Trần Văn Khánh - 2356020026
Câu 1: Nêu các hình thức của pháp luật. Việt Nam những hình thức
nào?
- Hình thức pháp luật cách thức giai cấp thống trị (lực lượng cầm quyền) sử
dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình thành pháp luật.
- Trong lịch sử đã 3 hình thức của pháp luật đó là: tập quán pháp, tiền lệ pháp
văn bản quy phạm pháp luật:
Tập quán pháp:
một cách tự phát, mang tính bảo thủ cao, ít biến đổi. Tập quán pháp không phải do quan
quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, không thể phản ánh tập trung đầy đủ được ý chí,
lợi ích của cộng đồng, không đảm bảo được một trong những yêu cầu quan trọng nhất của
nguyên tắc pháp chế triệt để tôn trọng giá trị pháp cao nhất của Hiến pháp.
+ Tập quán pháp mang tính cưỡng chế. Tập quán pháp thói quen hình thành từ đời
sống hay từ truyền thống văn hoá hội trong một thời gian dài. Thói quen này được thiết lập
bởi cộng đồng trở thành khuôn mẫu của hành vi trong đó, quyền nghĩa vụ của các
thành viên trong cộng đồng được chấp nhận tuân thủ một cách tự giác. Tập quán pháp
được sử dụng như một nguồn hỗ trợ cho pháp luật nhà nước, góp phần điều chỉnh các quan
hệ hội trong một địa phương.
Tiền lệ pháp:
+ Án lệ một hình thức của pháp luật, theo đó Nhà nước thừa nhận những bản án
quyết định giải quyết vụ việc của tòa án (trong các tập san án lệ) làm khuôn mẫu sở để
đưa ra phán quyết cho những vụ việc hoặc trường hợp tình tiết hay vấn đề tương tự sau
đó.
+ Tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của quan lập pháp xuất hiện từ
hoạt động của quan hành pháp pháp. vậy, hình thức này dễ tạo ra sự tùy tiện,
không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao của luật
phải phân định chức năng, quyền hạn của các quan trong bộ máy nhà nước trong việc
xây dựng thực hiện pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật:
+ Văn bản quy phạm pháp luật hay còn gọi Văn bản pháp quy một hình thức pháp
luật thành văn (Văn bản pháp) được thể hiện qua các văn bản chứa được các quy phạm pháp
luật do quan hoặc nhân thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ hội.
- Việt Nam đều cả 3 hình thức này, cụ thể là:
+ Tại Việt Nam, tập quán đã được thừa nhận áp dụng tại Bộ luật dân sự năm 2015
+ Tính tới đầu năm 2023, tại Tòa án Nhân dân Tối cao đã công bố tổng cộng 63 án lệ đa
dạng trong các lĩnh vực như: hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh
thương mại, lao động
+ Văn bản quy phạm pháp luật đang hình thức pháp luật phổ biến nhất tại Việt Nam
hiện nay với văn bản đứng đầu Hiến pháp, bên cạnh đó còn các Bộ Luật, Luật, Nghị
quyết của CP,...
PLĐC 30/01/2024
Câu 2: Văn bản quy phạm pháp luật gì? Trình bày các loại văn bản quy
phạm pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ ra giá trị pháp của chúng?
- Khái niệm: Văn bản quy phạm pháp luật văn bản chứa quy phạm pháp luật,
được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Các loại văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hiện nay:
Các văn bản luật Các văn bản dưới luật
Thẩm quyền
ban hành
Do Quốc hội ban hành Do các quan nhà nước ban hành
Hiệu lực
pháp
- hiệu lực pháp cao nhất. - hiệu lực pháp thấp hơn văn bản
luật.
Giá trị pháp
- văn bản quy phạm pháp
luật bản cho mọi văn bản
khác
- giá trị hiệu lực với mọi
hành vi
- Các văn bản dưới luật phải phù hợp
dựa trên sở của các văn bản luật
- hiệu lực với một số hành vi tương ứng
với thẩm quyền xử của quan ban
hành
Phân loại Hiến pháp, luật (bộ luật), Nghị
quyết của Quốc hội
Pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, lệnh,
quyết định, thông tư.
Câu 3: Phân tích bản chất của pháp luật hội chủ nghĩa
3.1. Pháp luật hội chủ nghĩa hệ thống quy tắc xử sự tính thống nhất nội tại cao
Tính chất này của pháp luật hội chủ nghĩa cao hơn bất kỳ một kiểu pháp luật nào
khác, bởi lẽ pháp luật hội chủ nghĩa được xây dựng trên sở các quan hệ pháp luật
kinh tế hội chủ nghĩa mang tính thống nhất cao. Chính điều này quyết định tính thống nhất
xu hướng phát triển của pháp luật hội chủ nghĩa.
3.2. Pháp luật hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân đông đảo nhân dân
lao động
Đây nét khác biệt căn bản giữa pháp luật hội chủ nghĩa với các kiểu pháp luật
trước đó. Nếu các kiểu pháp luật trước đó đều chung bản chất thể hiện ý chí của thiểu số
giai cấp bóc lột trong hội, công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số ấy, thì trái lại pháp luật
hội chủ nghĩa lại thể hiện ý chí của tuyệt đại đa số dân trong hội, đó ý chí của giai
cấp công nhân nhân dân lao động. Pháp luật hội chủ nghĩa “là pháp luật thực sự dân
chủ bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”.
3.3. Pháp luật hội chủ nghĩa do nhà nước ban hành bảo đảm thực hiện
Pháp luật do Nhà nước ban hành bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực
nhà nước.
PLĐC 30/01/2024
3.4. Pháp luật hội chủ nghĩa quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế hội chủ nghĩa
Chế độ kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật, pháp luật luôn phản ánh trình
độ phát triển của chế độ kinh tế. Mọi sự thay đổi của chế độ kinh tế sẽ dẫn đến những thay
đổi tương ứng của pháp luật ngược lại. Nếu pháp luật phản ánh đúng trình độ phát triển
kinh tế - hội thì sẽ vai trò tích cực ngược lại.
3.5. Pháp luật hội chủ nghĩa quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng Cộng sản
Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng giữ vai trò chỉ đạo phương hướng xây
dựng pháp luật, chỉ đạo nội dung pháp luật chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, áp dụng pháp
luật. Mặt khác, pháp luật luôn phản ánh đường lối của Đảng, sự chế hóa đường lối, chính
sách của Đảng thành các quy định chung thống nhất trên quy toàn hội.
3.6. Pháp luật hội chủ nghĩa quan hệ qua lại với các quy phạm hội khác
Pháp luật hội chủ nghĩa luôn quan hệ chặt chẽ với các quy phạm hội khác
như quy phạm đạo đức, tập quán, quy tắc xử sự của các tổ chức hội đoàn thể quần
chúng… Trong thực tiễn nhiều quy phạm pháp luật nội dung quy phạm đạo đức, tập
quán, những phong tục, truyền thống tốt đẹp của hội được phản ánh vào trong pháp luật,
ảnh hưởng nhất định tới việc xây dựng, thực hiện bảo vệ pháp luật. Để phát huy vai trò
của pháp luật thì cần thiết phải xem xét mối quan hệ giữa pháp luật với các quy phạm hội
khác, phát huy tính tích cực của các quy phạm hội loại bỏ dần những quy phạm hội
tiêu cực, nội dung trái với bản chất của pháp luật hội chủ nghĩa.
Câu 4: Thế nào quy phạm pháp luật? Chỉ cấu của quy phạm pháp
luật.
- Khái niệm: Quy phạm pháp luật quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc chung do
nhà nước hội chủ nghĩa ban hành thể hiện ý chí bảo vệ lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động nhằm điều chỉnh quan hệ hội mục đích xây dựng chủ
nghĩa hội.
- Đặc điểm (Tìm hiểu thêm):
+ Quy phạm pháp luật luôn khuôn mẫu cho hành vi của con người, chỉ ra cách xử
sự xác định các phạm vi xử sự của con người, cũng như những hậu quả bất lợi nếu như
không thực hiện đúng hoặc vi phạm chúng.
+ Quy phạm pháp luật được ban hành không phải cho một tổ chức hay nhân cụ thể
cho tất cả các tổ chức nhân tham gia quan hệ hội điều chỉnh.
+ Quy phạm pháp luật không hình thành một cách tự nhiên phụ thuộc vào ý chí
nhà nước, ý chí của những người tạo ra nó.
+ Quy phạm pháp luật tiêu chuẩn để xác định giới hạn đánh giá hành vi của con
người.
+ Quy phạm pháp luật do các quan nhà nước ban hành bảo đảm thực hiện. Thuộc
tính do các quan nhà nước ban hành bảo đảm thực hiện thuộc tính thể hiện sự khác
biệt bản giữa quy phạm pháp luật với các loại quy phạm hội khác.
+ Quy phạm pháp luật quy tắc xử sự trong đó chỉ ra các quyền nghĩa vụ pháp của
các bên tham gia quan hệ hội điều chỉnh.
- Về nguyên tắc, mỗi quy phạm pháp luật ba bộ phận giả định, quy định chế
tài. Trong đó:
+ Giả định phần xác định chủ thể tham gia quan hệ pháp luật những hoàn cảnh,
điều kiện chủ thể gặp phải trong thực tiễn
PLĐC 30/01/2024
+ Quy định phần xác định chủ thể phải làm khi gặp phải hoàn cảnh, điều kiện đã
nêu trong phần giả định (được một quyền, phải làm một nghĩa vụ, phải tránh các xử sự bị
cấm)
+ Chế tài phần nêu biện pháp, hình thức xử của nhà nước đối với người đã xử sự
không đúng với quy định, hậu quả người đó phải gánh chịu. Tuy nhiên, trong thực tiễn
xây dựng pháp luật, phần lớn các quy phạm pháp luật được xây dựng từ hai bộ phận giả
định - quy định hoặc giả định - chế tài. Trừ một số quy phạm pháp luật đặc biệt như quy
phạm định nghĩa, quy phạm xác định nguyên tắc, còn hầu hết các quy phạm pháp luật khác
đều phải phần giả định. Bởi nếu không phần giả định thì không thể xác định được quy
phạm pháp luật này áp dụng cho ai, trong trường hợp nào hoặc với điều kiện nào. Các quy
phạm pháp luật hiến pháp thông thường chỉ phần giả định quy định, còn các quy phạm
pháp luật phần riêng của Bộ luật hình sự thường chỉ phần giả định chế tài.
dụ:
Điều 332. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự
Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng nghĩa vụ quân sự,
không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích còn vi
phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt từ 03 tháng đến 02
năm.
Điều 328. Tội môi giới mại dâm
Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm,
thì bị phạt từ 06 tháng đến 03 năm.
Câu 5: Sự kiện pháp gì? Nêu các loại sự kiện pháp lấy dụ.
- Khái niệm: Sự kiện pháp những sự kiện thực tế sự xuất hiện hoặc mất đi của
chúng sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật.
- Sự kiện pháp được chia làm 2 loại sự biến hành vi
+ Sự biến pháp sự kiện tính chất tự nhiên xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của
con người, trong những trường hợp nhất định làm xuất hiện, thay đổi hoặc làm chấm dứt
quan hệ pháp luật. dụ: động đất, mưa bão, lụt, lốc xoáy... làm chết người, phá huỷ tài
sản của công dân.
+ hành vi thực hiện một sự kiện thực tế, Hành vi pháp cụ thể theo ý chí của con
người làm xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. dụ: hành vi kết hợp
đồng, hành vi trộm cắp, hành vi giết người,...
PLĐC 30/01/2024

Preview text:

Trần Văn Khánh - 2356020026
Câu 1: Nêu các hình thức của pháp luật. Ở Việt Nam có những hình thức nào? -
Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị (lực lượng cầm quyền) sử
dụng để thể hiện ý chí của giai cấp mình thành pháp luật. -
Trong lịch sử đã có 3 hình thức của pháp luật đó là: tập quán pháp, tiền lệ pháp và
văn bản quy phạm pháp luật: Tập quán pháp:
+ Tập quán pháp bắt nguồn từ những tập tục đã lưu truyền trong xã hội, được hình thành
một cách tự phát, mang tính bảo thủ cao, ít biến đổi. Tập quán pháp không phải do cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, không thể phản ánh tập trung và đầy đủ được ý chí,
lợi ích của cộng đồng, không đảm bảo được một trong những yêu cầu quan trọng nhất của
nguyên tắc pháp chế là triệt để tôn trọng giá trị pháp lý cao nhất của Hiến pháp.
+ Tập quán pháp mang tính cưỡng chế. Tập quán pháp là thói quen hình thành từ đời
sống hay từ truyền thống văn hoá xã hội trong một thời gian dài. Thói quen này được thiết lập
bởi cộng đồng và trở thành khuôn mẫu của hành vi mà trong đó, quyền và nghĩa vụ của các
thành viên trong cộng đồng được chấp nhận và tuân thủ một cách tự giác. Tập quán pháp
được sử dụng như một nguồn hỗ trợ cho pháp luật nhà nước, góp phần điều chỉnh các quan
hệ xã hội trong một địa phương. Tiền lệ pháp:
+ Án lệ là một hình thức của pháp luật, theo đó Nhà nước thừa nhận những bản án và
quyết định giải quyết vụ việc của tòa án (trong các tập san án lệ) làm khuôn mẫu và cơ sở để
đưa ra phán quyết cho những vụ việc hoặc trường hợp có tình tiết hay vấn đề tương tự sau đó.
+ Tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp mà xuất hiện từ
hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp. Vì vậy, hình thức này dễ tạo ra sự tùy tiện,
không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao của luật và
phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc
xây dựng và thực hiện pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật:
+ Văn bản quy phạm pháp luật hay còn gọi là Văn bản pháp quy là một hình thức pháp
luật thành văn (Văn bản pháp) được thể hiện qua các văn bản chứa được các quy phạm pháp
luật do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội. -
Ở Việt Nam đều cả 3 hình thức này, cụ thể là:
+ Tại Việt Nam, tập quán đã được thừa nhận và áp dụng tại Bộ luật dân sự năm 2015
+ Tính tới đầu năm 2023, tại Tòa án Nhân dân Tối cao đã công bố tổng cộng 63 án lệ đa
dạng trong các lĩnh vực như: hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động
+ Văn bản quy phạm pháp luật đang là hình thức pháp luật phổ biến nhất tại Việt Nam
hiện nay với văn bản đứng đầu là Hiến pháp, bên cạnh đó còn có các Bộ Luật, Luật, Nghị quyết của CP,... PLĐC – 30/01/2024
Câu 2: Văn bản quy phạm pháp luật là gì? Trình bày các loại văn bản quy
phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra giá trị pháp lý của chúng? -
Khái niệm: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật,
được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. -
Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay: Các văn bản luật Các văn bản dưới luật
Thẩm quyền Do Quốc hội ban hành
Do các cơ quan nhà nước ban hành ban hành Hiệu lực
- Có hiệu lực pháp lý cao nhất. - Có hiệu lực pháp lý thấp hơn văn bản pháp lý luật.
Giá trị pháp - Là văn bản quy phạm pháp
- Các văn bản dưới luật phải phù hợp và lý
luật cơ bản cho mọi văn bản
dựa trên cơ sở của các văn bản luật khác
- Có hiệu lực với một số hành vi tương ứng
- Có giá trị hiệu lực với mọi
với thẩm quyền xử lý của cơ quan ban hành vi hành nó Phân loại
Hiến pháp, luật (bộ luật), Nghị Pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, lệnh, quyết của Quốc hội quyết định, thông tư.
Câu 3: Phân tích bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa
3.1. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao
Tính chất này của pháp luật xã hội chủ nghĩa cao hơn bất kỳ một kiểu pháp luật nào
khác, bởi lẽ pháp luật xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở các quan hệ pháp luật –
kinh tế xã hội chủ nghĩa mang tính thống nhất cao. Chính điều này quyết định tính thống nhất
và xu hướng phát triển của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
3.2. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân
lao độngĐây là nét khác biệt căn bản giữa pháp luật xã hội chủ nghĩa với các kiểu pháp luật
trước đó. Nếu các kiểu pháp luật trước đó đều có chung bản chất là thể hiện ý chí của thiểu số
giai cấp bóc lột trong xã hội, là công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số ấy, thì trái lại pháp luật xã
hội chủ nghĩa lại thể hiện ý chí của tuyệt đại đa số dân cư trong xã hội, đó là ý chí của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động. Pháp luật xã hội chủ nghĩa “là pháp luật thực sự dân
chủ vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”.
3.3. Pháp luật xã hội chủ nghĩa do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện
Pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước. PLĐC – 30/01/2024
3.4. Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa
Chế độ kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật, pháp luật luôn phản ánh trình
độ phát triển của chế độ kinh tế. Mọi sự thay đổi của chế độ kinh tế sẽ dẫn đến những thay
đổi tương ứng của pháp luật và ngược lại. Nếu pháp luật phản ánh đúng trình độ phát triển
kinh tế - xã hội thì nó sẽ có vai trò tích cực và ngược lại.
3.5. Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản
Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng giữ vai trò chỉ đạo phương hướng xây
dựng pháp luật, chỉ đạo nội dung pháp luật và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, áp dụng pháp
luật. Mặt khác, pháp luật luôn phản ánh đường lối của Đảng, là sự chế hóa đường lối, chính
sách của Đảng thành các quy định chung thống nhất trên quy mô toàn xã hội.
3.6. Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ qua lại với các quy phạm xã hội khác
Pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác
như quy phạm đạo đức, tập quán, quy tắc xử sự của các tổ chức xã hội và đoàn thể quần
chúng… Trong thực tiễn có nhiều quy phạm pháp luật có nội dung là quy phạm đạo đức, tập
quán, những phong tục, truyền thống tốt đẹp của xã hội được phản ánh vào trong pháp luật,
ảnh hưởng nhất định tới việc xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật. Để phát huy vai trò
của pháp luật thì cần thiết phải xem xét mối quan hệ giữa pháp luật với các quy phạm xã hội
khác, phát huy tính tích cực của các quy phạm xã hội và loại bỏ dần những quy phạm xã hội
tiêu cực, có nội dung trái với bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Câu 4: Thế nào là quy phạm pháp luật? Chỉ rõ cơ cấu của quy phạm pháp luật. -
Khái niệm: Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc chung do
nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội vì mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội. -
Đặc điểm (Tìm hiểu thêm):
+ Quy phạm pháp luật luôn là khuôn mẫu cho hành vi của con người, nó chỉ ra cách xử
sự và xác định các phạm vi xử sự của con người, cũng như những hậu quả bất lợi gì nếu như
không thực hiện đúng hoặc vi phạm chúng.
+ Quy phạm pháp luật được ban hành không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà
cho tất cả các tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh.
+ Quy phạm pháp luật không hình thành một cách tự nhiên mà nó phụ thuộc vào ý chí
nhà nước, ý chí của những người tạo ra nó.
+ Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người.
+ Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Thuộc
tính do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện là thuộc tính thể hiện sự khác
biệt cơ bản giữa quy phạm pháp luật với các loại quy phạm xã hội khác.
+ Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự trong đó chỉ ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý của
các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. -
Về nguyên tắc, mỗi quy phạm pháp luật có ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài. Trong đó:
+ Giả định là phần xác định chủ thể tham gia quan hệ pháp luật và những hoàn cảnh,
điều kiện mà chủ thể gặp phải trong thực tiễn PLĐC – 30/01/2024
+ Quy định là phần xác định chủ thể phải làm gì khi gặp phải hoàn cảnh, điều kiện đã
nêu trong phần giả định (được một quyền, phải làm một nghĩa vụ, phải tránh các xử sự bị cấm)
+ Chế tài là phần nêu rõ biện pháp, hình thức xử lý của nhà nước đối với người đã xử sự
không đúng với quy định, hậu quả mà người đó phải gánh chịu. Tuy nhiên, trong thực tiễn
xây dựng pháp luật, phần lớn các quy phạm pháp luật được xây dựng từ hai bộ phận là giả
định - quy định hoặc giả định - chế tài. Trừ một số quy phạm pháp luật đặc biệt như quy
phạm định nghĩa, quy phạm xác định nguyên tắc, còn hầu hết các quy phạm pháp luật khác
đều phải có phần giả định. Bởi nếu không có phần giả định thì không thể xác định được quy
phạm pháp luật này áp dụng cho ai, trong trường hợp nào hoặc với điều kiện nào. Các quy
phạm pháp luật hiến pháp thông thường chỉ có phần giả định và quy định, còn các quy phạm
pháp luật phần riêng của Bộ luật hình sự thường chỉ có phần giả định và chế tài. Ví dụ:
Điều 332. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự
“Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự,
không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
Điều 328. Tội môi giới mại dâm
“Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm,
thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Câu 5: Sự kiện pháp lý là gì? Nêu các loại sự kiện pháp lý và lấy ví dụ. -
Khái niệm: Sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hoặc mất đi của
chúng sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. -
Sự kiện pháp lý được chia làm 2 loại là sự biến và hành vi
+ Sự biến pháp lý là sự kiện có tính chất tự nhiên xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của
con người, trong những trường hợp nhất định làm xuất hiện, thay đổi hoặc làm chấm dứt
quan hệ pháp luật. Ví dụ: động đất, mưa bão, lũ lụt, lốc xoáy... làm chết người, phá huỷ tài sản của công dân.
+ Hành vi pháp lý là hành vi thực hiện một sự kiện thực tế, cụ thể theo ý chí của con
người làm xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Ví dụ: hành vi ký kết hợp
đồng, hành vi trộm cắp, hành vi giết người,... PLĐC – 30/01/2024