nhiệm vụ vừa ổn định chính trị,
củng cố bộ máy quản lý, vừa phục hồi sản xuất chuẩn bị cho mục tiêu dài hạn xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đó, Đảng xác định rõ:
miền Bắc phải thực hiện một chiến lược toàn diện nhằm khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ
sản xuất và phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khôi phục sản xuất và ổn định đời sống nhân dân: Đảng chủ trương lấy việc khôi
phục sản xuất nông nghiệp làm trọng m. Việc này kết hợp chặt chẽ với cải cách ruộng
đất, vận động nông dân giúp nhau sản xuất, đồng thời quan tâm xây dựng sở vật chất
cho nông nghiệp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải cũng được phục
hồi, góp phần đảm bảo lương thực, nguyên liệu và nhu cầu thiết yếu cho xã hội. Song song
với đó, các chính sách hàn gắn hậu quả chiến tranh được triển khai: sửa chữa, xây dựng lại
sở hạ tầng, chăm sóc đền cho nạn nhân chiến tranh, ổn định dân đời sống
nhân dân, đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế để củng cố hòa bình chống lại âm mưu
xâm lược của đế quốc Mỹ.
Cải tạo quan hệ sản xuất đặt nền tảng hội chủ nghĩa: Trong giai đoạn này,
Đảng tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất nhằm đặt nền tảng cho hội chủ nghĩa. Trước
hết cải cách ruộng đất (1953 1956), nhằm xóa bỏ chế độ địa chủ phong kiến, trao quyền
sử dụng hoặc shữu ruộng đất cho nông dân nghèo chuẩn bị sở hội cho tập thể
hóa sau này. Việc cải cách được thực hiện thông qua điều tra, phân loại giai cấp, phân phối
lại ruộng đất xử lý các địa chủ phản cách mạng. Bước đầu đã nâng cao quyền làm chủ
tinh thần hăng hái sản xuất của ng dân, tuy nhiên cũng phát sinh những sai sót, cực
đoan, dẫn đến các chiến dịch “khoan thư sức dân” và đợt chỉnh lý sau đó.
Song song, cải tạo công thương nghiệp bản doanh được tiến hành nhằm
chuyển nền kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa. Các doanh nghiệp nhân lớn nhỏ được
14
hợp tác hóa dần, những ngành then chốt được quốc hữu hóa, thiết lập chế quản tập
trung theo kế hoạch. Qua đó, nhiều sở công nghiệp được tiếp quản tổ chức lại, tạo
nền tảng cho phát triển công nghiệp quốc doanh trong tương lai.
Kế hoạch ba năm 1958 1960 phát triển hội: Tháng 11/1958, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đề ra kế hoạch ba m (1958 1960) nhằm phát triển kinh tế, n hóa
cải tạo hội chủ nghĩa đối với kinh tế thể bản doanh. Kế hoạch tập trung
ưu tiên công nghiệp hóa, đặc biệt công nghiệp nặng, đồng thời phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các lĩnh vực kinh tế. Ngoài ra, các lĩnh
vực văn hóa, giáo dục, y tế được chú trọng phát triển, góp phần nâng cao dân trí và ổn định
đời sống nhân dân.
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc: Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ III của Đảng ( 9/1960) đã đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa cho miền Bắc. 0
Cuộc cách mạng XHCN được xác định là một quá trình cải biến toàn diện về kinh tế, chính
trị, tưởng, văn hóa kỹ thuật, đấu tranh giữa con đường CNXH con đường bản
chủ nghĩa. Nhiệm vụ trung tâm là công nghiệp hóa hội chủ nghĩa, kết hợp cải tạo XHCN
trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và phát triển kinh tế quốc doanh.
Đồng thời, phải tiến hành cuộc cách mạng về tưởng, văn hóa kỹ thuật để thay đổi
toàn bộ đời sống xã hội phù hợp với chế độ XHCN.
Trong thời kỳ quá độ, định ớng của miền Bắc đoàn kết toàn dân, phát huy
truyền thống yêu nước và lao động cần cù, đồng thời kết hợp đoàn kết với các nước xã hội
chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên CNXH. Mục tiêu cụ thể đưa miền
Bắc từ nền kinh tế cá thể, sản xuất nhỏ lẻ sang nền kinh tế XHCN dựa trên sở hữu toàn dân
tập thể, tạo sở vững chắc cho thống nhất đất nước trong tương lai. Các biện pháp
thực hiện bao gồm sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm công cụ của chuyên chính
vô sản, kết hợp kế hoạch ba năm và các chính sách cải tạo, quản lý xã hội.
Trong giai đoạn 1954 1960, miền Bắc đã phục hồi bản nền kinh tế, đảm bảo
nhu cầu lương thực, nguyên liệu tiêu dùng thiết yếu; cải tạo quan hệ sản xuất theo hướng
xã hội chủ nghĩa; phát triển công nghiệp quốc doanh; nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục,
15
y tế ổn định đời sống nhân dân. Đây tiền đề quan trọng để miền Bắc tiếp tục công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và làm cơ sở cho thống nhất đất nước sau này.
2.2. Giai đoạ 1965: Bước đần 1961 u xây dng CNXH
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 09/1960) đã xác định nhiệm
vụ của cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc là giữ vai trò quyết định nhất đối với sự
phát triển của toàn bcách mạng Việt Nam. Đại hội đã đề ra đường lối công nghiệp hóa
hội chủ nghĩa, coi đây nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Cụ thể hóa
đường lối này, miền Bắc bắt đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 1965).
Mục tiêu cơ bản của kế hoạch này, như Đại hội III đã xác định, là "xây dựng một nền kinh
tế XHCN cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kthuật của CNXH".
Đây ớc đi đầu tiên trong quá trình cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu của miền Bắc,
đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ tiến lên.
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa III)
đã nêu rõ phương hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp. Chủ trương cốt lõi là
"ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý". Đây được xem là con đường tất yếu
để cải biến nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Tuy nhiên, Đảng cũng nhận thức rõ việc phát
triển công nghiệp nặng phải dựa trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Do
đó, chủ trương này được thực hiện đồng bộ với việc "kết hợp chặt chẽ phát triển công
nghiệp với phát triển ng nghiệp", đồng thời "ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song
với việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng". Bên cạnh đó, Đảng cũng chủ trương phát
triển cân đối giữa công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương để khai thác tối đa
tiềm lực của đất nước.
Nhằm cụ thể hóa đường lối của Đại hội III, các hội nghị Trung ương đã tập trung
vào từng lĩnh vực then chốt. Ngay từ tháng 7/1961, Hội nghị Trung ương lần thứ 5 đã 0
chuyên bàn về phát triển nông nghiệp, coi đây là sở để phát triển công nghiệp, ổn định
đời sống nhân dân phục vụ sự nghiệp thống nhất đất nước. Tiếp đó, Hội nghị Trung
ương lần thứ 7 (tháng 6/1962) tập trung vào vấn đề phát triển công nghiệp, khẳng định vị 0
trí then chốt của công nghiệp nặng. Nhờ việc triển khai các chủ trương này, đến cuối giai
16
đoạn 1965, miền Bắc đã đạt và vượt nhiều mục tiêu về kinh tế, xây dựng được nền móng
vật chất kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội.
Song song với cuộc ch mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ
thuật, Đại hội III cũng chủ trương tiến hành cuộc "cách mạng tưởng văn hóa". Mục
tiêu của cuộc cách mạng này là làm cho nhân dân "thoát nạn mù chữ", "trình độ văn hóa
ngày càng cao", và có "hiểu biết cần thiết về khoa học, kỹ thuật tiên tiến" để xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Trong giai đoạn 1961 1965, sự nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế đã có sự phát
triển mạnh mẽ. Ngay cả khi đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc
(từ 1965), các lĩnh vực này không chỉ được duy trì còn phát triển, góp phần nâng cao
đời sống tinh thần và trình độ dân trí, tạo ra con người mới xã hội chủ nghĩa.
2.3. Giai đoạn 1965 1975: Va sn xut, va chiến đu
Từ đầu năm 1965, trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền quân đội Sài Gòn
đặc biệt sự phá sản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", chính quyền Tổng thống Mỹ
L.Giônxơn bắt đầu hành động để cứu vãn đồ chủ nghĩa thực dân mới. Đế quốc Mđã
tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" với quy mô lớn. Tại miền Nam, chúng ồ ạt đưa
quân chiến đấu của Mỹ quân các nước đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến,
đóng vai trò chủ yếu, còn lại là quân đội Sài Gòn để hỗ trợ quân Mỹ và thực hiện nh định.
Đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phoại bằng không quân hải quân đối với miền
Bắc nước ta.
Buộc phải thực thi trong thể thất bại bị động, cho nên nó chứa đựng đẩy mâu
thuẫn về chiến lược. Tuy nhiên, tính chất và mục đích của cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ
vẫn là chiến tranh xâm lược nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới, song cuộc chiến
tranh từ chỗ dựa vào lực lượng ngụy quân, ngụy quyền chủ yếu chuyển thành dựa vào
lực lượng quân đội Mỹ, đồng minh của Mỹ quân đội chính quyền Sài Gòn. Vừa tập
trung lực ợng chủ yếu trên chiến trường miền Nam, vừa mở rộng chiến tranh phá hoại
đối với miền Bắc, ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Tạo ra tình
hình cả nước có chiến tranh với Mỹ.
Với tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Hội nghị lần thứ 11
(03/1965) và Hội nghị lần thứ 12 (12/1965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phát
17
động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc, coi đó nhiệm vụ
thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc. Hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên lực ợng
của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ
tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.
Phương châm chỉ đạo chiến lược thực hiện kháng chiến lâu dài, dựa vào sức
mình là chính, càng đánh càng mạnh và cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của
cả hai miền để mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời giành thắng lợi quyết định
trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm
tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều kiện có chiến
tranh. Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để
bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, động viên sức người sức của ở mức cao nhất
để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị để
phòng để đánh bại địch trong trường hợp “Chiến tranh cục bộ” lan rộng ra cả nước. Bên
cạnh đó, tưởng chỉ đạo miền Nam là giữ vững phát triển thế tiến công, kiên quyết
tiến công liên tục tiến công. “Tiếp tục kiên trì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp
với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp ”, đánh địch trên cả ba vùng công
chiến lược. Trong giai đoạn này, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ
một vị trí ngày cảng quan trọng.
Nhiệm vụ mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu ở hai miền trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam là tiến tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn.
Bảo vệ miền Bắc nhiệm vụ của cả nước, miền Bắc hội chủ nghĩa hậu phương
vững chắc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ miền Bắc ra sức tăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt nhằm bảo
đảm chi viện đắc lực cho miền Nam càng đánh càng mạnh. Hai nhiệm vụ trên dây không
tách rời nhau, mà mật thiết gắn bó nhau. Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước lúc này là
“Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
18
Nghị quyết Trung ương lần thứ 11 lần thứ 12 năm 1965 với nội dung như trên
thể hiện tưởng nắm vững, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa hội,
tiếp tục tiến hành đồng thời hai chiến lược ch mạng của Đảng quyết tâm đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta. Đó là đường
lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình chính trong hoàn
cảnh mới, cơ sở để Đảng lãnh đạo đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi tới thắng
lợi vẻ vang.
Từ ngày 05/08/1964, Mỹ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm lấy cớ dùng không
quân hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ diễn ra rất ác liệt kề từ đầu tháng 2 1965 với ý đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá;
phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện của miền
Bắc đối với miền Nam; đè bẹp ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc Việt
Nam, buộc chúng ta phải kết thúc chiến tranh theo điều kiện do Mỹ đặt ra.
Trước tình hình đó, theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 lần thứ
12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương, nhiệm vụ cụ thể của
miền Bắc cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh:
Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình chiến
tranh phá hoại. Bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu tích cực chi viện cho miền Nam,
đồng thời vẫn phù hợp với phương hướng lâu dài của công cuộc công nghiệp hoá hội
chủ nghĩa chú ý đúng mức đến các yêu cầu về đời sống của nhân dân. Nội dung chuyển
hướng kinh tế bao gồm: đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp, chú trọng phát triển công
nghiệp địa phương thủ công nghiệp, xây dựng những nghiệp công nghiệp nhỏ vừa,
tích cực xây dựng và phát triển kinh tế theo từng vùng chiến lược quan trọng, làm cho mỗi
vùng có khả năng tự giải quyết phần lớn nhu cầu ăn, mặc, ở, học tập, bảo vệ sức khỏe, bảo
đảm đời sống nhân dân, phục vụ sản xuất xây dựng và chiến đấu.
Hai là, tăng ờng lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình hình cả
nước có chiến tranh. Ra sức tăng cường công tác phòng thủ, đánh trả để bảo vệ miền Bắc;
đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân, kiên quyết đánh bại kế hoạch ném bom bắn phá,
phong tỏa miền Bắc bằng không quân hải quân của địch, tăng ờng công tác chống
19
gián điệp, bảo vệ trật tự, cố gắng hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại của ta do địch gây ra
gây thiệt hại cho địch tới mức cao nhất. Nắm vững phương châm dựa vào sức mình
chính, đồng thời ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch chiến
trường chính miền Nam.
Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình
mới.
Chủ trương chuyển ớng những nhiệm vụ của miền Bắc phản ánh quyết m
của Đảng nhân dân ta trong việc kiên trì con đường hội chủ nghĩa, tiếp tục tăng cường
sức mạnh của miền Bắc, làm chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp chống Mỹ xâm lược, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quyết tâm đó đã được thể hiện trong Lời kêu gọi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 17/ iến tranh có thểo dài 5 năm, 10 năm, 07/1966: "Ch
20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn
phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Do bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam Bắc, tháng 03/1968, đế quốc Mỹ tuyên
bố hạn chế ném bom miền Bắc. Ngày 01/11/1968, Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện
đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, hậu phương
lớn miền Bắc đã đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục, miền Bắc ngày càng thêm vững
mạnh. Chế độ hội chủ nghĩa đang được xây dựng ở miền Bắc đã vượt qua được nhiều
thử thách nghiêm trọng ngày càng phát huy tính ưu việt trong chiến tranh. Chuyển hướng
kinh tế, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh có chiến tranh nét đặc biệt
chưa tiền lệ. Sản xuất nông nghiệp không những không giảm sút còn bước phát
triển tiến bộ. sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp được tăng cường so với trước
chiến tranh; 4.655 hợp tác được trang bị khí nhỏ. Phong trào thâm canh tăng vụ
được đẩy mạnh ở nhiều địa phương. Nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho toàn
hội vẫn bảo đảm. Sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp vẫn được duy trì mặc

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THO LUN
HC PHN LCH S ĐẢNG ĐỀ TÀI
TÌM HIU CÔNG CUC XÂY DNG CH NGHĨA XÃ HỘI
MIN BC VIT NAM GIAI ĐOẠN 1954 1975 Mã LHP : 251_HCMI0131_02 Ging viên : Lê Văn Nguyên
Nhóm thc hin : 5 Hà N i, 2025
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5 STT Họ và tên MSV Nhiệm vụ Đánh giá 01 Nguyễn Thu Hường 23D150113 Chương II 02 Phạm Thị Mai Hường 23D270066 Nội dung 03 Phạm Ngọc Khánh 23D121022 Chương II 04 Nguyễn Đức Khiêm 23D150114 Chương II 05 Đinh Phương Linh 23D150114 Chương I 06 Hoàng Ngọc Thảo Linh 23D270068 Chương II 07 Lưu Thị Mỹ Linh 22D170106 Chương I Nguyễn Khánh Linh 08 23D290078 Thuyết trình (Nhóm trưởng) 09 Nguyễn Phương Linh 23D150116 Chương II 10 Nguyễn Thị Khánh Linh 23D150070 Chương III 1 11 Nguyễn Thùy Linh 23D290026 Chương I 12 Phan Hà Linh 23D150026 Powerpoint 2
MC LC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................... 4
PHN M ĐẦU ................................................................................................................ 5
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CH NGHĨA XÃ HỘI MIN BC VIT
NAM .................................................................................................................................... 6
1.1. Một số vấn đề cơ bản về CNXH ở miền Bắc Việt Nam ........................................... 6
1.2. Hoàn cảnh xây dựng CNXH ở miền Bắc Việt Nam ................................................. 8
1.3. Đặc điểm CNXH ở miền Bắc ................................................................................. 10
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CNXH MIN BC (1954 1975)....... 13
2.1. Giai đoạn 1954 – 1960 ............................................................................................ 13
2.2. Giai đoạn 1961 – 1965: Bước đầu xây dựng CNXH .............................................. 15
2.3. Giai đoạn 1965 – 1975: Vừa sản xuất, vừa chiến đấu ........................................... 16
2.4. Thành tựu và hạn chế .............................................................................................. 23
2.4.1. Thành tựu ......................................................................................................... 23
2.4.2. Hạn chế ............................................................................................................ 30
2.5. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm ............................................................................. 32
2.5.1. Ý nghĩa ............................................................................................................. 32
2.5.2. Bài học ............................................................................................................. 33
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ KT LUN ............................................................... 35
KT LUN ...................................................................................................................... 37
TÀI LIU THAM KHO ............................................................................................... 38 3 LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và tìm hiểu, nhóm 5 đã hoàn thành đề tài
thảo luận: “Tìm hiểu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975”
Đầu tiên, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn thầy
Lê Văn Nguyên đã giảng dạy, cung cấp cho chúng em những kiến thức, nội dung
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bài thảo luận. Những nhận xét, góp
ý của cô và các bạn là những ý kiến quý báu giúp nhóm 5 hoàn thành chủ đề này.
Trong quá trình thực hiện, không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Vì
vậy, nhóm rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ thầy và các bạn để rút kinh
nghiệm cho bản thân mỗi cá nhân trong nhóm cũng như học hỏi và hoàn thiện kiến thức còn thiếu sót.
Kính chúc thầy có nhiều sức khỏe, hạnh phúc thành công trên con đường sự nghiệp giảng dạy.
Nhóm 5 xin trân trọng cảm ơn! 4
PHN M ĐẦU
Giai đoạn 1954 – 1975 là một trong những chặng đường đặc biệt nhất trong lịch
sử dân tộc Việt Nam hiện đại. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève năm
1954, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị đối lập. Miền
Bắc được giải phóng hoàn toàn, đứng trước nhiệm vụ lịch sử vừa phải khôi phục một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, vừa tiến hành quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, đồng thời gánh vác sứ mệnh “hậu phương lớn” chi viện cho cuộc đấu tranh
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh gay gắt, mâu thuẫn Xô – Trung ngày càng sâu
sắc và cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam không ngừng leo thang,
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc không diễn ra trong điều kiện hòa bình
thông thường mà phải tiến hành song song với nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ cứu nước,
dưới mưa bom bão đạn, với tinh thần “vừa sản xuất, vừa chiến đấu”. Đây chính là đặc điểm
nổi bật và xuyên suốt, tạo nên một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội chưa từng có tiền
lệ trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Vì vậy, việc nghiên cứu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt
Nam giai đoạn 1954 – 1975 không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thành tựu, hạn
chế, nguyên nhân và bài học lịch sử của một giai đoạn đầy thử thách, mà còn góp phần
khẳng định tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà
Đảng và nhân dân ta đã kiên định lựa chọn. Đồng thời, những kinh nghiệm quý báu từ giai
đoạn này vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa hôm nay. 5
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CH NGHĨA XÃ HỘI MIN BC VIT NAM
1.1. Mt s vấn đề cơ bản v CNXH min Bc Vit Nam
1.1.1. Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công (1954 1960)
Sau hiệp định Genève, miền Bắc chứng kiến sự thay đổi quy mô dân số, lực lượng
công nhân nông trường quốc doanh tăng nhanh, đồng thời hàng chục vạn quân viễn chinh
Pháp, ngụy quân-ngụy quyền rút vào Nam, nhiều giáo dân ở đồng bằng Bắc Bộ di cư vào
Nam. Sự chuyển quân tập kết đã khởi đầu sự thay đổi xã hội sâu sắc: Miền Bắc tiếp nhận
lực lượng nòng cốt kháng chiến đồng thời loại bỏ về mặt chính trị các tổ chức xã hội từng
phục vụ bộ máy thực dân. Từ đó giải kết xã hội thực dân hóa, tạo nền tảng cho các biến đội xã hội tiếp theo.
Hình 1: Min B c hoàn thành ci cách rut ộng đấ Nguồn: Internet
Về công cuộc cải cách ruộng đất, đã xóa bỏ giai cấp địa chủ và giải phóng nông dân
khỏi quan hệ sản xuất phong kiến. Lần đầu tiên xuất hiện một giai cấp nông dân sở hữu
ruộng đất tương đối bình quân. Cải cách ruộng đâst phá vỡ cấu trúc phong kiến ở nông
thôn, làm suy giảm các quan hệ bất bình đẳng vốn bất lợi cho nông dân nghèo.
Để xây dựng miền bắc theo con đường XHCN, hạn chế sự phát triển của kinh tê tư
bản trong nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp 6
được phát động ngày càng được nâng cao. Song song là phong trào hợp tác hóa ngành nghề
thủ công. Hợp tác hóa đã tạo ra một kết cấu xã hội mới trong nông thông và tiểu thủ công
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, nhiệm vụ chủ yếu là khôi phục kinh tế, ổn định đời
sống nhân dân và từng bước cải tạo xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhà nước tiến
hành cải cách ruộng đất dựa trên nền tảng bần nông, đoàn kết với trung nông, xóa bỏ chế
độ địa chủ phong kiến, xóa bỏ tàn dư phong kiến, trao ruộng cho nông dân; đồng thời khôi
phục sản xuất công – nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh bằng
biện pháp hòa bình, không tịch thu tư liệu sản xuất mà sử dụng hình thức công tư họp
doanh, sắp xếp việc làm cho người tư sản và dần cải tạo họ thành người lao động. Hệ thống
chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố, đưa miền Bắc từng bước thoát khỏi nền kinh
tế nông nghiệp lạc hậu, tạo cơ sở ban đầu cho công cuộc xây dựng CNXH.
1.1.2. Xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, phát triển thế tiến công của cách mạng
miền Nam (1961 1965)
Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), nhiều hội nghị chuyên đề
nhằm cụ thể hóa đường lối đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn. Đồng thời, Đảng phát
động tổ chưa nhiều cuộc vận động và phong trào thi đua sôi nổi trong nhân dân và các địa
phương. Trong thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc đã không ngừng
chi viện cho cách mạng miền Nam cả sức người và sức của, các đoàn cán bộ, chiễn sĩ cùng
vũ khí, đạn dược bí mật,... bất chấp mọi hiểm nguy khó khăn gian khổ.
Hình 2: Đại hi III của Đảng - Xây dng CNXH Min Bc Nguồn: Internet 7
Đại hội III của Đảng (1960) xác định miền Bắc là căn cứ địa của cả nước, tiến hành
xây dựng CNXH toàn diện. Miền Bắc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)
với trọng tâm phát triển công nghiệp nặng, đồng thời đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp,
mở rộng hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa. Nền kinh tế bắt đầu có cơ cấu công – nông nghiệp
XHCN, đời sống nhân dân được cải thiện, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố. Đây
là giai đoạn đặt nền tảng vật chất – kỹ thuật và tinh thần cho CNXH ở miền Bắc.
1.1.3. Vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa, vừa kháng chiến chống Mỹ (1965 1975)
- Xây dựng hậu phương chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc;
giữ vững thế chiến lược tấn công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc
Mỹ (1965 – 1968): Khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc và thực hiện chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, miền Bắc vừa phải bảo vệ mình, vừa chi viện cho
tiền tuyến. Dưới mưa bom đạn, miền Bắc vẫn duy trì sản xuất, phân tán nhà máy, xây dựng
hệ thống phòng không nhân dân và hậu phương vững chắc. Nhân dân hăng hái thi đua “vừa
sản xuất, vừa chiến đấu”, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, giữ
vững vai trò căn cứ địa của cách mạng cả nước.
– Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc và đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc (1969 – 1975): Sau khi Mỹ tạm ngừng ném bom, miền Bắc khẩn
trương khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng và tiếp tục chi viện mạnh mẽ cho miền Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo hậu cần cho các chiến
dịch lớn, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Miền Bắc vừa là hậu phương kiên
cường, vừa là lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, góp phần quyết định vào thắng lợi
hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
1.2. Hoàn cnh xây dng CNXH min Bc Vit Nam
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève (07/1954), đất nước tạm chia
làm hai miền. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ mới. Miền Nam bị
Mỹ – Diệm chiếm đóng, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa phụ thuộc. Hiệp định Genève
(1954) được ký kết đã đánh dấu bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Miền
Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 8
Đây là một quá trình lịch sử đặc biệt, diễn ra trong bối cảnh trong nước còn nhiều khó khăn
và bối cảnh quốc tế đầy biến động của Chiến tranh Lạnh. Chính hoàn cảnh ấy đã quy định
con đường, nhiệm vụ và phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc, một
quá trình vừa mang tính tất yếu khách quan, vừa gắn liền với yêu cầu giải phóng miền Nam
và thống nhất đất nước.
1.2.1. Bi cảnh trong nước
Sau khi Hiệp định Genève (07/1954) có hiệu lực, Miền Bắc được giải phóng hoàn
toàn và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa
và xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đưa miền Bắc tiến lên chủ
nghĩa xã hội, xây dựng miền Bắc vững mạnh là tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
Tuy nhiên, xuất phát điểm của miền Bắc rất thấp: nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,
công nghiệp nhỏ, sản xuất thủ công là chủ yếu; cơ sở hạ tầng bị chiến tranh tàn phá nặng
nề, đời sống nhân dân còn nghèo đói. Nhà nước dân chủ nhân dân mới được thành lập,
chưa có kinh nghiệm quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Cùng lúc đó, miền Bắc phải gánh sứ mệnh kép: vừa xây dựng CNXH, vừa là “hậu
phương lớn” chi viện cho miền Nam. Đảng và Nhà nước xác định nhiệm vụ chiến lược:
khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, thực hiện cải cách ruộng đất, cải tạo quan hệ sản xuất
theo hướng xã hội chủ nghĩa, và phát triển kinh tế quốc doanh làm nền tảng.
Về tổ chức – chính trị, Đảng đã sớm xác định mô hình chủ đạo là của Nhà nước và
hợp tác xã, tập thể hóa nông nghiệp, xây dựng công nghiệp quốc doanh nhằm thay đổi quan
hệ sản xuất, tạo nền tảng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, còn rất nhiều khó khăn: thiếu vốn,
thiếu kỹ thuật, nguồn nhân lực yếu; điều này ảnh hưởng tới tốc độ và hiệu quả của việc xây dựng.
Bối cảnh trong nước buộc miền Bắc phải khẩn trương khôi phục và xây dựng.
Nhưng vì xuất phát điểm thấp và nhiệm vụ kép (xây dựng và chi viện chiến tranh), nên tốc
độ và hiệu quả bị ảnh hưởng. Việc xác định CNXH là mục tiêu rõ ràng “xây dựng cơ sở
vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” cho thấy Đảng lựa chọn đường lối mang tính chiến lược dài hạn. 9
1.2.2. Bi cnh quc tế
Trong bối cảnh quốc tế, thời kỳ 1954 – 1975 là giai đoạn mà trật tự thế giới bị chi
phối mạnh mẽ bởi cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai hệ thống xã hội đối lập: tư bản chủ nghĩa
đứng đầu là Hoa Kỳ và xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô. Sự phát triển lớn mạnh của
hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là sức mạnh kinh tế – quân sự – khoa học của Liên Xô,
đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh.
Song song đó, phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh cũng
dâng cao, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam, khẳng định xu thế
“độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, tình hình thế giới cũng đầy
biến động: mâu thuẫn Xô – Trung từ đầu những năm 1960 ngày càng gay gắt, gây chia rẽ
nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, làm cho Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì cân
bằng quan hệ quốc tế và tranh thủ viện trợ.
Cùng lúc, đế quốc Mỹ đẩy mạnh chính sách can thiệp và chiến tranh xâm lược ở
miền Nam Việt Nam, biến miền Bắc trở thành mục tiêu oanh tạc chiến lược. Chiến tranh
lan rộng ra toàn quốc, khiến miền Bắc phải xây dựng CNXH trong điều kiện “vừa sản xuất, vừa chiến đấu”.
Bối cảnh quốc tế vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với miền Bắc. Sự hỗ trợ của
các nước xã hội chủ nghĩa là nguồn lực to lớn giúp miền Bắc khôi phục kinh tế, xây dựng
cơ sở vật chất, song đồng thời, chiến tranh lạnh và sự chia rẽ trong phe XHCN khiến Việt
Nam phải chủ động thích ứng và phát huy tinh thần “tự lực cánh sinh”.
1.3. Đặc điểm CNXH min Bc
Quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm
1975 là một giai đoạn lịch sử chịu sự chi phối mạnh mẽ của hoàn cảnh "một nước, hai chế
độ" và cuộc chiến tranh kéo dài. Dựa trên các vấn đề cơ bản và bối cảnh được xác định,
CNXH ở miền Bắc mang những đặc điểm sau:
1.3.1. Tính cht kép và s ưu tiên cho nhiệm v chiến tranh
Đặc điểm nổi bật và xuyên suốt nhất của CNXH ở miền Bắc là việc phải thực hiện
đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: vừa xây dựng CNXH, vừa kháng chiến chống. Miền 10
Bắc không chỉ tiến hành xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng xã hội chủ nghĩa
(thực hiện Kế hoạch 5 năm, phát triển công nghiệp nặng) mà còn phải đóng vai trò là "hậu
phương lớn" kiên cường, chi viện tối đa cho miền Nam. Đặc biệt trong giai đoạn 1965–
1975, việc xây dựng phải diễn ra trong điều kiện "vừa sản xuất, vừa chiến đấu" và chống
lại chiến tranh phá hoại. Điều này buộc nền kinh tế phải được tổ chức theo cơ chế ưu tiên
quốc phòng, phân tán sản xuất và huy động mọi nguồn lực cho chiến trường, khiến tính
chất quân sự hóa thâm nhập sâu vào đời sống kinh tế và xã hội.
1.3.2. Quá độ lên CNXH t xuất phát điểm thp
Miền Bắc bắt đầy thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ năm 1954, bỏ
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, theo đường lối “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”.
Đặc điểm của thời kỳ này là xây dựng CNXH ở miền Bắc là một quá trình quá độ đặc biệt
do phải đi lên từ một xuất phát điểm thấp: một nền kinh tế căn bản là nông nghiệp lạc hậu,
công nghiệp nhỏ và cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề. Hoàn cảnh này đòi hỏi Đảng và Nhà
nước phải thực hiện các bước cải tạo cấp tốc và triệt để. Miền Bắc đã tiến hành cải tạo quan
hệ sản xuất thông qua cải cách ruộng đất, xóa bỏ tàn dư phong kiến, và đẩy mạnh hợp tác
hóa nông nghiệp cùng với cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Mục tiêu là nhanh
chóng thiết lập một cơ cấu công nông nghiệp CNXH, với nền tảng là kinh tế quốc doanh
và tập thể, nhằm tạo ra cơ sở ban đầu cho CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
1.3.3. Mc tiêu chiến lược gn lin vi thng nhất đất nước
Việc xây dựng CNXH ở miền Bắc không chỉ vì lợi ích của miền Bắc mà còn mang
mục đích chiến lược tối cao là giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Đại hội III
của Đảng đã xác định miền Bắc là căn cứ địa của cả nước. Mọi nỗ lực khôi phục và phát
triển kinh tế, củng cố hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân đều nhằm xây dựng miền
Bắc vững mạnh để làm chỗ dựa và tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho cuộc đấu tranh chung.
Tính chất này khiến sự phát triển kinh tế bị giới hạn và chịu sự chi phối nặng nề của yêu
cầu hậu cần và chi viện chiến trường. 11
1.3.4. Vấn đề tranh th vin tr và t lc cánh sinh trong bi cnh quc tế
Mặc dù việc xây dựng CNXH nhận được sự hỗ trợ to lớn từ các nước xã hội chủ
nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc), tạo điều kiện khôi phục và phát triển đất nước, nhưng quá
trình này lại diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh và sự mâu thuẫn Xô– Trung gay gắt.
Tình hình quốc tế đầy biến động này khiến Việt Nam gặp khó khăn trong việc cân bằng
quan hệ và tranh thủ viện trợ. Do đó, việc xây dựng CNXH ở miền Bắc luôn phải kết hợp
sự hỗ trợ quốc tế với tinh thần "tự lực cánh sinh" và phát huy nội lực, đặc biệt trong việc
tổ chức phòng không và duy trì sản xuất dưới mưa bom.
Tóm lại, CNXH ở miền Bắc là một mô hình chịu sự chi phối của chiến tranh và
mục tiêu thống nhất, được xây dựng trên nền tảng kinh tế lạc hậu, buộc phải áp dụng đường
lối tập trung hóa và ưu tiên quốc phòng một cách tuyệt đối. 12
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CNXH MIN BC (1954 1975)
2.1. Giai đoạn 1954 1960: Khôi phc kinh tế sau chiến tranh và ci to XHCN
Sau Hiệp định Genève năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng phải đối
mặt với hậu quả nặng nề của chiến tranh. Cơ sở hạ tầng bị tàn phá, sản xuất đình trệ, nguồn
vốn và nhân lực khan hiếm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Chính quyền cách
mạng mới – Nhà nước Dân chủ Nhân dân – đứng trước nhiệm vụ vừa ổn định chính trị,
củng cố bộ máy quản lý, vừa phục hồi sản xuất và chuẩn bị cho mục tiêu dài hạn là xây
dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đó, Đảng xác định rõ:
miền Bắc phải thực hiện một chiến lược toàn diện nhằm khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ
sản xuất và phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khôi phục sản xuất và ổn định đời sống nhân dân: Đảng chủ trương lấy việc khôi
phục sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm. Việc này kết hợp chặt chẽ với cải cách ruộng
đất, vận động nông dân giúp nhau sản xuất, đồng thời quan tâm xây dựng cơ sở vật chất
cho nông nghiệp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải cũng được phục
hồi, góp phần đảm bảo lương thực, nguyên liệu và nhu cầu thiết yếu cho xã hội. Song song
với đó, các chính sách hàn gắn hậu quả chiến tranh được triển khai: sửa chữa, xây dựng lại
cơ sở hạ tầng, chăm sóc và đền bù cho nạn nhân chiến tranh, ổn định dân cư và đời sống
nhân dân, đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế để củng cố hòa bình và chống lại âm mưu
xâm lược của đế quốc Mỹ.
Cải tạo quan hệ sản xuất và đặt nền tảng xã hội chủ nghĩa: Trong giai đoạn này,
Đảng tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất nhằm đặt nền tảng cho xã hội chủ nghĩa. Trước
hết là cải cách ruộng đất (1953 – 1956), nhằm xóa bỏ chế độ địa chủ phong kiến, trao quyền
sử dụng hoặc sở hữu ruộng đất cho nông dân nghèo và chuẩn bị cơ sở xã hội cho tập thể
hóa sau này. Việc cải cách được thực hiện thông qua điều tra, phân loại giai cấp, phân phối
lại ruộng đất và xử lý các địa chủ phản cách mạng. Bước đầu đã nâng cao quyền làm chủ
và tinh thần hăng hái sản xuất của nông dân, tuy nhiên cũng phát sinh những sai sót, cực
đoan, dẫn đến các chiến dịch “khoan thư sức dân” và đợt chỉnh lý sau đó.
Song song, cải tạo công – thương nghiệp tư bản tư doanh được tiến hành nhằm
chuyển nền kinh tế theo hướng xã hội chủ nghĩa. Các doanh nghiệp tư nhân lớn nhỏ được 13
hợp tác hóa dần, những ngành then chốt được quốc hữu hóa, thiết lập cơ chế quản lý tập
trung theo kế hoạch. Qua đó, nhiều cơ sở công nghiệp được tiếp quản và tổ chức lại, tạo
nền tảng cho phát triển công nghiệp quốc doanh trong tương lai.
Kế hoạch ba năm 1958 – 1960 và phát triển xã hội: Tháng 11/1958, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đề ra kế hoạch ba năm (1958 – 1960) nhằm phát triển kinh tế, văn hóa
và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể và tư bản tư doanh. Kế hoạch tập trung
ưu tiên công nghiệp hóa, đặc biệt là công nghiệp nặng, đồng thời phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa các lĩnh vực kinh tế. Ngoài ra, các lĩnh
vực văn hóa, giáo dục, y tế được chú trọng phát triển, góp phần nâng cao dân trí và ổn định đời sống nhân dân.
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc: Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ III của Đảng (09/1960) đã đề ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa cho miền Bắc.
Cuộc cách mạng XHCN được xác định là một quá trình cải biến toàn diện về kinh tế, chính
trị, tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật, đấu tranh giữa con đường CNXH và con đường tư bản
chủ nghĩa. Nhiệm vụ trung tâm là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, kết hợp cải tạo XHCN
trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và phát triển kinh tế quốc doanh.
Đồng thời, phải tiến hành cuộc cách mạng về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật để thay đổi
toàn bộ đời sống xã hội phù hợp với chế độ XHCN.
Trong thời kỳ quá độ, định hướng của miền Bắc là đoàn kết toàn dân, phát huy
truyền thống yêu nước và lao động cần cù, đồng thời kết hợp đoàn kết với các nước xã hội
chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên CNXH. Mục tiêu cụ thể là đưa miền
Bắc từ nền kinh tế cá thể, sản xuất nhỏ lẻ sang nền kinh tế XHCN dựa trên sở hữu toàn dân
và tập thể, tạo cơ sở vững chắc cho thống nhất đất nước trong tương lai. Các biện pháp
thực hiện bao gồm sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm công cụ của chuyên chính
vô sản, kết hợp kế hoạch ba năm và các chính sách cải tạo, quản lý xã hội.
Trong giai đoạn 1954 – 1960, miền Bắc đã phục hồi cơ bản nền kinh tế, đảm bảo
nhu cầu lương thực, nguyên liệu và tiêu dùng thiết yếu; cải tạo quan hệ sản xuất theo hướng
xã hội chủ nghĩa; phát triển công nghiệp quốc doanh; nâng cao trình độ văn hóa, giáo dục, 14
y tế và ổn định đời sống nhân dân. Đây là tiền đề quan trọng để miền Bắc tiếp tục công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và làm cơ sở cho thống nhất đất nước sau này.
2.2. Giai đoạn 1961 1965: Bước đầu xây dng CNXH
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 09/1960) đã xác định nhiệm
vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là giữ vai trò quyết định nhất đối với sự
phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam. Đại hội đã đề ra đường lối công nghiệp hóa
xã hội chủ nghĩa, coi đây là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Cụ thể hóa
đường lối này, miền Bắc bắt đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965).
Mục tiêu cơ bản của kế hoạch này, như Đại hội III đã xác định, là "xây dựng một nền kinh
tế XHCN cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH".
Đây là bước đi đầu tiên trong quá trình cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu của miền Bắc,
đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ tiến lên.
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa III)
đã nêu rõ phương hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp. Chủ trương cốt lõi là
"ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý". Đây được xem là con đường tất yếu
để cải biến nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Tuy nhiên, Đảng cũng nhận thức rõ việc phát
triển công nghiệp nặng phải dựa trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Do
đó, chủ trương này được thực hiện đồng bộ với việc "kết hợp chặt chẽ phát triển công
nghiệp với phát triển nông nghiệp", đồng thời "ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song
với việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng". Bên cạnh đó, Đảng cũng chủ trương phát
triển cân đối giữa công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương để khai thác tối đa
tiềm lực của đất nước.
Nhằm cụ thể hóa đường lối của Đại hội III, các hội nghị Trung ương đã tập trung
vào từng lĩnh vực then chốt. Ngay từ tháng 07/1961, Hội nghị Trung ương lần thứ 5 đã
chuyên bàn về phát triển nông nghiệp, coi đây là cơ sở để phát triển công nghiệp, ổn định
đời sống nhân dân và phục vụ sự nghiệp thống nhất đất nước. Tiếp đó, Hội nghị Trung
ương lần thứ 7 (tháng 06/1962) tập trung vào vấn đề phát triển công nghiệp, khẳng định vị
trí then chốt của công nghiệp nặng. Nhờ việc triển khai các chủ trương này, đến cuối giai 15
đoạn 1965, miền Bắc đã đạt và vượt nhiều mục tiêu về kinh tế, xây dựng được nền móng
vật chất – kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội.
Song song với cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học – kỹ
thuật, Đại hội III cũng chủ trương tiến hành cuộc "cách mạng tư tưởng và văn hóa". Mục
tiêu của cuộc cách mạng này là làm cho nhân dân "thoát nạn mù chữ", có "trình độ văn hóa
ngày càng cao", và có "hiểu biết cần thiết về khoa học, kỹ thuật tiên tiến" để xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Trong giai đoạn 1961 – 1965, sự nghiệp giáo dục, văn hóa, y tế đã có sự phát
triển mạnh mẽ. Ngay cả khi đế quốc Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc
(từ 1965), các lĩnh vực này không chỉ được duy trì mà còn phát triển, góp phần nâng cao
đời sống tinh thần và trình độ dân trí, tạo ra con người mới xã hội chủ nghĩa.
2.3. Giai đoạn 1965 1975: Va sn xut, va chiến đấu
Từ đầu năm 1965, trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền và quân đội Sài Gòn và
đặc biệt là sự phá sản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", chính quyền Tổng thống Mỹ
L.Giônxơn bắt đầu hành động để cứu vãn cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới. Đế quốc Mỹ đã
tiến hành chiến lược "Chiến tranh cục bộ" với quy mô lớn. Tại miền Nam, chúng ồ ạt đưa
quân chiến đấu của Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến,
đóng vai trò chủ yếu, còn lại là quân đội Sài Gòn để hỗ trợ quân Mỹ và thực hiện bình định.
Đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta.
Buộc phải thực thi trong thể thất bại và bị động, cho nên nó chứa đựng đẩy mâu
thuẫn về chiến lược. Tuy nhiên, tính chất và mục đích của cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ
vẫn là chiến tranh xâm lược nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới, song cuộc chiến
tranh từ chỗ dựa vào lực lượng ngụy quân, ngụy quyền là chủ yếu chuyển thành dựa vào
lực lượng quân đội Mỹ, đồng minh của Mỹ và quân đội chính quyền Sài Gòn. Vừa tập
trung lực lượng chủ yếu trên chiến trường miền Nam, vừa mở rộng chiến tranh phá hoại
đối với miền Bắc, ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Tạo ra tình
hình cả nước có chiến tranh với Mỹ.
Với tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Hội nghị lần thứ 11
(03/1965) và Hội nghị lần thứ 12 (12/1965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phát 16
động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc, coi đó là nhiệm vụ
thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc. Hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên lực lượng
của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ
tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.
Phương châm chỉ đạo chiến lược là thực hiện kháng chiến lâu dài, dựa vào sức
mình là chính, càng đánh càng mạnh và cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của
cả hai miền để mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định
trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc là chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm
tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều kiện có chiến
tranh. Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để
bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, động viên sức người sức của ở mức cao nhất
để chi viện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị để
phòng để đánh bại địch trong trường hợp “Chiến tranh cục bộ” lan rộng ra cả nước. Bên
cạnh đó, tư tưởng chỉ đạo ở miền Nam là giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên quyết
tiến công và liên tục tiến công. “Tiếp tục kiên trì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp
với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công”, đánh địch trên cả ba vùng
chiến lược. Trong giai đoạn này, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ
một vị trí ngày cảng quan trọng.
Nhiệm vụ và mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu ở hai miền là trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam là tiến tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn.
Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ của cả nước, vì miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương
vững chắc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ ở miền Bắc và ra sức tăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt nhằm bảo
đảm chi viện đắc lực cho miền Nam càng đánh càng mạnh. Hai nhiệm vụ trên dây không
tách rời nhau, mà mật thiết gắn bó nhau. Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước lúc này là
“Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. 17
Nghị quyết Trung ương lần thứ 11 và lần thứ 12 năm 1965 với nội dung như trên
thể hiện tư tưởng nắm vững, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
tiếp tục tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng của Đảng và quyết tâm đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta. Đó là đường
lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính trong hoàn
cảnh mới, cơ sở để Đảng lãnh đạo đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi tới thắng lợi vẻ vang.
Từ ngày 05/08/1964, Mỹ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm lấy cớ dùng không
quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ diễn ra rất ác liệt kề từ đầu tháng 2 – 1965 với ý đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá;
phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện của miền
Bắc đối với miền Nam; đè bẹp ý chí quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của cả dân tộc Việt
Nam, buộc chúng ta phải kết thúc chiến tranh theo điều kiện do Mỹ đặt ra.
Trước tình hình đó, theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và lần thứ
12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương, nhiệm vụ cụ thể của
miền Bắc cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh:
Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến
tranh phá hoại. Bảo đảm yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và tích cực chi viện cho miền Nam,
đồng thời vẫn phù hợp với phương hướng lâu dài của công cuộc công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa và chú ý đúng mức đến các yêu cầu về đời sống của nhân dân. Nội dung chuyển
hướng kinh tế bao gồm: đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp, chú trọng phát triển công
nghiệp địa phương và thủ công nghiệp, xây dựng những xí nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa,
tích cực xây dựng và phát triển kinh tế theo từng vùng chiến lược quan trọng, làm cho mỗi
vùng có khả năng tự giải quyết phần lớn nhu cầu ăn, mặc, ở, học tập, bảo vệ sức khỏe, bảo
đảm đời sống nhân dân, phục vụ sản xuất xây dựng và chiến đấu.
Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình hình cả
nước có chiến tranh. Ra sức tăng cường công tác phòng thủ, đánh trả để bảo vệ miền Bắc;
đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân, kiên quyết đánh bại kế hoạch ném bom bắn phá,
phong tỏa miền Bắc bằng không quân và hải quân của địch, tăng cường công tác chống 18
gián điệp, bảo vệ trật tự, cố gắng hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại của ta do địch gây ra
và gây thiệt hại cho địch tới mức cao nhất. Nắm vững phương châm dựa vào sức mình là
chính, đồng thời ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Ba là, ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch ở chiến trường chính miền Nam.
Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.
Chủ trương chuyển hướng và những nhiệm vụ của miền Bắc phản ánh quyết tâm
của Đảng và nhân dân ta trong việc kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, tiếp tục tăng cường
sức mạnh của miền Bắc, làm chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp chống Mỹ xâm lược, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quyết tâm đó đã được thể hiện trong Lời kêu gọi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 17/07/1966: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm,
20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn
phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Do bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam – Bắc, tháng 03/1968, đế quốc Mỹ tuyên
bố hạn chế ném bom miền Bắc. Ngày 01/11/1968, Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện
đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, hậu phương
lớn miền Bắc đã đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục, miền Bắc ngày càng thêm vững
mạnh. Chế độ xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng ở miền Bắc đã vượt qua được nhiều
thử thách nghiêm trọng và ngày càng phát huy tính ưu việt trong chiến tranh. Chuyển hướng
kinh tế, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh có chiến tranh là nét đặc biệt
chưa có tiền lệ. Sản xuất nông nghiệp không những không giảm sút mà còn có bước phát
triển tiến bộ. Cơ sở vật chất – kỹ thuật trong nông nghiệp được tăng cường so với trước
chiến tranh; có 4.655 hợp tác xã được trang bị cơ khí nhỏ. Phong trào thâm canh tăng vụ
được đẩy mạnh ở nhiều địa phương. Nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho toàn
xã hội vẫn bảo đảm. Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vẫn được duy trì mặc 19