














Preview text:
lOMoAR cPSD| 61236129
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: TRÌNH BÀY LÝ LUẬN CỦA CN MÁC-LÊNIN VỀ THẤT
NGHIỆP VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM Hà Nội, 11/2024 lOMoAR cPSD| 61236129 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 3
NỘI DUNG ......................................................................................................................... 4
I. LÝ LUẬN CỦA CN MÁC-LÊNIN VỀ THẤT NGHIỆP ............................................ 4
1. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về thất nghiệp .................................................... 4
2. Phân loại thất nghiệp ................................................................................................ 6
II. LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM .................................................................... 7
1. Thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam ............................................................................ 7
a) Bối cảnh chung:.................................................................................................... 7
b) Thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam:................................................................... 7
i. Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động: ........................................ 7
ii. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở các vùng kinh tế - xã hội: ............... 8
iii. Tỷ lệ thất nghiệp giữa thành thị và nông thôn ................................................ 10
2. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp tại Việt Nam ......................... 10
a) Nguyên nhân chủ quan: ...................................................................................... 10
b) Nguyên nhân khách quan: .................................................................................. 11
3. Tác động của thất nghiệp lên tình hình kinh tế tại Việt Nam ................................. 12
a) Tác động của thất nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát ......................... 12
b) Tác động của thất nghiệp đến thu nhập và đời sống của người lao động .......... 12
c) Tác động của thất nghiệp đến trật tự xã hội ....................................................... 13
4. Giải pháp giảm tình trạng thất nghiệp tại Việt Nam ............................................... 13
a) Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn lao động: ................................... 13
b) Đầu tư vào giáo dục và đào tạo:......................................................................... 13
c) Người lao động cần chủ động nâng cao trình độ chuyên môn: ......................... 14
d) Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài: ...................... 14
e) Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội: ........................... 14
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 15 lOMoAR cPSD| 61236129 LỜI MỞ ĐẦU
Thất nghiệp là một vấn đề phổ biến và đặc trưng của nền kinh tế tư bản, mang lại
nhiều hệ lụy về xã hội và kinh tế cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt,
trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế và
xã hội, việc nghiên cứu lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về thất nghiệp và liên hệ
với thực tiễn tại Việt Nam sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về bản chất của vấn
đề này. Qua đó, có thể đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu thất nghiệp
và cải thiện tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Mục đích của nghiên cứu là trình bày lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về thất
nghiệp, giúp hiểu rõ hơn về bản chất của vấn đề thất nghiệp trong nền kinh tế tư bản
và sự phát triển kinh tế. Đồng thời, thông qua việc liên hệ thực tiễn với tình trạng
thất nghiệp ở Việt Nam, nghiên cứu này sẽ chỉ ra nguyên nhân và diễn biến của tình
trạng thất nghiệp tại đây, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực để giải quyết vấn đề này hiệu quả.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc làm rõ lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về
thất nghiệp, đồng thời liên hệ thực tiễn tình hình thất nghiệp ở Việt Nam để hiểu và
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề thất nghiệp trong bối cảnh hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong bài này là phương pháp thống kê, tổng
hợp và phân tích. Bài viết dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu, giáo trình liên quan
đến lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về thất nghiệp, đồng thời tham khảo các báo
cáo, trích dẫn thực tiễn để áp dụng lý luận vào tình hình thất nghiệp tại Việt Nam. lOMoAR cPSD| 61236129 NỘI DUNG I.
LÝ LUẬN CỦA CN MÁC-LÊNIN VỀ THẤT NGHIỆP
1. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về thất nghiệp
Về định nghĩa, thất nghiệp theo kinh tế vĩ mô là tình trạng người lao động trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhu cầu tìm việc làm nhưng chưa tìm
được việc làm. Đơn giản hơn, thất nghiệp có thể được hiểu là tình trạng người lao
động muốn có việc làm, nhưng không có việc làm.
Các nhà kinh điển như Các Mác và V.I. Lênin cho rằng thất nghiệp là một vấn đề
cơ bản của hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản. Theo họ, thất nghiệp không phải là
một hiện tượng tạm thời mà là một phần không thể thiếu của hệ thống sản xuất và phân phối của nó.
Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về thất nghiệp được xây dựng trên cơ sở phân
tích mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và các hiện tượng kinh tế,
xã hội trong xã hội tư bản. Thất nghiệp trong lý thuyết của Marx và Lenin không
phải là một hiện tượng ngẫu nhiên hay không thể tránh khỏi, mà là một đặc trưng
của nền kinh tế tư bản, gắn liền với sự bóc lột lao động của giai cấp công nhân và
sự phân chia giai cấp trong xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, thất nghiệp có thể được lí giải bởi
quá trình tích lũy tư bản. Về định nghĩa, tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần
giá trị thặng dư thành tư bản. Còn về bản chất, đó là quá trình tái sản xuất mở rộng
tư bản chủ nghĩa thông qua việc chuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm
để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc mua thêm hàng hóa sức
lao động, mở mang nhà xưởng, mua thêm nguyên vật liệu, trang bị thêm máy móc thiết bị,…
Theo quy luật chung của tích lũy tư bản chủ nghĩa, quá trình tích lũy tư bản là
quá trình tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản.
Vốn tồn tại dưới dạng vật chất và giá trị. Cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kĩ
thuật và cấu tạo giá trị. Cấu tạo kĩ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản
xuất với số lượng lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó. Nó được
biểu hiện dưới các hình thức như số lượng máy móc, nguyên vật liệu, năng lượng
mà công nhân sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Còn cấu tạo giá trị của
tư bản là tỷ lệ mà theo đó tư bản phân thành tư bản bất biến (giá trị của tư liệu sản
xuất) và tư bản khả biến (giá trị của sức lao động).
Những thay đổi trong cấu tạo kĩ thuật sẽ dẫn tới những thay đổi trong cơ cấu giá
trị. C.Mác đã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để biểu thị mối quan hệ đó.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị được xác định bởi cấu tạo kĩ thuật và lOMoAR cPSD| 61236129
phản ánh sự phát triển của cấu tạo kĩ thuật của tư bản. Do sự ảnh hưởng không ngừng
của những tiến bộ phi thường về khoa học công nghệ nên cấu tạo hữu cơ của tư bản
cũng không ngừng thay đổi theo chiều hướng ngày càng cải thiện và tăng lên. Điều
này được chứng minh ở chỗ: bộ phận tư bản bất biến (c) tăng nhanh hơn bộ phận tư
bản khả biến (v), bộ phận tư bản bất biến tăng tuyệt đối và tăng tương đối, còn tư
bản khả biến thì có thể tăng tuyệt đối, nhưng lại giảm xuống một cách tương đối so
với tư bản bất biến. C.Mác lí luận rằng chính sự biến đổi này trong chủ nghĩa tư bản
là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ thừa nhân khẩu. Lợi nhuận luôn là mục tiêu và
động lực chính của hoạt động sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
C.Mác đã chỉ ra rằng: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư
bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”. Vì vậy, để tối đa hóa lợi
nhuận và tăng trưởng doanh thu, các doanh nghiệp sẽ tìm cách gia tăng giá trị thặng
dư và sử dụng giá trị thặng dư đó để thúc đẩy quá trình tích lũy tư bản và mở rộng
quy mô sản xuất. Việc đẩy mạnh tích lũy tư bản của các nhà tư bản đều tác động một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra nạn thất nghiệp. Theo đó, với một lượng giá trị
thặng dư nhất định, quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích
lũy và tiêu dùng. Nếu tỷ lệ này đã được xác định, quy mô tích lũy tư bản sẽ còn phụ
thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Những yếu tố chủ yếu tác động đến khối lượng
giá trị thặng dư có thể giải thích trực tiếp cho thất nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, trình độ khai thác sức lao động. Để gia tăng giá trị thặng dư, các nhà
tư bản thường phải đầu tư thêm máy móc, thiết bị và công nhân. Tuy nhiên, phần
lớn các nhà tư bản lại không lựa chọn việc tuyển thêm công nhân mà thay vào đó
họ sử dụng các biện pháp khác như cắt xén tiền công, tăng ca, tăng kíp, và tăng
cường độ lao động, đồng thời tận dụng triệt để số máy móc hiện có. Qua đó, giá trị
thặng dư gia tăng và quy mô sản xuất của doanh nghiệp được mở rộng. Tuy nhiên,
điều đó không đồng nghĩa với việc có nhiều việc làm hơn được tạo ra. Thực tế, nhà
tư bản không chỉ không tuyển thêm lao động mà còn có thể làm tăng mức độ bóc
lột lao động đối với công nhân.
Thứ hai, năng suất lao động xã hội. Khi năng suất lao động xã hội tăng lên, giá
cả của tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm. Sự giảm giá này có hai hệ quả đối
với tích lũy tư bản: Một là, với một khối lượng giá trị thặng dư không thay đổi, phần
giá trị thặng dư dành cho tích lũy có thể gia tăng lấn sang phần tiêu dùng trong khi
phần tiêu dùng của nhà tư bản vẫn có thể giữ nguyên hoặc cao hơn trước; hai là,
một phần giá trị thặng dư được dành cho tích lũy có thể chuyển thành tư liệu sản
xuất và sức lao động thêm vào, giúp tăng sản xuất hơn trước. Sự tiến bộ trong khoa
học và công nghệ đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao năng suất lao động xã
hội. Tuy nhiên, việc nhà tư bản đầu tư vào máy móc và sử dụng chúng hiệu quả hơn
đồng nghĩa với việc họ sẽ cần ít công nhân hơn để sản xuất ra một lượng sản phẩm lOMoAR cPSD| 61236129
nhất định. Như vậy, việc áp dụng máy móc hiệu quả sẽ làm giảm số lượng lao động
cần thiết trong sản xuất.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là số lượng việc làm sẽ luôn giảm. Một số
ngành có thể tìm được thị trường mới và mở rộng, các ngành công nghiệp mới sẽ ra
đời và tạo thêm cơ hội việc làm cho công nhân. Do đó, nhu cầu lao động có thể tăng
hoặc giảm tùy theo sự thay đổi trong chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa
là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vẫn có khuynh hướng đẩy người lao động ra
khỏi sản xuất. Như vậy, có thể rút ra kết luận rằng: quá trình tích lũy tư bản thực
chất là quá trình bần cùng hóa giai cấp vô sản. Cấu tạo tư bản ngày càng tăng, làm
cho cầu tương đối về sức lao động có xu hướng ngày càng giảm. Đây chính là
nguyên nhân chủ yếu gây ra nạn nhân khẩu thừa tương đối.
2. Phân loại thất nghiệp
Khi phân loại thất nghiệp theo nguyên nhân, ta có thể chia thành ba nhóm chính,
bao gồm thất nghiệp tự nhiên, thất nghiệp chu kỳ và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển.
• Thất nghiệp tự nhiên: là mức thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải
đối mặt, là loại thất nghiệp không thể loại bỏ trong dài hạn và tồn tại ngay cả
khi thị trường lao động đã cân bằng. Thất nghiệp tự nhiên bao gồm:
- Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao
động do các yếu tố như người lao động thiếu kỹ năng cần thiết, hoặc
sự khác biệt về địa lý giữa nơi cung cấp lao động và nơi có nhu cầu tuyển dụng.
- Thất nghiệp tạm thời: là tình trạng thất nghiệp do người lao động nghỉ
việc cũ để tìm việc mới, do thay đổi nơi cư trú, hoặc khi những người
lao động mới gia nhập hoặc tái gia nhập lực lượng lao động cần thời
gian để tìm kiếm công việc.
- Thất nghiệp thời vụ: là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động
không có việc làm trong một khoảng thời gian nhất định trong năm,
thường là do tính chất mùa vụ của công việc.
• Thất nghiệp chu kỳ: là tình trạng thất nghiệp phát sinh trong thời kỳ suy thoái
kinh tế, khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng của nền
kinh tế, theo lý thuyết của Keynes.
• Thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển: là thất nghiệp xảy ra khi mức lương tối
thiểu được quy định cao hơn mức lương mà thị trường lao động có thể điều lOMoAR cPSD| 61236129
chỉnh theo quy luật cung-cầu, dẫn đến việc người lao động không tìm được việc làm. II.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
1. Thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam a) Bối cảnh chung:
Báo cáo “Triển vọng việc làm và xã hội thế giới: Xu hướng 2024” của Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO) cho thấy thị trường lao động đã dần phục hồi ổn định. Số
lao động có việc làm tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, số giờ làm việc trung bình mỗi
tuần của người lao động gần trở về trạng thái bình thường trước đại dịch Covid-19.
Mặc dù vậy, ILO cũng cảnh báo, sự khởi sắc này còn mong manh, tăng trưởng việc
làm sẽ chững lại, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng nhẹ từ mức 5,1% năm ngoái lên 5,2%
năm nay. Đây cũng là những thách thức không nhỏ đối với thị trường lao động Việt
Nam. Mặc dù đạt được những tiến bộ đáng kể, nhưng vấn đề việc làm, bảo đảm việc
làm, cải thiện điều kiện lao động vẫn cần được chú trọng.
b) Thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam:
i. Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động:
Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lực lượng lao động.
(Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam) Năm
Tỷ lê thất nghiệp trong độ Tỷ lệ thất nghiệp của
tuổi lao động tại Việt thanh niên Việt Nam Nam lOMoAR cPSD| 61236129 2019 2,20% 6,39% 2020 2,48% 7,10% 2021 3,22% 8,48% 2022 2,34% 7,72% 2023 2,28% 7,62%
(Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam)
Nhìn chung trước đại dịch, tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của Việt Nam
thường giữ ở mức khá ổn định. Tuy nhiên, ảnh hưởng từ diễn biến phức tạp của đại
dịch Covid-19 đã khiến cho thị trường lao động có những biến động đáng kể, điển
hình là vào năm 2020 và 2021. Vào năm 2021, diễn biến phức tạp và kéo dài của
đợt dịch Covid-19 đã khiến lực lượng lao động, số người có việc làm giảm, trở thành
năm có tỷ lệ nghiệp cao nhất trong giai đoạn từ 2019 tới 2023. Các biện pháp giãn
cách xã hội, đóng cửa các cơ sở kinh doanh và giảm hoạt động sản xuất, dịch vụ đã
khiến cho nhiều doanh nghiệp, cơ sở phải giảm quy mô hoặc dừng hoạt động. Đó
cũng là lí do chính lý giải cho hiện tượng nhiều người lao động mất việc. Sau năm
2021, nền kinh tế bước vào quá trình phục hồi bình thường trở lại từ những ảnh
hưởng của đại dịch nên từ đó tỷ lệ thất nghiệp đã có dấu hiệu giảm và dần phục hồi
ổn định, gần trở về trạng thái bình thường trước đại dịch nhưng nhìn chung vẫn còn
nhiều vấn đề về việc làm cần được quan tâm và giải quyết.
Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động nói chung có sự giảm xuống
trong những năm gần đây nhưng tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên vẫn ở mức cao. So
với tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên nước ta
(đối tượng từ 18-25 tuổi) thường giữ ở mức cao hơn gấp 3 lần, trở thành nhóm độ
tuổi có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất tại Việt Nam. Đây là một vấn đề lớn trong nền kinh
tế, vì thanh niên là lực lượng lao động tiềm năng, có khả năng đóng góp quan trọng
vào phát triển kinh tế, nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm.
Do đó cần có những biện pháp cụ thể từ chính phủ cũng như chính bản thân người
lao động để giải quyết những vấn đề này.
ii. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở các vùng kinh tế - xã hội:
Đơn vị tính: Phần trăm
Các khu vực kinh tế chính 2020 2021 2022
Trung du miền núi phía 1,06 2,42 2,1 Bắc lOMoAR cPSD| 61236129
Đồng Bằng Sông Hồng 2,05 2,18 1,93
Trong đó: Hà Nội 2,11 2,68 2,22
Bắc Trung Bộ và Duyên 3,16 3,3 2,59 Hải Miền Trung Tây Nguyên 1,66 0,96 0,67 Đông Nam Bộ 3,23 4,66 2,88
Trong đó: Thành phố Hồ 3,91 6,40 4,19 Chí Minh
Đồng Bằng Sông Cửu 2,82 4,05 2,76 Long
(Nguồn tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam)
So sánh theo vùng, khu vực Đông Nam Bộ, đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh, luôn có
tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong giai đoạn từ 2020 tới 2022. Trong khi đó, khu vực
Tây Nguyên luôn có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong ba năm. TP. Hồ Chí Minh là
trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam, với nhiều ngành dịch vụ, công nghiệp và
thương mại. Đại dịch đã khiến nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp hoặc đóng cửa, dẫn
đến lượng lớn lao động mất việc. Các ngành như du lịch, nhà hàng, vận tải, và sản
xuất bị ảnh hưởng nghiêm trọng, điều đó đã lý giải cho nguyên nhân tỷ lệ thất nghiệp
tăng cao trong giai đoạn này. Ngược lại, mặc dù Tây Nguyên không có nhiều ngành
công nghiệp và dịch vụ phát triển như các thành phố lớn nhưng tỷ lệ thất nghiệp
luôn thấp nhờ vào đặc thù nền kinh tế nông nghiệp ổn định. Tây Nguyên chủ yếu
phát triển nông nghiệp và các ngành có tính ổn định cao như trồng cà phê, cao su và
các sản phẩm nông sản khác.
TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội đều là các thành phố lớn và là trung tâm kinh tế,
văn hóa của Việt Nam, nhưng có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh luôn cao hơn Hà Nội trong suốt ba năm qua. Điều này
có thể phản ánh sự phụ thuộc lớn vào các ngành dịch vụ, sản xuất và thương mại tại
TP. Hồ Chí Minh, những ngành bị ảnh hưởng mạnh mẽ trong đại dịch Covid19, đặc
biệt là trong năm 2021. Thành phố này cũng là nơi có nhiều lao động nhập cư và
doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn dễ bị tác động khi nền kinh tế gặp khó khăn. Trong
khi đó, Hà Nội có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn trong suốt ba năm. Đây có thể là do Hà
Nội có cơ cấu kinh tế đa dạng hơn, bao gồm các ngành công nghiệp, dịch vụ và đặc
biệt là các cơ quan nhà nước, các tổ chức quốc tế, giúp ổn định thị trường lao động
hơn so với TP. Hồ Chí Minh. Mặc dù cũng bị ảnh hưởng bởi đại dịch, nhưng Hà Nội
có thể phục hồi nhanh hơn nhờ vào đặc thù ngành nghề và tính ổn định của lực lượng lao động. lOMoAR cPSD| 61236129
iii. Tỷ lệ thất nghiệp giữa thành thị và nông thôn Năm Thành thị Nông thôn 2020 3,89% 1,75% 2021 4,33% 2,50% 2022 1,71% 2,52% 2023 1,61% 2,26%
(Tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam)
Vào năm 2020,2021, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn thấp hơn khu vực
thành thị. Điều này là do sau dịch, nhiều công ty và doanh nghiệp tại thành phố phải
đóng cửa, những ngành công nghiệp, dịch vụ chủ yếu ở thành phố bị đình trệ khiến
nhiều người lao động bị mất việc. Tình trạng này trái ngược với xu hướng thị trường
lao động trong những năm trước đại dịch Covid-19, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực
nông thôn thường cao hơn khu vực thành thị. Vào năm 2022, 2023, nền kinh tế đã
bắt đầu hồi phục trở lại gần giống trạng thái trước đại dịch, tỷ lệ thất nghiệp ở thành
phố đã giảm và thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tại nông thôn.
2. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp tại Việt Nam
a) Nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân thất nghiệp của lực lượng lao động tại Việt Nam có thể được lý
giải phần lớn do chất lượng nguồn nhân lực còn thấp:
- Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực
của Việt Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ
11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á.
- Nguồn nhân lực trong nước còn yếu về chất lượng, thiếu sự năng
động, sáng tạo và chưa đạt chuẩn về tác phong lao động công nghiệp.
Thiếu đào tạo về kỷ luật lao động công nghiệp, còn chưa nghiêm túc
như ở nhiều quốc gia trong khu vực, thường xuyên vi phạm quy định
về giờ giấc và hành vi.
- Thể lực của lao động thanh niên Việt Nam ở mức trung bình kém,
chưa đáp ứng được yêu cầu về cường độ làm việc cũng như việc sử
dụng máy móc, thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế.
- Ngoài ra, nguồn lao động Việt Nam còn thiếu các kỹ năng làm việc
nhóm, khả năng hợp tác và đối mặt với rủi ro. Vẫn còn một bộ phận
người lao động có hiện tượng còn lười biếng, không tự chủ động bồi
dưỡng kiến thức, rèn luyện các kỹ năng mềm cần thiết cho công việc,
ngoại ngữ của người lao động Việt Nam nhìn chung còn kém. Họ cũng lOMoAR cPSD| 61236129
ngại sáng tạo và chia sẻ kinh nghiệm công việc. Nhiều lao động chưa
được đào tạo hoặc thiếu kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị
trường lao động hiện đại. Điều này đặc biệt rõ rệt trong các ngành
công nghệ cao và dịch vụ chuyên nghiệp.
b) Nguyên nhân khách quan:
• Kỹ năng và trình độ đào tạo còn nhiều hạn chế
Việc đào tạo chuyên môn kỹ thuật ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông
thôn, đô thị mới, và vùng sâu, vùng xa, vẫn còn hạn chế, khiến lao động
không đủ năng lực để tham gia vào các ngành kinh tế đang phát triển, như
công nghệ thông tin, sản xuất công nghệ hiện đại… Tại Việt Nam, mặc dù
số lượng các trường và quy mô đào tạo bậc cao đẳng trở lên tăng nhanh,
nhưng chất lượng đào tạo chưa được đảm bảo tương xứng. Nhiều cơ sở giáo
dục vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động, cả về
quy mô tuyển sinh lẫn chất lượng đào tạo. Về chất lượng giáo dục nghề
nghiệp, theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2019, Việt
Nam xếp thứ 102/141 trong bảng đánh giá về chất lượng đào tạo nghề. So
với các yếu tố khác trong trụ cột kỹ năng (như kỹ năng của học sinh, sinh
viên sau khi tốt nghiệp, mức độ đào tạo nhân viên và khả năng tìm kiếm lao
động lành nghề), chất lượng đào tạo nghề tại Việt Nam đã có những cải thiện
rõ rệt. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chỉ đứng thứ 8 trong khu vực Đông Nam Á,
sau Lào và trên Campuchia, Myanmar. Các chuyên gia cho rằng giáo dục
nghề nghiệp ở Việt Nam cần có sự cải cách mạnh mẽ để có thể cạnh tranh
hiệu quả với các quốc gia trong khu vực.
• Máy móc và thiết bị hiện đại dần thay thế con người trong nhiều lĩnh vực
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên 4.0, thời đại của kết nối toàn cầu, với
sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, robot và các công nghệ tiên tiến,
điều này dẫn đến sự thay thế lao động trong nhiều ngành nghề. Khi sử dụng
các thiết bị hiện đại này, các doanh nghiệp không cần phải quản lý chặt chẽ
như khi sử dụng lao động con người, đồng thời cũng không phải chi trả các
khoản chi phí phát sinh như bảo hiểm, lương thưởng... Ngoài ra, năng suất
của máy móc thường cao và ổn định hơn so với lao động con người. Do đó,
một số bộ phận hay công đoạn có thể sẽ được tự động hóa, dẫn đến việc một
số lao động sẽ mất việc làm.
• Thiên tai và dịch bệnh
Thiên tai có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến một bộ phận lớn lao
động ở các khu vực bị thiệt hại, khiến họ phải mất việc trong thời gian dài. lOMoAR cPSD| 61236129
Chẳng hạn, lũ lụt có thể làm gián đoạn công việc của người dân, thậm chí họ
có thể mất cả nhà cửa; hạn hán ảnh hưởng trực tiếp đến các công việc trong
ngành nông nghiệp. Bên cạnh đó, dịch bệnh, một yếu tố không còn xa lạ cũng
gây ra nhiều tác động tiêu cực. Đại dịch Covid-19 là một ví dụ điển hình.
Quãng thời gian giãn cách xã hội kéo dài vì dịch bệnh đã khiến hầu hết các
ngành nghề phải tạm ngừng hoạt động. Điều này kéo theo hàng triệu lao động
mất việc, đồng thời nhiều công ty, doanh nghiệp không thể trụ vững và đã đóng cửa.
3. Tác động của thất nghiệp lên tình hình kinh tế tại Việt Nam
a) Tác động của thất nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Thất nghiệp gia tăng đồng nghĩa với việc lực lượng lao động xã hội không được
huy động vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, gây ra sự lãng phí nguồn lao động
- yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, điều
này phản ánh nền kinh tế đang suy thoái, vì tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn
so với tiềm năng, và có thể do thiếu vốn đầu tư, khi ngân sách nhà nước bị thu hẹp
do thất thu thuế hoặc phải chi hỗ trợ cho người lao động mất việc làm. Thất nghiệp
gia tăng cũng có thể là nguyên nhân dẫn nền kinh tế đến gần ngưỡng của lạm phát.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp và lạm phát luôn tồn tại một
cách nghịch lý trong nền kinh tế thị trường: Khi tốc độ tăng trưởng (GDP) giảm, tỷ
lệ thất nghiệp tăng và lạm phát cũng có xu hướng tăng theo. Ngược lại, khi tốc độ
tăng trưởng (GDP) cao, tỷ lệ thất nghiệp giảm và lạm phát có thể giảm. Mối quan
hệ này cần được đặc biệt chú trọng khi xây dựng các chính sách kích thích phát triển kinh tế và xã hội.
Thất nghiệp gia tăng, đặc biệt trong giai đoạn 2020-2021, đã tác động trực tiếp
đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Khi lực lượng lao động không thể
tham gia vào sản xuất, khả năng tạo ra giá trị gia tăng trong nền kinh tế bị giảm sút,
làm giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, Việt
Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP thấp trong năm 2020 (chỉ đạt 2,91%) – mức
thấp nhất trong vòng 30 năm. Đại dịch Covid-19 là nguyên nhân chính khiến các
ngành kinh tế chủ lực như du lịch, dịch vụ, và sản xuất công nghiệp bị đình trệ, làm
gia tăng thất nghiệp và gây ra sự suy thoái tạm thời trong nền kinh tế.
b) Tác động của thất nghiệp đến thu nhập và đời sống của người lao động
Khi người lao động bị thất nghiệp, họ mất đi nguồn thu nhập chính, dẫn đến đời
sống của bản thân và gia đình gặp khó khăn. Điều này ảnh hưởng đến khả năng học
hỏi, đào tạo lại và chuyển đổi nghề nghiệp để quay trở lại thị trường lao động. Bên lOMoAR cPSD| 61236129
cạnh đó, con cái của họ cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, sức khỏe
của họ suy giảm vì không có đủ khả năng tài chính để chăm sóc sức khỏe hoặc
dưỡng bệnh. Có thể nói, thất nghiệp đẩy người lao động rơi vào cảnh nghèo khổ,
khiến họ mất niềm tin vào cuộc sống, dẫn đến cảm giác chán nản và đôi khi có
những hành động sai trái đáng tiếc.
c) Tác động của thất nghiệp đến trật tự xã hội
Sự gia tăng của thất nghiệp có thể làm suy giảm trật tự xã hội. Các hiện tượng
như đình công, bãi công, biểu tình đòi quyền lợi về việc làm và cuộc sống sẽ gia
tăng. Người lao động mất việc sẽ dễ rơi vào tình trạng chán nản, và có thể sa ngã
vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc, nghiện ngập, mại dâm... Điều này cũng
làm giảm sự ủng hộ của họ đối với chính quyền, gây nên sự bất mãn xã hội. Kết quả
là có thể xảy ra những xáo trộn trong xã hội, thậm chí dẫn đến biến động chính trị.
4. Giải pháp giảm tình trạng thất nghiệp tại Việt Nam
a) Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn lao động:
Để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế toàn cầu cũng như nền kinh tế Việt
Nam, cần phải liên tục cải tiến và nâng cao nội dung, chương trình đào tạo, đặc biệt
là đối với các chương trình đại học và dạy nghề, sao cho sát với thực tiễn.
Việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo có thể đạt được thông qua việc tích
hợp các kỹ năng thực tế, tư duy sáng tạo và kỹ năng mềm vào trong chương trình
giảng dạy. Mục tiêu quan trọng nhất là tạo điều kiện cho người lao động hội nhập
và giao lưu quốc tế. Do đó, ngoài việc có kiến thức chuyên sâu về ngành nghề của
mình, người lao động còn cần trang bị các kỹ năng mềm cơ bản như ngoại ngữ, tin
học, v.v. Đồng thời, cần tổ chức các chương trình tư vấn nghề nghiệp để giúp học
sinh, sinh viên hiểu rõ hơn và chọn được ngành nghề phù hợp với bản thân.
b) Đầu tư vào giáo dục và đào tạo:
Chính phủ có thể triển khai các chương trình đào tạo nghề và đào tạo chuyên
môn miễn phí. Thực tế cho thấy chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam còn thấp,
với một bộ phận lớn người lao động chưa được đào tạo chuyên môn vì không đủ
khả năng chi trả học phí, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa. Nhà nước nên phối
hợp với chính quyền địa phương để tổ chức các chương trình đào tạo nghề miễn phí
cho những người thất nghiệp, những lao động chưa qua đào tạo hoặc những người
gặp khó khăn về tài chính trên toàn quốc. lOMoAR cPSD| 61236129
c) Người lao động cần chủ động nâng cao trình độ chuyên môn:
Ngoài sự hỗ trợ từ chính phủ và các cơ quan đào tạo, chính người lao động cũng
cần có ý thức chủ động học hỏi, nghiên cứu và ứng dụng các kiến thức mới để nâng
cao trình độ chuyên môn và tay nghề của bản thân. Khi trình độ chuyên môn được
nâng cao, thu nhập của người lao động cũng sẽ tăng theo.
d) Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài:
Ưu đãi cho doanh nghiệp tạo việc làm: Cần có các chính sách ưu đãi đối với các
doanh nghiệp tham gia các dự án lớn, tạo ra nhiều việc làm. Các doanh nghiệp cần
được hỗ trợ thông qua giảm thuế, hoãn thuế, khoanh nợ, đồng thời phải cam kết duy
trì công ăn việc làm cho người lao động hiện tại và thu hút thêm lao động nếu có
thể. Đồng thời, hỗ trợ vay vốn cho các doanh nghiệp gặp khó khăn để duy trì sản
xuất và bảo đảm việc làm cho người lao động. Phát triển mạnh các khu công nghiệp
và dự án kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó góp phần vào tăng trưởng
kinh tế và tạo ra việc làm cho người lao động.
e) Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội:
Cần hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách an sinh xã hội
để hỗ trợ người lao động gặp khó khăn. KẾT LUẬN
Thất nghiệp là một vấn đề kinh tế - xã hội nghiêm trọng và là một thách thức lớn đối
với sự phát triển của mỗi quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đời sống xã hội. Vì vậy,
giải quyết tình trạng thất nghiệp không thể là công việc "ngày một, ngày hai", mà cần phải
có một hệ thống giải pháp đồng bộ, được thực hiện lâu dài xuyên suốt trong quá trình thực
thi chiến lược phát triển tổng thể của quốc gia. Hiện tại, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam đã
giảm và đang dần ổn định sau đại dịch Covid-19. Mặc dù những tác động của đại dịch vẫn
còn tồn tại, Chính phủ đang nỗ lực đưa ra các giải pháp để giảm thiểu tối đa tỷ lệ thất
nghiệp và hỗ trợ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.
Với tư cách là một sinh viên của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thông qua bài tập
này, em đã có cái nhìn tổng thể sâu sắc hơn về vấn đề thất nghiệp. Qua đó, em ý thức được
rằng khoảng thời gian đang học tập tại trường Đại học là vô cùng cần thiết và quan trọng.
Vì vậy, em sẽ cố gắng không ngừng chủ động học hỏi, tích lũy kiến thức, tận dụng cơ hội
của mình và nâng cao kỹ năng bản thân để trở thành một lao động có trình độ cao, đóng
góp cho nền kinh tế nước nhà trong tương lai. lOMoAR cPSD| 61236129
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin – Bộ giáo dục và đào tạo
2. Giáo trình Kinh tế vĩ mô – Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
3. Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2019, 2020, 2021, 2022 – Tổng Cục Thống Kê
4. Tình hình thị trường lao động Việt Nam năm 2023 - Tổng Cục Thống Kê
5. Triển vọng việc làm và xã hội thế giới: Xu hướng 2024 – Tổ chức Lao Động QuốcTế (ILO)
6. Thực trạng và giải pháp giảm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay – Tạp chí CôngThương