CHƯƠNG 1. DẪN LUẬN VỀ VĂN HÓAVÙNG VĂN HÓA
1.1. Dẫn luận về văn hoá
1.1.1. Khái niệm văn h
Từ ngàn xưa, phương Đông cũng như phương Tây, người ta đã đề cập, tranh cãi
nhiều về khái niệm văn hóa và vai trò của văn hóa đối vi đời sống xã hội.
* Ở phương Đông, từ văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm:
“Trong ngôn ngữ cổ của Trung Quốc, văn là một từ dùng để chỉ cái vẻ ngoài (cái
được biểu hiện ra bên ngoài). Hóa là dạy dỗ, sửa đổi phong tục (giáo hóa)”.
Người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất lẽ u Hướng thời Tây Hán với nghĩa
như một phương thức giáo hóa con ngưi văn trị giáo hóa.
Như vậy, “văn cái bên ngoài, không phải hoàn toàn tự nhiên có, nên
thể sửa sang, trau dồi. Con người có thể làm cho cái chất tự nhiên thành có văn, thành
đẹp đẽ hơn, do tác dụng của giáo hóa”.
* phương Tây, người La dùng từ cultura cultusđể chviệc gieo trồng.
Gieo trồng ruộng đất là “agri cultura”, gieo trồng tinh thần là “animi cultura”. Vậy từ
cultus hoặc cultura là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai
thác tự nhiên; giáo dục, đào tạo thể hay cộng đồng đhọ không còn con vật tự
nhiên và có những phẩm cht tốt đẹp.
Việt Nam, từ văn hóa xuất hiện muộn, khoảng đầu thế kỷ XX. Trước đó, từ
“văn hiến” tương ứng với văn hóa được dùng trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn
Trãi.
Đào Duy Anh có lẽ là người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra ý niệm về văn hóa trong
cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, xuất bản năm 1938. Theo ông, “Người ta thường cho
rằng văn a chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa
vốn có tính chất cao thượng đặc biệtVăn hóa tức là sinh hoạt”.
Chtịch Hồ CMinh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống loài người mới ng tạo phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, n học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về
mặc, ăn, các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tc
là văn hóa”.
Còn có rất nhiều cách hiểu về văn hóa của các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam.
Trong đó, Trần Ngọc Thêm cho rằng:“Văn hóa một hệ thống hữu các giá trị vật
chất tinh thần do con người sáng tạo ch lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn
trong sự tương c giữa con người với môi trường tự nhiên môi trường hội của
mình”. Phan Ngọc thì hiểu “Văn hóa là mối quan hệ… ”.
1.1.2. Đặc trưng và chức năng của văn hoá
Theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm thì văn htớc hết phải tính hệ thng.
Đặc trưng tính hệ thống giúp phân biệt văn hóa với tập hợp các biểu hiện riêng lẻ, các
bộ phận cấu thành của văn hoá; giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa
hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hoá; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình
thành phát triển của văn hoá. Nhờ tính hệ thống văn hoá với cách một
thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội.
Chính văn hoá làm tăng đổn định của xã hội, cung cấp cho hội mọi phương tiện cần
thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hoá tính giá trị. Văn hoá theo nghĩa đen
nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá
trị, thước đo mức đnhân bản của hội con người. Nhờ thường xuyên xem
xét các giá trị văn hoá thực hiện được chức năng thứ hai chức năng điều chỉnh
hội, giúp hội duy trì được trạng thái n bằng động, không ngừng hoàn thiện
thích ứng với những biến đổi của môi trường tự nhiên hội, giúp định hướng các
chuẩn mực, làm động lc cho sự phát triển xã hội.
Đặc trưng thứ ba của văn hoá tính nhân sinh (nhân tạo). Tính nhân sinh cho
phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên. Văn hoá tr
thành sợi dây nối liền con người với con người nên chức năng thứ ba của văn hóa
chức năng giao tiếp, liên kết mọi người lại với nhau. hội không thhình thành
tồn tại được nếu thiếu sự giao tiếp. Văn hóa tạo ra những điều kiện và phương tiện cho
sự giao tiếp ấy, văn hóa là môi trường giao tiếp của con người. Đến lượt mình, văn hóa
cũng là sản phẩm của giao tiếp.
Đặc trưng th tư của văn hoá tính lịch sử. Tính lịch sử tạo cho văn hoá một bề
dày, một chiều sâu, buộc văn hoá phải thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân
loại phân blại các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hoá.
Truyền thống văn hoá tồn tại nhờ giáo dục, nên chức năng thứ của văn hóa chc
năng giáo dục. Nhờ đó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân
cách ở con người, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hi.
1.1.3. Cấu trúc của văn hoá
HỆ THNG
TIU H
VI H
HỆ THNG
VĂN HÓA
1. Văn hóa nhận thức
a. Nhận thức về vũ trụ
b. Nhận thức về con người
2. Văn hóa tổ chc cộng đồng
a. Tổ chc đi sống tập thể
b. Tổ chc đi sống cá nhân
3. Văn hóa ứng xử với môi trường tự
nhiên
a. Văn hóa tận dụng môi trường tự
nhiên
b. Văn hóa đối phó với môi trường
tự nhiên
4. Văn hóa ứng xử với môi trường
hội
a. Văn hóa tận dụng môi trường xã
hội
b. Văn hóa đối phó với môi trường
xã hội
1.2. Dẫn luận về vùng văn hoá
1.2.1. Khái niệm vùng văn hóa
“Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên,
dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những
tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - hội, giữa hđã diễn ra những giao lưu,
ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể
hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt
với vùng văn hóa khác”.
Trong mỗi vùng văn hoá, xuất phát từ những dấu hiệu khác biệt nhất định về đặc
điểm văn hoá, người ta lại chia thành các tiểu vùng văn hoá.
1.2.2. Tiêu chí phân vùng văn hóa
Để tạo nên vùng văn hthường nhiều nhân tố tác động như: i trường tự
nhiên và hoạt động sản xuất của n cư; nhân tố tộc người cùng với ngôn ngữ
trong việc hình thành các vùng văn hoá; trình đphát triển kinh tế - hội cũng p
phần quy định các đặc trưng văn hoá vùng; nhân tố giao lưu ảnh hưởng văn hoá …
nhiều quan điểm khi phân vùng văn hViệt Nam, mỗi cách phân chia đều
sở khoa học của những tác dụng nhất định trong việc tiếp cận văn hóa
Vit Nam. Đối vi Ngô Đức Thịnh khi chủ biên công trình Văn hóa vùng và phân vùng
văn hóa Việt Nam chia cả nước thành 07 vùng. Đó là: Đồng bằng Bắc Bộ; Việt Bắc;
Tây Bắc miền núi Bắc Trung Bộ; Đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ; Duyên hải
Trung và Nam Trung Bộ; Trường Sơn – Tây Nguyên; Gia Định – Nam Bộ.
GS. Đinh Gia Khánh nhà thơ Huy Cận khi chủ biên công trình Các vùng
văn hóa Việt Nam lại chia nước ta thành 09 vùng văn hóa. Đó là: Vùng văn hóa đồng
bằng miền Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Ngh
Tĩnh; Vùng văn hóa Thuận Hóa Phú Xuân; Vùng văn hóa Nam Trung Bộ; Vùng văn
hóa Tây Nguyên; Vùng văn hóa đồng bằng miền Nam; Vùng n hóa Thăng Long
Đông Đô Hà Nội.
GS. Trần Quốc Vượng tphân vùng văn hóa Việt Nam thành 06 vùng: Vùng văn
hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa châu thBắc Bộ; Vùng văn hóa
Trung Bộ; Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên; Vùng văn hóa Nam Bộ.
Ranh giới địa số ợng tỉnh thành của mỗi vùng cũng chưa hẳn đã sự
nhất quán trong quan điểm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta thấy
được sự ơng đồng trong nhận diện đặc trưng văn hoá từng vùng. Mới đây, câu chuyện
sáp nhập thay đổi địa danh tại tất ccác tỉnh thành Việt Nam đã diễn ra, nước ta từ
63 tỉnh thành thì chỉ còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (6 thành phtrung
ương 28 tỉnh). Câu chuyện y ng đã ảnh hưởng ít nhiều đến công tác quản hành
chính nhà nước, chiến lược phát triển địa phương và vùng miền. Còn văn hoá vùng, đặc
trưng văn hoá vùng liệu đã chịu sự ảnh hưởng này hay chưa? Trong phạm vi bài giảng
này, chúng tôi tạm thi vẫn sử dụng cách thức phân vùng của các nhà nghiên cứu trưc
đây, chỉ cập nhật những thông tin hành chính thật sự cần thiết chứ chưa vội bàn đến
những thay đổi về văn hoá vùng. chúng tôi cho rằng, văn hoá tuy không phải là phạm
trù “nhất thành bất biến”, nhưng nếu sự thay đổi thì cũng cần rất nhiều thời gian
những tác nhân động lc khác.

Preview text:

CHƯƠNG 1. DẪN LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ VÙNG VĂN HÓA
1.1. Dẫn luận về văn hoá
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Từ ngàn xưa, phương Đông cũng như phương Tây, người ta đã đề cập, tranh cãi
nhiều về khái niệm văn hóa và vai trò của văn hóa đối với đời sống xã hội.
* Ở phương Đông, từ “văn hóa” đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm:
“Trong ngôn ngữ cổ của Trung Quốc, văn là một từ dùng để chỉ cái vẻ ngoài (cái
được biểu hiện ra bên ngoài). Hóa là dạy dỗ, sửa đổi phong tục (giáo hóa)”.
Người sử dụng từ “văn hóa” sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng thời Tây Hán với nghĩa
như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa.
Như vậy, “văn là cái bên ngoài, không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, nên có
thể sửa sang, trau dồi. Con người có thể làm cho cái chất tự nhiên thành có văn, thành
đẹp đẽ hơn, do tác dụng của giáo hóa”.
* Ở phương Tây, người La Mã dùng từ culturacultus là để chỉ việc gieo trồng.
Gieo trồng ruộng đất là “agri cultura”, gieo trồng tinh thần là “animi cultura”. Vậy từ
cultus hoặc cultura là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai
thác tự nhiên; giáo dục, đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự
nhiên và có những phẩm chất tốt đẹp.
Ở Việt Nam, từ văn hóa xuất hiện muộn, khoảng đầu thế kỷ XX. Trước đó, từ
“văn hiến” tương ứng với văn hóa được dùng trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi.
Đào Duy Anh có lẽ là người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra ý niệm về văn hóa trong
cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, xuất bản năm 1938. Theo ông, “Người ta thường cho
rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa
vốn có tính chất cao thượng đặc biệt… Văn hóa tức là sinh hoạt”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về
mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
Còn có rất nhiều cách hiểu về văn hóa của các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam.
Trong đó, Trần Ngọc Thêm cho rằng:“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chấttinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của
mình”. Phan Ngọc thì hiểu “Văn hóa là mối quan hệ… ”.
1.1.2. Đặc trưng và chức năng của văn hoá
Theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm thì văn hoá trước hết phải có tính hệ thống.
Đặc trưng tính hệ thống giúp phân biệt văn hóa với tập hợp các biểu hiện riêng lẻ, các
bộ phận cấu thành của văn hoá; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa cá
hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hoá; phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình
thành và phát triển của văn hoá. Nhờ có tính hệ thống mà văn hoá với tư cách là một
thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội.
Chính văn hoá làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần
thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Đặc trưng quan trọng thứ hai của văn hoá là tính giá trị. Văn hoá theo nghĩa đen
nghĩa là “trở thành đẹp, thành có giá trị”. Tính giá trị cần để phân biệt giá trị với phi giá
trị, nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Nhờ thường xuyên xem
xét các giá trị mà văn hoá thực hiện được chức năng thứ hai là chức năng điều chỉnh
xã hội, giúp xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng hoàn thiện và
thích ứng với những biến đổi của môi trường tự nhiên và xã hội, giúp định hướng các
chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển xã hội.
Đặc trưng thứ ba của văn hoá là tính nhân sinh (nhân tạo). Tính nhân sinh cho
phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên. Văn hoá trở
thành sợi dây nối liền con người với con người nên chức năng thứ ba của văn hóa là
chức năng giao tiếp, liên kết mọi người lại với nhau. Xã hội không thể hình thành và
tồn tại được nếu thiếu sự giao tiếp. Văn hóa tạo ra những điều kiện và phương tiện cho
sự giao tiếp ấy, văn hóa là môi trường giao tiếp của con người. Đến lượt mình, văn hóa
cũng là sản phẩm của giao tiếp.
Đặc trưng thứ tư của văn hoá là tính lịch sử. Tính lịch sử tạo cho văn hoá một bề
dày, một chiều sâu, nó buộc văn hoá phải thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân
loại và phân bố lại các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hoá.
Truyền thống văn hoá tồn tại nhờ giáo dục, nên chức năng thứ tư của văn hóa là chức
năng giáo dục. Nhờ đó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân
cách ở con người, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội.
1.1.3. Cấu trúc của văn hoá HỆ THỐNG TIỂU HỆ VI HỆ
a. Nhận thức về vũ trụ 1. Văn hóa nhận thức
b. Nhận thức về con người
a. Tổ chức đời sống tập thể
2. Văn hóa tổ chức cộng đồng b. Tổ chức đời sống cá nhân
a. Văn hóa tận dụng môi trường tự
HỆ THỐNG 3. Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên VĂN HÓA nhiên
b. Văn hóa đối phó với môi trường tự nhiên
a. Văn hóa tận dụng môi trường xã
4. Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội hội
b. Văn hóa đối phó với môi trường xã hội
1.2. Dẫn luận về vùng văn hoá
1.2.1. Khái niệm vùng văn hóa
“Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên,
dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những
tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu,
ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể
hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt
với vùng văn hóa khác”.
Trong mỗi vùng văn hoá, xuất phát từ những dấu hiệu khác biệt nhất định về đặc
điểm văn hoá, người ta lại chia thành các tiểu vùng văn hoá.
1.2.2. Tiêu chí phân vùng văn hóa
Để tạo nên vùng văn hoá thường có nhiều nhân tố tác động như: môi trường tự
nhiên và hoạt động sản xuất của dân cư; nhân tố tộc người và cùng với nó là ngôn ngữ
trong việc hình thành các vùng văn hoá; trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng góp
phần quy định các đặc trưng văn hoá vùng; nhân tố giao lưu ảnh hưởng văn hoá …
Có nhiều quan điểm khi phân vùng văn hoá Việt Nam, mỗi cách phân chia đều
có cơ sở khoa học của nó và có những tác dụng nhất định trong việc tiếp cận văn hóa
Việt Nam. Đối với Ngô Đức Thịnh khi chủ biên công trình Văn hóa vùng và phân vùng
văn hóa ở Việt Nam chia cả nước thành 07 vùng. Đó là: Đồng bằng Bắc Bộ; Việt Bắc;
Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ; Đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ; Duyên hải
Trung và Nam Trung Bộ; Trường Sơn – Tây Nguyên; Gia Định – Nam Bộ.
GS. Đinh Gia Khánh và nhà thơ Cù Huy Cận khi chủ biên công trình Các vùng
văn hóa Việt Nam lại chia nước ta thành 09 vùng văn hóa. Đó là: Vùng văn hóa đồng
bằng miền Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Nghệ
Tĩnh; Vùng văn hóa Thuận Hóa – Phú Xuân; Vùng văn hóa Nam Trung Bộ; Vùng văn
hóa Tây Nguyên; Vùng văn hóa đồng bằng miền Nam; Vùng văn hóa Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội.
GS. Trần Quốc Vượng thì phân vùng văn hóa Việt Nam thành 06 vùng: Vùng văn
hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ; Vùng văn hóa
Trung Bộ; Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên; Vùng văn hóa Nam Bộ.
Ranh giới địa lý và số lượng tỉnh thành của mỗi vùng cũng chưa hẳn đã có sự
nhất quán trong quan điểm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ta thấy
được sự tương đồng trong nhận diện đặc trưng văn hoá từng vùng. Mới đây, câu chuyện
sáp nhập và thay đổi địa danh tại tất cả các tỉnh thành Việt Nam đã diễn ra, nước ta từ
63 tỉnh thành thì chỉ còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (6 thành phố trung
ương và 28 tỉnh). Câu chuyện này cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến công tác quản lý hành
chính nhà nước, chiến lược phát triển địa phương và vùng miền. Còn văn hoá vùng, đặc
trưng văn hoá vùng liệu đã chịu sự ảnh hưởng này hay chưa? Trong phạm vi bài giảng
này, chúng tôi tạm thời vẫn sử dụng cách thức phân vùng của các nhà nghiên cứu trước
đây, chỉ cập nhật những thông tin hành chính thật sự cần thiết chứ chưa vội bàn đến
những thay đổi về văn hoá vùng. Vì chúng tôi cho rằng, văn hoá tuy không phải là phạm
trù “nhất thành bất biến”, nhưng nếu có sự thay đổi thì cũng cần rất nhiều thời gian và
những tác nhân động lực khác.