TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA NGỮ VĂN VÀ LỊCH SỬ

TRẦN THỊ BẢO GIANG
VĂN HỌC NHẬT BẢN
( JAPANESE LITERATURE )
<BÀI GIẢNG TÓM TẮT DÙNG CHO
SINH VIÊN NGÀNH NHẬT BẢN HỌC, KHOA QUỐC TẾ HỌC>
(Lưu hành nội bộ)
Lâm Đồng, tháng 06 năm 2025.
2
MC LC
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VĂN HỌC NHẬT BẢN ............................................. 3
1.1 Vài nét khái quát v đất nước - con người Nht Bn ................................ 3
1.2 Khái quát văn học Nht Bn ....................................................................... 7
CHƯƠNG 2: VĂN HỌC NHẬT BẢN TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ XIX.. 10
2.1 Văn hc thi Nara (710 - 794) ................................................................... 10
2.1.1 Bi cnh lch sử, văn hóa ...................................................................... 10
2.1.2 Tập thơ Manyoshu (Vn dip tp) ......................................................... 11
2.2 Văn hc thi Heian (794 - 1192) ................................................................ 16
2.2.1 Bi cnh lch s, xã hi ......................................................................... 16
2.2.2 Đời sống văn học ................................................................................... 17
2.3 Văn hc thi Kamakura (1192 - 1338) và Muromachi (1338 - 1573) .... 22
2.3.1 Bi cnh lch s, xã hi ......................................................................... 22
2.3.2 Tập thơ Shinkokinshu (Tân c kim tp) ................................................ 24
2.3.3 Truyn k Heike (Heike monogatari) .................................................... 25
2.3.4 Sơ lược sân khu Noh ............................................................................ 26
2.4 Văn hc thi Edo (1603 - 1868) ................................................................. 29
2.4.1 Bi cnh xã hi ...................................................................................... 29
2.4.2 Đời sống văn học ................................................................................... 30
CHƯƠNG 3: VĂN HỌC NHẬT BẢN TỪ THẾ KỶ XIX ĐẾN NAY ................ 35
3.1 Bi cnh lch s, xã hi .............................................................................. 35
3.2 Đời sống văn học ......................................................................................... 36
3.2.1 Văn học thi Meiji (1868 - 1912) .......................................................... 36
3.2.2 Văn hc thi Taisho (1912 - 1926) và thi Showa (1926 - 1989) ......... 37
3.2.3 Văn hc thời Heisei (1989 đến nay) ...................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH ........................................................................ 49
3
CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC VĂN HC NHT BN
1.1 Vài nét khái quát về đất nước - con người Nhật Bản
- Điều kiện tự nhiên nước Nhật
Đất nước Nhật Bản với diện tích 377. 837 m
2
, một quần đảo trải dài từ
Đông Bắc xuống y Nam, nằm ngoài khơi bờ biển phía Đông lục địa châu Á (Nhật
Bản được xếp vào những quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc Á người phương y
vẫn quen gọi Nhật Bản vùng “Viễn Đông”). Bốn đảo chính của Nhật gồm:
Hokkaido, Honshu, Shikoku Kyushu. Với vị trí địa một quần đảo xa đại
lục, Nhật Bản đủ khoảng cách xa để tránh các cuộc xâm lăng, bành trướng lãnh
thổ nhưng đồng thời, cũng vẫn nằm trong khoảng cách gần để tiếp nhận những ảnh
hưởng từ văn hóa đại lục.
Đặc điểm tự nhiên chính của quần đảo Nhật Bản sự bất ổn địa chất với
những hoạt động bất thường của núi lửa động đất. Về khí hậu, do nằm trong vùng
gió mùa thuộc bờ biển phía Đông Á nên Nhật Bản, phạm vi thay đổi nhiệt độ rất
rộng lượng mưa ng năm tương đối lớn. Từ đó, Nhật Bản đủ bốn mùa trong
năm, với đầy đủ những đặc tính của khí hậu từ cận nhiệt đới đến ôn đới và hàn đới.
Tokyo - thủ đô Nhật Bản hiện nay - nằm trên đồng bằng Kanto, phía Thái
Bình dương, giữa đảo Honshu.
- Dân tộc Nhật
Từ việc phân tích những di tích loài người lâu đời nhất được nhận biết tại
Nhật Bản từ thời kJomon (khoảng m 8.000 - 300 trước CN), các nhà nghiên cứu
đi đến hai giả thuyết về nguồn gốc người Nhật Bản (còn được gọi Yamato) trong
lịch sử:
+ Hòn đảo Nhật Bản xa xưa không sự trú của con người, sau đó, những
người vùng khác di đến, chủ yếu những người đến từ phía nam đảo, nhất
Triều Tiên và Trung Hoa, hình thành nên tổ tiên của người Nhật ngày nay.
4
+Từ tộc người Ainu bản địa đã sinh sống trên quần đảo Nhật Bản trong
khoảng thời gian trước thời kỳ đồ đá.
Tuy nguồn gốc còn nhiều tranh cãi nhưng nhìn chung, về mặt nhân chủng
cũng như tính cách, dân tộc Nhật đã có sự thống nhất:
+ Thể chất của dân tộc Nhật mang sắc dân châu Á: da vàng, tóc đen, mắt một
mí, mũi thấp…
+ Quốc dân tính Nhật Bản:
Tính kluật cao hành động theo nhóm (quan hệ giữa người với người
trong cộng đồng, người Nhật thường theo chế tâm Amae: đối xử tử tế Wa:
giữ hòa khí).
Ý thức cao về bổn phận.
Tính lịch thiệp luôn giữ thể diện (cho bản thân cho những người xung
quanh, giri: lòng trọng danh dự).
Khéo léo và cẩn thận.
Tinh thần nhẫn nại và lạc quan.
- Kinh tế Nhật
Nhật Bản được thế giới biết đến bởi những bước tiến “thần kỳ và thần tốc” về
kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hiện đại và tài chính.
Nông nghiệp Nhật Bản đóng vai trò thứ yếu nhưng vẫn quan trọng trong
sự phát triển chung của nền kinh tế.
Các ngành ng nghiệp địa phương và truyền thống sớm phát triển. Trong đó,
dệt vải là lĩnh vực nổi bật hơn cả (phát triển mạnh ở các thành phố trong quận Tokyo
từ thời kỳ Edo (1600 - 1868)).
Tokyo phát triển thành trung tâm của ngành công nghiệp nặng sản xuất từ
thời Minh Trị (1868 - 1912) cho đến cuối Thế chiến thứ II.
Sau năm 1965, thương mại, tài chính, vận chuyển, truyền thông, cửa hàng bán
sỉ - lẻ công nghiệp phục vụ (còn gọi các ngành công nghiệp tam đẳng) bắt đầu
có những bước tiến đáng kể.
5
Tính đến m 1991, Tokyo có khoảng 799. 500 nghiệp (với quy vừa
nhỏ), tuyển dụng gần 9.5 triệu công nhân, với tổng sản lượng là 86, 1 nghìn tỷ yên
1
.
Tokyo cũng một trung tâm tài chính quan trọng với thị trường chứng khoán
được đánh giá là một trong những thị trường lớn nhất thế giới.
- Chữ viết Nhật
Đến đầu thế k thứ VIII, những văn bản đầu tiên của Nhật mới bắt đầu xuất
hiện những văn tự được ghi chép trong các văn bản y đã hoàn chỉnh gần như
ngôn ngữ Nhật hiện đại.
Hệ thống chữ viết tiếng Nhật sử dụng kết hợp cả Hán tự (kanji) hệ thống
văn tự phiên âm (kết hợp hai hình thức riêng biệt trong chữ viết âm tiết ngữ âm gọi
kana, trong đó, hiragana dấu hiệu đọc theo âm để ghi âm những từ quốc âm
gồm 50 hiệu, dựa vào đơn giản hóa cách viết thảo của chữ Hán còn katakana
ấu hiệu đọc theo âm dùng để ghi âm từ ngoại quốc), ngoài ra còn phải kể đến loại từ
vay mượn (gairaigo) chủ yếu vay mượn từ M châu Âu được viết theo bảng
ký hiệu âm tiết katakana.
Tiếng Nhật tiếng đa âm tiết (hệ thống âm tiết mở) với trật tự ngữ pháp:
chủ ng tân ngữ động từ (S - O - V).
Bên cạnh đó, hội Nhật vốn được tổ chức rất chặt chẽ theo thứ, bậc nên
trong ngôn ngữ Nhật cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính trọng,
thêm ngôn ngữ của phụ nữ (joseigo) với những đặc thù riêng thể hiện nữ tính, sự tôn
xưng hay lễ phép. Nói cách khác, ngôn ngữ Nhật, kính ngữ yếu tố đóng vai trò
quan trọng trong đời sống giao tiếp.
- Văn hóa tâm linh Nhật
Tôn giáo khởi nguyên của Nhật Bản là Thần đạo. Thần đạo ban đầu chỉ là một
tín ngưỡng dân gian chưa n gọi, n thcác thần (kami) trong thiên nhiên, tôn
thờ các hương hồn tổ tiên. Đến giữa thế kthứ VI, khi Phật giáo du nhập vào Nhật
1
Những số liệu trên chúng tôi trích dẫn từ: Eiichi Aoki (2006). Nhật Bản đất nước và con người. (bản dịch
của Nguyễn Kiên Trường). Nội: NXB Văn học. tr.34.
6
Bản thông qua cầu nối văn hóa Triều Tiên (đến thời k Nara (từ năm 710 đến năm
794), Phật giáo trở thành quốc giáo), Thần đạo được gọi n Shinto hay Kami no
michi để phân biệt với tôn giáo mới. Shinto giáo trở thành quốc giáo trong thời k
thế chiến thứ II. Đến nay, Shinto giáo tồn tại song song đôi khi hòa trộn với Phật
giáo trong đời sống tâm linh của người Nhật Bản (thể ới hỏi theo nghi thức
Shinto giáo, tang ma theo nghi lễ Phật giáo, bên cạnh các ngôi chùa thường hay
những đền nhỏ, các Kami được xem là các vị Phật và Bồ Tát hóa thân...)
Khổng giáo - tiêu biểu cho hệ thống đức - đem đến những ảnh hưởng về
quan niệm trung tín, hiếu nghĩa trong tính cách người Nhật.
Về sau, đạo đốc giáo từ các quốc gia phương Tây cũng được du nhập vào
Nhật Bản.
Các tôn giáo Nhật Bản không loại trừ, tiêu diệt nhau cùng nhau tồn tại
trong đức tin, tín ngưỡng của người dân Nhật.
Một trong những yếu tố được đánh giá cốt lõi của văn hóa tâm linh Nhật
Bản chính là Thiền hay còn gọi là Thiền tông - một tông phái của Phật giáo.
Thiền tông được truyền vào Nhật Bản khá muộn - thế kỷ XII, nhưng đã nhanh
chóng lan rộng không chỉ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật còn đi vào đời sống
hàng ngày của người Nhật (Thiền trong trà đạo, hoa đạo, trong thư pháp, hội họa,
trong kiến trúc, trong nghệ thuật tạo hình, trong m thực, trong trị bệnh…). Thiền
(Zen) chủ trương một đường lối tu luyện thân tâm, nhằm đạt đến giác ngộ. Thiền
hướng nhiều vào thực hành, không mấy đặt nặng phần kinh sách, điều y được thể
hiện trong quan niệm: “Zen một lối tu hành chuyên chú đến phần triết duy,
nhưng cũng rất chú trọng đến phương diện hành động thực tiễn
1
. Thiền, với người
Nhật, khi được tiếp nhận vẫn theo nguyên tắc tất cả các tôn giáo nước ngoài khi vào
Nhật đều trải qua những biến đổi đáng kể trong quá trình ảnh hưởng tương hỗ với
tôn giáo bản xứ, do vậy, Thiền Nhật Bản còn được xem là một phương pháp tu luyện
1
Trần Thị Minh Tâm (2007). Thiền Nhật Bản và đời sống người Nhật. NXB Văn hóa Sài Gòn, 2007, tr. 19.
7
hòa hợp phát triển bởi ba đặc tính: “Tri của Ấn Độ, Hành của Trung Hoa nh
của Nhật Bản
1
.
Nhắc đến văn hóa tâm linh Nhật Bản không thể không nhắc đến Trà đạo.
Thiền sư Murata Zyukou (1422 - 1502) được xem là bậc khai sáng ra Trà đạo,
sang thế kỷ XVII, trà sư Furuta Oribe là người có công lớn trong việc chấn hưng tinh
thần Trà đạo.
Loại trà được dùng trong Trà đạo thường Matcha (lá trà được nghiền thành
bột).
Toàn bộ nghi thức uống trà đạo cổ truyền gồm các giai đoạn như: Hoài thạch:
mời khách điểm tâm, thường một loại bánh, sau khi khách an vị; Trung lập: khách
nghỉ tại trà đình, Ngự tòa nhập: khách được dân trà đặc tại trà thất, cuối cùng giai
đoạn khách được dùng trà loãng.
Nghệ thuật Trà đạo đem đến bốn đức tính cao quý: Hòa, Kính, Thanh, Tịnh.
Như vậy, thể thấy, đời sống m linh của người Nhật rất phong phú đa
dạng, và chính sự phong phú, đa dạng ấy đã góp phần kiến tạo nên những nét đặc sắc
cho văn hóa, văn học Nhật Bản.
1.2 Khái quát văn học Nhật Bản
- Những đặc điểm chính của văn học Nhật Bản
2
+ Khác với Trung Quốc đồng thời cũng khác với châu Âu, đối với Nhật Bản, những
yếu tố như những tưởng tôn giáo, đạo đức, những học thuyết triết học…không
đóng vai trò nền tảng của đời sống n hóa tinh thần thơ, truyện kể, thủ công,
nghệ thuật trình diễn - những biểu hiện cụ thể luôn hiện diện trong đời sống hàng
1
Trần Thị Minh Tâm, Sđd, tr. 19.
2
Phần này chúng tôi chủ yếu dựa trực tiếp vào nguồn tư liệu của Nguyễn Nam Trân, Tổng quan lịch sử văn
học Nhật Bản, tại website: www.erct.com.
8
ngày của con người - mới cốt lõi của văn hóa. Do vậy, văn học Nhật Bản cũng
được biểu hiện bởi ba đặc tính chính: cụ thể, phi hệ thống và tình cảm.
+ Trong tiến trình phát triển, văn học Nhật Bản không sự xung đột để dẫn đến
thay thế giữa cái cũ và cái mới. Nói cách khác, những quan niệm thẩm mỹ của người
Nhật kể từ thời khởi thủy, xét một khía cạnh nhất định, vẫn thể hiện diện phù
hợp trong thời kỳ hiện đại.
+ Văn học Nhật Bản tính chất quy tụ về trung m: hoạt động văn học thường tập
trung đô thị. thế, đề tài của văn học Nhật đa phần xoay quanh khai thác cuộc
sống tại những thành phố lớn, những đô thị sầm uất.
+ trụ quan trong văn học Nhật Bản chịu tác động chi phối bởi ba hệ thống
tưởng: tưởng ngoại lai, tưởng bản địa tưởng chiết trung, tức tưởng
ngoại lai đã được chuyển hóa theo mô hình Nhật Bản.
- Thể loại
+ Thơ: Waka (hòa ca) waka nguyên tên chung cho các thể thơ như choka, tanka
sedoka, nhưng sau đó, khi tanka dần chiếm ưu thế, đặc biệt từ cuối thế k thứ
VIII, thì waka được xem là đồng nghĩa với tanka;
Tanka (đoản ca - 5 dòng, 31 âm tiết);
Choka (trường ca) là loại thơ không giới hạn số câu, có khi độ dài lên đến 150
dòng;
Sedoka (tuyền đầu ca) mỗi bài 38 âm tiết, chia thành 6 dòng (5,7,7,5,7,7),
thể thơ này ít thông dụng hơn cả;
Hanka (phản ca): về hình thức cũng giống như tanka nhưng hanka thường đi
kèm một bài trường ca nhiệm vụ tổng kết đồng thời tạo ra tiếng vọng
cho bài trường ca đó;…
Haiku (hài cú): thể thơ gồm 17 âm tiết, chia thành 3 dòng (5 -7 -5).
+ Văn xuôi: các tác phẩm vật ngữ (truyện kể), y bút, nhật ký, quân ký, tiểu thuyết,
manga,
+ Sân khấu: kịch Noh, Kyogen, múa rối Bunraku, ca kịch Kabuki,…
- Phân kỳ văn học Nhật Bản
9
Hiện có rất nhiều cách phân kỳ văn học Nhật Bản khác nhau.
thể sự phân kỳ theo triều đại lịch sử, bao gồm: văn học triều đại
Yamato, văn học triều đại Nara, văn học triều đại Heian, n học triều đại
Kamakura, văn học triều đại Muromachi, văn học triều đại Monoyama, văn học triều
đại Edo, văn học thời Minh Trị đến nay.
thể sự phân kỳ dựa vào tiêu chí lịch sử địa lý, thành: văn học thượng
cổ (vùng Yamato), văn học trung cổ (vùng Kyoto), văn học trung cận đại (vùng
Kamakura, Yoshino và Muromachi), văn học cận đại (ba vùng nằm trong khu vực
Kyoto, Osaka), văn học giai đoạn chuyển tiếp từ miền y sang vùng Edo thuộc
miền Đông, văn học cận kim…
Sự phân kn học Nhật Bản khi lại được dựa trên tiêu cthể loại, bao
gồm: thời đại thần thoại thi ca thuật sự, thời đại thơ trữ tình, thời đại truyện
kể…hoặc theo hình thái văn học, bao gồm: ca dao cổ đại, các loại thơ (waka, renga,
haikai…), văn học Hán văn vương triều, văn học thiền, n học Nho gia, văn học
truyện kể, văn chương du hành…
Dựa vào những cách thức phân k văn học Nhật Bản khác nhau kể trên,
chúng tôi đề xuất phân kỳ nền văn học y thành hai giai đoạn lớn: Văn học Nhật
Bản từ khởi thủy đến thế kXIX (gồm văn học thời Nara, văn học thời Heian, văn
học thời Kamakura và Muromachi, văn học thời Edo) và Văn học Nhật Bản từ thế kỷ
XIX đến nay (gồm văn học thời Meiji, văn học thời Taisho văn học thời Heisei -
văn học thời kỳ đương đại).
10
CHƯƠNG 2
VĂN HC NHT BN T KHI THỦY ĐẾN TH K XIX
Nhật Bản từ lúc lập quốc được biết đến bởi các triều đại thời Jomon (từ 8000
năm trước công nguyên đến 300 năm trước công nguyên), thời Yayoi (từ 300 năm
trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên), thời Yamato (300 - 593), thời
Asuka (593 - 710), tuy nhiên, phải đến thời Nara (710 - 794), những giá trị văn học
Nhật Bản mới thực sự được ghi nhận.
2.1 Văn hc thi Nara (710 - 794)
2.1.1 Bi cnh lch s, n hóa
Năm 710, kinh đô Nara được khởi công y dựng theo mẫu Trường An nhà
Đường (Trung Quốc), lấy tên là Heijokyo, chấm dứt chế độ di đô, mở ra thời kỳ định
đô đầu tiên của Thiên Hoàng.
Bộ luật Ritsurgo - bộ luật đầu tiên của Nhật Bản - được hoàn thành. Nhà nước
theo chính sách trung ương tập quyền và chế độ pháp trị.
Phật giáo du nhập vào Nhật Bản từ thế k thứ VI, đến thời Nara, Phật giáo đã
trở thành quốc giáo. Một số chùa được xây dựng, trong đó chùa gỗ nổi tiếng
Todaiji (nơi đặt bức tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới hiện nay).
Đầu thế k thứ V, chữ Hán được truyền sang Nhật. Đồng thời, văn hóa nhà
Đường của Trung Hoa du nhập. Đến thế kỷ thứ VII, triều đình Nhật Bản ra lệnh tập
hợp tất cả các truyền thuyết dân gian, biên soạn thành sách. m 712, công việc u
tập y hoàn tất khi tác phẩm Kojiki (
古事記 -
Cổ sự ký) ra đời. Đây cũng được xem
là điểm mốc đánh dấu sự xuất hiện của văn học Nhật Bản.
Kojiki được viết bằng tiếng Nhật (bao gồm cả chữ Hán thuần túy, cả mượn
chữ Hán như ngữ âm cả mượn chữ Hán như ngữ nghĩa). Do đặc thù một tác
phẩm tập hợp những câu chuyện xưa nên Kojiki chứa đựng cả huyền thoại những
câu chuyện kể truyền miệng dân gian về việc sáng tạo trời đất, sự hình thành Nhật
Bản, nguồn gốc các dân tộc hay những sự kiện, biến cố lịch sử lớn trong quá khứ,
vì thế, rất khó để phân định rạch ròi yếu tố thực - trong tác phẩm.
11
Kojiki bắt đầu từ khởi nguyên của trời đất kết thúc với mốc thời gian triều
đại của nữ Thiên hoàng Suiko (593 - 623), gồm ba tập: tập đầu tiên các huyền
thoại về các vị thần, tiêu biểu Huyền thoại về nữ thần Mặt Trời, (trong đó, các tác gi
dân gian đã hóa ba yếu tố cốt lõi của văn hóa: nghệ thuật, ởng sức mạnh
dưới dạng ba vị thần: nữ thần Nghệ thuật Uzume, thần ởng Omoikane, thần
Sức mạnh Tazikarao cùng những mối quan hệ tương hỗ để tôn vinh nữ thần Mặt
Trời); tập hai cuộc đời của các vị anh hùng (thường gắn liền với sự trợ giúp hay
cản trở từ thần linh); tập ba những câu chuyện về niềm vui hay nỗi buồn nhân thế
(nhân vật trung tâm là con người, thần linh đã vắng bóng).
Kojiki, xét về mặt thể loại, sự pha trộn giữa thơ ca truyện kể. Cũng từ
đó, tác phẩm còn được xem là bước khởi đầu cho truyền thống truyện kể đặc sắc của
văn hóa, văn học Nhật Bản, đồng thời, những bài ca trong Kojiki thể được coi
những kiểu mẫu đầu tiên cho thể thơ tanka (đoản ca) của thi ca Nhật Bản.
Năm 720, Nihonshoki (
日本書紀
- Nhật Bản thư kỉ) hay Nihongi (Nhật Bản kỉ)
- một bộ sách có nội dung tương tự Kojiki ra đời.
Nihongi được viết bằng Hán văn, ghi lại những chuyện của nuớc Nhật cổ xưa
từ khởi thủy đến thế kỷ thứ VII, dưới nh thức một biên niên sử. Tuy nhiên, không
chỉ đơn thuần kể lại huyền thoại hay những câu chuyện lịch sử Nihongi còn phần
nào hướng tới diễn giải chúng. vậy, nếu Kojiki nghiêng về văn hóa, văn học thì
Nihongi nghiêng về sử học nhiều hơn.
Sau Kojiki Nihongi, sẽ là thiếu sót nếu nhắc đến đời sống văn hóa, văn học
Nhật Bản thời ky không đề cập đến bộ Manyoshu (
万葉集 -
Vạn diệp tập)
hay Manyogana (Vạn diệp giả danh) - hợp tuyển thơ ca gồm 4500 bài, viết bằng
Nhật ngữ, ra đời khoảng năm 760.
2.1.2 Tập thơ Manyoshu (Vn dip tp)
Đội ngũ sáng tác tập Manyoshu thuộc mọi tầng lớp trong hội Nhật Bản lúc
bấy giờ, từ Thiên hoàng, quý tộc, chúa, ớng quân đến binh nh, nông dân…và
12
cả những tác giả khuyết danh. Trong đó, người biên soạn chính thể kể đến
Yakamochi.
Manyoshu xoay quanh ba đề tài lớn: thiên nhiên, tình yêu và xã hội
- Thiên nhiên: ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nuớc, vẻ đẹp chuyển hóa kỳ
ảo trong bốn mùa mang đậm màu sắc Nhật Bản với núi Fuji, biển Iwami, mũi
Kara…
Đề tài y thường được thể hiện đặc sắc qua những bài tanka của Akahito -
bậc thầy của thơ ca trữ tình:
1
Trên nhánh tử đằng
Ôi, hoa nở rộ
trong lòng đất ấy
phải chăng
nàng đang nằm ngủ
(Bài 1471)
…qua những bài tanka của các tác giả khuyết danh:
Đàn nhạn bay về
Cây phong của ta ơi
đến lượt em rồi đó
đã sang mùa
em hãy đổi màu đi
(Bài 2183)
1
Những bài tanka này chúng tôi lấy nguồn từ: Nhật Chiêu (2000). Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868.
Hà Nội: Nxb Giáo dục. Tr. 41, 42, 43, 44, 47, 50, 51.
Tôi đi hái
những bông hoa tím
trên cánh đồng
và tôi ở lại
ngủ giữa mùa xuân
(Bài 1424)
Một ngọn đồi đỏ thắm
ai mang áo trắng
mà đi qua đồi
và áo kia lấp lánh
màu lá thu sáng ngời
(Bài 2192)
13
…hay qua trường ca về Fuji của Mushimaro:
Có thấy chăng, hỡi ai
đỉnh Fuji bên trời
che bóng trên các xứ
Suruga và Kai.
Cả những vầng mây trắng
không dám giăng ngang đầu
sợ vùng linh thiêng ấy
chim nào dám bay cao
chỉ có tuyết và lửa
trên đầu non đấu nhau.
(Bài 319)
- Tình yêu: thể tình yêu trong những mối quan hệ ruột thịt như cha con,
anh em, chồng vợ…
Bài bi ca của Hitomaro trước cái chết của người vợ:
Bên bờ sông ngày trước
chúng tôi cùng ngắm nhìn
cây du xanh lá
Khi mùa xuân sang
Cây du tươi thắm
Đẹp xinh cũng như nàng
Và cả tâm hồn tôi
14
say đắm một tình yêu.
Nhưng nàng đã chết
Phù du cuộc đời
Làm sao trốn tránh
Khi phải tàn rơi?
Bài hanka của Okura về cái chết của đứa con trai:
Hỡi người dẫn đường
của thế giới bên kia
hãy nhận món quà và lời cầu khấn
hãy cõng con tôi trên lưng
trên lối đi mà nó chưa từng biết
…có thể nh yêu đôi lứa: qua các bài tình ca, còn gọi luyến ca (renka) của các
tác giả khuyết danh:
Một chùm tuyết trắng
trên cành mơ tươi
hái tuyết cho người
nhưng lòng tay ấm
tuyết tan đi rồi
(Bài 1833)
Gió ơi, từ biển cả
sao không thổi về đây
những gì ta chờ đợi
Làm sao ta thấy
người ta mến thương
và lòng mong mỏi
khác nào ngọn núi
Fuji cháy bùng!
(Bài 2695)
15
làn sương mù mơi ấy
và hơi thở của ai
(Bài 3616)
- Xã hội: hướng đến sự huy hoàng, vinh quang của đất nước
Bài thơ viết trong bữa tiệc đưa tiễn vị đại sứ sang Trung Quốc:
Gió và sóng đang chìm đi
Trên cánh đồng mặt biển xanh lam
Con tàu đưa Ngài vượt biển xanh và không gì cản trở
Lúc Ngài ra đi cũng như lúc Ngài trở về
1
…hoặc miêu tả cảnh nghèo túng, lầm than của những kẻ khó. Tiêu biểu cho đề tài
này là những tác phẩm của Okura - người được mệnh danh là “nhà thơ của nhân thế”
với bài thơ đặc sắc: Về cảnh nghèo khốn (con người khốn khổ m vào cảnh nghiệt
ngã: trong đêm giông bão, mưa tuyết, khi thức ăn chỉ còn muối, đồ uống chỉ
rượu, không đủ quần áo ấm, con người y hình dung một cuộc đối thoại với kẻ khổ
sở, khốn cùng hơn anh ta…và đến khi cha mẹ, vợ con cũng ngày càng khốn quẫn,
thêm vào đó sự thúc thuế, con người khốn khổ đó đành buông xuôi với câu tự vấn
day dứt muôn đời: “Cuộc sống là như vậy đó sao?”)
Ngoài ra, Manyoshu còn một mảng đề tài đề cập đến các huyền thoại
truyền thuyết dân gian. (Trường ca về Urashima)
Như vậy, thể thấy những giá trị Manyoshu mang lại đã góp phần giúp
cho tập thơ được đánh giá “tiếng hát bất tuyệt về cuộc đời thiên nhiên, một thi
1
R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2003). Lịch sử Nhật Bản, (bản dịch của Nguyễn Văn Sỹ). Hà Nội: NXB Lao
Động. Tr. 56.
16
tuyển độc đáo giàu sang”
1
và Manyoshu còn là “thơ ca từ mọi nẻo đường đời của
Nhật Bản ban sơ”
2
.
2.2 Văn hc thi Heian (794 - 1192)
2.2.1 Bi cnh lch s, xã hi
Năm 794, Thiên Hoàng Kammu dời đô từ Nara về Heian (Kyoto), mở đầu
thời kỳ thịnh trị và thái bình.
Năm 805, đại Saicho từ Trung Quốc tr về nước, lập Thiên Thai tông
(tendai) - một tông phái Phật giáo của Trung Quốc muốn kết hợp mọi giáo của
Phật giáo dành cho dân gian.
Năm 806, đại Kukai (còn gọi Kobo) tTrung Quốc trở về nước, lập
Chân ngôn tông (Shingon) - một tông phái Mật giáo mang nặng tính chất huyền bí.
Năm 810, thành lập cơ quan kho bạc gia đình và thiết lập cơ quan cảnh sát thủ
đô. Từ đó, chế độ cai trị trung ương được hợp lý hóa.
Cuối thế k thứ IX, quyền lực từ Thiên Hoàng dần chuyển sang dòng họ
Fujiwara khi quý tộc cung đình đều bắt nguồn từ dòng họ y. Triều đình mất
quyền kiểm soát đất nước. Thiên Hoàng chỉ còn nhìn. Quan nhiếp chính nắm
việc cai quản chính quyền. Giới quý tộc bên cạnh việc đem lại những đóng góp to
lớn với đời sống văn hóa khi lập ra các học viện, văn viện thì cuộc sống của họ chủ
yếu sự hưởng thụ xa hoa với thú vui cầm, kỳ, thi, họa, với những buổi yến tiệc,
ngắm hoa, thưởng nguyệt….thế, thời đại Heian còn được gọi thời đại quý tộc,
công gia.
Xã hội Nhật lúc này theo chế độ hoàng gia trung ương tập quyền.
Đến năm 1068, dòng họ Fujiwara mất dần ưu thế thống trị.
Năm 1175, đại sư Honen lập Tịnh độ tông.
1
Nhật Chiêu, Sđd, tr. 56.
2
Nhận định của W.Naumann trong An invitation to Japan’s Literature, Japan Culture institute, 1974, trang
44; Trích lại từ Nhật Chiêu (2000), Sđd, tr. 56.
17
Về mặt đời sống hội, thời Heian, chế độ phân chia ruộng đất được thay thế
bằng chế độ kế thừa. Vì thế, các thái ấp (shoen) phát triển rầm rộ. Chủ nhân các thái
ấp lập các nhóm vệ sỹ để tự vệ, tạo ra sự khởi đầu của hệ thống samurai sau này.
Cuối thời Heian, triều đình suy đồi, các phe phái địa phương lũng đoạn, trong
đó nổi lên hai thế lực lớn giữa gia đình Minamoto và gia đình Taira.
2.2.2 Đời sống văn học
Văn học Heian tồn tại với hai dòng:
- Những tác phẩm viết bằng tiếng Trung Quốc theo hệ thống ngữ âm
hiệu, thường là của các tác giả nam.
- Những tác phẩm viết bằng tiếng Nhật, viết bằng những hiệu ngữ âm
bản xứ, thường lực lượng sáng tác là các tác giả nữ.
Ba đặc điểm nổi bật của văn học Heian:
Trong đó:
- Người công lớn cho sự phát triển của văn tự Kana chính Kukai (Kobo) -
người lập nên Chân Ngôn tông Nhật Bản.
- Kana không phải một hệ thống âm tố hệ thống âm tiết, 50 hiệu.
Tương truyền sự xuất hiện của kana bắt nguồn từ sự nghiên cứu tiếng Phạn của các
nhà sư khi họ tìm hiểu hệ thống chữ cái của Ấn Độ.
Văn
chương nữ
lưu nở rộ
Đa dạng về thể
loại
Văn tự
Kana phát
triển
18
- Đến thời Heian, phần lớn tác giả của các tác phẩm văn học cổ điển nổi tiếng đều
thuộc nữ giới, tiêu biểu như: Truyện Genji của Murasaki, Sách gối đầu của Sei
Shonagon…
- Về thể loại: bên cạnh sự ngày càng thịnh hành của tanka, một thể loại mới: kim
dạng ca (Imayo - uta) đã xuất hiện (mỗi bài thông thường bốn câu); thể loại
truyện, được gọi là monogatari (vật ngữ) nở r.
Ngoài ra, các thể loại như y t (zuihitsu), nhật (nikki) cũng đạt được
những thành tựu đáng kể (tùy bút Sách gối đầu Sei Shonagon, Nhật Murasaki
Murasaki Shikibu, Nhật Kagero tác giả nữ khuyết danh, Nhật Sarashima
tác giả là con gái của Sugawara Takasue…).
2.2.2.1 Tập thơ Kokinshu (Cổ kim tập)
Truyện
(物語 - Monogatari)
Truyện nửa thơ nửa văn xuôi
(Uta monogatari)
Truyện xứ Ise
Truyện thần kỳ
Truyện người đốn tre,
Truyện hốc cây
Truyện truyền thuyết Truyện nàng Ochikubo
Truyện diễm tình
Truyện xứ Ise, Truyện
xứ Yamato
Truyện tâm lý
Truyện nếu như đổi được,
Truyện Genji
Truyện lịch sử Truyện Eika
Truyện cổ tích Kim Tích vật ngữ
19
Tác phẩm được biên soạn theo sắc lệnh của triều đình, hoàn tất m 905, do
thi sỹ Ki no Tsurayaki chủ biên, với tên đầy đủ là Kokinwakashu (Cổ kim hòa ca tập)
gồm 1111 bài thơ (bốn bài sekoda, năm bài choka, còn lại là tanka).
Kokinshu được chia thành 20 quyển:
1
- Sáu quyển đầu dành cho các bài thơ về bốn mùa.
- Quyển bảy là thơ ca về hạnh phúc.
- Quyển tám có chủ đề biệt ly.
- Quyển chín viết về du hành.
- Quyển mười xoay quanh tên sự vật bao gồm cỏ hoa, chim muông, nơi
chốn…
- Từ quyển mười một đến mười lăm là thơ tình.
- Quyển mười sáu dành cho bi ca.
- Quyển mười bảy và mười tám trải rộng nhiều đề tài khác nhau, tạp loại.
- Quyển mười chín chứa đựng một vài thể thơ Nhật khác, ngoài tanka, như
bốn bài sekoda và bốn bài choka.
- Quyển cuối cùng những bài thơ nghi lễ soạn cho triều đình, một số
bài diễn tả tín ngưỡng ở vùng đông bắc xa xôi.
Kokinshu chủ yếu chứa những bài thơ ngắn, viết theo thể tanka - thể thơ 5
dòng với quy định về số lượng âm tiết: 5 -7 -5 -7 -7.
Xét về nghệ thuật, nếu đặt trong sự so sánh với Manyoshu thì đến Kokinshu,
nghệ thuật thi ca đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh tế hơn: vẻ tao nhã, chất hóm
hỉnh kỹ năng trong cách viết đặc tính của tuyển tập đã trở thành những tiêu
chuẩn đánh dấu một xã hội có học thức”
2
.
Các tác giả tiêu biểu của Kokinshu, bên cạnh các thi khuyết danh, thể kể
đến: Narihita, Tsurayuki, Komachi, Ise, …
Một số bài tanka tiêu biểu trong Kokinshu:
1
Nhật Chiêu (2000). Sđd, tr. 72.
2
R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2023). Sđd, tr.84
20
Trong những vòng xoáy
của cơn gió lốc
Những đóa hoa anh đào bị cuốn tung theo nhấp nhô
Khác nào những lớp sóng trào lên
Tận trời xanh không bụi nước.
1
(Tsurayuki)
Thực tế ra
Có thể: sống làm người là hay
Nhưng thậm chí ngay trong giấc mộng
Tự nhìn mình trước mắt người
Thấy mình đã co lại! Thực buồn biết mấy
2
(Komachi)
2.2.2.2 Truyện Genji (源氏物語 物語 - Genji monogatari)
Được đánh giá một trong những cuốn tiểu thuyết vđại của văn học Nhật
Bản, Truyện Genji là tác phẩm của một nữ tác giả thuộc dòng họ quý tộc Fujiwara,
tên thường gọi là Murasaki Shikibu.
Truyện Genji - một trường thiên tiểu thuyết lãng mạn xoay quanh cuộc sống
những mối tình của hoàng tử Genji, nhân vật chính - dài khoảng 3000 trang, với
khoảng 400 nhân vật, hơn 30 nhân vật chính, bao gồm 54 chương, được chia thành 2
phần:
Phần đầu (40 chương): kể về cuộc đời của hoàng tử Genji, còn được gọi
Hikaru Genji, tức Genji sáng chói. Chủ yếu trong phần y, tác giả xoáy sâu vào
miêu tả những cuộc phiêu lưu tình ái của hoàng tử Genji đồng thời, thông qua đó
1
R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2023). Sđd, tr.84
2
R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2023). Sđd, tr.85

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA NGỮ VĂN VÀ LỊCH SỬ 
TRẦN THỊ BẢO GIANG
VĂN HỌC NHẬT BẢN ( JAPANESE LITERATURE )
SINH VIÊN NGÀNH NHẬT BẢN HỌC, KHOA QUỐC TẾ HỌC>
(Lưu hành nội bộ)
Lâm Đồng, tháng 06 năm 2025. MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VĂN HỌC NHẬT BẢN ............................................. 3 1.1
Vài nét khái quát về đất nước - con người Nhật Bản ................................ 3 1.2
Khái quát văn học Nhật Bản ....................................................................... 7
CHƯƠNG 2: VĂN HỌC NHẬT BẢN TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ XIX.. 10 2.1
Văn học thời Nara (710 - 794) ................................................................... 10 2.1.1
Bối cảnh lịch sử, văn hóa ...................................................................... 10 2.1.2
Tập thơ Manyoshu (Vạn diệp tập) ......................................................... 11 2.2
Văn học thời Heian (794 - 1192) ................................................................ 16 2.2.1
Bối cảnh lịch sử, xã hội ......................................................................... 16 2.2.2
Đời sống văn học ................................................................................... 17 2.3
Văn học thời Kamakura (1192 - 1338) và Muromachi (1338 - 1573) .... 22 2.3.1
Bối cảnh lịch sử, xã hội ......................................................................... 22 2.3.2
Tập thơ Shinkokinshu (Tân cổ kim tập) ................................................ 24 2.3.3
Truyện kể Heike (Heike monogatari) .................................................... 25 2.3.4
Sơ lược sân khấu Noh ............................................................................ 26 2.4
Văn học thời Edo (1603 - 1868) ................................................................. 29 2.4.1
Bối cảnh xã hội ...................................................................................... 29
2.4.2 Đời sống văn học ................................................................................... 30
CHƯƠNG 3: VĂN HỌC NHẬT BẢN TỪ THẾ KỶ XIX ĐẾN NAY ................ 35 3.1
Bối cảnh lịch sử, xã hội .............................................................................. 35
3.2 Đời sống văn học ......................................................................................... 36
3.2.1 Văn học thời Meiji (1868 - 1912) .......................................................... 36 3.2.2
Văn học thời Taisho (1912 - 1926) và thời Showa (1926 - 1989) ......... 37 3.2.3
Văn học thời Heisei (1989 đến nay) ...................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH ........................................................................ 49 2 CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC VĂN HỌC NHẬT BẢN 1.1
Vài nét khái quát về đất nước - con người Nhật Bản
- Điều kiện tự nhiên nước Nhật
Đất nước Nhật Bản với diện tích 377. 837 m2, là một quần đảo trải dài từ
Đông Bắc xuống Tây Nam, nằm ngoài khơi bờ biển phía Đông lục địa châu Á (Nhật
Bản được xếp vào những quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc Á và người phương Tây
vẫn quen gọi Nhật Bản là vùng “Viễn Đông”). Bốn đảo chính của Nhật gồm:
Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu. Với vị trí địa lý là một quần đảo ở xa đại
lục, Nhật Bản có đủ khoảng cách xa để tránh các cuộc xâm lăng, bành trướng lãnh
thổ nhưng đồng thời, cũng vẫn nằm trong khoảng cách gần để tiếp nhận những ảnh
hưởng từ văn hóa đại lục.
Đặc điểm tự nhiên chính của quần đảo Nhật Bản là sự bất ổn địa chất với
những hoạt động bất thường của núi lửa và động đất. Về khí hậu, do nằm trong vùng
gió mùa thuộc bờ biển phía Đông Á nên ở Nhật Bản, phạm vi thay đổi nhiệt độ rất
rộng và lượng mưa hàng năm tương đối lớn. Từ đó, Nhật Bản có đủ bốn mùa trong
năm, với đầy đủ những đặc tính của khí hậu từ cận nhiệt đới đến ôn đới và hàn đới.
Tokyo - thủ đô Nhật Bản hiện nay - nằm trên đồng bằng Kanto, phía Thái
Bình dương, giữa đảo Honshu. - Dân tộc Nhật
Từ việc phân tích những di tích loài người lâu đời nhất được nhận biết tại
Nhật Bản từ thời kỳ Jomon (khoảng năm 8.000 - 300 trước CN), các nhà nghiên cứu
đi đến hai giả thuyết về nguồn gốc người Nhật Bản (còn được gọi là Yamato) trong lịch sử:
+ Hòn đảo Nhật Bản xa xưa không có sự cư trú của con người, sau đó, những
người ở vùng khác di cư đến, chủ yếu là những người đến từ phía nam đảo, nhất là
Triều Tiên và Trung Hoa, hình thành nên tổ tiên của người Nhật ngày nay. 3
+Từ tộc người Ainu bản địa đã sinh sống trên quần đảo Nhật Bản trong
khoảng thời gian trước thời kỳ đồ đá.
Tuy nguồn gốc còn nhiều tranh cãi nhưng nhìn chung, về mặt nhân chủng
cũng như tính cách, dân tộc Nhật đã có sự thống nhất:
+ Thể chất của dân tộc Nhật mang sắc dân châu Á: da vàng, tóc đen, mắt một mí, mũi thấp…
+ Quốc dân tính Nhật Bản:
 Tính kỷ luật cao và hành động theo nhóm (ở quan hệ giữa người với người
trong cộng đồng, người Nhật thường theo cơ chế tâm lý Amae: đối xử tử tế và Wa: giữ hòa khí).
 Ý thức cao về bổn phận.
 Tính lịch thiệp và luôn giữ thể diện (cho bản thân và cho những người xung
quanh, giri: lòng trọng danh dự).
 Khéo léo và cẩn thận.
 Tinh thần nhẫn nại và lạc quan. - Kinh tế Nhật
Nhật Bản được thế giới biết đến bởi những bước tiến “thần kỳ và thần tốc” về
kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hiện đại và tài chính.
Nông nghiệp ở Nhật Bản dù đóng vai trò thứ yếu nhưng vẫn quan trọng trong
sự phát triển chung của nền kinh tế.
Các ngành công nghiệp địa phương và truyền thống sớm phát triển. Trong đó,
dệt vải là lĩnh vực nổi bật hơn cả (phát triển mạnh ở các thành phố trong quận Tokyo
từ thời kỳ Edo (1600 - 1868)).
Tokyo phát triển thành trung tâm của ngành công nghiệp nặng và sản xuất từ
thời Minh Trị (1868 - 1912) cho đến cuối Thế chiến thứ II.
Sau năm 1965, thương mại, tài chính, vận chuyển, truyền thông, cửa hàng bán
sỉ - lẻ và công nghiệp phục vụ (còn gọi là các ngành công nghiệp tam đẳng) bắt đầu
có những bước tiến đáng kể. 4
Tính đến năm 1991, Tokyo có khoảng 799. 500 xí nghiệp (với quy mô vừa và
nhỏ), tuyển dụng gần 9.5 triệu công nhân, với tổng sản lượng là 86, 1 nghìn tỷ yên1.
Tokyo cũng là một trung tâm tài chính quan trọng với thị trường chứng khoán
được đánh giá là một trong những thị trường lớn nhất thế giới. - Chữ viết Nhật
Đến đầu thế kỷ thứ VIII, những văn bản đầu tiên của Nhật mới bắt đầu xuất
hiện và những văn tự được ghi chép trong các văn bản này đã hoàn chỉnh gần như
ngôn ngữ Nhật hiện đại.
Hệ thống chữ viết tiếng Nhật sử dụng kết hợp cả Hán tự (kanji) và hệ thống
văn tự phiên âm (kết hợp hai hình thức riêng biệt trong chữ viết âm tiết ngữ âm gọi
là kana, trong đó, hiragana là dấu hiệu đọc theo âm để ghi âm những từ quốc âm –
gồm 50 ký hiệu, dựa vào đơn giản hóa cách viết thảo của chữ Hán – còn katakana là
ấu hiệu đọc theo âm dùng để ghi âm từ ngoại quốc), ngoài ra còn phải kể đến loại từ
vay mượn (gairaigo) – chủ yếu vay mượn từ Mỹ và châu Âu – được viết theo bảng
ký hiệu âm tiết katakana.
Tiếng Nhật là tiếng đa âm tiết (có hệ thống âm tiết mở) với trật tự ngữ pháp:
chủ ngữ – tân ngữ – động từ (S - O - V).
Bên cạnh đó, xã hội Nhật vốn được tổ chức rất chặt chẽ theo thứ, bậc nên
trong ngôn ngữ Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính trọng, có
thêm ngôn ngữ của phụ nữ (joseigo) với những đặc thù riêng thể hiện nữ tính, sự tôn
xưng hay lễ phép. Nói cách khác, ở ngôn ngữ Nhật, kính ngữ là yếu tố đóng vai trò
quan trọng trong đời sống giao tiếp.
- Văn hóa tâm linh Nhật
Tôn giáo khởi nguyên của Nhật Bản là Thần đạo. Thần đạo ban đầu chỉ là một
tín ngưỡng dân gian chưa có tên gọi, tôn thờ các thần (kami) trong thiên nhiên, tôn
thờ các hương hồn tổ tiên. Đến giữa thế kỷ thứ VI, khi Phật giáo du nhập vào Nhật
1 Những số liệu trên chúng tôi trích dẫn từ: Eiichi Aoki (2006). Nhật Bản đất nước và con người. (bản dịch
của Nguyễn Kiên Trường). Hà Nội: NXB Văn học. tr.34. 5
Bản thông qua cầu nối văn hóa Triều Tiên (đến thời kỳ Nara (từ năm 710 đến năm
794), Phật giáo trở thành quốc giáo), Thần đạo được gọi tên là Shinto hay Kami no
michi để phân biệt với tôn giáo mới. Shinto giáo trở thành quốc giáo trong thời kỳ
thế chiến thứ II. Đến nay, Shinto giáo tồn tại song song và đôi khi hòa trộn với Phật
giáo trong đời sống tâm linh của người Nhật Bản (có thể là cưới hỏi theo nghi thức
Shinto giáo, tang ma theo nghi lễ Phật giáo, bên cạnh các ngôi chùa thường hay có
những đền nhỏ, các Kami được xem là các vị Phật và Bồ Tát hóa thân...)
Khổng giáo - tiêu biểu cho hệ thống đức lý - đem đến những ảnh hưởng về
quan niệm trung tín, hiếu nghĩa trong tính cách người Nhật.
Về sau, đạo Cơ đốc giáo từ các quốc gia phương Tây cũng được du nhập vào Nhật Bản.
Các tôn giáo ở Nhật Bản không loại trừ, tiêu diệt nhau mà cùng nhau tồn tại
trong đức tin, tín ngưỡng của người dân Nhật.
Một trong những yếu tố được đánh giá là cốt lõi của văn hóa tâm linh Nhật
Bản chính là Thiền hay còn gọi là Thiền tông - một tông phái của Phật giáo.
Thiền tông được truyền vào Nhật Bản khá muộn - thế kỷ XII, nhưng đã nhanh
chóng lan rộng không chỉ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật mà còn đi vào đời sống
hàng ngày của người Nhật (Thiền trong trà đạo, hoa đạo, trong thư pháp, hội họa,
trong kiến trúc, trong nghệ thuật tạo hình, trong ẩm thực, trong trị bệnh…). Thiền
(Zen) chủ trương một đường lối tu luyện thân tâm, nhằm đạt đến giác ngộ. Thiền
hướng nhiều vào thực hành, không mấy đặt nặng phần kinh sách, điều này được thể
hiện trong quan niệm: “Zen là một lối tu hành chuyên chú đến phần triết lý tư duy,
nhưng cũng rất chú trọng đến phương diện hành động thực tiễn” 1. Thiền, với người
Nhật, khi được tiếp nhận vẫn theo nguyên tắc tất cả các tôn giáo nước ngoài khi vào
Nhật đều trải qua những biến đổi đáng kể trong quá trình ảnh hưởng tương hỗ với
tôn giáo bản xứ, do vậy, Thiền Nhật Bản còn được xem là một phương pháp tu luyện
1 Trần Thị Minh Tâm (2007). Thiền Nhật Bản và đời sống người Nhật. NXB Văn hóa Sài Gòn, 2007, tr. 19. 6
hòa hợp và phát triển bởi ba đặc tính: “Tri của Ấn Độ, Hành của Trung Hoa và Tình
của Nhật Bản1.
Nhắc đến văn hóa tâm linh Nhật Bản không thể không nhắc đến Trà đạo.
Thiền sư Murata Zyukou (1422 - 1502) được xem là bậc khai sáng ra Trà đạo,
sang thế kỷ XVII, trà sư Furuta Oribe là người có công lớn trong việc chấn hưng tinh thần Trà đạo.
Loại trà được dùng trong Trà đạo thường là Matcha (lá trà được nghiền thành bột).
Toàn bộ nghi thức uống trà đạo cổ truyền gồm các giai đoạn như: Hoài thạch:
mời khách điểm tâm, thường là một loại bánh, sau khi khách an vị; Trung lập: khách
nghỉ tại trà đình, Ngự tòa nhập: khách được dân trà đặc tại trà thất, cuối cùng là giai
đoạn khách được dùng trà loãng.
Nghệ thuật Trà đạo đem đến bốn đức tính cao quý: Hòa, Kính, Thanh, Tịnh.
Như vậy, có thể thấy, đời sống tâm linh của người Nhật rất phong phú và đa
dạng, và chính sự phong phú, đa dạng ấy đã góp phần kiến tạo nên những nét đặc sắc
cho văn hóa, văn học Nhật Bản. 1.2
Khái quát văn học Nhật Bản
- Những đặc điểm chính của văn học Nhật Bản 2
+ Khác với Trung Quốc đồng thời cũng khác với châu Âu, đối với Nhật Bản, những
yếu tố như những tư tưởng tôn giáo, đạo đức, những học thuyết triết học…không
đóng vai trò là nền tảng của đời sống văn hóa tinh thần mà thơ, truyện kể, thủ công,
nghệ thuật trình diễn - những biểu hiện cụ thể luôn hiện diện trong đời sống hàng
1 Trần Thị Minh Tâm, Sđd, tr. 19.
2Phần này chúng tôi chủ yếu dựa trực tiếp vào nguồn tư liệu của Nguyễn Nam Trân, Tổng quan lịch sử văn
học Nhật Bản
, tại website: www.erct.com. 7
ngày của con người - mới là cốt lõi của văn hóa. Do vậy, văn học Nhật Bản cũng
được biểu hiện bởi ba đặc tính chính: cụ thể, phi hệ thống và tình cảm.
+ Trong tiến trình phát triển, văn học Nhật Bản không có sự xung đột để dẫn đến
thay thế giữa cái cũ và cái mới. Nói cách khác, những quan niệm thẩm mỹ của người
Nhật kể từ thời khởi thủy, xét ở một khía cạnh nhất định, vẫn có thể hiện diện phù
hợp trong thời kỳ hiện đại.
+ Văn học Nhật Bản có tính chất quy tụ về trung tâm: hoạt động văn học thường tập
trung ở đô thị. Vì thế, đề tài của văn học Nhật đa phần xoay quanh khai thác cuộc
sống tại những thành phố lớn, những đô thị sầm uất.
+ Vũ trụ quan trong văn học Nhật Bản chịu tác động chi phối bởi ba hệ thống tư
tưởng: tư tưởng ngoại lai, tư tưởng bản địa và tư tưởng chiết trung, tức tư tưởng
ngoại lai đã được chuyển hóa theo mô hình Nhật Bản. - Thể loại
+ Thơ: Waka (hòa ca) waka nguyên là tên chung cho các thể thơ như choka, tanka
và sedoka, nhưng sau đó, khi tanka dần chiếm ưu thế, đặc biệt từ cuối thế kỷ thứ
VIII, thì waka được xem là đồng nghĩa với tanka;
Tanka (đoản ca - 5 dòng, 31 âm tiết);
Choka (trường ca) là loại thơ không giới hạn số câu, có khi độ dài lên đến 150 dòng;
Sedoka (tuyền đầu ca) mỗi bài có 38 âm tiết, chia thành 6 dòng (5,7,7,5,7,7),
thể thơ này ít thông dụng hơn cả;
Hanka (phản ca): về hình thức cũng giống như tanka nhưng hanka thường đi
kèm một bài trường ca và có nhiệm vụ tổng kết đồng thời tạo ra tiếng vọng
cho bài trường ca đó;…
Haiku (hài cú): thể thơ gồm 17 âm tiết, chia thành 3 dòng (5 -7 -5).
+ Văn xuôi: các tác phẩm vật ngữ (truyện kể), tùy bút, nhật ký, quân ký, tiểu thuyết, manga,…
+ Sân khấu: kịch Noh, Kyogen, múa rối Bunraku, ca kịch Kabuki,…
- Phân kỳ văn học Nhật Bản 8
Hiện có rất nhiều cách phân kỳ văn học Nhật Bản khác nhau.
Có thể là sự phân kỳ theo triều đại lịch sử, bao gồm: văn học triều đại
Yamato, văn học triều đại Nara, văn học triều đại Heian, văn học triều đại
Kamakura, văn học triều đại Muromachi, văn học triều đại Monoyama, văn học triều
đại Edo, văn học thời Minh Trị đến nay.
Có thể là sự phân kỳ dựa vào tiêu chí lịch sử và địa lý, thành: văn học thượng
cổ (vùng Yamato), văn học trung cổ (vùng Kyoto), văn học trung cận đại (vùng
Kamakura, Yoshino và Muromachi), văn học cận đại (ba vùng nằm trong khu vực
Kyoto, Osaka), văn học giai đoạn chuyển tiếp từ miền Tây sang vùng Edo thuộc
miền Đông, văn học cận kim…
Sự phân kỳ văn học Nhật Bản có khi lại được dựa trên tiêu chí thể loại, bao
gồm: thời đại thần thoại và thi ca thuật sự, thời đại thơ trữ tình, thời đại truyện
kể…hoặc theo hình thái văn học, bao gồm: ca dao cổ đại, các loại thơ (waka, renga,
haikai…), văn học Hán văn vương triều, văn học thiền, văn học Nho gia, văn học
truyện kể, văn chương du hành…
Dựa vào những cách thức phân kỳ văn học Nhật Bản khác nhau kể trên,
chúng tôi đề xuất phân kỳ nền văn học này thành hai giai đoạn lớn: Văn học Nhật
Bản từ khởi thủy đến thế kỷ XIX (gồm văn học thời Nara, văn học thời Heian, văn
học thời Kamakura và Muromachi, văn học thời Edo) và Văn học Nhật Bản từ thế kỷ
XIX đến nay (gồm văn học thời Meiji, văn học thời Taisho và văn học thời Heisei -
văn học thời kỳ đương đại). 9 CHƯƠNG 2
VĂN HỌC NHẬT BẢN TỪ KHỞI THỦY ĐẾN THẾ KỶ XIX
Nhật Bản từ lúc lập quốc được biết đến bởi các triều đại thời Jomon (từ 8000
năm trước công nguyên đến 300 năm trước công nguyên), thời Yayoi (từ 300 năm
trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên), thời Yamato (300 - 593), thời
Asuka (593 - 710), tuy nhiên, phải đến thời Nara (710 - 794), những giá trị văn học
Nhật Bản mới thực sự được ghi nhận. 2.1
Văn học thời Nara (710 - 794)
2.1.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa
Năm 710, kinh đô Nara được khởi công xây dựng theo mẫu Trường An nhà
Đường (Trung Quốc), lấy tên là Heijokyo, chấm dứt chế độ di đô, mở ra thời kỳ định
đô đầu tiên của Thiên Hoàng.
Bộ luật Ritsurgo - bộ luật đầu tiên của Nhật Bản - được hoàn thành. Nhà nước
theo chính sách trung ương tập quyền và chế độ pháp trị.
Phật giáo du nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ VI, đến thời Nara, Phật giáo đã
trở thành quốc giáo. Một số chùa được xây dựng, trong đó có chùa gỗ nổi tiếng
Todaiji (nơi đặt bức tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới hiện nay).
Đầu thế kỷ thứ V, chữ Hán được truyền sang Nhật. Đồng thời, văn hóa nhà
Đường của Trung Hoa du nhập. Đến thế kỷ thứ VII, triều đình Nhật Bản ra lệnh tập
hợp tất cả các truyền thuyết dân gian, biên soạn thành sách. Năm 712, công việc sưu
tập ấy hoàn tất khi tác phẩm Kojiki (古事記 - Cổ sự ký) ra đời. Đây cũng được xem
là điểm mốc đánh dấu sự xuất hiện của văn học Nhật Bản.
Kojiki được viết bằng tiếng Nhật (bao gồm cả chữ Hán thuần túy, cả mượn
chữ Hán như ngữ âm và cả mượn chữ Hán như ngữ nghĩa). Do đặc thù là một tác
phẩm tập hợp những câu chuyện xưa nên Kojiki chứa đựng cả huyền thoại và những
câu chuyện kể truyền miệng dân gian về việc sáng tạo trời đất, sự hình thành Nhật
Bản, nguồn gốc các dân tộc hay những sự kiện, biến cố lịch sử lớn trong quá khứ…,
vì thế, rất khó để phân định rạch ròi yếu tố thực - hư trong tác phẩm. 10
Kojiki bắt đầu từ khởi nguyên của trời đất và kết thúc với mốc thời gian triều
đại của nữ Thiên hoàng Suiko (593 - 623), gồm ba tập: tập đầu tiên là các huyền
thoại về các vị thần, tiêu biểu Huyền thoại về nữ thần Mặt Trời, (trong đó, các tác giả
dân gian đã mã hóa ba yếu tố cốt lõi của văn hóa: nghệ thuật, tư tưởng và sức mạnh
dưới dạng ba vị thần: nữ thần Nghệ thuật Uzume, thần Tư tưởng Omoikane, thần
Sức mạnh Tazikarao cùng những mối quan hệ tương hỗ để tôn vinh nữ thần Mặt
Trời); tập hai là cuộc đời của các vị anh hùng (thường gắn liền với sự trợ giúp hay
cản trở từ thần linh); tập ba những câu chuyện về niềm vui hay nỗi buồn nhân thế
(nhân vật trung tâm là con người, thần linh đã vắng bóng).
Kojiki, xét về mặt thể loại, là sự pha trộn giữa thơ ca và truyện kể. Cũng từ
đó, tác phẩm còn được xem là bước khởi đầu cho truyền thống truyện kể đặc sắc của
văn hóa, văn học Nhật Bản, đồng thời, những bài ca trong Kojiki có thể được coi là
những kiểu mẫu đầu tiên cho thể thơ tanka (đoản ca) của thi ca Nhật Bản.
Năm 720, Nihonshoki (日本書紀 - Nhật Bản thư kỉ) hay Nihongi (Nhật Bản kỉ)
- một bộ sách có nội dung tương tự Kojiki ra đời.
Nihongi được viết bằng Hán văn, ghi lại những chuyện của nuớc Nhật cổ xưa
từ khởi thủy đến thế kỷ thứ VII, dưới hình thức một biên niên sử. Tuy nhiên, không
chỉ đơn thuần kể lại huyền thoại hay những câu chuyện lịch sử mà Nihongi còn phần
nào hướng tới diễn giải chúng. Vì vậy, nếu Kojiki nghiêng về văn hóa, văn học thì
Nihongi nghiêng về sử học nhiều hơn.
Sau KojikiNihongi, sẽ là thiếu sót nếu nhắc đến đời sống văn hóa, văn học
Nhật Bản thời kỳ này mà không đề cập đến bộ Manyoshu (万葉集 - Vạn diệp tập)
hay Manyogana (Vạn diệp giả danh) - hợp tuyển thơ ca gồm 4500 bài, viết bằng
Nhật ngữ, ra đời khoảng năm 760.
2.1.2 Tập thơ Manyoshu (Vạn diệp tập)
Đội ngũ sáng tác tập Manyoshu thuộc mọi tầng lớp trong xã hội Nhật Bản lúc
bấy giờ, từ Thiên hoàng, quý tộc, cô chúa, tướng quân đến binh lính, nông dân…và 11
cả những tác giả khuyết danh. Trong đó, người biên soạn chính có thể kể đến là Yakamochi.
Manyoshu xoay quanh ba đề tài lớn: thiên nhiên, tình yêu và xã hội
- Thiên nhiên: ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nuớc, vẻ đẹp chuyển hóa kỳ
ảo trong bốn mùa mang đậm màu sắc Nhật Bản với núi Fuji, biển Iwami, mũi Kara…
Đề tài này thường được thể hiện đặc sắc qua những bài tanka của Akahito -
bậc thầy của thơ ca trữ tình: 1 Tôi đi hái
Trên nhánh tử đằng
những bông hoa tím Ôi, hoa nở rộ trên cánh đồng
trong lòng đất ấy và tôi ở lại
ngủ giữa mùa xuân có phải chăng (Bài 1424)
nàng đang nằm ngủ (Bài 1471)
…qua những bài tanka của các tác giả khuyết danh:
Một ngọn đồi đỏ thắm Đàn nhạn bay về ai mang áo trắng
Cây phong của ta ơi mà đi qua đồi
đến lượt em rồi đó
và áo kia lấp lánh
màu lá thu sáng ngời đã sang mùa (Bài 2192)
em hãy đổi màu đi (Bài 2183)
1 Những bài tanka này chúng tôi lấy nguồn từ: Nhật Chiêu (2000). Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868.
Hà Nội: Nxb Giáo dục. Tr. 41, 42, 43, 44, 47, 50, 51. 12
…hay qua trường ca về Fuji của Mushimaro:
Có thấy chăng, hỡi ai
đỉnh Fuji bên trời
che bóng trên các xứ Suruga và Kai.
Cả những vầng mây trắng
không dám giăng ngang đầu
sợ vùng linh thiêng ấy chim nào dám bay cao
chỉ có tuyết và lửa
trên đầu non đấu nhau. (Bài 319)
- Tình yêu: có thể là tình yêu trong những mối quan hệ ruột thịt như cha con, anh em, chồng vợ…
Bài bi ca của Hitomaro trước cái chết của người vợ:
Bên bờ sông ngày trước
chúng tôi cùng ngắm nhìn cây du xanh lá Khi mùa xuân sang Cây du tươi thắm
Đẹp xinh cũng như nàng
Và cả tâm hồn tôi 13
say đắm một tình yêu.
Nhưng nàng đã chết Phù du cuộc đời Làm sao trốn tránh Khi phải tàn rơi?
Bài hanka của Okura về cái chết của đứa con trai:
Hỡi người dẫn đường
của thế giới bên kia
hãy nhận món quà và lời cầu khấn
hãy cõng con tôi trên lưng
trên lối đi mà nó chưa từng biết
…có thể là tình yêu đôi lứa: qua các bài tình ca, còn gọi là luyến ca (renka) của các tác giả khuyết danh: Làm sao ta thấy
Một chùm tuyết trắng
người ta mến thương trên cành mơ tươi và lòng mong mỏi khác nào ngọn núi
hái tuyết cho người Fuji cháy bùng! nhưng lòng tay ấm (Bài 2695) tuyết tan đi rồi (Bài 1833)
Gió ơi, từ biển cả
sao không thổi về đây
những gì ta chờ đợi 14
làn sương mù mơi ấy
và hơi thở của ai (Bài 3616)
- Xã hội: hướng đến sự huy hoàng, vinh quang của đất nước
Bài thơ viết trong bữa tiệc đưa tiễn vị đại sứ sang Trung Quốc:
Gió và sóng đang chìm đi
Trên cánh đồng mặt biển xanh lam
Con tàu đưa Ngài vượt biển xanh và không gì cản trở
Lúc Ngài ra đi cũng như lúc Ngài trở về 1
…hoặc miêu tả cảnh nghèo túng, lầm than của những kẻ khó. Tiêu biểu cho đề tài
này là những tác phẩm của Okura - người được mệnh danh là “nhà thơ của nhân thế”
với bài thơ đặc sắc: Về cảnh nghèo khốn (con người khốn khổ lâm vào cảnh nghiệt
ngã: trong đêm giông bão, mưa tuyết, khi thức ăn chỉ còn muối, đồ uống chỉ là bã
rượu, không đủ quần áo ấm, con người ấy hình dung một cuộc đối thoại với kẻ khổ
sở, khốn cùng hơn anh ta…và đến khi cha mẹ, vợ con cũng ngày càng khốn quẫn,
thêm vào đó là sự thúc thuế, con người khốn khổ đó đành buông xuôi với câu tự vấn
day dứt muôn đời: “Cuộc sống là như vậy đó sao?”)
Ngoài ra, Manyoshu còn có một mảng đề tài đề cập đến các huyền thoại và
truyền thuyết dân gian. (Trường ca về Urashima)
Như vậy, có thể thấy những giá trị mà Manyoshu mang lại đã góp phần giúp
cho tập thơ được đánh giá là “tiếng hát bất tuyệt về cuộc đời và thiên nhiên, một thi
1 R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2003). Lịch sử Nhật Bản, (bản dịch của Nguyễn Văn Sỹ). Hà Nội: NXB Lao Động. Tr. 56. 15
tuyển độc đáo và giàu sang” 1 và Manyoshu còn là “thơ ca từ mọi nẻo đường đời của
Nhật Bản ban sơ”2. 2.2
Văn học thời Heian (794 - 1192)
2.2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội
Năm 794, Thiên Hoàng Kammu dời đô từ Nara về Heian (Kyoto), mở đầu
thời kỳ thịnh trị và thái bình.
Năm 805, đại sư Saicho từ Trung Quốc trở về nước, lập Thiên Thai tông
(tendai) - một tông phái Phật giáo của Trung Quốc muốn kết hợp mọi giáo lý của
Phật giáo dành cho dân gian.
Năm 806, đại sư Kukai (còn gọi là Kobo) từ Trung Quốc trở về nước, lập
Chân ngôn tông (Shingon) - một tông phái Mật giáo mang nặng tính chất huyền bí.
Năm 810, thành lập cơ quan kho bạc gia đình và thiết lập cơ quan cảnh sát thủ
đô. Từ đó, chế độ cai trị trung ương được hợp lý hóa.
Cuối thế kỷ thứ IX, quyền lực từ Thiên Hoàng dần chuyển sang dòng họ
Fujiwara khi quý tộc cung đình đều có bắt nguồn từ dòng họ này. Triều đình mất
quyền kiểm soát đất nước. Thiên Hoàng chỉ còn là bù nhìn. Quan nhiếp chính nắm
việc cai quản chính quyền. Giới quý tộc bên cạnh việc đem lại những đóng góp to
lớn với đời sống văn hóa khi lập ra các học viện, văn viện thì cuộc sống của họ chủ
yếu là sự hưởng thụ xa hoa với thú vui cầm, kỳ, thi, họa, với những buổi yến tiệc,
ngắm hoa, thưởng nguyệt….Vì thế, thời đại Heian còn được gọi là thời đại quý tộc, công gia.
Xã hội Nhật lúc này theo chế độ hoàng gia trung ương tập quyền.
Đến năm 1068, dòng họ Fujiwara mất dần ưu thế thống trị.
Năm 1175, đại sư Honen lập Tịnh độ tông.
1 Nhật Chiêu, Sđd, tr. 56.
2 Nhận định của W.Naumann trong An invitation to Japan’s Literature, Japan Culture institute, 1974, trang
44; Trích lại từ Nhật Chiêu (2000), Sđd, tr. 56. 16
Về mặt đời sống xã hội, thời Heian, chế độ phân chia ruộng đất được thay thế
bằng chế độ kế thừa. Vì thế, các thái ấp (shoen) phát triển rầm rộ. Chủ nhân các thái
ấp lập các nhóm vệ sỹ để tự vệ, tạo ra sự khởi đầu của hệ thống samurai sau này.
Cuối thời Heian, triều đình suy đồi, các phe phái địa phương lũng đoạn, trong
đó nổi lên hai thế lực lớn giữa gia đình Minamoto và gia đình Taira.
2.2.2 Đời sống văn học
Văn học Heian tồn tại với hai dòng:
- Những tác phẩm viết bằng tiếng Trung Quốc theo hệ thống ngữ âm ký
hiệu, thường là của các tác giả nam.
- Những tác phẩm viết bằng tiếng Nhật, viết bằng những ký hiệu ngữ âm
bản xứ, thường lực lượng sáng tác là các tác giả nữ.
Ba đặc điểm nổi bật của văn học Heian: Văn Văn tự chương nữ Kana phát lưu nở rộ triển Đa dạng về thể loại Trong đó:
- Người có công lớn cho sự phát triển của văn tự Kana chính là Kukai (Kobo) -
người lập nên Chân Ngôn tông Nhật Bản.
- Kana không phải là một hệ thống âm tố mà là hệ thống âm tiết, có 50 kí hiệu.
Tương truyền sự xuất hiện của kana bắt nguồn từ sự nghiên cứu tiếng Phạn của các
nhà sư khi họ tìm hiểu hệ thống chữ cái của Ấn Độ. 17
- Đến thời Heian, phần lớn tác giả của các tác phẩm văn học cổ điển nổi tiếng đều
thuộc nữ giới, tiêu biểu như: Truyện Genji của Murasaki, Sách gối đầu của Sei Shonagon…
- Về thể loại: bên cạnh sự ngày càng thịnh hành của tanka, một thể loại mới: kim
dạng ca (Imayo - uta) đã xuất hiện (mỗi bài thông thường có bốn câu); thể loại
truyện, được gọi là monogatari (vật ngữ) nở rộ.
Truyện nửa thơ nửa văn xuôi Truyện xứ Ise (Uta monogatari) Truyện thần kỳ Truyện người đốn tre, Truyện hốc cây Truyện truyền thuyết Truyện nàng Ochikubo Truyện Truyện xứ Ise, Truyện
(物語 - Monogatari) Truyện diễm tình xứ Yamato Truyện tâm lý
Truyện nếu như đổi được, Truyện Genji Truyện lịch sử Truyện Eika Truyện cổ tích Kim Tích vật ngữ
Ngoài ra, các thể loại như tùy bút (zuihitsu), nhật ký (nikki) cũng đạt được
những thành tựu đáng kể (tùy bút Sách gối đầu – Sei Shonagon, Nhật ký Murasaki
Murasaki Shikibu, Nhật ký Kagero – tác giả nữ khuyết danh, Nhật ký Sarashima
tác giả là con gái của Sugawara Takasue…).
2.2.2.1 Tập thơ Kokinshu (Cổ kim tập) 18
Tác phẩm được biên soạn theo sắc lệnh của triều đình, hoàn tất năm 905, do
thi sỹ Ki no Tsurayaki chủ biên, với tên đầy đủ là Kokinwakashu (Cổ kim hòa ca tập)
gồm 1111 bài thơ (bốn bài sekoda, năm bài choka, còn lại là tanka).
Kokinshu được chia thành 20 quyển: 1
- Sáu quyển đầu dành cho các bài thơ về bốn mùa.
- Quyển bảy là thơ ca về hạnh phúc.
- Quyển tám có chủ đề biệt ly.
- Quyển chín viết về du hành.
- Quyển mười xoay quanh tên sự vật bao gồm cỏ hoa, chim muông, nơi chốn…
- Từ quyển mười một đến mười lăm là thơ tình.
- Quyển mười sáu dành cho bi ca.
- Quyển mười bảy và mười tám trải rộng nhiều đề tài khác nhau, tạp loại.
- Quyển mười chín chứa đựng một vài thể thơ Nhật khác, ngoài tanka, như
bốn bài sekoda và bốn bài choka.
- Quyển cuối cùng là những bài thơ nghi lễ soạn cho triều đình, có một số
bài diễn tả tín ngưỡng ở vùng đông bắc xa xôi.
Kokinshu chủ yếu chứa những bài thơ ngắn, viết theo thể tanka - thể thơ 5
dòng với quy định về số lượng âm tiết: 5 -7 -5 -7 -7.
Xét về nghệ thuật, nếu đặt trong sự so sánh với Manyoshu thì đến Kokinshu,
nghệ thuật thi ca đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh tế hơn: “vẻ tao nhã, chất hóm
hỉnh và kỹ năng trong cách viết là đặc tính của tuyển tập đã trở thành những tiêu
chuẩn đánh dấu một xã hội có học thức”2.
Các tác giả tiêu biểu của Kokinshu, bên cạnh các thi sĩ khuyết danh, có thể kể
đến: Narihita, Tsurayuki, Komachi, Ise, …
Một số bài tanka tiêu biểu trong Kokinshu:
1 Nhật Chiêu (2000). Sđd, tr. 72.
2 R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2023). Sđd, tr.84 19
Trong những vòng xoáy của cơn gió lốc
Những đóa hoa anh đào bị cuốn tung theo nhấp nhô
Khác nào những lớp sóng trào lên
Tận trời xanh không bụi nước. 1 (Tsurayuki) Thực tế ra
Có thể: sống làm người là hay
Nhưng thậm chí ngay trong giấc mộng
Tự nhìn mình trước mắt người
Thấy mình đã co lại! Thực buồn biết mấy 2 (Komachi)
2.2.2.2 Truyện Genji (源氏物語 物語 - Genji monogatari)
Được đánh giá là một trong những cuốn tiểu thuyết vỹ đại của văn học Nhật
Bản, Truyện Genji là tác phẩm của một nữ tác giả thuộc dòng họ quý tộc Fujiwara,
tên thường gọi là Murasaki Shikibu.
Truyện Genji - một trường thiên tiểu thuyết lãng mạn xoay quanh cuộc sống
và những mối tình của hoàng tử Genji, nhân vật chính - dài khoảng 3000 trang, với
khoảng 400 nhân vật, hơn 30 nhân vật chính, bao gồm 54 chương, được chia thành 2 phần:
Phần đầu (40 chương): kể về cuộc đời của hoàng tử Genji, còn được gọi là
Hikaru Genji, tức Genji sáng chói. Chủ yếu trong phần này, tác giả xoáy sâu vào
miêu tả những cuộc phiêu lưu tình ái của hoàng tử Genji đồng thời, thông qua đó
1 R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2023). Sđd, tr.84
2 R.H.P.Mason & J.G.Caiger (2023). Sđd, tr.85 20