09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Tính bảo đảm của luật quốc tế về quyền của người di các
nước châu Âu
Tóm tắt: Thông qua việc phân tích khung pháp của luật quốc tế, bài viết nhằm làm
những vấn đề, bất cập trong quyền của người di cư. Việc di xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau: nguyên nhân bản xuất phát từ kinh tế; nguyên nhân quan trọng khác khiến
cho phần lớn con người phải di để đảm bảo sự an toàn, bảo vệ lợi ích cho bản thân: di c
để tị nạn, tiếp theo chúng ta sẽ cùng nhau làm rõ. Như vậy, bài viết cho thấy cách
thức bảo vệ tầm quan trọng của luật quốc tế, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để bả
đảm quyền của người di trong luật quốc tế ngăn ngừa những lỗ hỏng trong việc di
các nước châu Âu.
Từ khóa: luật quốc tế, quyền của người di cư, bảo đảm quyền của người di cư, các
nước châu Âu.
Abstract:
Through an analysis of the international legal framework, this article aims to clarify the
issues and shortcomings related to the rights of migrants. Migration arises from various
causes: the fundamental cause stems from economic factors; another significant reason that
compels many people to migrate is to ensure their safety and protect their own interests
such as migration for asylum which will be further examined in the following sections.
Accordingly, the article highlights the mechanisms of protection and the importance of
international law, thereby proposing several recommendations and suggestions to safeguard
the rights of migrants under international law and to prevent loopholes in migration policies in
European countries.
Keywords: international law, rights of migrants, protection of migrants’ rights,
European countries.
1. Tìm hiểu chung về Quyền của người di
“Di cư” được hiểu sự di chuyển của con người khỏi nơi trú thông thường đến một
nơi trú mới, thể qua biên giới quốc tế hoặc trong một quốc gia. Không định nghĩa
thống nhất chung nào về “di cư” hay “người di cư”, nhưng một số định nghĩa được chấp
nhận rộng rãi đã được xây dựng trong các bối cảnh khác nhau.
Những sự kiện lớn về di dịch chuyển, gây ra nhiều khó khăn, tổn thương cũng
như thiệt hại về sinh mạng. Bên cạnh cuộc xung đột Ukraine Gaza: cuộc tấn công của
Hamas vào ngày 7 tháng 10 xung đột Gaza đã gây chấn động sâu sắc ngay cả đối với
những nhà phân tích kỳ cựu nhất cũng như những nhân viên nhân đạo nhiều năm kinh
nghiệm, hàng triệu người đã phải rời bỏ nơi trú do xung đột, hay chẳng hạn như trong
Cộng hòa Rập Syria, Yemen, Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Sudan,
Ethiopia Myanmar. Ngoài ra, còn những cuộc dịch chuyển quy lớn do thiên tai
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
thảm họa thời tiết gây ra nhiều nơi trên thế giới trong các năm 2022 2023, bao gồm tại
Pakistan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Brazil Colombia.1
Chúng ta thấy số người thiệt mạng phải di dời đã mức rất cao, trong khi công tác
ứng phó nhân đạo cùng khó khăn phức tạp. Cũng cần phải nói rằng, tình trạng gia tăng
các hoạt động tiêu cực đối với sinh thái của con người, nay lại ng trở nên nghiêm trọng hơn:
việc khai thác, sản xuất quá mức dẫn đến cạn kiệt tài nguyên sự sụp đổ của đa dạng sinh
học, cũng như biến đổi khí hậu đang diễn ra đang tiếp tục bao trùm toàn bộ thế giới. Chúng t
cũng đã chứng kiến sự gia tăng việc sử dụng vấn đề di như một công cụ chính trị trong các
hệ thống dân chủ trên toàn thế giới, đặc biệt châu Âu. Do đó, các quy định của hệ thống2
pháp luật quốc tế về quyền của người di đều xuất phát từ việc bảo vệ nhân quyền, nằm
trong các quy định về quyền con người trong luật quốc tế các công ước chuyên biệt về
người lao động di luật quốc gia của từng nước.
Đọc Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên Hợp Quốc (UDHR) ta
thể hiểu: Quyền con người quyền bẩm sinh vốn có, bình đẳng với tất cả mọi người.
không thể bị tước đoạt hay hạn chế tùy tiện bởi bất cứ ai, Nhà nước nào, không thể bị phân
chia hạn chế bất kỳ một phần hay toàn bộ các quyền con người nào.3
Qua đó, kết hợp các định nghĩa trên tác giả hiểu rằng quyền của người di những
quy định nhằm đảm bảo quyền cho con người, với những do chính đáng để bảo vệ bản thân
hay nâng cao nhu cầu cuộc sống di chuyển qua nơi trú mới (có thể trong quốc gia
hoặc ngoài quốc gia). Như vậy, quyền của người di nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đối
tượng sau đây: người lao động di trú thành viên gia đình họ, người tị nạn (do vấn đề xung
đột chiến tranh hay biến đổi khí hậu, ...).
Do đó, hệ thống pháp luật quốc tế đã những quy định, biện pháp để bảo vệ cho quyền
lợi của người di cư, tiêu biểu như Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính tr (tiếng Anh:
International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR) một công ước quốc tế
do Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16/12/1966, hiệu lực từ ngày 23/3/1976.
Công ước một phần của hệ thống Luật Nhân quyền quốc tế, cùng với Công ước Quốc tế về
các quyền Kinh tế, hội Văn hóa Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được đặt dưới sự
giám sát riêng của Ủy ban Nhân quyền, độc lập với Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.4
Điều 12 Công ước ICCPR quy định rằng:
“1. Bất cứ ai trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều quyền tự do đi lại
tự do lựa chọn nơi trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.
2. Mọi người đều quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình.
1 Marie Mcauliffe, Linda Adhiambo Oucho, “Report overview: Migration continues to be part of the
solution in a rapidly changing world, but key challenges remain”, World Migration Report, Nxb.
International Organization for Migration (IOM), 2024, tr. 1 3.
2 Marie Mcauliffe, Linda Adhiambo Oucho, , tr. 3.tlđd (1)
3 United Nations, Universal Declaration of Human Rights (UDHR),
https://www.un.org/en/about-us/universal-declaration-of-human-rights, truy cập ngày 5/10/2025.
4 Tuyên truyền phổ biến pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2022,
https://tuyentruyenphapluat.tphcm.gov.vn/index.php/citypolicy/191/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB
%9Bc-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%E1%BB%81-c%C3%A1c-quy%E1%BB%81n-d
%C3%A2n-s%E1%BB%B1-v%C3%A0-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-iccpr/, truy cập ngày
2/10/2025.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
3. Những quyền trên đây sẽ không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do
luật định cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo
đức hội hoặc các quyền tự do của người khác, phải phù hợp với những quyền khác
được Công ước này công nhận.
4. Không ai bị tước đoạt một cách tuỳ tiện quyền được trở về nước mình.”5
Điều 13 Công ước ICCPR cũng quy định: Người nước ngoài trú hợp pháp trên
lãnh thổ một quốc gia thành viên Công ước chỉ thể bị trục xuất khỏi nước đó theo quyết
định phù hợp pháp luật, trừ trường hợp yêu cầu khác xuất phát từ do chính đáng về
an ninh quốc gia; người bị trục xuất phải được phép đệ trình những lẽ phản đối việc trục
xuất, được yêu cầu nhà chức trách thẩm quyền, hoặc một người hoặc những người mà nhà
chức trách thẩm quyền đặc biệt cử ra, xem xét lại trường hợp của mình, được đại
diện khi trường hợp của mình được xem xét lại.”6
Việc quy định để bảo vệ quyền của người di đã được pháp luật quốc tế quy định
nhưng nếu pháp luật quốc tế quá bảo vệ họ, thể họ s lợi dụng những điểm mấu chốt đó đ
gây ra những thiệt hại, xung đột, bạo loạn, xâm phạm đến chủ quyền của quốc gia họ đang
trú, điều tồi tệ nhất thể dẫn đến những cuộc chiến tranh. Do đó, vẫn những quy
định Công ước không công nhận quyền của người nước ngoài được nhập cảnh hoặc trú
trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên. Về nguyên tắc, đó vấn đề thuộc thẩm quyền của
quốc gia trong việc quyết định ai sẽ được phép nhập cảnh vào lãnh thổ của mình. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp nhất định, một người nước ngoài thể được hưởng sự bảo vệ theo
Công ước ngay cả liên quan đến việc nhập cảnh hoặc trú, dụ như khi những yếu tố
liên quan đến nguyên tắc không phân biệt đối xử, cấm đối xử nhân đạo tôn trọng đời
sống gia đình. dụ Điều 25 liên quan đến các quyền chỉ áp dụng cho nhân (quyền bầu7
cử, tham gia chính trị,…), còn Điều 13 chỉ dành cho người nước ngoài (liên quan đến trục
xuất, trú).
Như vậy, trong hệ thống pháp luật quốc tế vẫn những cứng rắn, mềm dẻo nhất định
trong việc đề ra những quy định để bảo vệ quyền con người, đặc biệt quyền của người di
cư, nhưng đây chỉ những quy định chung cho người di còn những quy định cụ thể đối
với từng tình huống, chủ thể khác nhau thì pháp luật sẽ quy định như thế nào thì sau đây
chúng ta cùng nhau tìm hiểu.
2. Đối với người lao động di trú
Xuất phát từ quyền con người pháp luật quốc tế những khung pháp nhằm thúc
đẩy hội sự đối xử bình đẳng với người lao động di trú như Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO) những công cụ pháp nền tảng về vấn đề lao động di trú chúng đề cập các vấn đ
phát sinh trong toàn bộ quá trình di trú lao động, kể từ khi người lao động nước gốc, trong
quá trình làm việc nước tiếp nhận cho đến khi trở về.8
5 Điều 12, Công ước ICCPR.
6 Điều 13, Công ước ICCPR.
7 N Human Rights Committee, “CCPR General Comment No. 15: The Position of Aliens Under the
Covenant’’, (11 April 1986), p. 5, https://www.refworld.org/legal/general/hrc/1986/en/38724, truy cập
ngày 2/10/2025.
8 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Nội, Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương,
Nxb. Lao động - hội, 2011, tr. 135.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Lao động di trú theo Điều 11 Công ước số 97 (1949) của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) người di từ quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm việc làm, bao gồm bất kỳ
người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như một người di trú việc làm. Định nghĩa
này không bao hàm những lao động qua lại các vùng biên giới, nghệ người chuyên
môn hành nghề tự do đến làm việc nước khác trong thời gian ngắn các thủy thủ.
Theo khoản 1 Điều 11 Công ước s 143 (1975) của ILO quy định rằng “người lao động
di cư” nghĩa một người di chuyển hoặc đã di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác
với mục đích được tuyển dụng làm việc cho người khác (không phải làm việc cho chính
mình), bao gồm bất kỳ người nào được tiếp nhận hợp pháp với cách người lao động di
cư.9
Hay trong Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú
các thành viên gia đình họ năm 1990 (ICRMW) quy định thuật ngữ “người lao động di trú”
(Migrant Worker) để chỉ một người đã, đang sẽ làm một công việc hưởng lương tại một
quốc gia người đó không phải công dân. Theo đó, người lao động di trú thể là: nhân10
công vùng biên, nhân công theo mùa, người đi biển, nhân công làm việc tại một công trình
trên biển, nhân công lưu động, nhân công theo dự án, nhân công lao động chuyên dụng hoặc
nhân công tự chủ. Sự ra đời của ICRMW thể được xem công cụ pháp chuyên biệt
được xây dựng nhằm bảo vệ cho nhóm người lao động di trú gia định họ. Từ đó, thế giới
ngày càng nhận thức hơn, đề cao hơn quyền con người, đặc biệt những người lao động di
trú đảm bảo cho gia đình họ.
Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển của các quốc gia nói riêng thế giới nói
chung, con người xuất hiện nhiều nhu cầu học hỏi, tiếp thu kiến thức, phát triển kinh tế, văn
hóa, hội, nâng cao nhu cầu cuộc sống của bản thân,… đặc biệt trong tình hình thế giới
đang phát triển mạnh mẽ theo xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, việc lao động di ra
nước ngoài thu hút sự quan tâm của hầu hết các quốc qua trên thế giới do những ảnh hưởng
tích cực tiêu cực ngày càng rệt đối với nền kinh tế, văn hóa, chính trị, hội của các
quốc gia. Như vậy, con người đã di chuyển sang quốc gia khác để làm việc nhằm nâng cao tri
thức, tài chính, kinh nghiệm từ nước ngoài để làm việc nhằm nâng cao mức sống cho bản thân
cũng như gia đình họ, việc lao động di trú được xem như nấc thang thoát nghèo. Tuy họ
ra nước ngoài để làm việc cho người khác nhưng không nghĩa họ không quyền lợi được
đảm bảo về quyền con người.
Bởi trên thực tế, những người lao động di trú thường những người trình độ dân
trí chưa mức cao, đa số họ xuất phát từ các quốc gia kém phát triển hoăc đang phát triển, do
đó quyền lợi chính đáng của họ sẽ dễ bị bỏ qua, dễ bị tổn thương bởi nhiều tác động trong qu
trình lao động nước ngoài. dụ: lao động Việt Nam: Việt Nam nước đang phát triển, tỉ
lệ người lao động di mức khá cao, họ nước ngoài một trong những đối tượng dễ b
tổn thương, nguy cao bị lạm dụng về cả thể chất tinh thần dễ phải đối diện vớ
nhiều thách thức trong cả quá trình di đi làm việc nước ngoài. Khi làm việc tại nước
ngoài, không ít người lao động Việt Nam phải đối mặt với sự kỳ thị hội thái độ phân
9 International Labour Organisation (ILO), C143 - Migrant Workers (Supplementary Provisions)
Convention, 1975 (No. 143), Article 11, https://normlex.ilo.org/dyn/nrmlx_en/f?
p=NORMLEXPUB:12100:0::NO::P12100_INSTRUMENT_ID:312288, truy cập ngày 2/10/2025.
10 Khoản 1 Điều 2 Công ước Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú
các thành viên gia đình họ năm 1990.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
biệt đối xử với người lao động nước ngoài cũng như những khó khăn trong việc tiếp cận các
thủ tục pháp lý, thậm chí họ còn bị bóc lột, đánh đập ngược đãi, đặc biệt đối với người Việ
Nam lao động phi chính thức, hoặc do di hợp pháp nhưng lại sau khi hết hạn hợp
đồng. 11
Do đó, hệ thống pháp luật quốc tế đã những quy định, biện pháp để bảo vệ cho quyền
lợi của người di cư, tiêu biểu như Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính tr (tiếng Anh:
International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR) một công ước quốc tế
do Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16/12/1966, hiệu lực từ ngày 23/3/1976.
Công ước một phần của hệ thống Luật Nhân quyền quốc tế, cùng với Công ước Quốc tế về
các quyền Kinh tế, hội Văn hóa Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được đặt dưới sự
giám sát riêng của Ủy ban Nhân quyền, độc lập với Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc,
12
Theo Điều 5 Công ước ICRMW:
“Trong Công ước này, người lao động di trú các thành viên gia đình họ:
1. Được xem giấy tờ hoặc hợp pháp khi họ được phép vào, lại tham gia làm
một công việc được trả lương tại quốc gia nơi việc làm theo pháp luật quốc gia đó
theo những hiệp định quốc tế quốc gia đó thành viên;
2. Được xem không giấy tờ hoặc bất hợp pháp khi họ không tuân thủ theo những
điều kiện nêu trong khoản (1) điều này.”
Như vậy, theo Công ước ICRMW, không phải ai ra nước ngoài làm việc cũng được xem
người lao động di trú hợp pháp, lao động di trú gồm lao động di trú hợp pháp (có giấy tờ
lao động di trú bất hợp pháp (không giấy tờ). Đây một cách phân loại chung cho lao
động di trú, họ chỉ xác định rằng người lao động khi làm việc quốc gia khác hay không
những giấy tờ hợp pháp do cả hai phía quốc gia cung cấp. Tuy nhiên, Công ước vẫn cố
gắng lấp đầy những lổ hỏng trong các quy định để không chỉ hướng đến đảm bảo quyền lợi
của những người lao động di trú hợp pháp còn hướng tới bảo vệ quyền lợi cho cả người
lao động di trú bất hợp pháp bao quát luôn cả việc bảo vệ cho gia đình của người lao động
di trú. Tuy nhiên hạn chế về giấy tờ hợp pháp của c lao động di trú nên khuyến khích tấ
cả người di người sử dụng lao động tôn trọng tuân thủ luật pháp thủ tục do các
quốc gia liên quan thiết lập.
3. Đối với người di để tị nạn phân biệt người tị nạn với người di
Khái niệm người tị nạn đã được định nghĩa rất ràng trong Công ước về người tị nạn
năm 1951 Nghị định thư năm 1967 liên quan đến tình trạng của người tị nạn:
“Thuật ngữ “người tị nạn” sẽ được áp dụng đối với bất kỳ nhân nào:
11 Nguyễn Thị Hồng Yến, “Bảo đảm quyền của người lao động di trú hợp pháp trong pháp luật quốc tế
pháp luật Việt Nam - Thực trạng giải pháp”, Tạp chí Khoa học pháp Việt Nam, Nxb. Đại học
Luật TP. Hồ Chí Minh, số 01 (149)/2022, tr. 64.
12 Tuyên truyền phố biến pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2022,
https://tuyentruyenphapluat.tphcm.gov.vn/index.php/citypolicy/191/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB
%9Bc-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%E1%BB%81-c%C3%A1c-quy%E1%BB%81n-d
%C3%A2n-s%E1%BB%B1-v%C3%A0-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-iccpr/, truy cập ngày
2/10/2025.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 của Liên Hợp Quốc đã ghi nhận như sau
“Do kết quả của các sự kiện xảy ra trước ngày 01/01/1951, do sự sợ hãi sở sự bị
ngược đãi những do chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, hoặc do thành viên của một nhóm
hội cụ thể nào đó, hay vì quan điểm chính trị, đang ngoài đất nước người đó quốc
tịch không thể, hoặc, do sự sợ hãi như vậy, không muốn tiếp nhận sự bảo vệ của quốc gia
đó; hoặc người không quốc tịch đang sống ngoài quốc gia trước đó họ đã từng
trú do kết quả của những sự kiện đó không thể, hoặc do sự sợ hãi, không muốn trở lại
quốc gia đó”.13
Sau đó, đến năm 1967 Nghị định thư về vị thế của người tị nạn đã bản khẳng định lại
khái niệm trên đã xóa bỏ giới hạn về địa lý, thời gian trong Công ước về vị thế của người
nạn ban đầu. Theo đó, không chỉ những người châu Âu tham gia vào các sự kiện xảy ra trước
ngày 01 tháng 01 năm 1951 mới thể nộp đơn xin quy chế tị nạn dành cho tất c14
mọi người.15
Trong khái niệm trên, ta cần xác định các thuật ngữ để được xem đủ điều kiện để
được công nhận người tị nạn:
Thứ nhất, “sự sợ hãi sở chính đáng” được hiểu trạng thái mang tính chủ quan
của nhân người tị nạn kết hợp với hoàn cảnh khách quan, làm sở cho quyết định công
nhận tị nạn. Tức để được công nhận người tị nạn phải chứng minh được bản thân bị16
đe dọa nghiêm trọng về nhiều mặt dẫn đến sự sợ hãi được biểu hiện qua lời nói, hành động,
cách xử của họ đối với nỗi sợ đó cần phải xét đến hoàn cảnh khách quan thực tế hàn
động, hoàn cảnh đó đến mức gây ra sự s hãi được cho sở chính đáng hay không
Chẳng hạn, một nhà báo phê phán chính quyền trên mạng hội, sau đó nhận được đe dọa bị
bắt giam hay tra tấn, sau đó người này chạy ra nước ngoài xin tị nạn. Trạng thái chủ quan:
xem xét bằng chứng người này bị đe dọa, hoạt động chính trị công khai xem xét
nước này nhiều trường hợp xảy ra hay không. Hoàn cảnh khách quan: xem xét nước này
nhiều trường hợp xảy ra hay không.
Thứ hai, “sự ngược đãi” chưa khái niệm chính thức nhưng từ Điều 33 của Công ước
về vị thế của người tị nạn năm 1951, thể suy ra rằng những mối đe dọa đến tính mạng hoặ
quyền tự do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị hoặc cách thành viên của
một nhóm hội cụ thể luôn dẫn tới sự ngược đãi. Không quốc gia nào quyền gửi trả17
người tị nạn về nơi cuộc sống của họ thể bị đe dọa, bất kể quốc gia đó đã Công ướ
Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn hay chưa.18
13 Điều 1.A.2 Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951.
14 Khoản 2 Điều 1 Nghị định thư về vị thế của người tị nạn năm 1967 quy định: “Trong phạm vi Nghị
định thư này, thuật ngữ “người tị nạn”, trừ trường hợp áp dụng khoản 3 của điều này, sẽ nghĩa
bất cứ người nào thuộc khái niệm tại Điều 1 của Công ước, trong đó bỏ đi cụm từ “là nạn nhân của
những cuộc xung đột diễn ra trước ngày 01/01/1951...” “là nạn nhân của những cuộc xung đột
như vậy... trong Điều 1A(2) của Công ước ”.
15 Trường Đại học Luật Đại học Huế, “Pháp luật quốc tế một số quốc gia về tiếp nhận người tị nạn
- Một số gợi mở cho Việt Nam”, , số 53/2022, tr. 85. Tạp chí pháp luật thực tiễn
16 UNHCR, Handbook on Procedures and Criteria for Determining Refugee Status and Guidelines on
International Protection Under the 1951 Convention and the 1967 Protocol Relating to the Status of
Refugees, Geneva, 2019, tr. 19.
17 UNHCR, , tr. 19.tlđd (15)
18 Biên dịch Phạm Hồng Anh, “5 hiểu lầm về người tị nạn người di cư”, liệu học thuật chuyên
ngành Nghiên cứu quốc tế, (Nguồn: Jill Goldenziel, “Five myths about refugees and migrants”, The
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Như vậy, thể thấy rằng người tị nạn cũng đối ợng dễ bị tổn thương được pháp
luật quốc tế bảo vệ quyền lợi bằng những Điều ước hay quy định khác đặc thù, không giống
với người di cư. Tuy nhiên, vẫn nhiều trường hợp nhầm lẫn giữa người tị nạn người di
dẫn đến việc xác định sai đối tượng, không đảm bảo được quyền lợi tối đa họ sẽ được
nhận trên thực tế. Do đó, cần phải xác định phân biệt bản chất của người tị nạn ngườ
di để bảo đảm quyền lợi hai đối tượng này sẽ được nhận một cách đúng đắn, chính xác.
Dựa vào các đặc điểm đã được phân tích về hai nhóm người này thì ta phân biệt rằng:
người di di chuyển sang một quốc gia khác để làm việc nhằm phát triển kinh tế, cải thiện
cuộc sống cho bản thân cho gia đình họ. Họ sự chuẩn bị càng trước khi muốn qua
quốc gia khác để làm việc: chuẩn bị tiền bạc, đồ đạc, chia tay gia đình, người thân, tìm kiếm
chỗ ở, tìm hiểu nhu cầu, hội việc làm của mình bên quốc gia khác, học trước ngôn ngữ của
quốc gia đó, …và đặc biệt họ thể tự do trở về quê hương của mình bất cứ khi nào nếu h
nhớ nhà, nhớ gia đình được quan làm việc cho phép xin nghỉ. Còn người tị nạn thì họ b
buộc phải rời khỏi quốc gia của mình để tị nạn qua quốc gia khác do an toàn chứ không
phải do kinh tế, khi họ nguy bị đe dọa dẫn đến sự sợ hãi sở chính đáng
nguy cơ, đã hoặc đang bị ngược đãi, phù hợp với những điều kiện của người tị nạn. Người tị
nạn phải bắt buộc rời khỏi quốc gia để tị nạn, thậm chí họ còn chưa được thông báo trước
không thời gian để chuẩn bị những thứ thiết yếu cho bản thân, nhiều người còn phải bỏ lại
gia đình hay bị lạc gia đình của mình, đặc biệt họ không thể trở lại đất nước của họ nếu nh
đất nước đó chưa sự ổn định.
Như vậy, chúng ta cần phải hiểu biết, nhận thức càng, phân biệt ràng người di
người tị nạn để áp dụng những khung pháp quốc tế phù hợp với từng đối tượng bởi
quyền lợi các đối tượng vẫn những sự khác nhau về điều kiện được công nhận người
di hay người tị nạn, hoàn cảnh hai đối tượng cũng khác nhau: người di từ quốc gia
mình (không những mối đe dọa như quốc gia của người tị nạn) với mục đích nâng cao chất
lượng cuộc sống, phát triển kinh tế di sang quốc gia khác phát triển hơn; còn người tị
nạn thì xuất phát từ quốc gia mình (có những mối đe dọa khả năng ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền lợi về thể xác lẫn tinh thần của họ: xung đột, chiến tranh, trú chính trị,…)
sau đó tị nạn đến quốc gia khác an toàn hơn.
4. Thực trạng tiếp nhận người di châu Âu
4.1. Chính sách pháp luật về quyền của người di tại châu Âu
Theo Liên Hợp Quốc, ước tính số lượng người di quốc tế trên toàn thế giới 304
triệu người vào năm 2024. Con số này tăng so với mức 275 triệu người vào năm 2020. 19
Châu Âu được xem hệ thống bảo đảm nhân quyền tiên tiến nhất trên thế giới. Theo
Điều 3 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950 (European Convention on Human
Rights: ECHR) do Hội đồng châu Âu (Council of Europe) thông qua, quy định: “Không ai
bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt nhân đạo hoặc hạ nhục.” bảo đảm các quyền khác20
Washington Post, 25/09/2015),
https://nghiencuuquocte.org/2016/01/27/nam-hieu-lam-ve-nguoi-ti-nan-va-nguoi-di-cu/, truy cập ngày
2/10/2025.
19 Migration data portal, “International Migrant Population”,
https://www.migrationdataportal.org/themes/international-migrant-stocks-overview, truy cập ngày
2/10/2025.
20 Điều 3 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
của con người như quyền được sống , quyền tự do an toàn nhân , quyền được xét xử21 22
công bằng ,…23
Đối với các nước thành viên EU (Liên minh châu Âu), quyền của người di còn được
bảo đảm bởi luật của Liên minh châu Âu, gồm: Hiến chương về các quyền bản của Liên
minh châu Âu (EU Charter of Fundamental Rights, 2000): Quy định quyền bất khả xâm phạm
về nhân phẩm, quyền tị nạn, quyền không bị trục xuất tập thể không bị trả về nơi nguy
bị tra tấn hoặc đối xử nhân đạo (Điều 18, 19). Hệ thống tị nạn chung châu Âu (Common
European Asylum System CEAS), bao gồm: Quy định Dublin III (2013) xác định quốc gia
EU chịu trách nhiệm đảm bảo việc tiếp cần một cách nhanh chóng với các đơn xin tị nạn
xem xét đơn xin tị nạn. Quy định EURODAC (thiết lập sở dữ liệu tập trung của Liên minh
châu Âu về dấu vân tay của người xin tị nạn được sử dụng để hỗ trợ xác định quốc gi
thành viên nào chịu trách nhiệm kiểm tra yêu cầu của người xin tị nạn theo hệ thống Dublin).
Chỉ thị về điều kiện tiếp nhận người xin tị nạn (Reception Conditions Directive, 2013/33/EU)
- bảo đảm tiêu chuẩn sống tối thiểu, chăm sóc y tế, giáo dục hỗ trợ pháp lý. Chỉ th về Th
tục tị nạn (Asylum Procedures Directive, 2013/32/EU) - quy định trình tự, thủ tục xem xét
đơn xin tị nạn một cách công bằng, nhanh chóng, hiệu quả. Chỉ thị về Đủ điều kiện tị nạn
(Qualification Directive, 2011/95/EU) - xác định ai được công nhận người tị nạn hoặc
người cần bảo vệ quốc tế bằng việc đưa ra các tiêu chí cho người nộp đơn đủ điều kiện để
được hưởng các quy chế do chỉ thị quy định hay không, bao gồm giấy phép trú, giấy thông
hành, tiếp cần việc làm, phúc lợi hội, tiếp cận giáo dục,…Cơ quan Liên minh châu Âu về tị
nạn (EU Asylum Agency (EUAA) trước đây gọi European Asylum Support Office
(EASO)) góp phần cải thiện hoạt động thực hiện các quy định trong Hệ thống tị nạn chung
châu Âu (CEAS). CEAS nhấn mạnh trách nhiệm chung trong việc xử hồ xin bảo vệ
quốc tế một cách tôn trọng, đảm bảo đối xử công bằng các thủ tục tương tự trong quá trình
xem xét hồ sơ, bất kể quốc gia nơi đơn được nộp. 24
Từ năm 2010 đến năm 2024, Đức, Pháp, Ý Tây Ban Nha đều sự gia tăng ổn định
về dân số nhập cư, trong đó sự tăng trưởng của Đức đặc biệt rệt bắt đầu từ năm 2016. Dân
số nhập của Đức tăng từ khoảng 11 triệu vào năm 2015 lên 17,4 triệu vào năm 2024 (hoặc
từ 13,4% lên 20,9% dân số). Tây Ban Nha chứng kiến sự gia tăng gần 3 triệu người nhập cư,
từ 5,9 triệu lên 8,8 triệu trong cùng kỳ (từ 12,7% lên 18,2% dân số thường trú), trong khi
Pháp Ý mức tăng trưởng khiêm tốn hơn. Tất cả các quốc gia EU khác cộng lại đã chứng
kiến sự gia tăng khoảng 6 triệu người nhập trong giai đoạn 2015 đến năm 2024, một con số
tương đương với riêng nước Đức.25
Những hình ảnh bi kịch của dòng người tị nạn người di tuyệt vọng kiếm tìm sự an
toàn tại Châu Âu đã gây chấn động toàn thế giới. Châu lục này đang phải đối mặt với cuộc
khủng hoảng di dân tồi tệ nhất kể từ Thế Chiến II. Cách ứng phó của Châu Âu lại không đạt
được sự nhất quán: các chính sách thay đổi gần như hàng ngày; người dân di chuyển liên tục
21 Điều 2 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950.
22 Điều 5 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950.
23 Điều 6 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950.
24 EASO Asylum Report 2020, Annual Report on the Situation of Asylum in the European Union, tr.
24.
25 Rockwool Foundation Berlin, “The Immigrant Population in the European Union”, 2025,
https://www.rfberlin.com/immigrant-population-eu/, truy cập ngày 2/10/2025.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
qua các biên giới trong khi các chính khách kêu gào đổ lỗi; mặc nhiều người đã được
cứu sống, hàng nghìn người khác lại bị chết chìm Địa Trung Hải.
4.2. Vấn đề bất cập trong hệ thống pháp luật châu Âu về quyền của người di
Thứ nhất sự không thống nhất giữa quy định thực thi. Mặc các quốc gia châu
Âu đều đã kết phê chuẩn Công ước 1951 về người tị nạn, Hiến chương EU về các
quyền bản, cũng như các chỉ thị trong Hệ thống tị nạn chung châu Âu (CEAS), nhưng việc
thực thi giữa các nước thành viên vẫn thiếu thống nhất: Một số nước áp dụng nghiêm ngặt
quy định về kiểm soát biên giới (như Hungary, Ba Lan, Hy Lạp), dẫn đến vi phạm nguyên tắc
“non-refoulement” tức không được trục xuất người tị nạn về nơi họ thể bị nguy hiểm.
Trong khi đó, các nước như Đức, Thụy Điển, Pháp lại mở rộng chính sách tiếp nhận, tạo ra sự
chênh lệch tạo áp lực di cho chính mình. Điều này cho thấy thiếu chế ràng buộc
mạnh mẽ trong việc phân bổ trách nhiệm giữa các quốc gia thành viên EU. Ngoài ra, ta thấy
việc thiếu chế xử thống nhất trong khủng hoảng di trong các tình huống khẩn cấp
(như chiến tranh Ukraine, Syria, Gaza), EU thường phản ứng chậm, thiếu chế chia sẻ
người tị nạn minh bạch thiếu chế thường trực để ứng phó nhân đạo, đảm bảo cung cấp
kịp thời cho người tị nạn. Điều này chứng tỏ rằng EU vẫn thiếu một chính sách di chung
thực sự, về mặt pháp đã CEAS.
Thứ hai, chế “Dublin” gây quá tải cho các quốc gia biên giới. Theo Quy định Dublin
III (2013), quốc gia đầu tiên người di đặt chân đến phải chịu trách nhiệm xem xét đơn
xin tị nạn. Điều này dẫn đến gánh nặng không công bằng cho các quốc gia biên giới như Hy
Lạp, Ý, Tây Ban Nha nơi tiếp nhận lượng người tị nạn khổng lồ qua Địa Trung Hải. Trong
khi các quốc gia phía Bắc (Đức, Lan, Thụy Điển) thụ hưởng lợi ích từ chế kiểm soát
biên giới chung, nhưng lại không chia sẻ công bằng trách nhiệm tiếp nhận. Quy định này bị
cho thiếu tính nhân đạo không phản ánh thực tế phân bố dân kinh tế trong EU.
Thứ ba, thiếu bảo vệ đối với người di không giấy tờ hợp pháp. Người di không
giấy tờ (irregular migrants) nhóm dễ bị tổn thương nhất, nhưng lại ít được luật khu vực
bảo vệ đầy đủ: Họ không được hưởng các quyền kinh tế hội bản như chăm sóc y tế
giáo dục, việc làm. Nhiều quốc gia EU giam giữ hành chính kéo dài những người di không
giấy tờ, thậm chí trục xuất tập thể, trái với Điều 4 Nghị định thư số 4 của ECHR. Các trại t
nạn hoặc trung tâm tạm giữ tại biên giới (đặc biệt Hy Lạp Libya EU hợp tác ngoài biên
giới) thường không đảm bảo điều kiện nhân đạo, bị Liên Hợp Quốc các tổ chức nhân
quyền chỉ trích.
Thứ tư, gia tăng xu hướng “an ninh hóa” vấn đề di cư. Từ sau khủng hoảng tị nạn năm
2015, nhiều quốc gia EU đã gắn vấn đề di với an ninh quốc gia chống khủng bố, dẫn
đến: siết chặt chính sách nhập (đặc biệt Ba Lan, Hungary, Đan Mạch); gia tăng các hàng
rào biên giới công nghệ giám sát, làm cản trở quyền xin tị nạn. Từ đó làm suy giảm tinh
thần nhân đạo đoàn kết vốn nền tảng của EU. Đây biểu hiện ràng của xung đột giữ
giá trị nhân quyền lợi ích chính trị nội bộ. Thậm chí, nhiều chính phủ chịu sức ép phải siết
chặt chính sách di để tranh thủ cử tri, dẫn đến việc vi phạm nghĩa vụ quốc tế về nhân
quyền.
Thứ năm, khó khăn trong việc bảo đảm quyền tái hòa nhập đoàn tụ gia đình. Mặc
EU quy định về quyền đoàn tụ gia đình, hỗ trợ tái hòa nhập nhưng thủ tục hành chính phức
tạp kéo dài khiến nhiều gia đình bị chia cắt. Người tị nạn sau khi được công nhận vẫn gặp
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
khó khăn trong tiếp cận việc làm, nhà học tập, đặc biệt tại các nước tỷ lệ thấ
nghiệp cao.
5. Những thuận lợi bất cập nói chung về việc tiếp nhận người di trên thế giới
5.1. Vấn đề bất cập đối với các nước tiếp nhận người di cư nói chung
Về kinh tế: số lượng người lao động di trú vào các quốc gia, đặc biệt các quốc gia
nền kinh tế phát triển cao đang ngày càng tăng cao do nhu cầu kinh tế, đòi hỏi mức sống con
người cũng phải ngày càng chạy đua với thị trường trên thế giới. Đặc biệt, khi hội hiện nay
đang ngày càng phát triển những thành tựu khoa học thuật, ứng dụng AI ngày càng nhiều
vào thị trường lao động. Từ đó, không chỉ gây ra tính cạnh tranh cao, thiếu hụt cho các nguồn
nhân công lao động của quốc gia sở tại còn gây ra sự chen chút, ngợp thở trong sự cạnh
tranh tìm kiếm việc làm của những người lao động di từ những quốc gia khác. Trên thực
tế, thị trường lao động đang ngày càng khắt khe, sa thải nhân viên ngày càng nhiều bởi không
đủ chi phí để chi trả tiền lương cho người lao động hoặc cắt giảm lương của người lao động.
Bởi vậy, ngoài những quy định trong khung pháp quốc tế nhiều nước sẽ những quy
định riêng về quyền của người di để kịp thời kiểm soát được nền kinh tế, thị trường lao
động trong quốc gia của họ, từ đó họ khai thác những nguồn lao động từ quốc gia khác đến
một cách hiệu quả.
Về giáo dục: Năm năm trước, Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn (UNHCR) đã
khởi động Chiến ợc Giáo dục Người tị nạn 2030, vậy nhưng tính đến tháng 4 năm 2024,
hơn 120 triệu người trên toàn cầu đã phải di dời, bao gồm 31,6 triệu người tị nạn. Trong số
này, 14,8 triệu người đang trong độ tuổi đi học - ước tính 49% trong số đó không được đến
trường. Điều này nghĩa 7,2 triệu trẻ em tị nạn đang bỏ lỡ hội học tập. Đặc biệt
trẻ em thanh thiếu niên nằm trong những vùng trọng điểm của việc xung đột, chiến tranh
như Ukraine trong khi 700.000 trẻ em thanh thiếu niên tị nạn từ Ukraine bắt đầu năm học
thứ xa nhà, hơn 600.000 thanh thiếu niên trong độ tuổi đi học vẫn chưa được đến trường.
Mặc đã những tiến bộ đáng kể trong việc tuyển sinh vào hệ thống giáo dục quốc gia của
nước sở tại, tỷ lệ tuyển sinh chung của trẻ em thanh thiếu niên tị nạn vẫn thấp hơn nhiều so
với tỷ lệ tuyển sinh trung bình của dân số trong độ tuổi đi học tại hầu hết c nước sở tại.2
Như vậy, cho thấy khi một nước tiếp nhận người tị nạn thì bắt buộc phải đối mặt với vấn đ
quá tải trong việc cung cấp một hệ thống giáo dục toàn diện cho người tị nạn đồng thời
cũng phải đảm bảo cho việc giáo dục cho người dân trong nước vẫn được vận hành hiệu quả.
Nếu quốc gia tiếp nhận người tị nạn không kịp thời đảm bảo nhu cầu giáo dục cho họ thì họ
dễ dẫn đến việc lầm đường lạc lối, rơi vào các tệ nạn hội. Do đó, việc cung cấp một h
thống giáo dục chặt chẽ, đảm bảo, an toàn những vấn đề nan giải không chỉ quốc gia
tiếp nhận cần giải quyết phải cần sự phối hợp với các quốc gia khác sự giúp đỡ,
trợ của pháp luật quốc tế để từ đó bảo đảm cung cấp nhu cầu thiết yếu về vật chất lẫn tinh
thần cho người tị nạn, đặc biệt trẻ em thanh thiếu niên.
Về sức khỏe: Trách nhiệm đầu tiên của nước tiếp nhận người tị nạn phải việc phòng
ngừa các nguồn bệnh truyền nhiễm lây lan qua lại giữa người dân trong nước với người tị nạn.
Việc này chắc chắn sẽ một áp lực đè nặng lên hệ thống y tế của quốc gia tiếp nhận. Do đó
26 USA for UNHCR, “Five Takeaways from UNHCR's 2024 Education Report”, 2024,
https://www.unrefugees.org/news/five-takeaways-from-unhcrs-2024-education-report/, truy cập ngày
2/10/2025.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
chính phủ nước tiếp nhận cần phải sự chuẩn bị sẵn sàng về vật lực cả sức lực, đưa ra
những biện pháp ngăn chặn, khắc phục những tình huống bất cập, gia tăng đột ngột thể xảy
ra trong quá trình tiếp nhận những người tị nạn.
Về văn hóa hội an ninh: Khi người tị nạn được quốc gia tiếp nhận, bằng mắt
thường cũng thể thấy đã sự khác nhau về tôn giáo, sắc tộc, phong tục tập quán giữa
người dân bản địa người tị nạn. Chắc chắn rằng, trong quá trình tiếp thu, tìm hiểu những
điều mới sẽ chạm đến những giới hạn về đời sống tinh thần khác nhau giữa họ, gây ra những
mâu thuẫn, xung đột không thể tránh khỏi giữa đôi bên. Những xung đột này những vấn đề
nhạy cảm khiến cho nhiều quốc gia trên thế giới những cái nhìn khắt khe hơn trong việc
tiếp nhận người di cư.
Theo UNHCR, cuộc nội chiến tại Syria nguyên nhân làm bùng phát cuộc khủng
hoảng di tại châu Âu trầm trọng nhất kể từ những năm 90 thế kỷ XX khi hơn một nửa số
người di tỵ nạn đến từ Syria. Thủ tướng Hungary Viktor Orban đã viết rằng đất nước
mình phải “bảo vệ biên giới” khỏi những người “lớn lên trong một tôn giáo khác, đại diện
cho một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt.” Mặc những lời của ông khá cực đoan, chúng
phản ánh tình trạng phản đối người Hồi giáo phản đối dân nhập tại châu Âu. Theo một
nghiên cứu năm 2014 của tổ chức nghiên cứu Pew, 63% người Ý, 50% người Ba Lan, 53%
người Hy Lạp, 33% người Đức, 27% người Pháp 26% người Anh phản đối người Hồi giáo.
Trong khi đó, Hungary Bulgary đóng cửa biên giới bằng việc xây tường hàng rào;
Estonia, Macedonia Ukraina cũng kế hoạch tương tự.27
Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại các khu vực cửa khẩu biên giới hệ
thống đầu mối giao thông. nhiều người lợi dụng kẻ hở của việc di để thực hiện các
hành vi xấu xa, trục lợi, gây phương hại đến quyền lợi ích hợp pháp của người di
người dân nước sở tại: dụ như nạn buôn người, buôn bán chất cấm, Tuy nhiên, các nước
cũng những biện pháp để ngăn chặn, kiểm tra càng, nghiêm ngặt các cửa khẩu để hạn
chế hết mức thể trong việc không để các đối tượng xấu xa lợi dụng kẻ hở này để trục lợi
Như vậy, chính phủ của quốc gia đó cần phải xây dựng, củng cố hệ thống an ninh cho vững
chắc, nghiêm ngặt, kỷ luật để giải quyết các vấn đề khi người tị nạn được tiếp nhận, đồng thời
đòi hỏi chính phủ phải chính sách hòa nhập, tuyên truyền hỗ trợ cộng đồng để giảm
xung đột.
5.2. Những thuận lợi đối với các nước tiếp nhận người di nước đưa người di
ra nước ngoài.
5.2.1. Đối với nước tiếp nhận người di
Về kinh tế: việc tiếp nhận người lao động di của các quốc gia tỉ lệ dân số già
cao đang tăng mạnh. Bởi người di giúp đắp sự thiếu hụt nguồn nhân lực do dân số
già hóa, đặc biệt trong các lĩnh vực như: xây dựng, chăm sóc, nông nghiệp, công nghiệp,
Một số người di trình độ cao còn mang lại chất xám sáng tạo (kỹ sư, bác sĩ, chuyên
gia công nghệ), từ đó người di góp phần giúp gia tăng năng suất duy trì tăng trưởng
kinh tế.
dụ: tại Đức, với tiềm lực kinh tế lớn nhất châu Âu, Đức luôn cần người lao động
nhập cư, nguồn lực vốn đã vận hành nền kinh tế nước này kể từ những năm 1960. Theo kết
27 Biên dịch Phạm Hồng Anh, tlđd (17).
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
quả thống kê, tính đến tháng 7/2015, Đức còn khuyết 589.000 vị trí lao động vẫn chưa được
lấp đầy. Do đó, việc tiếp nhận lượng lớn dân nhập từ Trung Đông, tuy đem đến mối nguy
tiềm tàng cho hội, nhưng trước mắt sẽ phần nào giải quyết được nạn khan hiếm lao động
tại Đức.28
Ngoài ra, người di còn phải đóng thuế, chi trả cho các khoản tiền để tiêu dùng, thuê
nhà, sử dụng dịch vụ, …Từ đó, kích thích phát triển kinh tế cho thị trường nội địa của quốc
gia đó. Theo World Migration Report (IOM, 2024), người di đóng góp hơn 9% GDP toàn
cầu. Cụ thể như tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu cho thấy từ năm 1990 đến năm 2014, mỗi người
tị nạn được tái định khiến chính phủ tiêu tốn 15.000 đô la khiến những người đóng thuế lo
lắng, họ sợ rằng việc tiếp nhận người tị nạn sẽ gánh nặng cho nền kinh tế đất nước của họ
Tuy nhiên, sau khi những người tị nạn Mỹ được 20 năm, họ đã phải trả trung bình 21.000
đô la tiền thuế so với chi phí chính phủ phải trả, điều này cho thấy lợi ích kinh tế tổng th
liên quan đến việc tái định cho người tị nạn.29
Về văn hóa: Di giúp mở rộng giao lưu văn hóa, ngôn ngữ, ẩm thực, phong tục giữa
các quốc gia với nhau, thúc đẩy đổi mới hội tinh thần khoan dung, hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, người di còn tạo ra cầu nối giữa các nước về nhiều mặt: mua bán hàng hóa, dịch
vụ, các nghề thủ công, công nghiệp nhẹ,…
5.2.2. Đối với nước đưa người di ra nước ngoài (nước xuất cư)
Về kinh tế: Kiều hối lợi ích kinh tế rệt nhất. Kiều hối được hiểu việc gửi tiền từ
một người hoặc một nhóm người này sang một người hoặc một nhóm người khác thường
dùng để chỉ việc gửi tiền về cho gia đình một quốc gia khác. dụ, một người sống làm
việc tại Hoa Kỳ thể gửi tiền về cho gia đình một quốc gia nghèo hơn, nơi kiều hối th
đóng góp một nguồn hỗ trợ tài chính đáng kể. Người lao động di trú nước ngoài gửi tiền30
về giúp gia đình thúc đẩy tiêu dùng, đầu trong nước. Theo World Bank (2023), kiều hối
toàn cầu đạt hơn 650 tỷ USD, trong đó các nước đang phát triển chiếm phần lớn. dụ:
Philippines, Ấn Độ, Việt Nam, Bangladesh… lượng kiều hối cao, góp phần ổn định tỷ giá
giảm nghèo. Lấy dụ cụ thể tại Việt Nam: thống đầu năm 2024, lượng kiều hối chuyển
về Thành phố Hồ Chí Minh qua các tổ chức tín dụng tổ chức kinh tế chiếm khoảng 60%
tổng lượng kiều hối của cả nước, đạt 9,6 tỷ USD, tăng 140 triệu USD so với năm trước, giá
USD trong nước biến động liên tục, tăng hơn 5% lúc lên 7%.31
Tổng quan: Người di học hỏi kỹ năng, công nghệ, quản nước ngoài, chuyển giao
tri thức khi trở về. Họ thể trở thành doanh nhân hoặc chuyên gia đóng góp cho sự phát
triển quê hương. Cộng đồng người di tạo ra mạng lưới kiều bào ngoại giao nhân dân,
giúp nước xuất mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư, văn hóa. Đây được coi nguồn “sức
mạnh mềm” quan trọng trong thời kỳ toàn cầu hóa. các nước đông dân, di giúp giảm thất
28 Trường Cao Đẳng Cảnh sát Nhân dân, 2015,
https://cdcsnd1.bocongan.gov.vn/home/tin-tuc-su-kien/tin-quoc-te/duc-phan-cuc-vi-mo-cua-giup-
nguoi-di-cu-1651, truy cập ngày 2/10/2025.
29 William N. Evans Daniel Fitzgerald, “The economic and social outcomes of refugees in the
United States: evidence from the ACS”, National Bureau of Economic Research, 2017, tr. 7 33.
30 Investopedia, “Remittance: What It Is and How to Send One”, 2025,
https://www.investopedia.com/terms/r/remittance.asp, truy cập ngày 2/10/2025.
31 Bảo Ngọc, “16 tỷ USD kiều hối chuyển về Việt Nam năm 2024”, , 2024,Tạp chí Kinh tế tài chính
https://tapchikinhtetaichinh.vn/16-ty-usd-kieu-hoi-chuyen-ve-viet-nam-nam-2024.html, truy cập ngày
2/10/2025.
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
nghiệp đói nghèo trong ngắn hạn. Đồng thời giảm bớt gánh nặng an sinh hội khu vực
nông thôn.
6. Kết luận kiến nghị
Hệ thống pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của người di hiện nay được xây dựng
khá toàn diện, phản ánh sự tiến bộ trong nhận thức của cộng đồng quốc tế về nhân quyền
di toàn cầu. Các văn kiện nền tảng như Công ước năm 1951 về quy chế người tị nạn, Nghị
định thư năm 1967, Công ước quốc tế năm 1990 về quyền của tất cả người lao động di
các thành viên gia đình họ, cùng với Công ước Nhân quyền châu Âu (ECHR), Công ước
ICCPR, ICESCR các tuyên ngôn, hiến chương khu vực, đã thiết lập những chuẩn mực
pháp quan trọng trong việc bảo vệ phẩm giá, an toàn quyền bình đẳng của con người,
bất kể quốc tịch hay tình trạng pháp lý. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận,
hệ thống này vẫn bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt khoảng cách giữa quy định pháp luật
thực tiễn áp dụng.
Trên thực tế, việc thực thi các quy định về quyền của người di còn thiếu thống nhất
giữa các quốc gia. Một số nước chưa nội luật hóa đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế hoặc áp dụng
không đồng đều, dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử, giam giữ hành chính kéo dài hạn chế
quyền xin tị nạn. nhiều nơi, vấn đề di bị “an ninh hóa”, khi các chính phủ xem người d
mối đe dọa an ninh thay đối tượng cần được bảo vệ. Hơn nữa, các chế giám s
chế tài quốc tế còn thiếu hiệu lực, phần lớn dựa trên thiện chí của quốc gia thành viên
không biện pháp cưỡng chế ràng. Tình hình chính trị - kinh tế bất ổn, cùng với xung đột,
khủng hoảng nhân đạo biến đổi khí hậu, càng khiến quyền của người di dễ bị tổn
thương.
Để tăng cường tính bảo đảm thực chất, cần thực hiện một số kiến nghị trọng tâm. Thứ
nhất, cần tăng cường hiệu lực ràng buộc pháp của các điều ước quốc tế thông qua chế
báo cáo định kỳ quan giám sát độc lập tương tự như Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp
Quốc. Thứ hai, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế chia sẻ trách nhiệm, đặc biệt trong khu vực
châu Âu, nhằm bảo đảm phân bổ công bằng người tị nạn nguồn lực tiếp nhận. Thứ ba, các
quốc gia phải bảo đảm quyền tiếp cận công lý, giáo dục, y tế, nhà việc làm cho người d
cư, bao gồm cả người không giấy tờ hợp pháp, đồng thời bảo vệ họ khỏi bóc lột, kỳ thị
bạo lực. Thứ tư, cần thúc đẩy truyền thông giáo dục nhân quyền, giảm thiểu các định kiến
hội, phân biệt chủng tộc, tôn giáo.
Như vậy, thể khẳng định rằng, hệ thống pháp luật quốc tế về quyền của người di
đã tạo dựng nền tảng pháp tiến bộ, nhưng để đạt được tính bảo đảm thực chất, cộng
đồng quốc tế cần chuyển từ các cam kết, quy định trong các khung pháp dựa trên thuyết
sang hành động pháp cụ thể, tăng cường trách nhiệm, đoàn kết nhân đạo, nhằm hướng
tới một trật tự pháp quốc tế công bằng, nhân văn bền vững hơn.
Tài liệu tham khảo
[1] Marie Mcauliffe, Linda Adhiambo Oucho, “Report overview: Migration continues to be part of the solution
in a rapidly changing world, but key challenges remain”, World Migration Report, Nxb. International
Organization for Migration (IOM), 2024
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
[2] United Nations, Universal Declaration of Human Rights (UDHR), https://www.un.org/en/about-us/universal-
declaration-of-human-rights
[3] Tuyên truyền phổ biến pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2022,
https://tuyentruyenphapluat.tphcm.gov.vn/index.php/citypolicy/191/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB%9Bc-qu
%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%E1%BB%81-c%C3%A1c-quy%E1%BB%81n-d%C3%A2n-s%E1%BB
%B1-v%C3%A0-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-iccpr/
[4] Công ước ICCPR.
[5] N Human Rights Committee, “CCPR General Comment No. 15: The Position of Aliens Under the
Covenant’’, (11 April 1986), p. 5, https://www.refworld.org/legal/general/hrc/1986/en/38724
[6] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Nội, , Nxb. LaoLuật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương
động - hội, 2011
[7] International Labour Organisation (ILO), C143 - Migrant Workers (Supplementary Provisions) Convention,
1975 (No. 143), Article 11, https://normlex.ilo.org/dyn/nrmlx_en/f?
p=NORMLEXPUB:12100:0::NO::P12100_INSTRUMENT_ID:312288
[8] Công ước Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú các thành viên gia
đình họ năm 1990
[9] Nguyễn Thị Hồng Yến, “Bảo đảm quyền của người lao động di trú hợp pháp trong pháp luật quốc tế pháp
luật Việt Nam - Thực trạng giải pháp”, Tạp chí Khoa học pháp Việt Nam, Nxb. Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh, số 01 (149)/2022
[10] Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951
[11] Nghị định thư về vị thế của người tị nạn năm 1967
[12] Trường Đại học Luật Đại học Huế, “Pháp luật quốc tế một số quốc gia về tiếp nhận người tị nạn - Một
số gợi mở cho Việt Nam”, , số 53/2022 Tạp chí pháp luật thực tiễn
[13] UNHCR, Handbook on Procedures and Criteria for Determining Refugee Status and Guidelines on
International Protection Under the 1951 Convention and the 1967 Protocol Relating to the Status of Refugees,
Geneva, 2019
[14] Biên dịch Phạm Hồng Anh, “5 hiểu lầm về người tị nạn người di cư”, liệu học thuật chuyên ngành
Nghiên cứu quốc tế The Washington Post, (Nguồn: Jill Goldenziel, “Five myths about refugees and migrants”, ,
25/09/2015), https://nghiencuuquocte.org/2016/01/27/nam-hieu-lam-ve-nguoi-ti-nan-va-nguoi-di-cu/
[15] Migration data portal, “International
Migrant Population”, https://www.migrationdataportal.org/themes/international-migrant-stocks-overview
[16] Công ước Châu Âu về Nhân quyền năm 1950
[17] EASO Asylum Report 2020, Annual Report on the Situation of Asylum in the European Union
[18] Rockwool Foundation Berlin, “The Immigrant Population in the European Union”, 2025,
https://www.rfberlin.com/immigrant-population-eu/
[19] USA for UNHCR, “Five Takeaways from UNHCR's 2024 Education Report”, 2024,
https://www.unrefugees.org/news/five-takeaways-from-unhcrs-2024-education-report/
[20] Trường Cao Đẳng Cảnh sát Nhân dân, 2015, https://cdcsnd1.bocongan.gov.vn/home/tin-tuc-su-kien/tin-
quoc-te/duc-phan-cuc-vi-mo-cua-giup-nguoi-di-cu-1651
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
[21] William N. Evans Daniel Fitzgerald, “The economic and social outcomes of refugees in the United
States: evidence from the ACS”, National Bureau of Economic Research, 2017
[22] Investopedia, “Remittance: What It Is and How to Send One”, 2025,
https://www.investopedia.com/terms/r/remittance.asp
[23] Bảo Ngọc, “16 tỷ USD kiều hối chuyển về Việt Nam năm 2024”, , 2024,Tạp chí Kinh tế tài chính
https://tapchikinhtetaichinh.vn/16-ty-usd-kieu-hoi-chuyen-ve-viet-nam-nam-2024.html
09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu

Preview text:

09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Tính bảo đảm của luật quốc tế về quyền của người di các
nước châu Âu
Tóm tắt: Thông qua việc phân tích khung pháp lý của luật quốc tế, bài viết nhằm làm
rõ những vấn đề, bất cập trong quyền của người di cư. Việc di cư xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau: nguyên nhân cơ bản xuất phát từ kinh tế; nguyên nhân quan trọng khác khiến
cho phần lớn con người phải di cư để đảm bảo sự an toàn, bảo vệ lợi ích cho bản thân: di c
để tị nạn, … mà tiếp theo chúng ta sẽ cùng nhau làm rõ. Như vậy, bài viết cho thấy rõ cách
thức bảo vệ và tầm quan trọng của luật quốc tế, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để bả
đảm quyền của người di cư trong luật quốc tế và ngăn ngừa những lỗ hỏng trong việc di cư ở các nước châu Âu.
Từ khóa: luật quốc tế, quyền của người di cư, bảo đảm quyền của người di cư, các nước châu Âu. Abstract:
Through an analysis of the international legal framework, this article aims to clarify the
issues and shortcomings related to the rights of migrants. Migration arises from various
causes: the fundamental cause stems from economic factors; another significant reason that
compels many people to migrate is to ensure their safety and protect their own interests —
such as migration for asylum — which will be further examined in the following sections.
Accordingly, the article highlights the mechanisms of protection and the importance of
international law, thereby proposing several recommendations and suggestions to safeguard
the rights of migrants under international law and to prevent loopholes in migration policies in European countries.
Keywords: international law, rights of migrants, protection of migrants’ rights, European countries.
1. Tìm hiểu chung về Quyền của người di
“Di cư” được hiểu là sự di chuyển của con người khỏi nơi cư trú thông thường đến một
nơi cư trú mới, có thể là qua biên giới quốc tế hoặc trong một quốc gia. Không có định nghĩa
thống nhất chung nào về “di cư” hay “người di cư”, nhưng có một số định nghĩa được chấp
nhận rộng rãi đã được xây dựng trong các bối cảnh khác nhau.
Những sự kiện lớn về di cư và dịch chuyển, gây ra nhiều khó khăn, tổn thương cũng
như thiệt hại về sinh mạng. Bên cạnh cuộc xung đột ở Ukraine và Gaza: cuộc tấn công của
Hamas vào ngày 7 tháng 10 và xung đột ở Gaza đã gây chấn động sâu sắc ngay cả đối với
những nhà phân tích kỳ cựu nhất cũng như những nhân viên nhân đạo có nhiều năm kinh
nghiệm, hàng triệu người đã phải rời bỏ nơi cư trú do xung đột, hay chẳng hạn như trong
Cộng hòa Ả Rập Syria, Yemen, Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Sudan,
Ethiopia và Myanmar. Ngoài ra, còn có những cuộc dịch chuyển quy mô lớn do thiên tai và 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
thảm họa thời tiết gây ra ở nhiều nơi trên thế giới trong các năm 2022 và 2023, bao gồm tại
Pakistan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Brazil và Colombia.1
Chúng ta thấy số người thiệt mạng và phải di dời đã ở mức rất cao, trong khi công tác
ứng phó nhân đạo vô cùng khó khăn và phức tạp. Cũng cần phải nói rằng, tình trạng gia tăng
các hoạt động tiêu cực đối với sinh thái của con người, nay lại càng trở nên nghiêm trọng hơn:
việc khai thác, sản xuất quá mức dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và sự sụp đổ của đa dạng sinh
học, cũng như biến đổi khí hậu đang diễn ra đang tiếp tục bao trùm toàn bộ thế giới. Chúng t
cũng đã chứng kiến sự gia tăng việc sử dụng vấn đề di cư như một công cụ chính trị trong các
hệ thống dân chủ trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Âu.
2 Do đó, các quy định của hệ thống
pháp luật quốc tế về quyền của người di cư đều xuất phát từ việc bảo vệ nhân quyền, nằm
trong các quy định về quyền con người trong luật quốc tế và các công ước chuyên biệt về
người lao động di cư và luật quốc gia của từng nước.
Đọc Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên Hợp Quốc (UDHR) ta
có thể hiểu: Quyền con người là quyền bẩm sinh vốn có, bình đẳng với tất cả mọi người. Nó
không thể bị tước đoạt hay hạn chế tùy tiện bởi bất cứ ai, Nhà nước nào, nó không thể bị phân
chia và hạn chế bất kỳ một phần hay toàn bộ các quyền con người nào.3
Qua đó, kết hợp các định nghĩa trên tác giả có hiểu rằng quyền của người di cư là những
quy định nhằm đảm bảo quyền cho con người, với những lý do chính đáng để bảo vệ bản thân
hay nâng cao nhu cầu cuộc sống mà di chuyển qua nơi cư trú mới (có thể là trong quốc gia
hoặc ngoài quốc gia). Như vậy, quyền của người di cư nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đối
tượng sau đây: người lao động di trú và thành viên gia đình họ, người tị nạn (do vấn đề xung
đột chiến tranh hay biến đổi khí hậu, ...).
Do đó, hệ thống pháp luật quốc tế đã có những quy định, biện pháp để bảo vệ cho quyền
lợi của người di cư, tiêu biểu như Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (tiếng Anh:
International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR) là một công ước quốc tế
do Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976.
Công ước là một phần của hệ thống Luật Nhân quyền quốc tế, cùng với Công ước Quốc tế về
các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được đặt dưới sự
giám sát riêng của Ủy ban Nhân quyền, độc lập với Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc.4
Điều 12 Công ước ICCPR quy định rằng:
“1. Bất cứ ai trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều quyền tự do đi lại
tự do lựa chọn nơi trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.
2. Mọi người đều quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình.
1 Marie Mcauliffe, Linda Adhiambo Oucho, “Report overview: Migration continues to be part of the
solution in a rapidly changing world, but key challenges remain”, World Migration Report, Nxb.
International Organization for Migration (IOM), 2024, tr. 1 – 3.
2 Marie Mcauliffe, Linda Adhiambo Oucho, tlđd (1), tr. 3.
3 United Nations, Universal Declaration of Human Rights (UDHR),
https://www.un.org/en/about-us/universal-declaration-of-human-rights, truy cập ngày 5/10/2025.
4 Tuyên truyền phổ biến pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2022,
https://tuyentruyenphapluat.tphcm.gov.vn/index.php/citypolicy/191/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB
%9Bc-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%E1%BB%81-c%C3%A1c-quy%E1%BB%81n-d
%C3%A2n-s%E1%BB%B1-v%C3%A0-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-iccpr/, truy cập ngày 2/10/2025. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
3. Những quyền trên đây sẽ không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do
luật định cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo
đức hội hoặc các quyền tự do của người khác, phải phù hợp với những quyền khác
được Công ước này công nhận.
4. Không ai bị tước đoạt một cách tuỳ tiện quyền được trở về nước mình.”5
Điều 13 Công ước ICCPR cũng quy định: “Người nước ngoài trú hợp pháp trên
lãnh thổ một quốc gia thành viên Công ước chỉ thể bị trục xuất khỏi nước đó theo quyết
định phù hợp pháp luật, trừ trường hợp yêu cầu khác xuất phát từ do chính đáng về
an ninh quốc gia; người bị trục xuất phải được phép đệ trình những lẽ phản đối việc trục
xuất, được yêu cầu nhà chức trách thẩm quyền, hoặc một người hoặc những người nhà
chức trách thẩm quyền đặc biệt cử ra, xem xét lại trường hợp của mình, được đại
diện khi trường hợp của mình được xem xét lại.”6
Việc quy định để bảo vệ quyền của người di cư đã được pháp luật quốc tế quy định rõ
nhưng nếu pháp luật quốc tế quá bảo vệ họ, có thể họ sẽ lợi dụng những điểm mấu chốt đó đ
gây ra những thiệt hại, xung đột, bạo loạn, xâm phạm đến chủ quyền của quốc gia mà họ đang
cư trú, điều tồi tệ nhất là có thể dẫn đến những cuộc chiến tranh. Do đó, vẫn có những quy
định Công ước không công nhận quyền của người nước ngoài được nhập cảnh hoặc cư trú
trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên. Về nguyên tắc, đó là vấn đề thuộc thẩm quyền của
quốc gia trong việc quyết định ai sẽ được phép nhập cảnh vào lãnh thổ của mình. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp nhất định, một người nước ngoài có thể được hưởng sự bảo vệ theo
Công ước ngay cả liên quan đến việc nhập cảnh hoặc cư trú, ví dụ như khi có những yếu tố
liên quan đến nguyên tắc không phân biệt đối xử, cấm đối xử vô nhân đạo và tôn trọng đời sống gia đình.
7 Ví dụ Điều 25 liên quan đến các quyền chỉ áp dụng cho cá nhân (quyền bầu
cử, tham gia chính trị,…), còn Điều 13 chỉ dành cho người nước ngoài (liên quan đến trục xuất, cư trú).
Như vậy, trong hệ thống pháp luật quốc tế vẫn có những cứng rắn, mềm dẻo nhất định
trong việc đề ra những quy định để bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người di
cư, nhưng đây chỉ là những quy định chung cho người di cư còn những quy định cụ thể đối
với từng tình huống, chủ thể khác nhau thì pháp luật sẽ quy định như thế nào thì sau đây
chúng ta cùng nhau tìm hiểu.
2. Đối với người lao động di trú
Xuất phát từ quyền con người mà pháp luật quốc tế có những khung pháp lý nhằm thúc
đẩy cơ hội và sự đối xử bình đẳng với người lao động di trú như Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO) là những công cụ pháp lý nền tảng về vấn đề lao động di trú vì chúng đề cập các vấn đ
phát sinh trong toàn bộ quá trình di trú lao động, kể từ khi người lao động ở nước gốc, trong
quá trình làm việc ở nước tiếp nhận cho đến khi trở về.8
5 Điều 12, Công ước ICCPR.
6 Điều 13, Công ước ICCPR.
7 N Human Rights Committee, “CCPR General Comment No. 15: The Position of Aliens Under the
Covenant’’, (11 April 1986), p. 5, https://www.refworld.org/legal/general/hrc/1986/en/38724, truy cập ngày 2/10/2025.
8 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương,
Nxb. Lao động - xã hội, 2011, tr. 135. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Lao động di trú theo Điều 11 Công ước số 97 (1949) của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) là người di cư từ quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm việc làm, bao gồm bất kỳ
người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như là một người di trú vì việc làm. Định nghĩa
này không bao hàm những lao động qua lại ở các vùng biên giới, nghệ sĩ và người có chuyên
môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn và các thủy thủ.
Theo khoản 1 Điều 11 Công ước số 143 (1975) của ILO quy định rằng “người lao động
di cư” có nghĩa là một người di chuyển hoặc đã di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác
với mục đích được tuyển dụng làm việc cho người khác (không phải làm việc cho chính
mình), và bao gồm bất kỳ người nào được tiếp nhận hợp pháp với tư cách là người lao động di cư.9
Hay trong Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và
các thành viên gia đình họ năm 1990 (ICRMW) quy định thuật ngữ “người lao động di trú”
(Migrant Worker) để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một
quốc gia mà người đó không phải là công dân.
10 Theo đó, người lao động di trú có thể là: nhân
công vùng biên, nhân công theo mùa, người đi biển, nhân công làm việc tại một công trình
trên biển, nhân công lưu động, nhân công theo dự án, nhân công lao động chuyên dụng hoặc
nhân công tự chủ. Sự ra đời của ICRMW có thể được xem là công cụ pháp lý chuyên biệt
được xây dựng nhằm bảo vệ cho nhóm người lao động di trú và gia định họ. Từ đó, thế giới
ngày càng nhận thức rõ hơn, đề cao hơn quyền con người, đặc biệt là những người lao động di
trú và đảm bảo cho gia đình họ.
Trong suốt tiến trình lịch sử và phát triển của các quốc gia nói riêng và thế giới nói
chung, con người xuất hiện nhiều nhu cầu học hỏi, tiếp thu kiến thức, phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, nâng cao nhu cầu cuộc sống của bản thân,… đặc biệt là trong tình hình thế giới
đang phát triển mạnh mẽ theo xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, việc lao động di cư ra
nước ngoài thu hút sự quan tâm của hầu hết các quốc qua trên thế giới do những ảnh hưởng
tích cực và tiêu cực ngày càng rõ rệt đối với nền kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của các
quốc gia. Như vậy, con người đã di chuyển sang quốc gia khác để làm việc nhằm nâng cao tri
thức, tài chính, kinh nghiệm từ nước ngoài để làm việc nhằm nâng cao mức sống cho bản thân
và cũng như gia đình họ, việc lao động di trú được xem như là nấc thang thoát nghèo. Tuy họ
ra nước ngoài để làm việc cho người khác nhưng không có nghĩa họ không có quyền lợi được
đảm bảo về quyền con người.
Bởi vì trên thực tế, những người lao động di trú thường là những người có trình độ dân
trí chưa ở mức cao, đa số họ xuất phát từ các quốc gia kém phát triển hoăc đang phát triển, do
đó quyền lợi chính đáng của họ sẽ dễ bị bỏ qua, dễ bị tổn thương bởi nhiều tác động trong qu
trình lao động ở nước ngoài. Ví dụ: lao động Việt Nam: Việt Nam là nước đang phát triển, tỉ
lệ người lao động di cư ở mức khá cao, họ ở nước ngoài là một trong những đối tượng dễ b
tổn thương, có nguy cơ cao bị lạm dụng về cả thể chất và tinh thần và dễ phải đối diện vớ
nhiều thách thức trong cả quá trình di cư đi làm việc ở nước ngoài. Khi làm việc tại nước
ngoài, không ít người lao động Việt Nam phải đối mặt với sự kỳ thị xã hội và thái độ phân
9 International Labour Organisation (ILO), C143 - Migrant Workers (Supplementary Provisions)
Convention, 1975 (No. 143), Article 11, https://normlex.ilo.org/dyn/nrmlx_en/f?
p=NORMLEXPUB:12100:0::NO::P12100_INSTRUMENT_ID:312288, truy cập ngày 2/10/2025.
10 Khoản 1 Điều 2 Công ước Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú
và các thành viên gia đình họ năm 1990. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
biệt đối xử với người lao động nước ngoài cũng như những khó khăn trong việc tiếp cận các
thủ tục pháp lý, thậm chí họ còn bị bóc lột, đánh đập và ngược đãi, đặc biệt đối với người Việ
Nam là lao động phi chính thức, hoặc do di cư hợp pháp nhưng ở lại sau khi hết hạn hợp đồng. 11
Do đó, hệ thống pháp luật quốc tế đã có những quy định, biện pháp để bảo vệ cho quyền
lợi của người di cư, tiêu biểu như Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (tiếng Anh:
International Covenant on Civil and Political Rights, viết tắt: ICCPR) là một công ước quốc tế
do Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976.
Công ước là một phần của hệ thống Luật Nhân quyền quốc tế, cùng với Công ước Quốc tế về
các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền được đặt dưới sự
giám sát riêng của Ủy ban Nhân quyền, độc lập với Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, …12
Theo Điều 5 Công ước ICRMW:
“Trong Công ước này, người lao động di trú các thành viên gia đình họ:
1. Được xem giấy tờ hoặc hợp pháp khi họ được phép vào, lại tham gia làm
một công việc được trả lương tại quốc gia nơi việc làm theo pháp luật quốc gia đó
theo những hiệp định quốc tế quốc gia đó thành viên;
2. Được xem không giấy tờ hoặc bất hợp pháp khi họ không tuân thủ theo những
điều kiện nêu trong khoản (1) điều này.”
Như vậy, theo Công ước ICRMW, không phải ai ra nước ngoài làm việc cũng được xem
là người lao động di trú hợp pháp, lao động di trú gồm lao động di trú hợp pháp (có giấy tờ
và lao động di trú bất hợp pháp (không có giấy tờ). Đây là một cách phân loại chung cho lao
động di trú, họ chỉ xác định rằng người lao động khi làm việc ở quốc gia khác có hay không
có những giấy tờ hợp pháp do cả hai phía quốc gia cung cấp. Tuy nhiên, Công ước vẫn cố
gắng lấp đầy những lổ hỏng trong các quy định để không chỉ hướng đến đảm bảo quyền lợi
của những người lao động di trú hợp pháp mà còn hướng tới bảo vệ quyền lợi cho cả người
lao động di trú bất hợp pháp và bao quát luôn cả việc bảo vệ cho gia đình của người lao động
di trú. Tuy nhiên vì hạn chế về giấy tờ hợp pháp của các lao động di trú nên khuyến khích tấ
cả người di cư và người sử dụng lao động tôn trọng và tuân thủ luật pháp và thủ tục do các
quốc gia liên quan thiết lập.
3. Đối với người di để tị nạn phân biệt người tị nạn với người di
Khái niệm người tị nạn đã được định nghĩa rất rõ ràng trong Công ước về người tị nạn
năm 1951 và Nghị định thư năm 1967 liên quan đến tình trạng của người tị nạn:
“Thuật ngữ “người tị nạn” sẽ được áp dụng đối với bất kỳ nhân nào:
11 Nguyễn Thị Hồng Yến, “Bảo đảm quyền của người lao động di trú hợp pháp trong pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Khoa học pháp Việt Nam, Nxb. Đại học
Luật TP. Hồ Chí Minh, số 01 (149)/2022, tr. 64.
12 Tuyên truyền phố biến pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2022,
https://tuyentruyenphapluat.tphcm.gov.vn/index.php/citypolicy/191/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB
%9Bc-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%E1%BB%81-c%C3%A1c-quy%E1%BB%81n-d
%C3%A2n-s%E1%BB%B1-v%C3%A0-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-iccpr/, truy cập ngày 2/10/2025. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 của Liên Hợp Quốc đã ghi nhận như sau
“Do kết quả của các sự kiện xảy ra trước ngày 01/01/1951, do sự sợ hãi sở sự bị
ngược đãi những do chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, hoặc do thành viên của một nhóm
hội cụ thể nào đó, hay quan điểm chính trị, đang ngoài đất nước người đó quốc
tịch không thể, hoặc, do sự sợ hãi như vậy, không muốn tiếp nhận sự bảo vệ của quốc gia
đó; hoặc người không quốc tịch đang sống ngoài quốc gia trước đó họ đã từng
trú do kết quả của những sự kiện đó không thể, hoặc do sự sợ hãi, không muốn trở lại
quốc gia đó”.13
Sau đó, đến năm 1967 Nghị định thư về vị thế của người tị nạn đã cơ bản khẳng định lại
khái niệm trên và đã xóa bỏ giới hạn về địa lý, thời gian trong Công ước về vị thế của người
nạn ban đầu. Theo đó, không chỉ những người châu Âu tham gia vào các sự kiện xảy ra trước ngày 01 tháng 01 năm 1951
14 mới có thể nộp đơn xin quy chế tị nạn mà nó dành cho tất cả mọi người.15
Trong khái niệm trên, ta cần xác định rõ các thuật ngữ để được xem là đủ điều kiện để
được công nhận là người tị nạn:
Thứ nhất, “sự sợ hãi có cơ sở chính đáng” được hiểu là trạng thái mang tính chủ quan
của cá nhân người tị nạn kết hợp với hoàn cảnh khách quan, làm cơ sở cho quyết định công nhận tị nạn.
16 Tức là để được công nhận là người tị nạn là phải chứng minh được bản thân bị
đe dọa nghiêm trọng về nhiều mặt dẫn đến sự sợ hãi được biểu hiện qua lời nói, hành động,
cách cư xử của họ đối với nỗi sợ đó và cần phải xét đến hoàn cảnh khách quan thực tế là hàn
động, hoàn cảnh đó có đến mức gây ra sự sợ hãi được cho là có cơ sở chính đáng hay không
Chẳng hạn, một nhà báo phê phán chính quyền trên mạng xã hội, sau đó nhận được đe dọa bị
bắt giam hay tra tấn, sau đó người này chạy ra nước ngoài xin tị nạn. Trạng thái chủ quan:
xem xét có bằng chứng người này bị đe dọa, có hoạt động chính trị công khai và xem xét ở
nước này có nhiều trường hợp xảy ra hay không. Hoàn cảnh khách quan: xem xét ở nước này
có nhiều trường hợp xảy ra hay không.
Thứ hai, “sự ngược đãi” chưa có khái niệm chính thức nhưng từ Điều 33 của Công ước
về vị thế của người tị nạn năm 1951, có thể suy ra rằng những mối đe dọa đến tính mạng hoặ
quyền tự do vì chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị hoặc tư cách thành viên của
một nhóm xã hội cụ thể luôn dẫn tới sự ngược đãi.17 Không quốc gia nào có quyền gửi trả
người tị nạn về nơi cuộc sống của họ có thể bị đe dọa, bất kể quốc gia đó đã ký Công ướ
Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn hay chưa.18
13 Điều 1.A.2 Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951.
14 Khoản 2 Điều 1 Nghị định thư về vị thế của người tị nạn năm 1967 quy định: “Trong phạm vi Nghị
định thư này, thuật ngữ “người tị nạn”, trừ trường hợp áp dụng khoản 3 của điều này, sẽ nghĩa
bất cứ người nào thuộc khái niệm tại Điều 1 của Công ước, trong đó bỏ đi cụm từ “là nạn nhân của
những cuộc xung đột diễn ra trước ngày 01/01/1951...” “là nạn nhân của những cuộc xung đột
như vậy...” trong Điều 1A(2) của Công ước”.
15 Trường Đại học Luật – Đại học Huế, “Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về tiếp nhận người tị nạn
- Một số gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí pháp luật thực tiễn, số 53/2022, tr. 85.
16 UNHCR, Handbook on Procedures and Criteria for Determining Refugee Status and Guidelines on
International Protection Under the 1951 Convention and the 1967 Protocol Relating to the Status of
Refugees, Geneva, 2019, tr. 19.
17 UNHCR, tlđd (15), tr. 19.
18 Biên dịch Phạm Hồng Anh, “5 hiểu lầm về người tị nạn và người di cư”, Tư liệu học thuật chuyên
ngành Nghiên cứu quốc tế, (Nguồn: Jill Goldenziel, “Five myths about refugees and migrants”, The 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
Như vậy, có thể thấy rằng người tị nạn cũng là đối tượng dễ bị tổn thương và được pháp
luật quốc tế bảo vệ quyền lợi bằng những Điều ước hay quy định khác đặc thù, không giống
với người di cư. Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp nhầm lẫn giữa người tị nạn và người di
cư dẫn đến việc xác định sai đối tượng, không đảm bảo được quyền lợi tối đa mà họ sẽ được
nhận trên thực tế. Do đó, cần phải xác định và phân biệt rõ bản chất của người tị nạn và ngườ
di cư để bảo đảm quyền lợi mà hai đối tượng này sẽ được nhận một cách đúng đắn, chính xác.
Dựa vào các đặc điểm đã được phân tích về hai nhóm người này thì ta phân biệt rằng:
người di cư di chuyển sang một quốc gia khác để làm việc nhằm phát triển kinh tế, cải thiện
cuộc sống cho bản thân và cho gia đình họ. Họ có sự chuẩn bị kĩ càng trước khi muốn qua
quốc gia khác để làm việc: chuẩn bị tiền bạc, đồ đạc, chia tay gia đình, người thân, tìm kiếm
chỗ ở, tìm hiểu nhu cầu, cơ hội việc làm của mình bên quốc gia khác, học trước ngôn ngữ của
quốc gia đó, …và đặc biệt họ có thể tự do trở về quê hương của mình bất cứ khi nào nếu h
nhớ nhà, nhớ gia đình và được cơ quan làm việc cho phép xin nghỉ. Còn người tị nạn thì họ b
buộc phải rời khỏi quốc gia của mình để tị nạn qua quốc gia khác vì lý do an toàn chứ không
phải lý do kinh tế, khi họ có nguy cơ bị đe dọa dẫn đến sự sợ hãi có cơ sở chính đáng và
nguy cơ, đã hoặc đang bị ngược đãi, phù hợp với những điều kiện của người tị nạn. Người tị
nạn phải bắt buộc rời khỏi quốc gia để tị nạn, thậm chí họ còn chưa được thông báo trước và
không có thời gian để chuẩn bị những thứ thiết yếu cho bản thân, nhiều người còn phải bỏ lại
gia đình hay bị lạc gia đình của mình, đặc biệt là họ không thể trở lại đất nước của họ nếu nh
đất nước đó chưa có sự ổn định.
Như vậy, chúng ta cần phải hiểu biết, nhận thức kĩ càng, phân biệt rõ ràng người di cư
và người tị nạn để áp dụng những khung pháp lý quốc tế phù hợp với từng đối tượng bởi
quyền lợi mà các đối tượng vẫn có những sự khác nhau về điều kiện được công nhận là người
di cư hay người tị nạn, hoàn cảnh ở hai đối tượng cũng khác nhau: người di cư từ quốc gia
mình (không có những mối đe dọa như quốc gia của người tị nạn) với mục đích nâng cao chất
lượng cuộc sống, phát triển kinh tế mà di cư sang quốc gia khác phát triển hơn; còn người tị
nạn thì xuất phát từ quốc gia mình (có những mối đe dọa có khả năng ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền lợi về thể xác lẫn tinh thần của họ: xung đột, chiến tranh, cư trú chính trị,…)
sau đó tị nạn đến quốc gia khác an toàn hơn.
4. Thực trạng tiếp nhận người di châu Âu
4.1. Chính sách pháp luật về quyền của người di tại châu Âu
Theo Liên Hợp Quốc, ước tính số lượng người di cư quốc tế trên toàn thế giới là 304
triệu người vào năm 2024. Con số này tăng so với mức 275 triệu người vào năm 2020. 19
Châu Âu được xem là có hệ thống bảo đảm nhân quyền tiên tiến nhất trên thế giới. Theo
Điều 3 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950 (European Convention on Human
Rights: ECHR) – do Hội đồng châu Âu (Council of Europe) thông qua, quy định: “Không ai
bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt vô nhân đạo hoặc hạ nhục.”
20 và bảo đảm các quyền khác
Washington Post, 25/09/2015),
https://nghiencuuquocte.org/2016/01/27/nam-hieu-lam-ve-nguoi-ti-nan-va-nguoi-di-cu/, truy cập ngày 2/10/2025.
19 Migration data portal, “International Migrant Population”,
https://www.migrationdataportal.org/themes/international-migrant-stocks-overview, truy cập ngày 2/10/2025.
20 Điều 3 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
của con người như quyền được sống ,
21 quyền tự do và an toàn cá nhân , 22 quyền được xét xử công bằng ,… 23
Đối với các nước thành viên EU (Liên minh châu Âu), quyền của người di cư còn được
bảo đảm bởi luật của Liên minh châu Âu, gồm: Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên
minh châu Âu (EU Charter of Fundamental Rights, 2000): Quy định quyền bất khả xâm phạm
về nhân phẩm, quyền tị nạn, quyền không bị trục xuất tập thể và không bị trả về nơi có nguy
cơ bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo (Điều 18, 19). Hệ thống tị nạn chung châu Âu (Common
European Asylum System – CEAS), bao gồm: Quy định Dublin III (2013) xác định quốc gia
EU chịu trách nhiệm đảm bảo việc tiếp cần một cách nhanh chóng với các đơn xin tị nạn và
xem xét đơn xin tị nạn. Quy định EURODAC (thiết lập cơ sở dữ liệu tập trung của Liên minh
châu Âu về dấu vân tay của người xin tị nạn và được sử dụng để hỗ trợ xác định quốc gi
thành viên nào chịu trách nhiệm kiểm tra yêu cầu của người xin tị nạn theo hệ thống Dublin).
Chỉ thị về điều kiện tiếp nhận người xin tị nạn (Reception Conditions Directive, 2013/33/EU)
- bảo đảm tiêu chuẩn sống tối thiểu, chăm sóc y tế, giáo dục và hỗ trợ pháp lý. Chỉ thị về Th
tục tị nạn (Asylum Procedures Directive, 2013/32/EU) - quy định trình tự, thủ tục xem xét
đơn xin tị nạn một cách công bằng, nhanh chóng, hiệu quả. Chỉ thị về Đủ điều kiện tị nạn
(Qualification Directive, 2011/95/EU) - xác định ai được công nhận là người tị nạn hoặc
người cần bảo vệ quốc tế bằng việc đưa ra các tiêu chí cho người nộp đơn đủ điều kiện để
được hưởng các quy chế do chỉ thị quy định hay không, bao gồm giấy phép cư trú, giấy thông
hành, tiếp cần việc làm, phúc lợi xã hội, tiếp cận giáo dục,…Cơ quan Liên minh châu Âu về tị
nạn (EU Asylum Agency (EUAA) – trước đây gọi là European Asylum Support Office
(EASO)) góp phần cải thiện hoạt động và thực hiện các quy định trong Hệ thống tị nạn chung
châu Âu (CEAS). CEAS nhấn mạnh trách nhiệm chung trong việc xử lý hồ sơ xin bảo vệ
quốc tế một cách tôn trọng, đảm bảo đối xử công bằng và các thủ tục tương tự trong quá trình
xem xét hồ sơ, bất kể quốc gia nơi đơn được nộp. 24
Từ năm 2010 đến năm 2024, Đức, Pháp, Ý và Tây Ban Nha đều có sự gia tăng ổn định
về dân số nhập cư, trong đó sự tăng trưởng của Đức đặc biệt rõ rệt bắt đầu từ năm 2016. Dân
số nhập cư của Đức tăng từ khoảng 11 triệu vào năm 2015 lên 17,4 triệu vào năm 2024 (hoặc
từ 13,4% lên 20,9% dân số). Tây Ban Nha chứng kiến sự gia tăng gần 3 triệu người nhập cư,
từ 5,9 triệu lên 8,8 triệu trong cùng kỳ (từ 12,7% lên 18,2% dân số thường trú), trong khi
Pháp và Ý có mức tăng trưởng khiêm tốn hơn. Tất cả các quốc gia EU khác cộng lại đã chứng
kiến sự gia tăng khoảng 6 triệu người nhập cư trong giai đoạn 2015 đến năm 2024, một con số
tương đương với riêng nước Đức.25
Những hình ảnh bi kịch của dòng người tị nạn và người di cư tuyệt vọng kiếm tìm sự an
toàn tại Châu Âu đã gây chấn động toàn thế giới. Châu lục này đang phải đối mặt với cuộc
khủng hoảng di dân tồi tệ nhất kể từ Thế Chiến II. Cách ứng phó của Châu Âu lại không đạt
được sự nhất quán: các chính sách thay đổi gần như hàng ngày; người dân di chuyển liên tục
21 Điều 2 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950.
22 Điều 5 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950.
23 Điều 6 Công ước châu Âu về Nhân quyền năm 1950.
24 EASO Asylum Report 2020, Annual Report on the Situation of Asylum in the European Union, tr. 24.
25 Rockwool Foundation Berlin, “The Immigrant Population in the European Union”, 2025,
https://www.rfberlin.com/immigrant-population-eu/, truy cập ngày 2/10/2025. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
qua các biên giới trong khi các chính khách kêu gào đổ lỗi; và mặc dù nhiều người đã được
cứu sống, hàng nghìn người khác lại bị chết chìm ở Địa Trung Hải.
4.2. Vấn đề bất cập trong hệ thống pháp luật châu Âu về quyền của người di
Thứ nhất là sự không thống nhất giữa quy định và thực thi. Mặc dù các quốc gia châu
Âu đều đã ký kết và phê chuẩn Công ước 1951 về người tị nạn, Hiến chương EU về các
quyền cơ bản, cũng như các chỉ thị trong Hệ thống tị nạn chung châu Âu (CEAS), nhưng việc
thực thi giữa các nước thành viên vẫn thiếu thống nhất: Một số nước áp dụng nghiêm ngặt
quy định về kiểm soát biên giới (như Hungary, Ba Lan, Hy Lạp), dẫn đến vi phạm nguyên tắc
“non-refoulement” tức là không được trục xuất người tị nạn về nơi họ có thể bị nguy hiểm.
Trong khi đó, các nước như Đức, Thụy Điển, Pháp lại mở rộng chính sách tiếp nhận, tạo ra sự
chênh lệch và tạo áp lực di cư cho chính mình. Điều này cho thấy thiếu cơ chế ràng buộc
mạnh mẽ trong việc phân bổ trách nhiệm giữa các quốc gia thành viên EU. Ngoài ra, ta thấy
rõ việc thiếu cơ chế xử lý thống nhất trong khủng hoảng di cư trong các tình huống khẩn cấp
(như chiến tranh Ukraine, Syria, Gaza), EU thường phản ứng chậm, thiếu cơ chế chia sẻ
người tị nạn minh bạch và thiếu cơ chế thường trực để ứng phó nhân đạo, đảm bảo cung cấp
kịp thời cho người tị nạn. Điều này chứng tỏ rằng EU vẫn thiếu một chính sách di cư chung
thực sự, dù về mặt pháp lý đã có CEAS.
Thứ hai, cơ chế “Dublin” gây quá tải cho các quốc gia biên giới. Theo Quy định Dublin
III (2013), quốc gia đầu tiên mà người di cư đặt chân đến phải chịu trách nhiệm xem xét đơn
xin tị nạn. Điều này dẫn đến gánh nặng không công bằng cho các quốc gia biên giới như Hy
Lạp, Ý, Tây Ban Nha – nơi tiếp nhận lượng người tị nạn khổng lồ qua Địa Trung Hải. Trong
khi các quốc gia phía Bắc (Đức, Hà Lan, Thụy Điển) thụ hưởng lợi ích từ cơ chế kiểm soát
biên giới chung, nhưng lại không chia sẻ công bằng trách nhiệm tiếp nhận. Quy định này bị
cho là thiếu tính nhân đạo và không phản ánh thực tế phân bố dân cư – kinh tế trong EU.
Thứ ba, thiếu bảo vệ đối với người di cư không có giấy tờ hợp pháp. Người di cư không
có giấy tờ (irregular migrants) là nhóm dễ bị tổn thương nhất, nhưng lại ít được luật khu vực
bảo vệ đầy đủ: Họ không được hưởng các quyền kinh tế – xã hội cơ bản như chăm sóc y tế
giáo dục, việc làm. Nhiều quốc gia EU giam giữ hành chính kéo dài những người di cư không
giấy tờ, thậm chí trục xuất tập thể, trái với Điều 4 Nghị định thư số 4 của ECHR. Các trại t
nạn hoặc trung tâm tạm giữ tại biên giới (đặc biệt ở Hy Lạp và Libya – EU hợp tác ngoài biên
giới) thường không đảm bảo điều kiện nhân đạo, bị Liên Hợp Quốc và các tổ chức nhân quyền chỉ trích.
Thứ tư, gia tăng xu hướng “an ninh hóa” vấn đề di cư. Từ sau khủng hoảng tị nạn năm
2015, nhiều quốc gia EU đã gắn vấn đề di cư với an ninh quốc gia và chống khủng bố, dẫn
đến: siết chặt chính sách nhập cư (đặc biệt ở Ba Lan, Hungary, Đan Mạch); gia tăng các hàng
rào biên giới và công nghệ giám sát, làm cản trở quyền xin tị nạn. Từ đó làm suy giảm tinh
thần nhân đạo và đoàn kết vốn là nền tảng của EU. Đây là biểu hiện rõ ràng của xung đột giữ
giá trị nhân quyền và lợi ích chính trị nội bộ. Thậm chí, nhiều chính phủ chịu sức ép phải siết
chặt chính sách di cư để tranh thủ cử tri, dẫn đến việc vi phạm nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền.
Thứ năm, khó khăn trong việc bảo đảm quyền tái hòa nhập và đoàn tụ gia đình. Mặc dù
EU có quy định về quyền đoàn tụ gia đình, hỗ trợ tái hòa nhập nhưng thủ tục hành chính phức
tạp và kéo dài khiến nhiều gia đình bị chia cắt. Người tị nạn sau khi được công nhận vẫn gặp 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
khó khăn trong tiếp cận việc làm, nhà ở và học tập, đặc biệt là tại các nước có tỷ lệ thấ nghiệp cao.
5. Những thuận lợi bất cập nói chung về việc tiếp nhận người di trên thế giới
5.1. Vấn đề bất cập đối với các nước tiếp nhận người di nói chung
Về kinh tế: số lượng người lao động di trú vào các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có
nền kinh tế phát triển cao đang ngày càng tăng cao do nhu cầu kinh tế, đòi hỏi mức sống con
người cũng phải ngày càng chạy đua với thị trường trên thế giới. Đặc biệt, khi xã hội hiện nay
đang ngày càng phát triển những thành tựu khoa học kĩ thuật, ứng dụng AI ngày càng nhiều
vào thị trường lao động. Từ đó, không chỉ gây ra tính cạnh tranh cao, thiếu hụt cho các nguồn
nhân công lao động của quốc gia sở tại mà còn gây ra sự chen chút, ngợp thở trong sự cạnh
tranh tìm kiếm việc làm của những người lao động di cư từ những quốc gia khác. Trên thực
tế, thị trường lao động đang ngày càng khắt khe, sa thải nhân viên ngày càng nhiều bởi không
đủ chi phí để chi trả tiền lương cho người lao động hoặc cắt giảm lương của người lao động.
Bởi vậy, ngoài những quy định trong khung pháp lý quốc tế mà nhiều nước sẽ có những quy
định riêng về quyền của người di cư để kịp thời kiểm soát được nền kinh tế, thị trường lao
động trong quốc gia của họ, từ đó họ khai thác những nguồn lao động từ quốc gia khác đến một cách hiệu quả.
Về giáo dục: Năm năm trước, Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn (UNHCR) đã
khởi động Chiến lược Giáo dục Người tị nạn 2030, dù vậy nhưng tính đến tháng 4 năm 2024,
hơn 120 triệu người trên toàn cầu đã phải di dời, bao gồm 31,6 triệu người tị nạn. Trong số
này, 14,8 triệu người đang trong độ tuổi đi học - ước tính 49% trong số đó không được đến
trường. Điều này có nghĩa là 7,2 triệu trẻ em tị nạn đang bỏ lỡ cơ hội học tập. Đặc biệt là cá
trẻ em và thanh thiếu niên nằm trong những vùng trọng điểm của việc xung đột, chiến tranh
như ở Ukraine trong khi 700.000 trẻ em và thanh thiếu niên tị nạn từ Ukraine bắt đầu năm học
thứ tư xa nhà, hơn 600.000 thanh thiếu niên trong độ tuổi đi học vẫn chưa được đến trường.
Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong việc tuyển sinh vào hệ thống giáo dục quốc gia của
nước sở tại, tỷ lệ tuyển sinh chung của trẻ em và thanh thiếu niên tị nạn vẫn thấp hơn nhiều so
với tỷ lệ tuyển sinh trung bình của dân số trong độ tuổi đi học tại hầu hết các nước sở tại.2
Như vậy, cho thấy rõ khi một nước tiếp nhận người tị nạn thì bắt buộc phải đối mặt với vấn đ
quá tải trong việc cung cấp một hệ thống giáo dục toàn diện cho người tị nạn và đồng thời
cũng phải đảm bảo cho việc giáo dục cho người dân trong nước vẫn được vận hành hiệu quả.
Nếu quốc gia tiếp nhận người tị nạn không kịp thời đảm bảo nhu cầu giáo dục cho họ thì họ
dễ dẫn đến việc lầm đường lạc lối, rơi vào các tệ nạn xã hội. Do đó, việc cung cấp một hệ
thống giáo dục chặt chẽ, đảm bảo, an toàn là những vấn đề nan giải mà không chỉ quốc gia
tiếp nhận cần giải quyết mà phải cần có sự phối hợp với các quốc gia khác và sự giúp đỡ, tà
trợ của pháp luật quốc tế để từ đó bảo đảm cung cấp nhu cầu thiết yếu về vật chất lẫn tinh
thần cho người tị nạn, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên.
Về sức khỏe: Trách nhiệm đầu tiên của nước tiếp nhận người tị nạn phải là việc phòng
ngừa các nguồn bệnh truyền nhiễm lây lan qua lại giữa người dân trong nước với người tị nạn.
Việc này chắc chắn sẽ là một áp lực đè nặng lên hệ thống y tế của quốc gia tiếp nhận. Do đó
26 USA for UNHCR, “Five Takeaways from UNHCR's 2024 Education Report”, 2024,
https://www.unrefugees.org/news/five-takeaways-from-unhcrs-2024-education-report/, truy cập ngày 2/10/2025. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
chính phủ nước tiếp nhận cần phải có sự chuẩn bị sẵn sàng về vật lực và cả sức lực, đưa ra
những biện pháp ngăn chặn, khắc phục những tình huống bất cập, gia tăng đột ngột có thể xảy
ra trong quá trình tiếp nhận những người tị nạn.
Về văn hóa xã hội và an ninh: Khi người tị nạn được quốc gia tiếp nhận, bằng mắt
thường cũng có thể thấy đã có sự khác nhau về tôn giáo, sắc tộc, phong tục tập quán giữa
người dân bản địa và người tị nạn. Chắc chắn rằng, trong quá trình tiếp thu, tìm hiểu những
điều mới sẽ chạm đến những giới hạn về đời sống tinh thần khác nhau giữa họ, gây ra những
mâu thuẫn, xung đột không thể tránh khỏi giữa đôi bên. Những xung đột này là những vấn đề
nhạy cảm khiến cho nhiều quốc gia trên thế giới có những cái nhìn khắt khe hơn trong việc tiếp nhận người di cư.
Theo UNHCR, cuộc nội chiến tại Syria là nguyên nhân làm bùng phát cuộc khủng
hoảng di cư tại châu Âu trầm trọng nhất kể từ những năm 90 thế kỷ XX khi hơn một nửa số
người di cư và tỵ nạn đến từ Syria. Thủ tướng Hungary Viktor Orban đã viết rằng đất nước
mình phải “bảo vệ biên giới” khỏi những người “lớn lên trong một tôn giáo khác, và đại diện
cho một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt.” Mặc dù những lời của ông khá cực đoan, chúng
phản ánh tình trạng phản đối người Hồi giáo và phản đối dân nhập cư tại châu Âu. Theo một
nghiên cứu năm 2014 của tổ chức nghiên cứu Pew, 63% người Ý, 50% người Ba Lan, 53%
người Hy Lạp, 33% người Đức, 27% người Pháp và 26% người Anh phản đối người Hồi giáo.
Trong khi đó, Hungary và Bulgary đóng cửa biên giới bằng việc xây tường và hàng rào;
Estonia, Macedonia và Ukraina cũng có kế hoạch tương tự.27
Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến an ninh và trật tự tại các khu vực cửa khẩu biên giới và hệ
thống đầu mối giao thông. Có nhiều người lợi dụng kẻ hở của việc di cư để thực hiện các
hành vi xấu xa, trục lợi, gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người di cư và
người dân nước sở tại: ví dụ như nạn buôn người, buôn bán chất cấm, … Tuy nhiên, các nước
cũng có những biện pháp để ngăn chặn, kiểm tra kĩ càng, nghiêm ngặt ở các cửa khẩu để hạn
chế hết mức có thể trong việc không để các đối tượng xấu xa lợi dụng kẻ hở này để trục lợi
Như vậy, chính phủ của quốc gia đó cần phải xây dựng, củng cố hệ thống an ninh cho vững
chắc, nghiêm ngặt, kỷ luật để giải quyết các vấn đề khi người tị nạn được tiếp nhận, đồng thời
đòi hỏi chính phủ phải có chính sách hòa nhập, tuyên truyền và hỗ trợ cộng đồng để giảm xung đột.
5.2. Những thuận lợi đối với các nước tiếp nhận người di nước đưa người di
ra nước ngoài. 5.2.1.
Đối với nước tiếp nhận người di
Về kinh tế: việc tiếp nhận người lao động di cư của các quốc gia có tỉ lệ dân số già hó
cao đang tăng mạnh. Bởi vì người di cư giúp bù đắp sự thiếu hụt nguồn nhân lực do dân số
già hóa, đặc biệt là trong các lĩnh vực như: xây dựng, chăm sóc, nông nghiệp, công nghiệp, …
Một số người di cư có trình độ cao còn mang lại chất xám và sáng tạo (kỹ sư, bác sĩ, chuyên
gia công nghệ), từ đó người di cư góp phần giúp gia tăng năng suất và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Ví dụ: tại Đức, với tiềm lực kinh tế lớn nhất châu Âu, Đức luôn cần người lao động
nhập cư, nguồn lực vốn đã vận hành nền kinh tế nước này kể từ những năm 1960. Theo kết
27 Biên dịch Phạm Hồng Anh, tlđd (17). 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
quả thống kê, tính đến tháng 7/2015, Đức còn khuyết 589.000 vị trí lao động vẫn chưa được
lấp đầy. Do đó, việc tiếp nhận lượng lớn dân nhập cư từ Trung Đông, tuy đem đến mối nguy
tiềm tàng cho xã hội, nhưng trước mắt sẽ phần nào giải quyết được nạn khan hiếm lao động tại Đức.28
Ngoài ra, người di cư còn phải đóng thuế, chi trả cho các khoản tiền để tiêu dùng, thuê
nhà, sử dụng dịch vụ, …Từ đó, kích thích phát triển kinh tế cho thị trường nội địa của quốc
gia đó. Theo World Migration Report (IOM, 2024), người di cư đóng góp hơn 9% GDP toàn
cầu. Cụ thể như tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu cho thấy từ năm 1990 đến năm 2014, mỗi người
tị nạn được tái định cư khiến chính phủ tiêu tốn 15.000 đô la khiến những người đóng thuế lo
lắng, họ sợ rằng việc tiếp nhận người tị nạn sẽ là gánh nặng cho nền kinh tế đất nước của họ
Tuy nhiên, sau khi những người tị nạn ở Mỹ được 20 năm, họ đã phải trả trung bình 21.000
đô la tiền thuế so với chi phí mà chính phủ phải trả, điều này cho thấy lợi ích kinh tế tổng th
liên quan đến việc tái định cư cho người tị nạn.29
Về văn hóa: Di cư giúp mở rộng giao lưu văn hóa, ngôn ngữ, ẩm thực, phong tục giữa
các quốc gia với nhau, thúc đẩy đổi mới xã hội và tinh thần khoan dung, hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, người di cư còn tạo ra cầu nối giữa các nước về nhiều mặt: mua bán hàng hóa, dịch
vụ, các nghề thủ công, công nghiệp nhẹ,… 5.2.2.
Đối với nước đưa người di ra nước ngoài (nước xuất cư)
Về kinh tế: Kiều hối là lợi ích kinh tế rõ rệt nhất. Kiều hối được hiểu là việc gửi tiền từ
một người hoặc một nhóm người này sang một người hoặc một nhóm người khác và thường
dùng để chỉ việc gửi tiền về cho gia đình ở một quốc gia khác. Ví dụ, một người sống và làm
việc tại Hoa Kỳ có thể gửi tiền về cho gia đình ở một quốc gia nghèo hơn, nơi kiều hối có th
đóng góp một nguồn hỗ trợ tài chính đáng kể.
30 Người lao động di trú ở nước ngoài gửi tiền
về giúp gia đình và thúc đẩy tiêu dùng, đầu tư trong nước. Theo World Bank (2023), kiều hối
toàn cầu đạt hơn 650 tỷ USD, trong đó các nước đang phát triển chiếm phần lớn. Ví dụ:
Philippines, Ấn Độ, Việt Nam, Bangladesh… có lượng kiều hối cao, góp phần ổn định tỷ giá
và giảm nghèo. Lấy ví dụ cụ thể tại Việt Nam: thống kê đầu năm 2024, lượng kiều hối chuyển
về Thành phố Hồ Chí Minh qua các tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế chiếm khoảng 60%
tổng lượng kiều hối của cả nước, đạt 9,6 tỷ USD, tăng 140 triệu USD so với năm trước, giá
USD trong nước biến động liên tục, tăng hơn 5% và có lúc lên 7%.31
Tổng quan: Người di cư học hỏi kỹ năng, công nghệ, quản lý ở nước ngoài, chuyển giao
tri thức khi trở về. Họ có thể trở thành doanh nhân hoặc chuyên gia đóng góp cho sự phát
triển quê hương. Cộng đồng người di cư tạo ra mạng lưới kiều bào và ngoại giao nhân dân,
giúp nước xuất cư mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư, văn hóa. Đây được coi là nguồn “sức
mạnh mềm” quan trọng trong thời kỳ toàn cầu hóa. Ở các nước đông dân, di cư giúp giảm thất
28 Trường Cao Đẳng Cảnh sát Nhân dân, 2015,
https://cdcsnd1.bocongan.gov.vn/home/tin-tuc-su-kien/tin-quoc-te/duc-phan-cuc-vi-mo-cua-giup-
nguoi-di-cu-1651, truy cập ngày 2/10/2025.
29 William N. Evans và Daniel Fitzgerald, “The economic and social outcomes of refugees in the
United States: evidence from the ACS”, National Bureau of Economic Research, 2017, tr. 7 – 33.
30 Investopedia, “Remittance: What It Is and How to Send One”, 2025,
https://www.investopedia.com/terms/r/remittance.asp, truy cập ngày 2/10/2025.
31 Bảo Ngọc, “16 tỷ USD kiều hối chuyển về Việt Nam năm 2024”, Tạp chí Kinh tế tài chính, 2024,
https://tapchikinhtetaichinh.vn/16-ty-usd-kieu-hoi-chuyen-ve-viet-nam-nam-2024.html, truy cập ngày 2/10/2025. 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
nghiệp và đói nghèo trong ngắn hạn. Đồng thời giảm bớt gánh nặng an sinh xã hội ở khu vực nông thôn.
6. Kết luận kiến nghị
Hệ thống pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của người di cư hiện nay được xây dựng
khá toàn diện, phản ánh sự tiến bộ trong nhận thức của cộng đồng quốc tế về nhân quyền và
di cư toàn cầu. Các văn kiện nền tảng như Công ước năm 1951 về quy chế người tị nạn, Nghị
định thư năm 1967, Công ước quốc tế năm 1990 về quyền của tất cả người lao động di cư và
các thành viên gia đình họ, cùng với Công ước Nhân quyền châu Âu (ECHR), Công ước
ICCPR, ICESCR và các tuyên ngôn, hiến chương khu vực, đã thiết lập những chuẩn mực
pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ phẩm giá, an toàn và quyền bình đẳng của con người,
bất kể quốc tịch hay tình trạng pháp lý. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận,
hệ thống này vẫn bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng.
Trên thực tế, việc thực thi các quy định về quyền của người di cư còn thiếu thống nhất
giữa các quốc gia. Một số nước chưa nội luật hóa đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế hoặc áp dụng
không đồng đều, dẫn đến tình trạng phân biệt đối xử, giam giữ hành chính kéo dài và hạn chế
quyền xin tị nạn. Ở nhiều nơi, vấn đề di cư bị “an ninh hóa”, khi các chính phủ xem người d
cư là mối đe dọa an ninh thay vì là đối tượng cần được bảo vệ. Hơn nữa, các cơ chế giám s
và chế tài quốc tế còn thiếu hiệu lực, phần lớn dựa trên thiện chí của quốc gia thành viên mà
không có biện pháp cưỡng chế rõ ràng. Tình hình chính trị - kinh tế bất ổn, cùng với xung đột,
khủng hoảng nhân đạo và biến đổi khí hậu, càng khiến quyền của người di cư dễ bị tổn thương.
Để tăng cường tính bảo đảm thực chất, cần thực hiện một số kiến nghị trọng tâm. Thứ
nhất, cần tăng cường hiệu lực ràng buộc pháp lý của các điều ước quốc tế thông qua cơ chế
báo cáo định kỳ và cơ quan giám sát độc lập tương tự như Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp
Quốc. Thứ hai, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế và chia sẻ trách nhiệm, đặc biệt trong khu vực
châu Âu, nhằm bảo đảm phân bổ công bằng người tị nạn và nguồn lực tiếp nhận. Thứ ba, các
quốc gia phải bảo đảm quyền tiếp cận công lý, giáo dục, y tế, nhà ở và việc làm cho người d
cư, bao gồm cả người không có giấy tờ hợp pháp, đồng thời bảo vệ họ khỏi bóc lột, kỳ thị và
bạo lực. Thứ tư, cần thúc đẩy truyền thông và giáo dục nhân quyền, giảm thiểu các định kiến
xã hội, phân biệt chủng tộc, tôn giáo.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, dù hệ thống pháp luật quốc tế về quyền của người di
cư đã tạo dựng nền tảng pháp lý tiến bộ, nhưng để đạt được tính bảo đảm thực chất, cộng
đồng quốc tế cần chuyển từ các cam kết, quy định trong các khung pháp lý dựa trên lý thuyết
sang hành động pháp lý cụ thể, tăng cường trách nhiệm, đoàn kết và nhân đạo, nhằm hướng
tới một trật tự pháp lý quốc tế công bằng, nhân văn và bền vững hơn.
Tài liệu tham khảo
[1] Marie Mcauliffe, Linda Adhiambo Oucho, “Report overview: Migration continues to be part of the solution
in a rapidly changing world, but key challenges remain”, World Migration Report, Nxb. International
Organization for Migration (IOM), 2024 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
[2] United Nations, Universal Declaration of Human Rights (UDHR), https://www.un.org/en/about-us/universal- declaration-of-human-rights
[3] Tuyên truyền phổ biến pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2022,
https://tuyentruyenphapluat.tphcm.gov.vn/index.php/citypolicy/191/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB%9Bc-qu
%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%E1%BB%81-c%C3%A1c-quy%E1%BB%81n-d%C3%A2n-s%E1%BB
%B1-v%C3%A0-ch%C3%ADnh-tr%E1%BB%8B-iccpr/ [4] Công ước ICCPR.
[5] N Human Rights Committee, “CCPR General Comment No. 15: The Position of Aliens Under the
Covenant’’, (11 April 1986), p. 5, https://www.refworld.org/legal/general/hrc/1986/en/38724
[6] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb. Lao động - xã hội, 2011
[7] International Labour Organisation (ILO), C143 - Migrant Workers (Supplementary Provisions) Convention,
1975 (No. 143), Article 11, https://normlex.ilo.org/dyn/nrmlx_en/f?
p=NORMLEXPUB:12100:0::NO::P12100_INSTRUMENT_ID:312288
[8] Công ước Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990
[9] Nguyễn Thị Hồng Yến, “Bảo đảm quyền của người lao động di trú hợp pháp trong pháp luật quốc tế và pháp
luật Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Khoa học pháp Việt Nam, Nxb. Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số 01 (149)/2022
[10] Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951
[11] Nghị định thư về vị thế của người tị nạn năm 1967
[12] Trường Đại học Luật – Đại học Huế, “Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về tiếp nhận người tị nạn - Một
số gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí pháp luật thực tiễn, số 53/2022
[13] UNHCR, Handbook on Procedures and Criteria for Determining Refugee Status and Guidelines on
International Protection Under the 1951 Convention and the 1967 Protocol Relating to the Status of Refugees, Geneva, 2019
[14] Biên dịch Phạm Hồng Anh, “5 hiểu lầm về người tị nạn và người di cư”, Tư liệu học thuật chuyên ngành
Nghiên cứu quốc tế, (Nguồn: Jill Goldenziel, “Five myths about refugees and migrants”, The Washington Post,
25/09/2015), https://nghiencuuquocte.org/2016/01/27/nam-hieu-lam-ve-nguoi-ti-nan-va-nguoi-di-cu/
[15] Migration data portal, “International
Migrant Population”, https://www.migrationdataportal.org/themes/international-migrant-stocks-overview
[16] Công ước Châu Âu về Nhân quyền năm 1950
[17] EASO Asylum Report 2020, Annual Report on the Situation of Asylum in the European Union
[18] Rockwool Foundation Berlin, “The Immigrant Population in the European Union”, 2025,
https://www.rfberlin.com/immigrant-population-eu/
[19] USA for UNHCR, “Five Takeaways from UNHCR's 2024 Education Report”, 2024,
https://www.unrefugees.org/news/five-takeaways-from-unhcrs-2024-education-report/
[20] Trường Cao Đẳng Cảnh sát Nhân dân, 2015, https://cdcsnd1.bocongan.gov.vn/home/tin-tuc-su-kien/tin-
quoc-te/duc-phan-cuc-vi-mo-cua-giup-nguoi-di-cu-1651 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu
[21] William N. Evans và Daniel Fitzgerald, “The economic and social outcomes of refugees in the United
States: evidence from the ACS”, National Bureau of Economic Research, 2017
[22] Investopedia, “Remittance: What It Is and How to Send One”, 2025,
https://www.investopedia.com/terms/r/remittance.asp
[23] Bảo Ngọc, “16 tỷ USD kiều hối chuyển về Việt Nam năm 2024”, Tạp chí Kinh tế tài chính, 2024,
https://tapchikinhtetaichinh.vn/16-ty-usd-kieu-hoi-chuyen-ve-viet-nam-nam-2024.html 09:43, 06/01/2026
Tính Bảo Đảm Quyền Di Cư Theo Luật Quốc Tế Tại Châu Âu - CPQT - Studocu