-
Thông tin
-
Quiz
Từ nội dung đại hội 8,9, lựa chọn 1 nội dung liên hệ thực tiễn hiện nay | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin
Từ nội dung đại hội 8,9, lựa chọn 1 nội dung liên hệ thực tiễn hiện nay | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Từ nội dung đại hội 8,9, lựa chọn 1 nội dung liên hệ thực tiễn hiện nay | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin
Từ nội dung đại hội 8,9, lựa chọn 1 nội dung liên hệ thực tiễn hiện nay | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!
Môn: Triết học Mác - Lenin( LLNL 1105) 512 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:











Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
lOMoAR cPSD| 23022540
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ***
BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ BÀI: Từ nội dung đại hội 8,9, lựa chọn 1 nội dung liên hệ thực tiễn hiện nay
Họ và tên SV: Nguyễn Phương Linh
Lớp tín chỉ: LLDL1102(222)_38 Mã SV: 11217111
GVHD: Nguyễn Thị Thắm HÀ NỘI, NĂM 2023 lOMoAR cPSD| 23022540 Mục lục
NỘI DUNG LÝ THUYẾT:.....................................................1
NỘI DUNG ĐẠI HỘI 8:.......................................................1
1. Khái quát:.......................................................................1
2. Nội dung cơ bản của Đại Hội........................................1
a. Tổng kết 10 năm đổi mới (1986 – 1996).....................2
b. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời
kỳ mới.................................................................................3
LIÊN HỆ HIỆN NAY:.............................................................6
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÀ ĐỘNG LỰC CỦA
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA...........................6
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................11 0 | P a g e
NỘI DUNG LÝ THUYẾT:
NỘI DUNG ĐẠI HỘI 8: 1 . Khái quát:
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã họp nội bộ từ ngày 22 đến 26-
6-1996 và họp công khai từ ngày 28-6 đến 1-7-1996 tại Hà Nội.
- Dự Đại hội có 1.198 đại biểu thay mặt cho hơn 2 triệu đảng viên cùng các đồng chí
cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, các đồng chí đại diện lão thành cách mạng, đại lOMoAR cPSD| 23022540
diện các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các nhân sĩ trí thức tiêu biểu cho trí tuệ, bản
lĩnh và sức mạnh đoàn kết của toàn Đảng toàn dân. Dự Đại hội còn có gần 40 đoàn
đại biểu quốc tế đại diện các đảng anh em và bầu bạn trên thế giới.
- Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII gồm có 170 uỷ viên chính thức. Bộ Chính
trị gồm 19 uỷ viên. Tổng Bí thư là đồng chí Đỗ Mười. Các đồng chí Phạm Văn
Đồng, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công được giao nhiệm vụ Cố vấn cho Ban chấp hành Trung ương Đảng.
- Sau bốn ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Đại hội đã thông qua những văn
kiện quan trọng sau đây: •
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII. •
Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000. •
Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi). •
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam.
2 . Nội dung cơ bản của Đại Hội
- Đánh giá kết quả 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực
hiện Nghị quyết Đại hội , Đại hội khẳng định: “Công cuộc đổi mới trong 10 năm
qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Nhiệm vụ do
Đại hội vn đề ra cho 5 năm 1991- 1995 đã được hoàn thành về cơ bản”.
- Mục tiêu tổng quát đến năm 2000 và 2020 là: “tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ
chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa…Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp... Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi năm 1990”
- Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu giai đoạn 1996-2000, Đại hội chỉ rõ: tập trung sức
cho mục tiêu phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 910%;
đến năm 2000, GDP bình quân đầu người gấp đòi; tăng nhanh khả năng và tiềm
lực tài chính của đất nước, lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia; mở rộng và nâng
cao hiệu quả kinh tế đối ngoại; giải quyết tốt một số vấn đề xã hội; bảo vệ vững
chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc; tích cực chuẩn
bị và tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000.
- Đại hội đề ra những định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu: 1- Phát triển
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; 2- Nắm vững định hướng
XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần; 3- Tiếp tục đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế; 4- Phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; 5Giải
quyết một số vấn đề xã hội; 6- Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm
chủ của nhân dân; 7- Cải tạo bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước lOMoAR cPSD| 23022540
Cộng hoà XHCN Việt Nam; 8- Tăng cường quốc phòng và an ninh; 9Thực hiện
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương đã nêu bật những vấn đề trọng tâm sau:
a . Tổng kết 10 năm đổi mới (1986 – 1996)
- Những thành tựu đạt được trong 10 năm đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng. Nước
ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn. Nhiệm vụ để
ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền để cho công nghiệp
hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới: đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực
hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hưởng xã
hội chủ nghĩa, tuy trong quá trình thực hiện có một số khuyết điểm, lệch lạc lớn và
kéo dài dẫn đến chệch hướng ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, ở mức độ này hay
mức độ khác. Từ những thành tựu và hạn chế, Đại hội nêu ra sáu bài học chủ yếu qua 10 năm đổi mới:
- Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới;
nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đối mới chính trị. lấy đổi mới
kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
- Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phẩm vận hành theo cơ chế thị trường,
đi đối với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
- Sử dụng mặt tích cực của hình thức và phương pháp quản lý kinh tế thị trường phục
vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, không theo con đường chủ nghĩa tư bản. Đi vào kinh
tế thị trường, phải kiên quyết đấu tranh khắc phục hạn chế mặt tiêu cực mâu thuẫn
với bản chất của chủ nghĩa xã hội. (Phân hóa giàu nghèo, sùng bái đồng tiền,...)
- Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân
thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
b . Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mới
Quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa trong thời kỳ mới:
1) Giữ vững độc lập, tự chủ, đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với
tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với lOMoAR cPSD| 23022540
khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng
những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.
2) Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
3) Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích
lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân,
phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
4) Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết hợp
công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở
những khâu quyết định.
5) Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát
triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa
năng lực sản xuất hiện có. Ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến tạo
nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh, xây dựng một số công trình quy mô lớn cần
thiết và hiệu quả. Tạo mũi nhọn trong từng bước phát triển. Tập trung nguồn lực
cho các lĩnh vực địa bàn trọng điểm; quian tâm nhu cầu thiết yếu của mọi vùng; có
chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển.
6) Kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh
Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm còn lại của thập kỷ 90 là:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
• Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung
chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá
nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực trong xã
hội. đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trưởng trong, ngoài nước.
• Thực hiện thủy lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá...
• Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ ngày càng
cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị.
• Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới gồm
tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu,
công nghiệp khai thác, chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các
loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
- Phát triển công nghiệp:
• Ưu tiên các ngành chế biến lương thực - thực phẩm. sản xuất hàng tiêu dùng,
hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin. Phát triển có
chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng (năng lượng tốn nhiên liệu, vật liệu lOMoAR cPSD| 23022540
xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa tàu thủy, luyện kim, hoá chất), tăng
thêm năng lực sản xuất tương ứng với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nâng cao
khả năng độc lập tự chủ với kinh tế và quốc phòng.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng.
• Khắc phục tình trạng xuống cấp của hệ thống giao thông hiện có; khôi phục,
nâng cấp, mở thêm một số tuyến giao thông trọng yếu, kết hợp giao thông
với thủy lợi, tận dụng giao thông đường thủy; mở thêm đường đến các vùng
sâu, vùng xa; cải thiện giao thông ở thành phố lớn. Cải tạo, nâng cấp một
số cảng sông, cảng biển, sân bay; xây dựng dân cảng biển nước sâu.
• Tiếp tục phát triển và hiện đại hóa mạng thông tin liên lạc quốc gia, mở liên
lạc điện thoại đến hầu hết các xã
• Phát triển nguồn điện; cải tạo và mở rộng lưới điện đáp ứng nhu cầu và cung
cấp điện ổn định. Cải thiện việc cấp thoát nước ở đô thị thêm nguồn nước sạch cho nông thôn.
- Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ:
• Hàng không hàng hải, bưu chính - viễn thông thương mại, vận tải tài chính,
ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, công nghệ, pháp lý, thông tin.., và các dịch
vụ phục vụ cuộc sống nhân dân
• Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại - dịch
vụ có tâm có trong khu vực.
- Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ:
• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để lợi thế, tiềm
năng từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng đều phát triển.
• Đầu tư ở mức cần thiết cho các vùng kinh tế trọng điểm để thúc đẩy sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế. Dành nguồn lực thích đáng giải quyết nhu cầu
cấp bách, đặc biệt là về kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, để những vùng
còn kém phát triển, nhất là các vùng cao, biên giới, hải đảo, đồng bào dân
tộc ít người, vùng sâu, căn cứ cách mạng có bước tiến nhanh hơn, dần giảm
bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các
vùng, coi đây là một trọng tâm chỉ đạo của các ngành, các cấp. Đặc biệt
quan tâm phát triển kinh tế biển, kết hợp với an ninh - quốc phòng.
• Từng bước hình thành mạng lưới đô thị hợp lý, tránh không tạo thành các
siêu đô thị. Tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
• Đẩy mạnh, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Tạo thêm mặt
hàng xuất khẩu chủ lực. Nâng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị
trưởng. Giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế, tăng tỷ trọng sản phẩm chế
biến sâu và tinh trong hàng xuất khẩu. Tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ. Nâng
tỷ trọng phần giá trị gia tăng trong giá trị hàng xuất khẩu. Giảm dần nhập lOMoAR cPSD| 23022540
siêu, ưu tiên nhập khẩu để phát triển sản xuất phục vụ xuất khẩu, hạn chế
nhập hàng tiêu dùng chưa thiết yếu. Có chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước.
• Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực vừa hội nhập toàn
cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta với các đối tác.
• Chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, tổ chức,
định chế quốc tế một cách có chọn lọc, với bước đi thích hợp.
• Sử dụng vốn vay, thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài phải theo quy
hoạch và kế hoạch phát triển ngành và vùng lãnh thổ, bảo đảm thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.
• Tính toán kỹ khả năng vay, sử dụng vốn vay hiệu quả, trả được nợ. Cải thiện
cán cân thanh toán. Tăng dự trữ ngoại tệ. Làm rõ, thực hiện đúng trách
nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nợ nước ngoài của người đi vay và
người sử dụng vốn vay.
• Thử nghiệm để tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài. LIÊN HỆ HIỆN NAY:
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÀ ĐỘNG LỰC CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
- Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta luôn nhất quán xác định
khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng thúc đẩy đất
nước phát triển nhanh và bền vững. Đại hội VIII của Đảng đã chỉ ra rằng “ Khoa
học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Và điều này vẫn
còn đúng cho tới ngày nay.
- Đầu tiên, ta cần hiểu các khái niệm liên quan. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá
trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế xã hội
từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao
động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo
ra năng suất lao động xã hội cao. Còn khoa học là 1 hệ thống trí thức về tự nhiên,
về xã hội, về con người về tư duy của con người, nó nghiên cứu và vạch ra những
mối quan hệ nội tại, bản chất của các sự vật, hiện tượng quá trình, từ đó chỉ ra
những quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và
tư duy. Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự
hiểu biết về con người vào viêc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu
sống của con người sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ngày nay, trong thời đại
cuộc cách mạng khoa học công nghiệp mới, khi mà khoa học đang trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp ,trí tuệ con người đang giữ vai trò động lực trực tiếp và
quyết định sự phát triển của công nghệ nói riêng, và xã hội nói chung thì quan niệm
về công nghiệp, các thành phần cấu trúc của nó lại 1 lần nữa có sự mở rộng và phát triển rất cơ bản lOMoAR cPSD| 23022540
- Ttrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay khoa học công nghệ đang
chiếm một vị trí đặc biệt quan trong. Bởi vì nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ
một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là phổ biến. Cái thiếu
thốn của chúng ta là một nền đại công nghiệp, chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa tức là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội. Đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiên tiến chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Và Khoa học công nghệ có vai trò quan trọng như sau:
• Nâng cao năng suất lao động
• Giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
• Nâng cao lợi thế cạnh tranh
• Nâng cao chất lượng sản phẩm
• Xây dựng năng lực công nghệ quốc gia
- Và những vai trò trên đây là yếu tố quyết định chống lại “nguy cơ tụt hậu về kinh
tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới”
- Và đúng như vậy ở những đại hội tiếp theo thì Khoa học và công nghệ ngày được
coi trọng trong qua trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ở Đại hội IX của
Đảng (năm 2001) nhận định, thế kỷ XXI, khoa học - công nghệ sẽ có bước tiến
nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật. Do đó, Đại hội chỉ rõ “Phát
triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” để
từng bước phát triển kinh tế tri thức và nâng cao năng suất lao động. Đại hội X
của Đảng (năm 2006) tiếp tục nhấn mạnh: “Kết hợp chặt giữa hoạt động khoa học và
công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu,
tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức”.
Đến Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta chú trọng tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức: “Phát triển mạnh khoa học, công
nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển
kinh tế tri thức” Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Phát triển khoa học và công nghệ
nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh
tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”. Đại hội XII của Đảng (năm
2016) nhấn mạnh: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học
- công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát
triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức”. Với mục tiêu “đến năm 2020
khoa học và công nghệ đạt trình độ phát triển của nhóm nước dẫn đầu ASEAN”,
tại Đại hội này, Đảng ta xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tiến hành qua
3 bước là: Tạo tiền đề, điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh và nâng
cao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Nhờ thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trên nền tảng khoa học - công nghệ, trong những năm qua, đất nước ta đã đạt lOMoAR cPSD| 23022540
được thành tựu to lớn: Đạt ngưỡng thu nhập trung bình năm 2008; nền kinh tế đạt
tốc độ tăng trưởng cao: giai đoạn 2011-2015 đạt 5,9%, giai đoạn 2016-2019 đạt
6,8%; quy mô nền kinh tế tăng 2,4 lần từ 116 tỷ USD năm 2010 lên 271,2 tỷ USD
năm 2020. GDP bình quân đầu người tăng từ 1331 USD năm 2010 lên 2779 USD
năm 2020. “Chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh
tế bước đầu chuyển dịch sang chiều sâu”. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công
nghệ cao tăng từ 19% năm 2010 lên 50% năm 2020. Khoa học - công nghệ từng
bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội. Tiềm lực khoa
học - công nghệ của đất nước được tăng cường. Hiệu quả hoạt động khoa học -
công nghệ được nâng lên, tạo chuyển biến tích cực cho hoạt động đổi mới và khởi
nghiệp sáng tạo. Trình độ khoa học - công nghệ sản xuất được nâng cao, tham gia
hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
- Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay, khoa học - công nghệ chưa
thực hiện đầy đủ vai trò “quốc sách hàng đầu”, chưa là động lực quan trọng nhất
để phát triển lực lượng sản xuất: “Năng lực và trình độ công nghệ của nền kinh tế
còn thấp. Công nghiệp vẫn chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng không cao;
công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, tỷ lệ nội địa hóa thấp, tham gia vào chuỗi giá
trị toàn cầu hiệu quả còn hạn chế”. Trong khi đó, trên thế giới, cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số, đang phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá
trên nhiều lĩnh vực, mang đến nhiều thời cơ nhưng cũng đặt ra không ít thách thức
với tất cả các nền kinh tế.
- Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nếu tích cực chuyển đổi số, phát
triển kinh tế số, xã hội số thì sẽ có cơ hội để đi cùng, vượt trước các nước trong
khu vực và trên thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
tạo ra động lực, tài nguyên mới cho sự phát triển và đổi mới sáng tạo.
- Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo tiền đề cho sự hình thành bước đột phá
tư duy trong đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thể hiện ở những điểm cốt lõi sau:
• Thứ nhất, thúc đẩy chuyển đổi tư duy từ phát triển nền công nghiệp phụ thuộc,
gia công, lắp ráp sang chủ động sáng tạo, vươn lên, làm chủ công nghệ. Để chủ
động phát triển, nước ta phải thoát khỏi sự tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ
và nền công nghiệp phụ thuộc, gia công, lắp ráp. Thực tế cho thấy, công nghiệp,
công nghiệp hỗ trợ nước ta còn phát triển chậm, trình độ hạn chế, nhiều nguyên
liệu đầu vào quan trọng chưa sản xuất được nên phụ thuộc lớn vào nhập khẩu;
việc tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu ở nhiều sản phẩm vẫn chỉ ở công đoạn
cuối cùng nên giá trị gia tăng không lớn. Đại hội XIII đánh giá: “Mô hình tăng
trưởng chưa dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, tính tự
chủ của nền kinh tế còn thấp, vẫn còn phụ thuộc vào bên ngoài”. Do vậy, Đại
hội XIII chủ trương: “Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh
vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa
học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Hiện đại hóa
công nghệ sản xuất là điều kiện tiên quyết để đưa sản phẩm thương hiệu Việt lOMoAR cPSD| 23022540
Nam lên tầm cao mới, thoát khỏi vị trí gia công, lắp ráp trong thời gian qua.
Ứng dụng, tiên phong sáng tạo, phát minh công nghệ mới có thể giúp doanh
nghiệp tăng doanh số, nâng cao vị thế doanh nghiệp và nền kinh tế. Muốn làm
được điều đó không có con đường nào khác phải dựa trên nền tảng tài nguyên
trí tuệ để sáng tạo công nghệ
• Thứ hai, chuyển đổi mạnh mẽ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế số, dựa
trên nền tảng tri thức. Ngày nay, với sự chuyển động mạnh mẽ của nền kinh tế
toàn cầu trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam bước
vào giai đoạn đổi mới toàn diện, chủ động tham gia vào quá trình
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đại hội XIII chủ trương “đẩy mạnh
chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo”, trong đó con người hay tài nguyên trí tuệ là nền tảng
cốt lõi, doanh nghiệp phải là trung tâm nghiên cứu phát triển, ứng dụng và
chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ số. Với lợi thế của nước đi sau,
chúng ta hoàn toàn có thể tiến thẳng vào những lĩnh vực mới của kinh tế số để
có thể bứt tốc, tham gia quá trình đó một cách chủ động, không chờ thế giới
hoàn thiện công nghệ thì ta mới chuyển đổi số. Chuyển đổi từ nền kinh tế vật
lý sang nền kinh tế số là sự tối ưu hóa không giới hạn mọi khâu, mọi quy trình
sản xuất. Do vậy, nền kinh tế số và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quyết
định tăng năng suất lao động, lợi thế cạnh tranh trong tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
• Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sang giai
đoạn mới: thâm dụng tri thức và đột phá đổi mới sáng tạo. Hiện nay, nền kinh
tế Việt Nam chưa đạt trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa như các nước tiên
tiến trên thế giới, nhưng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã mở ra cơ
hội để nước ta thay vì “đi sau” thì có thể nỗ lực để “đi cùng”, một số lĩnh vực
mũi nhọn, có thế mạnh, có thể phấn đấu “đi trước, vượt trước”. Đại hội XIII
chủ trương “chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng
suất, tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao”.
Chủ trương này không chỉ nhấn mạnh phát triển khoa học - công nghệ, mà còn
đề cao yêu cầu đổi mới sáng tạo như một định hướng trung tâm, xuyên suốt
trong xu thế Cách mạng công nghiệp lần thứ tưđang tăng tốc. Đại hội XIII xác
định: “Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm
năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần
bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”
- Cùng với cơ hội, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đưa đến những
thách thức không nhỏ cho Việt Nam. Theo đó, khả năng tối ưu hóa các nguồn lực
và sự kết nối cung - cầu không giới hạn của nền kinh tế số tạo ra áp lực cạnh tranh
kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công
nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư ngày càng quyết liệt, gay gắt hơn.
Những năm tới, đất nước ta hội nhập sâu rộng hơn và phải thực hiện đầy đủ, hiệu
quả các cam kết khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong điều lOMoAR cPSD| 23022540
kiện nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là vấn
đề trình độ công nghệ, năng suất lao động và mức độ chuyển đổi số.
- Và Tại Đại hội XIII của Đảng xác định rõ mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, nước ta
là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2030, nước
ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến
năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để thực hiện thành công
các mục tiêu này, trên cơ sở nhận thức rõ thành tựu, hạn chế của khoa học - công
nghệ trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa qua hơn
35 năm đổi mới đất nước, cùng những tư duy mới về thời cơ và thách thức mà Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, đòi hỏi ngay từ bây giờ, Việt Nam cần tích
cực chuyển đổi mạnh mẽ hơn sang nền kinh tế số. Quá trình này cũng yêu cầu
chuyển đổi mô hình tăng trưởng ngày càng theo chiều sâu, dựa nhiều vào tri thức,
đổi mới, sáng tạo để có sự bứt phá về năng suất lao động, sức cạnh tranh, trở thành
một “mắt xích” quan trọng không thể thiếu trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu.
Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia;
phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đồng thời thống nhất
quan điểm đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu
quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội
nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là
nhân tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh,
góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Như vậy, đến hiện nay là sự kế thừa, phát triển và có bước đột phá về tư duy lãnh
đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ. Trọng tâm là tăng tốc, bứt phá, thực
hiện đồng thời cả hai quá trình là chuyển đổi nền công nghiệp phụ thuộc, gia công,
lắp ráp sang chủ động nghiên cứu, ứng dụng, sáng tạo công nghệ và chuyển đổi
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế số dựa trên nền tảng tri thức, đổi mới,
sáng tạo. Trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo luôn giữ vai trò trung tâm. Chính
nguồn tài nguyên trí tuệ này là nền tảng cốt lõi, đồng thời là phương tiện hữu hiệu
để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam • Tạp chí Cộng sản
• Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới VIII, IX
• Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
• Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
• Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII