








Preview text:
CHƯƠNG 2: VÙNG VĂN HÓA MIỀN TRUNG
2.1. Điều kiện tự nhiên Phạm vi lãnh thổ
Miền Trung Việt Nam còn gọi là Trung Bộ, nằm ở phần giữa lãnh thổ và là một
trong ba vùng chính (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ) của Việt Nam. Dải đất miền
Trung được bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây và sườn bờ biển phía
Đông, vùng có chiều ngang theo hướng Đông - Tây hẹp nhất Việt Nam (khoảng 50 km).
Hai vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ được gọi chung là Duyên hải miền Trung.
Khối núi Bạch Mã, nơi có đèo Hải Vân được coi là ranh giới giữa Bắc và Nam Trung Bộ.
Trong học phần này, chúng tôi xác định ranh giới vùng văn hóa miền Trung trải
dài từ Thanh Hóa ở phía Bắc và kéo dài theo các tỉnh duyên hải vào đến địa bàn Bình Thuận (cũ).
Đặc điểm tự nhiên - Địa hình
Địa hình miền Trung hẹp chiều ngang Đông Tây, trước mặt là biển Đông và sau
lưng là dãy Trường Sơn hùng vĩ. Địa hình miền Trung chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam,
bởi các đèo là những dãy núi tách từ Trường Sơn đâm ngang ra biển.
Dưới chân đèo là các sông lớn nhỏ, đều chảy ngang theo chiều Tây Đông ra biển;
sông ngắn, nước biếc xanh, ít phù sa, châu thổ hẹp, nhiều cửa sông tạo thành vịnh cảng.
Quá trình kiến tạo địa chất đã tạo ra ngoài khơi các đảo, quần đảo.
Suốt dải đất miền Trung, đường bờ biển Việt Nam uốn cong, lồi ra phía biển Đông.
Sát bờ biển, từ Quảng Bình trở vô nam đều có các cồn cát ven biển chạy dọc dài Bắc
Nam ghi dấu những đường bờ biển cũ. - Sông ngòi
Các dòng sông lớn ở miền Trung chủ yếu được bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và
đổ ra biển Đông: Sông Lam; Sông Gianh; Sông Nhật Lệ: Sông Bến Hải; Sông Thạch
Hãn; Sông Hương; Sông Thu Bồn; Sông Hàn; Sông Trà Khúc; Sông Ba…
- Thời tiết, khí hậu
Khí hậu miền Trung được chia ra làm hai khu vực chính, lấy đèo Hải Vân làm ranh
giới. Khu vực phía bắc đèo Hải Vân vào mùa đông, do gió mùa thổi theo hướng đông
bắc mang theo hơi nước từ biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh
kèm theo mưa. Vùng phía Nam đèo Hải Vân có gió mùa đông bắc khi thổi đến đây
thường suy yếu đi do bị chặn lại bởi dãy núi Bạch Mã. Mùa mưa lũ ở Bắc Trung Bộ
thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10, ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ thường xảy ra
từ tháng 10 đến tháng 12.
Tóm lại, khí hậu miền Trung có mùa mưa lệch pha với hai đầu Bắc Nam của đất
nước. Miền Trung là xứ sở đón gió Tây Nam khô nóng từ Lào thổi qua (gió Lào) tạo
nên sự khô nóng cho miền Trung. Điều này ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội
của cư dân miền Trung cũng như chi phối mạnh mẽ đến các giá trị, thành tố văn hóa tại vùng văn hóa này.
2.2. Đặc điểm lịch sử và dân cư
+ Đặc điểm đầu tiên của vùng đất miền Trung là vùng đất chứa nhiều dấu tích của văn hóa Chămpa.
Dọc theo chiều dài miền Trung, nhiều di sản văn hóa hữu thể còn tồn tại trên mặt
đất. Lịch sử đi qua bao nỗi thăng trầm, dâu bể; tháp Chăm vẫn sừng sững như một dấu
ấn không thể phai mờ, ẩn chứa trong nó bao nhiêu câu chuyện bí ẩn với hậu thế.
Ngoài các tháp, các phế tích, di vật của văn hóa Chăm trên mặt đất và trong lòng
đất còn khá nhiều. Đó là các đài thờ, linga yoni; tượng thần, tượng các linh vật, phù
điêu, trụ đá, bia đá… Cùng với các di sản vật thể, vùng Trung bộ còn khá nhiều các di
sản văn hóa phi vật thể của người Chăm pa. Đó là các địa danh Việt mang dấu ấn Chăm
rõ nét như Trà Khúc, Trà Bồng, Nha Trang (Ia Tran), Phan Rang (Panduranga), Phan
Rí, Phan Thiết, Thị Nại, Bà Rén, Đà Nẵng… Các tín ngưỡng dân gian của người Chăm
như thờ nữ thần, thờ thần biển, thờ cá voi…
Miền Trung là vùng đất được khai phá theo kiểu kiệm tiến, lâu dài; gắn với quá
trình mở đất về phương Nam của người Việt
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông mang 10 vạn quân vào đánh Chiêm Thành, sáp
nhập ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh.
Năm 1306, nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành bấy giờ là
Chế Mân (Jaya Simhavarman), đổi lại là quyền kiểm soát Châu Ô và Châu Rí. Các vùng
đất này được vua Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu.
Năm 1402, Hồ Hán Thương mang quân đi đánh Chiêm Thành, vua Chiêm xin nộp
đất Chiêm Động (nam Quảng Nam), Cổ Lũy (bắc Quảng Ngãi). Nhà Hồ đổi tên thành
4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa
Năm 1470, vua Lê Thánh Tông phái danh tướng Đinh Liệt cầm 20 vạn quân đánh
Chiêm Thành. Năm 1471, quân Đại Việt chiếm kinh đô Vijaya (thuộc Bình Định ngày
nay). Lê Thánh Tông đã sáp nhập miền bắc Chiêm Thành, từ đèo Hải Vân đến đèo Cù
Mông vào Đại Việt, đặt tên vùng đất mới là thừa tuyên Quảng Nam.
Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng phái Văn Phong đem quân vào đánh nước Chiêm
Thành, lấy đất lập ra phủ Phú Yên chia ra làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa, nay thuộc Phú Yên.
Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu sai quan tổng binh là Nguyễn Hữu Cảnh chiếm
phần đất còn lại cuối cùng của Chiêm Thành. Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm
Thuận Phủ, nay thuộc Bình Thuận.
- Văn hóa miền Trung phản ánh sâu sắc thiên nhiên đa dạng của vùng đất này
Yếu tố biển, sông, đầm, đồng bằng, núi non đều ánh xạ vào trong các thành tố văn
hóa. Ở trung bộ, làng nông nghiệp tồn tại đan xen với các làng ngư dân; bên cạnh lễ
cúng đình, tạ thần nông của làng nông nghiệp là lễ cầu ngư, cúng cá ông của làng ngư
nghiệp; bởi lẽ đồng bằng Trung bộ thường là các đồng bằng nhỏ hẹp nằm sát biển.
+ Văn hóa miền Trung hội tụ nhiều tinh hoa, có sự hòa quyện giữa văn hóa dân
gian và văn hóa cung đình, bác học
Với vai trò là thủ phủ của Đàng Trong thời chúa Nguyễn và một thời là kinh đô
của quốc gia Việt Nam thống nhất dưới triều Nguyễn, miền Trung trở thành nơi hội tụ
nhiều tinh hoa của đất nước, có sự hòa quyện giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình, bác học.
+ Cư dân miền Trung có sự hòa hợp về chủng tộc và văn hóa
2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội của miền Trung gắn liền với sự lựa chọn sinh kế trong
mối tương tác cùng môi trường tự nhiên, môi trường xã hội của cộng đồng cư dân tại
đây. Bên cạnh nghề nông trồng lúa là sinh kế chính; từ ngàn xưa, biển là không gian
sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam, là chỗ dựa sinh kế cho hàng chục triệu
người dân sống trong các vùng đất ven biển và trên các hải đảo. Trong đó có các cộng
đồng cư dân sinh sống dọc theo vùng duyên hải miền Trung. Cuộc sống của họ gắn liền
với biển, chịu ảnh hưởng và tác động từ biển trên nhiều mặt: đời sống vật chất, không
gian cư trú, đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng…
Bên cạnh đó, do diện tích đất đai canh tác nông nghiệp hạn hẹp, nguồn nguyên liệu
dồi dào nên từ xưa, vùng duyên hải miền Trung đã phát triển các làng nghề và nghề thủ
công truyền thống như làng làm nước mắm Nam Ô, nghề điêu khắc đá ở Non Nước,
làng dệt chiếu Cẩm Nê... (Đà Nẵng); làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, làng đúc
đồng Phước Kiều, làng dệt Mã Châu, làng dâu tằm Đông Yên - Thi Lai, làng dệt chiếu
cói Bàn Thạch, làng rau Trà Quế, làng trống Lam Yên... (Quảng Nam); làng nghề trồng
dâu nuôi tằm An Phú, làng nghề đúc đồng Đức Hiệp, làng gốm Châu Ổ (Quảng Ngãi);
nghề làm nước mắm Gành Đỏ, nghề đóng ghe thuyền Đông Tác, làng bánh tráng Hòa
Đa, làng gốm Quảng Đức, nghề làm mía đường La Hai, nghề dệt chiếu Cù Du, nghề dệt
lụa Ngân Sơn… (Phú Yên); nghề đúc đồng ở Phú Lộc Tây, làng dệt chiếu Mỹ Trạch,
làng nem Ninh Hòa (Khánh Hòa)…
2.4. Đặc điểm văn hóa
2.4.1. Văn hóa vật chất
2.4.1.1. Ẩm thực
Nhờ đa dạng các loại địa hình núi, rừng, bờ biển, đồng bằng, người dân miền Trung
đã khôn khéo tận dụng các sản vật sẵn có, khai thác từ địa phương. Nguyên liệu chế biến
thức ăn vì vậy phong phú từ hải sản với nhiều loại cá, tôm, mực đến các loại nông sản
thực phẩm như các loại lúa, nếp, khoai, bắp, rau củ, quả…
Khẩu vị miền Trung có sự hòa quyện của ngũ vị (chua, cay, mặn, ngọt, đắng),
trong đó vị mặn, cay, ngọt là chủ đạo. Sự đưa đến tận cùng của khẩu vị tạo nên sự hòa
điệu trong khẩu vị ẩm thực và tính cách của cư dân miền Trung.
Bên cạnh lối ẩm thực cầu kì mang tính Cung đình, nặng về lễ nghi lại có lối ẩm
thực rất bình dân, dung dị, đơn giản. Mỗi tỉnh thành miền Trung đều ghi đậm dấu ấn của
mình trên bản đồ ẩm thực Việt Nam với nhiều đặc sản nổi tiếng: Nem chua Thanh Hóa;
Cháo lươn Nghệ An; Cá nục hấp cuốn bánh tráng Quảng Bình; Bún bò Huế; Mắm ruốc;
Cơm hến (Huế); Bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc (Huế - Quảng Trị); Mỳ Quảng (Quảng
Nam); Cao lầu (Hội An); Bánh ít lá gai (Bình Định); Nem chợ Huyện (Bình Định); Bánh
tráng cuốn thịt heo (Đà Nẵng - Quảng Nam); Chả cá Quy Nhơn (Bình Định); Gỏi cá Nam Ô (Đà Nẵng)…
2.4.1.2. Kiến trúc
Một trong những nét nổi bật trong kiến trúc của miền Trung là nghệ thuật kiến
trúc, điêu khắc Chămpa. Kiến trúc, điêu khắc Chăm chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn
hóa Ấn Độ. Kiến trúc Chămpa cổ còn lại chủ yếu là đền tháp. Tháp cổ Chămpa ảnh
hưởng từ Ấn Độ bởi nó mang hình núi Mêru thu nhỏ, theo bố cục: hướng tâm, các trục
quay ra bốn hướng, mặt tiền quay về hướng Đông. Về kiến trúc và điêu khắc Chăm cho
đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn đang được tiếp tục nghiên cứu làm rõ.
Bên cạnh kiến trúc Chămpa, miền Trung còn là nơi có sự hòa quyện của các phong
cách kiến trúc đa dạng; từ kiến trúc truyền thống của người Việt đến các công trình ảnh
hưởng bởi kiến trúc Trung Quốc, Nhật Bản và của cả phương Tây.
2.4.1.3. Trang phục truyền thống
Văn hóa trang phục của người miền Trung nổi bật với chiếc áo dài thướt tha, duyên
dáng. Từ đầu thế kỷ XVIII, áo dài ngũ thân đã phổ biến ở Đàng Trong. Năm 1744, chúa
Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi, ông đã tiến hành cải cách nhiều mặt, trong đó có chế độ
y quan với nhiều điểm đổi mới.
Năm thân áo bao gồm một thân con bên trong tượng trưng cho bản thân và bốn
thân bên ngoài ở trước, sau tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu luôn bao bọc, che chở.
Năm cúc áo mang ý nghĩa ngũ thường - những đức tính của một người quân tử cần có
là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Chiếc áo dài ngũ thân được sản sinh từ thời chúa Nguyễn Phúc
Khoát và trở thành quốc phục dưới thời vua Minh Mạng.
Trên cơ sở đó, đến đầu thế kỷ XX, các họa sĩ, nhà thiết kế đương thời như Lê Phổ,
Cát Tường đã cách tân, sáng tạo nên chiếc áo dài như ngày nay. Đến nay, bộ trang phục
đặc biệt này đã có hàng trăm năm lịch sử. Với bề dày lịch sử ra đời và phát triển ấy, Cố
đô Huế xứng đáng trở thành nơi Kinh đô áo dài của Việt Nam và áo dài xứng đáng là
đại diện trang phục tiêu biểu của miền Trung nói riêng và cả Việt Nam.
2.4.2. Văn hóa tinh thần
2.4.2.1. Tín ngưỡng
Đời sống tín ngưỡng của cư dân miền Trung khá đa dạng, phong phú với sự kết
hợp của nhiều loại hình tín ngưỡng như tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, thờ Tiền hiền,
Hậu hiền, tín ngưỡng thờ cúng cá Ông hay tín ngưỡng thờ nữ thần…
Thiên Y Ana Thánh mẫu là kết quả của sự gặp gỡ giữa Bà Mẹ xứ sở của người
Chăm (Pô Inư Nagar) và thánh Mẫu của người Việt. Nói cách khác, Thiên Y A Na chính
là sự Việt hóa Bà Mẹ xứ sở của người Chăm, mà địa bàn của quá trình Việt hóa này là
vùng duyên hải miền Trung.
Đặc trưng và điển hình nhất cho tín ngưỡng dân gian vùng ven biển miền Trung
là tục thờ cá Ông (cá voi). Có thể nói, đi đến đâu chúng ta cũng bắt gặp tục thờ này và
cá Ông được tôn xưng với các tước hiệu khác nhau như Nam Hải Đại Tướng Quân, Cự
Tộc Ngọc Lân Tôn Thần, Đại Càn Nam Hải Đại Tướng Quân, Đông Hải Ngọc Lân Tôn
Thần và các danh xưng dân gian khác như: Ông Khơi, Ông Lộng, Ông Lớn, Ông Sanh, Ông Chuông, Ông Cậu…
Một hiện tượng tín ngưỡng mang sắc thái khá đặc trưng của cư dân duyên hải
miền Trung là tục thờ Cô Bác. Đó là tục thờ những người bị hoạn nạn, không có thân
nhân; thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc của văn hóa miền Trung.
2.4.2.2. Phong tục, tập quán
Trong đời sống hằng ngày, người miền Trung vốn quen với cuộc sống khó khăn
nên luôn đề cao đức tính tiết kiệm, giản dị. Họ quan niệm “ăn chắc, mặc bền”, “liệu cơm
gắp mắm”, tránh lối sống phô trương, lãng phí. Họ sống giản dị, chân thành, trọng chữ
tín trong quan hệ xã hội. Trong khó khăn, người miền Trung luôn biết nương tựa vào nhau, chia sẻ ngọt bùi.
Trong giao tiếp, ứng xử, người miền Trung được đánh giá là thật thà, thẳng thắn,
trọng chữ tín. Gia đình miền Trung thường nhiều thế hệ cùng sống chung, con cháu hiếu
kính với ông bà, cha mẹ, phản ánh truyền thống đạo hiếu lâu đời trong từng gia đình, dòng họ.
Trong hôn nhân và gia đình; phong tục cưới hỏi của người miền Trung vừa giản
dị vừa trang trọng. Trước hết, lễ cưới bắt đầu từ lễ dạm ngõ. Sau đó là lễ ăn hỏi. Lễ vật
thường gồm trầu cau, bánh phu thê, bánh ít lá gai, chè, rượu, gà luộc hay heo quay… tất
cả được sắp trên mâm quả sơn son thiếp vàng. Một nét rất đặc trưng là tục “lại mặt”.
Sau một đến ba ngày, đôi vợ chồng trẻ trở về nhà gái, mang theo lễ vật nhỏ như trầu cau, chè, bánh trái.
Tang ma ở miền Trung được tổ chức trang nghiêm, phản ánh đạo lý “uống nước
nhớ nguồn” và tính cách giản dị, trọng tình nghĩa của con người nơi đây. Người dân
miền Trung xem việc đưa tang không chỉ là chuyện của một gia đình mà là trách nhiệm
cộng đồng, vì vậy hàng xóm, làng xóm thường đến hỗ trợ. Tang ma miền Trung tuy giản
dị nhưng chu toàn, vừa thể hiện đạo hiếu với người đã khuất, vừa gắn kết tình cảm dòng họ và cộng đồng.
2.4.2.3. Lễ hội truyền thống
Miền Trung là vùng đất của nhiều lễ hội truyền thống độc đáo. Những lễ hội này
gắn bó mật thiết với đời sống lao động, tín ngưỡng và lịch sử, góp phần làm nên bản sắc
văn hóa phong phú của miền Trung.
Có thể phân chia lễ hội truyền thống thành 03 nhóm chính: các lễ hội trong quan
hệ ứng xử với môi trường tự nhiên, liên quan đến đời sống, sinh kế (nông nghiệp, ngư
nghiệp…); lễ hội trong quan hệ với môi trường xã hội, tưởng nhớ các vị tiền nhân, anh
hùng có công trạng và các lễ hội liên quan đến đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng.
2.4.3. Văn hóa xã hội
2.4.3.1. Tổ chức xã hội
Xã hội truyền thống ở miền Trung được tổ chức theo ba cấp độ cơ bản: gia đình –
dòng họ – làng xã rất chặt chẽ. Gia đình miền Trung thường mang tính phụ quyền, trong
đó người đàn ông – đặc biệt là người cha hoặc người ông – giữ vai trò quyết định. Tuy
vậy, vị trí của người phụ nữ không bị hạ thấp mà vẫn được xem trọng.
Dòng họ, vốn có vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần người miền Trung. Mỗi
dòng họ đều có nhà thờ họ, từ đường để thờ cúng tổ tiên. Các dịp giỗ họ, Tết, hay khi
có sự kiện quan trọng, con cháu dù đi làm ăn xa cũng trở về sum họp.
Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, người dân miền Trung càng coi trọng tinh thần
đoàn kết cộng đồng. Mỗi làng thường có hương ước để điều chỉnh các mối quan hệ xã
hội, quy định rõ ràng trách nhiệm và quyền lợi của từng người. Có thể thấy, tổ chức xã
hội truyền thống của người miền Trung mang tính cộng đồng, gắn bó và kỷ luật cao.
4.2.3.2. Tính cách, lối sống
Người miền Trung sinh sống trên dải đất hẹp chạy dài từ Thanh Hóa đến Bình
Thuận, nơi thiên nhiên khắc nghiệt, khí hậu khô hạn, mưa bão dồn dập, đất đai ít màu
mỡ. Chính hoàn cảnh ấy đã góp phần hình thành nên tính cách đặc trưng và lối sống
riêng của con người miền Trung: kiên cường, tiết kiệm, chân chất nhưng cũng đầy sáng
tạo và giàu tình nghĩa, thủy chung. Đặc biệt, người miền Trung còn mang trong mình
tính cách kiên trung, bất khuất, thể hiện rõ trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm.
Có thể nói, tính cách và lối sống của người miền Trung là kết quả của sự thích ứng
với môi trường khắc nghiệt, đồng thời phản ánh những giá trị truyền thống bền vững.
2.5. Các tiểu vùng văn hóa
2.5.1. Tiểu vùng văn hóa Thanh – Nghệ
- Tiểu vùng văn hóa Thanh - Nghệ: bao gồm địa bàn các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh. Đây là một địa bàn đặc thù với nhiều nét riêng biệt về cảnh trí thiên thiên,
khí hậu, con người. Tiểu vùng văn hóa Thanh Nghệ được xem là một tiểu vùng văn hóa
có vai trò chuyển tiếp, “vùng đệm” giữa hai vùng văn hóa lớn tại Việt Nam là văn hóa
miền Bắc và văn hóa miền Trung. Nằm ở vị trí đặc biệt cùng sự hội tụ của các yếu tố tự
nhiên, lịch sử, văn hóa, dân cư đã tạo cho tiểu vùng văn hóa này nhiều thành tố văn hóa
độc đáo về vật chất lẫn tinh thần, nơi sản sinh nhiều nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam.
2.5.2. Tiểu vùng văn hóa Bình – Trị - Thiên
- Tiểu vùng văn hóa Bình - Trị - Thiên (xứ Huế): trải dài ở các tỉnh duyên hải
Bắc Trung Bộ bao gồm Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, trong đó xứ Huế
được xem là trung tâm của tiểu vùng. Tiểu vùng văn hóa này là nơi hội tụ những nét văn
hóa, lịch sử độc đáo. Từ vị trí là vùng đất biên viễn phía nam của Đại Việt cho đến nơi
chứng kiến sự giao lưu văn hóa Việt Chăm sâu sắc. Tiểu vùng văn hóa này cũng là nơi
đặc điểm tự nhiên chi phối và ánh xạ đậm nét đến bản sắc văn hóa vùng với nhiều giá
trị về kiến trúc, ẩm thực, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội truyền thống; có sự hòa quyện độc
đáo giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình.
2.5.3. Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng
- Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng: bao gồm địa bàn của thành phố Đà Nẵng, tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi. Tiểu vùng xứ Quảng đặc trưng bởi vị trí lịch sử quan trọng
khi từng là trung tâm của vương quốc Chămpa, nơi diễn ra cuộc tiếp xúc và giao thoa
văn hóa rộng lớn giữa người Việt - người Chăm cũng như chứng kiến sự giao lưu văn
hóa Đông Tây với vai trò then chốt của cảng thị quốc tế Hội An và hải cảng Đà Nẵng.
Đây cũng là nơi hội tụ nhiều giá trị văn hóa vật chất, tinh thần phong phú thể hiện bản
sắc văn hóa của đất và người xứ Quảng, trong đó có những di sản văn hóa được thế giới công nhận.
2.5.4. Tiểu vùng văn hóa xứ Nẫu
- Tiểu vùng văn hóa xứ Nẫu bao gồm địa bàn các tỉnh Bình Định, Phú Yên, nơi
khởi phát phong trào nông dân Tây Sơn. Nơi đây từng là vùng đất trung tâm của vương
quốc Chămpa với thành Trà Bàn (Đồ Bàn) cùng nhiều dấu tích văn hóa Chăm độc đáo.
Cư dân tiểu vùng văn hóa xứ Nẫu cũng đã sáng tạo nên bản sắc văn hóa vùng độc đáo
với nhiều địa danh, nhân vật đi vào lịch sử dân tộc cùng nhiều thành tựu văn hóa độc
đáo từ vật chất đến tinh thần.
2.5.5. Tiểu vùng văn hóa xứ Chàm
- Tiểu vùng văn hóa xứ Chàm bao gồm Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận
nằm ở phía cực Nam Trung Bộ. Đây là địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, khô
nóng quanh năm. Xứ Chàm như chính tên gọi của nó là nơi cư trú chính của người Chăm
đồng thời diễn ra sự gặp gỡ, giao lưu văn hóa giữa người Chăm và người Việt trên tinh
thần hài hòa, dung hợp. Cộng đồng người Chăm tại đây còn lưu giữ được bản sắc văn
hóa độc đáo được thể hiện sinh động qua ẩm thực, trang phục, kiến trúc, tín ngưỡng,
phong tục tập quán, lễ hội…