



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
CHUYÊN NGÀNH: LOGISTICS VÀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG
------------------------------------- Nhóm: 4
Mã học phần: 2192PCOM0111
Giảng viên : Chử Bá Quyết Năm học: 2021-2022 1 LỜI CẢM ƠN
Bài thảo luận “Ứng dụng thương mại điện tử vào lĩnh vực du lịch, mạng
xã hội và trò chơi trực tuyến” của nhóm 4 là kết quả của quá trình cố gắng
không ngừng của cả nhóm và nhờ có sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của thầy
cô. Qua bài thảo luận này, chúng em muốn gửi lời cảm ơn tới những người đã
giúp đỡ nhóm trong thời gian học tập – nghiên cứu đề tài thảo luận vừa qua.
Nhóm của chúng em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của
mình đối với thầy giáo Chử Bá Quyết đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như
cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết liên quan đến thương mại điện tử cho bài thảo luận này.
Xin chân thành cảm ơn trường Đại học Thương mại nói chung và Khoa
Marketing nói riêng đã tạo điều kiện cho chúng em được học tập và tạo điều
kiện để nhóm của chúng em hoàn thành bài thảo luận này.
Bài thảo luận này của chúng em vẫn còn nhiều điểm hạn chế và thiếu sót
trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, vì vậy, chúng em mong rằng sẽ nhận được
những sự góp ý, sửa chữa những thiếu sót đó từ thầy cô và các bạn để nhóm có
thể hoàn thành được bài thảo luận này hoàn chỉnh hơn. Chân thành cảm ơn! 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................4
NỘI DUNG ..................................................................................................................6
Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử: ........................................................6
1. Khái niệm về thương mại điện tử .....................................................6
2. Phân loại thương mại điện tử ...........................................................6
...........................................................................................................
3. Lợi ích và hạn chế của thương mại điện từ ......................................6
Chương 2: Ứng dụng của thương mại điện tử vào các lĩnh vực: du lịch, mạng
xã hội và trò chơi điện tử:...........................................................................................8
I. Ứng dụng thương mại điện tử vào du lịch:...............................................8
1. Doanh thu .........................................................................................8
2. Ứng dụng của TMĐT vào du lịch.....................................................8
3. Những đóng góp của TMĐT vào ngành du lịch ..............................10
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
II. Ứng dụng của thương mại điện tử vào mạng xã hội: .............................13
1. Sự hình thành TMĐT trên mạng xã hội ...........................................13
2. Doanh thu và tiềm năng phát triển ...................................................13
3. Ứng dụng TMĐT vào mạng xã hội ..................................................14
4. Lợi ích và hạn chế của TMĐT lên mạng xã hội...............................17
III. Ứng dụng của thương mại điện tử vào trò chơi trực tuyến..................19
1. Sơ lược về trò chơi trực tuyến...........................................................19
2. Doanh thu của trò chơi trực tuyến.....................................................20 3
3. Ứng dụng của thương mại điện tử vào trò chơi trực tuyến...............21
Chương 3: Giải pháp phát triển thương mại điện tử: .............................................24
KẾT LUẬN .................................................................................................................25 4 LỜI MỞ ĐẦU I. Tên đề tài:
Đề tài: Ứng dụng thương mại điện tử trong các lĩnh vực du lịch, mạng xã
hội và trò chơi trực tuyến.
II. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, công nghệ thông tin là
một lĩnh vực không thể thiếu trong mọi hoạt động kinh doanh của tất cả các tổ chức trên thế giới.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã kéo theo sự phát triển của
thương mại điện tử và thương mại điện tử đang là một phương tiện chủ yếu của
thương mại ngày nay. Thương mại điện tử là một hình thái hoạt động mới trong
nền kinh tế số. Trong đó, hạ tầng cơ sở công nghệ cho thương mại điện tử bao
gồm các mạng máy tính được kết nối với nhau và được liên kết với các thiết bị
điện tử thuộc mạng viễn thông chính là môi trường cho thương mại điện tử hoạt
động. Mạng này không những cho phép người dùng truy cập thông tin mà còn
cho phép họ trao đổi thông tin từ các vị trí khác nhau trên mạng.
Trong những năm gần đây, thương mại điện tử đã phát triển mạnh mẽ trên
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã góp phần thay đổi cách thức kinh
doanh, giao dịch truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Sự
phát triển của thương mại điện tử là một nhân tố chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi
cho các hoạt động kinh doanh hiện nay hoạt động hiệu qảu hơn, dễ dàng và
nhanh chóng hơn dưới sự tác động của môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin nói chung và
thương mại điện từ nói riêng, nước ta đã áp dụng nó vào trong một số lĩnh vực
cụ thể, tiêu biểu nhất là các lĩnh vực du lịch, trò chơi trực tuyến và mạng xã hội.
Để hiểu rõ được cách thức ứng dụng, thuận lợi và khó khăn của thương mại điện
tử vào những lĩnh vực trên, qua bài thảo luận của nhóm sẽ được giải quyết. 5
III. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 1. Mục đích:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về thương mại điện tử
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
- Tìm hiểu về ứng dụng của thương mại điện tử trong một số ngành cụ thể
như du lịch, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến.
- Tìm hiểu về những thuận lơi, khó khăn và rồi từ đó đưa ra được những
giải pháp phù hợp để phát huy tối đa ứng dụng của thương mại điện tử vào các lĩnh vực trên.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng ở đây chính là tình hình của thương mại điện tử, đặc biệt trong
các lĩnh vực du lịch, mạng xã hội và trò chơi trực tuyến. Từ đó thấy được những
thuận lợi và những khó khăn còn đang vướng mắc và đề xuất những giải pháp khắc phục.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài có sử dụng những tài liệu, thống kê trên Internet và các bài báo cáo.
IV. Kết quả của nghiên cứu:
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, để từ đó thấy được quá trình và
cách thức thương mại điện tử được ứng dụng vào một số lĩnh vực cụ thể (du
lịch, mạng xã hội và trò chơi trực tuyến) cũng như tầm quan trọng của thương
mại điện tử không chỉ vào các lĩnh vực đó mà còn nhiều lĩnh vực khác hiện nay. 6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Khái niệm thương mại điện tử:
- Từ khi ra đời cho đến nay, thương mại điện tử đã trải qua nhiều tên
gọi khác nhau như: electronic commerce, online trade, cyber trade,
paperless trade, digital commerce, …
- Thương mại điện tử là việc tiến hành các giao dịch thương mại thông
qua mạng Internet, mạng truyền thông và các phương tiện điện tử khác.
2. Phân loại thương mại điện tử:
a) Phân loại theo mức độ ảo hóa, số hóa:
- Thương mại truyền thống: tổ chức (công ty) thuần túy vật thể “Brick and mortar”.
- Thương mại điện từng phần: tổ chức (công ty) hỗn hợp “Click and brick”.
- Thương mại điện tử toàn phần: tổ chức (công ty) ảo.
b) Phân loại theo bản chất của các giao dịch hoặc các mối tương tác:
Gồm có: B2C, B2B, B2B2C, C2B, C2C, P2P, M – commerce, B2E,
thương mại hợp tác, thương mại điện tử phi kinh doanh…
3. Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử: a)
Lợi ích của thương mại điện tử:
Đối với tổ chức:
- Tiếp cận toàn cầu: mở rộng phạm vi toàn quốc gia và quốc tế, dễ
dàng và nhanh chóng tìm được các nhà cung ứng tốt nhất, nhiều khách
hàng nhất và tổ chức mua được rẻ hơn và bán được nhiều hơn. 7
- Giảm chi phí: như chi phí giấy tờ, chia sẻ thông tin, chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống…
- Hoàn thiện được chuỗi cung ứng: giảm thiểu tình trạng tồn kho quá
mức và sự chậm trễ phân phối…
- Đáp ứng nhu cầu cá biệt của khách hàng: thương mại điện tử cho phép
nắm bắt nhu cầu, sản xuất hàng hóa và dịch vụ theo đơn đặt hàng của
khách hàng với chi phí không đáng kể, sử dụng chiến lược “kéo” – lôi
kéo khách hàng bằng cách đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.
- Xây dựng mô hình kinh doanh mới: sáng tạo hơn, tạo nên lợi thế chiến
lược hoặc lợi ích cho doanh nghiệp.
- Chuyên môn hóa người bán hàng.
- Cập nhật hóa tư liệu của công ty…
Đối với người tiêu dùng:
Thương mại điện tử đã mang lại một số lợi ích sau cho người tiêu dùng:
tính rộng khắp, nhiều sự lựa chọn, thông tin sẵn tìm, phân phối nhanh chóng, sản
phẩm và dịch vụ rẻ hơn, tham gia đấu giá, …
Đối với xã hội:
Không chỉ mang lại lợi ích cho cách doanh nghiệp và người tiêu dùng mà
thương mại điện tử còn đem lại một số lợi ích đáng kể đối với xã hội như: thông
tin liên lạc được cải thiện, góp phần tạo mức sống cao hơn, nâng cao an ninh
trong nước, tiếp cận các dịch vụ công… b)
Hạn chế của thương mại điện tử:
Bên cạnh những lợi ích to lớn mà thương mại điện tử mang lại thì nó vẫn
còn những trở ngại đang phải đối mặt như: chi phí đầu tư ban đầu khá lớn; rủi ro
gặp phải trong các giao dịch trên mang; kiến thức và khả năng ứng dụng của các
chủ thể tham gia; tắc nghẽn mạng do hạ tầng viễn thông còn kém; khả năng tiếp cận khách hàng thấp… 8
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG CỦA THƯƠNG MẠI
ĐIỆN TỬ VÀO CÁC LĨNH VỰC I.
Ứng dụng của thương mại điện tử trong lĩnh vực du l ịch: 1. Doanh thu:
- Một khảo sát với khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2018 cho
thấy: có tới 71% du khách tham khảo thông tin điểm đến trên internet;
64% đặt chỗ và mua dịch vụ trực tuyến trong chuyến đi đến Việt Nam.
Với sự phát triển chung của thương mại điện tử và du lịch, các tỷ lệ
này được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong giai đoạn tới.
- Trong tháng 11/2019, Việt Nam đón 1,81 triệu lượt khách quốc tế,
tăng 39,0% so với cùng kỳ năm 2018. Đây là lượng khách cao kỷ lục
của một tháng, gấp 1,5 lần so với tháng 11/2017, gấp 2 lần so với
tháng 11/2016 và gấp 2,5 lần so với tháng 11/2015.
- Doanh thu từ hoạt động du lịch trực tuyến tại Đông Nam Á năm 2019
đạt khoảng 29,7 tỷ USD và ước tính sẽ đạt 78 tỷ đô vào năm 2025. Tại
Việt Nam, trong các loại hình hàng hóa/dịch vụ, du lịch trực tuyến
chiếm 6% tổng số lượng sản phẩm dịch vụ được giao dịch phổ biến
trên các website, ứng dụng di động, tỷ lệ người mua sắm trực tuyến đã
từng đặt chỗ khách sạn/tour du lịch chiếm đến 31%. (Nguồn:
https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/30658?
fbclid=IwAR2YUS8w260Yl4J_9Q-
Zb_afU4aU3c7CqXFTRC1gDC3rtnB90NvTUMHlMag )
2. Ứng dụng TMĐT trong du lịch: 2.1.
Mô hình Website khách sạn:
-Theo nghiên cứu, 80% khách du lịch Việt Nam là khách quốc tế, họ có
nhu cầu tìm kiếm thông tin trên internet trước khi lựa chọn khách sạn.
Một nửa số đó có nhu cầu đặt phòng trực tuyến, vì vậy việc sở hữu một 9
website có tích hợp phần mềm đặt phòng trực tuyến là diều vô cùng cần thiết.
-Lúc này, website đóng vai trò như công cụ thu hút khách của khách
sạn. Số lượng khách hàng đến ở tại khách sạn thay đổi liên tục, hơn
nữa họ còn đăng kí sử dụng rất nhiều dịch vụ khác của khách sạn.
Khách sạn không thể chỉ dùng phương pháp ghi chép thủ công, vì rất
dễ gây nhầm lẫn, khó quản lí, tốn nhiều thời gian, nhân viên mà hiệu
quả không cao. Chính vì lẽ đó, xây dựng website quản lý khách sạn là
lựa chọn cần thiết và khôn ngoan.
-Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số nhận thức rất rõ tiềm năng to
lớn thị trường du lịch trực tuyến cũng như tầm quan trọng của việc ứng
dụng công nghệ số trong ngành du lịch.
2.2. Các hãng hàng không:
-Với các lợi ích khổng lồ từ việc kinh doanh bán vé máy bay qua
website của hãng, các hãng hàng không lớn như VietnamAirlines,
Vietjet Air, Bamboo Airways, ... đều có những địa chỉ Website riêng
của hãng. Từ việc chuyển bán vé máy bay qua các đại lý truyền thống,
đặt vé máy bay online đã giúp các hãng hàng không tiết kiệm được các chi phí cho các đại lý.
-Hơn thế nữa, điều này còn thuận tiện cho người tiêu dùng khi phần lớn
dân số có sử dụng thiết bị kết nối Internet, có thể mua vé máy bay dễ
dàng thông qua các thao tác trên website. Đặc biệt hơn, người tiêu
dùng có thể “săn” các vé máy bay giá rẻ trong các thời điểm cụ thể.
2.3. Booking qua các website:
-Theo báo cáo của Travelport Digital, một nền tảng tương tác di động
dành cho các thương hiệu du lịch, 35% tổng số người dùng đã tải ứng
dụng về máy điện thoại để tìm kiếm các chuyến bay/khách sạn, 27%
tải ứng dụng về máy để đặt các chuyến bay/khách sạn, và 19% bật
thông báo từ các ứng dụng du lịch để nhận tin tức. 10
-Với giá trị booking online ước tính 817 tỷ đô la vào năm 2020.
-Ước tính khoảng 700 triệu người sẽ booking online vào năm 2023.
3. Các đóng góp của TMĐT lên ngành du lịch: 3.1. Lợi ích:
a) Quản lí các rủi ro, suy thoái (Managing Recessions):
- Ngành thương mại điện tử đã ảnh hưởng đáng kinh ngạc đến các cuộc
suy thoái. Suy thoái kinh tế là khoảng thời gian thua lỗ kéo dài gần sáu
tháng. Công nghệ thương mại điện tử đã tăng khả năng phục hồi nhanh
chóng của suy thoái thông qua các giải pháp lý tưởng cho các vấn đề nảy sinh.
b) Tự động hóa và kết nối các doanh nghiệp (Automation and Networking):
- GPS là một trong những công nghệ tuyệt vời nhất giúp bạn trong
ngành du lịch và lữ hành. Nếu bạn sẽ tìm kiếm bất kỳ dịch vụ vận
chuyển nào, thì thương mại điện tử là một thứ giúp bạn kết nối và cung
cấp những dịch vụ tốt nhất cho người tiêu dùng.
c) Kết nối toàn cầu (Additional Global Market):
- Công nghệ Thương mại Điện tử cung cấp cho bạn bí quyết tốt hơn về
thị trường bổ sung. Ngành công nghiệp du lịch không chỉ giới hạn ở
một quốc gia hay một thành phố mà nó hướng đến khách hàng trên
toàn cầu. Giờ đây, mọi người có thể đi bất cứ đâu trên toàn thế giới.
Thương mại điện tử cho phép bạn kết nối với thị trường bổ sung trên
khắp thế giới và cung cấp các dịch vụ khả thi nhất cho khách hàng của
bạn, ngay cả khi họ ở nước ngoài.
d) Khả năng tiếp cận dễ dàng (Ease of Accessibility):
- Quá trình lập kế hoạch và chiến lược của doanh nghiệp, tiếp cận thị
trường đã trở nên dễ dàng hơn. Các đại lý du lịch bây giờ có thể biết
thêm về các đối thủ cạnh tranh và lập kế hoạch kinh doanh của họ cho 11
phù hợp. Ngoài khối lượng lớn thông tin, nó cung cấp khả năng tiếp
cận dễ dàng với khách hàng và hành vi của đối thủ cạnh tranh. Nó giúp
mọi người dễ dàng kết nối và phát triển cùng nhau.
- Hơn nữa, công nghệ thương mại điện tử cung cấp cho bạn nhiều cách
để nâng cao hoạt động kinh doanh của bạn một cách dễ dàng. Chỉ cần
một cú nhấp chuột và công việc được thực hiện, thanh toán, đặt phòng,
theo dõi hành vi khách hàng, kế hoạch kinh doanh và chiến lược tiếp
thị giờ đây đã nằm trong tầm tay của mọi doanh nhân hay phụ nữ.
- Ngành công nghiệp du lịch và lữ hành hiện đang phụ thuộc vào
Thương mại điện tử, nó cung cấp những ý tưởng thiết thực để thực
hiện và lên kế hoạch trước cho bất cứ điều gì từ các chuyến du ngoạn
một mình giá rẻ đến các gói kỳ nghỉ gia đình sang trọng. Bạn cũng có
thể đặt các giao dịch phút chót. Khía cạnh tốt nhất là tính sẵn có trên
toàn cầu cũng như thông tin chính xác về khách sạn và địa điểm tham
quan thường được hỗ trợ bởi các đánh giá đáng tin cậy của khách hàng. (Nguồn:
https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/ung-dung-thuong-mai-
dien-tu-trong-phat-trien-du-lich-d19636.html) 3.2. Hạn chế:
a) Mức độ sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin chưa cao:
- Điều này thể hiện thông qua chỉ số xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin - truyền thông của Bộ Văn
hóa - Thể thao và Du lịch, trong giai đoạn từ năm 2015 - 2018 chỉ xếp
ở vị trí trung bình khá trong tổng số 19 bộ, ngành. Đặc biệt, các chỉ số
về hạ tầng kỹ thuật và chỉ số ứng dụng CNTT nhiều năm xếp ở vị trí trung bình yếu. 12
- Đối với cấp địa phương, ngoại trừ 5 địa phương có du lịch phát triển -
gồm Hà Nội, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Thừa Thiên -
Huế - đứng đầu bảng xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin - truyền thông, còn nhiều địa phương có
du lịch phát triển nhưng chỉ số xếp hạng lại rất thấp, như: Hải Phòng,
Ninh Bình, Quảng Bình, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Lào Cai,…
b) Trình độ khoa học công nghệ còn hạn chế:
- So với các quốc gia trên thế giới, trình độ khoa học công nghệ của Việt
Nam còn thấp. Do đó, việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công
nghệ ứng dụng cho du lịch còn nhiều hạn chế.
c) Tỷ lệ ứng dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp du
lịch còn thấp:
- Theo khảo sát của Hiệp hội Du lịch Việt Nam, hiện nay, các hệ thống
khách sạn cao cấp, thương hiệu quốc tế và các hãng hàng không,
doanh nghiệp lữ hành lớn như Saigontourist, Vietravel,
Vietnamtourism… đều tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động kinh doanh du lịch với khối lượng sản phẩm phong phú, có
thông tin cụ thể về thời điểm, giá cả, các dịch vụ.
- Với các doanh nghiệp du lịch khác hay các điểm tham quan, các đơn vị
vận chuyển, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động kinh doanh du lịch
chiếm tỷ lệ thấp. Nguyên nhân chính do doanh nghiệp du lịch Việt
Nam chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn ít, kinh doanh nhỏ,
lẻ nên khả năng tài chính chi trả cho đầu tư ứng dụng công nghệ không cao.
d) Thị trường du lịch trực tuyến chưa phát triển:
- Các công ty lữ hành online thương hiệu toàn cầu - như Agoda.com,
Booking.com, Traveloka.com, Expedia.com - đang độc chiếm thị
trường Việt Nam với khoảng 80% thị phần. Trong khi đó, chỉ có
khoảng 10 doanh nghiệp Việt Nam có kinh doanh du lịch trực tuyến, 13
như Ivivu.com, chudu24.com, mytour.vn, tripi.vn, vntrip.vn… Tuy
nhiên, các công ty này cũng chỉ phục vụ thị trường khách nội địa với
số lượng giao dịch còn thấp. Nguồn:
https://www.researchgate.net/publication/
28675337_The_Impact_of_E-
Commerce_Technology_on_the_Air_Travel_Industry
https://www.webyurt.com/ecomm erce-travel-industry
https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/ung-dung-thuong-mai-dien-tu-
trong-phat-trien-du-lich-d19636.html
II. Ứng dụng của thương mại điện tử trong mạng xã hội:
1. Sự hình thành của TMĐT trên mạng xã hội:
- Khái niệm về “social commerce” - TMĐT trên mạng xã hội lần đầu
được giới thiệu vào 11/2005 bới Yahoo! trong đó mô tả một tập hợp
các công cụ mua sắm, cộng tác trực tuyến như danh sách mua hàng
được đánh giá bởi người dùng và chia sẻ nội dung khác do người dùng
tạo thông tin với lời khuyên mua sản phẩm trực tuyến.
2. Doanh thu và tiềm năng phát triển:
2.1. Tiềm năng phát triển:
- Mạng xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến được nhiều người Việt
Nam sử dụng. Theo Báo cáo Digital 2020 for Vietnam của We are
social và Hootsuite, lượng người dùng mạng xã hội thường xuyên
(active social media user) ở Việt Nam tính đến tháng 01/2020 là 65
triệu người, chiếm 67% tổng dân số. Số lượng này tăng thêm 5,7 triệu
người dùng (tức 9,6%) so với thời điểm tháng 01/2019. Không những
thế, người dùng mạng xã hội cũng hoạt động khá tích cực. Theo đó, 14
thời gian trung bình một người dùng ở Việt Nam sử dụng mạng xã hội
là 2 giờ 22 phút. 89% người sử dụng internet có tham gia hoặc đóng
góp vào mạng xã hội trong thời gian một tháng gần nhất.
- Các nền tảng mạng xã hội hàng đầu ở Việt Nam là Facebook, Youtube,
Zalo, với số người dùng internet sử dụng tương ứng là 98%, 89% và
74%. Ngoài ra, Instagram, Tiktok, Pinterest cũng đang thu hút nhiều
người sử dụng, đặc biệt phổ biến hơn với thế hệ Z (nhóm sinh từ
khoảng 1997 - 2010). Mạng xã hội cũng đóng vai trò khá quan trọng
với công việc khi 58% người dùng internet cho biết họ sử dụng cho mục đích công việc.
(Báo cáo của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
http://vibonline.com.vn/wp-content/uploads/2021/03/Bao-cao-TMDT-tren- MXH-tai-VN_TV.pdf) 2.2. Doanh thu:
- Doanh thu thương mại điện tử trên mạng xã hội toàn cầu đạt 22 tỷ
USD vào năm 2019 và được dự đoán tăng trưởng hơn 200% trong
vòng 5 năm tới, lên mức 67 tỷ USD vào năm 2023. Theo các khảo sát
với người tiêu dùng về thói quen mua sắm, 70% người mua cho biết họ
tìm kiếm mặt hàng trên Facebook hoặc Instagram; 30% cho biết sẽ
mua trực tiếp từ Pinterest, Facebook, Twitter, Instagram hoặc Snapchat.
- Slate&Tell một cửa hàng trang sức độc lập, đang tìm cách xây dựng
chiến dịch quảng cáo trong các mùa bán hàng cao điểm. Bằng cách tận
dụng công cụ sáng tạo “Smart Video” của Tik Tok Ads Manager và tối
ưu chiến dịch, Slate&Tell đã tạo ra những quảng cáo hấp dẫn, tiếp cận
được 4 triệu người dùng Tik Tok, tạo ra 1000 lượt chuyển đổi, giúp họ
đạt được mục tiêu lợi nhuận gấp 2 lần trên chi tiêu quảng cáo chỉ trong vòng 6 tháng.
3. Các ứng dụng thương mại điện tử trên MXH: 15
Thương mại điện tử và phương tiện truyền thông xã hội là một sự kết hợp
hoàn hảo. Nó chắc chắn thay đổi cuộc chơi trong tất cả các doanh nghiệp. Bằng
cách biến các kênh truyền thông xã hội trở thành mục đích chính của truyền
thông, các công ty có thể nhắm mục tiêu đến nhiều đối tượng hơn, do đó biến họ
trở thành cơ sở khách hàng.
Phương tiện truyền thông xã hội có khả năng hướng người mua đến một
sản phẩm mới hoặc một giao dịch tốt. Nhưng không chỉ vậy, mạng xã hội tạo ra
một cảm giác cộng đồng và thu hút mọi người tham gia vào một cách mua sắm.
Thực tế là nhiều người sử dụng mạng xã hội để giúp họ đưa ra quyết định mua
hàng và khoảng 75% người đã mua thứ gì đó vì họ đã xem nó trên nền tảng
mạng xã hội. Trong thương mại điện tử xã hội có một cơ hội lớn cho các chủ
doanh nghiệp, chỉ khi chiến lược được thiết lập tốt. Phương tiện truyền thông xã
hội đã và sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của mua sắm trực
tuyến. Sử dụng các chức năng của mạng xã hội trong thương mại điện tử:
- Sử dụng mạng xã hội như một kênh tiếp thị, quảng cáo trực tuyến
các ứng dụng phổ biến và hiệu quả:
Tiếp thị là quá trình chịu quản lý có trách nhiệm, xác định, dự
đoán các yêu cầu của khách hàng nhằm mang lại lợi nhuận.
Theo khảo sát của Q&Me Vietnam Market Research, trong số
các phương thức tiếp thị số, tiếp thị trên mạng xã hội là phổ biến
nhất, với 84% người được khảo sát hiện đang sử dụng phương
pháp này, vượt xa so với các phương thức khác.
(Nguồn:https://ndh.vn/cong-nghe/chu-shop-o-xo-quang-cao-va-ban-
hang-tren-facebook-zalo-1249606.html)
- Lấy mạng xã hội là nơi diễn ra mạnh mẽ hoạt động TMĐT:
Về phía doanh nghiệp, khảo sát của VECOM cho thấy năm 2019,
tỷ lệ doanh nghiệp có tham gia kinh doanh trên mạng xã hội đạt
tỷ lệ 39%, cao hơn đáng kể so với kinh doanh trên sàn giao dịch
TMĐT (17%) và gần tương đương với tỷ lệ kinh doanh trên 16
website (42%). Đáng chú ý, tỷ lệ này có xu hướng tăng qua các
năm và cao hơn đáng kể so với năm 2015 (28%). Hiệu quả kinh
doanh qua mạng xã hội cũng được doanh nghiệp đánh giá cao
(40% cho biết hiệu quả cao), lớn hơn rất nhiều so với các hình
thức kinh doanh trực tuyến khác.
Một số mạng xã hội có bổ sung chức năng hỗ trợ hoạt động có
yếu tố TMĐT (như Marketplace của Facebook hay Shop của
Zalo) nhưng chức năng này mới chỉ dừng lại ở khâu giới thiệu
sản phẩm và cung cấp thông tin, chưa có chức năng đặt hàng trực tuyến.
Ví dụ như tính năng gian hàng giới thiệu sản phẩm Marketplace:
Tính năng này cho phép người bán đăng tải các loại hàng hóa lên
một khu vực tập trung Marketplace. Mặt hàng sẽ được hiển thị
với các nội dung gồm tên mặt hàng, giá, thông tin người bán, chi
tiết hoặc mô tả về hàng hóa. Người bán và người mua có thể trao
đổi các thông tin cần thiết khác Marketplace thông qua các
phương thức liên lạc (gọi điện hay nhắn tin) khác nhau. Người
dùng có thể tìm kiếm mặt hàng muốn mua thông qua bộ lọc theo
địa điểm, giá, và loại hàng (hàng điện tử, gia dụng, quần áo). Dù
vậy, Marketplace không hỗ trợ tính năng đặt hàng trực tuyến, giao vận hay thanh toán.
Về phía người tiêu dùng, theo báo cáo của Cục TMĐT và Kinh tế
số, khoảng 57% người được khảo sát cho biết họ có thực hiện
mua sắm qua diễn đàn, mạng xã hội tương đương tỷ lệ mua sắm
trên sàn giao dịch TMĐT và cao hơn tỷ lệ mua hàng trên website
(52%). Đặc biệt, tỷ lệ này tăng mạnh so với năm 2018 (36%).
Về hình thức, hoạt động này có thể diễn ra trên mục rao vặt của
các diễn đàn, trên trang cá nhân hoặc các hội nhóm trên mạng xã 17
hội, hoặc chuyên nghiệp hơn là các tài khoản với mục đích kinh
doanh như các trang (fanpage).
Về người bán, đối tượng bán hàng hay giới thiệu sản phẩm trên
mạng xã hội có thể là doanh nghiệp hoặc cá nhân kinh doanh,
nhưng cũng có thể là cá nhân nhỏ lẻ không có mục đích kinh
doanh, chẳng hạn như trao đổi hàng hóa cũ hoặc hàng hóa người
bán không có nhu cầu sử dụng nữa.
Về hàng hóa, hàng hóa trên mạng xã hội rất đa dạng về chủng
loại, trong đó có cả các mặt hàng chịu sự kiểm soát cao về tiêu
chuẩn chất lượng như thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng,
v.v.; các mặt hàng chịu hạn chế thương mại như rượu bia.
Về dịch vụ, nhiều loại dịch vụ truyền thống cũng được trao đổi
trên mạng xã hội như tư vấn các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp; dịch
vụ lưu trú; dịch vụ giao đồ ăn, ẩm thực; tư vấn du học, đào tạo,
môi giới việc làm, v.v…
- Tận dụng mạng xã hội để hỗ trợ các nền tảng TMĐT khác:
Chẳng hạn, theo báo cáo của YouNet Media và Iprice Group về thị trường
TMĐT 2019, các sàn giao dịch TMĐT có sự phụ thuộc nhất định vào mạng xã
hội khi hiệu quả truyền thông trên mạng xã hội ảnh hưởng đến lượng truy cập và
khả năng cạnh tranh của các sàn. Lý do được báo cáo đưa ra là mạng xã hội có
vai trò tác động đến mọi giai đoạn trong hành vi mua hàng của khách hàng,
đồng thời mạng xã hội cũng là kênh truyền thông quan trọng giới thiệu sản
phẩm với khách hàng và kết nối giữa các khách hàng với nhau.
4. Lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử trên mạng xã hội: 4.1. Lợi ích:
- Thương mại điện tử trên mạng xã hội có những lợi ích của thương mại
điện tử như: lợi ích với tổ chức (Mở rộng thị trường, giảm chi phí sản
xuất, cải thiện hệ thống phân phối, vượt giới hạn về thời gian); lợi ích 18
với người tiêu dùng (vượt qua giới hạn về không gian và thời gian,
nhiều lựa chọn về sản phẩm, dịch vụ, giá so sánh, giao hàng nhanh hơn
với các hàng hóa số hóa được).
- Ngoài ra nó còn có những lợi ích riêng biệt như việc giúp mọi người
tiếp cận thông tin nhanh chóng đặc biệt là giới trẻ, giúp giới trẻ mua,
tiêu dùng những mặt hàng nội địa, ủng hộ người dân Việt Nam hay ở
chính địa phương sinh sống. Đây là một môi trường tiếp thị sản phẩm rất tốt.
- Nó cũng tạo cơ hội cho những tiểu thương bán lẻ, những người trẻ
khởi nghiệp có môi trường có thể cạnh tranh với những mặt hàng có
lâu đời với chi phí quảng cáo ban đầu nhỏ và có thể là miễn phí. 4.2. Hạn chế:
Điều bất cập ở đây là Marketplace của facebook hay shop của zalo giống
với những sàn thương mại điện tử không có chức năng đặt hàng trực tuyến,
thường không đăng đủ thông tin và giá cả của sản phẩm. Người bán có thể ghi là
“giá thoả thuận” hoặc chỉ ghi khoảng giá hoặc thậm chí không ghi giá, ghi giá là
0 đồng. Điều này khó đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
Vấn đề quản lý thuế đối với hoạt động có yếu tố TMĐT trên mạng xã hội
hiện đang gặp nhiều khó khăn, tập trung ở hai vấn đề lớn:
Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập của các cá nhân, tổ chức
bán hàng hoá, dịch vụ trên mạng xã hội.
Thứ hai, thuế nhà thầu đối với các mạng xã hội cung cấp dịch vụ xuyên
biên giới. Đây là những vấn đề nhức nhối và chưa được giải quyết thỏa đáng hoàn toàn.
Khi sử dụng mạng xã hội có nghĩa là quyền sở hữu, kiểm soát bị hạn chế,
giới hạn bởi những điều khoản của nhà cung cấp mạng xã hội đưa ra. Nếu vô
tình vi phạm một điều khoản nào đó thì trang bán hàng có thể bị khóa và không
thể khôi phục lại được. Một số vấn đề tiêu biểu: 19
- Tính cạnh tranh cực kì lớn
- Khách hàng sẽ phải tốn nhiều thời gian để tìm lại bài đăng cách đây
một khoảng thời gian.
- Khi thông tin cung cấp trên mạng xã hội không đầy đủ sẽ ảnh hưởng
đến mức độ tin cậy của khách hàng.
- Tốn nhiều chi phí quảng cáo để đưa sản phẩm của mình tiếp cận được
khách hàng tiềm năng.
- Quy định quảng cáo nghiêm ngặt và hay thay đổi vì vậy cần cập nhật
thường xuyên để việc kinh doanh đạt hiệu quả cao.
-Khó kiểm soát hết tất cả các phàn nàn, ý kiến trái chiều của khách hàng.
III. Ứng dụng của thương mại điện tử vào trò chơi trực tuyến:
1. Sơ lược về trò chơi trực tuyến:
-Trò chơi trực tuyến là một video game được chơi một phần hoặc chủ
yếu qua Internet hoặc bất kỳ mạng máy tính nào khác có sẵn (Theo
bách khoa toàn thư wikipedia).
-Không thể phủ nhận rằng, ngành công nghiệp game hiện đang là “gã
khổng lồ” trong thị trường kinh doanh hiện đại ngày nay. Theo thống
kê, ngành công nghiệp trò chơi điện tử hiện được định giá trị hơn 120
tỷ đô la Mỹ và vẫn còn rất nhiều cơ hội để tăng trưởng và đầu tư trong tương lai.
-Đặc biệt, mặc dù năm 2020 dịch bệnh Covid bùng phát, gây ảnh hưởng
không nhỏ tới toàn xã hội, nhưng ngành game online được đánh giá là
một trong ít ngành công nghiệp nội dung số giữ vững được doanh thu
và thị trường lao động ổn định, thậm chí còn tăng nhẹ so với các năm trước.
(Tham khảo https://abei.gov.vn/thong-tin-dien-tu/nganh-cong-nghiep-
game-online-viet-nam/107449) 20