BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO THẢO LUẬN
BỘ MÔN: KINH TẾ
ĐỀ TÀI: Trình bày mục tiêu, công cụ, chế tác động của chính sách tiền tệ.
Phân tích chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2021 - 2023
Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Thị Thanh Huyền
Lớp học phần: 232_MAEC0111_04
Nhóm: 03
Thành viên nhóm:
1. Nguyễn Hồng Điệp
2. Trần Minh Đức
3. Đinh Xuân Đức
4. Nguyễn Ích Giang
5. Nguyễn Thị Hương Giang
6. Nguyễn Mạnh
7. Nguyễn Thu
8. Nguyễn Hồng Hạnh
9. Phùng Thị Hạnh
Nội 2024
MỤC LỤC:
CHƯƠNG I:...................................................................7
SỞ THUYẾT VỀ TIỀN TỆ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ....7
1.1. Khái niệm về tiền tệ chính sách tiền tệ:............7
1.1.1. Khái niệm tiền tệ:...........................................7
1.1.2. Khái niệm chính sách tiền tệ:..........................7
1.2. Mục tiêu công cụ của chính sách tiền tệ:..........8
1.3. chế tác động:..................................................9
1.4. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ của
một số nước trên thế giới............................................10
1.4.1. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ
của Mỹ...................................................................10
1.4.2. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân
Trung Quốc:...........................................................10
1.4.3. Tổng quan về kinh nghiệm điều hành chính ch
tiền tệ của các nước trên thế giới:...........................12
1.4.4. Bài học cho Việt Nam:...................................13
CHƯƠNG II:................................................................14
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2021-2023........................................................14
2.1. Chính sách tiền tệ năm 2021:.............................14
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế:....................................14
2.1.2. Chính sách tác động:................................14
2.1.3. Thành tựu hạn chế của chính sách:............16
2.2. Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2022:........17
2.2.1. Bối cảnh nền kinh tế:....................................17
2.2.2. Chính sách tác động:................................18
2.2.3. Thành tựu hạn chế của chính sách:............21
2.3. Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023:........22
2.3.1. Bối cảnh kinh tế - hội:...............................22
2.3.2. Chính sách tiền tệ của NHTW 2023:...............23
2.3.3. Thành tựu hạn chế của chính sách:............26
2.4. Đánh g chung:................................................27
CHƯƠNG III:...............................................................28
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CSTT TRONG
GIAI ĐOẠN TỚI...........................................................28
TRÍCH DẪN NGUỒN.....................................................29
Bản đánh giá thảo luận: Nhóm 3
Lớp học phần: 232-MAEC0111-04
STT Tên Điểm trong quá trình
làm bài thảo luận
Điểm trong quá trình
thảo luận
nhân
tên
nhân
tự đánh
giá
Nhóm
đánh giá
nhân
tự đánh
giá
Nhóm
đánh giá
1Đinh Xuân Đức
2Trần Minh Đức
3Nguyễn Thị
Hương Giang
4Nguyễn Ích
Giang
5Phùng Thị Hạnh
6Nguyễn Hồng
Hạnh
7Nguyễn Mạnh
8Nguyễn Thu
9Nguyễn Hồng
Điệp
Thư ký: Nhóm trưởng:
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(Lần 1)
Bộ môn: Kinh tế 1
Giảng viên: Đỗ Thị Thanh Huyền
Lớp học phần: 232-MAEC0111-04
I. Thời gian địa điểm:
1. Thời gian: 03/03/2024
2. Hình thức họp: Họp online qua Google Meet
II. Số thành viên tham gia: 9/9
III. Nội dung thảo luận:
1. Tìm hiểu, nghiên cứu tìm ra phương hướng giải quyết đề tài thảo luận
2. Nhóm trưởng phân chia công việc
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên nhiệt tình, thẳng thắn đưa ra ý kiến trong quá trình thảo luận
nhận nhiệm vụ nhóm trưởng giao
Nội, ngày 03 tháng 03 năm 2024
Thư ký: Nhóm trưởng:
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(Lần 2)
Bộ môn: Kinh tế 1
Giảng viên: Đỗ Thị Thanh Huyền
Lớp học phần: 232-MAEC0111-04
I. Thời gian địa điểm:
1. Thời gian: 20/03/2024
2. Hình thức họp: Họp online qua Google Meet
II. Số thành viên tham gia: 9/9
III. Nội dung thảo luận: Phân chia tiếp nội dung thảo luận, cùng tìm hiểu
thống nhất các nội dung của bài thảo luận
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên tham gia đầy đủ, tích cực đưa ra, đóng góp ý kiến
Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2024
Thư ký: Nhóm trưởng:
CHƯƠNG I:
SỞ THUYẾT VỀ TIỀN TỆ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1. Khái niệm về tiền tệ chính sách tiền tệ:
1.1.1. Khái niệm tiền tệ:
Hiện nay tồn tại rất nhiều khái niệm quan điểm liên quan đến tiền tệ gì,
tùy thuộc vào những góc nhìn khác nhau:
Theo Mác, tiền tệ một loại hàng hoá, nhưng tách biệt với thế giới hàng
hoá thông thường. Tiền tệ dùng để đo lường giá trị của tất cả các loại hàng hoá
khác.
Theo các nhà kinh tế, tiền tệ bất cứ thứ được chấp nhận trong việc
thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.
Theo góc nhìn nghiên cứu, tiền tệ phương tiện chứng minh tốc độ phát
triển của một nền kinh tế bằng chứng cho các giai đoạn phát triển của lịch
sử.
Theo quan điểm trọng thương, tiền tệ biểu hiện của sự giàu có. Một quốc
gia được gọi giàu khi tích lũy được rất nhiều tiền.
Theo quan điểm trọng nông, tiền tệ một thứ ảo chỉ công dụng như
chất bôi trơn trong guồng máy của hoạt động kinh tế.
Theo N. Gregory Mankiw, tiền tệ khối lượng tài sản thể s dụng ngay
để thực hiện các giao dịch.
Theo Frederic S. Mishkin, tiền tệ bất cứ cái được chấp thuận để trao đổi
hàng hóa, dịch vụ hoặc trong thanh toán các món nợ.
1.1.2. Khái niệm chính sách tiền tệ:
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: chính sách tiền tệ quốc gia
một bộ phận của chính sách Kinh tế Tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá
trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế hội,
đảm bảo quốc phòng, an ninh nâng cao đời sống nhân dân.
Chính sách tiền tệ quốc gia một bộ phận cấu thành hệ thống các Chính
sách Kinh tế Tài chính tổng hợp trong hệ thống đó, các bộ phận cấu thành
mối quan hệ tác động hữu với nhau. Do vậy, một chính sách tiền tệ hữu
hiệu đòi hỏi phải được thiết lập vận hành trong mối quan hệ hữu với các
chính sách khác đứng trên góc độ toàn cục, chứ không tồn tại với cách một
yếu tố độc lập.
Chính sách tiền tệ một vai trò quan trọng tương đối độc lập với các
chính sách kinh tế khác xuất phát từ ba luận điểm mang tính định hướng sau:
Thứ nhất: Sẽ không tăng trưởng kinh tế nếu không đầu tư.
Thứ hai: Không thể đầu không tiết kiệm.
Thứ ba: Không thể tiết kiệm nếu thiếu sự ổn định giá cả hàng hóa sức
mua của tiền tệ. Chính vậy chính sách tiền tệ nhiệm vụ tác động vào nhiều
hướng nhằm: tạo ra đầu tư, tạo ra tiết kiệm tạo ra sự ổn định tiền tệ, ổn định
giá cả, ổn định tỷ giá hối đoái.
Như vậy, chính sách tiền tệ góp phần quan trọng vào sự thành công hay thất
bại của sự phát triển nền kinh tế. Một chính sách tiền tệ thắt chặt (Tight
Monetary Policy) sẽ dẫn đến sự khan hiếm về tiền tệ đắt đỏ về chi phí. Ngược
lại, một chính sách tiền tệ nới lỏng (easy Monetary policy) sẽ làm cho tiền tệ
gia tăng, kích thích tiêu dùng tăng trưởng kinh tế.
1.2. Mục tiêu công cụ của chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ sử dụng một số công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ giá
hối đoái, lãi suất chiết khấu, hạn mức tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở tái
cấp vốn… để điều chỉnh mức cung tiền cho nền kinh tế.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tỷ lệ lượng tiền phải giữ lại
so với lượng tiền gửi huy động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, số tiền
này phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước. Do vậy, để điều chỉnh mức cung tiền cho
nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước sẽ tác động vào tỷ lệ này. Ngân hàng Nhà
nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cung tiền giảm, Ngân hàng Nhà nước giảm tỷ lệ
dự trữ bắt buộc thì cung tiền tăng.
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái tương quan sức mua giữa nội tệ ngoại
tệ, tác động tới xuất nhập khẩu, trao đổi ngoại tệ, dự trữ ngoại tệ. Về bản
chất, đây không phải công cụ của chính sách tiền tệ không tác động làm
thay đổi lượng cung tiền nhưng công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách
tiền tệ. Điều chỉnh tỷ giá hối đoái được Ngân hàng Nhà nước thực hiện khi
muốn điều chỉnh lượng cung tiền bằng ngoại tệ của nền kinh tế: Để tăng cung
tiền bằng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh giảm tỷ giá hối đoái bằng
cách mua vào giấy tờ giá của các Ngân hàng Thương mại trên thị trường mở
bằng ngoại tệ. Ngược lại để giảm cung tiền bằng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước
sẽ điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái bằng cách bán giấy tờ giá cho các Ngân
hàng Thương mại thu về ngoại tệ.
Lãi suất chiết khấu: lãi suất Ngân hàng Nhà nước cho các Ngân hàng
thương mại vay đối với các khoản vay đáp ứng nhu cầu tiền mặt bất thường.
Điều chỉnh lãi suất chiết khấu, lượng tiền sở thay đổi, cung tiền cũng thay đổi
theo. Các Ngân hàng thương mại phải dự trữ lượng tiền mặt nhất định để đáp
ứng nhu cầu rút tiền mặt bất thường của khách hàng. Nếu khoản dự trữ này
không đủ, Ngân hàng thương mại sẽ vay Ngân hàng Nhà nước với lãi suất chiết
khấu. Nếu Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất chiết khấu tăng, Ngân hàng
thương mại sẽ phải chừng khoản vay này, chủ động dự trữ nhiều hơn, từ đó
cung tiền trong nền kinh tế giảm. Ngược lại, nếu Ngân hàng Nhà nước điều
chỉnh giảm lãi suất chiết khấu, các Ngân hàng thương mại vay nhiều hơn, cung
tiền tăng lên.
Hạn mức tín dụng: Đây mức nợ tối đa Ngân hàng Nhà nước quy định
các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh hạn mức tín dụng tăng, cung tiền tăng; điều
chỉnh hạn mức tín dụng giảm, cung tiền giảm.
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO): Nghiệp vụ thị trường mở việc Ngân
hàng Nhà nước mua hoặc bán các loại chứng khoán trên thị trường mở. Việc này
tác động đến lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, ảnh hưởng đến việc
cung ứng tín dụng của họ ra thị trường, từ đó điều chỉnh lượng cung tiền.
Nếu Ngân hàng Nhà nước mua chứng khoán trên thị trường mở, các Ngân
hàng thương mại thêm khoản tiền dự trữ, lượng cung tiền cho nền kinh tế
tăng. Ngược lại, nếu Ngân hàng Nhà nước bán chứng khoán, lượng cung tiền sẽ
giảm. Đây chính mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Tái cấp vốn: Là việc Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các Ngân hàng
thương mại thông qua việc mua bán giấy tờ giá, từ đó cung cấp nguồn vốn
ngắn hạn phương tiện thanh toán cho Ngân hàng thương mại. Qua đó, Ngân
hàng Nhà nước đã tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.
1.3. chế tác động:
chế tác động của chính sách tiền tệ thông qua việc điều chỉnh lượng tiền
lưu thông lãi suất trong nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến các biến số kinh tế
như lạm phát, tăng trưởng kinh tế thị trường lao động. Cụ thể:
Lãi suất: Tăng lãi suất thể làm giảm chi tiêu tiêu dùng đầu tư, giúp kiềm
chế lạm phát kiểm soát lạm phát. Ngược lại, giảm lãi suất thúc đẩy việc vay
mượn tiêu dùng, tăng hội đầu tăng cung cấp lao động.
Lượng tiền lưu thông: Thông qua chính sách mở cửa chính sách tiền tệ hậu
cần, ngân hàng trung ương thể tăng giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh
tế. Tăng lượng tiền thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng thể gây
ra lạm phát nếu không được kiểm soát.
Tác động đến tỷ giá hối đoái: Thông qua chính sách mở cửa thương mại
quốc tế, chính sách tiền tệ thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng đến
xuất khẩu nhập khẩu, cũng như ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của các ngành
công nghiệp nội địa.
Tác động đến ngân sách và nợ công: Chính sách tiền tệ thể ảnh hưởng đến
chi phí vay mượn của chính phủ thông qua lãi suất thị trường trái phiếu, ảnh
hưởng đến việc quản ngân sách nợ công.
Tóm lại, chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua việc điều
chỉnh lãi suất, lượng tiền lưu thông tỷ giá hối đoái, tạo ra tác động đa chiều
đến các biến số kinh tế khác nhau. Việc hoạch định CSTT cần phải khả năng
đi trước, đón đầu, dự báo về triển vọng của nền kinh tế thị trường tài chính,
tiền tệ trong thời gian tới.
1.4. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ của một số nước trên thế
giới.
1.4.1. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ của Mỹ
Mục tiêu chính sách tiền tệ: Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Mỹ
duy trì ổn định giá cả, thúc đẩy việc làm tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, Cục Dự
trữ Liên bang (FED) nhằm mục tiêu lạm phát mức 2% tối đa hóa việc làm.
Công cụ chính sách tiền tệ: FED sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như
điều chỉnh lãi suất bản, mua bán trái phiếu chính phủ, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc của ngân hàng để ảnh hưởng đến cung tiền, lãi suất tín dụng trong nền
kinh tế.
Ứng phó với khủng hoảng: Trong các cuộc khủng hoảng tài chính như năm
2008, FED đã nhanh chóng cắt giảm lãi suất, mở rộng các chương trình mua trái
phiếu thực hiện các biện pháp can thiệp khác để ổn định hệ thống tài chính
kích thích nền kinh tế.
Độc lập trách nhiệm giải trình: FED được coi một quan độc lập,
không chịu sự can thiệp trực tiếp từ chính phủ. Tuy nhiên, FED phải chịu trách
nhiệm giải trình trước Quốc hội Mỹ về các quyết định chính sách tiền tệ.
Thách thức phản ứng: Chính sách tiền tệ của Mỹ phải ứng phó với nhiều
thách thức như lạm phát, suy thoái, biến động thị trường tài chính. FED thường
xuyên điều chỉnh chính sách để đạt được các mục tiêu kinh tế mô.
Tóm lại, Mỹ một lịch sử lâu dài phong phú trong việc điều hành
chính sách tiền tệ, với mục tiêu ổn định giá cả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
FED đóng vai trò then chốt trong việc quản chính sách tiền tệ quốc gia.
1.4.2. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc:
Theo Luật Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC), chức năng nhiệm vụ
của ngân hàng này hoạch định thực thi chính sách tiền tệ (CSTT); Phát
hành đồng Nhân dân tệ (NDT) giám sát sự lưu thông tiền tệ; Giám sát hoạt
động thị trường liên ngân hàng thị trường trái phiếu ngân hàng; Giám sát
ngoại hối giám sát thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. PBOC đặt ra mục tiêu
hoạt động, mục tiêu trung gian mục tiêu cuối cùng trong việc điều hành
CSTT của mình:
Về mục tiêu hoạt động: Từ năm 1998, mục tiêu hoạt động của PBOC gồm:
Tiền sở; dự trữ vượt mức; lãi suất trên thị trường tiền tệ.
Về mục tiêu trung gian: Từ tháng 1/1998, PBOC bãi bỏ chỉ tiêu về trần tín
dụng xây dựng chính thức chỉ tiêu mức cung tiền mục tiêu trung gian cho
CSTT.
Về mục tiêu cuối cùng: Từ năm 1993 đến nay, giai đoạn nền kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa mục tiêu cuối cùng của CSTT duy trì
sự ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các công cụ PBOC sử
dụng để điều hành CSTT của Trung Quốc đang được chuyển dần từ trực tiếp
sang gián tiếp:
Công cụ dự trữ bắt buộc: Trong năm 2015, PBOC đã 4 lần hạ mức dự trữ
bắt buộc, đưa mức dự trữ bắt buộc của hầu hết các ngân hàng Trung Quốc từ
mức 20% xuống còn 17,5%. Ngày 1/3/2016, PBOC tiếp tục một lần nữa hạ tỷ lệ
dự trữ bắt buộc xuống mức 17%. Các động thái này cho thấy, PBOC đang thực
hiện nới lỏng tiền tệ nhằm ngăn chặn đà suygiảm của nền kinh tế Trung Quốc.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO): Tín phiếu được PBOC phát hành
trên sở thị trường trái phiếu liên ngân hàng. Tín phiếu ngân hàng trung ương
(NHTW) được sử dụng vào mục đích chính hút về phương tiện thanh toán khi
NHTW mua ngoại hối để tăng dự trữ ngoại hối cho nền kinh tế.
Công cụ tái chiết khấu: Tái chiết khấu được thực hiện trên sở đối tượng
thương phiếu, hối phiếu được các ngân hàng chấp nhận trên thị trường. PBOC
điều hành lãi suất tái chiết khấu một cách thận trọng, góp phần cải thiện chế
hoạt động của chính ch lãi suất, điều tiết mối quan hệ vay mượn giữa PBOC
với các tổ chức tín dụng (TCTD).
Công cụ tái cấp vốn: PBOC thực hiện cho vay tái cấp vốn đối với các ngân
hàng thương mại (NHTM). Hệ thống lãi suất thả nổi đối với các khoản vay
PBOC, lãi suất vay PBOC kỳ hạn 20 ngày đóng vai trò như lãi suất trần, lãi suất
tiền gửi dự trữ vượt mức đóng vai trò lãi suất sàn, còn lãi suất repo 7 ngày trên
thị trường mở OMO lãi suất trên thị trường liên ngân hàng 7 ngày giao động
trong khoảng của 2 loại lãi suất trên.
Công cụ lãi suất: PBOC từng bước tự do hóa: (i) Lãi suất trên thị trường liên
ngân hàng; (ii) Lãi suất thị trường trái phiếu; (iii) Lãi suất huy động cho vay
của các TCTD đối với nền kinh tế. Tháng 7/2013, PBOC đã bỏ quy định cuối
cùng về mức sàn lãi suất cho vay, trước đó được PBOC áp dụng sàn lãi suất cho
vay mức dưới 30% lãi suất bản (6%). Qua đó, lãi suất cho vay của Trung
Quốc được tự do hóa hoàn toàn. Từ tháng 10/2015, PBOC tiếp tục từ bỏ quy
định về trần lãi suất huy động, vốn trước đó được quy định 1,5 lần lãi suất điều
hành kỳ hạn 1 năm. Đây một bước đi rất quan trọng trong quá trình tự do hóa
lãi suất của Trung Quốc.
Công cụ tỷ giá: Theo quan điểm của PBOC, tỷ giá cũng một kênh quan
trọng trong chế truyền dẫn tác động qua lại với các kênh khác. Từ
tháng 8/2015, PBOC đã liên tiếp hạ giá đồng NDT. Đây đợt phá giá mạnh
nhất từ sau khi Trung Quốc thành lập hệ thống quản ngoại hối hiện đại năm
1994 được coi cách để Trung Quốc cùng một lúc thể đẩy mạnh xuất
khẩu. Đồng thời, nâng cao quyền lực cho đồng NDT, giúp dễ dàng thực hiện các
mục tiêu ngoại giao củng cố vai trò trung tâm của Trung Quốc trong nền kinh
tế toàn cầu.lạm phát.
1.4.3. Tổng quan về kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của các nước
trên thế giới:
Các mục tiêu chính sách tiền tệ: Ổn định giá cả kiểm soát lạm phát
mục tiêu chung của hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới. Nhiều ngân
hàng trung ương cũng nhắm đến các mục tiêu khác như thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, ổn định tỷ giá hối đoái, tạo việc làm.
Công cụ chính sách tiền tệ: Các công cụ chính bao gồm điều chỉnh lãi
suất bản, mua bán tài sản, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Một số ngân hàng
trung ương còn sử dụng các công cụ phi truyền thống như chương trình mua tài
sản quy lớn.
Ứng phó với khủng hoảng: Trong các cuộc khủng hoảng tài chính, nhiều
ngân hàng trung ương đã nhanh chóng cắt giảm lãi suất, mở rộng các chương
trình hỗ trợ tín dụng để ổn định hệ thống tài chính. Các biện pháp can thiệp
mạnh mẽ của ngân hàng trung ương đã góp phần quan trọng trong việc vượt qua
các cuộc khủng hoảng.
Độc lập trách nhiệm giải trình: Độc lập của ngân hàng trung ương
một nguyên tắc quan trọng được áp dụng rộng rãi trên thế giới.Tuy nhiên, các
ngân hàng trung ương vẫn chịu trách nhiệm giải trình trước chính phủ quốc
hội về các quyết định chính sách.
Thách thức phản ứng: Các ngân hàng trung ương phải ứng phó với
nhiều thách thức như lạm phát, suy thoái, biến động tài chính. Họ thường xuyên
điều chỉnh chính sách tiền tệ để đạt được các mục tiêu kinh tế mô.
1.4.4. Bài học cho Việt Nam:
Qua nghiên cứu kinh nghiệm điều hành CSTT của một số nước trong việc
thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế mô, thể rút ra một số bài học cho Việt
Nam trong điều hành CSTT như sau:
Một là, để thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia cần phải “ổn định
giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát”; thực hiện nghiêm túc coi
đó mục tiêu quan trọng trong việc thực hiện CSTT.
Hai là, cần nâng cao tính độc lập tương đối cho Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, tách bạch vai trò, các giải pháp cũng như tác động của CSTT chính
sách tài khóa đến mục tiêu kiềm chế lạm phát mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế.Trên sở đó, tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa CSTT, chính sách
tài khóa, chính sách thương mại đầu tư… đến mục tiêu tổng thể ổn định
kinh tế mô.
Ba là, chủ động điều hành linh hoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ CSTT,
tập trung vào điều hành lãi suất chủ động, linh hoạt để điều tiết lãi suất thị
trường mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ hoạt động ngân
hàng.
Bốn là, cần theo dõi sát diễn biến kinh tế mô, thị trường tiền tệ trong
ngoài nước, tăng cường công tác phân tích, thống kê, để kịp thời các đối sách
phù hợp.
Năm là, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin, thực hiện minh bạch đối với
các kỳ vọng chính sách cũng như trách nhiệm giải trình của các quan hoạch
định thực thi chính sách. phối hợp của các quan truyền thông để định
hướng tâm thị trường, hạn chế tâm bất lợi không đáng có, ảnh hưởng đến
niềm tin của thị trường vào điều hành chính sách nói chung điều hành
CSTT nói riêng.
CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2021-2023
2.1. Chính sách tiền tệ năm 2021:
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế:
Vào năm 2021, với tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp, nền kinh tế trong
nước chịu ảnh hưởng nặng nề như hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn,
nguồn cung đứt gãy, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng trong khi nhiều doanh nghiệp
thiếu hụt lao động,… Theo đó, tăng trưởng kinh tế năm 2021 chỉ mức 2,58%,
thấp hơn 2,91% so với năm 2020, thấp nhất trong vòng 30 năm qua. Do đó,
để trở lại quỹ đạo tăng trưởng, Việt Nam cần thực hiện chương trình hồi phục
kinh tế bền vững vừa đủ liều lượng, vừa trúng mục tiêu với thể chế thực thi
hiệu quả
2.1.2. Chính sách tác động:
Thứ nhất, đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều
kiện để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng
đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế.
NHNN mua lượng lớn ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước, đưa
tiền đồng ra thị trường, qua đó thanh khoản hệ thống TCTD dồi dào, đồng thời,
hàng ngày NHNN chào mua giấy tờ giá trên thị trường mở nhằm phát tín
hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ. Nhờ đó, lãi suất liên
ngân hàng giảm xuống duy trì mức rất thấp trong lịch sử, giảm chi phí vốn
đầu vào cho TCTD, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho
vay.
Thứ hai, duy trì lãi suất điều hành mức thấp, tạo điều kiện định
hướng để mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm.
Ngay khi dịch bệnh bùng phát trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi
suất điều hành với mức giảm 1,5 - 2%/năm. Trong năm 2021, NHNN duy trì các
mức lãi suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền
tệ. Kết quả là, đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động cho vay VND bình
quân của TCTD giảm tương ứng khoảng 0,51%/năm 0,81%/năm so với cuối
năm 2020 sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020. Lãi suất cho vay
bình quân đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ
4,3%/năm (thấp hơn mức trần quy định 4,5%/năm).
Thứ ba, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ kịp thời cho các nhu
cầu sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng
trưởng tín dụng đối với các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất
lượng.
NHNN điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho TCTD năng lực tài chính,
quản trị điều hành, khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh, để kịp
thời hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng
an toàn, hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên;
kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản
rủi ro đối với tín dụng tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen. Trên
sở đó, tín dụng tăng ngay từ đầu năm cao hơn năm 2020, kịp thời đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế. Đến ngày 30/12/2021, tín dụng tăng 13,47% so với
cuối năm 2020, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng
11,85% so với cuối năm 2019 tăng 11,93% so với cùng kỳ năm 2019).
cấu tín dụng chuyển dịch tích cực, tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh; 4/5 lĩnh vực ưu tiên mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng cùng
kỳ năm 20201, hỗ trợ tích cực quá trình tái cấu ngành nông nghiệp, phát triển
thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ vừa (DNNVV), doanh
nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tăng trưởng tín dụng
các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán trong tầm kiểm soát
của NHNN.
Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ. NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt,
bám sát cung cầu thị trường, các cân đối mô, tiền tệ mục tiêu CSTT. Trong
khi xu hướng rút vốn khỏi các nước mới nổi đang phát triển khiến đồng tiền
của nhiều nước trong khu vực mất giá khá lớn so với USD (Baht Thái giảm
9,7%, Ringgit Malaysia giảm 2,5%, Đô-la Singapore giảm 1%) thì tỷ giá
USD/VND tiếp tục được duy trì ổn định. Đến cuối tháng 12/2021, tỷ giá trung
tâm USD/VND chỉ tăng 0,06% so với cuối năm 2020. Thanh khoản ngoại tệ trên
thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của người dân, doanh
nghiệp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.
2.1.3. Thành tựu hạn chế của chính sách:
a. Thành tựu:
Mặc tăng trưởng kinh tế còn găp nhiều khó khăn do tác động của đại
dịch, nhưng thị trường tài chính vẫn còn nhiều điểm sáng trở thành một
công cụ quan trọng góp phần phục hồi phát triển kinh tế:
-Ổn định tỷ giá thanh khoản đồng Việt Nam (VND): Nhờ vào các biện
pháp điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tỷ giá đồng
VND đã được duy trì mức ổn định, giúp giảm thiểu rủi ro tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh đầu tư.
-Kiểm soát lạm phát: những biến động, nhưng chính sách tiền tệ đã
giúp kiểm soát tình trạng lạm phát tại Việt Nam. NHNN đã triển khai các biện
pháp hiệu quả để kiểm soát giá cả giữ cho tốc độ tăng trưởng lạm phát
mức ổn định.
-Hỗ trợ phục hồi kinh tế: Chính sách tiền tệ đã hỗ trợ mạnh mẽ cho quá
trình phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19. NHNN đã thực hiện các biện
pháp kích thích tài chính như giảm lãi suất, hỗ trợ về thanh khoản cung cấp
các gói tài trợ để thúc đẩy sản xuất tiêu dùng.
-Hỗ trợ thị trường tài chính: NHNN đã tiếp tục cung cấp thanh khoản
hỗ trợ cho thị trường tài chính trong nước, đảm bảo sự ổn định tránh sự rối
loạn. Điều này đã giữ cho thị trường tài chính hoạt động một cách trơn tru
hiệu quả.
b. Hạn chế:
Mặc nỗ lực kiềm chế lạm phát, song lạm phát vẫn tăng, tạo áp lực lớn
cho việc kiểm soát lạm phát trong mục tiêu. Lạm phát bản VN bình quân năm
2021 tăng 0,81% so với bình quân năm 2020. Lạm phát bản tháng 12/2021
tăng 0,16% so với tháng 11/2021, tăng 0,67% so với tháng 12/2020.
-Thiếu linh hoạt trong việc thực hiện chính sách tiền tệ: Hệ thống ngân
hàng tổ chức tài chính của Việt Nam vẫn đang phát triển, đôi khi gặp khó
khăn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ một cách linh hoạt hiệu quả. Sự
thiếu hụt này thể ảnh hưởng đến khả năng của Nhà nước trong việc đáp ứng
nhanh chóng linh hoạt đối với biến động kinh tế.
-Thách thức về quản tỷ giá hối đoái: Biến động của tỷ giá hối đoái
thể tạo ra áp lực lớn đối với chính sách tiền tệ của Việt Nam. Sự không ổn định
trong thị trường ngoại hối thể ảnh hưởng đến giá cả, lạm phát sự ổn định
tài chính nội địa.
-Nợ công và rủi ro tài chính: Mức độ nợ công của Việt Nam vẫn đang tăng
lên, tạo ra rủi ro về tài chính cản trở khả năng của Nhà nước trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ hiệu quả.
-Thách thức từ quy mô kinh tế và hệ thống tài chính nhỏ bé: So với một số
nền kinh tế lớn khác trong khu vực, quy của nền kinh tế hệ thống tài
chính của Việt Nam vẫn nhỏ bé, điều này thể tạo ra hạn chế trong việc đối
phó với các biến động rủi ro tài chính toàn cầu.
2.2. Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2022:
2.2.1. Bối cảnh nền kinh tế:
Năm 2022 một năm đầy thách thức với hoạt động điều hành chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi phải cùng lúc đối mặt với áp lực
cả từ trong ngoài nước. Điều hành chính sách tiền tệ trở thành tâm điểm trong
điều hành kinh tế mô, từ lạm phát, tỷ giá, lãi suất đến tiếp vốn cho doanh
nghiệp...
Việc FED liên tục tăng lãi suất đã gây ra một làn sóng rút vốn ạt khỏi các
thị trường mới nổi, trong đó Việt Nam, để chuyển về Mỹ nhằm hưởng mức
lãi suất cao tác động làm cho đồng USD tăng giá. Hệ quả Ngân hàng Nhà
nước phải liên tục bán dự trữ ngoại hối nhằm ổn định t giá lần đầu tiên dự
trữ ngoại hối của Việt Nam xuống mức 12 tuần nhập khẩu sau khoảng 10 năm,
chạm ngưỡng cảnh báo của IMF. Kèm với đó, Ngân hàng Nhà nước phải tăng
lãi suất điều hành lên 2%, bằng với mức trước đại dịch Covid-19 để đảm bảo sự
hấp dẫn của tiền đồng, hạn chế việc rút vốn từ các nhà đầu nước ngoài, thế
đã xác lập mặt bằng lãi suất mới khá cao trong nước.
Một điểm sáng trong nỗ lực giữ ổn định kinh tế mô, kiềm chế lạm phát
năm 2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế
trong nước ghi nhận, điều hành linh hoạt tỷ giá. Nổi bật, việc nới biên độ tỷ
giá đã phần nào tạo ra không gian rộng lớn hơn để các doanh nghiệp, nhà đầu
nước ngoài người dân lựa chọn cách thức tỷ giá cân bằng trên sở cung cầu
thị trường. Đến thời điểm gần kết thúc năm 2022, tỷ giá USD trung tâm tăng
không nhiều so với đầu năm, chỉ khoảng 2,4%.
Nhưng tỷ giá USD tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã tăng hơn 7%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng
9%. Sự chênh lệch mặt bằng tỷ giá hiện tại so với đầu năm theo đó đã ảnh
hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh liên quan đến
ngoại tệ. Tuy nhiên, động thái này cũng nằm trong diễn biến chung của các đồng
tiền trên thế giới so với USD thực tế đồng VND đang mất giá ít hơn. “Sự linh
hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc áp dụng chính sách tiền tệ
ngoại hối đã làm chậm quá trình giảm giá của VND”.
2.2.2. Chính sách tác động:
a. Mục tiêu: Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, phối hợp chặt chẽ
với chính sách tài khóa các chính sách kinh tế khác nhằm kiểm soát
lạm phát theo mục tiêu năm 2022 bình quân khoảng 4%, góp phần ổn định kinh
tế mô, hỗ trợ phúc hồi tăng trưởng kinh tế, thích ứng kịp thời với diễn biến thị
trường trong ngoài nước.
b. Nhiệm vụ cụ thể:
Bám sát diễn biến kinh tế mô, tiền tệ, tình hình dịch bệnh trong nước
quốc tế để chủ động điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ giải pháp chính
sách tiền tệ phù hợp nhằm ổn định thị trường tiền tệ ngoại hối, kiểm soát tốc
độ tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu đề ra. Điều hành nghiệp vụ thị trường mở
phù hợp với diễn biến thị trường, hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ. Điều hành lãi
suất phù hợp với cân dối mô, lạm phát mục tiêu chính sách tiền tệ; khuyến
khích các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) tiếp tục tiết
giảm chi phí để phấn đấu giảm lãi suất cho vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Điều
hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn
định kinh tế mô, kiểm soát lạm phát. Tái cấp vốn đối với TCTD để hỗ trợ
thanh khoản, cho vay các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt, hỗ trợ quá trình cấu lại TCTD xử nợ xấu.
Điều hành tín dụng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ
quan với rủi ro lạm phát; chỉ đạo TCTD tăng cường tín dụng an toàn, hiệu quả,
hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ
trương của Chính phủ, cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, tín dụng tiêu dùng với
mức lãi xuất hợp lý, đảm bảo an toàn vốn vay tuân thủ quy định pháp luật
liên quan, hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế hội; không nới lỏng các điều
kiện cấp tín dụng; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn
dủi do như đầu tư, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, các dự án BOT, BT
giao thông, trái phiếu doanh nghiệp, kiểm soát tín dụng ngoại tệ phù hợp với lộ
trình hạn chế đô la hóa nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Hỗ trợ
tạo điều kiện để các TCTD, Ngân hàng Chính sách hội thực hiện tốt các
chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ.
c. Chính sách tiền tệ tác động:
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định lạm
phát hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế:
NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp
chặt chẽ với chính sách tài khóa các chính sách kinh tế khác nhằm
kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, góp phần ổn định kinh tế mô, duy trì ổn
định thị trường tiền tệ ngoại hối, đồng thời sẵn sàng cung ứng đủ nguồn vốn
cho quá trình phục hồi phát triển kinh tế.
Theo đó, NHNN điều hành nghiệp vụ thị trường mở chủ động, linh hoạt
nhằm đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng (TCTD), góp phần ổn định
thị trường tiền tệ.
Trong điều hành lãi suất, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều
hành mặc chịu áp lực từ xu hướng nới lỏng tiền tệ, tăng lãi suất trên toàn cầu,
nhằm tạo điều kiện để TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua
đó điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất, kinh
doanh.
NHNN điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với tình hình thị
trường trong ngoài nước, các cân đối mô, tiền tệ mục tiêu chính sách
tiền tệ; qua đó, góp phần hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế ổn định lạm
phát. Thanh khoản thị trường tiếp tục thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp
được đáp ứng đầy đủ.
Ngày 10/6/2022, Bộ Tài chính Hoa Kỳ ban hành Báo cáo về “Chính sách
kinh tế ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ”. Tại Báo
cáo này, Bộ Tài chính Hoa Kỳ cũng kết luận không đối tác lớn nào của Hoa
Kỳ thao túng tiền tệ trong năm 2021. Đồng thời, tại chuyến thăm, làm việc của
Bộ Tài chính Hoa Kỳ với Việt Nam ngày 05/4/2022, Bộ Tài chính Hoa Kỳ đánh
giá cao công tác điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của NHNN thời gian qua đã
thể hiện sự nghiêm túc của NHNN trong việc giải quyết các quan ngại của phía
Hoa Kỳ duy trì được ổn định thị trường tài chính, tiền tệ, kinh tế trong
bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức.
Chính sách tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh
vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro:
Trong điều hành tín dụng, ngay từ đầu năm 2022, NHNN đã chỉ đạo,
định hướng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực
ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Kết quả, đến
ngày 09/6/2022, tín dụng tăng 8,15% so với cuối năm 2021, tăng 17,09% so với
cùng kỳ năm 2021, phù hợp với diễn biến tích cực hơn của nền kinh tế. Nhờ đó,
đã góp phần kích hoạt mạnh mẽ các hoạt động kinh tế, tạo đà phục hồi các chỉ
số mô, hỗ trợ nền kinh tế dần khôi phục tăng trưởng.
Theo kết quả khai thác tại hệ thống báo cáo tập trung của NHNN, đến cuối
tháng 4/2022, lũy kế giá trị nợ đã cấu từ khi ban hành Thông số
01/2020/TT-NHNN hơn 695 nghìn tỷ đồng cho trên 1,1 triệu khách hàng.
nợ cấu giữ nguyên nhóm nợ hiện hơn 198 nghìn tỷ đồng của gần 680 nghìn
khách hàng; lũy kế giá trị nợ đã được miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ
gần 91 nghìn tỷ đồng cho gần 490 nghìn khách hàng. nợ miễn, giảm lãi,
giữ nguyên nhóm nợ còn gần 18 nghìn tỷ đồng của hơn 166 nghìn khách hàng.
Tích cực thực hiện chuyển đổi số đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài
chính
Trong hoạt động thanh toán, khuôn khổ pháp chính sách tiếp tục được
nghiên cứu, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt (TTKDTM), chuyển đổi số hoạt động ngân hàng. Hoạt động
chuyển đổi số ngành Ngân hàng tiếp tục được quan tâm, triển khai. Hoạt động
TTKDTM trong 4 tháng đầu năm 2022 đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ
năm 2021: Giao dịch TTKDTM tăng 69,7% về số lượng 27,5% về giá trị; qua
Internet tăng tương ứng 48,39% 32,76%; qua điện thoại di động tăng 97,65%
86,68%; qua QR Code tăng 56,52% 111,62%; tổng số điện tử đã kích
hoạt tăng 10,37% so với cuối năm 2021.
Công tác truyền thông, giáo dục tài chính được đẩy mạnh với nhiều chương
trình được công chúng đón nhận tích cực như “Tiền khéo, tiền khôn”, “Tay hòm
chìa khóa”... góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người dân khi sử dụng
dịch vụ tài chính, qua đó thúc đẩy TTKDTM, tài chính toàn diện.
Công tác tái cấu hệ thống các TCTD gắn với xử nợ xấu tiếp tục được
triển khai tích cực. Sự ổn định, an toàn của hệ thống các TCTD tiếp tục được giữ
vững. Quy hệ thống các TCTD tiếp tục tăng; năng lực tài chính, chất lượng
quản trị, điều hành từng bước được củng cố, nâng cao, tiệm cận thông lệ quốc
tế.
Điều chỉnh các mức lãi suất để thực hiện mục tiêu đặt ra của chính sách
tiền tệ:
Toàn cầu đứng trước xu thế tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát chủ đạo.
Ngày 22/9/2022, FED quyết định tăng lãi suất thêm 0,75% sau 05 lần điều
chỉnh tăng lãi suất, đưa lãi suất điều hành lên mức 3-3,25%/năm, đồng thời FED
dự báo tiếp tục tăng lãi suất duy trì trên 4%/năm sau năm 2023 để kiềm chế
lạm phát, chỉ số USD tăng cao kỷ lục so với nhiều năm trở lại đây. Diễn biến
lạm phát thế giới điều hành của FED gây áp lực lớn lên tâm nhà đầu tư,
dòng vốn rút ra tạo áp lực mất giá lớn đối với đồng tiền của các quốc gia mới
nổi trong đó Việt Nam
Trước những tác động của tình hình thế giới các chính sách tài chính
tiền tệ của các nước đến nền kinh tế Việt Nam, để thực hiện các mục tiêu đặt ra

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO THẢO LUẬN
BỘ MÔN: KINH TẾ
ĐỀ TÀI: Trình bày mục tiêu, công cụ, chế tác động của chính sách tiền tệ.
Phân tích chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2021 - 2023
Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Thị Thanh Huyền
Lớp học phần: 232_MAEC0111_04 Nhóm: 03
Thành viên nhóm: 1. Nguyễn Hồng Điệp 2. Trần Minh Đức 3. Đinh Xuân Đức 4. Nguyễn Ích Giang
5. Nguyễn Thị Hương Giang 6. Nguyễn Mạnh Hà 7. Nguyễn Thu Hà 8. Nguyễn Hồng Hạnh 9. Phùng Thị Hạnh
Nội 2024 MỤC LỤC:
CHƯƠNG I:...................................................................7
SỞ THUYẾT VỀ TIỀN TỆ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ....7
1.1. Khái niệm về tiền tệ chính sách tiền tệ:............7
1.1.1. Khái niệm tiền tệ:...........................................7
1.1.2. Khái niệm chính sách tiền tệ:..........................7
1.2. Mục tiêu công cụ của chính sách tiền tệ:..........8
1.3. chế tác động:..................................................9
1.4. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ của
một số nước trên thế giới............................................10
1.4.1. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ
của Mỹ...................................................................10
1.4.2. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân
Trung Quốc:...........................................................10
1.4.3. Tổng quan về kinh nghiệm điều hành chính sách
tiền tệ của các nước trên thế giới:...........................12
1.4.4. Bài học cho Việt Nam:...................................13
CHƯƠNG II:................................................................14
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2021-2023........................................................14
2.1. Chính sách tiền tệ năm 2021:.............................14
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế:....................................14
2.1.2. Chính sách tác động:................................14
2.1.3. Thành tựu hạn chế của chính sách:............16
2.2. Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2022:........17
2.2.1. Bối cảnh nền kinh tế:....................................17
2.2.2. Chính sách tác động:................................18
2.2.3. Thành tựu hạn chế của chính sách:............21
2.3. Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2023:........22
2.3.1. Bối cảnh kinh tế - hội:...............................22
2.3.2. Chính sách tiền tệ của NHTW 2023:...............23
2.3.3. Thành tựu hạn chế của chính sách:............26
2.4. Đánh giá chung:................................................27
CHƯƠNG III:...............................................................28
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CSTT TRONG
GIAI ĐOẠN TỚI...........................................................28
TRÍCH DẪN NGUỒN.....................................................29
Bản đánh giá thảo luận: Nhóm 3
Lớp học phần: 232-MAEC0111-04 STT Tên
Điểm trong quá trình
Điểm trong quá trình Cá nhân
làm bài thảo luận thảo luận kí tên Cá nhân Cá nhân Nhóm Nhóm tự đánh tự đánh đánh giá đánh giá giá giá 1Đinh Xuân Đức 2Trần Minh Đức 3Nguyễn Thị Hương Giang 4Nguyễn Ích Giang 5Phùng Thị Hạnh 6Nguyễn Hồng Hạnh 7Nguyễn Mạnh Hà 8Nguyễn Thu Hà 9Nguyễn Hồng Điệp Thư ký: Nhóm trưởng:
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 1)
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô 1
Giảng viên: Đỗ Thị Thanh Huyền
Lớp học phần: 232-MAEC0111-04
I. Thời gian địa điểm:
1. Thời gian: 03/03/2024
2. Hình thức họp: Họp online qua Google Meet
II. Số thành viên tham gia: 9/9
III. Nội dung thảo luận:
1. Tìm hiểu, nghiên cứu và tìm ra phương hướng giải quyết đề tài thảo luận
2. Nhóm trưởng phân chia công việc
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên nhiệt tình, thẳng thắn đưa ra ý kiến trong quá trình thảo luận và
nhận nhiệm vụ mà nhóm trưởng giao
Hà Nội, ngày 03 tháng 03 năm 2024 Thư ký: Nhóm trưởng:
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 2)
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô 1
Giảng viên: Đỗ Thị Thanh Huyền
Lớp học phần: 232-MAEC0111-04
I. Thời gian địa điểm:
1. Thời gian: 20/03/2024
2. Hình thức họp: Họp online qua Google Meet
II. Số thành viên tham gia: 9/9
III. Nội dung thảo luận: Phân chia tiếp nội dung thảo luận, cùng tìm hiểu và
thống nhất các nội dung của bài thảo luận
IV. Đánh giá chung kết quả cuộc họp:
Các thành viên tham gia đầy đủ, tích cực đưa ra, đóng góp ý kiến
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2024 Thư ký: Nhóm trưởng: CHƯƠNG I:
SỞ THUYẾT VỀ TIỀN TỆ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1. Khái niệm về tiền tệ chính sách tiền tệ:
1.1.1. Khái niệm tiền tệ:
Hiện nay tồn tại rất nhiều khái niệm và quan điểm liên quan đến tiền tệ là gì,
tùy thuộc vào những góc nhìn khác nhau:
Theo Mác, tiền tệ là một loại hàng hoá, nhưng tách biệt với thế giới hàng
hoá thông thường. Tiền tệ dùng để đo lường giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác.
Theo các nhà kinh tế, tiền tệ là bất cứ thứ gì được chấp nhận trong việc
thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.
Theo góc nhìn nghiên cứu, tiền tệ là phương tiện chứng minh tốc độ phát
triển của một nền kinh tế và là bằng chứng cho các giai đoạn phát triển của lịch sử.
Theo quan điểm trọng thương, tiền tệ là biểu hiện của sự giàu có. Một quốc
gia được gọi là giàu khi tích lũy được rất nhiều tiền.
Theo quan điểm trọng nông, tiền tệ là một thứ hư ảo chỉ có công dụng như
chất bôi trơn trong guồng máy của hoạt động kinh tế.
Theo N. Gregory Mankiw, tiền tệ là khối lượng tài sản có thể sử dụng ngay
để thực hiện các giao dịch.
Theo Frederic S. Mishkin, tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp thuận để trao đổi
hàng hóa, dịch vụ hoặc trong thanh toán các món nợ.
1.1.2. Khái niệm chính sách tiền tệ:
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: chính sách tiền tệ quốc gia là
một bộ phận của chính sách Kinh tế – Tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá
trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội,
đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận cấu thành hệ thống các Chính
sách Kinh tế – Tài chính tổng hợp và trong hệ thống đó, các bộ phận cấu thành
có mối quan hệ tác động hữu cơ với nhau. Do vậy, một chính sách tiền tệ hữu
hiệu đòi hỏi phải được thiết lập và vận hành trong mối quan hệ hữu cơ với các
chính sách khác đứng trên góc độ toàn cục, chứ không tồn tại với tư cách là một yếu tố độc lập.
Chính sách tiền tệ có một vai trò quan trọng và tương đối độc lập với các
chính sách kinh tế khác xuất phát từ ba luận điểm mang tính định hướng sau:
Thứ nhất: Sẽ không có tăng trưởng kinh tế nếu không có đầu tư.
Thứ hai: Không thể có đầu tư mà không có tiết kiệm.
Thứ ba: Không thể có tiết kiệm nếu thiếu sự ổn định giá cả hàng hóa và sức
mua của tiền tệ. Chính vì vậy chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tác động vào nhiều
hướng nhằm: tạo ra đầu tư, tạo ra tiết kiệm và tạo ra sự ổn định tiền tệ, ổn định
giá cả, ổn định tỷ giá hối đoái.
Như vậy, chính sách tiền tệ góp phần quan trọng vào sự thành công hay thất
bại của sự phát triển nền kinh tế. Một chính sách tiền tệ thắt chặt (Tight –
Monetary Policy) sẽ dẫn đến sự khan hiếm về tiền tệ và đắt đỏ về chi phí. Ngược
lại, một chính sách tiền tệ nới lỏng (easy – Monetary policy) sẽ làm cho tiền tệ
gia tăng, kích thích tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế.
1.2. Mục tiêu công cụ của chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ sử dụng một số công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ giá
hối đoái, lãi suất chiết khấu, hạn mức tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở và tái
cấp vốn… để điều chỉnh mức cung tiền cho nền kinh tế.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ lượng tiền phải giữ lại
so với lượng tiền gửi huy động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, số tiền
này phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước. Do vậy, để điều chỉnh mức cung tiền cho
nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước sẽ tác động vào tỷ lệ này. Ngân hàng Nhà
nước tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cung tiền giảm, Ngân hàng Nhà nước giảm tỷ lệ
dự trữ bắt buộc thì cung tiền tăng.
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại
tệ, nó tác động tới xuất nhập khẩu, trao đổi ngoại tệ, dự trữ ngoại tệ. Về bản
chất, đây không phải công cụ của chính sách tiền tệ vì nó không tác động làm
thay đổi lượng cung tiền nhưng nó là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách
tiền tệ. Điều chỉnh tỷ giá hối đoái được Ngân hàng Nhà nước thực hiện khi
muốn điều chỉnh lượng cung tiền bằng ngoại tệ của nền kinh tế: Để tăng cung
tiền bằng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh giảm tỷ giá hối đoái bằng
cách mua vào giấy tờ có giá của các Ngân hàng Thương mại trên thị trường mở
bằng ngoại tệ. Ngược lại để giảm cung tiền bằng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước
sẽ điều chỉnh tăng tỷ giá hối đoái bằng cách bán giấy tờ có giá cho các Ngân
hàng Thương mại và thu về ngoại tệ.
Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất Ngân hàng Nhà nước cho các Ngân hàng
thương mại vay đối với các khoản vay đáp ứng nhu cầu tiền mặt bất thường.
Điều chỉnh lãi suất chiết khấu, lượng tiền cơ sở thay đổi, cung tiền cũng thay đổi
theo. Các Ngân hàng thương mại phải dự trữ lượng tiền mặt nhất định để đáp
ứng nhu cầu rút tiền mặt bất thường của khách hàng. Nếu khoản dự trữ này
không đủ, Ngân hàng thương mại sẽ vay Ngân hàng Nhà nước với lãi suất chiết
khấu. Nếu Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất chiết khấu tăng, Ngân hàng
thương mại sẽ phải dè chừng khoản vay này, chủ động dự trữ nhiều hơn, từ đó
cung tiền trong nền kinh tế giảm. Ngược lại, nếu Ngân hàng Nhà nước điều
chỉnh giảm lãi suất chiết khấu, các Ngân hàng thương mại vay nhiều hơn, cung tiền tăng lên.
Hạn mức tín dụng: Đây là mức dư nợ tối đa Ngân hàng Nhà nước quy định
mà các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh hạn mức tín dụng tăng, cung tiền tăng; điều
chỉnh hạn mức tín dụng giảm, cung tiền giảm.
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO): Nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân
hàng Nhà nước mua hoặc bán các loại chứng khoán trên thị trường mở. Việc này
tác động đến lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, ảnh hưởng đến việc
cung ứng tín dụng của họ ra thị trường, từ đó điều chỉnh lượng cung tiền.
Nếu Ngân hàng Nhà nước mua chứng khoán trên thị trường mở, các Ngân
hàng thương mại có thêm khoản tiền dự trữ, lượng cung tiền cho nền kinh tế
tăng. Ngược lại, nếu Ngân hàng Nhà nước bán chứng khoán, lượng cung tiền sẽ
giảm. Đây chính là mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Tái cấp vốn: Là việc Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các Ngân hàng
thương mại thông qua việc mua bán giấy tờ có giá, từ đó cung cấp nguồn vốn
ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho Ngân hàng thương mại. Qua đó, Ngân
hàng Nhà nước đã tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.
1.3. chế tác động:
Cơ chế tác động của chính sách tiền tệ là thông qua việc điều chỉnh lượng tiền
lưu thông và lãi suất trong nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến các biến số kinh tế
như lạm phát, tăng trưởng kinh tế và thị trường lao động. Cụ thể:
Lãi suất: Tăng lãi suất có thể làm giảm chi tiêu tiêu dùng và đầu tư, giúp kiềm
chế lạm phát và kiểm soát lạm phát. Ngược lại, giảm lãi suất thúc đẩy việc vay
mượn và tiêu dùng, tăng cơ hội đầu tư và tăng cung cấp lao động.
Lượng tiền lưu thông: Thông qua chính sách mở cửa và chính sách tiền tệ hậu
cần, ngân hàng trung ương có thể tăng giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh
tế. Tăng lượng tiền có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng có thể gây
ra lạm phát nếu không được kiểm soát.
Tác động đến tỷ giá hối đoái: Thông qua chính sách mở cửa và thương mại
quốc tế, chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng đến
xuất khẩu và nhập khẩu, cũng như ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp nội địa.
Tác động đến ngân sách và nợ công: Chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng đến
chi phí vay mượn của chính phủ thông qua lãi suất và thị trường trái phiếu, ảnh
hưởng đến việc quản lý ngân sách và nợ công.
Tóm lại, chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua việc điều
chỉnh lãi suất, lượng tiền lưu thông và tỷ giá hối đoái, tạo ra tác động đa chiều
đến các biến số kinh tế khác nhau. Việc hoạch định CSTT cần phải có khả năng
đi trước, đón đầu, dự báo về triển vọng của nền kinh tế và thị trường tài chính,
tiền tệ trong thời gian tới.
1.4. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ của một số nước trên thế giới.
1.4.1. Kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ của Mỹ
Mục tiêu chính sách tiền tệ: Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Mỹ là
duy trì ổn định giá cả, thúc đẩy việc làm và tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, Cục Dự
trữ Liên bang (FED) nhằm mục tiêu lạm phát ở mức 2% và tối đa hóa việc làm.
Công cụ chính sách tiền tệ: FED sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như
điều chỉnh lãi suất cơ bản, mua bán trái phiếu chính phủ, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt
buộc của ngân hàng để ảnh hưởng đến cung tiền, lãi suất và tín dụng trong nền kinh tế.
Ứng phó với khủng hoảng: Trong các cuộc khủng hoảng tài chính như năm
2008, FED đã nhanh chóng cắt giảm lãi suất, mở rộng các chương trình mua trái
phiếu và thực hiện các biện pháp can thiệp khác để ổn định hệ thống tài chính và kích thích nền kinh tế.
Độc lập và trách nhiệm giải trình: FED được coi là một cơ quan độc lập,
không chịu sự can thiệp trực tiếp từ chính phủ. Tuy nhiên, FED phải chịu trách
nhiệm giải trình trước Quốc hội Mỹ về các quyết định chính sách tiền tệ.
Thách thức và phản ứng: Chính sách tiền tệ của Mỹ phải ứng phó với nhiều
thách thức như lạm phát, suy thoái, biến động thị trường tài chính. FED thường
xuyên điều chỉnh chính sách để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Tóm lại, Mỹ có một lịch sử lâu dài và phong phú trong việc điều hành
chính sách tiền tệ, với mục tiêu ổn định giá cả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
FED đóng vai trò then chốt trong việc quản lý chính sách tiền tệ quốc gia.
1.4.2. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc:
Theo Luật Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC), chức năng nhiệm vụ
của ngân hàng này là hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ (CSTT); Phát
hành đồng Nhân dân tệ (NDT) và giám sát sự lưu thông tiền tệ; Giám sát hoạt
động thị trường liên ngân hàng và thị trường trái phiếu ngân hàng; Giám sát
ngoại hối và giám sát thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. PBOC đặt ra mục tiêu
hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng trong việc điều hành CSTT của mình:
Về mục tiêu hoạt động: Từ năm 1998, mục tiêu hoạt động của PBOC gồm:
Tiền cơ sở; dự trữ vượt mức; lãi suất trên thị trường tiền tệ.
Về mục tiêu trung gian: Từ tháng 1/1998, PBOC bãi bỏ chỉ tiêu về trần tín
dụng và xây dựng chính thức chỉ tiêu mức cung tiền là mục tiêu trung gian cho CSTT.
Về mục tiêu cuối cùng: Từ năm 1993 đến nay, giai đoạn nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mục tiêu cuối cùng của CSTT là duy trì
sự ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các công cụ PBOC sử
dụng để điều hành CSTT của Trung Quốc đang được chuyển dần từ trực tiếp sang gián tiếp:
Công cụ dự trữ bắt buộc: Trong năm 2015, PBOC đã 4 lần hạ mức dự trữ
bắt buộc, đưa mức dự trữ bắt buộc của hầu hết các ngân hàng Trung Quốc từ
mức 20% xuống còn 17,5%. Ngày 1/3/2016, PBOC tiếp tục một lần nữa hạ tỷ lệ
dự trữ bắt buộc xuống mức 17%. Các động thái này cho thấy, PBOC đang thực
hiện nới lỏng tiền tệ nhằm ngăn chặn đà suygiảm của nền kinh tế Trung Quốc.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO): Tín phiếu được PBOC phát hành
trên cơ sở thị trường trái phiếu liên ngân hàng. Tín phiếu ngân hàng trung ương
(NHTW) được sử dụng vào mục đích chính là hút về phương tiện thanh toán khi
NHTW mua ngoại hối để tăng dự trữ ngoại hối cho nền kinh tế.
Công cụ tái chiết khấu: Tái chiết khấu được thực hiện trên cơ sở đối tượng là
thương phiếu, hối phiếu được các ngân hàng chấp nhận trên thị trường. PBOC
điều hành lãi suất tái chiết khấu một cách thận trọng, góp phần cải thiện cơ chế
hoạt động của chính sách lãi suất, điều tiết mối quan hệ vay mượn giữa PBOC
với các tổ chức tín dụng (TCTD).
Công cụ tái cấp vốn: PBOC thực hiện cho vay tái cấp vốn đối với các ngân
hàng thương mại (NHTM). Hệ thống lãi suất thả nổi đối với các khoản vay
PBOC, lãi suất vay PBOC kỳ hạn 20 ngày đóng vai trò như lãi suất trần, lãi suất
tiền gửi dự trữ vượt mức đóng vai trò lãi suất sàn, còn lãi suất repo 7 ngày trên
thị trường mở OMO và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng 7 ngày giao động
trong khoảng của 2 loại lãi suất trên.
Công cụ lãi suất: PBOC từng bước tự do hóa: (i) Lãi suất trên thị trường liên
ngân hàng; (ii) Lãi suất thị trường trái phiếu; (iii) Lãi suất huy động và cho vay
của các TCTD đối với nền kinh tế. Tháng 7/2013, PBOC đã bỏ quy định cuối
cùng về mức sàn lãi suất cho vay, trước đó được PBOC áp dụng sàn lãi suất cho
vay ở mức dưới 30% lãi suất cơ bản (6%). Qua đó, lãi suất cho vay của Trung
Quốc được tự do hóa hoàn toàn. Từ tháng 10/2015, PBOC tiếp tục từ bỏ quy
định về trần lãi suất huy động, vốn trước đó được quy định 1,5 lần lãi suất điều
hành kỳ hạn 1 năm. Đây là một bước đi rất quan trọng trong quá trình tự do hóa
lãi suất của Trung Quốc.
Công cụ tỷ giá: Theo quan điểm của PBOC, tỷ giá cũng là một kênh quan
trọng trong cơ chế truyền dẫn và có tác động qua lại với các kênh khác. Từ
tháng 8/2015, PBOC đã liên tiếp hạ giá đồng NDT. Đây là đợt phá giá mạnh
nhất từ sau khi Trung Quốc thành lập hệ thống quản lý ngoại hối hiện đại năm
1994 và được coi là cách để Trung Quốc cùng một lúc có thể đẩy mạnh xuất
khẩu. Đồng thời, nâng cao quyền lực cho đồng NDT, giúp dễ dàng thực hiện các
mục tiêu ngoại giao và củng cố vai trò trung tâm của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu.lạm phát.
1.4.3. Tổng quan về kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của các nước
trên thế giới:
Các mục tiêu chính sách tiền tệ: Ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát là
mục tiêu chung của hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới. Nhiều ngân
hàng trung ương cũng nhắm đến các mục tiêu khác như thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, ổn định tỷ giá hối đoái, tạo việc làm.
Công cụ chính sách tiền tệ: Các công cụ chính bao gồm điều chỉnh lãi
suất cơ bản, mua bán tài sản, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Một số ngân hàng
trung ương còn sử dụng các công cụ phi truyền thống như chương trình mua tài sản quy mô lớn.
Ứng phó với khủng hoảng: Trong các cuộc khủng hoảng tài chính, nhiều
ngân hàng trung ương đã nhanh chóng cắt giảm lãi suất, mở rộng các chương
trình hỗ trợ tín dụng để ổn định hệ thống tài chính. Các biện pháp can thiệp
mạnh mẽ của ngân hàng trung ương đã góp phần quan trọng trong việc vượt qua các cuộc khủng hoảng.
Độc lập và trách nhiệm giải trình: Độc lập của ngân hàng trung ương là
một nguyên tắc quan trọng được áp dụng rộng rãi trên thế giới.Tuy nhiên, các
ngân hàng trung ương vẫn chịu trách nhiệm giải trình trước chính phủ và quốc
hội về các quyết định chính sách.
Thách thức và phản ứng: Các ngân hàng trung ương phải ứng phó với
nhiều thách thức như lạm phát, suy thoái, biến động tài chính. Họ thường xuyên
điều chỉnh chính sách tiền tệ để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
1.4.4. Bài học cho Việt Nam:
Qua nghiên cứu kinh nghiệm điều hành CSTT của một số nước trong việc
thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, có thể rút ra một số bài học cho Việt
Nam trong điều hành CSTT như sau:
Một là, để thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia cần phải “ổn định
giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát”; thực hiện nghiêm túc và coi
đó mục tiêu quan trọng trong việc thực hiện CSTT.
Hai là, cần nâng cao tính độc lập tương đối cho Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, tách bạch rõ vai trò, các giải pháp cũng như tác động của CSTT và chính
sách tài khóa đến mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế.Trên cơ sở đó, tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa CSTT, chính sách
tài khóa, chính sách thương mại và đầu tư… đến mục tiêu tổng thể là ổn định kinh tế vĩ mô.
Ba là, chủ động điều hành linh hoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ CSTT,
tập trung vào điều hành lãi suất chủ động, linh hoạt để điều tiết lãi suất thị
trường ở mức hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Bốn là, cần theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ trong và
ngoài nước, tăng cường công tác phân tích, thống kê, để kịp thời có các đối sách phù hợp.
Năm là, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin, thực hiện minh bạch đối với
các kỳ vọng chính sách cũng như trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch
định và thực thi chính sách. Và phối hợp của các cơ quan truyền thông để định
hướng tâm lý thị trường, hạn chế tâm lý bất lợi không đáng có, ảnh hưởng đến
niềm tin của thị trường vào điều hành chính sách vĩ mô nói chung và điều hành CSTT nói riêng. CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2023
2.1. Chính sách tiền tệ năm 2021:
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế:
Vào năm 2021, với tình hình dịch bệnh diễn ra phức tạp, nền kinh tế trong
nước chịu ảnh hưởng nặng nề như hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn,
nguồn cung đứt gãy, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng trong khi nhiều doanh nghiệp
thiếu hụt lao động,… Theo đó, tăng trưởng kinh tế năm 2021 chỉ ở mức 2,58%,
thấp hơn 2,91% so với năm 2020, và thấp nhất trong vòng 30 năm qua. Do đó,
để trở lại quỹ đạo tăng trưởng, Việt Nam cần thực hiện chương trình hồi phục
kinh tế bền vững vừa đủ liều lượng, vừa trúng mục tiêu và với thể chế thực thi hiệu quả
2.1.2. Chính sách tác động:
Thứ nhất, đảm bảo thanh khoản thông suốt trên thị trường tiền tệ, tạo điều
kiện để TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ TCTD đẩy mạnh tín dụng
đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế.
NHNN mua lượng lớn ngoại tệ bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước, đưa
tiền đồng ra thị trường, qua đó thanh khoản hệ thống TCTD dồi dào, đồng thời,
hàng ngày NHNN chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở nhằm phát tín
hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ. Nhờ đó, lãi suất liên
ngân hàng giảm xuống và duy trì ở mức rất thấp trong lịch sử, giảm chi phí vốn
đầu vào cho TCTD, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho vay.
Thứ hai, duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện và định
hướng để mặt bằng lãi suất cho vay của TCTD giảm.
Ngay khi dịch bệnh bùng phát trong năm 2020, NHNN đã 3 lần giảm lãi
suất điều hành với mức giảm 1,5 - 2%/năm. Trong năm 2021, NHNN duy trì các
mức lãi suất thấp này, kết hợp điều hành thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền
tệ. Kết quả là, đến cuối tháng 11/2021, lãi suất huy động và cho vay VND bình
quân của TCTD giảm tương ứng khoảng 0,51%/năm và 0,81%/năm so với cuối
năm 2020 sau khi đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020. Lãi suất cho vay
bình quân đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ là
4,3%/năm (thấp hơn mức trần quy định là 4,5%/năm).
Thứ ba, đảm bảo cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho các nhu
cầu sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng
trưởng tín dụng đối với các TCTD, hướng tăng trưởng tín dụng gắn với chất lượng.
NHNN điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng cho TCTD có năng lực tài chính,
quản trị điều hành, có khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh, để kịp
thời hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, NHNN chỉ đạo TCTD tăng trưởng tín dụng
an toàn, hiệu quả, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên;
kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường quản lý
rủi ro đối với tín dụng tiêu dùng; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và
người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hạn chế tín dụng đen. Trên
cơ sở đó, tín dụng tăng ngay từ đầu năm và cao hơn năm 2020, kịp thời đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế. Đến ngày 30/12/2021, tín dụng tăng 13,47% so với
cuối năm 2020, tăng 13,79% so với cùng kỳ năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng
11,85% so với cuối năm 2019 và tăng 11,93% so với cùng kỳ năm 2019). Cơ
cấu tín dụng chuyển dịch tích cực, tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh; 4/5 lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng cùng
kỳ năm 20201, hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển
thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh
nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tăng trưởng tín dụng
các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán trong tầm kiểm soát của NHNN.
Thứ tư, ổn định thị trường ngoại tệ. NHNN điều hành tỷ giá linh hoạt,
bám sát cung cầu thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT. Trong
khi xu hướng rút vốn khỏi các nước mới nổi và đang phát triển khiến đồng tiền
của nhiều nước trong khu vực mất giá khá lớn so với USD (Baht Thái giảm
9,7%, Ringgit Malaysia giảm 2,5%, Đô-la Singapore giảm 1%) thì tỷ giá
USD/VND tiếp tục được duy trì ổn định. Đến cuối tháng 12/2021, tỷ giá trung
tâm USD/VND chỉ tăng 0,06% so với cuối năm 2020. Thanh khoản ngoại tệ trên
thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của người dân, doanh
nghiệp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.
2.1.3. Thành tựu hạn chế của chính sách: a. Thành tựu:
Mặc dù tăng trưởng kinh tế còn găp nhiều khó khăn do tác động của đại
dịch, nhưng thị trường tài chính vẫn còn có nhiều điểm sáng và trở thành một
công cụ quan trọng góp phần phục hồi và phát triển kinh tế:
-Ổn định tỷ giá và thanh khoản đồng Việt Nam (VND): Nhờ vào các biện
pháp điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tỷ giá đồng
VND đã được duy trì ở mức ổn định, giúp giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đầu tư.
-Kiểm soát lạm phát: Dù có những biến động, nhưng chính sách tiền tệ đã
giúp kiểm soát tình trạng lạm phát tại Việt Nam. NHNN đã triển khai các biện
pháp hiệu quả để kiểm soát giá cả và giữ cho tốc độ tăng trưởng lạm phát ở mức ổn định.
-Hỗ trợ phục hồi kinh tế: Chính sách tiền tệ đã hỗ trợ mạnh mẽ cho quá
trình phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19. NHNN đã thực hiện các biện
pháp kích thích tài chính như giảm lãi suất, hỗ trợ về thanh khoản và cung cấp
các gói tài trợ để thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng.
-Hỗ trợ thị trường tài chính: NHNN đã tiếp tục cung cấp thanh khoản và
hỗ trợ cho thị trường tài chính trong nước, đảm bảo sự ổn định và tránh sự rối
loạn. Điều này đã giữ cho thị trường tài chính hoạt động một cách trơn tru và hiệu quả.
b. Hạn chế:
Mặc dù nỗ lực kiềm chế lạm phát, song lạm phát vẫn tăng, tạo áp lực lớn
cho việc kiểm soát lạm phát trong mục tiêu. Lạm phát cơ bản VN bình quân năm
2021 tăng 0,81% so với bình quân năm 2020. Lạm phát cơ bản tháng 12/2021
tăng 0,16% so với tháng 11/2021, tăng 0,67% so với tháng 12/2020.
-Thiếu linh hoạt trong việc thực hiện chính sách tiền tệ: Hệ thống ngân
hàng và tổ chức tài chính của Việt Nam vẫn đang phát triển, đôi khi gặp khó
khăn trong việc thực hiện chính sách tiền tệ một cách linh hoạt và hiệu quả. Sự
thiếu hụt này có thể ảnh hưởng đến khả năng của Nhà nước trong việc đáp ứng
nhanh chóng và linh hoạt đối với biến động kinh tế.
-Thách thức về quản lý tỷ giá hối đoái: Biến động của tỷ giá hối đoái có
thể tạo ra áp lực lớn đối với chính sách tiền tệ của Việt Nam. Sự không ổn định
trong thị trường ngoại hối có thể ảnh hưởng đến giá cả, lạm phát và sự ổn định tài chính nội địa.
-Nợ công và rủi ro tài chính: Mức độ nợ công của Việt Nam vẫn đang tăng
lên, tạo ra rủi ro về tài chính và cản trở khả năng của Nhà nước trong việc thực
hiện chính sách tiền tệ hiệu quả.
-Thách thức từ quy mô kinh tế và hệ thống tài chính nhỏ bé: So với một số
nền kinh tế lớn khác trong khu vực, quy mô của nền kinh tế và hệ thống tài
chính của Việt Nam vẫn nhỏ bé, điều này có thể tạo ra hạn chế trong việc đối
phó với các biến động và rủi ro tài chính toàn cầu.
2.2. Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2022:
2.2.1. Bối cảnh nền kinh tế:
Năm 2022 là một năm đầy thách thức với hoạt động điều hành chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi phải cùng lúc đối mặt với áp lực
cả từ trong và ngoài nước. Điều hành chính sách tiền tệ trở thành tâm điểm trong
điều hành kinh tế vĩ mô, từ lạm phát, tỷ giá, lãi suất đến tiếp vốn cho doanh nghiệp...
Việc FED liên tục tăng lãi suất đã gây ra một làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các
thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, để chuyển về Mỹ nhằm hưởng mức
lãi suất cao và tác động làm cho đồng USD tăng giá. Hệ quả là Ngân hàng Nhà
nước phải liên tục bán dự trữ ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá và lần đầu tiên dự
trữ ngoại hối của Việt Nam xuống mức 12 tuần nhập khẩu sau khoảng 10 năm,
chạm ngưỡng cảnh báo của IMF. Kèm với đó, Ngân hàng Nhà nước phải tăng
lãi suất điều hành lên 2%, bằng với mức trước đại dịch Covid-19 để đảm bảo sự
hấp dẫn của tiền đồng, hạn chế việc rút vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, vì thế
đã xác lập mặt bằng lãi suất mới khá cao ở trong nước.
Một điểm sáng trong nỗ lực giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát
năm 2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế và
trong nước ghi nhận, là điều hành linh hoạt tỷ giá. Nổi bật, là việc nới biên độ tỷ
giá đã phần nào tạo ra không gian rộng lớn hơn để các doanh nghiệp, nhà đầu tư
nước ngoài và người dân lựa chọn cách thức tỷ giá cân bằng trên cơ sở cung cầu
thị trường. Đến thời điểm gần kết thúc năm 2022, tỷ giá USD trung tâm tăng
không nhiều so với đầu năm, chỉ khoảng 2,4%.
Nhưng tỷ giá USD tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã tăng hơn 7%, và tỷ giá tại các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng
9%. Sự chênh lệch mặt bằng tỷ giá hiện tại so với đầu năm theo đó đã ảnh
hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến
ngoại tệ. Tuy nhiên, động thái này cũng nằm trong diễn biến chung của các đồng
tiền trên thế giới so với USD và thực tế đồng VND đang mất giá ít hơn. “Sự linh
hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc áp dụng chính sách tiền tệ
và ngoại hối đã làm chậm quá trình giảm giá của VND”.
2.2.2. Chính sách tác động:
a. Mục tiêu: Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, phối hợp chặt chẽ
với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát
lạm phát theo mục tiêu năm 2022 bình quân khoảng 4%, góp phần ổn định kinh
tế vĩ mô, hỗ trợ phúc hồi tăng trưởng kinh tế, thích ứng kịp thời với diễn biến thị
trường trong và ngoài nước.
b. Nhiệm vụ cụ thể:
Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tình hình dịch bệnh trong nước và
quốc tế để chủ động điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ và giải pháp chính
sách tiền tệ phù hợp nhằm ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tốc
độ tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu đề ra. Điều hành nghiệp vụ thị trường mở
phù hợp với diễn biến thị trường, hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ. Điều hành lãi
suất phù hợp với cân dối vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; khuyến
khích các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD) tiếp tục tiết
giảm chi phí để phấn đấu giảm lãi suất cho vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh. Điều
hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn
định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Tái cấp vốn đối với TCTD để hỗ trợ
thanh khoản, cho vay các chương trình đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt, hỗ trợ quá trình cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu.
Điều hành tín dụng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ
quan với rủi ro lạm phát; chỉ đạo TCTD tăng cường tín dụng an toàn, hiệu quả,
hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ
trương của Chính phủ, cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, tín dụng tiêu dùng với
mức lãi xuất hợp lý, đảm bảo an toàn vốn vay và tuân thủ quy định pháp luật
liên quan, hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế xã hội; không nới lỏng các điều
kiện cấp tín dụng; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn
dủi do như đầu tư, kinh doanh bất động sản, chứng khoán, các dự án BOT, BT
giao thông, trái phiếu doanh nghiệp, kiểm soát tín dụng ngoại tệ phù hợp với lộ
trình hạn chế đô la hóa nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Hỗ trợ
và tạo điều kiện để các TCTD, Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện tốt các
chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
c. Chính sách tiền tệ tác động:
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định lạm
phát và hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế:
NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp
chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm
kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn
định thị trường tiền tệ và ngoại hối, đồng thời sẵn sàng cung ứng đủ nguồn vốn
cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế.
Theo đó, NHNN điều hành nghiệp vụ thị trường mở chủ động, linh hoạt
nhằm đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng (TCTD), góp phần ổn định thị trường tiền tệ.
Trong điều hành lãi suất, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều
hành mặc dù chịu áp lực từ xu hướng nới lỏng tiền tệ, tăng lãi suất trên toàn cầu,
nhằm tạo điều kiện để TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua
đó có điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất, kinh doanh.
NHNN điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với tình hình thị
trường trong và ngoài nước, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách
tiền tệ; qua đó, góp phần hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế và ổn định lạm
phát. Thanh khoản thị trường tiếp tục thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp
được đáp ứng đầy đủ.
Ngày 10/6/2022, Bộ Tài chính Hoa Kỳ ban hành Báo cáo về “Chính sách
kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ”. Tại Báo
cáo này, Bộ Tài chính Hoa Kỳ cũng kết luận không có đối tác lớn nào của Hoa
Kỳ thao túng tiền tệ trong năm 2021. Đồng thời, tại chuyến thăm, làm việc của
Bộ Tài chính Hoa Kỳ với Việt Nam ngày 05/4/2022, Bộ Tài chính Hoa Kỳ đánh
giá cao công tác điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của NHNN thời gian qua đã
thể hiện sự nghiêm túc của NHNN trong việc giải quyết các quan ngại của phía
Hoa Kỳ và duy trì được ổn định thị trường tài chính, tiền tệ, kinh tế vĩ mô trong
bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức.
Chính sách tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh
vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro:
Trong điều hành tín dụng, ngay từ đầu năm 2022, NHNN đã có chỉ đạo,
định hướng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực
ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Kết quả, đến
ngày 09/6/2022, tín dụng tăng 8,15% so với cuối năm 2021, tăng 17,09% so với
cùng kỳ năm 2021, phù hợp với diễn biến tích cực hơn của nền kinh tế. Nhờ đó,
đã góp phần kích hoạt mạnh mẽ các hoạt động kinh tế, tạo đà phục hồi các chỉ
số vĩ mô, hỗ trợ nền kinh tế dần khôi phục và tăng trưởng.
Theo kết quả khai thác tại hệ thống báo cáo tập trung của NHNN, đến cuối
tháng 4/2022, lũy kế giá trị nợ đã cơ cấu từ khi ban hành Thông tư số
01/2020/TT-NHNN là hơn 695 nghìn tỷ đồng cho trên 1,1 triệu khách hàng. Dư
nợ cơ cấu giữ nguyên nhóm nợ hiện hơn 198 nghìn tỷ đồng của gần 680 nghìn
khách hàng; lũy kế giá trị nợ đã được miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ
là gần 91 nghìn tỷ đồng cho gần 490 nghìn khách hàng. Dư nợ miễn, giảm lãi,
giữ nguyên nhóm nợ còn gần 18 nghìn tỷ đồng của hơn 166 nghìn khách hàng.
Tích cực thực hiện chuyển đổi số và đẩy mạnh truyền thông, giáo dục tài chính
Trong hoạt động thanh toán, khuôn khổ pháp lý và chính sách tiếp tục được
nghiên cứu, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt (TTKDTM), chuyển đổi số hoạt động ngân hàng. Hoạt động
chuyển đổi số ngành Ngân hàng tiếp tục được quan tâm, triển khai. Hoạt động
TTKDTM trong 4 tháng đầu năm 2022 đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ
năm 2021: Giao dịch TTKDTM tăng 69,7% về số lượng và 27,5% về giá trị; qua
Internet tăng tương ứng 48,39% và 32,76%; qua điện thoại di động tăng 97,65%
và 86,68%; qua QR Code tăng 56,52% và 111,62%; tổng số ví điện tử đã kích
hoạt tăng 10,37% so với cuối năm 2021.
Công tác truyền thông, giáo dục tài chính được đẩy mạnh với nhiều chương
trình được công chúng đón nhận tích cực như “Tiền khéo, tiền khôn”, “Tay hòm
chìa khóa”... góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người dân khi sử dụng
dịch vụ tài chính, qua đó thúc đẩy TTKDTM, tài chính toàn diện.
Công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu tiếp tục được
triển khai tích cực. Sự ổn định, an toàn của hệ thống các TCTD tiếp tục được giữ
vững. Quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng; năng lực tài chính, chất lượng
quản trị, điều hành từng bước được củng cố, nâng cao, tiệm cận thông lệ quốc tế.
Điều chỉnh các mức lãi suất để thực hiện mục tiêu đặt ra của chính sách tiền tệ:
Toàn cầu đứng trước xu thế tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát là chủ đạo.
Ngày 22/9/2022, FED quyết định tăng lãi suất thêm 0,75% và sau 05 lần điều
chỉnh tăng lãi suất, đưa lãi suất điều hành lên mức 3-3,25%/năm, đồng thời FED
dự báo tiếp tục tăng lãi suất và duy trì trên 4%/năm sau năm 2023 để kiềm chế
lạm phát, chỉ số USD tăng cao kỷ lục so với nhiều năm trở lại đây. Diễn biến
lạm phát thế giới và điều hành của FED gây áp lực lớn lên tâm lý nhà đầu tư,
dòng vốn rút ra tạo áp lực mất giá lớn đối với đồng tiền của các quốc gia mới
nổi trong đó có Việt Nam
Trước những tác động của tình hình thế giới và các chính sách tài chính
tiền tệ của các nước đến nền kinh tế Việt Nam, để thực hiện các mục tiêu đặt ra