



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN -----***----- BÀI THẢO LUẬN Đề tài:
“Tìm hiểu về 3 bước đột phá kinh tế trước đổi mới của Đảng
và rút ra nhận xét” Nhóm : 4 Lớp : 251_HCMI0131_02
Giảng viên hướng dẫn : Lê Văn Nguyên Hà Nội, 2025
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM Mã sinh Nhiệm vụ Điểm STT Họ và tên viên phân công đánh giá 32 Đỗ Thị Phương Hiền 23D107131 Powerpoint 33 Nguyễn Thúy Hiền 23D150060 1.1, 1.2 34 Lương Mỹ Hoa 23D270060 3.1 35 Trần Thị Diệu Hoa 23D150061 2.2 36 Nguyễn Thị Thu Hoài 23D150107 Powerpoint Nhóm trưởng, 37 Ngô Khánh Huy 23D290018 2.1 38 Nguyễn Minh Huyền 22D160106 Thuyết trình 39 Triệu Thu Huyền 23D270065 Thuyết trình Mở đầu, Kết 40
Nguyễn Thái Linh Hương 23D150154 luận, Word, Phản biện 41
Nguyễn Vũ Thiên Hương 23D150065 3.2 42 Vũ Thanh Hương 23D270018 2.3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 7 tháng 11 năm 2025
BIÊN BẢN HỌP NHÓM Nhóm 4
Thời gian bắt đầu: Vào lúc 20h00’, Ngày 7 tháng 11 năm 2025.
Hình thức: Họp Online trên Google Meet
Diễn ra cuộc họp với nội dung thảo luận về đề tài: “Tìm hiểu về 3 bước đột phá
kinh tế trước đổi mới của Đảng và rút ra nhận xét”
Số lượng thành viên tham gia: Đầy đủ (11/11) Thành viên vắng mặt: 0 Nội dung họp:
1. Nhóm trưởng cùng các thành viên lên dàn ý về đề tài thảo luận.
2. Nhóm trưởng tổng hợp và thống nhất ý kiến của các thành viên, xây dựng
đề cương cho bài thảo luận của nhóm.
3. Chia công việc và giao thời hạn hoàn thành.
Cuộc họp kết thúc vào: 21h15’, Ngày 7 tháng 11 năm 2025. Nhóm Trưởng
Người viết biên bản Huy Hương Ngô Khánh Huy
Nguyễn Thái Linh Hương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. Tình hình trong nước trước thềm đổi mới của Đảng . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1. Kinh tế. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2. Chính trị - xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.1.3. Văn hoá . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.1.4. Giáo dục - Y tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.2. Tình hình quốc tế trước thềm đổi mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.2.1. Kinh tế quốc tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.2.2. Chính trị – An ninh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.2.3. Văn hóa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.2.4. Giáo dục – Y tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
CHƯƠNG II: NỘI DUNG CỦA BA BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ TRƯỚC
ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.1. Bước đột phá thứ nhất – Hội nghị Trung ương 6 (Tháng 8 năm 1979) . . 13
2.1.1. Chủ trương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.1.2. Quá trình thực hiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
2.1.3. Kết quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1.4. Ý nghĩa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.2. Bước đột phá thứ hai – Hội nghị Trung ương 8 (Năm 1985) . . . . . . . . . . 16
2.2.1. Chủ trương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.2.2. Quá trình thực hiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
2.2.3. Kết quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
2.2.4. Ý nghĩa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
2.3. Bước đột phá thứ ba – Hội nghị Bộ Chính trị (Tháng 8 năm 1986) . . . . 21
2.3.1. Chủ trương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
2.3.2. Quá trình thực hiện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
2.3.3. Kết quả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25 1
2.3.4. Ý nghĩa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 27
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VỀ BA BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ TRƯỚC
ĐỔI MỚI . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
3.1. Ưu điểm ba bước đột phá kinh tế trước đổi mới của Đảng và liên hệ với
kinh tế Việt Nam thời điểm hiện tại. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
3.1.1. Ưu điểm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 29
3.1.2. Liên hệ thực tiễn kinh tế Việt Nam ngày nay . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32
3.2. Nhược điểm về ba bước đột phá kinh tế trước đổi mới của Đảng và bài học
kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 34
3.2.1. Nhược điểm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 34
3.2.2. Bài học kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 40
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 46 2
MỞ ĐẦU
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, giai đoạn cuối thập niên
1970 đến giữa thập niên 1980 được xem là thời điểm đặc biệt quan trọng, đánh
dấu sự vận động mạnh mẽ của tư duy kinh tế trong Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc thống nhất
đất nước, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển trong điều kiện vô
cùng khó khăn: nền kinh tế kiệt quệ, cơ sở vật chất – kỹ thuật lạc hậu, sản xuất trì
trệ, đời sống nhân dân thiếu thốn; mô hình quản lý tập trung quan liêu bao cấp
bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng. Cùng với đó, bối cảnh quốc tế đầy biến động
– từ sự suy giảm của hệ thống xã hội chủ nghĩa đến tình hình xung đột khu vực
và cấm vận – đã khiến đất nước đối diện với tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã
hội ngày càng trầm trọng.
Trước yêu cầu bức thiết phải đổi mới tư duy và cơ chế quản lý, Đảng đã
từng bước tiến hành những thử nghiệm quan trọng trước khi khởi xướng Đổi mới
toàn diện tại Đại hội VI năm 1986. Quá trình đổi mới đó được thể hiện nổi bật
qua ba bước đột phá kinh tế: Hội nghị Trung ương 6 (tháng 8/1979), Hội nghị
Trung ương 8 (năm 1985) và Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 8/1986). Đây là những
quyết sách có ý nghĩa đặc biệt trong việc tháo gỡ ràng buộc của cơ chế bao cấp,
từng bước khơi thông các nguồn lực kinh tế, khuyến khích sản xuất và tạo nền
tảng lý luận – thực tiễn quan trọng cho đường lối đổi mới sau này. Mặc dù ra đời
trong hoàn cảnh nhiều thử thách và còn hạn chế nhất định, ba bước đột phá này
đã thể hiện tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, mạnh dạn điều chỉnh mô hình
phát triển và đề cao vai trò của thực tiễn trong hoạch định chính sách của Đảng.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó với đề tài: “Tìm hiểu về 3 bước đột phá
kinh tế trước đổi mới của Đảng và rút ra nhận xét.”. Bài thảo luận của nhóm tập
trung phân tích bối cảnh hình thành, nội dung các chủ trương, quá trình thực hiện,
kết quả và ý nghĩa của từng bước đột phá; đồng thời đưa ra những nhận xét khách 3
quan về ưu điểm, hạn chế và giá trị lịch sử. Qua việc nghiên cứu đề tài, nhóm
mong muốn góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành tư duy đổi mới của Đảng,
khẳng định tính tất yếu và vai trò nền tảng của các bước đi “tìm đường” trước
năm 1986 đối với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn tiếp theo. 4
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Trước thềm công cuộc đổi mới năm 1986, đất nước Việt Nam đứng trước
những thử thách to lớn và toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sau
hơn một thập niên thống nhất đất nước, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
bối cảnh vừa ra khỏi chiến tranh đã bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế sâu sắc. Mặc
dù đạt được một số thành tựu nhất định trong củng cố hệ thống chính trị, bảo vệ
độc lập chủ quyền và giữ vững trật tự xã hội, song nền kinh tế lại lâm vào khủng
hoảng nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp vô vàn khó khăn, niềm tin của quần
chúng đối với cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp bắt đầu suy giảm. Cùng
với đó, lĩnh vực văn hóa – xã hội rơi vào trạng thái trì trệ, sáng tạo bị kìm hãm,
đời sống tinh thần nghèo nàn, trong khi giáo dục và y tế chịu ảnh hưởng nặng nề
bởi tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất và kinh phí. Tất cả những yếu tố đó đã tạo
nên một bức tranh hiện thực nặng nề, đặt đất nước vào tình thế khủng hoảng toàn
diện và kéo dài. Chính trong bối cảnh ấy, nhu cầu đổi mới tư duy, đổi mới mô
hình quản lý kinh tế – xã hội và cải cách hệ thống chính trị trở nên cấp thiết, trở
thành động lực trực tiếp dẫn đến sự ra đời của đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng (1986).
1.1. Tình hình trong nước trước thềm đổi mới của Đảng 1.1.1. Kinh tế
Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo mô hình kế hoạch
hoá tập trung, bao cấp, với hai hình thức sở hữu chủ yếu là kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể, chiếm gần như toàn bộ cơ cấu nền kinh tế. Khu vực nhà nước giữ
vị trí chi phối với hàng chục nghìn xí nghiệp quốc doanh, song các đơn vị này
không có quyền tự chủ trong sản xuất – kinh doanh. Toàn bộ hoạt động, từ khâu
đầu vào như lao động, vốn, nguyên liệu, đến sản xuất và tiêu thụ đều do nhà nước
quy định. Ngay cả kết quả sản xuất, lãi – lỗ cũng do ngân sách nhà nước bù lỗ
hoặc điều tiết. Kinh tế tập thể, chủ yếu là hợp tác xã nông nghiệp và thủ công 5
nghiệp, vận hành theo nguyên tắc “tự nguyện” nhưng thực chất chịu sự chi phối
hoàn toàn của cơ quan quản lý cấp trên: kế hoạch sản xuất, định mức ăn chia, vật
tư cung ứng, sản phẩm thu mua đều do Nhà nước ấn định. Như vậy, toàn bộ nền
kinh tế bị trói buộc trong cơ chế “xin – cho”, làm tê liệt động lực sản xuất, triệt
tiêu sáng kiến và tinh thần tự chịu trách nhiệm của người lao động.
Hệ quả tất yếu là nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kéo dài từ cuối thập niên
1970 đến giữa những năm 1980. Sản xuất trì trệ, cung – cầu mất cân đối nghiêm
trọng, hàng hóa khan hiếm, thị trường chính thức tê liệt trong khi thị trường chợ
đen phát triển mạnh. Năng suất nông nghiệp và công nghiệp giảm, nhiều năm
không đạt chỉ tiêu kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, thậm chí có năm
rơi vào suy thoái. Lạm phát phi mã, đặc biệt giai đoạn 1985–1986, lên tới hàng
trăm phần trăm, làm đồng tiền mất giá nghiêm trọng và đời sống nhân dân rơi vào
cảnh thiếu thốn, tem phiếu trở thành công cụ phân phối chủ yếu. Theo số liệu
thống kê, GDP bình quân đầu người năm 1985 đạt khoảng 233,3 USD, nhưng
đến năm 1988 chỉ còn 86 USD/người, thuộc nhóm thấp nhất thế giới; tỷ lệ thất
nghiệp năm 1989 lên trên 13%, hàng triệu lao động nông thôn không có việc làm
ổn định. Cùng lúc, tình trạng nhập siêu lớn, sản xuất trong nước không đáp ứng
nổi nhu cầu tiêu dùng cơ bản, khiến nền kinh tế rơi vào khủng hoảng toàn diện cả
về sản xuất, tài chính, tiền tệ và đời sống xã hội.
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này nằm ở việc duy trì quá lâu mô hình
kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, coi nhẹ quy luật thị trường, dẫn tới kém
hiệu quả trong phân bổ nguồn lực và triệt tiêu sáng kiến của các thành phần sản
xuất. Ngoài ra, việc thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam sau 1975 theo
hướng hợp tác hoá, quốc hữu hóa ồ ạt, chưa phù hợp với trình độ phát triển và
tâm lý người dân, càng khiến khu vực tư nhân – vốn năng động – bị triệt tiêu,
nguồn vốn xã hội bị đóng băng. Trong khi đó, cấm vận kinh tế quốc tế (nhất là từ
Hoa Kỳ và các nước phương Tây) cùng khó khăn từ chiến tranh biên giới và nghĩa 6
vụ quốc tế đã làm giảm nghiêm trọng khả năng nhập khẩu nguyên liệu, máy móc,
và nguồn viện trợ từ bên ngoài.
1.1.2. Chính trị - xã hội
Giai đoạn sau chiến tranh, đặc biệt là trước thềm đổi mới năm 1986, tình
hình chính trị và xã hội Việt Nam mang một sắc thái đặc biệt: vững mạnh về mặt
cơ cấu nhà nước nhưng trì trệ và khủng hoảng về mặt quản lý kinh tế - xã hội. Về
mặt chính trị, đất nước đã hoàn thành công cuộc thống nhất vĩ đại về mặt Nhà
nước, tạo ra một cơ sở pháp lý và hành chính vững chắc. Cụ thể, sau cuộc Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội chung vào ngày 25/4/1976, Quốc hội khóa VI nước Việt
Nam thống nhất đã họp kì đầu tiên từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976 tại Hà Nội,
quyết định lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thủ đô là Hà
Nội, Quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc kỳ là
lá cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca và Thành phố Sài Gòn - Gia Định
đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình củng cố hệ thống chính trị tiếp diễn
khi ngày 31/7/1977, Đại hội đại biểu các mặt trận ở hai miền Nam - Bắc quyết
định thống nhất thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ngày 18/12/1980, Quốc hội
thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Về đối ngoại,
việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của Liên Hiệp Quốc vào ngày
20/9/1977 đã khẳng định vị thế độc lập và thống nhất.
Tuy nhiên, chính sự duy trì cứng nhắc mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu, bao cấp đã kéo theo những hệ lụy chính trị – xã hội nghiêm
trọng. Do hệ thống tem phiếu phân phối thiếu minh bạch, sự phân hóa trong tiếp
cận vật tư – hàng hóa giữa cán bộ và người dân ngày càng rõ rệt, gây bức xúc và
làm suy giảm niềm tin vào bộ máy quản lý. Khủng hoảng kinh tế trầm trọng, lạm
phát phi mã và rối loạn trong hệ thống phân phối – lưu thông đã làm gia tăng các
hiện tượng tiêu cực trong xã hội như tham nhũng, lãng phí, và bất công trong
phân phối. Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, tạo nên mâu thuẫn xã hội lớn 7
giữa quần chúng với bộ máy quản lý, trở thành động lực buộc Đảng phải thực
hiện công cuộc đổi mới tại Đại hội VI (1986).
1.1.3. Văn hoá
Trước thềm đổi mới năm 1986, đời sống văn hóa ở Việt Nam chịu sự chi
phối toàn diện của cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp, phản ánh sự quản
lý chặt chẽ về tư tưởng và nội dung. Văn hóa được kiểm soát trong suốt thời kỳ
này, khiến người dân ít được tiếp xúc với văn hóa phương Tây do sự bao vây,
cấm vận và định hướng chính trị.
Các mảng hoạt động sáng tạo, từ phim ảnh, văn học cho đến âm nhạc, đều
được nhà nước kiểm duyệt nghiêm ngặt trước khi phát hành đến công chúng. Nội
dung thường ưu tiên những đề tài gần gũi với quần chúng lao động, nhiều tác
phẩm văn học chủ yếu xoay quanh chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi lao
động như “Đất nước đứng lên” (Nguyên Ngọc) hay các tác phẩm của Tô Hoài,
Nguyễn Khải trong giai đoạn sau 1975, truyền tải rõ ràng tư tưởng và quan điểm
của Đảng, và có giá trị nghệ thuật để đem lại những giây phút thưởng thức nghệ
thuật thú vị, lành mạnh cho người dân. Trong lĩnh vực văn học, tác phẩm nước
ngoài chủ yếu được nhập khẩu từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, các sáng tác khai thác chiều sâu
cá nhân, tâm lý con người bị hạn chế phát hành.
Về điện ảnh, hồi đó chưa có sự phổ biến của phim truyền hình mà chỉ có
phim truyện nhựa và phim tài liệu. Phim được chiếu tại các rạp chiếu bóng lưu
động phục vụ nông thôn, rạp chiếu bóng cố định hoặc phát trên truyền hình trung
ương. Phim thương mại có tồn tại nhưng rất hiếm hoi. Nguồn phim nước ngoài
chính là từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Tuy nhiên, vẫn có
một số ít phim từ các nước phương Tây như Mỹ, Pháp, Anh, và đặc biệt là Ấn Độ
được chiếu, tạo nên sự đa dạng hiếm hoi trong bối cảnh văn hóa đóng kín. 8
1.1.4. Giáo dục - Y tế
Trong thời kỳ bao cấp, giáo dục được xác định là một ưu tiên xã hội lớn,
với mục tiêu phổ thông hóa đại trà. Sự nỗ lực này thể hiện qua việc xây dựng hệ
thống trường cấp 1, cấp 2 và mẫu giáo được mở rộng tới tận các xã, phường trên
cả nước. Mục tiêu không chỉ là đào tạo thế hệ trẻ mà còn hướng tới toàn dân thông
qua công tác bổ túc văn hóa và xóa mù chữ trong độ tuổi đi học cho người dân,
với phong trào bình dân học vụ diễn ra sôi nổi. Thậm chí, còn có các trường bổ
túc văn hóa cho cán bộ cơ sở nhằm nâng cao trình độ quản lý. Tuy nhiên, dưới áp
lực kinh tế, ngành giáo dục đối mặt với thiếu thốn gay gắt về cơ sở vật chất, trang
thiết bị dạy học. Nhiều trường phổ thông phải học ba ca/ngày do thiếu phòng học;
sĩ số lớp học thường trên 50 học sinh/lớp, bàn ghế và thiết bị giảng dạy rất sơ sài.
Đáng lo ngại hơn, đời sống của đội ngũ giáo viên gặp nhiều khó khăn, khiến chất
lượng giảng dạy và học tập bị ảnh hưởng.
Lĩnh vực y tế hoạt động theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, trong đó người
dân không mất tiền khám chữa bệnh hay mua thuốc (hệ thống khám chữa bệnh
và mua thuốc sau đó mang hóa đơn về cơ quan hay bệnh viện thanh toán). Đây là
một chính sách nhân đạo nhằm đảm bảo quyền lợi cơ bản về sức khỏe cho toàn
dân. Tuy nhiên, thực tế điều kiện y tế lại vô cùng thiếu thốn. Mặc dù nhà nước đã
nhận được viện trợ trang thiết bị y tế và thuốc men từ nước ngoài (chủ yếu là khối
Xã hội Chủ nghĩa), nhưng điều kiện chữa trị và cơ sở vật chất vẫn còn nhiều hạn
chế. Các bệnh viện thường có quy mô nhỏ, với các nhà một tầng hoặc ba tầng, và
hoạt động theo chỉ tiêu được Bộ Y tế phân bổ. Tại nhiều bệnh viện tuyến tỉnh,
tình trạng ba–bốn bệnh nhân chung một giường rất phổ biến; thuốc men khan
hiếm buộc người dân phải tự xoay xở bằng “thuốc chợ trời”, làm giảm hiệu quả chăm sóc sức khỏe. 9
1.2. Tình hình quốc tế trước thềm đổi mới
1.2.1. Kinh tế quốc tế
Kinh tế thế giới thập niên 1975–1985 trải qua nhiều biến động nghiêm
trọng. Hai cú sốc dầu mỏ (1973, 1979) gây ra tình trạng “đình lạm” – vừa lạm
phát cao, vừa suy thoái – ở Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Để đối phó, các nước này
tái cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghệ mới và mở rộng thị trường, duy trì sức
cạnh tranh và bắt đầu bùng nổ công nghiệp điện tử, hóa chất, hàng không và cơ khí tự động.
Ngược lại, hệ thống xã hội chủ nghĩa bộc lộ trì trệ: năng suất thấp, cơ chế
kế hoạch hóa tập trung bao cấp thiếu linh hoạt, đổi mới công nghệ chậm. Liên Xô
và Đông Âu tăng trưởng chậm, ảnh hưởng trực tiếp tới các nước nhận viện trợ, trong đó có Việt Nam.
Do bị Mỹ cấm vận và phương Tây phong tỏa, Việt Nam không thể tiếp cận
thị trường quốc tế, vốn, công nghệ và các dòng dịch chuyển thương mại – đầu tư
đang hình thành trong xu thế toàn cầu hóa sơ khai. Viện trợ từ Liên Xô chủ yếu
mang tính duy trì, chưa đủ tạo động lực phát triển đột phá. Hậu quả là kinh tế Việt
Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, thiếu nguyên liệu, thiếu năng lượng,
thiếu công nghệ và vốn, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải cải cách mô hình phát triển sau chiến tranh.
1.2.2. Chính trị – An ninh
Giai đoạn 1975 – 1985, cục diện chính trị quốc tế vẫn chịu ảnh hưởng nặng
nề của Chiến tranh Lạnh, với sự đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường Mỹ – Liên
Xô. Sau thời kỳ hòa hoãn tương đối đầu thập niên 1970, Mỹ dưới thời Tổng thống
Reagan áp dụng chiến lược “ngăn chặn mở rộng”, tăng cường chạy đua vũ trang
và áp lực ngoại giao, khiến căng thẳng quốc tế gia tăng. Đồng thời, mâu thuẫn 10
Liên Xô – Trung Quốc trở nên sâu sắc, làm suy yếu tính thống nhất của hệ thống
xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cộng sản quốc tế.
Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam thống nhất (1975) trở thành tâm
điểm địa chính trị. Mỹ và phương Tây áp đặt cấm vận kinh tế và cô lập ngoại giao
nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Việt Nam; Trung Quốc và một số nước ASEAN
giữ lập trường đối nghịch sau xung đột Campuchia. Việt Nam phải đối mặt với
hai cuộc chiến tranh biên giới lớn: Tây Nam (1978) và phía Bắc (1979), dẫn đến
tình trạng cô lập và “bao vây bốn phía”. Trong bối cảnh đó, quan hệ chiến lược
với Liên Xô trở thành điểm tựa quan trọng về an ninh và kinh tế, song cũng khiến
Việt Nam khó cân bằng với các cường quốc khác. Nhìn chung, bối cảnh chính trị
– an ninh quốc tế giai đoạn này đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng, làm gia
tăng áp lực đối ngoại và hạn chế khả năng phát triển và hội nhập của Việt Nam.
1.2.3. Văn hóa
Trên bình diện văn hóa, giai đoạn 1975–1985 thế giới chứng kiến làn sóng
giao lưu văn hóa mạnh mẽ nhờ truyền hình, điện ảnh, âm nhạc đại chúng và văn
hóa tiêu dùng phương Tây. Các nước ASEAN tích cực tiếp thu các giá trị hiện
đại, thúc đẩy cải cách văn hóa – giáo dục nhằm phục vụ công nghiệp hóa.
Việt Nam, trong bối cảnh cô lập, gần như đứng ngoài các dòng chảy văn
hóa quốc tế. Giao lưu văn hóa chủ yếu giới hạn trong phạm vi các nước xã hội
chủ nghĩa, vốn cũng đang trì trệ về sáng tạo văn hóa và công nghệ sản xuất. Kinh
tế khó khăn hạn chế đầu tư cho văn hóa, đời sống tinh thần của nhân dân chưa
được cải thiện tương xứng với nhu cầu sau chiến tranh. Hệ quả là khoảng cách
văn hóa, nghệ thuật, truyền thông giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ngày
càng rộng, chỉ được thu hẹp từ sau chính sách Đổi mới 1986. 11
1.2.4. Giáo dục – Y tế
Trên thế giới, giai đoạn 1975–1985 chứng kiến sự bùng nổ hợp tác quốc tế
trong giáo dục và y tế: phổ cập giáo dục tiểu học, cải cách đại học, nâng cao năng
lực y tế công cộng, mở rộng tiêm chủng, phòng chống dịch bệnh. Các tổ chức
quốc tế như UNESCO, WHO, UNICEF triển khai nhiều chương trình nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Tuy nhiên, Việt Nam bị hạn chế tiếp cận các chương trình này do cấm vận
và cô lập. Viện trợ từ Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa chủ yếu tập trung
vào đào tạo nhân lực và cung cấp thiết bị cơ bản, chưa đủ đáp ứng nhu cầu tái
thiết và hiện đại hóa sau chiến tranh. Trong khi đó, nhiều nước trong khu vực như
Thái Lan, Malaysia và Singapore bắt đầu tận dụng công nghệ, tri thức và đầu tư
từ phương Tây để nâng cao giáo dục, y tế và khoa học – kỹ thuật. Sự chênh lệch
này làm Việt Nam tụt hậu về nguồn nhân lực, y tế và năng suất lao động, đặt ra
yêu cầu cấp bách cải cách toàn diện hệ thống giáo dục – y tế trước khi thực hiện Đổi mới. 12
CHƯƠNG II: NỘI DUNG CỦA BA BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ
TRƯỚC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG
2.1. Bước đột phá thứ nhất – Hội nghị Trung ương 6 (Tháng 8 năm 1979)
Đối mặt với những hậu quả, tàn dư chiến tranh cùng với những khó khăn
thử thách phát sinh, chậm chuyển đổi cơ chế quản lý làm cho nước ta lâm vào
tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội vào những năm 70. Để vượt qua khó khăn,
thử thách thì đổi mới là điều tiên quyết. Hoạt động đầu tiên để bước vào quá trình
đổi mới là đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế. Đảng ta đã tiến hành
Hội nghị lần thứ 6, bước đột phá đầu tiên để khởi đầu quá trình tìm tòi con đường đổi mới ở Việt Nam.
2.1.1. Chủ trương
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV (9/1979) đã
chủ trương “Phải sửa đổi và cải tiến các chính sách hiện hành, nhất là chính sách
về lưu thông, phân phối, nhằm làm cho sản xuất bung ra.” Đây là bước đột phá
đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm.
Với chủ trương ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được
bán cho Nhà nước hoặc trao đổi tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ,
ruộng đất hoang hóa; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức; sửa lại thuế
lương thực và giá lương thực để khuyến khích sản xuất; sửa lại chế độ phân phối
theo định suất, định lượng... Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 nhanh chóng
được nhân dân cả nước đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễn nền kinh tế.
Hội nghị đã tập trung thảo luận và giải quyết hai loại vấn đề quan trọng:
một là, phát huy tính chủ động, sáng tạo và mọi khả năng của các cơ sở, tổ chức
lại sản xuất, từng bước xây dựng cơ chế quản lý mới, phân công, phân cấp quản
lý đúng đắn; hai là, giải quyết một số vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông,
đặc biệt là các lĩnh vực thị trường, giá - lương - tiền, nhằm phục vụ tốt cơ sở, 13
đồng thời giải quyết đúng đắn các mối quan hệ phân phối trong nền kinh tế quốc dân.
2.1.2. Quá trình thực hiện
Trên cơ sở các chủ trương đổi mới bước đầu do Hội nghị Trung ương 6 đề
ra, Chính phủ và Ban Bí thư đã triển khai hàng loạt chỉ thị và quyết định nhằm
tháo gỡ những ràng buộc của cơ chế quản lý cũ.
Quyết định của Hội đồng Chính phủ (10/1979) về việc tận dụng đất đai
nông nghiệp để khai hoang, phục hóa ra đời trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp
trì trệ, năng suất thấp, đất đai bỏ hoang nhiều. Quyết định này gắn trực tiếp với
chủ trương “làm cho sản xuất bung ra”, cho phép người dân được miễn thuế, được
trả thù lao và sử dụng toàn bộ sản phẩm, tạo động lực khuyến khích khai thác tối đa tiềm năng đất đai.
Việc xóa bỏ các trạm kiểm soát lưu thông nhằm thực hiện chủ trương cải
tiến chính sách phân phối – lưu thông, khắc phục tình trạng ách tắc hàng hóa,
“ngăn sông cấm chợ” vốn cản trở sản xuất phát triển.
Chỉ thị 100-CT/TW (Khoán 100, 13/1/1981) ra đời trong bối cảnh tại nhiều
địa phương xuất hiện hiện tượng “khoán chui”, do hợp tác xã nông nghiệp quản
lý kém hiệu quả, năng suất thấp, người lao động thiếu động lực. Việc hợp thức
hóa cơ chế khoán giúp giải quyết yêu cầu bức thiết về đổi mới phương thức tổ
chức lao động và phân phối trong nông nghiệp, biến nhu cầu tự phát thành chính
sách chính thức của Đảng và Nhà nước.
Quyết định 25/CP và 26/CP (21/1/1981) trong lĩnh vực công nghiệp được
ban hành nhằm khắc phục tình trạng trì trệ do cơ chế quản lý quan liêu bao cấp,
sản xuất kém hiệu quả. Việc áp dụng lương khoán, lương sản phẩm, tiền thưởng…
gắn trách nhiệm và lợi ích của người lao động với kết quả sản xuất, phù hợp với
tinh thần “phát huy tính chủ động của cơ sở”. 14
Quá trình thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn: cơ chế quản lý cũ còn nặng
nề, tư duy kinh tế bao cấp chi phối; chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam
gây thiệt hại và hạn chế nguồn lực; nhiều địa phương lúng túng trong chuyển đổi
phương thức mới; cán bộ quản lý còn dè dặt, lo ngại “lệch đường”. Những yếu tố
này khiến tiến trình đổi mới dù có hiệu quả bước đầu nhưng chưa tạo được chuyển
biến lớn ngay lập tức.
2.1.3. Kết quả
Với chỉ thị 100-CT/TW, phong trào khoán trong nông nghiệp nhanh chóng
lan rộng và được nông dân cả nước ủng hộ mạnh mẽ. Sản lượng lương thực bình
quân từ 13,4 triệu tấn/năm thời kì 1976-1980 tăng lên 17 triệu tấn/năm thời kì
1981-1985, các hiện tượng tiêu cực, lãng phí giảm đáng kể.
Trong công nghiệp, Quyết định 25/CP và 26/CP tạo nên động lực mới, góp
phần đưa sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt
7,5%. Nhiều mô hình làm ăn mới xuất hiện như Long An với “mua cao, bán cao”
và “bù giá vào lương”.
Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa đạt chỉ tiêu Đại hội IV đề ra: lưu thông, phân
phối còn rối ren; giá cả leo thang; nhập khẩu tăng 4-5 lần xuất khẩu; đời sống
nhân dân, cán bộ, quân đội còn khó khăn. Xuất hiện hiện tượng “xé rào”, “khoán
chui” ở miền Bắc; trong khi ở miền Nam, mô hình hợp tác xã còn lúng túng.
Những tìm tòi đổi mới ban đầu cũng gặp thách thức do chiến tranh biên
giới, tư tưởng đổi mới thiếu đồng bộ, tư duy kinh tế hiện vật còn ăn sâu; song
cũng xuất hiện khuynh hướng đổi mới mạnh hơn, thừa nhận sản xuất hàng hóa
và các quy luật kinh tế hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội. 2.1.4. Ý nghĩa
Hội nghị Trung ương 6 đã mở ra hướng đi mới cho Việt Nam trong bối
cảnh hậu chiến, đặt nền móng cho đổi mới tư duy kinh tế. Các chủ trương và biện 15
pháp của hội nghị tuy còn sơ khai nhưng là bước mở đầu quan trọng, nhấn mạnh
tinh thần “cởi trói”, giải phóng lực lượng sản xuất, chú trọng lợi ích thiết thân của người lao động.
Những tư duy đổi mới này đã đặt cơ sở ban đầu cho đường lối đổi mới toàn
diện sau này, đặc biệt là bước ngoặt tại Đại hội VI năm 1986. Chủ trương của hội
nghị góp phần định hình lại nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và thể hiện
sự lãnh đạo quyết đoán của Đảng trong thời kỳ đất nước gặp muôn vàn khó khăn.
2.2. Bước đột phá thứ hai – Hội nghị Trung ương 8 (Năm 1985)
Hội nghị Trung ương 8 khóa V diễn ra vào tháng 6 năm 1985, trong bối
cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Tình
hình kinh tế trì trệ, thiếu thốn, và những chính sách cũ không còn phù hợp đã đặt
ra yêu cầu phải thay đổi. Hội nghị này có tầm quan trọng lớn, vì đã đưa ra những
quyết định quan trọng, mở ra hướng đi mới cho đất nước, đánh dấu một bước
ngoặt trong quá trình phát triển của Việt Nam.
2.2.1. Chủ trương
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa V (6-1985). Hội nghị này đã cho ra
đời một nghị quyết lịch sử, được coi là bước đột phá thứ hai của quá trình đổi mới
tư duy kinh tế ở Việt Nam bởi những chủ trương đổi mới mạnh dạn và quyết đoán như:
Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, phân
công, phân cấp hợp lý trong cơ chế quản lý giá và tăng cường kỷ luật quản lý.
Thực hiện trả lương bằng tiền, xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá
thấp, thực hiện chế độ lương thống nhất trong cả nước.
Chuyển mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Nhanh chóng chuyển hẳn công tác ngân hàng sang hạch toán kinh tế và 16
kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, Nghị quyết này đã thể hiện sự dứt khoát từ bỏ đối với cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, chủ trương thực hiện một cuộc tổng điều chỉnh về giá -
lương - tiền, đồng thời chính thức thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật
của sản xuất hàng hóa. Việc bao cấp qua giá bị xóa bỏ, đưa về cơ chế một giá
theo thị trường. Thị trường đóng vai trò điều tiết giá cả theo quy luật cung cầu.
Cách làm này sẽ chấm dứt được tình trạng Nhà nước phải bù lỗ rất nhiều khoản
bất hợp lý, chấm dứt tình trạng ăn chênh lệch theo giá như trước đây.
2.2.2. Quá trình thực hiện
Sau hơn hai tháng nghiên cứu, Ban Chỉ đạo cải cách giá - lương - tiền do
Nhà nước thành lập mong muốn đưa giá cả các mặt hàng theo sát với chi phí sản
xuất, sát với giá thực tế trên thị trường. Trước đó, các cuộc cải cách quy mô nhỏ
đã diễn ra tự phát ở nhiều địa phương, nhất là các tỉnh phía Nam, song chỉ thực
sự trở thành chính sách chung sau quyết định của ban chỉ đạo.
Tinh thần của Nghị quyết Trung ương lần thứ 8 do Trường Chinh chủ trì
vào tháng 6 năm 1985 chủ trương cải cách “giá - lương - tiền” nhằm xóa bỏ tập
trung quan liêu bao cấp và chuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán, kinh doanh.
“Giá - lương - tiền” bắt đầu được thi hành từ quyết định của Hội đồng Bộ trưởng
do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu ký tháng 9 năm 1985, để củng cố
mãi lực của đơn vị tiền tệ Việt Nam.
Nội dung xóa quan liêu, bao cấp trong giá - lương - tiền chủ yếu là:
1, Tính đủ chi phí hợp lý trong giá thành sản phẩm, giá cả bảo đảm bù đắp chi
phí thực tế hợp lý, người sản xuất có lợi nhuận thỏa đáng và Nhà nước từng bước có
tích lũy, xóa bỏ tình trạng Nhà nước mua thấp, bán thấp và bù lỗ bất hợp lý.
Thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống giá, khắc phục tình trạng
"thả nổi" giá cả cũng như việc định giá và quản lý giá cứng nhắc.
Phân công, phân cấp hợp lý trong cơ chế quản lý giá, vừa bảo đảm quyền 17