TỔNG HỢP TẤT CẢ CÁC DẠNG BÀI TẬP CPQT THƯỜNG GẶP
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN LQT
* Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế:
Thứ nhất, Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.
Thứ hai, nguyên tắc cấm sử dụng lực hoặc đe doạ dùng lực trong quan hệ
quốc tế.
Thứ ba, nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình.
Thứ tư, nguyên tắc không can thiệp nội bộ các quốc gia khác.
Thứ năm, nguyên tắc quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác và giúp đỡ nhau.
Thứ sáu, nguyên tắc các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết.
Thứ bảy, nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế (pacta sunt Servanda).
Tình huống 1. Vụ việc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 giữa Iraq liên quân 30
quốc gia thuộc Liên Hợp quốc. Ngày 2/8/1990, Iraq tiến hành chiến tranh xâm chiếm
Kuwait sau khi Iraq cho rằng Kuwait đã “khoan khiêng” giếng dầu của họ vào biên
giới Iraq. Tuy nhiên, Iraq không đưa ra được những căn cứ chứng minh cụ thể hành
vi của Kuwait. Năm 1991, chiếntranh Vùng Vịnh với sự tham gia của Hoa với
cách thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc đã cùng với gần 30 quốc gia
tham chiến giải phóng Kuwait. Hậu quả của cuộc xâm chiếmIraq phải rút quân về
nước và ngay lập tức bị LHQ áp đặt trừng phạt kinh tế.
1. Hành vi của Iraq có vi phạm LQT hay không? Nếu vi phạm, Iraq đã vi phạmnhững
quy định pháp luật quốc tế nào?
2. Việc Kuwait và các nước phe đồng minh thuộc LHQ sử dụng các biện pháp vũtrang
và phi vũ trang có hợp pháp hay không? Vì sao?
-Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã “khoan nghiêng” giếng
dầucủa họ vào biên giới Iraq.
-Ngày 2/8/1990 Iraq xâm chiếm Kuwait.-Liên minh gần 30 quốc gia do Hoa lãnh đạo
và được LHQ phê chuẩn để giải phóng Kuwait.
-Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay lập tức bị LHQ áp đặt trừng phạt kinh tế. Theo
Điều 2 khoản 1 Hiến chương LHQ tuyên bố 1970, LHQ được xây dựng trên nguyên
tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên. Tất cả các quốc gia đều
quyềnnhư nhau, toàn vẹn lãnh thổ chế độ chính trị độc lập. Chủ quyền quốc gia phải
được đảm bảo 1 cách toàn vẹn trong mọi trường hợp.
-Theo Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ Tuyên bố năm 1970, tất cả các quốc gia
thành viên LHQ từ bỏ đe doạ bằng lực hoặc sử dụng lực trong quan hệ quốc tế
nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất
quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của LHQ.
-Theo Điều 2, khoản 3 Điều 33 Hiến chương LHQ Tuyên bố năm 1970, tất cảcác
thành viên LHQ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình, sao cho
không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý.
Hành vi xâm chiếm của Iraq là vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của LQT.Đó
hành vi vi phạm những nguyên tắc sau đây: nguyên tắc bình đẳng chủ quyềngiữa các
quốc gia; nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; nguyên tắchoà bình giải
quyết tranh chấp quốc tế.
-Theo Điều 2 khoản 1 Hiến chương LHQ Tuyên bố 1970, hành vi xâm chiếm lãnhthổ
Kuwait của Iraq đã xâm phạm về chủ quyền, về sự toàn vẹn lãnh thổ của Kuwait.-Theo
Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ Tuyên bố 1970, hành vi sử dụng vũ trangcủa Iraq
xâm chiếm Kuwait vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cấm dùng lựchoặc đe doạ
dùng vũ lực.-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố
1970,việc sử dụng lực thay thế cho việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải
quyếttranh chấp hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc bản của Luật Quốc
tế.-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970,việc
sử dụnglực thay thế cho việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyếttranh chấp
là hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế.-Việc Kuwait sử
dụng biện pháp vũ trang đáp trả hành vi xâm chiếm của Iraq là phùhợp với các nguyên tắc
bản. Đó trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cấm sửdụng lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực, tức hành vi tự vệ quốc gia khi bị quốc giakhác sử dụng các biện pháp trang
xâm chiếm lãnh thổ quốc gia mình.-Theo Chương VII (từ Điều 39 đến 51) Hiến chương
Liên Hợp quốc Tuyên bố1970, việc Liên Hợp quốc can thiệp vào cuộc chiến là hoàn
toàn hợp pháp. Xét vềpháp lý, hành vi can thiệp vào cuộc chiến phù hợp với quy định về
thẩm quyền, mụcđích của Hiến chương Liên Hợp quốc. Mục đích của Liên hợp quốc
duy trì hoàbình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó, thị hành những biện pháp
tập thểcó hiệu quả để phòng ngừa loại trừ các mối đe dọa hoà bình, cấm mọi hành vi
xâmlược phá hoại hoà bình khác; điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp
hoặcnhững tình thế nh chất quốc tế thể đưa đến sự phá hoại hoà bình, bằng
phươngpháp hoà bình theo đúng nguyên tắc của công pháp luật quốc tế. Do đó,
đứngtrước tình hình cuộc chiến làm mất hòa bình, an ninh khu vực thế giới, Liên
Hợpquốc cần can thiệp vào giải quyết tranh chấp. việc Liên Hợp quốc sử dụng
cácbiện pháp phi trang (trừng phạt kinh tế) các biện pháp trang cấp thiết
vàhợp pháp.Tình huống 2. Phán quyết giải quyết vụ án giữa Nicaragua và Mỹ của Tòa án
Công lýquốc tế ngày 27 tháng 8 năm 1986.Năm 1979, chế độ Sandinista giành chính
quyền Nicaragua mở chiến dịch giảiphóng Honduras, El Salvador Costa Rica.
Nicaragua cung cấp khí, đạn dược,trang thiết bị khí tài, tài chính cho phong trào
kháng chiến El Salvador. Ngày 23/11/1981, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan ký Chỉ thị 17
trao quyền cho Cục tìnhbáo trung ương (CIA) thành lập lực lượng Contra để lật đổ chế
độ Sandinista ởNicaragua, đồng thời viện trợ quân sự cho Honduras El Salvador. Mỹ
đã đào tạo, vũ trang, cung cấp tài chính nhu yếu phẩm cho lực lượng Contra và hỗ trợ
các hoạtđộng quân sự bán quân sự chống lại Nicaragua. Trong các năm 1983 – 1984,
Mỹ tấn công vũ trang vào Nicaragua bằng đường biển,đường bộ và đường không vào các
căn cứ Puerto Sandino, Corinto, Potosi các tàutuần tra Puerto Sandino. Đồng thời,
Mỹ tiếp tục sử dụng các biện pháp trực tiếp vàgián tiếp để cưỡng ép và đe dọa chính phủ
Nicaragua; sử dụng lực đe dọa sử dụngvũ lực chống lại Nicaragua bằng việc đặt
mìn ở nội thủy và lãnh hải của Nicaraguatrong những tháng đầu năm 1984; can thiệp vào
công việc nội bộ của Nicaragua; cảntrở thương mại đường biển hòa bình; giết hại, gây
thương vong bắt cóc người dânNicaragua. Ngày 09/4/1984, Nicaragua kiện Mỹ lên
Tòa án Công quốc tế (ICJ). Ngày 18/01/1985,Mỹ tuyên bố không tham gia vụ kiện
bác bỏ thẩm quyền của ICJ nhưng ICJ khẳngđịnh có thẩm quyền và vụ kiện vẫn tiếp diễn
mặc dù không có sự tham gia của Mỹ. ICJtừ chối lập luận của Mỹ về việc sử dụng quyền
tự vệ thập thể để chống lại Nicaragua,yêu cầu Mỹ phải ngừng các hành vi của mình
bồi thường thiệt hại cho Nicaragua. Từ năm 1982 - 1985, Mỹ năm lần dùng quyền phủ
quyết khi vấn đề đưa ra Hội đồngBảo An Liên hợp quốc. Ngày 28/10/1986, Mỹ tiếp tục
phủ quyết nghị quyết của Hộiđồng Bảo An kêu gọi thực hiện phán quyết. Ngày
03/11/1986, nghị quyết này được đưara Đại hội đồng Liên hợp quốc được thông qua
với số phiếu 94/97 nhưng Mỹ vẫnkhông tuân thủ phán quyết.1. Hành vi của Mỹ vi
phạm các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế hay không? Vìsao?2. Việc Mỹ phủ quyết
nghị quyết của Hội đồng Bảo an kêu gọi thực hiện phán quyết cóhợp pháp hay không? Vì
sao?Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp quốc Tuyên bố 1970, Hiến chương này
hoàn toànkhông cho phép Liên hợp quốc được can thiệp vào những công việc thực chất
thuộc thẩmquyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, không đòi hỏi các thành viên của
Liên hợp quốcphải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến
chương.Điều 2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc Tuyên bố 1970, tất cả các quốc
gia thànhviên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tếnhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất
kỳ quốcgia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp
quốc.Điều 2 khoản 1 Hiến chương Liên Hợp quốc Tuyên bố 1970, Liên hợp quốc
được xâydựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên.-
Theo Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp quốc Tuyên bố 1970, Mỹ đã đào tạo,
vũtrang, cung cấp tài chính nhu yếu phẩm cho lực lượng Contra hỗ trợ các hoạt
động quânsự bán quân sự chống lại Nicaragua, vi phạm nghĩa vụ theo công pháp
quốc tế trongviệc không được can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.- Theo Điều
2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc Tuyên bố 1970, Bằng việc tấn côngvào lãnh
thổ Nicaragua trong các năm 1983 - 1984, Mỹ đã vi phạm công pháp quốc tế trongviệc sử
dụng vũ lực chống lại nước khác.
- Theo Điều 2 khoản 1 Hiến chương Liên Hợp quốc Tuyên bố 1970, Với các hành
độngtấn công trên, Mỹ đã vi phạm chủ quyền của nước khác. Bằng việc đặt mìn nội
thủy lãnhhải của Nicaragua trong những tháng đầu năm 1984, Mỹ đã vi phạm công
pháp quốc tế trongviệc không được sử dụng vũ lực chống lại nước khác, không được can
thiệp vào công việcnội bộ của nước khác, không được cản trở thương mại đường biển hòa
bình- Căn cứ vào Điều 27 Hiến chương Liên Hợp quốc, Mỹ đã thực hiện quyền phủ quyết
(quyềnveto) của mình phủ quyết việc thông qua nghị quyết thúc đẩy thực hiện phán quyết
của ICJxét xử vụ án của Mỹ Ni agua bên thua Mỹ. Mặc mục đích sử dụng
quyền phủquyết đi ngược lại tinh thần bảo đảm thực thi pháp luật quốc tế nhưng thẩm
quyền sử dụngquyền phủ quyết hợp pháp tranh chấp trên không thuộc đối chiếu
chương VI Điều 52Hiến chương Liên Hợp quốc.TÌNH HUỐNG VỀ CHỦ THỂ CỦA
LQT1. Kiến thức cần trao đổi* Các chủ thể của Luật Quốc tế- Chủ thể Luật Quốc tế là
thực thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập,có đầy đủ quyền
nghĩa vụ quốc tế khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lýquốc tế do chính
hành vi của chủ thể gây ra.- Những dấu hiệu cơ bản của chủ thể Luật Quốc tế bao gồm:1)
sự tham gia một cách độc lập vào các quan hệ do Luật Quốc tế điều chỉnh không
phụthuộc vào ý chí của chủ thể khác;2) các quyền nghĩa vụ riêng biệt đối với các
chủ thể khác;3) khả năng độc lập gánh vác những trách nhiệm pháp quốc tế do
những hành vi củamình gây ra.- Dựa vào các dấu hiệu, chủ thể Luật Quốc tế bao gồm:
Quốc gia, dân tộc đang đấu tranhgiành quyền tự quyết, tổ chức quốc tế liên chính phủ và
một số chủ thể đặc biệt khác như Tòathánh Vatican, vùng lãnh thổ.* Công nhận trong
Luật Quốc tế- Công nhận là hành vi pháp chính trị của bên công nhận, dựa trên nền tảng
các động nhấtđịnh nhằm xác nhận sự tồn tại của một thành viên mới trong cộng đồng
quốc tế, khẳng địnhquan hệ của bên công nhận đối với chính sách, chế độ chịnh trị, kinh
tế... của thành viên mới,đồng thời thông qua hành vi pháp lý chính trị đó mà bê công nhận
thể hiện ý định muốn thiếtlập các quan hệ bình thường và ổn định với thành viên mới của
cộng đồng quốc tế trongnhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế.- Các thể loại công
nhận có thể kể đến như sau:+Công nhận quốc gia mới+ Công nhận chính phủ mới+ Công
nhận dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết-Các hình thức công nhận quốc tế
thể kể đến bao gồm:+ Công nhận de jure+ Công nhận ad học* Kế thừa quốc gia trong
Luật Quốc tế
- Kế thừa quốc gia trong Luật Quốc tế là sự thay thế của một quốc gia này bằng một quốc
giakhác trong trách nhiệm gánh vác các quan hệ quốc tế đối với lãnh thổ nào đó.- Chủ thể
của quan hệ kế thừa là các quốc gia. Bao gồm các quốc gia để lại kế thừacácquốc gia
kế thừa.- Đối tượng kế thừa là các quyềnnghĩa vụ quốc tế được chuyển dịch từ quốc
gia này sangquốc gia khác.- Sự kiện pháp làm phát sinh, thay đổi quyền thừa kế: Sự
kiện làm xuất hiện quan hệ này làsự thau đổi về chủ quyền quốc gia trên một lãnh thổ nào
đó.Sự thay đổi này có thể là sự hình thành quốc gia mới (do tách, hợp nhất...) hoặc khi
sựchuyển dịch lãnh thổ (nghĩa lãnh thổ của quốc ginày chuyển nhượng một phần cho
quốcgia khác. dụ: Hồng Kông, Macao của trung Quốc được chuyển dịch cho Anh
Bồ ĐàoNha.2. Tình huống và hình thành vấn đề cần giải quyếtTình huống 1. Tòa án công
lý quốc tế đưa ra phán quyết công nhận Kosovo là quốc giađộc lập".Ngày 17 tháng 2 năm
2008, Nghị viện Kosovo tuyên bố độc lập, từ đó giành đượccông nhận ngoại giao
quốc gia chủ quyền từ 110 quốc gia thành viên Liên Hiệpquốc (tính đến tháng
12/2016). Trong đó 69 nước, bao gồm Mỹ 22 nước EU, đãcông nhận tính độc lập
của Kosovo, trong khi để Kosovo trở thành thành viên của LiênHợp quốc, cần đa số (ít
nhất 97 nước) thừa nhận.Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới vẫn phản đối hoặc không
thừa nhận tuyên bố độclập của Kosovo hai do chính: một là, Nghị quyết 1244 của
Hội đồng Bảo an LiênHợp quốc năm 1999 khẳng định sự toàn vẹn lãnh thổ của Cộng hoà
liên bang Nam Tư,mà sau này là của Serbia; hai là, lúc khởi điểm, Kosovo không phải là
một nước Cộnghoà thuộc Liên bang Nam Tư mà chỉ là một tỉnh tự trị, nên việc công nhận
độc lập choKosovo sẽ tạo tiền lệ nguy hiểm, khiến nhiều khu vực tự trị khác trên thế giới
thể đòiquyền độc lập.Ngày 22 tháng 7 năm 2010, Tòa án Công quốc tế (ICJ) của
Liên Hợp quốc tại TheHague, Lan đã chính thức tuyên bố việc tuyên bố độc lập của
Kosovo là không viphạm pháp luật quốc tế vì pháp luật quốc tế không cấm “tuyên bố độc
lập”.1. Hãy chứng minh luận điểm Kosovo đầy đủ các dấu hiệu trở thành một quốc
giađộc lập luận điểm Kosovo không phải một quốc gia độc lập?2. Việc công nhận
và không công nhận của các chủ thể Luật Quốc tế khác có quyết địnhtư cách chủ thể của
Kosovo hay không? Vì sao? Ý nghĩa của việc công nhận Kosovo làquốc gia độc lập? Vấn
đề thứ nhấtĐiều 1 Công ước Montevideo về quyền nhiệm vụ của các Quốc gia 1933
ghi nhận “mộtquốc gia là một chủ thể của luật quốc tế nên đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn
về: dân ổnđịnh, lãnh thổ xác định, chính phủ khả năng tham gia vào các quan hệ
quốc tế”.Điều 6 Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các Quốc gia 1933 quy
định việccông nhận của một quốc gia chỉ có nghĩa là quốc gia công nhận nó chấp nhận
cách củaquốc gia khác với tất cả các quyền và nghĩa vụ được xác định bởi luật pháp quốc
tế. Công nhận là vô điều kiện và không thể thu hồi.
Vấn đề thứ hai- Điều 1 Công ước Montevideo về quyền nhiệm vụ của các Quốc gia
1933 Xét về các dấuhiệu này, Kosovo đủ điều kiện để trở thành một quốc gia độc lập.-
Điều 6 Công ước Montevideo về quyền nhiệm vụ của các Quốc gia 1933 Như vậy,
việccông nhận hay không công nhận bởi các chủ thể khác không làm thay đổi tư cách chủ
thể củaKosovo khi đáp ứng các dấu hiệu trở thành quốc gia độc lập.Vấn đề thứ ba-Việc
công nhận là quốc gia mới trong Luật Quốc tế không tạo ra tư cách chủ thể mới,không tạo
ra quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của Kosovo nhưng tạo ra và bảo đảmnhững điều kiện
thuận lợi để thiết lập quan hệ nhiều mặt; đồng, điều kiện thuận lợicho bên được công
nhận tham gia quan hệ quốc tế.-Thiết lập quan hệ ngoại giao quan hệ lãnh sự giữa
Kosovo và những chủ thể côngnhận.-Tạo điều kiện cho Kosovo tham gia ký kết các điều
ước quốc tế song phương đaphương; tham gia vào các hội nghị quốc tế tổ chức
quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợicho Kosovo thực hiện quyền miễn trừ quốc gia tại lãnh
thổ quốc gia công nhận. Tạocơ sở pháp lý để xác định hiệu lực của các văn bản pháp luật
do Kosovo ban hành.Tình huống 2. Kế thừa quốc gia đối với sự hợp nhất quốc gia A vào
quốc gia B.Ngày 23/8/1989, quốc gia A và quốc gia B quyết định hợp nhất thành quốc gia
C, đặtlãnh thổ hai nước này dưới một hệ thống pháp luật của quốc gia C vào ngày
03/10/1990.Trước đó, quốc gia B là thành viên của Hội đồng châu Âu từ năm 1950, thành
viên củaNATO từ nằm 1955 và tham gia Hiệp ước Roma năm 1957. Quốc gia A và quốc
gia D cóký kết Điều ước quốc tế X về phân định đường biên giới trên bộcó khoản nợ
côngđối với ngân hàng thế giới 80 tỷ USD. Sau khi hợp nhất, quốc gia C tuyên bố
khôngchấp nhận các nội dung về phân định biên giới giữa quốc A quốc gia D trước
đâyđược ghi nhận trong Điều ước quốc tế X, đồng thời quốc gia C sẽ hoàn toàn không
chịutrách nhiệm đối với món nợ công. Quốc gia D và ngân hàng thế giới phản đối tuyên
bốcủa quốc gia C.1. Sau khi hợp nhất, vấn đề kế thừa quốc gia của quốc gia C được đặt ra
như thế nào?Vấn đề thứ nhất(điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1978 về kế thừa
quốc gia đối với điều ước quốc tếquy định: “sự kế thừa của quốc gia là thuật ngữ dùng để
chỉ sự thay thế của quốc gia này bởimột quốc gia khác trong việc gánh chịu trách nhiệm
về quan hệ quốc tế đối với lãnh thổ nàođó”.Điều 16 Công ước Viên 1983 về kế thừa quốc
gia đối với tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợquốc gia quy định trong trường hợp hợp nhất
hai hay nhiều quốc gia thành một quốc gia duynhất, mọi tài sản của các quốc gia để lại kế
thừa sẽ được chuyển giao hoàn toàn cho quốc giakế thừa.Điều 31 Công ước Viên 1978 về
kế thừa quốc gia đối với điều ước quốc tế ghi nhận các điềuước quốc tế do các quốc gia
để lại kế thừa ký kết, đang có hiệu lực, vẫn tiếp tục được thựchiện tại phần lãnh thổ trước
đây đã định theo điều ước, trừ trường hợp các bên thỏa thuậnkhác hoặc điều ước đó
mẫu thuẫn với lợi ích của quốc gia mới.
Điều 62 Công ước Viên 1969, đối với Điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ thì bắt buộc
thực hiện trong mọi trường hợp.
Vấn đề thứ hai
- Theo điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1978 về kế thừa quốc gia đối với điều ước
quốc tế. Trong trường hợp này, việc hợp nhất quốc gia A và quốc gia B thành quốc gia C
đã
đặt ra kế thừa quốc gia cho quốc gia C.
- Đối với kế thừa công nợ, Điều 16 Công ước Viên 1983 về kế thừa quốc gia đối với tài
sản,
hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia. Quốc gia C có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ
cho
ngân hàng thế giới.
- Đối với kế thừa điều ước quốc tế, Điều 31 Công ước Viên 1978 về kế thừa quốc gia đối
với
điều ước quốc tế ghi nhận các điều ước quốc tế. Trong trường hợp này, quốc gia C phải
nghĩa vụ tiếp tục thực hiện Điều ước quốc tế X đã được quốc gia A kết trước đó với
quốc
gia D. Cho quốc gia C tuyên bố nội dung của Điều ước X mâu thuẫn với lợi ích của
quốc
gia mới thì cũng vi phạm pháp luật quốc tế. Khi áp dụng Điều 62 Công ước Viên 1969,
đối
với Điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ thì bắt buộc thực hiện trong mọi trường hợp.
Vì vậy, việc tuyên bố không thực hiện Điều ước X là vi phạm pháp luật quốc tế.
TÌNH HUỐNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
1. Kiến thức cần trao đổi
- Luật Điều ước quốc tế một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế bao
gồm tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các
chủ thể Luật Quốc tế trong việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế.
- Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật Quốc tế, là một trong những hình thức pháp
chủ yếu chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế. Điều ước quốc tế thỏa thuận
quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế
và được Luật Quốc tế điều chỉnh, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ quốc
tế giữa các chủ thể Luật Quốc tế với nhau. Một điều ước quốc tế được coi nguồn của
luật quốc tế nều nó không đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, điều ước quốc tế phải được xây dựng trên sở tự nguyện bình đẳng giữa
các
chủ thể.
Thứ hai, điều ước quốc tế được ký kết phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ
bản của luật quốc tế.
* Các giai đoạn ký kết Điều ước quốc tế
+ Giai đoạn thứ nhất: là giai đoạn thỏa thuận ý chí của các quốc gia hay các chủ thể khác
của Luật Quốc tế. Giải đoạn này gồm: đàm phán, soạn thảo văn bản, thống nhất thông qua
văn
bản.
+ Giải đoạn thứ hai: thỏa thuận ý chí của các chủ thể bằng cách công nhận hiệu lực bắt
buộc của các quy phạm điều ước. Bao gồm hành vi cụ thể riêng biệt của các quốc gia như
ký, phê chuẩn, gia nhập...
- kết Điều ước quốc tế phụ thuộc vào từng điều ước cụ thể, Kỹ kết Điều ước quốc tế
được phân thành ba loại ký. Thứ nhất là ký tắt là chữ ký của các đại diện vào văn bản dự
thảo điều ước để xác nhận văn bản đó văn bản đã được thỏa thuận. Thứ hai, kỹ ad
referendum là chữ ký của vị đại diện dưới điều kiện có sự đồng ý tiếp theo sau đó của
quan có thẩm quyền
theo luật trong nước.
Thứ ba, kỹ đầu đủ là chữ ký chính thức, làm cho văn bản dự thảo điều ước trở thành văn
bản
pháp lý thể hiện ý chí của các bên tham gia điều ước quốc tế.
* Phê chuẩn, phê duyệt Điều ước quốc tếviệc của cơ quan quyền lực hoặc cá nhân
thẩm
quyền thông qua điều ước, biểu hiện sự đồng ý của nhà nước đối với quyền nghĩa vụ
ghi
nhận trong điều ước.
* Bảo lưu điều ước quốc tế
- Là hành vi pháp lý đơn phương là thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực của một hoặc một số
điều khoản đối với quốc gia đó.
- Hệ quả pháp quốc gia đưa ra tuyên bố bảo lưu: quốc gia chấp nhận bảo lưu sẽ áp
dụng
điều khoản bảo lưu trong chứng mực tuyên bố bảo lưu đưa ra. Công ước Viên 1969 về
Luật
điều ước quốc tế ghi nhận "Bảo lưu điều ướcquốc tế hành động đơn phương bất kể
cách
viết hoặc tên gọi như thế nào của một quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc
gia
nhập điều ước đó, qua đó laọi trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định
của
điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó".
* Gia nhập Điều ước quốc tế là việc một chủ thể của Luật Quốc tế ra một văn bản pháp lý
đồng ý ràng buộc mình với quyền nghĩa vụ của một điều ước nào đó mình chưa
phải là
thành viên của điều ước đó.
* Hiệu lực của điều ước do các bên thỏa thuận và ghi nhận trong điều ước.
- Điều ước quốc tế chỉ phát sinh hiệu lực với các bên tham gia điều ước
- Các trường hợp điều ước có hiệu lực với bên thứ ba
+ Bên thứ 3 chấp nhận có quyền phát sinh với điều ước
+ Bên thứ 3 chấp nhận các nghĩa vụ quy định trong điều ước
+ Điều ước có điều khoản tối huệ quốc
- Phát sinh trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia của các bên ký kết.
- Ngoại lệ, điều ước chỉ có hiệu lực trên một phần lãnh thổ quốc gia
- Điều ước có hiệu lực ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia
* Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước
- Yếu tố khách quan: đối tượng thi hành của điều ước không còn, xuất hiện một quy phạm
mệnh lệnh mới của Luật quốc tế mà nội dụng của điều ước trên với quy phạm này.
-Yếu tố chủ quan: ký kết điều ước quốc tế sau về cũng một vấn đề mà nội dung của chúng
mâu thuẫn đến mức không thể thực hiện được cả hai điều ước trước sẽ chấm dứt hiệu lực.
Chấm dứt hiệu lực của điều ước: các bên thể thỏa thuận trước hoặc thỏa thuận phát
sinh
việc nào đó làm chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế. Rút khỏi điểu ước quốc tế
hành vi
pháp lý đơn phương.
2.Tình huống và hình thành vấn đề cần giải quyết
Tình huống 1. Tình huống về hiệu lực của Điều ước quốc tế và thực
hiện Điều ước quốc tế
Tháng 3/2012, Quốc gia A cùng quốc gia B, quốc gia C thỏa thuận ký kết Điều ước quốc
tế X về mậu dịch tự do đa phương khu vực. Sau các bước trình tự ký kết, Điều ước quốc
tế X đã được cả ba nước phê chuẩn và có hiệu lực vào ngày 17/8/2015. Đến ngày
23/4/2016, quốc gia A tuyên bố rút khỏi Điều ước quốc tế X với lý do nội dung của Điều
của quốc gia B không làm ảnh hưởng tới quan hệ điều ước giữa quốc gia D và B, quốc
gia C phản đối bảo lưu của quốc gia D và tuyên bố giữa haoi quốc gia sẽ không có quan
hệ điều ước.
Theo quy định của Công ước Viên Năm 1969 về luật điều ước quốc tế, tác động của
tuyên bố bảo lưu, chấp thuận và phản đối bảo lưu đối với hiệu lực của điều khoản dẫn
độ và của điều ước quốc tế về chống khủng bố đã ký giữa các bên như thế nào?
Vấn đề thứ nhất
Điều 2, Khoản 1.d, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 ghi nhận: “Bảo
lưu
điều ước quốc tế là hành động đơn phương bất kể cách viết hoặc tên gọi như thế nào của
một
quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế đó, nhằm
qua đó
loại bỏ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp của một hoặc một số quy định của điều ước trong
việc
áp dụng chúng đối với quốc gia đó.”
Điều 23, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969
Vấn đề thứ hai
Điều 2, Khoản 1.d, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969. Khi một quốc gia
thành viên của điều ước quốc tế tuyên bố bảo lưu một hay một số điều khoản trong điều
ước
và việc bảo lưu đó là hợp pháp, thì việc chấp thuận hay phản đối tuyên bố bảo lưu đó của
các
quốc gia thành viên khác sẽ dẫn đến những hậu quả pháp nhất định, được quy định tại
Điều
23, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969.
tuyên bố bảo lưu điều khoản dẫn độ của quốc gia D hợp pháp, do đó việc chấp
thuận,
phản đối của các quốc gia thành viên còn lại của điều ước quốc tế về chống khủng bố sẽ
làm
phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định. Dựa vào các căn cứ pháp lí nêu trên, ta thấy quan
hệ
điều ước giữa các quốc gia thay đổi như sau:
- Quốc gia A chấp thuận bảo lưu của quốc gia D về điều khoản dẫn độ, vì vậy giữa quốc
gia A
và quốc gia D vẫn tồn tại quan hệ điều ước quốc tế về chống khủng bố, theo đó, quốc gia
D
sẽ chỉ dẫn độ đối với công dân của nước mình nếu hành vi khủng bố hoàn toàn được thực
hiện tại lãnh thổ của nước A ngược lại, quốc gia A sẽ dẫn độ đối với công dân nước
mình
nếu hành vi khủng bố hoàn toàn được thực hiện tại lãnh thổ nước D.
- Quốc gia B phản đối nhưng khẳng định phản đối của B không làm ảnh hưởng đến quan
hệ
điều ước giữa D với B. Như vậy giữa B và D vẫn tồn tại quan hệ điều ước tuy nhiên điều
khoản dẫn độ thì không được áp dụng.
- Quốc gia C phản đối bảo lưu của quốc gia D và tuyên bố giữa hai quốc gia sẽ không có
quan hệ điều ước, do đó giữa C và D không tồn tại quan hệ điều ước.
- Giữa các quốc gia A, B, C vẫn tồn tại quan hệ điều ước như đã thỏa thuận: quốc gia
thành
viên sẽ dẫn độ nhân đã thực hiện hoặc bị tình nghi thực hiện hành vi khủng bố đang
hiện
diện trên lãnh thổ quốc gia mình cho quốc gia nơi hành vi khủng bố diễn ra, không phụ
thuộc
vào quốc tịch của cá nhân đó.
Như vậy, việc chấp thuận hay phản đối của các quốc gia thành viên khác của điều ước
quốc tế
về chống khủng bố đối với tuyên bố bảo lưu của quốc gia D đã dẫn đến những hậu quả
pháp
lí nêu trên. Việc quy định về bảo lưu và hậu quả pháp lí của việc bảo lưu trong Công ước
Viên về Luật điều ước quốc tế đã đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích riêng của quốc gia
với
lợi ích quốc gia đó hướng tới khi tham gia vào điều ước quốc tế, tạo hội choc ho
các
quốc gia vẫn thể trở thành thành viên của một điều ước quốc tế đa phương họ
khôngthể hoặc không muốn thực hiện một hoặc một số quy định cụ thể.Tình huống
3.Năm 1999, quốc gia Alpha gửi cho quốc gia Bêta một văn kiện ngoại giao trong đó
đưara đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của Alpha với vùng lãnh thổ Grama
màBêta đang giữ vai trò đại diện trong quan hệ quốc tế (Grama thuộc địa của
Bêta).Trong văn kiện đó, Alpha nêu nguyên tắc, cách thức hoạch định bản đồ
hoạchđịnh đính kèm. Trong văn kiện trả lời, Bêta bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị
củaAlpha. Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông báo chính thức về nội dung
thỏathuận. Năm 2002, Grama tách ra khỏi Bêta tuyên bố trở thành một quốc gia độc
lập,có chủ quyền. Grama cho rằng thỏa thuận qua các văn kiện ngoại giao giữa Alpha
vàBêta không phải điều ước quốc tế giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa,
nếuthỏa thuận năm 1999 điều ước quốc tế thì với cách quốc gia mới giành được
độclập, Grama không phải thực hiện các điều ước quốc tế Bêta đã đại diện kết
trướcđó. Hãy cho biết: – Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu trên có phải
điều ước quốc tếhay không? sao? Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, chủ
quyền, Grama có phải thực hiện thỏathuận mà Bêta đãvới Alpha hay không? sao?
1. Thỏa thuận giữa Alpha Bêta trong tình huống nêu trên phải điều ước quốc
tếhay không? Vì sao? Theo điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước Viên về luật điều ước quốc
tế (1969) thì “thuật ngữ“điều ước” dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được kết bằng
văn bản giữa các quốc gia vàđược pháp luật quốc tế điều chỉnh, được ghi nhận trong
một văn kiện duy nhất hoặc tronghai hay nhiều văn kiện quan hệ với nhau bất kể
tên gọi riêng của nó là gì”. Đồng thời, điều 11 Công ước Viên 1969 cũng quy định: “Việc
một quốc gia đồng ý chịu sựràng buộc của một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao
đổi các văn kiện của điều ướcphê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng
mọi cách khác được thỏa thuận”. Để xác định thỏa thuận giữa quốc gia Alpha và quốc gia
Bêta có phải là điều ước hay không,ta có thể xét đến đặc trưng về mặt hình thức của điều
ước quốc tế. Tathể khẳng định rằng,điều ước quốc tế tồn tại chủ yếu dưới hình thức
văn bản, nhưng bên cạnh đó còn có điều ướcquân tử tồn tại dưới dạng bất thành văn. Như
vậy, theo như điều ước quân t thì điều ướcquốc tế không nhất thiết phải tồn tại dưới
dạng văn bản. Cũng theo định nghĩa về thuật ngữ“điều ước” quy định tại điểm a, khoản 1,
điều 2 Công ước viên 1969 thì điều ước quốc tếkhông phụ thuộc vào tên gọi của văn bản
thỏa thuận này. Hơn nữa, vùng lãnh thổ Grama đã được quốc gia Alpha khai thác đại
diện trong quan hệquốc tế, ta thể hiểu từ trước năm 1999, Grama đã đang
“thuộc địa” của quốc giaAlpha Alpha quốc gia “bảo hộ”, vậy vùng lãnh thổ
Grama phải tuân thủ theo nhữngcam kếtAlpha đã ký. Như vậy, thỏa thuận giữa quốc
gia Alpha với quốc gia Bêta về việchoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia Bêta
với vùng lãnh thổ Grama quốc giaAlpha đang khai thác đại diện trong quan hệ
quốc tế hoàn toàn có thể điều ước quốc tế. 2. Sau khi trở thành một quốc gia độc lập,
có chủ quyền, Grama có phải thực hiện thỏa thuận Bêta đã với Alpha hay không?
sao? Theo tiến Kaikobad (1983): “Quy tắc chung của luật quốc tế tập quán về vấn
đề này là, vềnguyên tắc, khi kế thừa tngười tiền nhiệm: quốc gia hưởng không hơn
không kém lãnhthổ đó”. Hội nghị lần thứ 53 năm 1968 của Hội Luật gia quốc tế đã thông
qua nghị quyết về sự kếthừa của các quốc gia mới: “Khi một hiệp định quy định việc
phân định biên giới quốc giagiữa hai quốc gia đã được thực hiên, theo đó đường biên giới
đã được hình thành thì khôngcần phải làm thêm nữa ... phạm vi lãnh thổ quốc gia
cũng đã được xác lập”. Điều 11Công ước Viên về kế thừa nhà nước 1978 quy định: Sự kế
thừa quốc gia không ảnh hưởngtới: a) một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp
định; hay b) các nghĩa vụ và quyền được xác định bởi một hiệp định liên quan tới thể chế
biên giới. Những quy định này sự khẳng định chính thức nguyên tắc duy trì biên giới
ổn định khixuất hiện sự kế thừa nhà nước. Như vậy, sau khi vùng lãnh thổ Grama trở
thành một quốc gia độc lập, chủ quyền thìGrama vẫn phải thực hiện đầy đủ các điều
ước quốc tế về biên giới lãnh thổ Alpha đã kýkết thay Grama, trong đó điều ước
với Bêta. Quốc gia Grama không quyền chọn lựa cóthừa kế hay không buộc phải
thừa kế,những điều ước về biên giới lãnh thổ thường cógiá trị rất bền vững mang tính
ổn định cho 1 trong 2 bên mất tư cách chủ thể thì quốcgia mới vẫn buộc phải thừa
kế. TÌNH HUỐNG 2 Năm 1960, quốc gia A gửi cho quốc gia B thư đề nghị hoạch định
biên giới giữa lãnh thổcủa quốc gia B với vùng lãnh thổ C mà quốc gia A đang khai thác
và đại diện trongquan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A nêunguyên tắc, cách thức
hoạch định vàcó bản đồ hoạch định đính kèm. Trong thư trả lời, quốc gia B bày tỏ quan
điểm đồng ývới đề nghị của quốc gia A. Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông
báo chínhthức về nội dung thỏa thuận. Tranh chấp lãnh thổ bắt đầu nảy sinh sau khi vùng
lãnh thổ C trở thành một quốc giađộc lập,chủ quyền. Quốc gia C cho rằng thỏa thuận
qua thư giữa quốc gia A và quốcgia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc
giữa các bên. Hơn nữa, nếuthỏa thuận năm 1960 điều ước quốc tế thì với cách
quốc gia mới ra đời, quốc giaC không phải kế thừa tất cả các điều ước quốc tế quốc
gia A đã đại diện ký kết. Hãycho biết: – Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về
luật điều ước quốc tế, thỏa thuận giữahai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên có
điều ước quốc tế hay không? Giảithích tại sao?– Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực
hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ màquốc gia A đãkết với quốc gia B hay không?
Giải thích tại sao? 1. Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc
tế, thỏa thuận giữahai quốc gia A B trong tình huống nêu trên điều ước quốc tế
hay không? Giải thích tại sao?
Có thể khẳng định: thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên là điều
ước
quốc tế.
Theo Công ước Viên về luật điều ước quốc tế (1969) thì “thuật ngữ “điều ước” dùng để
chỉ
một hiệp định quốc tế được kết bằng văn bản giữa các quốc gia được pháp luật
quốc tế
điều chỉnh, được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn
kiện
có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.
Về bản chất, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận dựa trên ý chí tự nguyện của các bên liên
quan. Chủ thể của điều ước quốc tế các quốc gia. Điều ước quốc tế tồn tại dưới hình
thức
văn bản đã được kí kết. Điều ước quốc tế gồm có 3 loại: điều ước quốc tế được kí kết với
danh nghĩa Nhà nước, điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Chính phủ và điều ước
quốc tế được kí kết với danh nghĩa Bộ, ngành. Các điều ước quốc tế được kí kết với danh
nghĩa Nhà nước là các điều ước về hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc
gia;
về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về tương trợ tư pháp và về các tổ chức quốc tế
phổ cập và tổ chức khu vực quan trọng.
Căn cứ theo đề bài, thỏa thuận giữa hai quốc gia A B trong tình huống nêu trên hoàn
toàn
có đủ căn cứ để trở thành một điều ước quốc tế. Đây là điều ước quốc tế nhằm hoạch định
biên giới lãnh thổ. Việc phân định biên giới lãnh thổ này đã được hai quốc gia thỏa thuận
đi đến kí kết. Điều ước quốc tế này được ghi nhận dưới hình thức văn bản.
2. Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ mà
quốc gia A đã ký kết với quốc gia B hay không? Giải thích tại sao?
Căn cứ vào đề bài, ta thể thấy đây trường hợp hình thành quốc gia mới bằng đấu
tranh
giải phóng dân tộc hoặc qua cách mạng xã hội. Về nguyên tắc, quốc gia C không phải kế
thừa
toàn bộ các điều ước do quốc gia A kết với quốc gia B. Tuy nhiên, nhằm mục đích
không
làm xáo trộn trật tự pháp quốc tế, nếu điều ước đã không đi ngược lại quyền lợi
của
quốc gia C thì quốc gia C vẫn có thể tuyên bố kế thừa trong lĩnh vực biên giới lãnh thổ.
CƠ SŸ PHÁP LÝ C N THIẾT ĐẢM BẢO TÍNH HỢP PHÁP
CỦA NGH¢ QUYẾT DO H£I ФNG BẢO AN THÔNG QUA
TÌNH HUỐNG 1
Năm 2012, tại quốc gia A xảy ra nội chiến. Hàng ngàn người nổi dậy đã tiến hành đập
phá các cửa hàng, nhà kho sân bãi nhằm tăng sức ép đề nghị chính phủ đương nhiệm
phải từ chức. Cuộc giao tranh giữa Chính phủ đương nhiên và phe nổi dậy ngày càng
căng thẳng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh trong khu vực cũng như
đe dọa sự an toàn của những người nước ngoài đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia A.
Trước tình hình nguy cấp này, Hội động bảo an Liên hợp quốc, với tư cách là cơ quan
thực hiện chức năng duy trì hòa bình và an ninh thế giới, đã có những cuộc họp nhằm
xem xét vấn đề của quốc gia. Dự thảo Nghị quyết của hội đồng bảo an trong đó đề cập
đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả các biện pháp về quân sự, đối với quốc
gia A cũng đã được soản thảo. Trong thời gian chờ đợi nghị quyết được thông qua, với
tư cách là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an quốc gia X đã cho một số tàu quân sự
của mình tiến sâu vào neo đậu trong lãnh hải của quốc gia A để s¦n sang thực hiện Nghị
quyết của Hội đồng bảo an. Hãy cho biết:
Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982 haykhông?
Tại sao? Các sở pháp cần thiết đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội
đồng bảoan thông qua? 1. Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước
luật biển 1982 haykhông? Tại sao? Hành vi của quốc gia X không phù hợp với quy định
của Công ước luật biển 1982. Vì: Quốc gia X cho neo đậu tàu tại lãnh hải của quốc gia A
là trái với quy định của khoản 2 Điều18 Công ước luật biển 1982 khi thực hiện quyền qua
lại lãnh hải đó đi qua phải liên tục vànhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả
việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trongtrường hợp gặp phải những sự cố thông thường
về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khảkháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp
người, thuyền hay phương tiện bay đang lâmnguy hoặc mắc cạn”. Trong tình huống này,
quốc gia X đã neo đậu tại vùng lãnh hải của quốcgia A mà không phải vì gặp những sự cố
thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợpbất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục
đích cứu giúp người, thuyền hay phương tiện bayđang lâm nguy hoặc mắc cạn để
chuẩn bị sƒn sàng thực hiện Nghị quyết của Hội đồngbảo an. Bên cạnh đó, quốc gia X đã
vi phạm quy định của công ước Luật biển 1982 việc đi qua củatàu thuyền nước ngoài bị
coi phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia venbiển, nếu như trong
lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành các họat động quy định tại khoản 2Điều 19 Công ước
Luật hiển 1982. Cụ thể việc đưa quân sự vào khu vực lãnh hại của quốcgia A hành vi
đe dọa hoặc dùng lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, điều nàycàng vi phạm
nghiêm trọng nguyên tắc của Luật quốc tế nguyên tắc cấm dùng lực hoặcđe dọa
dùng vũ lực trong quan hệ luật quốc tế. Việc quốc gia X đưa tàu quân sự vào khu vựclãnh
hải của quốc gia A để sƒn sàng thực hiện nghị quyết của Hội đồng bảo an là không cócăn
cứ Nghị Quyết của hội đồng bảo an chưa được thông qua, Nghị quyết của HĐBA
đượcthông qua khi 9 ủy viên của Hội dồng bảo an, trong đó tất cả các ủy viên
thường trựcbỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương liên hợp quốc). Như vậy, hành vi của
quốc gia X không phù hợp với Công ước Luật biển 1982. 2. Các sở pháp cần thiết
đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội đồng bảoan thông qua? Dẫn chiếu theo
chương 7 Hiến chương liên hợp quốc (từ Điều 39 đến Điều 51) về hành độngtrong trường
hợp hòa bình bị đe dọa, phá hoại hoặchành vi xâm lược. Theo đó, Nghịquyết của hội
đồng bảo an trong đó đề cập đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả cácbiện pháp
về quân sự, đối với quốc gia A hoàn toàn phù hợp. Cụ thể, theo quy định tại Điều39,
Điều 41 Hội đồng có thẩm quyền quyết định những biện pháp áp dụng không liên quantới
việc sử dụng lực để thực hiện nghị quyết của Hội đồng, yêu cầu các thành viên
Liênhợp quốc áp dụng biện pháp đó. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 42 Hiến chương
thì nếunhững biện pháp được nói tại Điều 41 không thích hợp hoặc mất hiệu lực thì
Hội đồngbảo an có thẩm quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân nếu Hội
đồng bảo ancho rằng đó cần thiết. Những hành động này thể những cuộc biểu
dương lực lượng,phong tỏa những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục,
không quân của cácnước thành viên Liên hợp quốc thực hiện. Mặt khác, theo quy định tại
Điều 51 Hiến chương nêu quốc gia thành viên của LHQ bị tấn công trang mà cho tới
khi HĐBA chưa áp dụngđược các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình, an ninh quốc tế
thì những biện pháp màquốc gia thành viên của LHQ áp dụng để thực hiện quyền tự vệ
chính đáng phải được báongay cho HĐBA, do đó, thể dùng biện pháp quân sự tương
xứng nếu trong trường hợp bịtấn công trang. Hội đồng bảo an xác định tình hình nội
chiến trên lãnh thổ quốc gia A không còn là công việcnội bộ của quốc gia A bởi tình hình
nội chiến tại quốc gia A ảnh hưởng nghiêm trọng đếnhòa bình an ninh trong khu
vực cũng như đe dọa sự an toàn của những người nước ngoàiđang mặt trên lãnh thổ
quốc gia A. Do đó, sự can thiệp của HĐBA LHQ trong trường hợpnày không được coi
vi phạm nguyên tắc của luật quốc tế về “Không can thiệp vào côngviệc nội bộ của các
quốc gia khác”. Để nghị quyết của HĐBA được thông qua thì cần 9 ủy viên của HĐBA,
trong đó có tất cả cácủy viên thường trực bỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương Liên hợp
quốc). TÌNH HUỐNG 4 Hundu và Renda đều là hai quốc gia thành viên của Công ước về
chống khủng bố quốctế. Tháng 4/ 2011, Chính phủ Hundu nhận được báo cáo của Cục
tình báo quốc gia vềviệc phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Renda của tên trùm khủng
bố ( bị truy nãtoàn cầu) mà quốc gia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức bí
mật điềuđộng máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh
thámRenda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này tấn công nơi của tên trùm
khủngbố, đồng thời tiêu diệt tên này. Phát hiện ra hành vi của Hundu, Renda đã lên tiếng
phản đối mạnh mẽ. phía Renda chorằng hành vi này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền
quốc gia. Tuy nhiên, Hundu chorằng hành vi của quốc gia này là nhằm thưc hiện nghĩa vụ
thành viên của Công ước vềchống khủng bố. Hơn nữa, Tổng thống Hundu đã thực hiện
cuộc điện đàm chính thứcvới Tổng thống Renda ông này hứa sẽ tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho hoạt độngchống khủng bố được thực hiện bởi Hundu. Hãy cho biết: Tính
hợp pháp trong hành vi của Hundu? sao? Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng
thống của hai quốc gia có xác lập nghĩa vụ củaRenda trong việc tạo điều kiện cho Hundu
tấn công tiêu diệt trùm khủng bố trênlãnh thổ Renda không? Vì sao? 1.Tính hợp pháp
trong hành vi của Hundu? sao? Hành vi của Hundu không hợp pháp. Vì: Hành vi
của Hundu đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia của luậtquốc
tế. Chính phủ Hundu khi nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về việc pháthiện
ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Randa của tên Trùm khủng bố (bị truy toàn cầu)
quốcgia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức mật điều động máy bay
quân sự vớitần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên
giới, tiến vàolãnh thổ nước này tấn công nơi của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu
diệt tên này đã viphạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổlà điều thiêng liêng của mỗi dân tộc, lãnh thổ là biểu hiện của nền độc
lập dân tộc bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia. Bảo vệ biên giới, lãnh thổ chính
bảo vệ chủ quyền quốc giachống lại mọi hình thức ngoại xâm. Tuyên bố về những
nguyên tắc của Luật quốc tế điềuchỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù
hợp với hiến chương Liên HợpQuốc năm 1970 cũng đã quy định nội dung nguyên tắc
này. Như vậy, trong tình huống nàythì Hundu đã xâm phạm chủ quyền quốc gia Renda vì
hành động mật điều động máy quânsự tiến vào Renda. Bên cạnh đó còn vi phạm
nguyên tắc cấm dùng lực hoặc đe dọa dùng lực trong quan hệquốc tế, nguyên tắc
này được quy định trong Tuyên bố năm 1970 của Liên hợp quốc vềnhững nguyên tắc của
Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia.Hành vi Hundu
mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soátcủa rada trinh
thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ Renda thể bị coi một hànhvi sử dụng
vũ lực với quốc gia Renda cho dù có mục đích chỉ là bắt tên khủng bố, nhưng nólàm ảnh
hưởng tới nền an ninh của Renda khi có quốc gia dùng lực lượng quân sự tiến vàolãnh thổ
mình mật như vậy. Tuy luật quốc tế không quy định về định nghĩ thế nào “Vũ
lực” nhưng theo các văn kiện của Liên hợp quốc thì vũ lực được hiểu là sức mạnh vềquân
sự, chính trị, kinh tế hoặc ngoại giao quốc gia này sử dụng bất hợp pháp đối vớiquốc
gia khác. Hundu và Renda đều là thành viên của Công ước về chống khủng bố quốc tếnên
khi tên khủng bố này đang ẩn náu trên lãnh thổ Renda thì Renda phải nghĩa vụ
cùnghợp tác với Hundu để bắt tên trùm khủng bố này chứ Hundu không được bí mật điều
độngmáy bay quân sự tiến vào Renda để tiêu diệt tên khủng bố. Điều này vi phạm nghiêm
trọngđến nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, ảnh
hưởngtới nền an ninh quốc gia của Renda. 2. Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng thống
của hai quốc gia xác lập nghĩa vụ củaRenda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn
công tiêu diệt trùm khủng bố trênlãnh thổ Renda không? sao? Cuộc điện đàm này
không xác lập nghĩa vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấncông tiêu
diệt tên trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda. Vì: Theo nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ
hợp tác (quy định tại Điều 55,56 Hiến chương liênhợp quốc thì Renda và Hundu phải hợp
tác với nhau trong việc bắt tên trùm khủng bố đónhằm duy trì hòa bình an ninh quốc
tế. Sự nỗ lực và thiện chí hợp tác của Renda vớiHundu phải dựa trên cơ sở luật pháp quốc
tế sẽ loại bỏ được các hợp tác trái với luật quốc tếvà các vấn đề toàn cầu được giải quyết,
đây vừa là lời ích chung của các quốc gia vừa là lợiích cho sự phát triển của các quốc gia
đó. Tuy nhiên như phân tích ý thứ 1 thì Hundu đã viphạm hai nguyên tắc bản luật
quốc tế nên sự hợp tác này đã không còn sự hợp tác dựatrên sở luật pháp quốc tế
nữa, hành vi của Hundu đã gây phương hai tới Renda. Bên cạnhđó, Hundu mật kế
hoạch hành động của mình đó mật điều động máy bay quân sự vớitần số siêu âm,
thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vàolãnh thổ nước
Renda tấn công nơi của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên trùmkhủng bố.
Điều này đã cho thấy Hundu chưa thiện chí trong hợp tác với Renda vẫn choRenda
“ngoài cuộc”, cuộc điện đàm này như một lời cam kết Renda sẽ hợp tác tạo điềukiện
thuận lợi cho hoạt động chống khủng bố được thực hiện bởi Hundu. Tuy nhiên, cáchthức,
mức độ hợp tác còn phụ thuộc vào yêu cầu, khả năng của Renda Hundu cũng cần
tôntrọng tuân thủ theo đúng mức độ hợp tác giữa hai nước luật pháp quốc tế. Như
vậytrong trược hợp này cuộc điện đàm không làm phát sinh nghĩa vụ đối với bên Renda
trongviệc tạo điều kiện cho Hundu tấn công tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ
Renda.
TH§A THUẬN QUA HÌNH TH¨C TRAO ĐỔI V©N BẢN GIªAHAI QUỐC GIA
PHẢI ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾTÌNH HUỐNG 1Năm 1970, quốc gia A gửi cho quốc gia B
văn bản đề nghị xác định biên giới trên biểngiữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C
mà quốc gia A đang khai thác và đại diệntrong quan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A
có nêu rõ nguyên tắc, cách thức phânđịnh và có bản đồ phân định đính kèm. Trong thư trả
lời, quốc gia B bày tỏ quan điểmđồng ý với đề nghị của quốc gia A. Tuy nhiên, tranh
chấp đến biên giới trên biển lại nảy sinh khi C trở thành quốc gia độclập,chủ quyền.
Quốc gia C cho rằng: thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữaquốc gia Aquốc
gia B không phải điều ước quốc tế giá trị ràng buộc giữa cácbên. Hơn nữa, với
cách quốc gia mới ra đời sau cách mạng giải phóng, quốc gia Ckhông phải kế thừa tất cả
các điều ước quốc tế A đã đại diện ký kết. Hãy cho biết: Thỏa thuận qua hình thức
trao đổi văn bản giữa quốc gia A B có phải điều ướcquốc tế giá trị ràng buộc giữa
các bên hay không? Tại sao? – Quốc gia C có nghĩa vụ phải kế thừa tất cả các thỏa thuận
quốc tế quốc gia A đãđại diện kết, trong đó thỏa thuận xác định biên giới trên
biển hay không? Tại sao?1. Thoả thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và
B phải điều ướcquốc tế giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao. Thỏa
thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A B về vấn đề xác định biên
giớitrên biển giữa quốc gia B vùng lãnh thổ thuộc địa C A đang khai thác đại
diện trongquan hệ quốc tế thể xem điều ước quốc tế giá trị ràng buộc thời
điểm C vẫn làvùng lãnh thổ thuộc địa của A. Theo điểm a khoản 1 Luật công ước Viên
năm 1969, Điều ước quốc tế dùng để chỉ “một hiệpđịnh quốc tế được ký kết bằng văn bản
giữa các quốc gia được pháp luật quốc tế điềuchỉnh, được ghi nhận trong một văn
kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện cóquan hệ với nhau bất kể tên gọi
riêng của gì”. Thoả thuận quốc tế sẽ trở thành điềuước quốc tế giá trị ràng
buộc khi đảm bảo các trình tự tạo nên một điều ước quốc tế,cụ thể như phải đảm bảo
các giai đoạn: Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước: Trong giai đoạn
này, các bên sẽ thựchiện các hành vi như: đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều
ước. Thực hiện xongcác hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy
nhiên nếu thiếu các hành vinày thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành. Giai
đoạn 2: giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia vớiđiều
ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó. Giai đoạn này có 4hành
vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế.
[ Theo “Luật Quốc tế” Ts. Ngô Hữu Phước] Các thoả thuận giữa các quốc gia chưa thể
trở thành một điều ước quốc tế khi thiếu các trìnhtự trên.

Preview text:

TỔNG HỢP TẤT CẢ CÁC DẠNG BÀI TẬP CPQT THƯỜNG GẶP
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN LQT
* Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế:
Thứ nhất, Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.
Thứ hai, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Thứ ba, nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình.
Thứ tư, nguyên tắc không can thiệp nội bộ các quốc gia khác.
Thứ năm, nguyên tắc quốc gia có nghĩa vụ phải hợp tác và giúp đỡ nhau.
Thứ sáu, nguyên tắc các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết.
Thứ bảy, nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế (pacta sunt Servanda).
Tình huống 1. Vụ việc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 giữa Iraq và liên quân 30
quốc gia thuộc Liên Hợp quốc. Ngày 2/8/1990, Iraq tiến hành chiến tranh xâm chiếm
Kuwait sau khi Iraq cho rằng Kuwait đã “khoan khiêng” giếng dầu của họ vào biên
giới Iraq. Tuy nhiên, Iraq không đưa ra được những căn cứ chứng minh cụ thể hành
vi của Kuwait. Năm 1991, chiếntranh Vùng Vịnh với sự tham gia của Hoa Kì với tư
cách là thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc đã cùng với gần 30 quốc gia
tham chiến giải phóng Kuwait. Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq phải rút quân về
nước và ngay lập tức bị LHQ áp đặt trừng phạt kinh tế.
1. Hành vi của Iraq có vi phạm LQT hay không? Nếu vi phạm, Iraq đã vi phạmnhững
quy định pháp luật quốc tế nào?
2. Việc Kuwait và các nước phe đồng minh thuộc LHQ sử dụng các biện pháp vũtrang
và phi vũ trang có hợp pháp hay không? Vì sao?
-Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã “khoan nghiêng” giếng
dầucủa họ vào biên giới Iraq
.
-Ngày 2/8/1990 Iraq xâm chiếm Kuwait.-Liên minh gần 30 quốc gia do Hoa Kì lãnh đạo
và được LHQ phê chuẩn để giải phóng Kuwait.
-Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay lập tức bị LHQ áp đặt trừng phạt kinh tế. Theo
Điều 2 khoản 1 Hiến chương LHQ và tuyên bố 1970, LHQ được xây dựng trên nguyên
tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên. Tất cả các quốc gia đều có
quyềnnhư nhau, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị độc lập. Chủ quyền quốc gia phải
được đảm bảo 1 cách toàn vẹn trong mọi trường hợp.
-Theo Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ và Tuyên bố năm 1970, tất cả các quốc gia
thành viên LHQ từ bỏ đe doạ bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kì
quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của LHQ.
-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương LHQ và Tuyên bố năm 1970, tất cảcác
thành viên LHQ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình, sao cho
không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý.
Hành vi xâm chiếm của Iraq là vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của LQT.Đó
là hành vi vi phạm những nguyên tắc sau đây: nguyên tắc bình đẳng chủ quyềngiữa các
quốc gia; nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; nguyên tắchoà bình giải
quyết tranh chấp quốc tế.
-Theo Điều 2 khoản 1 Hiến chương LHQ và Tuyên bố 1970, hành vi xâm chiếm lãnhthổ
Kuwait của Iraq đã xâm phạm về chủ quyền, về sự toàn vẹn lãnh thổ của Kuwait.-Theo
Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ và Tuyên bố 1970, hành vi sử dụng vũ trangcủa Iraq
xâm chiếm Kuwait là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cấm dùng vũ lựchoặc đe doạ
dùng vũ lực.-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố
1970,việc sử dụng vũ lực thay thế cho việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải
quyếttranh chấp là hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc
tế.-Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970,việc
sử dụng vũ lực thay thế cho việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyếttranh chấp
là hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế.-Việc Kuwait sử
dụng biện pháp vũ trang đáp trả hành vi xâm chiếm của Iraq là phùhợp với các nguyên tắc
cơ bản. Đó là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cấm sửdụng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực, tức là hành vi tự vệ quốc gia khi bị quốc giakhác sử dụng các biện pháp vũ trang
xâm chiếm lãnh thổ quốc gia mình.-Theo Chương VII (từ Điều 39 đến 51) Hiến chương
Liên Hợp quốc và Tuyên bố1970, việc Liên Hợp quốc can thiệp vào cuộc chiến là hoàn
toàn hợp pháp. Xét vềpháp lý, hành vi can thiệp vào cuộc chiến phù hợp với quy định về
thẩm quyền, mụcđích của Hiến chương Liên Hợp quốc. Mục đích của Liên hợp quốc là
duy trì hoàbình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó, thị hành những biện pháp
tập thểcó hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa hoà bình, cấm mọi hành vi
xâmlược và phá hoại hoà bình khác; điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp
hoặcnhững tình thế có tính chất quốc tế có thể đưa đến sự phá hoại hoà bình, bằng
phươngpháp hoà bình theo đúng nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế. Do đó,
đứngtrước tình hình cuộc chiến làm mất hòa bình, an ninh khu vực và thế giới, Liên
Hợpquốc cần can thiệp vào và giải quyết tranh chấp. Và việc Liên Hợp quốc sử dụng
cácbiện pháp phi vũ trang (trừng phạt kinh tế) và các biện pháp vũ trang là cấp thiết
vàhợp pháp.Tình huống 2. Phán quyết giải quyết vụ án giữa Nicaragua và Mỹ của Tòa án
Công lýquốc tế ngày 27 tháng 8 năm 1986.Năm 1979, chế độ Sandinista giành chính
quyền ở Nicaragua và mở chiến dịch giảiphóng Honduras, El Salvador và Costa Rica.
Nicaragua cung cấp vũ khí, đạn dược,trang thiết bị khí tài, tài chính cho phong trào
kháng chiến El Salvador. Ngày 23/11/1981, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan ký Chỉ thị 17
trao quyền cho Cục tìnhbáo trung ương (CIA) thành lập lực lượng Contra để lật đổ chế
độ Sandinista ởNicaragua, đồng thời viện trợ quân sự cho Honduras và El Salvador. Mỹ
đã đào tạo, vũ trang, cung cấp tài chính và nhu yếu phẩm cho lực lượng Contra và hỗ trợ
các hoạtđộng quân sự và bán quân sự chống lại Nicaragua. Trong các năm 1983 – 1984,
Mỹ tấn công vũ trang vào Nicaragua bằng đường biển,đường bộ và đường không vào các
căn cứ Puerto Sandino, Corinto, Potosi và các tàutuần tra ở Puerto Sandino. Đồng thời,
Mỹ tiếp tục sử dụng các biện pháp trực tiếp vàgián tiếp để cưỡng ép và đe dọa chính phủ
Nicaragua; sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụngvũ lực chống lại Nicaragua bằng việc đặt
mìn ở nội thủy và lãnh hải của Nicaraguatrong những tháng đầu năm 1984; can thiệp vào
công việc nội bộ của Nicaragua; cảntrở thương mại đường biển hòa bình; giết hại, gây
thương vong và bắt cóc người dânNicaragua. Ngày 09/4/1984, Nicaragua kiện Mỹ lên
Tòa án Công lý quốc tế (ICJ). Ngày 18/01/1985,Mỹ tuyên bố không tham gia vụ kiện và
bác bỏ thẩm quyền của ICJ nhưng ICJ khẳngđịnh có thẩm quyền và vụ kiện vẫn tiếp diễn
mặc dù không có sự tham gia của Mỹ. ICJtừ chối lập luận của Mỹ về việc sử dụng quyền
tự vệ thập thể để chống lại Nicaragua,yêu cầu Mỹ phải ngừng các hành vi của mình và
bồi thường thiệt hại cho Nicaragua. Từ năm 1982 - 1985, Mỹ năm lần dùng quyền phủ
quyết khi vấn đề đưa ra Hội đồngBảo An Liên hợp quốc. Ngày 28/10/1986, Mỹ tiếp tục
phủ quyết nghị quyết của Hộiđồng Bảo An kêu gọi thực hiện phán quyết. Ngày
03/11/1986, nghị quyết này được đưara Đại hội đồng Liên hợp quốc và được thông qua
với số phiếu 94/97 nhưng Mỹ vẫnkhông tuân thủ phán quyết.1. Hành vi của Mỹ có vi
phạm các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế hay không? Vìsao?2. Việc Mỹ phủ quyết
nghị quyết của Hội đồng Bảo an kêu gọi thực hiện phán quyết cóhợp pháp hay không? Vì
sao?Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Hiến chương này
hoàn toànkhông cho phép Liên hợp quốc được can thiệp vào những công việc thực chất
thuộc thẩmquyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, và không đòi hỏi các thành viên của
Liên hợp quốcphải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến
chương.Điều 2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, tất cả các quốc
gia thànhviên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tếnhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất
kỳ quốcgia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp
quốc.Điều 2 khoản 1 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Liên hợp quốc
được xâydựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên.-
Theo Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Mỹ đã đào tạo,
vũtrang, cung cấp tài chính và nhu yếu phẩm cho lực lượng Contra và hỗ trợ các hoạt
động quânsự và bán quân sự chống lại Nicaragua, và vi phạm nghĩa vụ theo công pháp
quốc tế trongviệc không được can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.- Theo Điều
2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Bằng việc tấn côngvào lãnh
thổ Nicaragua trong các năm 1983 - 1984, Mỹ đã vi phạm công pháp quốc tế trongviệc sử
dụng vũ lực chống lại nước khác.
- Theo Điều 2 khoản 1 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Với các hành
độngtấn công trên, Mỹ đã vi phạm chủ quyền của nước khác. Bằng việc đặt mìn ở nội
thủy và lãnhhải của Nicaragua trong những tháng đầu năm 1984, Mỹ đã vi phạm công
pháp quốc tế trongviệc không được sử dụng vũ lực chống lại nước khác, không được can
thiệp vào công việcnội bộ của nước khác, không được cản trở thương mại đường biển hòa
bình- Căn cứ vào Điều 27 Hiến chương Liên Hợp quốc, Mỹ đã thực hiện quyền phủ quyết
(quyềnveto) của mình phủ quyết việc thông qua nghị quyết thúc đẩy thực hiện phán quyết
của ICJxét xử vụ án của Mỹ và Ni agua mà bên thua là Mỹ. Mặc dù mục đích sử dụng
quyền phủquyết là đi ngược lại tinh thần bảo đảm thực thi pháp luật quốc tế nhưng thẩm
quyền sử dụngquyền phủ quyết là hợp pháp vì tranh chấp trên không thuộc đối chiếu
chương VI và Điều 52Hiến chương Liên Hợp quốc.TÌNH HUỐNG VỀ CHỦ THỂ CỦA
LQT1. Kiến thức cần trao đổi* Các chủ thể của Luật Quốc tế- Chủ thể Luật Quốc tế là
thực thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập,có đầy đủ quyền và
nghĩa vụ quốc tế và có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lýquốc tế do chính
hành vi của chủ thể gây ra.- Những dấu hiệu cơ bản của chủ thể Luật Quốc tế bao gồm:1)
Có sự tham gia một cách độc lập vào các quan hệ do Luật Quốc tế điều chỉnh không
phụthuộc vào ý chí của chủ thể khác;2) Có các quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các
chủ thể khác;3) Có khả năng độc lập gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do
những hành vi củamình gây ra.- Dựa vào các dấu hiệu, chủ thể Luật Quốc tế bao gồm:
Quốc gia, dân tộc đang đấu tranhgiành quyền tự quyết, tổ chức quốc tế liên chính phủ và
một số chủ thể đặc biệt khác như Tòathánh Vatican, vùng lãnh thổ.* Công nhận trong
Luật Quốc tế- Công nhận là hành vi pháp chính trị của bên công nhận, dựa trên nền tảng
các động cơ nhấtđịnh nhằm xác nhận sự tồn tại của một thành viên mới trong cộng đồng
quốc tế, khẳng địnhquan hệ của bên công nhận đối với chính sách, chế độ chịnh trị, kinh
tế... của thành viên mới,đồng thời thông qua hành vi pháp lý chính trị đó mà bê công nhận
thể hiện ý định muốn thiếtlập các quan hệ bình thường và ổn định với thành viên mới của
cộng đồng quốc tế trongnhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế.- Các thể loại công
nhận có thể kể đến như sau:+Công nhận quốc gia mới+ Công nhận chính phủ mới+ Công
nhận dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết-Các hình thức công nhận quốc tế có
thể kể đến bao gồm:+ Công nhận de jure+ Công nhận ad học* Kế thừa quốc gia trong Luật Quốc tế
- Kế thừa quốc gia trong Luật Quốc tế là sự thay thế của một quốc gia này bằng một quốc
giakhác trong trách nhiệm gánh vác các quan hệ quốc tế đối với lãnh thổ nào đó.- Chủ thể
của quan hệ kế thừa là các quốc gia. Bao gồm các quốc gia để lại kế thừa và cácquốc gia
kế thừa.- Đối tượng kế thừa là các quyền và nghĩa vụ quốc tế được chuyển dịch từ quốc
gia này sangquốc gia khác.- Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi quyền thừa kế: Sự
kiện làm xuất hiện quan hệ này làsự thau đổi về chủ quyền quốc gia trên một lãnh thổ nào
đó.Sự thay đổi này có thể là sự hình thành quốc gia mới (do tách, hợp nhất...) hoặc khi có
sựchuyển dịch lãnh thổ (nghĩa là lãnh thổ của quốc ginày chuyển nhượng một phần cho
quốcgia khác. Ví dụ: Hồng Kông, Macao của trung Quốc được chuyển dịch cho Anh và
Bồ ĐàoNha.2. Tình huống và hình thành vấn đề cần giải quyếtTình huống 1. Tòa án công
lý quốc tế đưa ra phán quyết công nhận Kosovo là quốc giađộc lập".Ngày 17 tháng 2 năm
2008, Nghị viện Kosovo tuyên bố độc lập, và từ đó giành đượccông nhận ngoại giao là
quốc gia có chủ quyền từ 110 quốc gia thành viên Liên Hiệpquốc (tính đến tháng
12/2016). Trong đó có 69 nước, bao gồm Mỹ và 22 nước EU, đãcông nhận tính độc lập
của Kosovo, trong khi để Kosovo trở thành thành viên của LiênHợp quốc, cần đa số (ít
nhất 97 nước) thừa nhận.Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới vẫn phản đối hoặc không
thừa nhận tuyên bố độclập của Kosovo vì hai lý do chính: một là, Nghị quyết 1244 của
Hội đồng Bảo an LiênHợp quốc năm 1999 khẳng định sự toàn vẹn lãnh thổ của Cộng hoà
liên bang Nam Tư,mà sau này là của Serbia; hai là, lúc khởi điểm, Kosovo không phải là
một nước Cộnghoà thuộc Liên bang Nam Tư mà chỉ là một tỉnh tự trị, nên việc công nhận
độc lập choKosovo sẽ tạo tiền lệ nguy hiểm, khiến nhiều khu vực tự trị khác trên thế giới
có thể đòiquyền độc lập.Ngày 22 tháng 7 năm 2010, Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) của
Liên Hợp quốc tại TheHague, Hà Lan đã chính thức tuyên bố việc tuyên bố độc lập của
Kosovo là không viphạm pháp luật quốc tế vì pháp luật quốc tế không cấm “tuyên bố độc
lập”.1. Hãy chứng minh luận điểm Kosovo có đầy đủ các dấu hiệu trở thành một quốc
giađộc lập và luận điểm Kosovo không phải là một quốc gia độc lập?2. Việc công nhận
và không công nhận của các chủ thể Luật Quốc tế khác có quyết địnhtư cách chủ thể của
Kosovo hay không? Vì sao? Ý nghĩa của việc công nhận Kosovo làquốc gia độc lập? Vấn
đề thứ nhấtĐiều 1 Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các Quốc gia 1933
ghi nhận “mộtquốc gia là một chủ thể của luật quốc tế nên đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn
về: dân cư ổnđịnh, lãnh thổ xác định, chính phủ và khả năng tham gia vào các quan hệ
quốc tế”.Điều 6 Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các Quốc gia 1933 quy
định việccông nhận của một quốc gia chỉ có nghĩa là quốc gia công nhận nó chấp nhận tư
cách củaquốc gia khác với tất cả các quyền và nghĩa vụ được xác định bởi luật pháp quốc
tế. Công nhận là vô điều kiện và không thể thu hồi.
Vấn đề thứ hai- Điều 1 Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các Quốc gia
1933 Xét về các dấuhiệu này, Kosovo đủ điều kiện để trở thành một quốc gia độc lập.-
Điều 6 Công ước Montevideo về quyền và nhiệm vụ của các Quốc gia 1933 Như vậy,
việccông nhận hay không công nhận bởi các chủ thể khác không làm thay đổi tư cách chủ
thể củaKosovo khi đáp ứng các dấu hiệu trở thành quốc gia độc lập.Vấn đề thứ ba-Việc
công nhận là quốc gia mới trong Luật Quốc tế không tạo ra tư cách chủ thể mới,không tạo
ra quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của Kosovo nhưng tạo ra và bảo đảmnhững điều kiện
thuận lợi để thiết lập quan hệ nhiều mặt; đồng, điều kiện thuận lợicho bên được công
nhận tham gia quan hệ quốc tế.-Thiết lập quan hệ ngoại giao và quan hệ lãnh sự giữa
Kosovo và những chủ thể côngnhận.-Tạo điều kiện cho Kosovo tham gia ký kết các điều
ước quốc tế song phương và đaphương; tham gia vào các hội nghị quốc tế và tổ chức
quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợicho Kosovo thực hiện quyền miễn trừ quốc gia tại lãnh
thổ quốc gia công nhận. Tạocơ sở pháp lý để xác định hiệu lực của các văn bản pháp luật
do Kosovo ban hành.Tình huống 2. Kế thừa quốc gia đối với sự hợp nhất quốc gia A vào
quốc gia B.Ngày 23/8/1989, quốc gia A và quốc gia B quyết định hợp nhất thành quốc gia
C, đặtlãnh thổ hai nước này dưới một hệ thống pháp luật của quốc gia C vào ngày
03/10/1990.Trước đó, quốc gia B là thành viên của Hội đồng châu Âu từ năm 1950, thành
viên củaNATO từ nằm 1955 và tham gia Hiệp ước Roma năm 1957. Quốc gia A và quốc
gia D cóký kết Điều ước quốc tế X về phân định đường biên giới trên bộ và có khoản nợ
côngđối với ngân hàng thế giới là 80 tỷ USD. Sau khi hợp nhất, quốc gia C tuyên bố
khôngchấp nhận các nội dung về phân định biên giới giữa quốc A và quốc gia D trước
đâyđược ghi nhận trong Điều ước quốc tế X, đồng thời quốc gia C sẽ hoàn toàn không
chịutrách nhiệm đối với món nợ công. Quốc gia D và ngân hàng thế giới phản đối tuyên
bốcủa quốc gia C.1. Sau khi hợp nhất, vấn đề kế thừa quốc gia của quốc gia C được đặt ra
như thế nào?Vấn đề thứ nhất(điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1978 về kế thừa
quốc gia đối với điều ước quốc tếquy định: “sự kế thừa của quốc gia là thuật ngữ dùng để
chỉ sự thay thế của quốc gia này bởimột quốc gia khác trong việc gánh chịu trách nhiệm
về quan hệ quốc tế đối với lãnh thổ nàođó”.Điều 16 Công ước Viên 1983 về kế thừa quốc
gia đối với tài sản, hồ sơ lưu trữ và công nợquốc gia quy định trong trường hợp hợp nhất
hai hay nhiều quốc gia thành một quốc gia duynhất, mọi tài sản của các quốc gia để lại kế
thừa sẽ được chuyển giao hoàn toàn cho quốc giakế thừa.Điều 31 Công ước Viên 1978 về
kế thừa quốc gia đối với điều ước quốc tế ghi nhận các điềuước quốc tế do các quốc gia
để lại kế thừa ký kết, đang có hiệu lực, vẫn tiếp tục được thựchiện tại phần lãnh thổ trước
đây đã định theo điều ước, trừ trường hợp các bên có thỏa thuậnkhác hoặc điều ước đó
mẫu thuẫn với lợi ích của quốc gia mới.
Điều 62 Công ước Viên 1969, đối với Điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ thì bắt buộc
thực hiện trong mọi trường hợp. Vấn đề thứ hai
- Theo điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1978 về kế thừa quốc gia đối với điều ước
quốc tế. Trong trường hợp này, việc hợp nhất quốc gia A và quốc gia B thành quốc gia C đã
đặt ra kế thừa quốc gia cho quốc gia C.
- Đối với kế thừa công nợ, Điều 16 Công ước Viên 1983 về kế thừa quốc gia đối với tài sản,
hồ sơ lưu trữ và công nợ quốc gia. Quốc gia C có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thế giới.
- Đối với kế thừa điều ước quốc tế, Điều 31 Công ước Viên 1978 về kế thừa quốc gia đối với
điều ước quốc tế ghi nhận các điều ước quốc tế. Trong trường hợp này, quốc gia C phải có
nghĩa vụ tiếp tục thực hiện Điều ước quốc tế X đã được quốc gia A ký kết trước đó với quốc
gia D. Cho dù quốc gia C tuyên bố nội dung của Điều ước X mâu thuẫn với lợi ích của quốc
gia mới thì cũng vi phạm pháp luật quốc tế. Khi áp dụng Điều 62 Công ước Viên 1969, đối
với Điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ thì bắt buộc thực hiện trong mọi trường hợp.
Vì vậy, việc tuyên bố không thực hiện Điều ước X là vi phạm pháp luật quốc tế.
TÌNH HUỐNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
1. Kiến thức cần trao đổi
- Luật Điều ước quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế bao
gồm tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các
chủ thể Luật Quốc tế trong việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế.
- Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của Luật Quốc tế, là một trong những hình thức pháp
lý chủ yếu chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế. Điều ước quốc tế là thỏa thuận
quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế
và được Luật Quốc tế điều chỉnh, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ quốc
tế giữa các chủ thể Luật Quốc tế với nhau. Một điều ước quốc tế được coi là nguồn của
luật quốc tế nều nó không đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, điều ước quốc tế phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể.
Thứ hai, điều ước quốc tế được ký kết phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ
bản của luật quốc tế.
* Các giai đoạn ký kết Điều ước quốc tế
+ Giai đoạn thứ nhất: là giai đoạn thỏa thuận ý chí của các quốc gia hay các chủ thể khác
của Luật Quốc tế. Giải đoạn này gồm: đàm phán, soạn thảo văn bản, thống nhất thông qua văn bản.
+ Giải đoạn thứ hai: thỏa thuận ý chí của các chủ thể bằng cách công nhận hiệu lực bắt
buộc của các quy phạm điều ước. Bao gồm hành vi cụ thể riêng biệt của các quốc gia như
ký, phê chuẩn, gia nhập...
- Ký kết Điều ước quốc tế phụ thuộc vào từng điều ước cụ thể, Kỹ kết Điều ước quốc tế
được phân thành ba loại ký. Thứ nhất là ký tắt là chữ ký của các đại diện vào văn bản dự
thảo điều ước để xác nhận văn bản đó là văn bản đã được thỏa thuận. Thứ hai, kỹ ad
referendum là chữ ký của vị đại diện dưới điều kiện có sự đồng ý tiếp theo sau đó của cơ quan có thẩm quyền theo luật trong nước.
Thứ ba, kỹ đầu đủ là chữ ký chính thức, làm cho văn bản dự thảo điều ước trở thành văn bản
pháp lý thể hiện ý chí của các bên tham gia điều ước quốc tế.
* Phê chuẩn, phê duyệt Điều ước quốc tế là việc của cơ quan quyền lực hoặc cá nhân có thẩm
quyền thông qua điều ước, biểu hiện sự đồng ý của nhà nước đối với quyền và nghĩa vụ ghi nhận trong điều ước.
* Bảo lưu điều ước quốc tế
- Là hành vi pháp lý đơn phương là thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực của một hoặc một số
điều khoản đối với quốc gia đó.
- Hệ quả pháp lý quốc gia đưa ra tuyên bố bảo lưu: quốc gia chấp nhận bảo lưu sẽ áp dụng
điều khoản bảo lưu trong chứng mực tuyên bố bảo lưu đưa ra. Công ước Viên 1969 về Luật
điều ước quốc tế ghi nhận "Bảo lưu điều ướcquốc tế là hành động đơn phương bất kể cách
viết hoặc tên gọi như thế nào của một quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia
nhập điều ước đó, qua đó laọi trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định của
điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó".
* Gia nhập Điều ước quốc tế là việc một chủ thể của Luật Quốc tế ra một văn bản pháp lý
đồng ý ràng buộc mình với quyền và nghĩa vụ của một điều ước nào đó mà mình chưa phải là
thành viên của điều ước đó.
* Hiệu lực của điều ước do các bên thỏa thuận và ghi nhận trong điều ước.
- Điều ước quốc tế chỉ phát sinh hiệu lực với các bên tham gia điều ước
- Các trường hợp điều ước có hiệu lực với bên thứ ba
+ Bên thứ 3 chấp nhận có quyền phát sinh với điều ước
+ Bên thứ 3 chấp nhận các nghĩa vụ quy định trong điều ước
+ Điều ước có điều khoản tối huệ quốc
- Phát sinh trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia của các bên ký kết.
- Ngoại lệ, điều ước chỉ có hiệu lực trên một phần lãnh thổ quốc gia
- Điều ước có hiệu lực ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia
* Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước
- Yếu tố khách quan: đối tượng thi hành của điều ước không còn, xuất hiện một quy phạm
mệnh lệnh mới của Luật quốc tế mà nội dụng của điều ước trên với quy phạm này.
-Yếu tố chủ quan: ký kết điều ước quốc tế sau về cũng một vấn đề mà nội dung của chúng
mâu thuẫn đến mức không thể thực hiện được cả hai điều ước trước sẽ chấm dứt hiệu lực.
Chấm dứt hiệu lực của điều ước: các bên có thể thỏa thuận trước hoặc thỏa thuận phát sinh
việc nào đó làm chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế. Rút khỏi điểu ước quốc tế là hành vi pháp lý đơn phương.
2.Tình huống và hình thành vấn đề cần giải quyết
Tình huống 1. Tình huống về hiệu lực của Điều ước quốc tế và thực
hiện Điều ước quốc tế
Tháng 3/2012, Quốc gia A cùng quốc gia B, quốc gia C thỏa thuận ký kết Điều ước quốc
tế X về mậu dịch tự do đa phương khu vực. Sau các bước trình tự ký kết, Điều ước quốc
tế X đã được cả ba nước phê chuẩn và có hiệu lực vào ngày 17/8/2015. Đến ngày
23/4/2016, quốc gia A tuyên bố rút khỏi Điều ước quốc tế X với lý do nội dung của Điều
của quốc gia B không làm ảnh hưởng tới quan hệ điều ước giữa quốc gia D và B, quốc
gia C phản đối bảo lưu của quốc gia D và tuyên bố giữa haoi quốc gia sẽ không có quan hệ điều ước.
Theo quy định của Công ước Viên Năm 1969 về luật điều ước quốc tế, tác động của
tuyên bố bảo lưu, chấp thuận và phản đối bảo lưu đối với hiệu lực của điều khoản dẫn
độ và của điều ước quốc tế về chống khủng bố đã ký giữa các bên như thế nào? Vấn đề thứ nhất
Điều 2, Khoản 1.d, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 ghi nhận: “Bảo lưu
điều ước quốc tế là hành động đơn phương bất kể cách viết hoặc tên gọi như thế nào của một
quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế đó, nhằm qua đó
loại bỏ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc một số quy định của điều ước trong việc
áp dụng chúng đối với quốc gia đó.”
Điều 23, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 Vấn đề thứ hai
Điều 2, Khoản 1.d, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969. Khi một quốc gia
thành viên của điều ước quốc tế tuyên bố bảo lưu một hay một số điều khoản trong điều ước
và việc bảo lưu đó là hợp pháp, thì việc chấp thuận hay phản đối tuyên bố bảo lưu đó của các
quốc gia thành viên khác sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lí nhất định, được quy định tại Điều
23, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969.
Vì tuyên bố bảo lưu điều khoản dẫn độ của quốc gia D là hợp pháp, do đó việc chấp thuận,
phản đối của các quốc gia thành viên còn lại của điều ước quốc tế về chống khủng bố sẽ làm
phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định. Dựa vào các căn cứ pháp lí nêu trên, ta thấy quan hệ
điều ước giữa các quốc gia thay đổi như sau:
- Quốc gia A chấp thuận bảo lưu của quốc gia D về điều khoản dẫn độ, vì vậy giữa quốc gia A
và quốc gia D vẫn tồn tại quan hệ điều ước quốc tế về chống khủng bố, theo đó, quốc gia D
sẽ chỉ dẫn độ đối với công dân của nước mình nếu hành vi khủng bố hoàn toàn được thực
hiện tại lãnh thổ của nước A và ngược lại, quốc gia A sẽ dẫn độ đối với công dân nước mình
nếu hành vi khủng bố hoàn toàn được thực hiện tại lãnh thổ nước D.
- Quốc gia B phản đối nhưng khẳng định phản đối của B không làm ảnh hưởng đến quan hệ
điều ước giữa D với B. Như vậy giữa B và D vẫn tồn tại quan hệ điều ước tuy nhiên điều
khoản dẫn độ thì không được áp dụng.
- Quốc gia C phản đối bảo lưu của quốc gia D và tuyên bố giữa hai quốc gia sẽ không có
quan hệ điều ước, do đó giữa C và D không tồn tại quan hệ điều ước.
- Giữa các quốc gia A, B, C vẫn tồn tại quan hệ điều ước như đã thỏa thuận: quốc gia thành
viên sẽ dẫn độ cá nhân đã thực hiện hoặc bị tình nghi thực hiện hành vi khủng bố đang hiện
diện trên lãnh thổ quốc gia mình cho quốc gia nơi hành vi khủng bố diễn ra, không phụ thuộc
vào quốc tịch của cá nhân đó.
Như vậy, việc chấp thuận hay phản đối của các quốc gia thành viên khác của điều ước quốc tế
về chống khủng bố đối với tuyên bố bảo lưu của quốc gia D đã dẫn đến những hậu quả pháp
lí nêu trên. Việc quy định về bảo lưu và hậu quả pháp lí của việc bảo lưu trong Công ước
Viên về Luật điều ước quốc tế đã đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích riêng của quốc gia với
lợi ích mà quốc gia đó hướng tới khi tham gia vào điều ước quốc tế, tạo cơ hội choc ho các
quốc gia vẫn có thể trở thành thành viên của một điều ước quốc tế đa phương dù họ
khôngthể hoặc không muốn thực hiện một hoặc một số quy định cụ thể.Tình huống
3.Năm 1999, quốc gia Alpha gửi cho quốc gia Bêta một văn kiện ngoại giao trong đó
đưara đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của Alpha với vùng lãnh thổ Grama
màBêta đang giữ vai trò đại diện trong quan hệ quốc tế (Grama là thuộc địa của
Bêta).Trong văn kiện đó, Alpha nêu rõ nguyên tắc, cách thức hoạch định và có bản đồ
hoạchđịnh đính kèm. Trong văn kiện trả lời, Bêta bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị
củaAlpha. Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông báo chính thức về nội dung
thỏathuận. Năm 2002, Grama tách ra khỏi Bêta và tuyên bố trở thành một quốc gia độc
lập,có chủ quyền. Grama cho rằng thỏa thuận qua các văn kiện ngoại giao giữa Alpha
vàBêta không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa,
nếuthỏa thuận năm 1999 là điều ước quốc tế thì với tư cách là quốc gia mới giành được
độclập, Grama không phải thực hiện các điều ước quốc tế mà Bêta đã đại diện ký kết
trướcđó. Hãy cho biết: – Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu trên có phải
là điều ước quốc tếhay không? Vì sao? – Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, có chủ
quyền, Grama có phải thực hiện thỏathuận mà Bêta đã ký với Alpha hay không? Vì sao?
1. Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu trên có phải là điều ước quốc
tếhay không? Vì sao? Theo điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước Viên về luật điều ước quốc
tế (1969) thì “thuật ngữ“điều ước” dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng
văn bản giữa các quốc gia vàđược pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong
một văn kiện duy nhất hoặc tronghai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể
tên gọi riêng của nó là gì”. Đồng thời, điều 11 Công ước Viên 1969 cũng quy định: “Việc
một quốc gia đồng ý chịu sựràng buộc của một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao
đổi các văn kiện của điều ướcphê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng
mọi cách khác được thỏa thuận”. Để xác định thỏa thuận giữa quốc gia Alpha và quốc gia
Bêta có phải là điều ước hay không,ta có thể xét đến đặc trưng về mặt hình thức của điều
ước quốc tế. Ta có thể khẳng định rằng,điều ước quốc tế tồn tại chủ yếu dưới hình thức
văn bản, nhưng bên cạnh đó còn có điều ướcquân tử tồn tại dưới dạng bất thành văn. Như
vậy, theo như điều ước quân tử thì điều ướcquốc tế không nhất thiết phải tồn tại dưới
dạng văn bản. Cũng theo định nghĩa về thuật ngữ“điều ước” quy định tại điểm a, khoản 1,
điều 2 Công ước viên 1969 thì điều ước quốc tếkhông phụ thuộc vào tên gọi của văn bản
thỏa thuận này. Hơn nữa, vùng lãnh thổ Grama đã được quốc gia Alpha khai thác và đại
diện trong quan hệquốc tế, ta có thể hiểu là từ trước năm 1999, Grama đã và đang là
“thuộc địa” của quốc giaAlpha và Alpha là quốc gia “bảo hộ”, vì vậy vùng lãnh thổ
Grama phải tuân thủ theo nhữngcam kết mà Alpha đã ký. Như vậy, thỏa thuận giữa quốc
gia Alpha với quốc gia Bêta về việchoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia Bêta
với vùng lãnh thổ Grama mà quốc giaAlpha đang khai thác và đại diện trong quan hệ
quốc tế hoàn toàn có thể là điều ước quốc tế. 2. Sau khi trở thành một quốc gia độc lập,
có chủ quyền, Grama có phải thực hiện thỏa thuận mà Bêta đã ký với Alpha hay không?
Vì sao? Theo tiến sĩ Kaikobad (1983): “Quy tắc chung của luật quốc tế tập quán về vấn
đề này là, vềnguyên tắc, khi kế thừa từ người tiền nhiệm: quốc gia hưởng không hơn và
không kém lãnhthổ đó”. Hội nghị lần thứ 53 năm 1968 của Hội Luật gia quốc tế đã thông
qua nghị quyết về sự kếthừa của các quốc gia mới: “Khi một hiệp định quy định việc
phân định biên giới quốc giagiữa hai quốc gia đã được thực hiên, theo đó đường biên giới
đã được hình thành thì khôngcần phải làm gì thêm nữa ... và phạm vi lãnh thổ quốc gia
cũng đã được xác lập”. Điều 11Công ước Viên về kế thừa nhà nước 1978 quy định: Sự kế
thừa quốc gia không ảnh hưởngtới: a) một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp
định; hay b) các nghĩa vụ và quyền được xác định bởi một hiệp định liên quan tới thể chế
biên giới. Những quy định này là sự khẳng định chính thức nguyên tắc duy trì biên giới
ổn định khixuất hiện sự kế thừa nhà nước. Như vậy, sau khi vùng lãnh thổ Grama trở
thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền thìGrama vẫn phải thực hiện đầy đủ các điều
ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà Alpha đã kýkết thay Grama, trong đó có điều ước
với Bêta. Quốc gia Grama không có quyền chọn lựa cóthừa kế hay không mà buộc phải
thừa kế, vì những điều ước về biên giới lãnh thổ thường cógiá trị rất bền vững mang tính
ổn định cho dù 1 trong 2 bên có mất tư cách chủ thể thì quốcgia mới vẫn buộc phải thừa
kế. TÌNH HUỐNG 2 Năm 1960, quốc gia A gửi cho quốc gia B thư đề nghị hoạch định
biên giới giữa lãnh thổcủa quốc gia B với vùng lãnh thổ C mà quốc gia A đang khai thác
và đại diện trongquan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A nêu rõ nguyên tắc, cách thức
hoạch định vàcó bản đồ hoạch định đính kèm. Trong thư trả lời, quốc gia B bày tỏ quan
điểm đồng ývới đề nghị của quốc gia A. Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông
báo chínhthức về nội dung thỏa thuận. Tranh chấp lãnh thổ bắt đầu nảy sinh sau khi vùng
lãnh thổ C trở thành một quốc giađộc lập, có chủ quyền. Quốc gia C cho rằng thỏa thuận
qua thư giữa quốc gia A và quốcgia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc
giữa các bên. Hơn nữa, nếuthỏa thuận năm 1960 là điều ước quốc tế thì với tư cách là
quốc gia mới ra đời, quốc giaC không phải kế thừa tất cả các điều ước quốc tế mà quốc
gia A đã đại diện ký kết. Hãycho biết: – Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về
luật điều ước quốc tế, thỏa thuận giữahai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên có là
điều ước quốc tế hay không? Giảithích tại sao?– Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực
hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ màquốc gia A đã ký kết với quốc gia B hay không?
Giải thích tại sao? 1. Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc
tế, thỏa thuận giữahai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên có là điều ước quốc tế
hay không? Giải thích tại sao?
Có thể khẳng định: thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên là điều ước quốc tế.
Theo Công ước Viên về luật điều ước quốc tế (1969) thì “thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ
một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế
điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện
có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.
Về bản chất, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận dựa trên ý chí tự nguyện của các bên liên
quan. Chủ thể của điều ước quốc tế là các quốc gia. Điều ước quốc tế tồn tại dưới hình thức
văn bản đã được kí kết. Điều ước quốc tế gồm có 3 loại: điều ước quốc tế được kí kết với
danh nghĩa Nhà nước, điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Chính phủ và điều ước
quốc tế được kí kết với danh nghĩa Bộ, ngành. Các điều ước quốc tế được kí kết với danh
nghĩa Nhà nước là các điều ước về hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia;
về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về tương trợ tư pháp và về các tổ chức quốc tế
phổ cập và tổ chức khu vực quan trọng.
Căn cứ theo đề bài, thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên hoàn toàn
có đủ căn cứ để trở thành một điều ước quốc tế. Đây là điều ước quốc tế nhằm hoạch định
biên giới lãnh thổ. Việc phân định biên giới lãnh thổ này đã được hai quốc gia thỏa thuận và
đi đến kí kết. Điều ước quốc tế này được ghi nhận dưới hình thức văn bản.
2. Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ mà
quốc gia A đã ký kết với quốc gia B hay không? Giải thích tại sao?
Căn cứ vào đề bài, ta có thể thấy đây là trường hợp hình thành quốc gia mới bằng đấu tranh
giải phóng dân tộc hoặc qua cách mạng xã hội. Về nguyên tắc, quốc gia C không phải kế thừa
toàn bộ các điều ước do quốc gia A kí kết với quốc gia B. Tuy nhiên, nhằm mục đích không
làm xáo trộn trật tự pháp lý quốc tế, và nếu điều ước đã kí không đi ngược lại quyền lợi của
quốc gia C thì quốc gia C vẫn có thể tuyên bố kế thừa trong lĩnh vực biên giới lãnh thổ.
CƠ SŸ PHÁP LÝ C N THIẾT ĐẢM BẢO TÍNH HỢP PHÁP
CỦA NGH¢ QUYẾT DO H£I ФNG BẢO AN THÔNG QUA TÌNH HUỐNG 1
Năm 2012, tại quốc gia A xảy ra nội chiến. Hàng ngàn người nổi dậy đã tiến hành đập
phá các cửa hàng, nhà kho sân bãi nhằm tăng sức ép đề nghị chính phủ đương nhiệm
phải từ chức. Cuộc giao tranh giữa Chính phủ đương nhiên và phe nổi dậy ngày càng
căng thẳng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh trong khu vực cũng như
đe dọa sự an toàn của những người nước ngoài đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia A.
Trước tình hình nguy cấp này, Hội động bảo an Liên hợp quốc, với tư cách là cơ quan
thực hiện chức năng duy trì hòa bình và an ninh thế giới, đã có những cuộc họp nhằm
xem xét vấn đề của quốc gia. Dự thảo Nghị quyết của hội đồng bảo an trong đó đề cập
đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả các biện pháp về quân sự, đối với quốc
gia A cũng đã được soản thảo. Trong thời gian chờ đợi nghị quyết được thông qua, với
tư cách là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an quốc gia X đã cho một số tàu quân sự
của mình tiến sâu vào neo đậu trong lãnh hải của quốc gia A để s¦n sang thực hiện Nghị
quyết của Hội đồng bảo an. Hãy cho biết:
Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982 haykhông?
Tại sao? – Các cơ sở pháp lý cần thiết đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội
đồng bảoan thông qua? 1. Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước
luật biển 1982 haykhông? Tại sao? Hành vi của quốc gia X không phù hợp với quy định
của Công ước luật biển 1982. Vì: Quốc gia X cho neo đậu tàu tại lãnh hải của quốc gia A
là trái với quy định của khoản 2 Điều18 Công ước luật biển 1982 khi thực hiện quyền qua
lại lãnh hải đó là đi qua phải liên tục vànhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả
việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trongtrường hợp gặp phải những sự cố thông thường
về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khảkháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp
người, thuyền hay phương tiện bay đang lâmnguy hoặc mắc cạn”. Trong tình huống này,
quốc gia X đã neo đậu tại vùng lãnh hải của quốcgia A mà không phải vì gặp những sự cố
thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợpbất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục
đích cứu giúp người, thuyền hay phương tiện bayđang lâm nguy hoặc mắc cạn mà vì để
chuẩn bị sƒn sàng thực hiện Nghị quyết của Hội đồngbảo an. Bên cạnh đó, quốc gia X đã
vi phạm quy định của công ước Luật biển 1982 việc đi qua củatàu thuyền nước ngoài bị
coi là phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia venbiển, nếu như trong
lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành các họat động quy định tại khoản 2Điều 19 Công ước
Luật hiển 1982. Cụ thể việc đưa quân sự vào khu vực lãnh hại của quốcgia A là hành vi
đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, điều nàycàng vi phạm
nghiêm trọng nguyên tắc của Luật quốc tế – nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặcđe dọa
dùng vũ lực trong quan hệ luật quốc tế. Việc quốc gia X đưa tàu quân sự vào khu vựclãnh
hải của quốc gia A để sƒn sàng thực hiện nghị quyết của Hội đồng bảo an là không cócăn
cứ vì Nghị Quyết của hội đồng bảo an chưa được thông qua, Nghị quyết của HĐBA
đượcthông qua khi có 9 ủy viên của Hội dồng bảo an, trong đó có tất cả các ủy viên
thường trựcbỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương liên hợp quốc). Như vậy, hành vi của
quốc gia X không phù hợp với Công ước Luật biển 1982. 2. Các cơ sở pháp lý cần thiết
đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội đồng bảoan thông qua? Dẫn chiếu theo
chương 7 Hiến chương liên hợp quốc (từ Điều 39 đến Điều 51) về hành độngtrong trường
hợp hòa bình bị đe dọa, phá hoại hoặc có hành vi xâm lược. Theo đó, Nghịquyết của hội
đồng bảo an trong đó đề cập đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả cácbiện pháp
về quân sự, đối với quốc gia A là hoàn toàn phù hợp. Cụ thể, theo quy định tại Điều39,
Điều 41 Hội đồng có thẩm quyền quyết định những biện pháp áp dụng không liên quantới
việc sử dụng vũ lực để thực hiện nghị quyết của Hội đồng, và yêu cầu các thành viên
Liênhợp quốc áp dụng biện pháp đó. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 42 Hiến chương
thì nếunhững biện pháp được nói tại Điều 41 mà không thích hợp hoặc mất hiệu lực thì
Hội đồngbảo an có thẩm quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân nếu Hội
đồng bảo ancho rằng đó là cần thiết. Những hành động này có thể là những cuộc biểu
dương lực lượng,phong tỏa và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục,
không quân của cácnước thành viên Liên hợp quốc thực hiện. Mặt khác, theo quy định tại
Điều 51 Hiến chương nêu quốc gia thành viên của LHQ bị tấn công vũ trang mà cho tới
khi HĐBA chưa áp dụngđược các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình, an ninh quốc tế
thì những biện pháp màquốc gia thành viên của LHQ áp dụng để thực hiện quyền tự vệ
chính đáng phải được báongay cho HĐBA, do đó, có thể dùng biện pháp quân sự tương
xứng nếu trong trường hợp bịtấn công vũ trang. Hội đồng bảo an xác định tình hình nội
chiến trên lãnh thổ quốc gia A không còn là công việcnội bộ của quốc gia A bởi tình hình
nội chiến tại quốc gia A có ảnh hưởng nghiêm trọng đếnhòa bình và an ninh trong khu
vực cũng như đe dọa sự an toàn của những người nước ngoàiđang có mặt trên lãnh thổ
quốc gia A. Do đó, sự can thiệp của HĐBA LHQ trong trường hợpnày không được coi là
vi phạm nguyên tắc của luật quốc tế về “Không can thiệp vào côngviệc nội bộ của các
quốc gia khác”. Để nghị quyết của HĐBA được thông qua thì cần 9 ủy viên của HĐBA,
trong đó có tất cả cácủy viên thường trực bỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương Liên hợp
quốc). TÌNH HUỐNG 4 Hundu và Renda đều là hai quốc gia thành viên của Công ước về
chống khủng bố quốctế. Tháng 4/ 2011, Chính phủ Hundu nhận được báo cáo của Cục
tình báo quốc gia vềviệc phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Renda của tên trùm khủng
bố ( bị truy nãtoàn cầu) mà quốc gia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức bí
mật điềuđộng máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh
thámRenda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm
khủngbố, đồng thời tiêu diệt tên này. Phát hiện ra hành vi của Hundu, Renda đã lên tiếng
phản đối mạnh mẽ. phía Renda chorằng hành vi này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền
quốc gia. Tuy nhiên, Hundu chorằng hành vi của quốc gia này là nhằm thưc hiện nghĩa vụ
thành viên của Công ước vềchống khủng bố. Hơn nữa, Tổng thống Hundu đã thực hiện
cuộc điện đàm chính thứcvới Tổng thống Renda và ông này hứa sẽ tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho hoạt độngchống khủng bố được thực hiện bởi Hundu. Hãy cho biết: – Tính
hợp pháp trong hành vi của Hundu? Vì sao? – Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng
thống của hai quốc gia có xác lập nghĩa vụ củaRenda trong việc tạo điều kiện cho Hundu
tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trênlãnh thổ Renda không? Vì sao? 1.Tính hợp pháp
trong hành vi của Hundu? Vì sao? Hành vi của Hundu là không hợp pháp. Vì: Hành vi
của Hundu đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia của luậtquốc
tế. Chính phủ Hundu khi nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về việc pháthiện
ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Randa của tên Trùm khủng bố (bị truy nã toàn cầu) mà
quốcgia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức bí mật điều động máy bay
quân sự vớitần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên
giới, tiến vàolãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu
diệt tên này đã viphạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổlà điều thiêng liêng của mỗi dân tộc, lãnh thổ là biểu hiện của nền độc
lập dân tộc và bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia. Bảo vệ biên giới, lãnh thổ chính là
bảo vệ chủ quyền quốc giachống lại mọi hình thức ngoại xâm. Tuyên bố về những
nguyên tắc của Luật quốc tế điềuchỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù
hợp với hiến chương Liên HợpQuốc năm 1970 cũng đã quy định rõ nội dung nguyên tắc
này. Như vậy, trong tình huống nàythì Hundu đã xâm phạm chủ quyền quốc gia Renda vì
hành động bí mật điều động máy quânsự tiến vào Renda. Bên cạnh đó còn vi phạm
nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệquốc tế, nguyên tắc
này được quy định trong Tuyên bố năm 1970 của Liên hợp quốc vềnhững nguyên tắc của
Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia.Hành vi Hundu bí
mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soátcủa rada trinh
thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ Renda có thể bị coi là một hànhvi sử dụng
vũ lực với quốc gia Renda cho dù có mục đích chỉ là bắt tên khủng bố, nhưng nólàm ảnh
hưởng tới nền an ninh của Renda khi có quốc gia dùng lực lượng quân sự tiến vàolãnh thổ
mình bí mật như vậy. Tuy luật quốc tế không quy định rõ về định nghĩ thế nào là “Vũ
lực” nhưng theo các văn kiện của Liên hợp quốc thì vũ lực được hiểu là sức mạnh vềquân
sự, chính trị, kinh tế hoặc ngoại giao mà quốc gia này sử dụng bất hợp pháp đối vớiquốc
gia khác. Hundu và Renda đều là thành viên của Công ước về chống khủng bố quốc tếnên
khi tên khủng bố này đang ẩn náu trên lãnh thổ Renda thì Renda phải có nghĩa vụ
cùnghợp tác với Hundu để bắt tên trùm khủng bố này chứ Hundu không được bí mật điều
độngmáy bay quân sự tiến vào Renda để tiêu diệt tên khủng bố. Điều này vi phạm nghiêm
trọngđến nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, ảnh
hưởngtới nền an ninh quốc gia của Renda. 2. Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng thống
của hai quốc gia có xác lập nghĩa vụ củaRenda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn
công và tiêu diệt trùm khủng bố trênlãnh thổ Renda không? Vì sao? Cuộc điện đàm này
không xác lập nghĩa vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấncông và tiêu
diệt tên trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda. Vì: Theo nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ
hợp tác (quy định tại Điều 55,56 Hiến chương liênhợp quốc thì Renda và Hundu phải hợp
tác với nhau trong việc bắt tên trùm khủng bố đónhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc
tế. Sự nỗ lực và thiện chí hợp tác của Renda vớiHundu phải dựa trên cơ sở luật pháp quốc
tế sẽ loại bỏ được các hợp tác trái với luật quốc tếvà các vấn đề toàn cầu được giải quyết,
đây vừa là lời ích chung của các quốc gia vừa là lợiích cho sự phát triển của các quốc gia
đó. Tuy nhiên như phân tích ở ý thứ 1 thì Hundu đã viphạm hai nguyên tắc cơ bản luật
quốc tế nên sự hợp tác này đã không còn là sự hợp tác dựatrên cơ sở luật pháp quốc tế
nữa, hành vi của Hundu đã gây phương hai tới Renda. Bên cạnhđó, Hundu bí mật kế
hoạch hành động của mình đó là bí mật điều động máy bay quân sự vớitần số siêu âm,
thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vàolãnh thổ nước
Renda và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên trùmkhủng bố.
Điều này đã cho thấy Hundu chưa thiện chí trong hợp tác với Renda vẫn choRenda là
“ngoài cuộc”, cuộc điện đàm này như một lời cam kết Renda sẽ hợp tác tạo điềukiện
thuận lợi cho hoạt động chống khủng bố được thực hiện bởi Hundu. Tuy nhiên, cáchthức,
mức độ hợp tác còn phụ thuộc vào yêu cầu, khả năng của Renda và Hundu cũng cần
tôntrọng và tuân thủ theo đúng mức độ hợp tác giữa hai nước và luật pháp quốc tế. Như
vậytrong trược hợp này cuộc điện đàm không làm phát sinh nghĩa vụ đối với bên Renda
trongviệc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda.
TH§A THUẬN QUA HÌNH TH¨C TRAO ĐỔI V©N BẢN GIªAHAI QUỐC GIA CÓ
PHẢI ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾTÌNH HUỐNG 1Năm 1970, quốc gia A gửi cho quốc gia B
văn bản đề nghị xác định biên giới trên biểngiữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C
mà quốc gia A đang khai thác và đại diệntrong quan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A
có nêu rõ nguyên tắc, cách thức phânđịnh và có bản đồ phân định đính kèm. Trong thư trả
lời, quốc gia B bày tỏ quan điểmđồng ý với đề nghị của quốc gia A. Tuy nhiên, tranh
chấp đến biên giới trên biển lại nảy sinh khi C trở thành quốc gia độclập, có chủ quyền.
Quốc gia C cho rằng: thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữaquốc gia A và quốc
gia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa cácbên. Hơn nữa, với tư
cách quốc gia mới ra đời sau cách mạng giải phóng, quốc gia Ckhông phải kế thừa tất cả
các điều ước quốc tế mà A đã đại diện ký kết. Hãy cho biết: – Thỏa thuận qua hình thức
trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ướcquốc tế có giá trị ràng buộc giữa
các bên hay không? Tại sao? – Quốc gia C có nghĩa vụ phải kế thừa tất cả các thỏa thuận
quốc tế mà quốc gia A đãđại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên
biển hay không? Tại sao?1. Thoả thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và
B có phải điều ướcquốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao. Thỏa
thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B về vấn đề xác định biên
giớitrên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà A đang khai thác và đại
diện trongquan hệ quốc tế có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc ở thời
điểm C vẫn làvùng lãnh thổ thuộc địa của A. Theo điểm a khoản 1 Luật công ước Viên
năm 1969, Điều ước quốc tế dùng để chỉ “một hiệpđịnh quốc tế được ký kết bằng văn bản
giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điềuchỉnh, dù được ghi nhận trong một văn
kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện cóquan hệ với nhau và bất kể tên gọi
riêng của nó là gì”. Thoả thuận quốc tế sẽ trở thành điềuước quốc tế và có giá trị ràng
buộc khi nó đảm bảo các trình tự tạo nên một điều ước quốc tế,cụ thể như phải đảm bảo
các giai đoạn: Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước: Trong giai đoạn
này, các bên sẽ thựchiện các hành vi như: đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều
ước. Thực hiện xongcác hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy
nhiên nếu thiếu các hành vinày thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành. Giai
đoạn 2: giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia vớiđiều
ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó. Giai đoạn này có 4hành
vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế.
[ Theo “Luật Quốc tế” Ts. Ngô Hữu Phước] Các thoả thuận giữa các quốc gia chưa thể
trở thành một điều ước quốc tế khi thiếu các trìnhtự trên.