TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
HỌC PHẦN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu hội nghị Giơ-ne-vơ và Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến
tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương (1954). Rút ra nhận xét.
Nhóm: 3
Giảng viên hướng dẫn: Cô Hoàng Thị Thắm
Lớp học phần: 231HCMI013101
Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 2023
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
1.1. Bối cảnh lịch sử của Hội nghị Genève về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở
Đông Dương.................................................................................................................2
1.1.1. Bối cảnh thế giới...............................................................................................2
1.1.2. Bối cảnh Đông Dương.......................................................................................4
1.2. Thành phần tham gia..............................................................................................5
1.3 Lập trường và quan điểm các bên tham dự..............................................................6
1.3.1. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.............................................................................6
1.3.2. Pháp..................................................................................................................8
1.3.3. Liên Xô.............................................................................................................9
1.3.4. Hoa Kỳ............................................................................................................10
1.3.5. Trung Quốc.....................................................................................................11
1.3.6. Anh..................................................................................................................12
1.4. Diễn biến hội nghị................................................................................................12
1.5. Nội dung cơ bản hội nghị Genève 1954...............................................................15
1.6. Kết quả Hội nghị Genève – thắng lợi to lớn trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. .16
CHƯƠNG II - NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH GENÈVE VỀ CHẤM DỨT CHIẾN
TRANH LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954............................17
2.1. Nội dung toàn văn................................................................................................17
2.2. Nội dung cơ bản...................................................................................................34
CHƯƠNG III - NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.................................................36
3.1. Nhận xét...............................................................................................................36
3.1.1. Thành công......................................................................................................36
3.1.2 Hạn chế............................................................................................................37
3.2. Kinh nghiệm.........................................................................................................38
KẾT LUẬN................................................................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................41
MỞ ĐẦU
Trong lịch sử đấu tranh nước nhà, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
thiên anh hùng ca đại của chiến tranh Việt Nam, một trong những bức tranh
sáng trong lịch sử của nhân dân cách mạng. Cuộc kháng chiến ấy nêu bật truyền thống
vẻ vang của Đảng ta, đó truyền thống kiên cường, bất khuất của Đảng tưởng
cách mạng cao cả, nước, dân, với sự hy sinh anh dũng của nhiều thế h cán bộ
lãnh đạo, đảng viên kiên trung của Đảng, nhất những thành tựu to lớn, ý nghĩa
lịch sử dân tộc ta đạt được. Một trong số đó không thể không đề cập tới sự kiện
lịch sử trọng đại của dân tộc ta là Hội nghị Genève và Hiệp định Genève. Hiệp định ấy
đã hoàn tất việc đình chỉ chiến tranh, khôi phục hòa bình Đông Dương, trở thành
một dấu mốc quan trọng trong lịch sử của Dân tộc Việt Nam, buộc Chính phủ Pháp
phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Hội nghị ghi nhận các điều khoản trong hiệp định đình chiến tại Việt các nước đưa
quân đội nhân viên quân sự cũng như tất cả các loại khí, đạn dược vào Việt
Nam. Mặc đặt được nhiều tiếng vang sau 3 giai đoạn nhưng Hội nghị Genève còn
tồn đọng nhiều hạn chế, chi tiết chưa được khai thác. vậy, nhóm đã thực hiện thảo
luận về đề tài “Tìm hiểu hội nghị Genève Hiệp định Genève v chấm dứt chiến
tranh lập lại hòa bình Đông Dương (1954) nhằm khai thác, nghiên cứu về những
vấn đề liên quan từ đó rút ra nhận xét, đánh giá về Hội nghị nêu trên. Bài thảo luận
của nhóm còn nhiều thiếu sót, mong cô các bạn sẽ đưa ra những góp ý để giúp bài
thảo luận hoàn thiện hơn.
2
CHƯƠNG I - HỘI NGHỊ GENÈVE VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP
LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954.
1.1. Bối cảnh lịch sử của Hội nghị Genève về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa
bình ở Đông Dương.
1.1.1. Bối cảnh thế giới
Hội nghị Genève về Đông Dương diễn ra trong một bối cảnh quốc tế nhiều biến
chuyển mới mẻ phức tạp. Năm 1953 một năm ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng,
tác động trực tiếp đến sự chuyển biến của cục diện toàn cầu nói chung châu Á nói
riêng, đặc biệt là đối với cuộc chiến tranh Đông Dương.
Vào năm 1953 chủ nghĩa đế quốc đứng đầu đế quốc Mỹ ra sức chuẩn bị chiến
tranh, nhanh chóng triển khai chiến lược toàn cầu hóa phản cách mạng của chúng. Đế
quốc Mỹ áp dụng chiến lược quân sự “trả đũa ạt” chính sách ngoại giao “bên
miệng hố chiến tranh” của Ai-xen-hao Đa-lét nhằm bao vây Liên Xô, Trung Quốc
các nước hội chủ nghĩa, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản, đàn áp
phong trào giải phóng dân tộc, hòng làm chủ thế giới. Lợi dụng chiến tranh Triều
Tiên, đế quốc Mỹ pháp triển quân đội Mỹ từ 1.400.000 người (năm 1949) lên
3.500.000 người vừa chống Liên châu Âu, vừa chống Trung Quốc châu Á.
Chúng xúc tiến trang lại Tây Đức khôi phục lại chủ nghĩa phục thủ Tây Đức, thành
lập quân đội Tây Âu (NATO), khôi phục lại chủ nghĩa quân phiệt Nhật ở châu Á.
Từ sau cách mạng Trung Quốc thành công, sự so sánh lực lượng trên thế giới đang
thay đổi lợi cho cách mạng. Phe hội chủ nghĩa đứng đầu Liên Xô, với liên
minh Xô Trung làm nòng cốt, ngày một củng cố vững mạnh.
Cả Liên Trung Quốc đã đi vào thời kỳ kinh tế kế hoạch dài hạn. Liên đã
bom khinh khí (8.1953) Trung Quốc sau chiến tranh Triều Tiên, đã trở thành
một nước có lực lượng quân sự mạnh nhất Châu Á.
Liên Xô, Trung Quốc phe hội chủ nghĩa đoàn kết nhất chí gương cao ngọn
cờ chống đế quốc gây chiến, bảo vệ hoà bình, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc,
nên có uy tín to lớn trên thế giới.
Song song với sự hình thành phe hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc
tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở Nam Á, Đông Nam Á, Trung Cận Đông và châu Phi. Xu
hướng trung lập tích cực, không tham gia các liên minh quân sự với các nước phương
Tây, phát triển trong các nước mới giành được độc lập như 5 nước tham gia kế hoạch
Colombo Ấn Độ, Miến Điện, Pa-ki-xtan, In-đô-nê-xi-a, chủ nghĩa dân tộc Nát-xe
Ai Cập.
Hai phe đều tranh thủ tập hợp lực lượng đấu tranh quyết liệt. Nhưng so sánh lực
lượng lúc bấy giờ, hai phe đãhoà hoãn với nhau ở mức thấp. Chấp nhận đình chiến
tại Triều Tiên (1953) gần như nguyên trạng của cả hai bên ở vĩ tuyến 38 và sau đó thỏa
thuận họp hội nghị Linh (1/1954) để bàn giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên và
bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây là hội nghị đầu tiên của bốn nước lớn kể
từ năm 1949, sau những năm hết sức căng thẳng của chiến tranh lạnh Đông Tây. Kết
quả hội nghị nàyhai phe đồng ý triệu tập hội nghị Genève vào ngày 26 tháng 4 năm
1954 với sự tham dự của Trung Quốc.
1.1.2. Bối cảnh Đông Dương.
Sau 8 năm sa lầy tại cuộc chiến Đông Dương, Pháp đã phải gánh chịu những thiệt
hại nặng nề về cả người của. Vào Thu-Đông năm 1953 lực lượng ta trên chiến
trường đã giành được chủ động tiến công trên chiến trương chính. Ta đã liên tiếp mở
bốn chiến dịch lớn thắng lợi: giải phóng Lai Châu Tây Bắc (10/12/1953), tiến quân
vào Thà Khẹt (25/12/1953) Trung Hạ Lào, giải phóng khu vực sông Nậm Líu
Phong-sa-ly (26/11/1953) ở Thượng Lào và giải phóng Kon Tum ở Tây Nguyên.
Mùa hè năm 1953, Pháp đã gặp nhiều khó khăn lớn ở Đông Dương. Lực lượng Pháp
tuy còn 45 vạn quân ( so với khoảng trên 30 vạn của ta), song phân tán, làm nhiệm vụ
chiếm đóng ở ba nước Đông Dương, thiếu quân cơ động, nhiều nguỵ quân và tinh thần
giảm sút.
Tướng Hăng-ri Na-va, là một nhà chiến lược xuất sắc Pháp, vừa được cử sang làm
tổng lệnh quân đội Pháp Đông Dương, lúc đó nhận xét rằng: “Sau 7 năm chiến
tranh, nhìn chung so sánh các phương tiện của chúng ta với đối phương đã trở nên bất
tiện cho ta”. y báo cáo chính phủ pháp như sau: “Sự phân tán tình trạng bất
động của lực lượng chúng ta chỉ còn để lại Bộ chỉ huy những khả năng hết sức hạn
chế. Mọi cuộc hành quân chiến lược tương đối lớn đều không thể tiến hành được trong
tình trạng hiện nay.”
Để cứu vãn tình hình, chính phủ Pháp thông qua kế hoạch Na-va gồm hai giai đoạn:
1953 - 1954: phòng ngự chiến lược miền Bắc Việt Nam, tấn công chiến lược
Nam tuyến 18 đi đôi với việc tăng cường quân động bằng xây dựng nguỵ quân
và tăng viện từ Pháp sang.
1954 - 1955: tấn công chiến lược miền Bắc, giành lấy thắng lợi quân sự to lớn, buộc
ta phải đình chiến theo điều kiện của Pháp.
Đây một kế hoạch đầy tham vọng, được Mhết sức ủng hộ viện trợ thêm 385
triệu đô la để thực hiện. Nhưng qua nhiều khó khăn, không thể đáp ứng hết yêu cầu
xin tăng quân của Na-va, ngày 13/11/1953, Uỷ ban quốc phòng Pháp chỉ thị cho Na-
4
va phải sử dụng các lực lượng hiện có, phát triển tối đa quân ngụy xác định mục
tiêu hành động của Pháp Đông Dương làm sao cho đổi phương “nhận thấy không
thể giành được một quyết định quân sự ”
Để thực hiện kế hoạch trên, trong thu năm 1953, Na-va liên tiếp mở hàng chục
cuộc càn quét vùng chúng chiếm đóng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên Nam Bộ, nhảy
dù tập kích Lạng Sơn (7/1953), tăng cường biệt kích thổ phỉ Lào Cai, Lai Châu, Sơn
La, mở cuộc tấn công lớn gọi chiến dịch Hải Âu vào vùng Nho Quan ( Ninh Bình),
tuyên bố đã giành được chủ động chiến trường. Nhưng bị tổn thất nặng chúng phải rút
khỏi Nho Quan.
Trước việc ta tiến quân lên hướng Tây Bắc, Na-va cho quân nhảy xuống Điện
Biên Phủ (20/11/1953) nhằm mở rộng địa bàn của chúng ở Tây Bắc và bảo vệ Lào
Pháp mới trao trả độc lập chưa đầy một tháng (22/10/1953). Lực lượng của địch lúc
đầu có 6 tiểu đoàn. Ngày 3/12 tướng Na-va quyết định tăng cường lực lượng cho Điện
Biên Phủ và tiếp nhận cuộc chiến đấu với lực lượng chủ lực của ta ở Điện Biên Phủ và
Điện Biên Phủ trở thành đấu với lực lượng chủ lực của ta Điện Biên Phủ Điện
Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Trước khi ta đánh Điện Biên Phủ, ngày 20/11/1954, Na-va mở chiến dịch “At-lăng-
(Atlante) đổ bộ lên Tuy Hoà. Phú Yên, đánh chiếm vùng tự do liên khu 5. Sau mấy
chiến dịch lớn của ta Na-va cho rằng ta không đủ sức tấn công nữa, càng không thể
đánh Điện Biên Phủ được. vậy, ngày 12/3/1954, Pháp đổ bộ lên chiếm Quy Nhơn,
tiếp tục chiến dịch Atlante.
Ngày 13/3/1954, ta mở cuộc đại tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
sau 55 ngày đêm chiến đấu, ta tiêu diệt hoàn toàn Điện Biên Phủ, 16.000 quân địch
gồm 21 tiểu đoàn bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh.
Nhìn chung, trong Đông – Xuân 1953 – 1954 địch bị thiệt hại 112.000 tên, tức 4 lực
lượng vũ trang của địch tại Đông Dương. Những thắng lợi đó đã đưa cuộc kháng chiến
của nhân dân ta từ hình thái phản công cục bộ tiến lên hình thái phản công lớn, từ
thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ tiến lên giành chủ động trên chiến
trường cả nước.
1.2. Thành phần tham gia
Thành phần tham gia vào Hội nghị lúc này bao gồm :
1. Phái đoàn Anh Quốc, do Anthony Eden làm trưởng đoàn.
2. Phái đoàn Hoa Kỳ, do Bedell Smith làm trưởng đoàn.
3. Phái đoàn Liên bang Xô viết, do Viacheslav Molotov làm trưởng đoàn.
4. Phái đoàn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, do Chu Ân Lai làm trưởng đoàn.
5. Phái đoàn Pháp, do Georges Bidault làm trưởng đoàn.
6. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn.
7. Phái đoàn Quốc gia Việt Nam, do Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn sau thay
thế bởi Nguyễn Trung Vinh rồi Trần Văn Đỗ nhưng không được tham gia đàm phán
tại hội nghị, việc đàm phán do phái đoàn Pháp thực hiện chỉ thông báo lại sau khi
ký kết.
8. Phái đoàn Vương quốc Lào, do Phumi Sananikone làm trưởng đoàn nhưng
không được phép tham gia đàm phán trực tiếp, ủy nhiệm cho phái đoàn Pháp.
9. Phái đoàn Vương quốc Campuchia, do Tep Than, làm trưởng đoàn nhưng
không tham gia đàm phán trực tiếp, ủy nhiệm cho phái đoàn Pháp.
10. Hai phái đoàn Pathet Lào Khmer Issarak không được chính thức tham gia
hội nghị ủy nhiệm cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả các nguyện
vọng của hai đoàn này được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trình bày trước hội nghị.
Hai đồng chủ tịch Hội nghị là Liên Xô và Anh.
1.3 Lập trường và quan điểm các bên tham dự
1.3.1. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ra lập trường
10 điểm:
1. Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào
Campuchia.
2. một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3 nước trong thời
hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng
quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế.
3. Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập chính phủ duy nhất
cho mỗi nước.
4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập
Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó.
5. Ba nước thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại mỗi nước. Sau
khi chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết
theo đúng các nguyên tắc bình đẳng và củng cố.
6. Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời
gian chiến tranh.
7. Trao đổi tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh.
6
8. Ngừng bắn hoàn toàn đồng thời trên toàn Đông Dương, đình chỉ đưa quân
đội và thiết bị quân sự mới vào Đông Dương, lập Ủy ban Liên hợp quân sự hai bên
Ủy ban Quốc tế giám sát để bảo đảm thực hiện Hiệp định đình chiến.
9. Giới tuyến quân sự không được coibiên giới quốc gia và chỉ tồn tại cho đến
khi hoàn thành Tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hiệp.
10. Chấp nhận nhượng bộ về việc tồn tại giới tuyến quân sự, đổi lại các lực lượng
quân s nước ngoài phải rời khỏi Việt Nam. Lập trường ban đầu của Việt Nam tập
kết tại chỗ. Nếu không được sẽ chuyển sang phương án lấy Vĩ tuyến 13, cắt ngang đèo
Đại Lãnh giữa Phú Yên Khánh Hòa, làm giới tuyến quân s tạm thời. Giới tuyến
quân sự không được coi là biên giới quốc gia.
Tuy nhiên, nếu xét về mặt chủ trương, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mục tiêu
"độc lập, thống nhất, dân chủ và hòa bình" với 4 phương châm:
1. Mục đích không thay đổi nhưng để đạt được mục đích con đường thẳng,
con đường quanh co.
2. Tôn trọng chủ quyền Việt Nam, bình đẳng, tự nguyện có lợi cả hai bên.
3. Lực lượng chủ quan (nội lực của Việt Nam) là điều kiện căn bản để đi tới thắng
lợi.
4. Luôn luôn đặt lợi ích của Việt Nam trong lợi ích của phong trào hoà bình, dân
chủ xã hội chủ nghĩa.
Thậm chí trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, Hồ C Minh còn tuyên bố
vào tháng 11/1953: "Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh
mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến Việt Nam bằng cách thương ợng giải
quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ
cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó... sở của đình chiến Việt Nam Chính phủ
Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam".
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị thế tương đối bị động đã
sự chuẩn bị trước do sự thiếu thông tin từ việc phải đặt căn cứ vùng rừng núi,
không kiểm soát được các thành phố lớn thiếu một hệ thống tình báo chiến lược
hiệu quả. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải dựa vào thông tin từ phía Liên
Trung Quốc cung cấp. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tỏ ra thiếu kinh
nghiệm khi coi thường các hoạt động của các chính phủ thuộc Liên hiệp Pháp như
Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia Quốc gia Việt Nam. Cũng do thiếu
thông tin nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không đánh giá được hết ý đồ của các
nước lớn trong đó có vai trò của Trung Quốc, tham vọng của Anh và Hoa Kỳ cũng như
không nắm được hết những mâu thuẫn giữa những nước lớn với nhau.
Theo Phó Thủ tướng Khoan, do lực lượng Pathet Lào Khmer Issarak không
được tham dự Hội nghị đã gây bất lợi về tương quan lực lượng cho Việt Nam, khiến
sức ép tạo ra cho đối phương là không đủ. Tại Hội nghị, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng
đã dành toàn bộ bài phát biểu đầu tiên cho việc đòi đại diện các lực lượng kháng chiến
Lào và Campuchia phải được tham dự Hội nghị như các thành viên bình đẳng. Lúc đó,
Bộ trưởng Ngoại giao Pathet Lào Nu Hắc Bộ trưởng Ngoại giao Khmer Khmer
Issarak Keo Pha đã có mặt tại Genève để phối hợp đấu tranh với Việt Nam. Tuy nhiên,
các nước phương Tây bác bỏ đề nghị của Việt Nam về việc cho Pathet Lào Khmer
Issarak tham gia Hội nghị do Hội nghị tách biệt vấn đề tại Việt Nam và vấn đề tại Lào-
Campuchia thành hai vấn đề khác nhau. Lập trường ban đầu của Trung Quốc giống
với Việt Nam giải quyết cùng một lúc vấn đề ba nước Đông Dương. Tuy nhiên,
đến giữa tháng 5, sau khi Việt Nam chiến thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ,
Trung Quốc chuyển sang ủng hộ quan điểm của các nước phương Tây. Ngày 20/6,
Chu Ân Lai đã tiếp Ngoại trưởng Vương quốc Campuchia (thân Pháp) Tep Phan
21/6 đã tiếp Ngoại trưởng Vương quốc Lào (thân Pháp) Sananikon để bàn thảo các vấn
đề liên quan giữa những bên này với Trung Quốc và Việt Nam. Tới ngày 12/7, Chu Ân
Lai ép phái đoàn Việt Nam chấp nhận phương án Pathet Lào tập kết về hai tỉnh
Thượng Lào còn Khmer Issarak không nên vấn đề tập kết quân sự, Quân đội nhân dân
Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Quan điểm này khác với quan điểm của Việt Nam
Pathet Lào sẽ tập kết các tỉnh giáp biên với Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn
quyết tâm bảo vệ lợi ích của Pathet Lào Khmer Issarak bất chấp sức ép của Trung
Quốc.
1.3.2. Pháp
Lập trường của Pháp trong hiệp định Genève một lập trường ngoan cố không
muốn thừa nhận thất bại của mình trước quân dân Việt Nam. Pháp hy vọng thể giữ
lại ảnh ởng của mình Đông Dương bằng cách chia cắt Việt Nam thành hai phần,
đặt tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời tổ chức tổng tuyển cử vào năm
1956. Pháp cũng muốn duy trì quân sự và kinh tế của mình ở Lào và Cam-pu-chia, hai
nước mà Pháp coi là "đệ tử" của mình.
Tuy nhiên, lập trường của Pháp không được các nước khác trong Hội nghị Genève
đồng tình. Các nước như Liên Xô, Trung Quốc, Anh Ấn Độ đều ủng hộ việc tôn
trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương.
8
Các nước này cũng phản đối việc can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước cấm
đặt căn cứ quân sự ở Đông Dương.
Cụ thể:
Trước khin bạc Hội nghị, Pháp Việt Nam đều coi trận Điện Biên Phủtrận
quyết chiến để giành lợi thế cho mình. Pháp đang gặp khó khăn trong nội chiến khi
dân chúng phản đối chiến tranh, Đảng Cộng sản Pháp lên ngôi trong Quốc hội,
chính sách Bảo Đại không hiệu quả. Pháp muốn tìm một lối thoát danh dự khỏi cuộc
chiến và bảo toàn những quyền lợi còn lại ở Đông Dương.
Ban đầu, phái đoàn Pháp thái độ rất kiên quyết: chỉ đàm phán với Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa để làm dịu luận và giữ chức vụ cho Thủ tướng Laniel, đồng thời chờ
thời cứu vớt quân đội Pháp Đông Dương. Pháp chỉ muốn giải quyết vấn đề quân
sự theo kiểu Triều Tiên, tức ngừng bắn giải giáp tại chỗ những lực lượng không
chính quy không có giải pháp chính trị. Nhưng sau đó, Pháp thua trận Điện Biên
Phủ, nội các của Thủ tướng Laniel bị chỉ trích dữ dội và phải từ chức vào ngày 12/06
Phong trào chủ hòa của Pháp chiến thắng, Mendès France thành lập chính phủ mới.
Ngày 18 tháng 6, khi nhậm chức, Mendès France tuyên bố sẽ từ chức nếu trong vòng
một tháng không ngừng bắn Đông Dương. Pháp muốn rút lui khỏi chiến tranh
Đông Dương một cách danh dự vẫn giữ được những lợi ích kinh tế ảnh hưởng
văn hoá Lào, Campuchia miền Nam Việt Nam. Pháp không đồng ý với phương
án tuyến 13 của Việt NamPháp cho rằng chính quyền Bảo Đại cầnHuế, Pháp
cần Đường 9 để tiếp tế cho Lào từ Biển Đông, nếu mất Tây Nguyên thì Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ sớm chiếm được miền Nam Việt Nam.
Pháp đề nghị vĩ tuyến 18 để buộc Việt Nam phải bỏ vùng kháng chiến ở miền Trung
gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, nơi có lực lượng Việt Minh rất mạnh. Bộ
trưởng Quốc phòng René Pleven nói rằng: “Vấn đề Đông Dương chỉ thể giải quyết
bằng cách nhượng bộ Trung Quốc, công nhận ngoại giao hủy bỏ cấm vận buôn bán
(đối với Việt Nam)”.
Mendes Trưởng phái đoàn Pháp nghi ngờ Việt Nam sẽ phong tỏa Đường 9 - Khe
Sanh như Liên đã làm với Tây Berlin sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Dựa
vào tình hình giữa Lào Pháp, phái đoàn Việt Nam đã nhận ra Đường 9 rất quan
trọng với Pháp không phải một chiêu bài đàm phán khi Pháp rất kiên quyết về
vấn đề Lào trước khi từ nhiệm, Tổng thống Eisenhower cũng đã ép Tổng thống
Kenedy phải giữ được Vương quốc Lào (thân Pháp).
1.3.3. Liên Xô
Lập trường của Liên trong hội nghị Genève ủng hộ việc khôi phục hòa bình
Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và thống nhất của các nước trong
khu vực. Liên cũng đề nghị mời đại diện của chính phủ kháng chiến Pathét Lào
Khơme Ítxarắc Campuchia tham gia hội nghị, nhưng không được sự đồng ý của các
bên khác. Liên Xô cũng có những tính toán riêng về quan hệ với các nước phương Tây
và không muốn xung đột quá sâu với Pháp và Mỹ.
Cụ thể:
Mục tiêu của Liên ngăn chặn nguy chiến tranh vượt ra khỏi phạm vi Đông
Dương khiến phương Tây đoàn kết lại ủng hộ Mỹ buộc Liên phải cam kết bảo
vệ Trung Quốc. Liên cũng muốn ngăn ngừa việc quốc hội Pháp thông qua kế
hoạch thành lập Cộng đồng Phòng thủ châu Âu. Đồng thời Liên muốn tạo dựng
hình ảnh người bảo vệ hoà bình thế giới nâng đỡ vị thế của Trung Quốc trên
trường quốc tế.
Theo Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Vũ Khoan, lúc đó Liên chỉ quan tâm tới
các vấn đề châu Âu còn các vấn đề Châu Á - Thái Bình Dương, Liên phó thác
toàn bộ cho Trung Quốc. Cũng theo ông này, do giữ được độc lập tự chủ trong
đường lối đối ngoạin Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã biết cách hóa giải quan điểm
này của Liên Xô.
1.3.4. Hoa Kỳ
Lập trường của Hoa Kỳ trong hội nghị Genève không tham gia kết hiệp định,
nhưng cũng không phản đối hoặc cản trở việc đạt được thỏa thuận. Hoa Kỳ mục
tiêu ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản Đông Nam Á, sẵn sàng hỗ
trợ các chính quyền thân Mỹ ở khu vực.
Hoa Kỳ cũng muốn duy trì quan hệ tốt với các đồng minh phương Tây như Anh
Pháp, nhưng không muốn bị ràng buộc bởi các cam kết của họ. Hoa Kỳ đã từ chối
công nhận hiệp định Genève, nhưng tuyên bố sẽ coi mọi sự tái diễn của hành động bạo
lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại, là mối đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc
tế.
Cụ thể:
Trước khi chiến tranh Điện Biên Phủ kết thúc vào tháng 5 năm 1954, Hoa Kỳ đã
thúc giục Pháp phải giữ vững vị thế của mình Đông Dương, sợ rằng chủ nghĩa
cộng sản sẽ tràn lan ở khu vực này.
Hoa Kỳ đã không Hiệp định Genève, nhưng cũng không phản đối hoặc ngăn cản
việc đạt được thỏa thuận. Hoa Kỳ mục tiêu chống lại sự lây lan của chủ nghĩa
10
cộng sản ở Đông Nam Á, và sẵn sàng ủng hộ các chính quyền thân Mỹ ở khu vực. Hoa
Kỳ cũng muốn duy trì quan hệ tốt với các đồng minh phương Tây như Anh Pháp,
nhưng không muốn bị ràng buộc bởi các cam kết của họ. Hoa Kỳ đã bày tỏ quan điểm
của mình trong Tuyên bố rằng “mọi hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng
lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế”.
Trong Tuyên bố của mình, Hoa Kỳ cũng nói rằng sự chia cắt Việt Nam không phải
là mong muốn của hai miền Nam - Bắc, và chính phủ Mỹ sẽ “tiếp tục cố gắng đạt được
sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hợp Quốc
để bảo đảm chúng diễn ra công bằng”.
Sau khi Hội nghị Genève kết thúc, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi
nhận cam kết tôn trọng quyết định của các bên tham gia Hội nghị Genève. Nhưng
ngay sau đó, Tổng thống M lại nói: Hoa Kỳ không tham gia vào những quyết định
của Hội nghị Genève không bị ràng buộc vào những quyết định ấy”. Cũng giống
như Tổng thống của mình, thượng nghị (sau này trở thành Tổng thống) John F.
Kennedy cũng nói: “Nó (Quốc gia Việt Nam) là con của chúng ta. Chúng ta không thể
từ bỏ nó”
1.3.5. Trung Quốc
Lập trường của Trung Quốc trong hội nghị có thể tóm tắt như sau:
- Trung Quốc ủng hộ việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình
Đông Dương, nhưng cũng có những mục đích và lợi ích riêng của mình.
- Trung Quốc muốn duy trì quan hệ tốt với Pháp, để tránh bị lập trên
thế giới và để đạt được những nhượng bộ về vấn đề Đài Loan và Hồng Kông.
- Trung Quốc muốn ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ Đông Dương, để
bảo vệ an ninh quốc gia của mình và để giảm bớt căng thẳng với Liên Xô.
- Trung Quốc muốn duy trì ảnh hưởng của mình Đông Nam Á, đặc biệt
Lào Campuchia, để tạo ra một vùng trung gian giữa Trung Quốc các
nước phương Tây.
- Trung Quốc muốn giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng cũng
không muốn cho Việt Nam trở thành một đối thủ cạnh tranh hoặc một đồng
minh quá mạnh của Liên Xô.
Cụ thể:
Trung Quốc đã có những hành động và đề xuất sau trong hội nghị:
- Trung Quốc đã tự tiến hành đàm phán trực tiếp với Pháp về các giải pháp
cho chiến tranh, mà không tham khảo ý kiến của Việt Nam.
- Trung Quốc đã chủ trương giải quyết vấn đề quân sự trước, bằng cách
ngừng bắn và giải giáp tại chỗ những lực lượng không chính quy, mà không nói
gì đến giải pháp chính trị cho ba nước Đông Dương.
- Trung Quốc đã đề nghị chia cắt Việt Nam làm hai miền theo vĩ tuyến 17,
để tạo ra một thế cân bằng giữa Pháp và Việt Nam, và để ngăn chặn sự lan rộng
của cộng sản ở Đông Nam Á.
- Trung Quốc đã không đồng ý để các đại biểu Chính phủ kháng chiến
Lào Campuchia tham gia Hội nghị Genève cùng với Việt Nam, chỉ công
nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia (thân Pháp).
- Trung Quốc đã yêu cầu Pháp không để căn cứ quân sự Mỹ Đông
Dương, và không để Mỹ can thiệp vào các cuộc đàm phán.
1.3.6. Anh
Lập trường của Anh trong hội nghị Genève một trong những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến kết quả của hội nghị. Có thể tóm tắt như sau:
- Anh là một trong hai đồng chủ tịch của hội nghị, cùng với Liên Xô.
- Anh lợi ích chiến lược Đông Dương, đặc biệt ở Lào Cam-pu-
chia, nơi Anh muốn duy trì ảnh hưởng của mình.
- Anh cũng muốn giữ mối quan hệ tốt với Pháp, đồng minh chính của Anh
trong NATO2.
- Anh không muốn để cho Trung Quốc hoặc Liên vai trò lớn hơn
Đông Dương, nhưng cũng không muốn xung đột với họ.
- Anh nhận thức được sức mạnh ý chí của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, và ủng hộ việc thừa nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam.
- Anh đề xuất việc tổ chức tổng tuyển cử tự do Việt Nam vào năm 1956
để giải quyết vấn đề chia cắt giữa Bắc và Nam.
- Anh cũng đề xuất việc thành lập một Ủy ban quốc tế để giám sát việc thi
hành Hiệp định Genève, và đề cử Ấn Độ làm Chủ tịch của Ủy ban này.
Từ những điểm trên, thể thấy rằng Anh một lập trường khá cân bằng thực
dụng trong hội nghị Genève, nhằm bảo vệ lợi ích của mình đóng góp vào việc lập
lại hòa bình ở Đông Dương.
Cụ thể:
Nước Anh không muốn dính líu vào cuộc tái xâm lược của Pháp Đông Dương
cùng với Mỹ nhưng cũng không muốn gây tổn hại đến quan hệ đồng minh với Mỹ.
Anh kiên trì khuyên Mỹ trì hoãn những hành động quân sự tại Đông Dương bao gồm
12
việc thành lập khối SEATO cho đến khi "lực lượng cộng sản đưa ra giải pháp hoà
bình" được Mỹ chấp thuận do đó không phải lựa chọn ủng hộ hay không ủng hộ Mỹ.
Ngoài ra, Anh chủ trương ủng hộ Pháp thương lượng trên thế mạnh. Đồng thời Anh
cũng đề nghị các nước thân Anh tham gia Hội nghị bao gồm Myanmar, đồng thời loại
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khỏi Hội nghị. Tuy nhiên đề xuất của Anh bị Liên
bác bỏ do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là bên tham chiến trực tiếp với Pháp.
1.4. Diễn biến hội nghị
Hội nghị Genève trải qua 75 ngày với 31 phiên họp, trong đó 7 phiên toàn thể
24 phiên họp cấp Trưởng đoàn. Có thể chia hội nghị thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (từ 8/5/1954 đến 19/6/1954):
Ngoài việc trao đổi chương trình nghị sự, các Đoàn trình bày lập trường của mình về
giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Đông Dương.
Đoàn Pháp. (Ngoại trưởng Bidault) phát biểu chỉ giải quyết vấn đề quân sự, không
đề cập vấn đề chính trịtách vấn đề Lào, Campuchia ra khỏi vấn đề Việt Nam, được
Mỹ ủng hộ.
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu yêu
cầu phải đại diện kháng chiến Lào Campuchia tham dự. Ngày 10/5/1954, ông
Phạm Văn Đồng phát biểu, đưa ra lập trường 8 điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
giải quyết đồng thời cả hai vấn đề quân sự chính trị, giải quyết đồng thời cả ba
vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia. Ông Phạm Văn Đồng nhấn mạnh, Pháp phải thừa
nhận quyền dân tộc bản của nhân dân Việt Nam, Campuchia, Lào. Quân đội nước
ngoài phải rút khỏi ba nước Đông Dương là cơ sở quan trọng nhất cho chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình Đông Dương. Trung Quốc, Liên ủng hộ lập trường của
Việt Nam.
Trưởng đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai đưa ra hai điều kiện để lập lại hòa bình
Đông Dương: Pháp chấm dứt chiến tranh thực dân, Hoa Kỳ chấm dứt can thiệp vào
Đông Dương.
Trường phái Liên Bộ trưởng NG Mô-lô-tốp đề nghị lập Ủy ban giám sát quốc tế
gồm các nước trung lập. Tại phiên họp lần thứ 4, ông Mô-lô-tốp đề nghị lấy hai
phương án của Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm cơ sở thảo luận.
Sau 4 phiên họp rộng, Chủ tịch Hội nghị, Ngoại trưởng Anh Eden yêu cầu họp hẹp.
Mô-lô-tốp đề nghị vấn đề quân sự, chính trị vấn đề ba nước sẽ bàn song song. Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, Liên Xô, Trung Quốc đồng ý. Anh Pháp tán thành, Mỹ
đành phải chấp nhận.
Ngày 25/5/1954, trong phiên họp hẹp, ông Phạm Văn Đồng đưa ra 2 nguyên tắc cho
vấn đề đình chiến: (1) Ngừng bắn hoàn toàn trên toàn cõi Đông Dương, (2) Điều chỉnh
vùng trong mỗi nước, trong từng chiến trường trên sở đất đổi đất để mỗi bên
những vùng hoàn chỉnh tương đối rộng lớn thuận lợi cho quản hành chính hoạt
động kinh tế. Đại diện các bộlệnh có liên quan nghiên cứu tại chỗ những biện pháp
ngừng bắn để chuyển tới Hội nghị xem xét và thông qua.
Ngày 27/5/1954, Đoàn Pháp đồng ý lấy đề nghị của Việt Nam n chủ Cộng hòa
làm sở thảo luận về đề nghị đại diện của hai Bộ lệnh gặp nhau Geneva để
nghiên cứu việc chia ranh giới những khu vực tập trung quân Đông Dương. Cùng
ngày, Đoàn Trung Quốc đưa ra 6 điểm về vấn đề quân sự như ngừng bắn hoàn toàn và
cùng một lúc ba nước Đông Dương, thành lập Ủy ban kiểm soát quốc tế gồm các
nước trung lập nhưng chưa đề cập tới mặt chính trị của giải pháp.
Ngày 29/5/1954, sau 4 phiên họp toàn thể và 8 phiên họp cấp Trưởng đoàn, Hội nghị
Geneva ra quyết định:
1. Ngừng bắn toàn diện và đồng thời,
2. Đại diện hai Bộ lệnh gặp nhau Geneva để bàn về bố trí lực lượng theo
thỏa thuận đình chiến bắt đầu bằng phân vùng tập kết quân đội ở Việt Nam.
Ngày 12/6/1954, Nội các Bidault bị Quốc hội Pháp đánh đổ. Ngày 29/6/1954, Chính
phủ Mendes France lên cầm quyền, hứa với Quốc hội Pháp trong vòng một tháng sẽ
giải quyết xong vấn để lập lại hòa bìnhĐông Dương. Đây là sự kiện quan trọng góp
phần phá vỡ bế tắc, thúc đẩy đàm phán tiền triển.
Giai đoạn 2 (từ 20/6/1954 - 10/7/1954)
Trong giai đoạn này, hầu hết Trưởng đoàn các nước về báo cáo, chỉ Trưởng đoàn
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng lại. Các quyền Trưởng đoàn tổ chức
các cuộc họp hẹp họp tiểu ban quân sự Việt-Pháp. Các cuộc họp chủ yếu bàn các
vấn đề tập kết, chuyển quân, thả tù binh, đi lại giữa hai miền.
Trưởng đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai cuộc gặp với Trưởng đoàn Chính phủ
Phnôm Pênh Chính phủ Viêngchăn. Đặc biệt Chu Ân Lai gặp Thủ tướng Pháp
Mendes France tại Berne ngày 23/6/1954 bàn một số vấn đề quan trọng trong đó hai
ông nhất trí vấn đề quan trọng nhất vạch tuyến nào để chia cắt Việt Nam. Sau
cuộc gặp Chu Ân Lai-Mendes France, vấn đề chia cắt Việt Nam là mục tiêu đảm phán
của Đoàn Pháp. Chauvel gặp Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu vấn đề chia cắt
tuyến 19.
Từ ngày 3-5/7/1954, tại Liễu Châu 9 (Trung Quốc), Hồ Chủ tịch gặp Chu Ân Lai để
bàn về các vấn đề phân vùng, thời hạn tổng tuyển cử, vấn đề Lào Campuchia. Hai
14
bên chưa nhất trí về giới tuyến cụ thể: Ta muốn tuyến 16, Chu Ân Lai muốn
tuyến 17, về thời hạn tổng tuyển cử: Ta nêu 6 tháng, Chu Ân Lai đề nghị hai năm.
Ngày 9/7/1954, tại cuộc họp tiểu ban quân sự, ta đề nghị tuyến 14 nhưng Pháp
vẫn chủ trương tuyến 18. Hồ Chủ tịch điện cho Đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa:
Cho Pháp dùng Đường 9 Đà Nẵng để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giữ lấy Liên
khu 5.
Ngày 10/7/1954, Chu Ân Lai điện khuyên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên nhượng
bộ về tuyến, về Lào, về Ủy ban kiểm soát giám sát quốc tế để sớm đi tới Hiệp
định.
Như vậy các cuộc họp hẹp Genève trong giai đoạn này khôngtiến triển gì đáng
kể.
Giai đoạn 3 (từ ngày 11-21/7/1954): Nồi lại các cuộc đàm phán cấp Bộ trưởng
Trong 10 ngày cuối của Hội nghị Genève đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi tay
đôi, tay ba hoặc nhiều bên giữa các Trưởng đoàn. Các phiên họp chủ yếu thông qua
các văn kiện, kể cả các điều khoản thi hành Hiệp định. Cuối cùng là phiên họp toàn thể
bế mạc Hội nghị.
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đoàn Pháp đàm phán rất gay go về phân chia
vĩ tuyến (Đoàn ta nêu vĩ tuyến 16 vì ta muốn làm chủ đường 9 từ Savanakhot đi Quảng
Trị là con đường duy nhất cho Lào đi ra biển, Đoàn Pháp nêu Vĩ tuyến 18); về thời hạn
tổ chức tổng tuyển cử các điều khác của Hiệp định, đặc biệt Hiệp định về
Campuchia phải ký vào sáng 21/7/1954.
Ngày 21/7/1954, Hội nghị Genève về hòa bình Việt Nam, Lào, Campuchia kết
thúc. Hội nghị thông qua các văn kiện.
1.5. Nội dung cơ bản hội nghị Genève 1954
Hội nghị Geneva năm 1954 một cuộc họp quốc tế quan trọng được tổ chức tại
Geneva, Thụy Sĩ, với mục tiêu giải quyết xung đột Việt Nam sau Chiến tranh Đông
Dương. Hội nghị diễn ra trong 75 ngày thương lượng, qua 8 phiên họp rộng 23
phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động
công khai. Nội dung cơ bản của hội nghị bao gồm:
- Trao đổi các vấn đề về tình hình đình chỉ chiến sự, lập lại hòa bình tại Đông
Dương. Tại hội nghị, đồng chí Phạm Văn Đồng - Tởng đoàn đại biểu Chính phủ
Việt Nam đưa ra các vấn đề quân sự liên quan đến việc đình chỉ chiến sự, ngừng bắn,
rút quân trao đổi binh. Các vấn đề chính trị liên quan đến việc tôn trọng độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương; không can thiệp
vào công việc nội bộ của ba nước; không sử dụng hoặc khuyến khích s dụng lực
hoặc bất kỳ hình thức can thiệp nào khác để cản trở việc thực hiện hiệp định.
-Vấn đề giới tuyến phân vùng thời hạn tuyển cử Việt Nam Trong giai đoạn
2, hội nghị thảo luận vấn đề chọn tuyến để khẳng định giới tuyến quân sự tạm thời
thời hạn tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất Việt Nam. Về vấn đề giới tuyến
phân vùng thời hạn tuyển cử Việt Nam, Đoàn Việt Nam kiên trì tuyến 16
tổng tuyển cử sớm. Ngày 19-7-1954, ba đoàn Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc thống
nhất đưa cho đoàn Pháp phương án cuối cùng giới tuyến đi qua đường số 9 mười km.
Phương án này được Đoàn Việt Nam gợi ý từ tháng 6, nhưng phía Pháp vẫn đòi đi qua
tuyến 18. Tại cuộc họp đêm 20-7-1954, 5 trưởng đoàn Anh, Pháp, Liên Xô, Trung
Quốc Việt Nam vào phút chót mới thỏa thuận lấy tuyến 17 m giới tuyến phân
vùng, và thời hạn tổng tuyển cử ấn định là hai năm.
- Công bố bản Tuyên ngôn chính trị và ký kết Hiệp định Genève. Trải qua 8 phiên
họp toàn thể 23 phiên họp hẹp rất căng thẳng, với thiện chí của phái đoàn Việt
Nam, ngày 20-7-1954, Hiệp định Genève về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được
ký kết. Ba Hiệp định đình chỉ chiến sở ba nước Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị
tạo thành khung pháp của Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương. Các nước tham
gia Hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ
của Việt Nam, Lào Campuchia. Hội nghị đã công bố bản Tuyên ngôn chính trị
Hiệp định đình chiến ở Đông Dương, thừa nhận và tôn trọng độc lập chủ quyền, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào Campuchia, quy định quân đội nước
ngoài phải rút khỏi Đông Dương và ở mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển cử
tự do để thực hiện thống nhất đất nước. Trong hội nghị cũng quyết định các vấn đề
liên quan đến việc thi hành hiệp định cho toàn bộ Đông Dương, bao gồm việc thành
lập các ủy ban giám sát kiểm tra quốc tế, các ủy ban hỗn hợp quốc gia và các ủy
ban hỗn hợp khu vực.
1.6. Kết quả Hội nghị Genève thắng lợi to lớn trong lịch sử ngoại giao Việt
Nam
Việc kết Hiệp định Hội nghị Genève một thắng lợi to lớn, ý nghĩa cùng
quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên, Chính phủ Pháp “mỗi
nước tham gia Hội nghị Hội nghị Genève cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ…”, “tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị” của Việt
Nam; quân đội Pháp phải rút về nước, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng,
16
bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội, trở thành hậu phương lớn vững
chắc cho nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước.
Hội nghị Genève 1954 cũng một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao
Việt Nam khi lần đầu tiên bước lên đài đàm phán đa phương với sự tham gia của
các cường quốc, để bàn về các vấn đề liên quan đến quyền bản của chính dân tộc
mình. Việt Nam đã giành được thắng lợi, mang lại những quyền lợi to lớn chính
đáng cho dân tộc.
CHƯƠNG II - NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH GENÈVE VỀ CHẤM DỨT CHIẾN
TRANH LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954.
2.1. Nội dung toàn văn
CHƯƠNG I
ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ TẠM THỜI VÀ KHU PHI QUÂN SỰ
Điều 1
Đường ranh giới quân sự tạm thời sẽ được ấn định cho cả hai bên lực lượng
quân sự của hai bên sẽ tập hợp lại sau khi rút quân, lực lượng của Quân đội Nhân dân
Việt Nam về phía bắc của giới tuyến, và lực lượng Liêp hiệp Pháp về phía nam.
Đường ranh giới quân sự tạm thời sẽ ấn định theo sự trình bày trên bản đồ đính kèm
(không hoàn chỉnh).
Đó cũng sự thoả thuận rằng một khu phi quân sự sẽ được thiết lập cho cả hai bên
của đường phân chia, mỗi bên không quá 5 km kể từ đường ranh ấy, để làm chức năng
vùng đệm để tránh những xát nào đó thể gây hậu quả tái khởi động tình
trạng chiến tranh.
Điều 2
Phạm vi thời hạn, sự di chuyển tất cả lực lượng của mỗi bên về khu tập kết của
trên mỗi phía của giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được hoàn tất, thì sẽ không vượt
quá ba trăm ngày kể từ ngày hiệp định hiện thời có hiệu lực.
Điều 3
Khi giới tuyến quân sự tạm thời trùng khớp với đường thuỷ, mặt ớc của đường
thuỷ ấy sẽ mở ra cho sự giao thông tàu thuyền dân sự bởi cả hai miền bất kì quãng nào
của một bờ sông được kiểm soát bởi một miền và bờ sông khác bởi miền khác. Uỷ ban
liên hợp sẽ được thiết lập quyền hạn về sự giao thông tàu đối với mạch đường của
đường thuỷ thuộc điều nói đến. Thuyền thương lái các thuyền làm nghề thủ công
dân sự khác của mỗi miền sẽ quyền lui tới không hạn chế phần đất dưới sự kiểm
soát quân sự của miền đó.
Điều 4
Giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai vùng tập kết cuối cùng được kéo dài đến mặt
nước thuộc lãnh thổ ấy bởi đường thẳng góc đến đường ranh chung của bờ biển (lãnh
hải).
Tất cả các hòn đảo thuộc lãnh hải phía bắc của đường biên giới sẽ được rút quân bởi
Liên hiệp Pháp, tất cả các hòn đảo phía nam của sẽ được rút quân bởi Quân đội
Nhân dân Việt Nam.
Điều 5
Để tránh những cuộc xát nào đó thể gây hậu quả tái diễn tình trạng chiến
tranh, tất cả lực lượng, hậu cần thiết bị, sẽ được rút khỏi vùng phi quân sự trong
phạm vi hai mươi lăm (25) ngày theo hiệu lực thuộc bản hiệp định hiện thời.
Điều 6
Không người nào, quân đội hay dân sự, sẽ được cho phép băng qua giới tuyến quân
sự tạm thời trừ phi đặc biệt được quyền băng qua như vậy bởi Uỷ ban liên hợp.
Điều 7
Không người nào, quân đội hay dân sự, sẽ được cho phép vào khu phi quân sự ngoại
trừ người liên quan tới với sự hướng dẫn của ban quản (ban hành chính) cứu tế
dân sự, và người đặc biệt được quyền vào bởi Uỷ ban Liên hợp.
Điều 8
Ban quản (ban hành chính) và cứu tế dân sự trong khu phi quân sự thuộc n này
hay n kia giới tuyến quân sự tạm thời sẽ thuộc trách nhiệm của các viên thủ trưởng
18
các quan chỉ huy (tổng lệnh) của hai miền trong những khu tương ứng của hai
bên. Số lượng người, quân đội hay dân sự, từ mỗi phía, được phép vào khu phi
quân sự để hướng dẫn ban quan (đảm trách hành chính) cứu tế dân sự sẽ được
định bởi người chỉ huy (tư lệnh) tương ứng, nhưng không trong trường hợp nào
tổng số người được phép bởi bên này hay bên kia, một thời điểm nhất định nào đó,
vượt quá con số được quy định bởi Uỷ ban quân sự Trung Giã hay Uỷ ban Liên hợp.
Số lượng cảnh sátn s khí được đưa đến bởi họ sẽ được quyết định bởi Uỷ
ban Liên hợp. Không một ai khác sẽ đưa khí đến trừ phi đặc biệt được quyền làm
như thế do Uỷ ban Liên hợp.
Điều 9
Không một điều nào hàm chứa trong chương này sẽ được phân tích (được hiểu) theo
mức hạn chế hoàn toàn tự do di chuyển, vào, ra hoặc di chuyển trong pham vi khu phi
quân sự của Uỷ ban Liên hợp, nhóm liên hợp của họ, Uỷ ban Quốc tế để được bố trí
theo chỉ định dưới đây, đội kiểm tra của họ một số người nào đó, hậu cần hay thiết
bị, đặc biệt có quyền vào khu phi quân sự bởi Uỷ ban Liên hợp. Sự tự do di chuyển sẽ
được phép đi qua địa phận thuộc sự kiểm tra quân sự của mỗi bên trên những con
đường bộ hay đường thuỷ, phải được ghi giữa các điểm trong phạm vi khu phi quân s
khi những điểm ấy không được nối bởi những con đường bộ hay những đường
thuỷ nằm trọn vẹn trong phạm vi khu phi quân sự.
CHƯƠNG II
NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC THỦ TỤC QUẢN LÝ VIỆC THI HÀNH BẢN
HIỆP ĐỊNH HIỆN THỜI
Điều 10
Những người chỉ huy của quân lực trên mỗi bên, trên một bên tổng lệnh của
quân đội Liên hiệp Pháp tại Đông Dương trên một bên khác tổng lệnh của
Quân đội Nhân dân Việt Nam, sẽ ra lệnh buộc tuân thủ sự chấm dứt hoàn toàn tất
cả mọi tình trạng chiến tranh tại Việt Nam bởi tất cả quân lực trang dưới sự kiểm
soát của họ, gồm cả các đơn vị và cá nhân thuộc bộ binh, hải quân và không lực
Điều 11

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING HỌC PHẦN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu hội nghị Giơ-ne-vơ và Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến
tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương (1954). Rút ra nhận xét. Nhóm: 3
Giảng viên hướng dẫn: Cô Hoàng Thị Thắm
Lớp học phần: 231HCMI013101
Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
1.1. Bối cảnh lịch sử của Hội nghị Genève về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở
Đông Dương.................................................................................................................2
1.1.1. Bối cảnh thế giới...............................................................................................2
1.1.2. Bối cảnh Đông Dương.......................................................................................4
1.2. Thành phần tham gia..............................................................................................5
1.3 Lập trường và quan điểm các bên tham dự..............................................................6
1.3.1. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.............................................................................6
1.3.2. Pháp..................................................................................................................8
1.3.3. Liên Xô.............................................................................................................9
1.3.4. Hoa Kỳ............................................................................................................10
1.3.5. Trung Quốc.....................................................................................................11
1.3.6. Anh..................................................................................................................12
1.4. Diễn biến hội nghị................................................................................................12
1.5. Nội dung cơ bản hội nghị Genève 1954...............................................................15
1.6. Kết quả Hội nghị Genève – thắng lợi to lớn trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. .16
CHƯƠNG II - NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH GENÈVE VỀ CHẤM DỨT CHIẾN
TRANH LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954............................17
2.1. Nội dung toàn văn................................................................................................17
2.2. Nội dung cơ bản...................................................................................................34
CHƯƠNG III - NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.................................................36
3.1. Nhận xét...............................................................................................................36
3.1.1. Thành công......................................................................................................36
3.1.2 Hạn chế............................................................................................................37
3.2. Kinh nghiệm.........................................................................................................38
KẾT LUẬN................................................................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................41 MỞ ĐẦU
Trong lịch sử đấu tranh nước nhà, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
là thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh Việt Nam, là một trong những bức tranh
sáng trong lịch sử của nhân dân cách mạng. Cuộc kháng chiến ấy nêu bật truyền thống
vẻ vang của Đảng ta, đó là truyền thống kiên cường, bất khuất của Đảng vì lý tưởng
cách mạng cao cả, vì nước, vì dân, với sự hy sinh anh dũng của nhiều thế hệ cán bộ
lãnh đạo, đảng viên kiên trung của Đảng, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
lịch sử mà dân tộc ta đạt được. Một trong số đó không thể không đề cập tới sự kiện
lịch sử trọng đại của dân tộc ta là Hội nghị Genève và Hiệp định Genève. Hiệp định ấy
đã hoàn tất việc đình chỉ chiến tranh, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, trở thành
một dấu mốc quan trọng trong lịch sử của Dân tộc Việt Nam, buộc Chính phủ Pháp
phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Hội nghị ghi nhận các điều khoản trong hiệp định đình chiến tại Việt các nước đưa
quân đội và nhân viên quân sự cũng như tất cả các loại vũ khí, đạn dược vào Việt
Nam. Mặc dù đặt được nhiều tiếng vang sau 3 giai đoạn nhưng Hội nghị Genève còn
tồn đọng nhiều hạn chế, chi tiết chưa được khai thác. Vì vậy, nhóm đã thực hiện thảo
luận về đề tài “Tìm hiểu hội nghị Genève và Hiệp định Genève về chấm dứt chiến
tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương (1954)” nhằm khai thác, nghiên cứu về những
vấn đề liên quan và từ đó rút ra nhận xét, đánh giá về Hội nghị nêu trên. Bài thảo luận
của nhóm còn nhiều thiếu sót, mong cô và các bạn sẽ đưa ra những góp ý để giúp bài
thảo luận hoàn thiện hơn. 2
CHƯƠNG I - HỘI NGHỊ GENÈVE VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP
LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954.
1.1. Bối cảnh lịch sử của Hội nghị Genève về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương.
1.1.1. Bối cảnh thế giới
Hội nghị Genève về Đông Dương diễn ra trong một bối cảnh quốc tế có nhiều biến
chuyển mới mẻ và phức tạp. Năm 1953 là một năm ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng,
tác động trực tiếp đến sự chuyển biến của cục diện toàn cầu nói chung và châu Á nói
riêng, đặc biệt là đối với cuộc chiến tranh Đông Dương.
Vào năm 1953 chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ ra sức chuẩn bị chiến
tranh, nhanh chóng triển khai chiến lược toàn cầu hóa phản cách mạng của chúng. Đế
quốc Mỹ áp dụng chiến lược quân sự “trả đũa ồ ạt” và chính sách ngoại giao “bên
miệng hố chiến tranh” của Ai-xen-hao và Đa-lét nhằm bao vây Liên Xô, Trung Quốc
và các nước xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản, đàn áp
phong trào giải phóng dân tộc, hòng làm bá chủ thế giới. Lợi dụng chiến tranh Triều
Tiên, đế quốc Mỹ pháp triển quân đội Mỹ từ 1.400.000 người (năm 1949) lên
3.500.000 người vừa chống Liên Xô ở châu Âu, vừa chống Trung Quốc ở châu Á.
Chúng xúc tiến vũ trang lại Tây Đức khôi phục lại chủ nghĩa phục thủ Tây Đức, thành
lập quân đội Tây Âu (NATO), khôi phục lại chủ nghĩa quân phiệt Nhật ở châu Á.
Từ sau cách mạng Trung Quốc thành công, sự so sánh lực lượng trên thế giới đang
thay đổi có lợi cho cách mạng. Phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô, với liên
minh Xô Trung làm nòng cốt, ngày một củng cố vững mạnh.
Cả Liên Xô và Trung Quốc đã đi vào thời kỳ kinh tế kế hoạch dài hạn. Liên Xô đã
có bom khinh khí (8.1953) và Trung Quốc sau chiến tranh Triều Tiên, đã trở thành
một nước có lực lượng quân sự mạnh nhất Châu Á.
Liên Xô, Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa đoàn kết nhất chí và gương cao ngọn
cờ chống đế quốc gây chiến, bảo vệ hoà bình, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc,
nên có uy tín to lớn trên thế giới.
Song song với sự hình thành phe xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc
tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở Nam Á, Đông Nam Á, Trung Cận Đông và châu Phi. Xu
hướng trung lập tích cực, không tham gia các liên minh quân sự với các nước phương
Tây, phát triển trong các nước mới giành được độc lập như 5 nước tham gia kế hoạch
Colombo Ấn Độ, Miến Điện, Pa-ki-xtan, In-đô-nê-xi-a, và chủ nghĩa dân tộc Nát-xe ở Ai Cập.
Hai phe đều tranh thủ tập hợp lực lượng và đấu tranh quyết liệt. Nhưng so sánh lực
lượng lúc bấy giờ, hai phe đã có hoà hoãn với nhau ở mức thấp. Chấp nhận đình chiến
tại Triều Tiên (1953) gần như nguyên trạng của cả hai bên ở vĩ tuyến 38 và sau đó thỏa
thuận họp hội nghị Bá Linh (1/1954) để bàn giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên và
bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây là hội nghị đầu tiên của bốn nước lớn kể
từ năm 1949, sau những năm hết sức căng thẳng của chiến tranh lạnh Đông Tây. Kết
quả hội nghị này là hai phe đồng ý triệu tập hội nghị Genève vào ngày 26 tháng 4 năm
1954 với sự tham dự của Trung Quốc.
1.1.2. Bối cảnh Đông Dương.
Sau 8 năm sa lầy tại cuộc chiến Đông Dương, Pháp đã phải gánh chịu những thiệt
hại nặng nề về cả người và của. Vào Thu-Đông năm 1953 lực lượng ta trên chiến
trường đã giành được chủ động tiến công trên chiến trương chính. Ta đã liên tiếp mở
bốn chiến dịch lớn thắng lợi: giải phóng Lai Châu ở Tây Bắc (10/12/1953), tiến quân
vào Thà Khẹt (25/12/1953) ở Trung và Hạ Lào, giải phóng khu vực sông Nậm Líu và
Phong-sa-ly (26/11/1953) ở Thượng Lào và giải phóng Kon Tum ở Tây Nguyên.
Mùa hè năm 1953, Pháp đã gặp nhiều khó khăn lớn ở Đông Dương. Lực lượng Pháp
tuy còn 45 vạn quân ( so với khoảng trên 30 vạn của ta), song phân tán, làm nhiệm vụ
chiếm đóng ở ba nước Đông Dương, thiếu quân cơ động, nhiều nguỵ quân và tinh thần giảm sút.
Tướng Hăng-ri Na-va, là một nhà chiến lược xuất sắc ở Pháp, vừa được cử sang làm
tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương, lúc đó nhận xét rằng: “Sau 7 năm chiến
tranh, nhìn chung so sánh các phương tiện của chúng ta với đối phương đã trở nên bất
tiện cho ta”. Và y báo cáo chính phủ pháp như sau: “Sự phân tán và tình trạng bất
động của lực lượng chúng ta chỉ còn để lại Bộ chỉ huy những khả năng hết sức hạn
chế. Mọi cuộc hành quân chiến lược tương đối lớn đều không thể tiến hành được trong tình trạng hiện nay.”
Để cứu vãn tình hình, chính phủ Pháp thông qua kế hoạch Na-va gồm hai giai đoạn:
1953 - 1954: phòng ngự chiến lược ở miền Bắc Việt Nam, tấn công chiến lược ở
Nam vĩ tuyến 18 đi đôi với việc tăng cường quân cơ động bằng xây dựng nguỵ quân
và tăng viện từ Pháp sang.
1954 - 1955: tấn công chiến lược miền Bắc, giành lấy thắng lợi quân sự to lớn, buộc
ta phải đình chiến theo điều kiện của Pháp.
Đây là một kế hoạch đầy tham vọng, được Mỹ hết sức ủng hộ và viện trợ thêm 385
triệu đô la để thực hiện. Nhưng vì qua nhiều khó khăn, không thể đáp ứng hết yêu cầu
xin tăng quân của Na-va, ngày 13/11/1953, Uỷ ban quốc phòng Pháp chỉ thị cho Na- 4
va phải sử dụng các lực lượng hiện có, phát triển tối đa quân ngụy và xác định mục
tiêu hành động của Pháp ở Đông Dương là làm sao cho đổi phương “nhận thấy không
thể giành được một quyết định quân sự ”
Để thực hiện kế hoạch trên, trong hè – thu năm 1953, Na-va liên tiếp mở hàng chục
cuộc càn quét ở vùng chúng chiếm đóng ở Bắc Bộ, Bình Trị Thiên và Nam Bộ, nhảy
dù tập kích Lạng Sơn (7/1953), tăng cường biệt kích thổ phỉ ở Lào Cai, Lai Châu, Sơn
La, mở cuộc tấn công lớn gọi là chiến dịch Hải Âu vào vùng Nho Quan ( Ninh Bình),
tuyên bố đã giành được chủ động chiến trường. Nhưng bị tổn thất nặng chúng phải rút khỏi Nho Quan.
Trước việc ta tiến quân lên hướng Tây Bắc, Na-va cho quân nhảy dù xuống Điện
Biên Phủ (20/11/1953) nhằm mở rộng địa bàn của chúng ở Tây Bắc và bảo vệ Lào mà
Pháp mới trao trả độc lập chưa đầy một tháng (22/10/1953). Lực lượng của địch lúc
đầu có 6 tiểu đoàn. Ngày 3/12 tướng Na-va quyết định tăng cường lực lượng cho Điện
Biên Phủ và tiếp nhận cuộc chiến đấu với lực lượng chủ lực của ta ở Điện Biên Phủ và
Điện Biên Phủ trở thành đấu với lực lượng chủ lực của ta ở Điện Biên Phủ và Điện
Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Trước khi ta đánh Điện Biên Phủ, ngày 20/11/1954, Na-va mở chiến dịch “At-lăng-
tơ (Atlante) đổ bộ lên Tuy Hoà. Phú Yên, đánh chiếm vùng tự do liên khu 5. Sau mấy
chiến dịch lớn của ta Na-va cho rằng ta không đủ sức tấn công nữa, càng không thể
đánh Điện Biên Phủ được. Vì vậy, ngày 12/3/1954, Pháp đổ bộ lên chiếm Quy Nhơn,
tiếp tục chiến dịch Atlante.
Ngày 13/3/1954, ta mở cuộc đại tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và
sau 55 ngày đêm chiến đấu, ta tiêu diệt hoàn toàn Điện Biên Phủ, 16.000 quân địch
gồm 21 tiểu đoàn bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh.
Nhìn chung, trong Đông – Xuân 1953 – 1954 địch bị thiệt hại 112.000 tên, tức 4 lực
lượng vũ trang của địch tại Đông Dương. Những thắng lợi đó đã đưa cuộc kháng chiến
của nhân dân ta từ hình thái phản công cục bộ tiến lên hình thái phản công lớn, từ tư
thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ tiến lên giành chủ động trên chiến trường cả nước. 1.2. Thành phần tham gia
Thành phần tham gia vào Hội nghị lúc này bao gồm : 1.
Phái đoàn Anh Quốc, do Anthony Eden làm trưởng đoàn. 2.
Phái đoàn Hoa Kỳ, do Bedell Smith làm trưởng đoàn. 3.
Phái đoàn Liên bang Xô viết, do Viacheslav Molotov làm trưởng đoàn. 4.
Phái đoàn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, do Chu Ân Lai làm trưởng đoàn. 5.
Phái đoàn Pháp, do Georges Bidault làm trưởng đoàn. 6.
Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. 7.
Phái đoàn Quốc gia Việt Nam, do Nguyễn Quốc Định làm trưởng đoàn sau thay
thế bởi Nguyễn Trung Vinh rồi Trần Văn Đỗ nhưng không được tham gia đàm phán
tại hội nghị, việc đàm phán do phái đoàn Pháp thực hiện và chỉ thông báo lại sau khi ký kết. 8.
Phái đoàn Vương quốc Lào, do Phumi Sananikone làm trưởng đoàn nhưng
không được phép tham gia đàm phán trực tiếp, ủy nhiệm cho phái đoàn Pháp. 9.
Phái đoàn Vương quốc Campuchia, do Tep Than, làm trưởng đoàn nhưng
không tham gia đàm phán trực tiếp, ủy nhiệm cho phái đoàn Pháp.
10. Hai phái đoàn Pathet Lào và Khmer Issarak không được chính thức tham gia
hội nghị mà ủy nhiệm cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả các nguyện
vọng của hai đoàn này được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trình bày trước hội nghị.
Hai đồng chủ tịch Hội nghị là Liên Xô và Anh.
1.3 Lập trường và quan điểm các bên tham dự
1.3.1. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ra lập trường 10 điểm: 1.
Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia. 2.
Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3 nước trong thời
hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng
quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế. 3.
Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước. 4.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập
Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó. 5.
Ba nước thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại mỗi nước. Sau
khi chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết
theo đúng các nguyên tắc bình đẳng và củng cố. 6.
Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh. 7.
Trao đổi tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh. 6 8.
Ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời trên toàn Đông Dương, đình chỉ đưa quân
đội và thiết bị quân sự mới vào Đông Dương, lập Ủy ban Liên hợp quân sự hai bên và
Ủy ban Quốc tế giám sát để bảo đảm thực hiện Hiệp định đình chiến. 9.
Giới tuyến quân sự không được coi là biên giới quốc gia và chỉ tồn tại cho đến
khi hoàn thành Tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hiệp.
10. Chấp nhận nhượng bộ về việc tồn tại giới tuyến quân sự, đổi lại các lực lượng
quân sự nước ngoài phải rời khỏi Việt Nam. Lập trường ban đầu của Việt Nam là tập
kết tại chỗ. Nếu không được sẽ chuyển sang phương án lấy Vĩ tuyến 13, cắt ngang đèo
Đại Lãnh giữa Phú Yên và Khánh Hòa, làm giới tuyến quân sự tạm thời. Giới tuyến
quân sự không được coi là biên giới quốc gia.
Tuy nhiên, nếu xét về mặt chủ trương, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có mục tiêu
"độc lập, thống nhất, dân chủ và hòa bình" với 4 phương châm: 1.
Mục đích không thay đổi nhưng để đạt được mục đích có con đường thẳng, có con đường quanh co. 2.
Tôn trọng chủ quyền Việt Nam, bình đẳng, tự nguyện có lợi cả hai bên. 3.
Lực lượng chủ quan (nội lực của Việt Nam) là điều kiện căn bản để đi tới thắng lợi. 4.
Luôn luôn đặt lợi ích của Việt Nam trong lợi ích của phong trào hoà bình, dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thậm chí trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, Hồ Chí Minh còn tuyên bố
vào tháng 11/1953: "Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh
mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải
quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam dân chủ
cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó... Cơ sở của đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ
Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam".
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Hội nghị ở thế tương đối bị động dù đã
có sự chuẩn bị trước do sự thiếu thông tin từ việc phải đặt căn cứ ở vùng rừng núi,
không kiểm soát được các thành phố lớn và thiếu một hệ thống tình báo chiến lược có
hiệu quả. Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải dựa vào thông tin từ phía Liên
Xô và Trung Quốc cung cấp. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tỏ ra thiếu kinh
nghiệm khi coi thường các hoạt động của các chính phủ thuộc Liên hiệp Pháp như
Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia và Quốc gia Việt Nam. Cũng do thiếu
thông tin nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không đánh giá được hết ý đồ của các
nước lớn trong đó có vai trò của Trung Quốc, tham vọng của Anh và Hoa Kỳ cũng như
không nắm được hết những mâu thuẫn giữa những nước lớn với nhau.
Theo Phó Thủ tướng Vũ Khoan, do lực lượng Pathet Lào và Khmer Issarak không
được tham dự Hội nghị đã gây bất lợi về tương quan lực lượng cho Việt Nam, khiến
sức ép tạo ra cho đối phương là không đủ. Tại Hội nghị, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng
đã dành toàn bộ bài phát biểu đầu tiên cho việc đòi đại diện các lực lượng kháng chiến
Lào và Campuchia phải được tham dự Hội nghị như các thành viên bình đẳng. Lúc đó,
Bộ trưởng Ngoại giao Pathet Lào là Nu Hắc và Bộ trưởng Ngoại giao Khmer Khmer
Issarak Keo Pha đã có mặt tại Genève để phối hợp đấu tranh với Việt Nam. Tuy nhiên,
các nước phương Tây bác bỏ đề nghị của Việt Nam về việc cho Pathet Lào và Khmer
Issarak tham gia Hội nghị do Hội nghị tách biệt vấn đề tại Việt Nam và vấn đề tại Lào-
Campuchia thành hai vấn đề khác nhau. Lập trường ban đầu của Trung Quốc giống
với Việt Nam là giải quyết cùng một lúc vấn đề ở ba nước Đông Dương. Tuy nhiên,
đến giữa tháng 5, sau khi Việt Nam chiến thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ,
Trung Quốc chuyển sang ủng hộ quan điểm của các nước phương Tây. Ngày 20/6,
Chu Ân Lai đã tiếp Ngoại trưởng Vương quốc Campuchia (thân Pháp) Tep Phan và
21/6 đã tiếp Ngoại trưởng Vương quốc Lào (thân Pháp) Sananikon để bàn thảo các vấn
đề liên quan giữa những bên này với Trung Quốc và Việt Nam. Tới ngày 12/7, Chu Ân
Lai ép phái đoàn Việt Nam chấp nhận phương án Pathet Lào tập kết về hai tỉnh
Thượng Lào còn Khmer Issarak không nên vấn đề tập kết quân sự, Quân đội nhân dân
Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Quan điểm này khác với quan điểm của Việt Nam
là Pathet Lào sẽ tập kết ở các tỉnh giáp biên với Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn
quyết tâm bảo vệ lợi ích của Pathet Lào và Khmer Issarak bất chấp sức ép của Trung Quốc. 1.3.2. Pháp
Lập trường của Pháp trong hiệp định Genève là một lập trường ngoan cố và không
muốn thừa nhận thất bại của mình trước quân dân Việt Nam. Pháp hy vọng có thể giữ
lại ảnh hưởng của mình ở Đông Dương bằng cách chia cắt Việt Nam thành hai phần,
đặt vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời và tổ chức tổng tuyển cử vào năm
1956. Pháp cũng muốn duy trì quân sự và kinh tế của mình ở Lào và Cam-pu-chia, hai
nước mà Pháp coi là "đệ tử" của mình.
Tuy nhiên, lập trường của Pháp không được các nước khác trong Hội nghị Genève
đồng tình. Các nước như Liên Xô, Trung Quốc, Anh và Ấn Độ đều ủng hộ việc tôn
trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương. 8
Các nước này cũng phản đối việc can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước và cấm
đặt căn cứ quân sự ở Đông Dương. Cụ thể:
Trước khi bàn bạc ở Hội nghị, Pháp và Việt Nam đều coi trận Điện Biên Phủ là trận
quyết chiến để giành lợi thế cho mình. Pháp đang gặp khó khăn trong nội chiến khi
dân chúng phản đối chiến tranh, Đảng Cộng sản Pháp lên ngôi trong Quốc hội, và
chính sách Bảo Đại không hiệu quả. Pháp muốn tìm một lối thoát danh dự khỏi cuộc
chiến và bảo toàn những quyền lợi còn lại ở Đông Dương.
Ban đầu, phái đoàn Pháp có thái độ rất kiên quyết: chỉ đàm phán với Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa để làm dịu dư luận và giữ chức vụ cho Thủ tướng Laniel, đồng thời chờ
thời cơ cứu vớt quân đội Pháp ở Đông Dương. Pháp chỉ muốn giải quyết vấn đề quân
sự theo kiểu Triều Tiên, tức là ngừng bắn và giải giáp tại chỗ những lực lượng không
chính quy mà không có giải pháp chính trị. Nhưng sau đó, Pháp thua trận Điện Biên
Phủ, nội các của Thủ tướng Laniel bị chỉ trích dữ dội và phải từ chức vào ngày 12/06
Phong trào chủ hòa của Pháp chiến thắng, Mendès France thành lập chính phủ mới.
Ngày 18 tháng 6, khi nhậm chức, Mendès France tuyên bố sẽ từ chức nếu trong vòng
một tháng không có ngừng bắn ở Đông Dương. Pháp muốn rút lui khỏi chiến tranh
Đông Dương một cách danh dự và vẫn giữ được những lợi ích kinh tế và ảnh hưởng
văn hoá ở Lào, Campuchia và miền Nam Việt Nam. Pháp không đồng ý với phương
án vĩ tuyến 13 của Việt Nam vì Pháp cho rằng chính quyền Bảo Đại cần có Huế, Pháp
cần có Đường 9 để tiếp tế cho Lào từ Biển Đông, và nếu mất Tây Nguyên thì Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ sớm chiếm được miền Nam Việt Nam.
Pháp đề nghị vĩ tuyến 18 để buộc Việt Nam phải bỏ vùng kháng chiến ở miền Trung
gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, nơi có lực lượng Việt Minh rất mạnh. Bộ
trưởng Quốc phòng René Pleven nói rằng: “Vấn đề Đông Dương chỉ có thể giải quyết
bằng cách nhượng bộ Trung Quốc, công nhận ngoại giao và hủy bỏ cấm vận buôn bán (đối với Việt Nam)”.
Mendes là Trưởng phái đoàn Pháp nghi ngờ Việt Nam sẽ phong tỏa Đường 9 - Khe
Sanh như Liên Xô đã làm với Tây Berlin sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Dựa
vào tình hình giữa Lào và Pháp, phái đoàn Việt Nam đã nhận ra Đường 9 rất quan
trọng với Pháp và không phải là một chiêu bài đàm phán khi Pháp rất kiên quyết về
vấn đề Lào và trước khi từ nhiệm, Tổng thống Eisenhower cũng đã ép Tổng thống
Kenedy phải giữ được Vương quốc Lào (thân Pháp). 1.3.3. Liên Xô
Lập trường của Liên Xô trong hội nghị Genève là ủng hộ việc khôi phục hòa bình ở
Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và thống nhất của các nước trong
khu vực. Liên Xô cũng đề nghị mời đại diện của chính phủ kháng chiến Pathét Lào và
Khơme Ítxarắc Campuchia tham gia hội nghị, nhưng không được sự đồng ý của các
bên khác. Liên Xô cũng có những tính toán riêng về quan hệ với các nước phương Tây
và không muốn xung đột quá sâu với Pháp và Mỹ. Cụ thể:
Mục tiêu của Liên Xô là ngăn chặn nguy cơ chiến tranh vượt ra khỏi phạm vi Đông
Dương khiến phương Tây đoàn kết lại ủng hộ Mỹ và buộc Liên Xô phải cam kết bảo
vệ Trung Quốc. Liên Xô cũng muốn ngăn ngừa việc quốc hội Pháp thông qua kế
hoạch thành lập Cộng đồng Phòng thủ châu Âu. Đồng thời Liên Xô muốn tạo dựng
hình ảnh là người bảo vệ hoà bình thế giới và nâng đỡ vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế.
Theo Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Vũ Khoan, lúc đó Liên Xô chỉ quan tâm tới
các vấn đề ở châu Âu còn các vấn đề ở Châu Á - Thái Bình Dương, Liên Xô phó thác
toàn bộ cho Trung Quốc. Cũng theo ông này, do giữ được độc lập và tự chủ trong
đường lối đối ngoại nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã biết cách hóa giải quan điểm này của Liên Xô. 1.3.4. Hoa Kỳ
Lập trường của Hoa Kỳ trong hội nghị Genève là không tham gia ký kết hiệp định,
nhưng cũng không phản đối hoặc cản trở việc đạt được thỏa thuận. Hoa Kỳ có mục
tiêu là ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, và sẵn sàng hỗ
trợ các chính quyền thân Mỹ ở khu vực.
Hoa Kỳ cũng muốn duy trì quan hệ tốt với các đồng minh phương Tây như Anh và
Pháp, nhưng không muốn bị ràng buộc bởi các cam kết của họ. Hoa Kỳ đã từ chối
công nhận hiệp định Genève, nhưng tuyên bố sẽ coi mọi sự tái diễn của hành động bạo
lực vi phạm hiệp định là điều đáng lo ngại, là mối đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế. Cụ thể:
Trước khi chiến tranh Điện Biên Phủ kết thúc vào tháng 5 năm 1954, Hoa Kỳ đã
thúc giục Pháp phải giữ vững vị thế của mình ở Đông Dương, vì sợ rằng chủ nghĩa
cộng sản sẽ tràn lan ở khu vực này.
Hoa Kỳ đã không ký Hiệp định Genève, nhưng cũng không phản đối hoặc ngăn cản
việc đạt được thỏa thuận. Hoa Kỳ có mục tiêu là chống lại sự lây lan của chủ nghĩa 10
cộng sản ở Đông Nam Á, và sẵn sàng ủng hộ các chính quyền thân Mỹ ở khu vực. Hoa
Kỳ cũng muốn duy trì quan hệ tốt với các đồng minh phương Tây như Anh và Pháp,
nhưng không muốn bị ràng buộc bởi các cam kết của họ. Hoa Kỳ đã bày tỏ quan điểm
của mình trong Tuyên bố rằng “mọi hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng
lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế”.
Trong Tuyên bố của mình, Hoa Kỳ cũng nói rằng sự chia cắt Việt Nam không phải
là mong muốn của hai miền Nam - Bắc, và chính phủ Mỹ sẽ “tiếp tục cố gắng đạt được
sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hợp Quốc
để bảo đảm chúng diễn ra công bằng”.
Sau khi Hội nghị Genève kết thúc, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi
nhận và cam kết tôn trọng quyết định của các bên tham gia Hội nghị Genève. Nhưng
ngay sau đó, Tổng thống Mỹ lại nói: “Hoa Kỳ không tham gia vào những quyết định
của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy”. Cũng giống
như Tổng thống của mình, thượng nghị sĩ (sau này trở thành Tổng thống) John F.
Kennedy cũng nói: “Nó (Quốc gia Việt Nam) là con của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó” 1.3.5. Trung Quốc
Lập trường của Trung Quốc trong hội nghị có thể tóm tắt như sau: -
Trung Quốc ủng hộ việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở
Đông Dương, nhưng cũng có những mục đích và lợi ích riêng của mình. -
Trung Quốc muốn duy trì quan hệ tốt với Pháp, để tránh bị cô lập trên
thế giới và để đạt được những nhượng bộ về vấn đề Đài Loan và Hồng Kông. -
Trung Quốc muốn ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ ở Đông Dương, để
bảo vệ an ninh quốc gia của mình và để giảm bớt căng thẳng với Liên Xô. -
Trung Quốc muốn duy trì ảnh hưởng của mình ở Đông Nam Á, đặc biệt
là ở Lào và Campuchia, để tạo ra một vùng trung gian giữa Trung Quốc và các nước phương Tây. -
Trung Quốc muốn giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng cũng
không muốn cho Việt Nam trở thành một đối thủ cạnh tranh hoặc một đồng
minh quá mạnh của Liên Xô. Cụ thể:
Trung Quốc đã có những hành động và đề xuất sau trong hội nghị: -
Trung Quốc đã tự tiến hành đàm phán trực tiếp với Pháp về các giải pháp
cho chiến tranh, mà không tham khảo ý kiến của Việt Nam. -
Trung Quốc đã chủ trương giải quyết vấn đề quân sự trước, bằng cách
ngừng bắn và giải giáp tại chỗ những lực lượng không chính quy, mà không nói
gì đến giải pháp chính trị cho ba nước Đông Dương. -
Trung Quốc đã đề nghị chia cắt Việt Nam làm hai miền theo vĩ tuyến 17,
để tạo ra một thế cân bằng giữa Pháp và Việt Nam, và để ngăn chặn sự lan rộng
của cộng sản ở Đông Nam Á. -
Trung Quốc đã không đồng ý để các đại biểu Chính phủ kháng chiến
Lào và Campuchia tham gia Hội nghị Genève cùng với Việt Nam, mà chỉ công
nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia (thân Pháp). -
Trung Quốc đã yêu cầu Pháp không để có căn cứ quân sự Mỹ ở Đông
Dương, và không để Mỹ can thiệp vào các cuộc đàm phán. 1.3.6. Anh
Lập trường của Anh trong hội nghị Genève là một trong những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến kết quả của hội nghị. Có thể tóm tắt như sau: -
Anh là một trong hai đồng chủ tịch của hội nghị, cùng với Liên Xô. -
Anh có lợi ích chiến lược ở Đông Dương, đặc biệt là ở Lào và Cam-pu-
chia, nơi Anh muốn duy trì ảnh hưởng của mình. -
Anh cũng muốn giữ mối quan hệ tốt với Pháp, đồng minh chính của Anh trong NATO2. -
Anh không muốn để cho Trung Quốc hoặc Liên Xô có vai trò lớn hơn ở
Đông Dương, nhưng cũng không muốn xung đột với họ. -
Anh nhận thức được sức mạnh và ý chí của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, và ủng hộ việc thừa nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam. -
Anh đề xuất việc tổ chức tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam vào năm 1956
để giải quyết vấn đề chia cắt giữa Bắc và Nam. -
Anh cũng đề xuất việc thành lập một Ủy ban quốc tế để giám sát việc thi
hành Hiệp định Genève, và đề cử Ấn Độ làm Chủ tịch của Ủy ban này.
Từ những điểm trên, có thể thấy rằng Anh có một lập trường khá cân bằng và thực
dụng trong hội nghị Genève, nhằm bảo vệ lợi ích của mình và đóng góp vào việc lập
lại hòa bình ở Đông Dương. Cụ thể:
Nước Anh không muốn dính líu vào cuộc tái xâm lược của Pháp ở Đông Dương
cùng với Mỹ nhưng cũng không muốn gây tổn hại đến quan hệ đồng minh với Mỹ.
Anh kiên trì khuyên Mỹ trì hoãn những hành động quân sự tại Đông Dương bao gồm 12
việc thành lập khối SEATO cho đến khi "lực lượng cộng sản đưa ra giải pháp hoà
bình" được Mỹ chấp thuận do đó không phải lựa chọn ủng hộ hay không ủng hộ Mỹ.
Ngoài ra, Anh chủ trương ủng hộ Pháp thương lượng trên thế mạnh. Đồng thời Anh
cũng đề nghị các nước thân Anh tham gia Hội nghị bao gồm Myanmar, đồng thời loại
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khỏi Hội nghị. Tuy nhiên đề xuất của Anh bị Liên Xô
bác bỏ do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là bên tham chiến trực tiếp với Pháp.
1.4. Diễn biến hội nghị
Hội nghị Genève trải qua 75 ngày với 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên toàn thể và
24 phiên họp cấp Trưởng đoàn. Có thể chia hội nghị thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (từ 8/5/1954 đến 19/6/1954):
Ngoài việc trao đổi chương trình nghị sự, các Đoàn trình bày lập trường của mình về
giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Đông Dương.
Đoàn Pháp. (Ngoại trưởng Bidault) phát biểu chỉ giải quyết vấn đề quân sự, không
đề cập vấn đề chính trị và tách vấn đề Lào, Campuchia ra khỏi vấn đề Việt Nam, được Mỹ ủng hộ.
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu yêu
cầu phải có đại diện kháng chiến Lào và Campuchia tham dự. Ngày 10/5/1954, ông
Phạm Văn Đồng phát biểu, đưa ra lập trường 8 điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
là giải quyết đồng thời cả hai vấn đề quân sự và chính trị, giải quyết đồng thời cả ba
vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia. Ông Phạm Văn Đồng nhấn mạnh, Pháp phải thừa
nhận quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Campuchia, Lào. Quân đội nước
ngoài phải rút khỏi ba nước Đông Dương là cơ sở quan trọng nhất cho chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trung Quốc, Liên Xô ủng hộ lập trường của Việt Nam.
Trưởng đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai đưa ra hai điều kiện để lập lại hòa bình ở
Đông Dương: Pháp chấm dứt chiến tranh thực dân, Hoa Kỳ chấm dứt can thiệp vào Đông Dương.
Trường phái Liên Xô Bộ trưởng NG Mô-lô-tốp đề nghị lập Ủy ban giám sát quốc tế
gồm các nước trung lập. Tại phiên họp lần thứ 4, ông Mô-lô-tốp đề nghị lấy hai
phương án của Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm cơ sở thảo luận.
Sau 4 phiên họp rộng, Chủ tịch Hội nghị, Ngoại trưởng Anh Eden yêu cầu họp hẹp.
Mô-lô-tốp đề nghị vấn đề quân sự, chính trị và vấn đề ba nước sẽ bàn song song. Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, Liên Xô, Trung Quốc đồng ý. Anh và Pháp tán thành, Mỹ đành phải chấp nhận.
Ngày 25/5/1954, trong phiên họp hẹp, ông Phạm Văn Đồng đưa ra 2 nguyên tắc cho
vấn đề đình chiến: (1) Ngừng bắn hoàn toàn trên toàn cõi Đông Dương, (2) Điều chỉnh
vùng trong mỗi nước, trong từng chiến trường trên cơ sở đất đổi đất để mỗi bên có
những vùng hoàn chỉnh tương đối rộng lớn thuận lợi cho quản lý hành chính và hoạt
động kinh tế. Đại diện các bộ tư lệnh có liên quan nghiên cứu tại chỗ những biện pháp
ngừng bắn để chuyển tới Hội nghị xem xét và thông qua.
Ngày 27/5/1954, Đoàn Pháp đồng ý lấy đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
làm cơ sở thảo luận về đề nghị đại diện của hai Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Geneva để
nghiên cứu việc chia ranh giới những khu vực tập trung quân ở Đông Dương. Cùng
ngày, Đoàn Trung Quốc đưa ra 6 điểm về vấn đề quân sự như ngừng bắn hoàn toàn và
cùng một lúc ở ba nước Đông Dương, thành lập Ủy ban kiểm soát quốc tế gồm các
nước trung lập nhưng chưa đề cập tới mặt chính trị của giải pháp.
Ngày 29/5/1954, sau 4 phiên họp toàn thể và 8 phiên họp cấp Trưởng đoàn, Hội nghị Geneva ra quyết định: 1.
Ngừng bắn toàn diện và đồng thời, 2.
Đại diện hai Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Geneva để bàn về bố trí lực lượng theo
thỏa thuận đình chiến bắt đầu bằng phân vùng tập kết quân đội ở Việt Nam.
Ngày 12/6/1954, Nội các Bidault bị Quốc hội Pháp đánh đổ. Ngày 29/6/1954, Chính
phủ Mendes France lên cầm quyền, hứa với Quốc hội Pháp trong vòng một tháng sẽ
giải quyết xong vấn để lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây là sự kiện quan trọng góp
phần phá vỡ bế tắc, thúc đẩy đàm phán tiền triển.
Giai đoạn 2 (từ 20/6/1954 - 10/7/1954)
Trong giai đoạn này, hầu hết Trưởng đoàn các nước về báo cáo, chỉ có Trưởng đoàn
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng ở lại. Các quyền Trưởng đoàn tổ chức
các cuộc họp hẹp và họp tiểu ban quân sự Việt-Pháp. Các cuộc họp chủ yếu bàn các
vấn đề tập kết, chuyển quân, thả tù binh, đi lại giữa hai miền.
Trưởng đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai có cuộc gặp với Trưởng đoàn Chính phủ
Phnôm Pênh và Chính phủ Viêngchăn. Đặc biệt Chu Ân Lai gặp Thủ tướng Pháp
Mendes France tại Berne ngày 23/6/1954 bàn một số vấn đề quan trọng trong đó hai
ông nhất trí vấn đề quan trọng nhất là vạch vĩ tuyến nào để chia cắt Việt Nam. Sau
cuộc gặp Chu Ân Lai-Mendes France, vấn đề chia cắt Việt Nam là mục tiêu đảm phán
của Đoàn Pháp. Chauvel gặp Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu vấn đề chia cắt ở vĩ tuyến 19.
Từ ngày 3-5/7/1954, tại Liễu Châu 9 (Trung Quốc), Hồ Chủ tịch gặp Chu Ân Lai để
bàn về các vấn đề phân vùng, thời hạn tổng tuyển cử, vấn đề Lào và Campuchia. Hai 14
bên chưa nhất trí về giới tuyến cụ thể: Ta muốn vĩ tuyến 16, Chu Ân Lai muốn vĩ
tuyến 17, về thời hạn tổng tuyển cử: Ta nêu 6 tháng, Chu Ân Lai đề nghị hai năm.
Ngày 9/7/1954, tại cuộc họp tiểu ban quân sự, ta đề nghị vĩ tuyến 14 nhưng Pháp
vẫn chủ trương vĩ tuyến 18. Hồ Chủ tịch điện cho Đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa:
Cho Pháp dùng Đường 9 và Đà Nẵng để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giữ lấy Liên khu 5.
Ngày 10/7/1954, Chu Ân Lai điện khuyên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên nhượng
bộ về vĩ tuyến, về Lào, về Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế để sớm đi tới Hiệp định.
Như vậy các cuộc họp hẹp ở Genève trong giai đoạn này không có tiến triển gì đáng kể.
Giai đoạn 3 (từ ngày 11-21/7/1954): Nồi lại các cuộc đàm phán cấp Bộ trưởng
Trong 10 ngày cuối của Hội nghị Genève đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi tay
đôi, tay ba hoặc nhiều bên giữa các Trưởng đoàn. Các phiên họp chủ yếu thông qua
các văn kiện, kể cả các điều khoản thi hành Hiệp định. Cuối cùng là phiên họp toàn thể bế mạc Hội nghị.
Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Pháp đàm phán rất gay go về phân chia
vĩ tuyến (Đoàn ta nêu vĩ tuyến 16 vì ta muốn làm chủ đường 9 từ Savanakhot đi Quảng
Trị là con đường duy nhất cho Lào đi ra biển, Đoàn Pháp nêu Vĩ tuyến 18); về thời hạn
tổ chức tổng tuyển cử và các điều khác của Hiệp định, đặc biệt là Hiệp định về
Campuchia phải ký vào sáng 21/7/1954.
Ngày 21/7/1954, Hội nghị Genève về hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia kết
thúc. Hội nghị thông qua các văn kiện.
1.5. Nội dung cơ bản hội nghị Genève 1954
Hội nghị Geneva năm 1954 là một cuộc họp quốc tế quan trọng được tổ chức tại
Geneva, Thụy Sĩ, với mục tiêu giải quyết xung đột ở Việt Nam sau Chiến tranh Đông
Dương. Hội nghị diễn ra trong 75 ngày thương lượng, qua 8 phiên họp rộng và 23
phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động
công khai. Nội dung cơ bản của hội nghị bao gồm: -
Trao đổi các vấn đề về tình hình đình chỉ chiến sự, lập lại hòa bình tại Đông
Dương. Tại hội nghị, đồng chí Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ
Việt Nam đưa ra các vấn đề quân sự liên quan đến việc đình chỉ chiến sự, ngừng bắn,
rút quân và trao đổi tù binh. Các vấn đề chính trị liên quan đến việc tôn trọng độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương; không can thiệp
vào công việc nội bộ của ba nước; không sử dụng hoặc khuyến khích sử dụng vũ lực
hoặc bất kỳ hình thức can thiệp nào khác để cản trở việc thực hiện hiệp định.
-Vấn đề giới tuyến phân vùng và thời hạn tuyển cử ở Việt Nam Trong giai đoạn
2, hội nghị thảo luận vấn đề chọn vĩ tuyến để khẳng định giới tuyến quân sự tạm thời
và thời hạn tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất Việt Nam. Về vấn đề giới tuyến
phân vùng và thời hạn tuyển cử ở Việt Nam, Đoàn Việt Nam kiên trì vĩ tuyến 16 và
tổng tuyển cử sớm. Ngày 19-7-1954, ba đoàn Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc thống
nhất đưa cho đoàn Pháp phương án cuối cùng giới tuyến đi qua đường số 9 mười km.
Phương án này được Đoàn Việt Nam gợi ý từ tháng 6, nhưng phía Pháp vẫn đòi đi qua
vĩ tuyến 18. Tại cuộc họp đêm 20-7-1954, 5 trưởng đoàn Anh, Pháp, Liên Xô, Trung
Quốc và Việt Nam vào phút chót mới thỏa thuận lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến phân
vùng, và thời hạn tổng tuyển cử ấn định là hai năm. -
Công bố bản Tuyên ngôn chính trị và ký kết Hiệp định Genève. Trải qua 8 phiên
họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp rất căng thẳng, với thiện chí của phái đoàn Việt
Nam, ngày 20-7-1954, Hiệp định Genève về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được
ký kết. Ba Hiệp định đình chỉ chiến sự ở ba nước và Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị
tạo thành khung pháp lý của Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương. Các nước tham
gia Hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
của Việt Nam, Lào và Campuchia. Hội nghị đã công bố bản Tuyên ngôn chính trị và
Hiệp định đình chiến ở Đông Dương, thừa nhận và tôn trọng độc lập chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia, quy định quân đội nước
ngoài phải rút khỏi Đông Dương và ở mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển cử
tự do để thực hiện thống nhất đất nước. T
rong hội nghị cũng quyết định các vấn đề
liên quan đến việc thi hành hiệp định cho toàn bộ Đông Dương, bao gồm việc thành
lập các ủy ban giám sát và kiểm tra quốc tế, các ủy ban hỗn hợp quốc gia và các ủy ban hỗn hợp khu vực.
1.6. Kết quả Hội nghị Genève – thắng lợi to lớn trong lịch sử ngoại giao Việt Nam
Việc ký kết Hiệp định Hội nghị Genève là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên, Chính phủ Pháp và “mỗi
nước tham gia Hội nghị Hội nghị Genève cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ…”, “tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị” của Việt
Nam; quân đội Pháp phải rút về nước, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, 16
bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn và vững
chắc cho nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Hội nghị Genève 1954 cũng là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao
Việt Nam khi lần đầu tiên bước lên vũ đài đàm phán đa phương với sự tham gia của
các cường quốc, để bàn về các vấn đề liên quan đến quyền cơ bản của chính dân tộc
mình. Việt Nam đã giành được thắng lợi, mang lại những quyền lợi to lớn và chính đáng cho dân tộc.
CHƯƠNG II - NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH GENÈVE VỀ CHẤM DỨT CHIẾN
TRANH LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG NĂM 1954. 2.1. Nội dung toàn văn CHƯƠNG I
ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ TẠM THỜI VÀ KHU PHI QUÂN SỰ Điều 1
Đường ranh giới quân sự tạm thời sẽ được ấn định cho cả hai bên mà lực lượng
quân sự của hai bên sẽ tập hợp lại sau khi rút quân, lực lượng của Quân đội Nhân dân
Việt Nam về phía bắc của giới tuyến, và lực lượng Liêp hiệp Pháp về phía nam.
Đường ranh giới quân sự tạm thời sẽ ấn định theo sự trình bày trên bản đồ đính kèm (không hoàn chỉnh).
Đó cũng là sự thoả thuận rằng một khu phi quân sự sẽ được thiết lập cho cả hai bên
của đường phân chia, mỗi bên không quá 5 km kể từ đường ranh ấy, để làm chức năng
vùng đệm và để tránh những xô xát nào đó mà có thể gây hậu quả tái khởi động tình trạng chiến tranh. Điều 2
Phạm vi thời hạn, mà sự di chuyển tất cả lực lượng của mỗi bên về khu tập kết của
nó trên mỗi phía của giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được hoàn tất, thì sẽ không vượt
quá ba trăm ngày kể từ ngày hiệp định hiện thời có hiệu lực. Điều 3
Khi giới tuyến quân sự tạm thời trùng khớp với đường thuỷ, mặt nước của đường
thuỷ ấy sẽ mở ra cho sự giao thông tàu thuyền dân sự bởi cả hai miền bất kì quãng nào
của một bờ sông được kiểm soát bởi một miền và bờ sông khác bởi miền khác. Uỷ ban
liên hợp sẽ được thiết lập quyền hạn về sự giao thông tàu bè đối với mạch đường của
đường thuỷ thuộc điều nói đến. Thuyền thương lái và các thuyền làm nghề thủ công
dân sự khác của mỗi miền sẽ có quyền lui tới không hạn chế ở phần đất dưới sự kiểm
soát quân sự của miền đó. Điều 4
Giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai vùng tập kết cuối cùng được kéo dài đến mặt
nước thuộc lãnh thổ ấy bởi đường thẳng góc đến đường ranh chung của bờ biển (lãnh hải).
Tất cả các hòn đảo thuộc lãnh hải phía bắc của đường biên giới sẽ được rút quân bởi
Liên hiệp Pháp, và tất cả các hòn đảo phía nam của nó sẽ được rút quân bởi Quân đội Nhân dân Việt Nam. Điều 5
Để tránh những cuộc xô xát nào đó mà có thể gây hậu quả tái diễn tình trạng chiến
tranh, tất cả lực lượng, hậu cần và thiết bị, sẽ được rút khỏi vùng phi quân sự trong
phạm vi hai mươi lăm (25) ngày theo hiệu lực thuộc bản hiệp định hiện thời. Điều 6
Không người nào, quân đội hay dân sự, sẽ được cho phép băng qua giới tuyến quân
sự tạm thời trừ phi đặc biệt được quyền băng qua như vậy bởi Uỷ ban liên hợp. Điều 7
Không người nào, quân đội hay dân sự, sẽ được cho phép vào khu phi quân sự ngoại
trừ người liên quan tới với sự hướng dẫn của ban quản lí (ban hành chính) và cứu tế
dân sự, và người đặc biệt được quyền vào bởi Uỷ ban Liên hợp. Điều 8
Ban quản lí (ban hành chính) và cứu tế dân sự trong khu phi quân sự thuộc bên này
hay bên kia giới tuyến quân sự tạm thời sẽ thuộc trách nhiệm của các viên thủ trưởng 18
các sĩ quan chỉ huy (tổng tư lệnh) của hai miền trong những khu tương ứng của hai
bên. Số lượng người, quân đội hay dân sự, từ mỗi phía, mà được phép vào khu phi
quân sự để hướng dẫn ban quan lí (đảm trách hành chính) và cứu tế dân sự sẽ được
định rõ bởi người chỉ huy (tư lệnh) tương ứng, nhưng không có trong trường hợp nào
tổng số người được phép bởi bên này hay bên kia, ở một thời điểm nhất định nào đó,
vượt quá con số được quy định bởi Uỷ ban quân sự Trung Giã hay Uỷ ban Liên hợp.
Số lượng cảnh sát dân sự và vũ khí được đưa đến bởi họ sẽ được quyết định bởi Uỷ
ban Liên hợp. Không một ai khác sẽ đưa vũ khí đến trừ phi đặc biệt được quyền làm
như thế do Uỷ ban Liên hợp. Điều 9
Không một điều nào hàm chứa trong chương này sẽ được phân tích (được hiểu) theo
mức hạn chế hoàn toàn tự do di chuyển, vào, ra hoặc di chuyển trong pham vi khu phi
quân sự của Uỷ ban Liên hợp, nhóm liên hợp của họ, Uỷ ban Quốc tế để được bố trí
theo chỉ định dưới đây, đội kiểm tra của họ và một số người nào đó, hậu cần hay thiết
bị, đặc biệt có quyền vào khu phi quân sự bởi Uỷ ban Liên hợp. Sự tự do di chuyển sẽ
được phép đi qua địa phận thuộc sự kiểm tra quân sự của mỗi bên trên những con
đường bộ hay đường thuỷ, phải được ghi giữa các điểm trong phạm vi khu phi quân sự
khi mà những điểm ấy không được nối bởi những con đường bộ hay những đường
thuỷ nằm trọn vẹn trong phạm vi khu phi quân sự. CHƯƠNG II
NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC THỦ TỤC QUẢN LÝ VIỆC THI HÀNH BẢN HIỆP ĐỊNH HIỆN THỜI Điều 10
Những người chỉ huy của quân lực trên mỗi bên, trên một bên là tổng tư lệnh của
quân đội Liên hiệp Pháp tại Đông Dương và trên một bên khác là tổng tư lệnh của
Quân đội Nhân dân Việt Nam, sẽ ra lệnh và buộc tuân thủ sự chấm dứt hoàn toàn tất
cả mọi tình trạng chiến tranh tại Việt Nam bởi tất cả quân lực vũ trang dưới sự kiểm
soát của họ, gồm cả các đơn vị và cá nhân thuộc bộ binh, hải quân và không lực Điều 11