









Preview text:
Văn hóa nghệ thuật – Văn học 1. Khái quát chung
- Văn học gồm hai bộ phận chủ yếu là văn học truyền miệng( văn học dân
gian) và văn học viết( văn học bác học).
- Văn học dân gian là chính là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền
miệng do con người sáng tạo ra trong khi tham gia các sinh hoạt tập thể
nhằm biểu đạt, ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm về
cuộc sống xã hội và thiên nhiên, vũ trụ không gian bao gồm:
• Xét về phương thức biểu diễn (hay hình thức diễn xướng), có thể chia
văn học dân gian thành bốn loại hình: Loại hình nói (luận lí): tục ngữ, câu
đố. Loại hình kể (tự sự): các loại truyện kể dân gian như thần thoại, truyền
thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Loại hình hát: ca dao, đồng dao, hát
ru. Loại hình diễn: tuồng, chèo, cải lương, múa rối.
• Xét về phương diện thể loại, có thể chia VHDG thành ba thể loại: Truyện
cổ dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Thơ
ca dân gian: ca dao, tục ngữ, câu đố, hát ru, đồng dao.
- Văn học viết là những tác phẩm văn thơ của tầng lớp tri thức( sư sãi, vua
quan, nho sĩ) viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ. Mặc dù ra đời
khá muộn, văn học viết vẫn là một bộ phận không thể tách rời của kho
tàng văn học Việt Nam, bởi nó không chỉ thừa hưởng những đặc tính vốn
có của văn học dân gian, đặc trưng của văn học viết còn cho phép nó tách
mình ra khỏi tính cộng đồng vốn có của văn học dân gian, dần khẳng định
tính cá nhân trong các tác phẩm.
- Qua từng giai đoạn văn học đã có nhiều sự biến đổi để phù hợp với hoàn
cảnh của đất nước. Mỗi một giai đoạn ta chứng kiến được những khuynh
hương văn học với những ý nghĩa sâu sắc.
2. Văn học nước ta qua từng giai đoạn
2.1Nhà Lý – Trần – Hồ -
Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: Dân tộc ta giành được quyền độc lập tự
chủ vào cuối thế kỉ X. -
Ba khuynh hướng văn học nổi trội: văn học Phật giáo (bao gồm
nhiều bài thơ phú, kệ, minh hàm chứa tư tưởng Phật giáo về triết
học, nhân sinh, xã hội: Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục), văn
thơ yêu nước (Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ…), khuynh hướng
tìm về cội nguồn dân tộc (phản ánh qua các dã sử, truyền thuyết
thời sơ sử: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái). -
Văn học thời Lý- Trần phản ánh những tư tưởng và tình cảm của con
người thời đại, nhìn chung mang nhiều yếu lố tích cực, lạc quan của
những vương triều đang ở thế đi lên. Cơ sở tư tưởng của nó là Phật
giáo và Nho giáo. Có 2 dòng văn học chính : văn học Phật giáo và
văn học yêu nước dân tộc. -
Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý – Trần chủ yếu là tư tưởng của
phái Thiền tông. Nó bao gồm các tác phẩm về triết học và những
cảm hứng Phật giáo, cùng là những tác phẩm về lịch sử Phật giáo thời Lý – Trần. -
Nhiều bài thơ phú, kệ, minh do các sư tăng trí thức viết, bàn về các
khái niệm sắc – không, tử – sinh, hưng – vong, quan hệ giữa Phật và
Tâm, đạo và đời, con người và thiên nhiên, phản ánh sự minh triết
và niềm lạc quan của cá nhân trong cuộc sống và thời đại.Sư Mãn
Giác để lại những câu thơ nổi tiếng về cảm hứng đó.
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
(nghĩa là : Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước nở cành mai) -
Một số nhà vua và quý tộc sùng Phật đã biên soạn những tác phẩm
về giáo lý nhà Phật như các cuốn Khóa hư lục, bài Thiền tông chi
nam của Trần Thái Tông, Thiền lâm thiết chủy ngữ lục của Trần
Nhân Tông, Tuệ trung thượng sĩ ngữ lục của Trần Tung. Về lịch sử
Phật giáo có các cuốn Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam tổ thực lục
nói về thiền phái Trúc tâm. Một số cuốn sách, cùng với những bản
kinh Phật giáo, đã được nhà nước cho đem khắc in và phổ biến. -
Cùng với văn học Phật giáo là văn học yêu nước cùng tinh thần yêu
nước với âm hưởng hào hùng. Các tác phẩm như Vận nước (Quốc tộ)
của Pháp Thuận, Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lí Công Uẩn, bài
thơ Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà) đã mở đầu cho dòng văn
học yêu nước. Hịch tướng sĩ (Dụ chư tì tướng hịch văn) của Trần
Quốc Tuấn, Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) của Trần Quang
Khải, Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, Phú sông Bạch
Đằng (Bạch Đằng giang phú) của Trương Hán Siêu... tiêu biểu cho nội dung yêu nước. -
Văn học chữ Hán với các thể loại tiếp thu từ Trung Quốc có những
thành tựu lớn như văn chính luận (Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ), văn
xuôi viết về lịch sử, văn hóa (Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu, Việt
điện u linh tập của Lí Tế Xuyên...), thơ phú (các sáng tác của Pháp
Thuận, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn
Trung Ngạn...). Văn học chữ Nôm đặt nền móng phát triển cho văn
học viết bằng ngôn ngữ dân tộc với một số bài thơ, bài phú Nôm. 2.2Thời Lê sơ -
Khuynh hướng văn học nổi trội:
Văn học yêu nước (gương mặt nổi bật là Nguyễn Trãi – một
chiến sĩ nho gia thấm đậm lòng yêu nước, thân dân, tư tưởng
nhân nghĩa và lòng khí tiết thể hiện qua các tác phẩm Quân
Trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Lam Sơn thực lục.
Văn học Nho giáo (thơ văn hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông chủ
xướng,có nội dung quan phương, thuyết giáo, ca tụng chế độ,
quan hệ vua – tôi với hình thức mang tính quy phạm, khuôn sáo trong cung đình. -
Các thể loại văn học Đại Việt thời Lê Sơ khá phong phú gồm thơ,
phú, chiếu, biểu, văn bia, truyện ký, cáo, chính luân. Lực lượng sáng
tác thời Lê sơ cũng khá hùng hậu và để lại nhiều thành tựu, mang
đến dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học thời phong kiến Việt Nam. -
Thời kỳ đầu: Nguyễn Trãi là tác giả nổi tiếng hàng đầu của văn học
thời Lê Sơ. Ông để lại rất nhiều tác phẩm xuất chúng và được ca
ngợi đến tận đời sau như:
Bình Ngô Đại Cáo: Viết vào tháng 3 năm 1427, thuật lại cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn bao gồm quá trình đánh đuổi quân Minh,
giành lại độc lập cho Đại Việt. Đây được xem là áng thiên cổ
hùng văn, bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 trong lịch sử Việt Nam.
Quân Trung từ mệnh tập: Viết từ năm 1423 đến 1427, phần
lớn là thư gửi cho tướng lĩnh nhà Minh trong thời gian chiến
tranh và biểu, dụ. Có tổng số 69 bài sưu tầm được cho đến này.
Ức trai thi tập: Tập thơ chữ Hán hiện còn 99 bài.
Quốc âm thi tập: Tập thơ chữ Nôm hiện còn 254 bài -
Thời kỳ sau: Dưới thời vua Lê Thánh Tông, văn học Đại Việt có nhiều
bước phát triển mới. Và chính Lê Thánh Tông là tác giả tiêu biểu của thời ký này.
Các tập thơ chữ Hán tiêu biểu gồm: Anh hoa hiếu trị (xướng
họa với con của các đại thần khi về Lam Kinh), Chinh Tây kỷ
hành (viết trên đường đánh Chiêm Thành), Quỳnh uyển cửu
ca (xướng họa với các văn nhân trong hội Tao Đàn), Châu cơ
thắng thưởng, Văn minh cổ súy, Cổ kim cung từ thi tập…
Lam Sơn Lương thủy phú: Bài phú miêu tả vẻ đẹp của núi
Lam và sông Lương, đề cao công trạng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Thơ chữ Nôm gồm: Hồng Đức quốc âm thi tập và một số bài
sáng tác trong Lê triều danh nhân thi tập. -
Ngô Chi Lan là nhà thơ nữ mang những bản sắc riêng, không gò ép,
đẹp cả ý lần lời. Sáng tác của bà thường kết hợp giữa vẻ đẹp cảnh
vật với những chi tiết chân thực trong đời sống và có cái nhìn nhân
ái trước cuộc đời và con người. -
Thái Thuận là nhà thơ trữ tình có tiếng thời Lê Thánh Tông. Tác
phẩm được các học trò sưu tầm thành Lã Đường thi tập. -
Nguyễn Bảo để lại tập thơ Châu Khê tập, do học trò sưu tầm khi ông mất. -
Đặng Minh Khiêm để lại tập thơ lịch sử Việt giám định sử thi, là tập
thơ vịnh sử lớn đầu tiên trong văn học Việt Nam. -
Vũ Quỳnh và Kiều Phú là hai nhà thơ có công lớn trong việc sắp xếp
lại các tác phẩm Lĩnh Nam chích quái từ thời nhà Trần.
Có thể thấy, nội dung văn học Đại Việt thời Lê sơ rất phong phú, phản ánh
được đa dạng đời sống chính trị, xã hội lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, còn đề
cao được các tinh thần yêu nước và ca ngợi nhiều chiến thắng vẻ vang của
Đại Việt lúc bấy giờ. 2.3Thế kỷ XVI-XIX -
Chế độ phong kiến Việt Nam cực thịnh vào thế kỷ XV. Sang thế kỷ
XVI, XVII chế độ này đã bộc lộ những dấu hiệu của sự suy yếu. Mầm
mống của cuộc khủng hoảng nội bộ đã xuất hiện. Ðây là hai thế kỷ nội chiến phong kiến. -
Ngược lại với sự suy thoái của Nho giáo thì đây lại là giai đoạn thịnh
đạt, những thế kỷ vàng của văn hóa dân tộc. Đây là toàn cảnh của
văn học đa sắc, đa khuynh hướng với nhiều thơ văn thể loại, nội
dung phong phú, trình độ nghệ thuật điêu luyện. Tính chất khai
phóng, nhân văn, hiện thực cũng rất đậm nét trong thời kỳ này. -
Trong thế kỷ XVI, tác giả nổi bật là Nguyễn Bỉnh Khiêm với thơ ca có
xu hướng thiên về mặt triết lý nhân sinh. Ông chính là người dung
hòa tinh hoa của ba tư tưởng Nho – Phật – Đạo, đồng thời là người
dự báo của thế kỷ, cảnh báo về vai trò lũng đoạn xã hội của đồng tiền.
Về phương diện nội dung,|văn học thế kỉ XV - thế kỉ XVII đi từ
nội dung yêu nước mang âm hưởng ngợi ca đến nội dung
phản ánh, phê phán hiện thực xã hội phong kiến. o
Văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn với các sáng tác của Nguyễn
Trãi như|Quân trung từ mệnh tập, Đại cáo bình Ngô... là sự
kết tinh thành tựu văn học yêu nước của năm thế kỉ
trước.|Thiên Nam ngữ lục|(thế kỉ XVII) là tác phẩm diễn ca lịch
sử viết bằng chữ Nôm, mang cảm hứng hào hùng, tràn đầy niềm tự hào dân tộc. o
Các sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm,|Truyền kì mạn lục|của
Nguyễn Dữ đã đánh dấu sự chuyển hướng từ cảm hứng ngợi
ca đất nước và vương triều phong kiến sang cảm hứng phê
phán những tệ lậu xã hội, những suy thoái về đạo đức.
Về phương diện nghệ thuật, văn học chữ Hán phát triển với
nhiều thể loại phong phú, đặc biệt là thành tựu của văn chính
luận (Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập|của Nguyễn
Trãi) và bước trưởng thành vượt bậc của văn xuôi tự sự
(Thánh Tông di thảo tương truyền|của Lê Thánh Tông,|Truyền
kì mạn lục|của Nguyễn Dữ), Bach Vân am thi văn tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm. o
Văn học chữ Nôm cớ sự Việt hóa thể loại tiếp thu từ
Trung Quốc đồng thời sáng tạo những thể loại văn học dân tộc. o
Thơ Nôm viết theo thể Đường luật và Đường luật xen
lục ngôn (Quốc âm thi tập|của Nguyễn Trãi,|Hồng Đức
quốc âm thi tập|của các tác giả thời Lê Thánh
Tông,|Bạch Vân quốc ngữ thi|của Nguyễn Bỉnh Khiêm...). -
Khúc ngâm, khúc vịnh viết theo thể song thất lục bát (Tứ thời khúc
vịnh|của Hoàng Sĩ Khải). -
Diễn ca lịch sử viết theo thể lục bát (Thiên Nam ngữ lục|- khuyết
danh) và song thất lục bát (Thiên Nam minh giám|- khuyết danh). -
Và khuynh hướng thơ văn trữ tình xuất hiện: thơ văn trữ tình nói
nhiều đến những chủ đề về khát vọng hạnh phúc ác nhân, khát
vọng cuộc sống hòa bình, nói nhiều đến nữ giới, tố cáo những mặt trái của cuộc sống.
Tập trung vào việc chống lại của chế độ chính trị đương thời.
Các tác phẩm văn học ít nhiều phản ánh sự áp bức bóc lột
của giai cấp thống trị và sự phẫn nộ của nhân dân.
Đề cao hạnh phúc và vai trò của con người, nhất là vai trò
phụ nữ mà những thời kỳ trước chưa đề cập. Phụ nữ trong
văn học thời kỳ này là những người tài sắc, có đức hạnh,
không chịu sự ràng buộc theo lễ giáo phong kiến, không chấp
nhận cảnh vợ chồng chia ly vì chinh chiến.
Phản ánh đúng hiện thức xã hội của tầng lớp phong kiến cai
trị. Hầu hết các tác phẩm đề cập quyền sống của con người,
nêu cao khát vọng của người lao động muốn có cuộc sống tốt đẹp. -
Những tác phẩm – tác giả chính của khuynh hướng này là Truyền kỳ
mạn lục (Nguyễn Dữ), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị
Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Sư kính tân
trang (Phạm Thái), thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều (Nguyễn Du). -
-Thế kỷ XIX, một xu hướng thơ văn mang tính phóng túng, hưởng
lạc đậm màu tư tưởng Lão Trang xuất hiện, với 2 tác giả điển hình
là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát. -
Thể loại hát nói đã rất thích hợp và có hiệu quả để thể hiện khuynh
hướng thơ văn tài tử này. Thể loại ký sự cũng rất phát triển trong
giai đoạn này. Những tác phẩm đáng lưu ý nhất là cuốn ký sự Vũ
trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Thượng kinh ký sự (Lê Hữu
Trác) và Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái). -
Cùng với nền văn học nho sĩ, văn học dân gian cũng bùng nổ với rất
nhiều thể loại truyền miệng và văn học chữ Nôm khuyết danh. Đó là
các truyện cười, truyện tiếu lâm (Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai
Tú Xuất), các truyện Nôm dài (Phan Trần, Thạch Sanh, Phạm Công
Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa). Nền văn học dân gian lúc này
mang đậm tính hiện thực (tố cáo cái ác) và nhân văn (khát
vọng chiến thắng của cái thiện). -
Thế kỷ XX, văn thơ yêu nước phát triển đến đỉnh cao, văn học phát
triển theo hướng chuyên nghiệp.
Các bước của quá trình hiện đại hóa:
Giai đoạn 1: (từ đầu thế kỉ XX đến 1920)
– Chữ quốc ngữ phổ biến rộng rãi.
– Báo chí, dịch thuật phát triển.
– Thành tựu chủ yếu của văn học giai đoạn này là thơ văn của các chí sĩ cách
mạng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… Sáng tác văn học giai đoạn này mặc dù
đã có đổi mới về nội dung, tư tưởng nhưng thể loại, ngôn ngữ… vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.
Đây là giai đoạn chuẩn bị cac điều kiện cần thiết cho quá trình hiện đại hóa. Giai đoạn 2 (1920 – 1930)
– Một số tác phẩm có giá trị xuất hiện như tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, thơ
của Tản Đà, truyện ngắn của Phạm Duy Tốn…
– Truyện kí của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp có tính chiến đấu cao và bút pháp hiện đại.
– Đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, yếu tố của văn học trung đại vẫn
tồn tại ở mọi thể loại từ nội dung đến hình thức. Giai đoạn 3 (1930 – 1945)
– Nở rộ truyện ngắn và tiểu thuyết viết theo lối mới. Khác với cách viết trong văn
học cổ, tư cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện: tiểu thuyết của tự
lực văn đoàn, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, …
– Thơ ca đổi mới sâu sắc ở cả phương diện nội dung (cách nhìn, cách cảm xúc
mới mẻ đối với con người và thế giới) và nghệ thuật (phá bỏ lối diễn đạt ước lệ,
những quy tắc cứng nhắc, công thức gò bó).
– Kịch nói, phóng sự, phê bình văn học xuất hiện.
– Công cuộc hiện đại háo được hoàn tất.
– Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng, vừa đấu
tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển.