BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------- --------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước về phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2011 - 2021. Rút ra
nhận xét.
Hà Nội - Tháng 5/2025
LỚP HỌC PHẦN : 242_HCMI0131_09
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : Lê Văn Nguyên
NHÓM : 4
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................6
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ..........................................................................7
1.1. Bối cảnh quốc tế.................................................................................................7
1.2. Bối cảnh trong nước...........................................................................................9
CHƯƠNG 2: SƠ LƯỢC VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN................................................13
2.1. Khái niệm kinh tế tư nhân................................................................................13
2.2. Vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân...........................................13
2.2.1. Đóng góp vào GDP...................................................................................14
2.2.2. Hiệu quả về đầu tư tài chính......................................................................15
2.2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh...................................................................16
2.2.4. Tạo việc làm cho người lao động..............................................................17
CHƯƠNG 3: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011 -
2021.............................................................................................................................19
3.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2011-
2021.........................................................................................................................19
3.1.1 Giai đoạn 2011 - 2016................................................................................19
3.1.2. Giai đoạn 2016 - 2021...............................................................................20
3.2. Quy trình tổ chức, chỉ đạo và thực hiện............................................................22
3.2.1. Quá trình xây dựng và ban hành chủ trương: bước khởi đầu từ thực tiễn..22
3.2.2. Chỉ đạo đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.......................................22
3.2.3. Triển khai thực hiện thông qua pháp luật và chính sách............................22
3.2.4. Cơ chế giám sát, sơ kết và điều chỉnh linh hoạt.........................................23
3.3. Kết quả và ý nghĩa............................................................................................23
3.3.1. Kết quả......................................................................................................23
3.3.2. Ý nghĩa......................................................................................................29
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VỀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GIAI
ĐOẠN 2011 - 2021.....................................................................................................31
4.1. Ưu điểm............................................................................................................31
1
4.2. Nhược điểm......................................................................................................33
4.3. Đề xuất một số giải pháp, định hướng phát triển..............................................35
KẾT LUẬN................................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................38
2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tốc độ tăng bình quân về số lượng doanh nghiệp, số lượng lao động, vốn
đầu tư doanh nghiệp tư nhân giai đoạn 2011 - 2020....................................................24
Biểu đồ 3.2. Tốc độ tăng doanh thu thuần của các loại hình doanh nghiệp 2011 - 2020
.....................................................................................................................................26
Biểu đồ 4.1. CAGR trung bình theo khu vực kinh tế của BXH FAST500...................33
3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2025
BIÊN BẢN CUỘC HỌP
I. Thời gian, địa điểm, thành phần tham gia:
Thời gian: 22h00, ngày 20 tháng 4 năm 2025.
Địa điểm: Online - Google Meet.
Thành phần tham gia: 10/10 thành viên nhóm 4 lớp học phần
242_HCMI0131_09.
II. Nội dung cuộc họp
1. Thống nhất nội dung
Nhóm trưởng thống nhất nội dung bài thảo luận.
2. Phân chia nhiệm vụ
Nhóm trưởng và các thành viên thảo luận về cách phân chia nhiệm vụ.
STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ
31 Nguyễn Thị Hường 22D170096 Nội dung
32 Đinh Ngọc Khánh 22D170097 Thuyết trình
33 Phạm Đức Khánh 22D170098
Nhóm trưởng
Nội dung
Tổng hợp Word
34 Nguyễn Anh Kiệt 22D170100 Thuyết trình
35 Bùi Thị Ngọc Linh 22D290056 Thiết kế Slide
36 Dương Thị Thuỳ Linh 22D170103 Nội dung
37 Nguyễn Phương Linh 22D170110 Nội dung
4
38 Nguyễn Thị Tú Linh 22D170111 Thiết kế Slide
39 Nguyễn Thuỳ Linh 22D170113 Nội dung
40 Trần Thị Thuỳ Linh 22D170119 Nội dung
III. Tổng kết
Đạt được sự nhất trí của tất cả thành viên trong nhóm.
Nhóm trưởng thống nhất các nội dung trong cuộc họp và giao hạn nộp cho các
thành viên.
Cuộc họp kết thúc vào 22h30 cùng ngày.
Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên)
Khánh
Phạm Đức Khánh
5
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế nhân một thành phần kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam. Từ khi
Đảng Nhà nước chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế nhân thì quan điểm,
đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân luôn nhất quán, ngày càng được hoàn
thiện. Điều này góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế này.
Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn nhằm thống nhất về
mặt nhận thức, tạo sự chuyển biến về mặt hành động để kinh tế nhân thực sự trở
thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Bằng phương pháp lịch sử logic, bài
thảo luận của nhóm 4 chúng em sẽ làm quan điểm của Đảng Nhà nước về phát
triển kinh tế nhân từ năm 2011 đến năm 2021. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính
đúng đắn, sáng tạo của Đảng Nhà nước trong lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân.
Đồng thời, bài thảo luận rút ra nhận xét, chỉ một s vấn đề đặt ra đề xuất giải
pháp, định hướng phát triển trong giai đoạn mới.
6
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1.1. Bối cảnh quốc tế
Giai đoạn 2011 - 2021 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển
của nền kinh tế tư nhân toàn cầu, được thúc đẩy bởi quá trình toàn cầu hóa, sự trỗi dậy
của các nền kinh tế mới nổi, cách mạng công nghiệp 4.0 các chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp từ các quốc gia. Sự ra đời và phát triển của các công ty khởi nghiệp công
nghệ, cùng với sự bùng nổ của thương mại điện tử, đã tạo ra một môi trường kinh
doanh năng động cạnh tranh chưa từng có. Các doanh nghiệp nhân đã đóng góp
đáng kể vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu, tạo ra hàng triệu việc làm thúc đẩy đổi
mới sáng tạo. Tuy nhiên, bên cạnh những hội, các doanh nghiệp nhân cũng phải
đối mặt với nhiều thách thức như bất ổn kinh tế mô, biến động tỷ giá hối đoái, cạnh
tranh khốc liệt, quy định pháp lý chặt chẽ và các vấn đề xã hội.
Khủng hoảng nợ công châu Âu (2010 - 2014): Cuộc khủng hoảng nợ công tại các
nước như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý đã khiến khu vực đồng Euro đối
mặt với nguy cơ vỡ nợ sụp đổ tài chính. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB)
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phải can thiệp để cứu trợ. Điều này làm cho niềm tin của
các nhà đầu vào khu vực đồng Euro suy giảm, tạo ra bất ổn trên các thị trường tài
chính toàn cầu.
Sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi: Trong thập kỷ 2010, các nền kinh tế mới
nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước ASEAN phát triển mạnh mẽ, đóng
góp lớn cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Trung Quốc, đặc biệt, đã trở thành nhà máy
của thế giới trung tâm thương mại quan trọng. Các nền kinh tế mới nổi đã trở
thành động lực chính cho tiêu dùng và đầu toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng
tài chính 2008.
Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung (2018): Chiến tranh thương mại giữa Mỹ
Trung Quốc, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, bùng phát từ năm 2018 khi chính quyền
Tổng thống Donald Trump áp đặt thuế quan lên hàng hóa Trung Quốc với lý do về mất
cân bằng thương mại các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ. Trung Quốc đã đáp trả
bằng việc áp thuế lên hàng a Mỹ. Cuộc chiến này gây ra s gián đoạn trong chuỗi
cung ứng toàn cầu và làm suy giảm thương mại quốc tế.
Đại dịch COVID-19 (2020 - 2021): Đại dịch COVID-19 bùng phát cuối năm
2019 lan rộng toàn cầu vào năm 2020, gây ra khủng hoảng y tế kinh tế lớn nhất
7
kể từ Thế chiến II. Giãn cách hội nhiều quốc gia gây ra suy giảm giá trị xuất,
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, kèm theo đó thu nhập giảm, tiêu dùng giảm và hoạt
động xuất, nhập khẩu bị đình trệ. Cấu trúc sản xuất toàn cầu mang tính tập trung cao
độ, một số trung tâm lớn trên thế giới cung ứng đầu vào, đóng vai trò quan trọng trong
chuỗi giá trị mạng sản xuất toàn cầu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ…
chịu tác động nặng nề từ đại dịch Covid-19. Kết qu cung, cầu hàng hóa trên phạm
vi toàn cầu cũng ngưng trệ khối lượng thương mại hàng hóa thế giới sụt giảm đáng
kể ngay từ những tháng đầu của năm 2020 tiếp tục giảm sâu những tháng tiếp
theo.Đại dịch đã làm thay đổi sâu sắc xu thế phát triển cơ cấu của nền kinh tế thế
giới, đẩy nhanh quá trình số hóa nền kinh tế của các quốc gia và toàn cầu, làm đảo lộn
các hoạt động thương mại và dòng chảy đầu tư quốc tế.
Sự phát triển của công nghệ và chuyển đổi số: Cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư diễn ra và lan tỏa mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu. Cuộc cách mạng công nghiệp
4.0 với sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet
vạn vật (IoT), blockchain,big data đã thay đổi cách thức vận hành của nhiều ngành
công nghiệp trên toàn cầu. Thương mại điện tử, fintech các hình kinh doanh số
trở thành xu hướng chính. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ làm thay đổi nền
tảng, thúc đẩy các nền kinh tế truyền thống chuyển đổi sang kinh tế tri thức và đổi mới
sáng tạo. Thực tiễn cho thấy, các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trước đều góp
phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ
cũng làm gia tăng các yếu tố sản xuất - kinh doanh, kéo theo tăng thu nhập và dẫn đến
sự gia tăng tiêu dùng dân cư, tăng đầu cho cả nền kinh tế tăng năng suất lao
động. Cùng với đó, nhờ ứng dụng công nghệ, chi phí giao thông vận tải thông tin
liên lạc s giảm xuống, chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở n hiệu quả hơn, các chi phí
thương mại được giảm bớt. Tất cả những yếu tố trên góp phần m rộng thị trường,
thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu.
Xu hướng tự do hóa thương mại tiếp tục diễn ra mạnh mẽ: Hội nhập kinh tế đa
phương đang chững lại với sự bế tắc của Vòng đàm phán Doha. Điều đó đã dẫn đến sự
nở rộ của các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên nhiều tuyến nhiều cấp độ,
cũng như sự xuất hiện các FTA thế hệ mới, như: Hiệp định thương mại đầu
xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ Liên minh châu Âu (TTIP), Hiệp định Đối tác toàn
diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt
8
Nam - EU (EVFTA)…Tuy nhiên, song song với hội nhập, chủ nghĩa bảo hộ cũng nổi
lên mạnh mẽ, điển hình các hàng rào phi thuế quan và biện pháp bảo vệ thị trường
nội địa, nhất là ở các nước phát triển.
Lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành nhân tố chi phối quan hệ quốc tế. Nhiều vấn
đề toàn cầu xuất hiện đòi hỏi các quốc gia phải cùng tham gia giải quyết. Lợi ích quốc
gia - dân tộc trở thành nhân tố trung tâm, chi phối dẫn dắt chính sách đối ngoại của
các quốc gia, tác động đến mối quan hệ hợp tác - cạnh tranh giữa các quốc gia cũng
như sự liên minh, liên kết tập hợp lực lượng quốc tế trên thế giới hiện nay. Trong
quan hệ quốc tế, chưa khi nào sự hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia vì lợi ích quốc
gia - dân tộc lại chịu sự ràng buộc, tùy thuộc vào chế ước lợi ích chung của cộng
đồng quốc tế như hiện nay. giữa các quốc gia luôn sự mâu thuẫn, đối kháng,
song các nước cũng cần hợp tác trên những khía cạnh, vấn đề, thời điểm nhất định
vận mệnh và lợi ích chung.
Tình hình thế giới khu vực diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển vẫn xu thế lớn. Sự gia tăng cạnh tranh chiến
lược giữa các nước lớn tiềm ẩn những nhân tố gây bất ổn trên bình diện toàn cầu. Khu
vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á, tiếp tục trung tâm phát
triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới.
Đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, gây ra nhiều
bất ổn. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực trên Biển Đông
diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác,
liên kết kinh tế trong khu vực, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả
bên trong lẫn bên ngoài.
Tóm lại, bối cảnh quốc tế giai đoạn 2011 - –2021 vừa tạo ra những hội lớn,
vừa đặt ra nhiều thách thức phức tạp cho Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế,
nhất trong lĩnh vực thúc đẩy kinh tế nhân tr thành động lực tăng trưởng quan
trọng.
1.2. Bối cảnh trong nước
Trong giai đoạn 2011 - 2021, Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt
diễn biến phức tạp, nhanh chóng của tình hình chính trị, kinh tế thế giới đại dịch
9
Covid-19, nhưng đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện
trên hầu hết các lĩnh vực.
Về chính trị, đất nước tiếp tục giữ vững ổn định chính trị -– hội, với Đảng
Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo toàn diện. Đại hội XI (2011), XII (2016)
XIII (2021) của Đảng đã xác định c mục tiêu phát triển đất nước, trong đó nhấn
mạnh việc đổi mới hình tăng trưởng, cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, và hội nhập quốc tế sâu rộng. Năm 2013, Quốc hội đã thông qua bản
Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây bản Hiến pháp thể hiện
tinh thần đổi mới sâu sắc, tạo ra khuôn khổ pháp lý vững chắc cho sự vận hành toàn bộ
đời sống xã hội trên nền tảng dân chủ, pháp quyền tạo ra động lực mạnh mẽ để đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Hiến pháp
năm 2013 cũng thể hiện rõ tinh thần đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, phát huy dân
chủ hội chủ nghĩa đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; xác
định các nguyên tắcbản để hoàn thiện, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước; bảo đảm
sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước. Cùng với đó,
công cuộc cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy nhà nước, phòng chống tham nhũng
được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực.
Về kinh tế, trong giai đoạn 2011-2020, tăng trưởng GDP dự kiến đạt khoảng
5,9%/năm, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực trên thế giới. Quy
mô GDP tăng gấp 3 lần, từ 119 tỷ USD năm 2011 lên 368 tỷ USD vào năm 2021, mặc
chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19. GDP bình quân đầu người tăng từ
1.300 USD năm 2011 lên khoảng 3.718 USD năm 2021. Chính phủ đã ban hành nhiều
chính sách ổn định kinh tế mô, kiểm soát lạm phát, phát triển khu vực kinh tế
nhân thu hút đầu nước ngoài (FDI). Lạm phát được kiểm soát mức thấp, các
cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân giảm từ
18,6% năm 2011 xuống mức khoảng 4%/năm giai đoạn 2016-2020. Lạm phát bản
giảm từ 13,6% năm 2011 xuống khoảng 3% năm 2021. Tổng kim ngạch xuất, nhập
khẩu hàng hóa tăng 3,6 lần, từ 200 tỷ USD năm 2011 lên gần 668,54 tỷ USD năm
2021. Xuất khẩu tăng nhanh, từ 94,8 tỷ USD năm 2011 lên gần 336,31 tỷ USD năm
2021, tăng bình quân khoảng 14%/năm, tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh
tế. Huy động các nguồn lực cho đầu phát triển được đẩy mạnh, đầu khu vực
ngoài nhà nước tăng nhanh chất ợng, hiệu quả được cải thiện. Vốn đầu phát
10
triển giai đoạn 2011- 2020 đạt gần 15 triệu tỷ đồng (tương đương 682 tỷ USD), tăng
bình quân 10,6%/năm, trong đó vốn NSNN và trái phiếu chính phủ là 3,1 triệu tỷ đồng
(144 tỷ USD), chiếm 20,8% tổng đầu hội… Vốn đầu của khu vực ngoài nhà
nước trong nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng đầu tư xã hội, tăng từ 36,1%
năm 2010 lên 45,7% năm 2020. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh; đã thu hút
được nhiều dự án quy lớn, công nghệ cao. Tổng số vốn đăng giai đoạn 2011-
2020 đạt trên 278 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 152,3 tỷ USD, tăng gần 6,9%/năm, chiếm
22,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội… Việt Nam cũng tích cực tham gia và ký kết nhiều
hiệp định thương mại tự do lớn như CPTPP, EVFTA, RCEP,..., qua đó nâng cao vị thế
sức cạnh tranh quốc tế. Đặc biệt, khu vực kinh tế nhânsự phát triển vượt bậc,
trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc
làm và đóng góp lớn vào GDP. Nhà nước ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải
thiện môi trường đầu kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho kinh tế nhân
phát triển.
Về đối ngoại hội nhập quốc tế, Việt Nam tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập
sâu rộng với thế giới, tăng cường hợp tác đa phương song phương. Việt Nam đã
đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 Ủy viên không thường
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020–2021, nâng cao vị thế uy tín
quốc tế. Tuy nhiên, Biển Đông chứng kiến căng thẳng gia tăng giữa Việt Nam
Trung Quốc, với các hành động như việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển
tranh chấp xây dựng đảo nhân tạo. Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp buộc
Việt Nam vừa kiên quyết bảo vệ chủ quyền, vừa kiên trì đấu tranh ngoại giao, kết hợp
phát triển kinh tế biển.
Về văn hóa, xây dựng con người Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực; an sinh
hội được bảo đảm, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng cải thiện.
Việt Nam hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, điểm
sáng trong giảm nghèo, y tế, giáo dục và đang tích cực triển khai Chương trình nghị sự
2030 của Liên Hợp quốc. Chỉ số phát triển con người liên tục cải thiện, thuộc nhóm
trung bình cao thế giới. Giáo dục, y tế đạt nhiều thành tựu; chính sách với người
công, bảo trợ hội, giảm nghèo bền vững thực hiện hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo giảm
còn 2,23% m 2021. Công tác quản tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó biến
đổi khí hậu, cải cách hành chính được chú trọng, hiệu lực quản nhà nước nâng cao.
11
Phát triển kinh tế - hội luôn gắn kết chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh
hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2011 - 2021 vẫn còn tồn tại một số hạn chế,
yếu kém như phát triển kinh tế - hội chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Kinh
tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và một số cân đối lớn ổn định chưa vững chắc. Năng suất
lao động còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, công nghệ sản xuất lạc hậu, năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhân chưa cao. Phát triển nguồn nhân lực, chất
lượng giáo dục, đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu lao động chất lượng cao. Hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế - hội còn nhiều mặt hạn chế, thiếu đồng bộ, chất lượng
chưa cao. Thực hiện cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới hình tăng trưởng còn
chậm, chưa đồng bộ. Phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội nhiều mặt
còn hạn chế. Quản nhà nước về tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí
hậu còn hạn chế; xử vi phạm chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả quản nhà nước
nhiều mặt còn hạn chế. Tiềm lực quốc phòng, an ninh chưa đáp ứng được yêu cầu.
Công tác đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế có mặt chưa thật chủ động, hiệu quả chưa
cao…
12
CHƯƠNG 2: SƠ LƯỢC VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
2.1. Khái niệm kinh tế tư nhân
Khái niệm kinh tế nhân hiện nay vẫn còn rất nhiều các quan điểm trái chiều
được đưa ra chưa đi tới một sự thống nhất cụ thể nào. Trong bối cảnh nền kinh tế
thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nhận thức xác định đúng
vai trò của kinh tế nhân ý nghĩa hết sức quan trọng. Do đó, thể tiếp cận khái
niệm kinh tế tư nhân theo nhiều phương diện khác nhau như sau:
Hiểu cách khái quát chung, kinh tế nhân khu vực kinh tế nằm ngoài quốc
doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp trong ngoài
nước, trong đó nhân nắm trên 50% vốn đầu tư. Kinh tế nhân tất cả c sở
sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản
xuất.
Hiểu cấp độ hẹp, kinh tế nhân khu vực kinh tế gắn liền với loại hình s
hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu
nhân về liệu sản xuất. Kinh tế nhân tồn tại dưới các hình thức như: doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh
thể.
Xét về mặt kinh tế học, kinh tế nhân (hay khu vực nhân) thành phần kinh
tế thuộc cấu kinh tế của một quốc gia, được hình thành phát triển dựa trên sự sở
hữu của tư nhân về tư liệu sản xuất cũng như lợi ích cá nhân. Đối tượng sở hữu kinh tế
nhân thể các nhân hoặc một nhóm người thuộc về nhân đứng lên. Khái
niệm kinh tế nhân được đưa ra nhằm phân biệt với kinh tế nhà nước, do nhà nước
làm chủ và thuộc quyền quản lý của nhà nước.
2.2. Vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân
Chặng đường gần 40 năm đổi mới đã ghi dấu một Việt Nam kiên cường, bứt phá
khát khao phát triển. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kém hiệu quả, với
thu nhập bình quân đầu người vẻn vẹn 96 USD vào năm 1989, Việt Nam đã vươn lên
mạnh mẽ, dự kiến cuối năm 2025, sẽ bước vào nhóm các quốc gia thu nhập trung
bình cao, tương đương mức trên 5.000 USD/người/ năm. Kỳ tích này không chỉ kết
quả của đường lối phát triển đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng với những cải cách
táo bạo, quyết đoán về thể chế, chính sách hội nhập còn thành quả của tinh
13
thần lao động chăm chỉ, sáng tạo, ý cquyết tâm sự nỗ lực không ngừng của toàn
dân tộc ta.
Điều đáng tự hào hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn cao
gấp đôi mức trung bình của các quốc gia đang phát triển, bất chấp những biến động
kinh tế toàn cầu. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ quốc tế, Việt
Nam đã không ngừng bứt phá mạnh mẽ để trở thành nền kinh tế lớn thứ 24 thế giới
tính theo sức mua tương đương (PPP). Những thành tựu đạt được không chỉ trong lĩnh
vực kinh tế còn bao gồm những tiến bộ to lớn về hội, góp phần mang lại đời
sống ngày càng ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.
Thành công này sự đóng góp rất quan trọng của khu vực kinh tế nhân. Nếu
như trong giai đoạn đầu đổi mới, kinh tế nhân chỉ giữ vai trò thứ yếu, nền kinh tế
chủ yếu dựa vào khu vực nhà nước vốn đầu nước ngoài (FDI), thì trong hai thập
niên trở lại đây, nhất là khi Bộ Chính tr ban hành Nghị quyết 09 năm 2011 và Trung
ương ban hành Nghị quyết 10 năm 2017 về phát triển kinh tế nhân, khu vực kinh tế
này đã trỗi dậy mạnh mẽ, trở thành một trong những trụ cột quan trọng ng đầu của
nền kinh tế ngày càng thể hiện là động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế quốc gia. Với gần một triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể,
khu vực kinh tế nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà
nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế,
đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội.
2.2.1. Đóng góp vào GDP
Vai trò kinh tế nhân trong nền kinh tế quốc dân trong việc đóng góp vào GDP
cùng quan trọng và ngày ng gia tăng. Hiện tại, khu vực kinh tế nhân đóng
góp khoảng 51% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Con số này đánh
dấu sự gia tăng đáng kể trong thập kỷ qua, làm nổi bật stăng trưởng năng động của
khu vực này và tầm quan trọng ngày càng tăng của khu vực này trong bối cảnh kinh tế
quốc gia.
Đối với những năm trước, xu ớng chung cho thấy sự gia tăng nhất quán trong
tỷ trọng GDP của khu vực nhân trong dài hạn. Giữa những năm 2020, kinh tế
nhân đóng góp vào khoảng 45% GDP theo báo cáo vào tháng 4 năm 2024. Với tình
hình hiện tại (2024 - 2025), khu vực tư nhân chiếm khoảng 51% GDP.
14
2.2.2. Hiệu quả về đầu tư tài chính
Vai trò của kinh tế nhân trong nền kinh tế quốcn thể hiện qua hiệu quả đầu
tài chính ngày càng tăng, đóng góp vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm tăng thu
ngân sách nhà nước. Cụ thể là:
Một đóng góp vào GDP. Khu vực kinh tế nhân đã những bước phát triển
mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn vào GDP của cả nước. Từ năm 2010 đến nay, khu
vực này đóng góp trên 43% GDP. Dự kiến đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của kinh
tế tư nhân vào GDP sẽ đạt khoảng 55%.
Hai là tăng trưởng về số lượng quy mô doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp
tư nhân thành lập mới và quy mô vốn đăng ngày càng tăng. Giai đoạn 2018 - 2022,
mỗi năm có hơn 130 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới, với số vốn đăng ký hàng
năm đạt trên 500 nghìn tỷ đồng. Vốn sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân
tăng từ 20.669,7 nghìn tỷ đồng m 2018 lên 33.325,1 nghìn tỷ đồng m 2022, tăng
hơn 1,6 lần.
Ba hiệu quả đầu lợi nhuận. Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
nhân xu hướng tăng qua các năm. So với năm 2018, lợi nhuận trước thuế của khu
vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (chủ yếu là kinh tế nhân) đã tăng gấp 1,2 lần vào
năm 2022.
Bốn là đóng góp vào thu ngân sách nhà nước. Tốc độ tăng thu ngân sách của khu
vực kinh tế nhân bình quân giai đoạn 2011 - 2020 đạt 13,4%/năm, cao hơn tốc độ
tăng chung của cả nước (9,9%/năm). Tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước của
khu vực này cũng ngày càng tăng, từ 13,88% năm 2016 lên 18,5% năm 2021.
Như vậy, chúng ta thể thấy kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, không chỉ về quy đóng góp còn về hiệu quả
đầu tài chính. Sự năng động khả năng thích ứng của khu vực này đã thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều hội việc làm đóng góp đáng kể vào ngân sách
nhà nước. Đầu của kinh tế nhân được đánh giá mang lại giá trị cao hơn so với
đầu công đầu nước ngoài. Để phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế nhân,
Chính phủ Việt Nam đã đang tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó
khăn, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho khu vực này phát triển mạnh mẽ và bền
vững, trở thành động lực quan trọng hàng đầu của nền kinh tế.
15
2.2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong bài viết “Phát triển kinh tế nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh
vượng” vào ngày 17/3 vừa qua, Tổng thư Lâm đã khẳng định, kinh tế nhân
không chỉ giúp mở rộng sản xuất, thương mại, dịch vụ còn góp phần quan trọng
trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực
cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp nhân Việt Nam
không chỉ làm chủ thị trường nội địa mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường
quốc tế. “Điều này chứng tỏ rằng nếu có môi trường phát triển thuận lợi, doanh nghiệp
Việt Nam hoàn toàn có thể vươn xa, cạnh tranh sòng phẳng với thế giới”.
* Nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước
Thứ nhất, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tư nhân tạo động lực cho đổi mới
sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, giảm chi phí sản xuất.
Thứ hai, các doanh nghiệp nhân linh hoạt hơn trong việc thích ứng với thay
đổi của thị trường, nhanh chóng nắm bắt cơ hội và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
người tiêu dùng trong nước.
Thứ ba, việc đầu vào công nghệ nâng cao năng lực quản trị của các doanh
nghiệp nhân góp phần tăng cường năng suất lao động hiệu quả kinh doanh, làm
nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, theo một số đánh giá, mức độ
đầu vào công nghệ của doanh nghiệp nhân còn thấp, khoảng 20% doanh nghiệp
nhân đầu vào đổi mới công nghệ, cho thấy tiềm năng nâng cao năng lực cạnh
tranh còn rất lớn.
* Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế
Thứ nhất, các doanh nghiệp nhân ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường
quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ hai, một số tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh đã hình thành và phát triển, có
khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
Thứ ba, kinh tế nhân đóng góp vào việc đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu,
nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của
nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã giúp họ không chỉ làm chủ thị trường nội địa
mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp
nhân, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn còn hạn chế về năng lực công
nghệ, vốn và kỹ năng quản lý để cạnh tranh quốc tế hiệu quả.
16
Tóm lại, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam, cả trong nước quốc tế. Sự năng động, kh năng
thích ứng tiềm năng đổi mới sáng tạo của khu vực này động lực quan trọng cho
tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và hội nhập quốc tế. Để phát huy hơn nữa vai trò này,
cần tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tháo gỡ rào cản, hỗ trợ doanh nghiệp
nhân nâng cao năng lực công nghệ, quản trị tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị
toàn cầu.
2.2.4. Tạo việc làm cho người lao động
Kinh tế nhân đóng vai trò cùng quan trọng trong việc tạo hội việc làm
cho nền kinh tế Việt Nam. Khu vực này không chỉ đóng góp đáng kể vào GDP còn
nguồn hấp thụ lao động lớn nhất, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp nâng cao thu nhập
cho người dân. Cụ thể, năm 2023, kinh tế nhân tạo ra 8,6 triệu việc làm trực tiếp,
chiếm khoảng 85% tổng số lao động trong nền kinh tế. Tính đến tháng 8 năm 2024,
tổng số lao động đăng của c doanh nghiệp thành lập mới hơn 672.400 người,
cho thấy sự tiếp tục tạo ra hội việc làm từ khu vực này. Vào giai đoạn 2010 - 2023,
số lao động việc làm khu vực nhân luôn cao hơn so với các khu vực kinh tế
khác. Đối với hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân sử dụng khoảng 82% tổng số lao động
của nền kinh tế.
Ngoài ra, kinh tế tư nhân còn mang lại nhiều lợi ích khác như:
Một nguồn tạo việc làm chủ yếu. Với hàng triệu doanh nghiệp hoạt động trên
cả nước, từ các hộ kinh doanh nhỏ lẻ đến các tập đoàn lớn, kinh tế tư nhân tạo ra vô số
vị trí việc làm đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau.
Kinh tế tư nhân không tập trung vào một vài lĩnh vực nhất định trải rộng trên
hầu hết các ngành nghề, từ nông nghiệp, công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu
dùng, đến dịch vụ, thương mại, công nghệ thông tin, du lịch... Điều này mang đến
nhiều lựa chọn việc làm phù hợp với trình độ, kỹ ng sở thích khác nhau của
người lao động.
Sự phát triển của một doanh nghiệp nhân không chỉ tạo ra việc làm trực tiếp
cho nhân viên của họ mà còn gián tiếp tạo ra việc làm cho các nhà cung cấp, đối tác
kinh doanh và các dịch vụ hỗ tr khác.
17
Hai là khả năng thích ứng và linh hoạt. Các doanh nghiệp tư nhân thường có khả
năng thích ứng nhanh chóng với thay đổi của thị trường, tạo ra các ngành nghề
hội việc làm mới.
Để tồn tại phát triển trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp nhân
luôn phải tìm kiếm những ý tưởng mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới phương thức
kinh doanh mới. Chính sự đổi mới sáng tạo này tạo ra những ngành nghề hội
việc làm hoàn toàn mới khu vực nhà nước thể chưa tiếp cận hoặc triển khai. Ví
dụ, sự phát triển của các nền tảng thương mại điện tử, ứng dụng di động, dịch vụ trực
tuyến phần lớn đến từ sự năng động của các doanh nghiệp tư nhân.
Ba giảm áp lực cho khu vực nhà nước. Việc kinh tế nhân đảm nhận phần
lớn việc tạo việc làm giúp giảm áp lực lên khu vực nhà nước trong vấn đề giải quyết
công ăn việc làm cho người dân, đồng thời giúp nhà nước tập trung hơn vào các nhiệm
vụ quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế và cung cấp các dịch vụ công thiết yếu.
Sự phát triển của khu vực kinh tế nhân đồng nghĩa với việc tăng số lượng
doanh nghiệp nộp thuế, đóng góp vào ngân sách nhà nước, từ đó có thêm nguồn lực để
đầu tư vào các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, sở hạ tầng, các chương trình an
sinh xã hội.
Bốn cải thiện thu nhập đời sống. Việc làm do khu vực nhân tạo ra mang
lại thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống đảm bảo an
sinh hội. Để thu hút giữ chân người lao động giỏi, các doanh nghiệp nhân
thường có xu hướng trả mức lương cạnh tranh hơn so với khu vực nhà nước (tùy thuộc
vào ngành nghề vị trí). Điều này giúp người lao động thu nhập ổn định cải
thiện chất lượng cuộc sống.
Mặc mục tiêu chính của doanh nghiệp nhân lợi nhuận, nhưng việc tạo ra
việc làm ổn định, đóng bảo hiểm xã hộicác phúc lợi khác cho người lao động cũng
góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh hội. Người lao động việc làm
thu nhập ổn định sẽ khả năng chăm lo tốt hơn cho bản thân gia đình, giảm bớt
gánh nặng cho xã hội.
Cuối cùng là, sự phát triển của kinh tế nhân mang đến thị trường nhiều loại
hàng hóa và dịch vụ đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người dân, từ
đó nâng cao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần.
18
Như vậy, kinh tế nhân một trụ cột quan trọng trong việc tạo ra hội việc
làm cho nền kinh tế quốc dân Việt Nam. Với số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng và
khả năng hấp thụ lao động lớn, khu vực này đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo
việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
19

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà
nước về phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2011 - 2021. Rút ra nhận xét. LỚP HỌC PHẦN : 242_HCMI0131_09
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : Lê Văn Nguyên NHÓM : 4
Hà Nội - Tháng 5/2025 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................6
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ..........................................................................7
1.1. Bối cảnh quốc tế.................................................................................................7
1.2. Bối cảnh trong nước...........................................................................................9
CHƯƠNG 2: SƠ LƯỢC VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN................................................13
2.1. Khái niệm kinh tế tư nhân................................................................................13
2.2. Vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân...........................................13
2.2.1. Đóng góp vào GDP...................................................................................14
2.2.2. Hiệu quả về đầu tư tài chính......................................................................15
2.2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh...................................................................16
2.2.4. Tạo việc làm cho người lao động..............................................................17
CHƯƠNG 3: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011 -
2021.............................................................................................................................19

3.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2011-
2021......................................................................................................................... 19
3.1.1 Giai đoạn 2011 - 2016................................................................................19
3.1.2. Giai đoạn 2016 - 2021...............................................................................20
3.2. Quy trình tổ chức, chỉ đạo và thực hiện............................................................22
3.2.1. Quá trình xây dựng và ban hành chủ trương: bước khởi đầu từ thực tiễn..22
3.2.2. Chỉ đạo đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.......................................22
3.2.3. Triển khai thực hiện thông qua pháp luật và chính sách............................22
3.2.4. Cơ chế giám sát, sơ kết và điều chỉnh linh hoạt.........................................23
3.3. Kết quả và ý nghĩa............................................................................................23
3.3.1. Kết quả......................................................................................................23
3.3.2. Ý nghĩa......................................................................................................29
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VỀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC GIAI
ĐOẠN 2011 - 2021.....................................................................................................31

4.1. Ưu điểm............................................................................................................ 31 1
4.2. Nhược điểm......................................................................................................33
4.3. Đề xuất một số giải pháp, định hướng phát triển..............................................35
KẾT LUẬN................................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................38 2 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tốc độ tăng bình quân về số lượng doanh nghiệp, số lượng lao động, vốn
đầu tư doanh nghiệp tư nhân giai đoạn 2011 - 2020....................................................24
Biểu đồ 3.2. Tốc độ tăng doanh thu thuần của các loại hình doanh nghiệp 2011 - 2020
..................................................................................................................................... 26
Biểu đồ 4.1. CAGR trung bình theo khu vực kinh tế của BXH FAST500...................33 3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2025
BIÊN BẢN CUỘC HỌP I.
Thời gian, địa điểm, thành phần tham gia:
Thời gian: 22h00, ngày 20 tháng 4 năm 2025.
Địa điểm: Online - Google Meet.
Thành phần tham gia: 10/10 thành viên nhóm 4 lớp học phần 242_HCMI0131_09.
II. Nội dung cuộc họp 1. Thống nhất nội dung
Nhóm trưởng thống nhất nội dung bài thảo luận. 2. Phân chia nhiệm vụ
Nhóm trưởng và các thành viên thảo luận về cách phân chia nhiệm vụ. STT Họ và tên Mã sinh viên Nhiệm vụ 31 Nguyễn Thị Hường 22D170096 Nội dung 32 Đinh Ngọc Khánh 22D170097 Thuyết trình Nhóm trưởng 33 Phạm Đức Khánh 22D170098 Nội dung Tổng hợp Word 34 Nguyễn Anh Kiệt 22D170100 Thuyết trình 35 Bùi Thị Ngọc Linh 22D290056 Thiết kế Slide 36 Dương Thị Thuỳ Linh 22D170103 Nội dung 37 Nguyễn Phương Linh 22D170110 Nội dung 4 38 Nguyễn Thị Tú Linh 22D170111 Thiết kế Slide 39 Nguyễn Thuỳ Linh 22D170113 Nội dung 40 Trần Thị Thuỳ Linh 22D170119 Nội dung III. Tổng kết
Đạt được sự nhất trí của tất cả thành viên trong nhóm.
Nhóm trưởng thống nhất các nội dung trong cuộc họp và giao hạn nộp cho các thành viên.
Cuộc họp kết thúc vào 22h30 cùng ngày. Nhóm trưởng
(Ký và ghi rõ họ tên) Khánh Phạm Đức Khánh 5 LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam. Từ khi
Đảng và Nhà nước chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân thì quan điểm,
đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân luôn nhất quán, ngày càng được hoàn
thiện. Điều này góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thành phần kinh tế này.
Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn nhằm thống nhất về
mặt nhận thức, tạo sự chuyển biến về mặt hành động để kinh tế tư nhân thực sự trở
thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Bằng phương pháp lịch sử và logic, bài
thảo luận của nhóm 4 chúng em sẽ làm rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát
triển kinh tế tư nhân từ năm 2011 đến năm 2021. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính
đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân.
Đồng thời, bài thảo luận rút ra nhận xét, chỉ rõ một số vấn đề đặt ra và đề xuất giải
pháp, định hướng phát triển trong giai đoạn mới. 6
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1.1. Bối cảnh quốc tế
Giai đoạn 2011 - 2021 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển
của nền kinh tế tư nhân toàn cầu, được thúc đẩy bởi quá trình toàn cầu hóa, sự trỗi dậy
của các nền kinh tế mới nổi, cách mạng công nghiệp 4.0 và các chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp từ các quốc gia. Sự ra đời và phát triển của các công ty khởi nghiệp công
nghệ, cùng với sự bùng nổ của thương mại điện tử, đã tạo ra một môi trường kinh
doanh năng động và cạnh tranh chưa từng có. Các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp
đáng kể vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu, tạo ra hàng triệu việc làm và thúc đẩy đổi
mới sáng tạo. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, các doanh nghiệp tư nhân cũng phải
đối mặt với nhiều thách thức như bất ổn kinh tế vĩ mô, biến động tỷ giá hối đoái, cạnh
tranh khốc liệt, quy định pháp lý chặt chẽ và các vấn đề xã hội.
Khủng hoảng nợ công châu Âu (2010 - 2014): Cuộc khủng hoảng nợ công tại các
nước như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và Ý đã khiến khu vực đồng Euro đối
mặt với nguy cơ vỡ nợ và sụp đổ tài chính. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phải can thiệp để cứu trợ. Điều này làm cho niềm tin của
các nhà đầu tư vào khu vực đồng Euro suy giảm, tạo ra bất ổn trên các thị trường tài chính toàn cầu.
Sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi: Trong thập kỷ 2010, các nền kinh tế mới
nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước ASEAN phát triển mạnh mẽ, đóng
góp lớn cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Trung Quốc, đặc biệt, đã trở thành nhà máy
của thế giới và là trung tâm thương mại quan trọng. Các nền kinh tế mới nổi đã trở
thành động lực chính cho tiêu dùng và đầu tư toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008.
Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung (2018): Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và
Trung Quốc, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, bùng phát từ năm 2018 khi chính quyền
Tổng thống Donald Trump áp đặt thuế quan lên hàng hóa Trung Quốc với lý do về mất
cân bằng thương mại và các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ. Trung Quốc đã đáp trả
bằng việc áp thuế lên hàng hóa Mỹ. Cuộc chiến này gây ra sự gián đoạn trong chuỗi
cung ứng toàn cầu và làm suy giảm thương mại quốc tế.
Đại dịch COVID-19 (2020 - 2021): Đại dịch COVID-19 bùng phát cuối năm
2019 và lan rộng toàn cầu vào năm 2020, gây ra khủng hoảng y tế và kinh tế lớn nhất 7
kể từ Thế chiến II. Giãn cách xã hội ở nhiều quốc gia gây ra suy giảm giá trị xuất,
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, kèm theo đó là thu nhập giảm, tiêu dùng giảm và hoạt
động xuất, nhập khẩu bị đình trệ. Cấu trúc sản xuất toàn cầu mang tính tập trung cao
độ, một số trung tâm lớn trên thế giới cung ứng đầu vào, đóng vai trò quan trọng trong
chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ…
chịu tác động nặng nề từ đại dịch Covid-19. Kết quả là cung, cầu hàng hóa trên phạm
vi toàn cầu cũng ngưng trệ và khối lượng thương mại hàng hóa thế giới sụt giảm đáng
kể ngay từ những tháng đầu của năm 2020 và tiếp tục giảm sâu ở những tháng tiếp
theo.Đại dịch đã làm thay đổi sâu sắc xu thế phát triển và cơ cấu của nền kinh tế thế
giới, đẩy nhanh quá trình số hóa nền kinh tế của các quốc gia và toàn cầu, làm đảo lộn
các hoạt động thương mại và dòng chảy đầu tư quốc tế.
Sự phát triển của công nghệ và chuyển đổi số: Cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư diễn ra và lan tỏa mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu. Cuộc cách mạng công nghiệp
4.0 với sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet
vạn vật (IoT), blockchain, và big data đã thay đổi cách thức vận hành của nhiều ngành
công nghiệp trên toàn cầu. Thương mại điện tử, fintech và các mô hình kinh doanh số
trở thành xu hướng chính. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi nền
tảng, thúc đẩy các nền kinh tế truyền thống chuyển đổi sang kinh tế tri thức và đổi mới
sáng tạo. Thực tiễn cho thấy, các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trước đều góp
phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, đổi mới công nghệ
cũng làm gia tăng các yếu tố sản xuất - kinh doanh, kéo theo tăng thu nhập và dẫn đến
sự gia tăng tiêu dùng dân cư, tăng đầu tư cho cả nền kinh tế và tăng năng suất lao
động. Cùng với đó, nhờ ứng dụng công nghệ, chi phí giao thông vận tải và thông tin
liên lạc sẽ giảm xuống, chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, các chi phí
thương mại được giảm bớt. Tất cả những yếu tố trên góp phần mở rộng thị trường,
thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu.
Xu hướng tự do hóa thương mại tiếp tục diễn ra mạnh mẽ: Hội nhập kinh tế đa
phương đang chững lại với sự bế tắc của Vòng đàm phán Doha. Điều đó đã dẫn đến sự
nở rộ của các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên nhiều tuyến và nhiều cấp độ,
cũng như sự xuất hiện các FTA thế hệ mới, như: Hiệp định thương mại và đầu tư
xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và Liên minh châu Âu (TTIP), Hiệp định Đối tác toàn
diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt 8
Nam - EU (EVFTA)…Tuy nhiên, song song với hội nhập, chủ nghĩa bảo hộ cũng nổi
lên mạnh mẽ, điển hình là các hàng rào phi thuế quan và biện pháp bảo vệ thị trường
nội địa, nhất là ở các nước phát triển.
Lợi ích quốc gia - dân tộc trở thành nhân tố chi phối quan hệ quốc tế. Nhiều vấn
đề toàn cầu xuất hiện đòi hỏi các quốc gia phải cùng tham gia giải quyết. Lợi ích quốc
gia - dân tộc trở thành nhân tố trung tâm, chi phối và dẫn dắt chính sách đối ngoại của
các quốc gia, tác động đến mối quan hệ hợp tác - cạnh tranh giữa các quốc gia cũng
như sự liên minh, liên kết và tập hợp lực lượng quốc tế trên thế giới hiện nay. Trong
quan hệ quốc tế, chưa khi nào sự hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia vì lợi ích quốc
gia - dân tộc lại chịu sự ràng buộc, tùy thuộc vào chế ước và lợi ích chung của cộng
đồng quốc tế như hiện nay. Dù giữa các quốc gia luôn có sự mâu thuẫn, đối kháng,
song các nước cũng cần hợp tác trên những khía cạnh, vấn đề, thời điểm nhất định vì
vận mệnh và lợi ích chung.
Tình hình thế giới và khu vực diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Sự gia tăng cạnh tranh chiến
lược giữa các nước lớn tiềm ẩn những nhân tố gây bất ổn trên bình diện toàn cầu. Khu
vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, tiếp tục là trung tâm phát
triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới.
Đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, gây ra nhiều
bất ổn. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông
diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác,
liên kết kinh tế trong khu vực, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong lẫn bên ngoài.
Tóm lại, bối cảnh quốc tế giai đoạn 2011 - –2021 vừa tạo ra những cơ hội lớn,
vừa đặt ra nhiều thách thức phức tạp cho Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế,
nhất là trong lĩnh vực thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành động lực tăng trưởng quan trọng.
1.2. Bối cảnh trong nước
Trong giai đoạn 2011 - 2021, Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt
là diễn biến phức tạp, nhanh chóng của tình hình chính trị, kinh tế thế giới và đại dịch 9
Covid-19, nhưng đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện
trên hầu hết các lĩnh vực.
Về chính trị, đất nước tiếp tục giữ vững ổn định chính trị -– xã hội, với Đảng
Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo toàn diện. Đại hội XI (2011), XII (2016) và
XIII (2021) của Đảng đã xác định rõ các mục tiêu phát triển đất nước, trong đó nhấn
mạnh việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, và hội nhập quốc tế sâu rộng. Năm 2013, Quốc hội đã thông qua bản
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là bản Hiến pháp thể hiện
tinh thần đổi mới sâu sắc, tạo ra khuôn khổ pháp lý vững chắc cho sự vận hành toàn bộ
đời sống xã hội trên nền tảng dân chủ, pháp quyền và tạo ra động lực mạnh mẽ để đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Hiến pháp
năm 2013 cũng thể hiện rõ tinh thần đề cao vai trò làm chủ của nhân dân, phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; xác
định các nguyên tắc cơ bản để hoàn thiện, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước; bảo đảm
sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước. Cùng với đó,
công cuộc cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy nhà nước, phòng chống tham nhũng
được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực.
Về kinh tế, trong giai đoạn 2011-2020, tăng trưởng GDP dự kiến đạt khoảng
5,9%/năm, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới. Quy
mô GDP tăng gấp 3 lần, từ 119 tỷ USD năm 2011 lên 368 tỷ USD vào năm 2021, mặc
dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19. GDP bình quân đầu người tăng từ
1.300 USD năm 2011 lên khoảng 3.718 USD năm 2021. Chính phủ đã ban hành nhiều
chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, phát triển khu vực kinh tế tư
nhân và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, các
cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân giảm từ
18,6% năm 2011 xuống mức khoảng 4%/năm giai đoạn 2016-2020. Lạm phát cơ bản
giảm từ 13,6% năm 2011 xuống khoảng 3% năm 2021. Tổng kim ngạch xuất, nhập
khẩu hàng hóa tăng 3,6 lần, từ 200 tỷ USD năm 2011 lên gần 668,54 tỷ USD năm
2021. Xuất khẩu tăng nhanh, từ 94,8 tỷ USD năm 2011 lên gần 336,31 tỷ USD năm
2021, tăng bình quân khoảng 14%/năm, tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh
tế. Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển được đẩy mạnh, đầu tư khu vực
ngoài nhà nước tăng nhanh và chất lượng, hiệu quả được cải thiện. Vốn đầu tư phát 10
triển giai đoạn 2011- 2020 đạt gần 15 triệu tỷ đồng (tương đương 682 tỷ USD), tăng
bình quân 10,6%/năm, trong đó vốn NSNN và trái phiếu chính phủ là 3,1 triệu tỷ đồng
(144 tỷ USD), chiếm 20,8% tổng đầu tư xã hội… Vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà
nước trong nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng đầu tư xã hội, tăng từ 36,1%
năm 2010 lên 45,7% năm 2020. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh; đã thu hút
được nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao. Tổng số vốn đăng ký giai đoạn 2011-
2020 đạt trên 278 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 152,3 tỷ USD, tăng gần 6,9%/năm, chiếm
22,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội… Việt Nam cũng tích cực tham gia và ký kết nhiều
hiệp định thương mại tự do lớn như CPTPP, EVFTA, RCEP,..., qua đó nâng cao vị thế
và sức cạnh tranh quốc tế. Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân có sự phát triển vượt bậc,
trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc
làm và đóng góp lớn vào GDP. Nhà nước ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho kinh tế tư nhân phát triển.
Về đối ngoại và hội nhập quốc tế, Việt Nam tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập
sâu rộng với thế giới, tăng cường hợp tác đa phương và song phương. Việt Nam đã
đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020–2021, nâng cao vị thế và uy tín
quốc tế. Tuy nhiên, Biển Đông chứng kiến căng thẳng gia tăng giữa Việt Nam và
Trung Quốc, với các hành động như việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển
tranh chấp và xây dựng đảo nhân tạo. Tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp buộc
Việt Nam vừa kiên quyết bảo vệ chủ quyền, vừa kiên trì đấu tranh ngoại giao, kết hợp
phát triển kinh tế biển.
Về văn hóa, xây dựng con người Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực; an sinh xã
hội được bảo đảm, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng cải thiện.
Việt Nam hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, là điểm
sáng trong giảm nghèo, y tế, giáo dục và đang tích cực triển khai Chương trình nghị sự
2030 của Liên Hợp quốc. Chỉ số phát triển con người liên tục cải thiện, thuộc nhóm
trung bình cao thế giới. Giáo dục, y tế đạt nhiều thành tựu; chính sách với người có
công, bảo trợ xã hội, giảm nghèo bền vững thực hiện hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo giảm
còn 2,23% năm 2021. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó biến
đổi khí hậu, cải cách hành chính được chú trọng, hiệu lực quản lý nhà nước nâng cao. 11
Phát triển kinh tế - xã hội luôn gắn kết chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2011 - 2021 vẫn còn tồn tại một số hạn chế,
yếu kém như phát triển kinh tế - xã hội chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Kinh
tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và một số cân đối lớn ổn định chưa vững chắc. Năng suất
lao động còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, công nghệ sản xuất lạc hậu, năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân chưa cao. Phát triển nguồn nhân lực, chất
lượng giáo dục, đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu lao động chất lượng cao. Hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều mặt hạn chế, thiếu đồng bộ, chất lượng
chưa cao. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn
chậm, chưa đồng bộ. Phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội nhiều mặt
còn hạn chế. Quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí
hậu còn hạn chế; xử lý vi phạm chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
nhiều mặt còn hạn chế. Tiềm lực quốc phòng, an ninh chưa đáp ứng được yêu cầu.
Công tác đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế có mặt chưa thật chủ động, hiệu quả chưa cao… 12
CHƯƠNG 2: SƠ LƯỢC VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
2.1. Khái niệm kinh tế tư nhân
Khái niệm kinh tế tư nhân hiện nay vẫn còn rất nhiều các quan điểm trái chiều
được đưa ra và chưa đi tới một sự thống nhất cụ thể nào. Trong bối cảnh nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc nhận thức và xác định đúng
vai trò của kinh tế tư nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng. Do đó, có thể tiếp cận khái
niệm kinh tế tư nhân theo nhiều phương diện khác nhau như sau:
Hiểu cách khái quát chung, kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc
doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài
nước, trong đó tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư. Kinh tế tư nhân là tất cả các cơ sở
sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất.
Hiểu ở cấp độ hẹp, kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở
hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất. Kinh tế tư nhân tồn tại dưới các hình thức như: doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể.
Xét về mặt kinh tế học, kinh tế tư nhân (hay khu vực tư nhân) là thành phần kinh
tế thuộc cơ cấu kinh tế của một quốc gia, được hình thành và phát triển dựa trên sự sở
hữu của tư nhân về tư liệu sản xuất cũng như lợi ích cá nhân. Đối tượng sở hữu kinh tế
tư nhân có thể là các cá nhân hoặc một nhóm người thuộc về tư nhân đứng lên. Khái
niệm kinh tế tư nhân được đưa ra nhằm phân biệt với kinh tế nhà nước, do nhà nước
làm chủ và thuộc quyền quản lý của nhà nước.
2.2. Vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân
Chặng đường gần 40 năm đổi mới đã ghi dấu một Việt Nam kiên cường, bứt phá
và khát khao phát triển. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kém hiệu quả, với
thu nhập bình quân đầu người vẻn vẹn 96 USD vào năm 1989, Việt Nam đã vươn lên
mạnh mẽ, dự kiến cuối năm 2025, sẽ bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung
bình cao, tương đương mức trên 5.000 USD/người/ năm. Kỳ tích này không chỉ là kết
quả của đường lối phát triển đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng với những cải cách
táo bạo, quyết đoán về thể chế, chính sách và hội nhập mà còn là thành quả của tinh 13
thần lao động chăm chỉ, sáng tạo, ý chí quyết tâm và sự nỗ lực không ngừng của toàn dân tộc ta.
Điều đáng tự hào hơn nữa là tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn cao
gấp đôi mức trung bình của các quốc gia đang phát triển, bất chấp những biến động
kinh tế toàn cầu. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ quốc tế, Việt
Nam đã không ngừng bứt phá mạnh mẽ để trở thành nền kinh tế lớn thứ 24 thế giới
tính theo sức mua tương đương (PPP). Những thành tựu đạt được không chỉ trong lĩnh
vực kinh tế mà còn bao gồm những tiến bộ to lớn về xã hội, góp phần mang lại đời
sống ngày càng ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân.
Thành công này có sự đóng góp rất quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân. Nếu
như trong giai đoạn đầu đổi mới, kinh tế tư nhân chỉ giữ vai trò thứ yếu, nền kinh tế
chủ yếu dựa vào khu vực nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thì trong hai thập
niên trở lại đây, nhất là khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 09 năm 2011 và Trung
ương ban hành Nghị quyết 10 năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế
này đã trỗi dậy mạnh mẽ, trở thành một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của
nền kinh tế và ngày càng thể hiện là động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế quốc gia. Với gần một triệu doanh nghiệp, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể,
khu vực kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà
nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế,
đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội.
2.2.1. Đóng góp vào GDP
Vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân trong việc đóng góp vào GDP
là vô cùng quan trọng và ngày càng gia tăng. Hiện tại, khu vực kinh tế tư nhân đóng
góp khoảng 51% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Con số này đánh
dấu sự gia tăng đáng kể trong thập kỷ qua, làm nổi bật sự tăng trưởng năng động của
khu vực này và tầm quan trọng ngày càng tăng của khu vực này trong bối cảnh kinh tế quốc gia.
Đối với những năm trước, xu hướng chung cho thấy sự gia tăng nhất quán trong
tỷ trọng GDP của khu vực tư nhân trong dài hạn. Giữa những năm 2020, kinh tế tư
nhân đóng góp vào khoảng 45% GDP theo báo cáo vào tháng 4 năm 2024. Với tình
hình hiện tại (2024 - 2025), khu vực tư nhân chiếm khoảng 51% GDP. 14
2.2.2. Hiệu quả về đầu tư tài chính
Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân thể hiện qua hiệu quả đầu
tư tài chính ngày càng tăng, đóng góp vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và tăng thu
ngân sách nhà nước. Cụ thể là:
Một là đóng góp vào GDP. Khu vực kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển
mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn vào GDP của cả nước. Từ năm 2010 đến nay, khu
vực này đóng góp trên 43% GDP. Dự kiến đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của kinh
tế tư nhân vào GDP sẽ đạt khoảng 55%.
Hai là tăng trưởng về số lượng và quy mô doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp
tư nhân thành lập mới và quy mô vốn đăng ký ngày càng tăng. Giai đoạn 2018 - 2022,
mỗi năm có hơn 130 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới, với số vốn đăng ký hàng
năm đạt trên 500 nghìn tỷ đồng. Vốn sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân
tăng từ 20.669,7 nghìn tỷ đồng năm 2018 lên 33.325,1 nghìn tỷ đồng năm 2022, tăng hơn 1,6 lần.
Ba là hiệu quả đầu tư và lợi nhuận. Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp tư
nhân có xu hướng tăng qua các năm. So với năm 2018, lợi nhuận trước thuế của khu
vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (chủ yếu là kinh tế tư nhân) đã tăng gấp 1,2 lần vào năm 2022.
Bốn là đóng góp vào thu ngân sách nhà nước. Tốc độ tăng thu ngân sách của khu
vực kinh tế tư nhân bình quân giai đoạn 2011 - 2020 đạt 13,4%/năm, cao hơn tốc độ
tăng chung của cả nước (9,9%/năm). Tỷ trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước của
khu vực này cũng ngày càng tăng, từ 13,88% năm 2016 lên 18,5% năm 2021.
Như vậy, chúng ta có thể thấy kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, không chỉ về quy mô đóng góp mà còn về hiệu quả
đầu tư tài chính. Sự năng động và khả năng thích ứng của khu vực này đã thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và đóng góp đáng kể vào ngân sách
nhà nước. Đầu tư của kinh tế tư nhân được đánh giá mang lại giá trị cao hơn so với
đầu tư công và đầu tư nước ngoài. Để phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân,
Chính phủ Việt Nam đã và đang tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó
khăn, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho khu vực này phát triển mạnh mẽ và bền
vững, trở thành động lực quan trọng hàng đầu của nền kinh tế. 15
2.2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong bài viết “Phát triển kinh tế tư nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh
vượng” vào ngày 17/3 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định, kinh tế tư nhân
không chỉ giúp mở rộng sản xuất, thương mại, dịch vụ mà còn góp phần quan trọng
trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực
cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
không chỉ làm chủ thị trường nội địa mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường
quốc tế. “Điều này chứng tỏ rằng nếu có môi trường phát triển thuận lợi, doanh nghiệp
Việt Nam hoàn toàn có thể vươn xa, cạnh tranh sòng phẳng với thế giới”.
* Nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước
Thứ nhất, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tư nhân tạo động lực cho đổi mới
sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, giảm chi phí sản xuất.
Thứ hai, các doanh nghiệp tư nhân linh hoạt hơn trong việc thích ứng với thay
đổi của thị trường, nhanh chóng nắm bắt cơ hội và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
người tiêu dùng trong nước.
Thứ ba, việc đầu tư vào công nghệ và nâng cao năng lực quản trị của các doanh
nghiệp tư nhân góp phần tăng cường năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh, làm
nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, theo một số đánh giá, mức độ
đầu tư vào công nghệ của doanh nghiệp tư nhân còn thấp, khoảng 20% doanh nghiệp
tư nhân đầu tư vào đổi mới công nghệ, cho thấy tiềm năng nâng cao năng lực cạnh tranh còn rất lớn.
* Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế
Thứ nhất, các doanh nghiệp tư nhân ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường
quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ hai, một số tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh đã hình thành và phát triển, có
khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
Thứ ba, kinh tế tư nhân đóng góp vào việc đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu,
nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của
nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã giúp họ không chỉ làm chủ thị trường nội địa
mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp
tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn còn hạn chế về năng lực công
nghệ, vốn và kỹ năng quản lý để cạnh tranh quốc tế hiệu quả. 16
Tóm lại, kinh tế tư nhân đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam, cả trong nước và quốc tế. Sự năng động, khả năng
thích ứng và tiềm năng đổi mới sáng tạo của khu vực này là động lực quan trọng cho
tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và hội nhập quốc tế. Để phát huy hơn nữa vai trò này,
cần tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tháo gỡ rào cản, hỗ trợ doanh nghiệp
tư nhân nâng cao năng lực công nghệ, quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
2.2.4. Tạo việc làm cho người lao động
Kinh tế tư nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo cơ hội việc làm
cho nền kinh tế Việt Nam. Khu vực này không chỉ đóng góp đáng kể vào GDP mà còn
là nguồn hấp thụ lao động lớn nhất, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao thu nhập
cho người dân. Cụ thể, năm 2023, kinh tế tư nhân tạo ra 8,6 triệu việc làm trực tiếp,
chiếm khoảng 85% tổng số lao động trong nền kinh tế. Tính đến tháng 8 năm 2024,
tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là hơn 672.400 người,
cho thấy sự tiếp tục tạo ra cơ hội việc làm từ khu vực này. Vào giai đoạn 2010 - 2023,
số lao động có việc làm ở khu vực tư nhân luôn cao hơn so với các khu vực kinh tế
khác. Đối với hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân sử dụng khoảng 82% tổng số lao động của nền kinh tế.
Ngoài ra, kinh tế tư nhân còn mang lại nhiều lợi ích khác như:
Một là nguồn tạo việc làm chủ yếu. Với hàng triệu doanh nghiệp hoạt động trên
cả nước, từ các hộ kinh doanh nhỏ lẻ đến các tập đoàn lớn, kinh tế tư nhân tạo ra vô số
vị trí việc làm đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau.
Kinh tế tư nhân không tập trung vào một vài lĩnh vực nhất định mà trải rộng trên
hầu hết các ngành nghề, từ nông nghiệp, công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu
dùng, đến dịch vụ, thương mại, công nghệ thông tin, du lịch... Điều này mang đến
nhiều lựa chọn việc làm phù hợp với trình độ, kỹ năng và sở thích khác nhau của người lao động.
Sự phát triển của một doanh nghiệp tư nhân không chỉ tạo ra việc làm trực tiếp
cho nhân viên của họ mà còn gián tiếp tạo ra việc làm cho các nhà cung cấp, đối tác
kinh doanh và các dịch vụ hỗ trợ khác. 17
Hai là khả năng thích ứng và linh hoạt. Các doanh nghiệp tư nhân thường có khả
năng thích ứng nhanh chóng với thay đổi của thị trường, tạo ra các ngành nghề và cơ hội việc làm mới.
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp tư nhân
luôn phải tìm kiếm những ý tưởng mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới và phương thức
kinh doanh mới. Chính sự đổi mới và sáng tạo này tạo ra những ngành nghề và cơ hội
việc làm hoàn toàn mới mà khu vực nhà nước có thể chưa tiếp cận hoặc triển khai. Ví
dụ, sự phát triển của các nền tảng thương mại điện tử, ứng dụng di động, dịch vụ trực
tuyến phần lớn đến từ sự năng động của các doanh nghiệp tư nhân.
Ba là giảm áp lực cho khu vực nhà nước. Việc kinh tế tư nhân đảm nhận phần
lớn việc tạo việc làm giúp giảm áp lực lên khu vực nhà nước trong vấn đề giải quyết
công ăn việc làm cho người dân, đồng thời giúp nhà nước tập trung hơn vào các nhiệm
vụ quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế và cung cấp các dịch vụ công thiết yếu.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đồng nghĩa với việc tăng số lượng
doanh nghiệp nộp thuế, đóng góp vào ngân sách nhà nước, từ đó có thêm nguồn lực để
đầu tư vào các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, và các chương trình an sinh xã hội.
Bốn là cải thiện thu nhập và đời sống. Việc làm do khu vực tư nhân tạo ra mang
lại thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần nâng cao mức sống và đảm bảo an
sinh xã hội. Để thu hút và giữ chân người lao động giỏi, các doanh nghiệp tư nhân
thường có xu hướng trả mức lương cạnh tranh hơn so với khu vực nhà nước (tùy thuộc
vào ngành nghề và vị trí). Điều này giúp người lao động có thu nhập ổn định và cải
thiện chất lượng cuộc sống.
Mặc dù mục tiêu chính của doanh nghiệp tư nhân là lợi nhuận, nhưng việc tạo ra
việc làm ổn định, đóng bảo hiểm xã hội và các phúc lợi khác cho người lao động cũng
góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội. Người lao động có việc làm và
thu nhập ổn định sẽ có khả năng chăm lo tốt hơn cho bản thân và gia đình, giảm bớt gánh nặng cho xã hội.
Cuối cùng là, sự phát triển của kinh tế tư nhân mang đến thị trường nhiều loại
hàng hóa và dịch vụ đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người dân, từ
đó nâng cao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần. 18
Như vậy, kinh tế tư nhân là một trụ cột quan trọng trong việc tạo ra cơ hội việc
làm cho nền kinh tế quốc dân Việt Nam. Với số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng và
khả năng hấp thụ lao động lớn, khu vực này đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo
việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. 19