













Preview text:
KINH TẾ VI MÔ 1 Mục lục
CHƯƠNG 1..........................................................................................................................3
TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ KINH TẾ HỌC......................................................3
Hướng dẫn học......................................................................................................................3
Nội dung................................................................................................................................3
Mục tiêu................................................................................................................................3 1.1.
Nền kinh tế..........................................................................................................4 1.1.1.
Mô hình vòng chu chuyển kinh tế......................................................................4 1.1.2.
Ba vấn đề kinh tế cơ bản.....................................................................................5 1.1.3.
Cơ chế phối hợp..................................................................................................5 1.2.
Kinh tế học..........................................................................................................6 1.2.1.
Khái niệm về kinh tế học....................................................................................6 1.2.2.
Các bộ phận của kinh tế học...............................................................................6 1.2.3.
Phương pháp nghiên cứu....................................................................................7 1.3.
Lý thuyết lựa chọn kinh tế tối ưu........................................................................9 1.3.1.
Những vấn đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn......................................................9 1.3.2.
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần và đường giới hạn khả năng sản xuất.............9 1.3.3.
Phân tích cận biên - phương pháp lựa chọn tối ưu...........................................11
TÓM TẮT...........................................................................................................................13 2 CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ KINH TẾ HỌC Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Để học tốt bài này,sinh viên cần thực hiện các công việc sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn.
Học viên trao đổi với nhau và với giảng viên trên diễn đàn hoặc qua tin nhắn câu hỏi;
Theo dõi trang web môn học. Đọc tài liệu:
[1]. Học viện Tài chính, Giáo trình Kinh tế vi mô 1; NXB Tài chính; HN.2017
[2]. Học viện Tài chính, Bài tập và trắc nghiệm Kinh tế học vi mô; NXB Tài chính; HN.2012 Nội dung
Bài này nhằm giới thiệu tổng quan về kinh tế học và hai bộ phận của nó là kinh tế học vi mô và
kinh tế học vĩ mô. Chương này giới thiệu vấn đề khan hiếm – một thực tế kinh tế của mọi xã hội và
cách giải quyết vấn đề đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau. Ngoài ra, chương này còn đưa ra các
quy luật tác động đến việc ra quyết định lựa chọn của các thành viên kinh tế. Mục tiêu
Giúp học viên hiểu rõ về mô hình chu chuyển của nền kinh tế, các vấn đề kinh tế cơ
bản và cơ chế phối hợp giải quyết cấc vấn đế kinh tế
Giúp học viên nắm rõ khái niệm về Kinh tế học, các bộ phận cấu thành
Giúp học viên hiểu được một số quy luật trong lý thuyết lựa chọn: Quy luật khan hiếm,
chi phí cơ hội tăng dần và lợi suất giảm dần.
Giúp học viên hiểu rõ nguyên tắc lựa chọn kinh tế theo phương pháp tối ưu - phân tích cận biên. 1.1. Nền kinh tế 3
1.1.1. Mô hình vòng chu chuyển kinh tế
Nền kinh tế bao gồm các bộ phận hợp thành và sự tương tác giữa chúng với nhau. Nền kinh tế
có hai bộ phận cơ bản là: (i) Người ra quyết định và (ii) Cơ chế phối hợp
Người ra quyết định: Là bất cứ ai hoặc tổ chức nào ra các quyết định lựa chọn, gồm có hộ gia
đình, doanh nghiệp và chính phủ, hay còn gọi là các tác nhân trong nền kinh tế.
Hộ gia đình là một đơn vị ra quyết định. Tùy thuộc vào thị trường mà các hộ gia đình đóng các
vai khác nhau. Trong thị trường sản phẩm, hộ gia đình là người tiêu dùng, quyết định mua hàng hóa
và dịch vụ nào và mua với số lượng bao nhiêu. Trong thị trường các yếu tố, hộ gia đình là người chủ
của các nguồn lực. Họ quyết định cung cấp bao nhiêu các nguồn lực đó cho các doanh nghiệp. Có ba
nguồn lực cơ bản là lao động, vốn và đất đai. Đất đai được
hiểu là diện tích đất và các tài nguyên
thiên nhiên như quặng kim loại, dầu mỏ, khí thiên nhiên, than, nước và không khí. Lao động là thời
gian và công sức làm việc mà con người bỏ ra để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Lao động có thể bao
gồm lao động thể chất (như các công nhân đào mỏ than) hoặc lao động trí óc (như những chuyên gia
phân tích kinh tế). Chất lượng lao động phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng mà người lao động có
được từ giáo dục, đào tạo hoặc kinh nghiệm làm việc. Vốn là
các công cụ, máy móc thiết bị, nhà
xưởng và những yếu tố khác do con người tạo ra được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Doanh nghiệp là tổ chức mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất và kết hợp các yếu tố đó để sản
xuất và bán các loại hàng hóa và dịch vụ.
Chính phủ tham gia vào nền kinh tế với tư cách là nhà cung cấp các hàng hóa dịch vụ và điều
tiết phân phối lại thu nhập. Thông thường các chính phủ cung cấp hệ thống pháp luật, hạ tầng cơ sở,
quốc phòng, giới hạn sự lựa chọn của người tiêu dùng, và điều tiết sản xuất và phân phối lại thu nhập.
Mô hình dòng luân chuyển. Một nền kinh tế được mô tả bằng hình 1-1 dưới đây. Trong mô
hình kinh tế này, các thành viên kinh tế tương tác với nhau trên hai thị trường là thị trường sản phẩm
và thị trường yếu tố sản xuất. Tham gia vào thị trường sản phẩm, các hộ gia đình chi tiêu thu nhập của
mình để đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ cần thiết còn các doanh nghiệp bán sản phẩm của mình và
nhận lại doanh thu. Tham gia vào thị trường yếu tố sản xuất, các hộ gia đình đóng vai trò là người
cung cấp các nguồn lực như lao động, đất đai và vốn cho các doanh nghiệp để đổi lấy thu nhập mà
các doanh nghiệp trả cho việc sử dụng các nguồn lực đó còn doanh nghiệp tham gia vào thị trường
yếu tố để mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất cần thiết cho hoạt động của mình. Chính phủ tham gia
vào hai thị trường này để cung cấp các hàng hóa mà thị trường không sản xuất một cách hiệu quả nhưng
lại rất cần thiết đối với đời sống xã hội ví dụ như các hàng hóa công cộng, an ninh quốc phòng. Ngoài ra
chính phủ còn điều tiết thu nhập thông qua thuế và các chương trình trợ cấp. 4
1.1.2. Ba vấn đề kinh tế cơ bản
Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các mục tiêu cạnh tranh.
Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản là: Sản xuất cái gì?
Vì nhu cầu của các thành viên trong xã hội là vô hạn mà khả năng đáp ứng các nhu cầu đó là
hữu hạn, nên không có xã hội nào có thể sản xuất được mọi thứ mà các thành viên trong xã hội mong
muốn. Bởi vậy mỗi xã hội đều phải cân nhắc, lựa chọn để thỏa mãn một trong số các nhu cầu khác
nhau rồi sau đó quyết định sản xuất hàng hóa và dịch vụ nào với số lượng bao nhiêu. Chẳng hạn, một
xã hội cần quyết định sản xuất bao nhiêu tấn lượng thực, bao nhiêu bộ quần áo... Sản xuất như thế nào?
Sau khi đã quyết định sản xuất những hàng hóa và dịch vụ nào, mỗi xã hội phải lựa chọn các
yếu tố sản xuất và phương pháp sử dụng các yếu tố sản xuất đã lựa chọn. Thông thường các hàng hóa
và dịch vụ có thể được sản xuất ra bằng nhiều cách, tùy vào mục đích cụ thể và trong giới hạn khả
năng cho phép, người sản xuất quyết định sẽ sản xuất theo cách nào. Sản xuất cho ai?
Vấn đề cuối cùng mà mỗi nền kinh tế phải xem xét đó là sản xuất cho ai, nghĩa là phân phối số
lượng hữu hạn các hàng hóa và dịch vụ đã được sản xuất ra cho những người mong muốn nhận được chúng. 1.1.3. Cơ chế phối hợp
Cơ chế phối hợp là cơ chế phối hợp sự lựa chọn của các thành viên kinh tế với nhau. Có ba
loại cơ chế kinh tế cơ bản là: i) cơ chế mệnh lệnh, ii) cơ chế thị trường, iii) cơ chế hỗn hợp.
Cơ chế mệnh lệnh (kế hoạch hóa tập trung): Trong một nền kinh tế được quản lý theo cơ chế
này, các vấn đề kinh tế cơ bản đều được giải quyết tập trung. Nhà nước xác định toàn bộ kế hoạch sản
xuất, tiêu thụ cho các doanh nghiệp, quyết định cả việc tiêu dùng của mọi thành viên kinh tế.
Cơ chế thị trường: Trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề kinh tế cơ bản phải được giải quyết
thông qua mối quan hệ cung cầu, cạnh tranh trên thị trường. Cơ chế thị trường có ưu điểm nổi bật
trong việc đáp ứng các nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của người tiêu dùng. Các doanh
nghiệp chủ động điều tra nhu cầu của thị trường, nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng và tổ chức sản 5
xuất nhằm đạt được lợi nhuận tối đa. Cơ chế thị trường khuyến khích cạnh tranh, đổi mới công nghệ
kỹ thuật và sử dụng các nguồn tài nguyên của xã hội một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên cơ chế này
cũng có một số nhược điểm cơ bản như phân phối thu nhập không công bằng, việc chạy theo lợi
nhuận thuần tuý có thể làm ô nhiễm môi trường, không cung cấp đủ hàng hóa công cộng...
Cơ chế hỗn hợp: Trong nền kinh tế thị trường, ở một số lĩnh vực thị trường không đem lại hiệu
quả tối ưu đối với xã hội, Chính phủ cần trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế cơ
bản. Chính phủ thường cung cấp các hàng hóa công cộng, khắc phục các thất bại của thị trường, điều
tiết phân phối thu nhập thông qua việc đánh thuế thu nhập để đảm bảo công bằng cho xã hội. 1.2. Kinh tế học
1.2.1. Khái niệm về kinh tế học
Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự phát triển vô cùng mạnh mẽ trong suốt thế kỷ qua. Giá trị
của cải và sự phong phú của hàng hóa và dịch vụ đã tăng lên rất nhiều. Có nhiều quốc gia trở nên rất
giàu có, trong khi còn nhiều quốc gia khác lại rất nghèo. Nhưng một thực tế kinh tế luôn tồn tại ở mọi
nơi và mọi lúc đó là sự khan hiếm. Sự khan hiếm là việc xã hội với các nguồn lực hữu hạn không thể
thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu ngày càng tăng của con người. Tất cả mọi nền kinh tế đều tìm cách sử
dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm một cách có hiệu quả nhất để thỏa mãn nhu cầu của con người.
Kinh tế học giúp chúng ta hiểu về cách giải quyết vấn đề khan hiếm đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau.
Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu cách thức xã hội phân bổ nguồn lực khan hiếm để sản
xuất ra các hàng hóa hoặc dịch vụ có giá trị và phân phối chúng cho các thành viên của xã hội. Hay
kinh tế học là môn khoa học giúp cho con người hiểu cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung
và cách thức ứng xử của từng thành viên tham gia vào nền kinh tế nói riêng.
Trong khái niệm này có có hai vấn đề cần làm rõ đó là: nguồn lực có tính khan hiếm và xã hội
phải phân bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả.
Tính cấp thiết của Kinh tế học là nhận thức được thực tế của sự khan hiếm và dự kiến tổ chức
xã hội như thế nào để sử dụng các nguồn lực một cách khoa học và hiệu quả nhất.
1.2.2. Các bộ phận của kinh tế học Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vi mô nghiên cứu hành vi và cách thức ra quyết định của các thành viên kinh tế (hộ
gia đình, doanh nghiệp và chính phủ). Ví dụ như người tiêu dùng sẽ sử dụng thu nhập hữu hạn của
mình như thế nào? Tại sao người họ lại thích hàng hóa này hơn hàng hóa khác. Hoặc doanh nghiệp sẽ
sản xuất bao nhiêu sản phẩm để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận? Nếu giá đầu vào tăng lên,
doanh nghiệp sẽ phải làm gì? Chính phủ sẽ phân bổ ngân sách hữu hạn của mình cho các mục tiêu
như giáo dục, y tế như thế nào?...
Như vậy, kinh tế học vi mô nghiên cứu những vấn đề sau: -
Mục tiêu của các thành viên kinh tế. -
Các giới hạn hay ràng buộc của các thành viên kinh tế. 6 -
Phương pháp đạt được của các thành viên kinh tế. Kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vĩ mô là bộ phận kinh tế học nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổng thể của nền kinh tế
như các vấn đề tăng trưởng, lạm phát, việc làm và thất nghiệp, cán cân thương mại,...Kinh tế học vĩ
mô tìm cách giải đáp các câu hỏi quan trọng như các yếu tố nào quyết định và ảnh hưởng đến các biến
số vĩ mô trên, các biến số thay đổi theo thời gian như thế nào và các chính sách vĩ mô tác động thế nào đến các biến số.
Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng đều là
những nội dung quan trọng của kinh tế học, hai bộ phận này có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau.
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Kinh tế học cũng là một môn khoa học nên phương pháp nghiên cứu cũng giống như các môn
khoa học tự nhiên khác. Tuy nhiên vì kinh tế học nghiên cứu hành vi của con người nên phương pháp
nghiên cứu kinh tế học cũng có nhiều điểm khác biệt.
Quy trình nghiên cứu kinh tế học thường được tiến hành theo các bước: Quan sát và đo lường. Xây dựng mô hình. Kiểm định mô hình. Quan sát và đo lường
Các nhà kinh tế học thường phải quan sát, thu thập số liệu và đo lường các biến số kinh tế để
phục vụ cho quá trình phân tích. Một số biến số mà các nhà kinh tế phải đo lường như giá hàng hóa,
số lượng hàng hóa tiêu thụ, chỉ số giá chung, thuế và chi tiêu chính phủ, sản lượng và thu nhập của
nền kinh tế, giá trị hàng hóa dịch vụ giao dịch với các nước khác... Xây dựng mô hình
Xác định vấn đề nghiên cứu
Đây chính là bước phải xác định các câu hỏi nghiên cứu. Ví dụ tại sao giá xăng dầu và giá
lương thực thế giới tăng cao đột biến trong quý 1 năm 2011? Tác động của gói kích thích kinh tế năm
2009 đến ổn định kinh tế vĩ mô? Nếu chính phủ trợ giá nông sản thì người nông dân có được lợi hay
không? Tại sao chính phủ lại kiểm soát giá xăng dầu, kiểm soát lãi suất...
Xây dựng các mối quan hệ dựa trên các giả định đơn giản hóa so với thực tế
Mô hình kinh tế chính là một cách thức mô tả thực tế đã được đơn giản hóa để hiểu và dự đoán
được mối quan hệ của các biến số. Cách thức mô tả xây dựng các mối quan hệ giữa các biến số có thể
biểu đạt bằng lời, bảng số liệu, đồ thị hay các phương trình toán học.
Thực tế các hoạt động kinh tế thì rất phức tạp với những mối quan hệ tương tác giữa các thành
viên kinh tế, giữa các biến số kinh tế mà các nhà kinh tế không thể bao quát. Vì vậy, mô hình kinh tế
đơn giản hóa thực tế bằng cách mô tả một vài khía cạnh quan trọng nhất, loại bỏ những chi tiết không 7
quan trọng, không cần thiết cho mục đích nghiên cứu.
Xác lập các giả thuyết kinh tế để giải thích vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu của mô hình kinh tế là dự báo hoặc tiên đoán kết quả khi các biến số thay đổi. Vì vậy,
khi xây dựng mô hình, cần thiết lập các giả thuyết kinh tế. Các giả thuyết kinh tế mô tả mối quan hệ
giữa các biến số mà sự thay đổi của biến số này là nguyên nhân khiến một (hoặc) các biến số khác thay đổi theo. Kiểm định mô hình
Các nhà kinh tế học sẽ tập hợp các số liệu và phân tích để kiểm chứng lại giả thuyết. Nếu kết
quả thực nghiệm phù hợp với giả thuyết thì giả thuyết được công nhận còn nếu ngược lại, giả thuyết
sẽ bị bác bỏ. Trong trường hợp nếu các phép thử được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần đều cho kết
quả thực nghiệm đúng như giả thuyết thì giả thuyết kinh tế được coi là lý thuyết kinh tế. Một vài giả
thuyết và lý thuyết kinh tế được công nhận một cách rộng rãi thì được gọi là quy luật kinh tế.
Tuy nhiên đưa ra kết luận cuối cùng cần rất thận trọng. Thứ nhất là vấn đề liên quan đến giả định
các yếu tố khác không thay đổi. Đây là một trong những khó khăn lớn trong phân tích kinh tế, đòi hỏi
những kỹ thuật thống kê phức tạp. Thứ hai là vấn đề liên quan đến quan hệ nhân quả. Một lỗi thường
gặp là kết luận sai lầm về quan hệ nhân quả: Sự thay đổi của một biến này là nguyên nhân thay đổi của
biến kia chỉ bởi vì chúng có xu hướng xảy ra đồng thời. Các phương pháp thống kê phức tạp cũng cần
được sử dụng để xác định xem liệu sự thay đổi của một biến có thực sự là nguyên nhân gây ra sự thay
đổi quan sát được ở biến khác hay không. Trong cả hai trường hợp, bên cạnh nguyên nhân khó có thể có
những thực nghiệm hoàn hảo như trong phòng thí nghiệm như các môn khoa học khác, những phương
pháp thống kê không phải lúc nào cũng đủ sức thuyết phục các nhà kinh tế học tin vào mối quan hệ nhân quả thực sự.
Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học là một môn khoa học xã hội và giống như tất cả các môn khoa học khác, các nhà
kinh tế học phải phân biệt hai câu hỏi: Là cái gì? và Nên như thế nào?
Trả lời cho câu hỏi “Là cái gì” được gọi là kinh tế học thực chứng – mô tả và phân tích các sự
kiện, những mối quan hệ trong nền kinh tế - cái gì, thế nào và cho ai – và các hành vi ứng xử của chúng.
Nói cách khác, nó giải thích sự hoạt động của nền kinh tế một cách khách quan và khoa học.
Kinh tế học chuẩn tắc thì lại liên quan đến câu hỏi: Nên như thế nào? Kinh tế học chuẩn tắc đưa
ra các chỉ dẫn hoặc khuyến nghị dựa trên những đánh giá, nhận định chủ quan vào vấn đề gì, thế nào
và cho ai của nền kinh tế. Có rất nhiều vấn đề đặt ra mà câu trả lời tùy thuộc vào quan điểm của cá
nhân và cũng có nhiều phương pháp giải quyết khác nhau về một hiện tượng kinh tế tùy theo cách
đánh giá của mỗi người.
Nghiên cứu kinh tế thường được tiến hành từ Kinh tế học thực chứng rồi chuyển sang Kinh tế học chuẩn tắc.
1.3. Lý thuyết lựa chọn kinh tế tối ưu 8
Phần này sẽ giới thiệu một số lý thuyết lựa chọn và quy luật kinh tế cơ bản tác động đến quá
trình lựa chọn trong nền kinh tế như là một đối tượng của môn kinh tế học.
1.3.1. Những vấn đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn Khái niệm:
Lựa chọn là cách thức mà các tác nhân trong nền kinh tế đưa ra quyết định tối ưu về việc sử
dụng các nguồn lực của họ.
Lý thuyết lựa chọn tìm cách lý giải có cơ sở khoa học các quyết định của các tác nhân trong nền kinh tế.
Các tác nhân kinh tế cần phải đưa ra quyết định lựa chọn vì: -
Nguồn lực kinh tế là có hạn -
Sự lựa chọn có thể thực hiện được vì một nguồn lực có thể được sử dụng vào nhiều mục đích
khác nhau và chúng có thể thay thế được cho nhau trong sản xuất hoặc tiêu dùng.
Mục tiêu của sự lựa chọn: Sự lựa chọn nhằm tìm cách tối đa hóa hay có thể thu nhiều lợi ích
nhất trong điều kiện có những giới hạn về nguồn lực.
Ví dụ: Với các nhà sản xuất thì mục tiêu của sự lựa chọn là tối đa hóa lợi nhuận. Với người tiêu
dùng thì mục tiêu của sự lựa chọn là tối đa hóa độ thỏa dụng. Đối với Chính phủ, mục tiêu của sự lựa
chọn là thúc đẩy tăng trưởng, ổn định, sửa chữa được những khuyết tật của thị trường, tối đa hóa phúc lợi xã hội.
Cơ sở của sự lựa chọn:
Chi phí cơ hội là khái niệm hữu ích nhất được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn. Chi phí cơ hội
là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi đưa ra một sự lựa chọn kinh tế.
Ví dụ: Chi phí cơ hội của việc giữ tiền là lãi suất mà chúng ta có thể thu được khi gửi tiền vào
ngân hàng. Chi phí cơ hội của lao động là thời gian nghỉ ngơi bị mất.
Như vậy, khái niệm chi phí cơ hội cho chúng ta thấy rằng để đưa ra bất kỳ một quyết định kinh
tế nào, các tác nhân trong nền kinh tế đều phải cân nhắc kỹ giữa cái được và cái mất của mọi sự lựa
chọn, so sánh các phương án khác nhau thật kỹ lưỡng.
1.3.2. Quy luật chi phí cơ hội tăng dần và đường giới hạn khả năng sản xuất
Việc tính toán chi phí cơ hội không phải là đơn giản vì sự lựa chọn phải được cân nhắc rất kỹ
trên nhiều phương diện khác nhau. Và sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào quy luật chi phí cơ hội tăng dần.
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần phát biểu rằng để thu thêm được một số lượng hàng hóa bằng
nhau, xã hội ngày càng phải hy sinh ngày càng nhiều hàng hóa khác. Tại sao chi phí cơ hội lại tăng
lên? Câu trả lời tương đối đơn giản. Không phải tất cả các nguồn lực đều giống nhau, một số nguồn
lực phù hợp với sản xuất hàng hóa này hơn so với việc sản xuất hàng hóa kia. Ví dụ rằng giả định nền
kinh tế có 2 ngành là trồng ngô và dệt vải, một số lao động và máy móc thiết bị phù hợp với việc dệt
vải trong khi một số lao động và máy móc khác lại phù hợp hơn cho việc sản xuất ngô. Vì thế khi nền
kinh tế mở rộng sản lượng dệt vải thì phải sử dụng những tài nguyên không phù hợp lắm với việc sản 9
xuất vải. Lúc đầu, tăng số lượng mét vải không khó khăn lắm, chẳng hạn chuyển giảm diện tích trồng
ngô để chuyển sang trồng bông dệt vải. Nhưng khi tiếp tục tăng sản lượng vải thì phải sử dụng cả
những tài nguyên kém phù hợp hơn. Chẳng hạn chuyển nhà máy chế biến ngô sang nhà máy chế biến
sợi bông, việc chuyển đổi trang thiết bị sản xuất này đòi hỏi phải hy sinh sản lượng ngô ngày càng lớn hơn.
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần thường được minh hoạ qua đường giới hạn năng lực sản xuất
(PPF) - mô tả các mức sản lượng tối đa có thể sản xuất được với các nguồn lực hiện có trong điều
kiện công nghệ nhất định. Hãy xem xét quy luật này thông qua một ví dụ cụ thể sau đây: Giả sử một
nền kinh tế giản đơn có 2 ngành sản xuất là trồng ngô và dệt vải. Giả định rằng các nguồn lực được sử
dụng một cách tối ưu. Các khả năng có thể đạt được của nền kinh tế đó được cho ở Bảng 1-1 dưới đây:
Bảng 1-1. Các khả năng sản xuất của một nền kinh Các khả năng Sản lượng ngô (tấn)
Sản lượng vải (nghìn mét) A 25 0 B 20 4 C 15 7 D 9 9 E 0 10
Nếu chúng ta biểu diễn các khả năng sản xuất đó trên đồ thị ta sẽ có đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) sau đây.
Các điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất như điểm A, B, C, D, E minh họa khả
năng sản xuất cao nhất của một nền kinh tế. Nền kinh tế không thể sản xuất nhiều hơn các mức đó
được. Các điểm này được coi là đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật hay sản xuất. Các điểm nằm bên ngoài 10
đường giới hạn khả năng sản xuất như điểm K là những điểm không khả thi, nền kinh tế không thể đạt
được. Còn các điểm nằm trong đường giới hạn khả năng sản xuất như điểm H cho thấy việc sản xuất
chưa hiệu quả - chưa tận dụng hết nguồn lực cũng như công nghệ hiện có.
Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa chi phí cơ hội như thế nào? Quan sát 2 điểm A và
B ta thấy như sau: Để thu được 4 nghìn mét vải, nền kinh tế bây giờ chỉ có thể sản xuất tối đa là 20
tấn ngô, có nghĩa là giảm bớt đi 5 tấn (bằng 25 tấn – 20 tấn). Chúng ta coi 5 tấn ngô mất đi này là chi
phí cơ hội của việc sản xuất 4 nghìn mét vải đầu tiên. Tương tự như vậy, ta có thể tính toán chi phí cơ
hội của việc sản xuất vải của nền kinh tế này thông qua Bảng 1-2 sau đây:
Bảng 1-2. Chi phí cơ hội của việc sản xuất vải
Chi phí cơ hội của 1 nghìn mét vải (tấn ngô)
4 nghìn mét vải đầu tiên đòi hỏi phải bỏ qua 5 tấn ngô 5/4
3 nghìn mét vải tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 5 tấn ngô 5/3
2 nghìn mét vải tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 6 tấn ngô 3
1 nghìn mét vải cuối cùng đòi hỏi phải bỏ qua 9 tấn ngô 9
Có thể nhận thấy rằng để thu thêm được cùng một số lượng vải (1 nghìn mét) số lượng ngô bị
mất ngày càng tăng. Điều này minh họa quy luật chi phí cơ hội tăng dần.
1.3.3. Phân tích cận biên - phương pháp lựa chọn tối ưu
Phân tích cận biên cấu thành cách tiếp cận phân tích của chúng ta đối với vấn đề lựa chọn.
Phương pháp này cho phép chúng ta hiểu được bản chất tối ưu của các quyết định kinh tế. Khi đưa ra
các quyết định kinh tế, các thành viên kinh tế theo đuổi các mục tiêu kinh tế khác nhau. Cụ thể người
tiêu dùng muốn tìm cách để tối đa hóa lợi ích, doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận còn chính phủ
muốn tối đa hóa phúc lợi công cộng. Dù các mục tiêu có khác nhau song các thành viên kinh tế đều có
chung một giới hạn đó là ràng buộc về ngân sách.
Phép phân tích cận biên sẽ giúp chúng ta hiểu được cách thức lựa chọn của các thành viên kinh
tế. Bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào cũng liên quan đến hai vấn đề cơ bản là: Chi phí và lợi ích của sự
lựa chọn. Cả hai biến số này đều thay đổi khi các thành viên kinh tế đưa ra các sự lựa chọn với quy
mô khác nhau. Mọi thành viên kinh tế đều mong muốn tối đa hóa lợi ích ròng (hiệu số giữa lợi ích và chi phí).
Lợi ích ròng = Tổng lợi ích – Tổng chi phí
Giả sử hàm tổng lợi ích là TB = f(Q), hàm tổng chi phí là TC = g(Q). Điều đó có nghĩa là tổng 11
lợi ích thu được cũng như tổng chi phí bỏ ra cho một sự lựa chọn phụ thuộc vào quy mô của sự lựa
chọn đó (Q). Khi đó lợi ích ròng là NB = TB - TC = f(Q) - g(Q).
NB đạt giá trị cực đại khi (NB)’(Q) = 0, ta có: (NB)’(Q) = TB’(Q) - TC’(Q) = 0 => MB - MC = 0 => MB = MC
Vậy lợi ích ròng đạt giá trị cực đại khi MB = MC
-Nếu MB > MC thì mở rộng quy mô hoạt động sẽ làm tăng lợi ích ròng;
-Nếu MB = MC quy mô hoạt động là tối ưu;
-Nếu MB < MC thì thu hẹp quy mô hoạt động sẽ làm tăng lợi ích ròng. Trong đó:
-MB là lợi ích cận biên: Là phần lợi ích tăng thêm khi mở rộng mức độ hoạt động thêm một đơn vị.
-MC là chi phí cận biên phần chi phí tăng thêm khi mở rộng mức độ hoạt động thêm một đơn vị.
Như vậy, khi đưa ra các quyết định về sự lựa chọn kinh tế các thành viên kinh tế luôn phải so
sánh giữa phần tăng thêm về lợi ích và phần tăng thêm về chi phí nhằm mục đích xác định một mức sản lượng tối ưu. 12 TÓM TẮT
Sự khan hiếm các nguồn lực là một đặc trưng vốn có của mọi kinh tế. Sự khan hiếm là việc xã
hội với các nguồn lực hữu hạn không thể thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu vô hạn và ngày càng tăng của
con người. Kinh tế học giúp chúng ta hiểu về cách giải quyết vấn đề khan hiếm đó trong các cơ chế kinh tế khác nhau.
Kinh tế học là môn khoa học giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế
nói chung và cách thức ứng xử của từng thành viên tham gia vào nền kinh tế nói riêng.
Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các mục đích sử dụng khác
nhau. Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào?
sản xuất cho ai? Các bộ phận hợp thành nền kinh tế là người ra quyết định bao gồm hộ gia đình,
doanh nghiệp và chính phủ. Các thành viên này tương tác với nhau theo các cơ chế phối hợp khác
nhau. Mỗi thành viên có những mục tiêu và hạn chế của mình.
Kinh tế học bao gồm hai bộ phận cơ bản là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô. Kinh tế học
vi mô nghiên cứu hành vi của các thành viên kinh tế. Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề kinh tế
tổng thể của nền kinh tế như các tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, các cân thương mại,
Kinh tế học thực chứng trả lời câu hỏi “Là cái gì” – tìm cách lý giải một cách khoa học các
hiện tượng quan sát được, xác định các nguồn lực trong nền kinh tế thực tế được phân bổ như thế nào.
Kinh tế học chuẩn tắc trả lời câu hỏi “Nên như thế nào” - đánh giá chủ quan của các nhà kinh tế - phát
biểu về cách các nguồn lực của nền kinh tế cần phải được phân bổ như thế nào.
Phương pháp nghiên cứu kinh tế học bao gồm: i) quan sát và đo lường (số liệu theo thời gian và
số liệu chéo, chỉ số, biến danh nghĩa và biến thực tế, sự thay đổi của các biến số), ii) xây dựng mô
hình (xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng các mối quan hệ dựa trên những giả định đơn giản hóa so
với thực tế, xác lập các giả thuyết kinh tế để giải thích vấn đề nghiên cứu), iii) kiểm định mô hình.
Chi phí cơ hội được hiểu là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện một sự lựa chọn
về kinh tế. Chi phí cơ hội tuân theo quy luật chi phí cơ hội tăng dần.
Đường giới hạn năng lực sản xuất (PPF) được hiểu là đường mô tả tất cả các kết hợp hàng hóa
tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất với ràng buộc về các nguồn lực sản xuất và công nghệ hiện có.
Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện sự khan hiếm của các nguồn lực và quy luật chi phí cơ hội tăng dần.
Phương pháp phân tích cận biên chỉ ra rằng các thành viên kinh tế sẽ lựa chọn tại mức mà lợi
ích cận biên bằng với chi phí cận biên (MB = MC) để tối đa hóa lợi ích ròng. 13