lOMoARcPSD| 61622929
2.2.Giúp nhân dân Campuchia khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, đất nước hồi
sinh và phát triển
Sau khi đất nước Campuchia được giải phóng, lực lượng trang cách mạng Campuchia
còn non yếu, chưa thể bảo vệ được thành quả cách mạng. Công cuộc xây dựng lại đất nước
gần như phải bắt đầu từ con số 0, với vàn khó khăn. Bên cạnh việc phải tiêu diệt hoàn
toàn chế độ Pol Pot - Ieng Sary, việc hồi sinh phục hồi đất ớc trở thành vấn đề cấp
thiết đặt ra lúc bấy giờ. Vì lẽ đó, quân tình nguyện Việt Nam đã nhanh chóng có mặt, góp
phần quan trọng trong việc ổn định cuộc sống cho người dân Campuchia. Các lực ợng
Quân tình nguyện đã tchức đưa hơn 1 triệu người dân, đang phải sống trong cảnh màn
trời chiếu đất, trở về quê ơng để tái thiết cuộc sống. Đối với những khu vực chưa đủ điều
kiện để trở về, Quân tình nguyện đã động viên người dân tạm ổn định tại các khu vực khác,
và khi tình hình cho phép sẽ đưa họ trở về.
Nếu như trong tháng 6 - 1979, trong cả ớc Campuchia 2,4 triệu người đói thì một
tháng sau, nạn đói đã đe doạ 3,2 triệu người (60% dân số). Trước tình hình đó, Chính phủ
ta quyết định mở chiến dịch vận chuyển cứu đói phục vụ sản xuất nông nghiệp trước
mắt cho Campuchia. Quân tình nguyện Việt Nam đã giúp Campuchia mở cảng biển
Kampong Som khôi phục tuyến đường sắt từ cảng đến Phnom Penh, góp phần vận
chuyển 203.000 tấn lương thực của các nước viện trphân phối đến từng người n
(trong đó, Việt Nam đóng góp khoảng 45.000 tấn). Nhờ sự hỗ trợ này, đến cuối năm 1980,
đầu năm 1981, Campuchia đã bản ngăn chặn được nạn đói. góp phần vận chuyển
203.000 tấn lương thực của các nước viện trợ
Quân nh nguyện Việt Nam đã tham gia vận chuyển lương thực cứu trợ cho hơn 4 triệu
người, cung cấp thuốc men, giống cây trồng, công cụ sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếu,
đồng thời hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, ngăn chặn dịch bệnh. Họ cũng sử dụng xe quân sự để
đưa hàng chục vạn người dân trở về quê ổn định cuộc sống giúp chính quyền vận
động người dân khắc phục khó khăn, đẩy mạnh trồng cây lương thực và cây ăn quả để giải
quyết nạn đói.
Cụ thể, Campuchia đã tổ chức được 107.606 tổ sản xuất, trồng được 137.000 ha lúa với
năng suất bình quân đạt 15 tạ/ha. Năm 1981, sản xuất nông nghiêp tăng 09% so ới năm
1979. Đến năm 1987, sản lượng lương thực đạt 2 triệu tấn. Ngành ngư nghiệp phục hồi
mạnh mẽ với hơn 1.000 tổ hợp tác đánh bắt được hơn 60.000 tấn mỗi năm. Ngành
công nghiệp cũng bước tiến lớn, sản xuất máy móc, hàng hóa phục vụ xuất khẩu khôi
phục được 54 trong tổng số 65 nghiệp thủ công. Công nghiệp khai thác chế biến g
đạt 50.000 m³/năm.n cạnh đó, y tế giáo dục có nhiều tiến bộ rõ rệt, với hơn 80% số
trạm xá, hàng trăm trường học được khôi phục xây mới. Các thiết chế văn hóa
như báo chí, phát thanh, truyền hình, thư việnbảo tàng được củng cố phát triển. Hệ
lOMoARcPSD| 61622929
thống giao thông được cải thiện, với 652 km đường sắt và hàng nghìn km đường bộ được
sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân di chuyển và phát triển kinh tế.
Ngoài ra, các chiến ta còn hỗ trợ xây dựng lại nhà cửa, trường học, bệnh xá, cung cấp
dụng cụ gia đình, công cụ sản xuất, hạt giống, con giống để nhân dân Campuchia khôi phục
sản xuất, cải thiện đời sống. Để khắc phục tình trạng dịch bệnh đang hoành hành khắp nơi,
các đội ngũ quân y và chuyên gia y tế Việt Nam đã được cử sang hỗ trợ, giúp khôi phục hệ
thống chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám chữa bệnh, góp phần quan trọng vào việc cải thiện
điều kiện sống giúp Campuchia dần ổn định phát triển. Sự hỗ trợ tận tình và trách
nhiệm của quân nh nguyện Việt Nam đã giúp nhân dân Campuchia từng bước vượt qua
khó khăn, bảo vệ và xây dựng lại đất nước.
2.3.Giúp Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, xây
dựng chính quyền cách mạng và các tổ chức đoàn thể
Với phương châm giúp nước bạn xây dựng thực lực cách mạng để tiến tới tự làm lấy cách
mạng của mình, Đảng ta sớm chủ trương giúp Campuchia xây dựng lực lượng trang
cách mạng để sát cánh chiến đấu bên cạnh Quân tình nguyện Việt Nam đánh đổ chế độ diệt
chủng Pol Pot, bảo vệ nhân dân và chính quyền cách mạng sau này. Thực hiện chủ trương
của Đảng, ngay từ năm 1978, vừa đánh địch, các quân khu 5, 7, 9 vừa tích cực giúp
Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang phát triển cả về số lượng và chất lượng. Từ tháng
5 đến tháng 12 - 1978, các quân khu của ta đã giúp Campuchia xây dựng được 22 tiểu đoàn
bộ binh và 69 đội công tác.
Từ 22 tiểu đoàn bộ binh, 69 đội công tác vào cuối năm 1978, đến tháng 1-1989, Campuchia
đã xây dựng được lực lượng trang ba thứ quân, gồm các đoàn, lữ đoàn, trung đoàn
chủ lực, các đơn vị binh chủng, hệ thống các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy từ Trung ương đến
cơ sở, với tổng quân số 128.746 người; trong đó bộ đội chủ lực là 48.183 người, bộ đội địa
phương 80.863 người 42.000 cán bộ, chiến công an nhân dân. Đối với Đoàn chuyên
gia quân sự 478 đã cùng Tiền phương Bộ Quốc phòng giúp Campuchia xây dựng bộ máy
cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần - Kỹ
thuật; giúp Bạn xây dựng Trường Lục quân, Trường Kỹ thuật Thông tin, Trường Hậu cần...
Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ Campuchia ngày càng phát triển và trưởng thành. Hầu hết đội ngũ
cán bộ những người đã được rèn luyện thử thách trong chiến đấu đào tạo các trường
trong nước nước ngoài. Qua nhiều năm ththách trong chiến đấu chống quân Pol Pot,
bảo vệ đất nước, nhiều người đã trưởng thành nhanh chóng, trở thành n bộ cao cấp của
quân đội cách mạng Campuchia.
Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Quân tình nguyện của ta còn cùng
với đội ngũ chuyên gia giúp Campuchia xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng từ
lOMoARcPSD| 61622929
Trung ương xuống địa phương. Trong xây dựng chính quyền, vấn đề quan trọng là đội ngũ
cán bộ. Sau giải phóng, đội ngũ cán bộ của Campuchia vừa thiếu lực lượng, vừa yếu cả về
nhận thức chính trị trình độ chuyên môn. Dựa vào chính quyền cách mạng, các đoàn thể
quần chúng nhân dân Campuchia, Quân tình nguyện chuyên gia quân sự đã phối hợp
chặt chẽ với các đoàn chuyên gia cấp tỉnh, tổ chuyên gia cấp huyện giúp nước bạn lựa chọn,
lập hồ sơ, kiểm tra, xem xét lý lịch từng người; sau đó tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để kiện
toàn bộ máy chính quyền các cấp. Bộ đội ta đã giúp Campuchia tăng cường đội ngũ cán bộ
xây dựng củng cố hệ thống chính quyền ch mạng các cấp 21 tỉnh, thành phố, 169
huyện, thị trấn, 1.540 xã phường và 12.247 ấp.
Bên cạnh đó, ta còn giúp nước bạn xây dựng các tổ chức đoàn thể như: công đoàn, hội phụ
nữ, đoàn thanh niên,… nhằm củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng, lãnh đạo, tổ chức,
động viên nhân dân tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc, lao động sản xuất, kiến thiết đất
nước.
2.4.Truy quét và ngăn chặn tàn quân Khmer Đỏ quay trở lại trên chiến trường
Thực hiên nghĩa quốc tế cao cả, trong giai đoạn 1979 - 1982, Quân tình nguyên Việ
Nam đã cùng lực lượng trang cách mạng Campuchia liên tiếp mở các cuôc tị ến công
truy quét tàn quân Pol Pot khu vực biên giới phía Tây, Tây Nam và trong nôi đ
ịa. Mùa
mưa năm 1980, trên biên giới phía Tây và Tây Bắc, bộ đội ta và Campuchia đánh thiê hại
năng 07 đọ àn, buôc 05 đọ àn khác phải tháo chạy ra ngoài biên giới, trốn vào vùng
rừng núi phía Bắc và Tây Bắc. Mùa khô 1981 - 1982, ta tiếp tục tiến công vào nhiều vị trí
then chốt, trong đó có Văn phòng Trung ương Pol Pot Ô Đa, các căn cứ Cao Lai,
Đầm Rông, Tróc Xây, tiêu diêt mộ t phần sinh lực, p á hủy nhiều phương tiện chiến đấu,
kho tàng; đồng thời, mở rộng các đợt hoạt động tác chiến, đẩy quân địch trên các măt trậ n
vào thế úng túng, bị động đối phó. Trên c măt trn 479, 579, 779, 979, ta cùng
với
Campuchia bản a xong các phản đông  địa bàn trọng điểm, đưa phong trào cách
mạng Campuchia phát triển mạnh mẽ lên nấc thang mới. Đến những năm 1983 1985, nhờ
sự giúp đỡ đắc lực của ta, Campuchia đã tự bảo vệ, quản được Thủ đô Phnôm Pênh,
cảng Kampong Som, 04 tỉnh (Svây-riêng, Prây-veng, Kông-pông Chàm, Kan-đan), một số
khu vực trọng điểm và cơ bản đã kiểm soát được tuyến biên giới phía Tây.
Sau khi đánh đuổi được tàn quân Pol Pot, theo đề nghị của bạn, Quân tình nguyện chuyên
gia quân sự Việt Nam đã phối hợp với quân dân Campuchia triển khai xây dựng tuyến
phòng thủ dài hơn 600 km giáp với biên giới Thái Lan. Cuối năm 1987, tuyến phòng thủ
do các mặt trận 479, 579, 979 đảm nhiệm xây dựng cơ bản hoàn thành; kịp thời phát hiện,
ngăn chặn, đẩy i các cuộc tiến công của tàn quân Pol Pot. Ngoài ra, còn tổ chức nhiều
đợt đánh địch trên tuyến hành lang và các “căn cứ lõm” ở khu vực phía Bắc và Đông Nam
thị xã Kra-chi-ê. Tháng 4-1988, căn cứ vào tình hình thực tế trong nước, khu vực và nội bộ
lOMoARcPSD| 61622929
Campuchia, Bộ Chính trị Việt Nam quyết định bàn giao các công việc đẩy nhanh tiến
độ rút Quân tình nguyện chuyên gia quân sự Campuchia về nước. Theo đó, từ ngày
21 đến 26-9-1989, toàn bô Quân  ình nguyên và chuyên gia quân sự Việt Nam đã về nước,
hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Campuchia.
Kết luận
Để nói về vai trò của Quân tình nguyện Việt Nam, ông Hun Sen (khi này Thủ tướng
Chính phủ Campuchia), tại Lễ khánh thành Khu Di tích lịch sử Địa điểm thành lập Đoàn
125 - Tiền thân Quân đội nhân dân cách mạng Campuchia tại Đồng Nai (tháng 1-2012), đã
khẳng định như sau: "Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này, có đất nước nào đã giúp
nhân dân Campuchia, đặc biệt giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot ngăn cản
sự quay lại của chúng? Câu trả lời chính nhân dân Quân đội Việt Nam. Nhân dân
Campuchia niềm tin, chỉ Tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp
khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay
khẩn cầu Tiên, Phật tới cứu thì bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam
chính là “Đội quân nhà Phật”. thể thấy, phát biểu của ông Hun Sen đã thể hiện sâu sắc
vai trò to lớn ý nghĩa thiêng liêng của quân tình nguyện Việt Nam trong lịch sử
Campuchia. Sự giúp đỡ của Việt Nam không chỉ là hành động chính trị quân sự, mà còn là
nghĩa cử nhân đạo sâu sắc, được nhân dân Campuchia ghi nhớ như một sự cứu rỗi trong
thời khắc đen tối nhất của lịch sử.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Dung. (2021). Việt Nam chiến đấu vì hòa bình, ổn định và hồi
sinh đất nước Campuchia. Lý luận chính trị, 61 - 67.
2.
Hoàn thành sứ mệnh hồi sinh quốc gia-dân tộc Campuchia, “Đội quân nhà Phật” rút về ớc.
(2024, 11 20). Retrieved from Quân đội Nhân dân.
hps://www.qdnd.vn/vung-buoc-duoi-quan-ky-quyet-thang/lich-su-quan-doi-nhan-dan-
vietnam/hoan-thanh-su-menh-hoi-sinh-quoc-gia-dan-toc-campuchia-doi-quan-nha-phat-rut-
venuoc-802564
3. Quân đội nhân dân Việt Nam với công cuộc hồi sinh đất nước Cam-pu-chia (1979 -
1989). (2019). Quốc phòng toàn dân. hp://tapchiqptd.vn/vi/lich-su-quan-su-viet-nam/quan-
doi-nhan-dan-viet-nam-voi-cong-cuochoi-sinh-dat-nuoc-campuchia-1979-1989/14234.html
lOMoARcPSD| 61622929
4. Lịch sử Quân nh nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Campuchia.
(2021, 10 15). Retrieved from Quân sử Việt Nam.
hps://www.quansuvn.net/index.php?topic=31983.110

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61622929
2.2.Giúp nhân dân Campuchia khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, đất nước hồi sinh và phát triển
Sau khi đất nước Campuchia được giải phóng, lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia
còn non yếu, chưa thể bảo vệ được thành quả cách mạng. Công cuộc xây dựng lại đất nước
gần như phải bắt đầu từ con số 0, với vô vàn khó khăn. Bên cạnh việc phải tiêu diệt hoàn
toàn chế độ Pol Pot - Ieng Sary, việc hồi sinh và phục hồi đất nước trở thành vấn đề cấp
thiết đặt ra lúc bấy giờ. Vì lẽ đó, quân tình nguyện Việt Nam đã nhanh chóng có mặt, góp
phần quan trọng trong việc ổn định cuộc sống cho người dân Campuchia. Các lực lượng
Quân tình nguyện đã tổ chức đưa hơn 1 triệu người dân, đang phải sống trong cảnh màn
trời chiếu đất, trở về quê hương để tái thiết cuộc sống. Đối với những khu vực chưa đủ điều
kiện để trở về, Quân tình nguyện đã động viên người dân tạm ổn định tại các khu vực khác,
và khi tình hình cho phép sẽ đưa họ trở về.
Nếu như trong tháng 6 - 1979, trong cả nước Campuchia có 2,4 triệu người đói thì một
tháng sau, nạn đói đã đe doạ 3,2 triệu người (60% dân số). Trước tình hình đó, Chính phủ
ta quyết định mở chiến dịch vận chuyển cứu đói và phục vụ sản xuất nông nghiệp trước
mắt cho Campuchia. Quân tình nguyện Việt Nam đã giúp Campuchia mở cảng biển
Kampong Som và khôi phục tuyến đường sắt từ cảng đến Phnom Penh, góp phần vận
chuyển 203.000 tấn lương thực của các nước viện trợ và phân phối đến từng người dân
(trong đó, Việt Nam đóng góp khoảng 45.000 tấn). Nhờ sự hỗ trợ này, đến cuối năm 1980,
đầu năm 1981, Campuchia đã cơ bản ngăn chặn được nạn đói. góp phần vận chuyển
203.000 tấn lương thực của các nước viện trợ
Quân tình nguyện Việt Nam đã tham gia vận chuyển lương thực cứu trợ cho hơn 4 triệu
người, cung cấp thuốc men, giống cây trồng, công cụ sản xuất và hàng tiêu dùng thiết yếu,
đồng thời hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, ngăn chặn dịch bệnh. Họ cũng sử dụng xe quân sự để
đưa hàng chục vạn người dân trở về quê cũ ổn định cuộc sống và giúp chính quyền vận
động người dân khắc phục khó khăn, đẩy mạnh trồng cây lương thực và cây ăn quả để giải quyết nạn đói.
Cụ thể, Campuchia đã tổ chức được 107.606 tổ sản xuất, trồng được 137.000 ha lúa với
năng suất bình quân đạt 15 tạ/ha. Năm 1981, sản xuất nông nghiêp tăng 09% so ṿ ới năm
1979. Đến năm 1987, sản lượng lương thực đạt 2 triệu tấn. Ngành ngư nghiệp phục hồi
mạnh mẽ với hơn 1.000 tổ hợp tác xã đánh bắt được hơn 60.000 tấn cá mỗi năm. Ngành
công nghiệp cũng có bước tiến lớn, sản xuất máy móc, hàng hóa phục vụ xuất khẩu và khôi
phục được 54 trong tổng số 65 xí nghiệp thủ công. Công nghiệp khai thác và chế biến gỗ
đạt 50.000 m³/năm. Bên cạnh đó, y tế và giáo dục có nhiều tiến bộ rõ rệt, với hơn 80% số
xã có trạm xá, hàng trăm trường học được khôi phục và xây mới. Các thiết chế văn hóa
như báo chí, phát thanh, truyền hình, thư viện và bảo tàng được củng cố và phát triển. Hệ lOMoAR cPSD| 61622929
thống giao thông được cải thiện, với 652 km đường sắt và hàng nghìn km đường bộ được
sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân di chuyển và phát triển kinh tế.
Ngoài ra, các chiến sĩ ta còn hỗ trợ xây dựng lại nhà cửa, trường học, bệnh xá, cung cấp
dụng cụ gia đình, công cụ sản xuất, hạt giống, con giống để nhân dân Campuchia khôi phục
sản xuất, cải thiện đời sống. Để khắc phục tình trạng dịch bệnh đang hoành hành khắp nơi,
các đội ngũ quân y và chuyên gia y tế Việt Nam đã được cử sang hỗ trợ, giúp khôi phục hệ
thống chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám chữa bệnh, góp phần quan trọng vào việc cải thiện
điều kiện sống và giúp Campuchia dần ổn định và phát triển. Sự hỗ trợ tận tình và trách
nhiệm của quân tình nguyện Việt Nam đã giúp nhân dân Campuchia từng bước vượt qua
khó khăn, bảo vệ và xây dựng lại đất nước.
2.3.Giúp Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, xây
dựng chính quyền cách mạng và các tổ chức đoàn thể
Với phương châm giúp nước bạn xây dựng thực lực cách mạng để tiến tới tự làm lấy cách
mạng của mình, Đảng ta sớm chủ trương giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang
cách mạng để sát cánh chiến đấu bên cạnh Quân tình nguyện Việt Nam đánh đổ chế độ diệt
chủng Pol Pot, bảo vệ nhân dân và chính quyền cách mạng sau này. Thực hiện chủ trương
của Đảng, ngay từ năm 1978, vừa đánh địch, các quân khu 5, 7, 9 vừa tích cực giúp
Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang phát triển cả về số lượng và chất lượng. Từ tháng
5 đến tháng 12 - 1978, các quân khu của ta đã giúp Campuchia xây dựng được 22 tiểu đoàn
bộ binh và 69 đội công tác.
Từ 22 tiểu đoàn bộ binh, 69 đội công tác vào cuối năm 1978, đến tháng 1-1989, Campuchia
đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân, gồm các sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn
chủ lực, các đơn vị binh chủng, hệ thống các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy từ Trung ương đến
cơ sở, với tổng quân số 128.746 người; trong đó bộ đội chủ lực là 48.183 người, bộ đội địa
phương 80.863 người và 42.000 cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân. Đối với Đoàn chuyên
gia quân sự 478 đã cùng Tiền phương Bộ Quốc phòng giúp Campuchia xây dựng bộ máy
cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần - Kỹ
thuật; giúp Bạn xây dựng Trường Lục quân, Trường Kỹ thuật Thông tin, Trường Hậu cần...
Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ Campuchia ngày càng phát triển và trưởng thành. Hầu hết đội ngũ
cán bộ là những người đã được rèn luyện thử thách trong chiến đấu và đào tạo ở các trường
trong nước và nước ngoài. Qua nhiều năm thử thách trong chiến đấu chống quân Pol Pot,
bảo vệ đất nước, nhiều người đã trưởng thành nhanh chóng, trở thành cán bộ cao cấp của
quân đội cách mạng Campuchia.
Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Quân tình nguyện của ta còn cùng
với đội ngũ chuyên gia giúp Campuchia xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng từ lOMoAR cPSD| 61622929
Trung ương xuống địa phương. Trong xây dựng chính quyền, vấn đề quan trọng là đội ngũ
cán bộ. Sau giải phóng, đội ngũ cán bộ của Campuchia vừa thiếu lực lượng, vừa yếu cả về
nhận thức chính trị và trình độ chuyên môn. Dựa vào chính quyền cách mạng, các đoàn thể
quần chúng và nhân dân Campuchia, Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự đã phối hợp
chặt chẽ với các đoàn chuyên gia cấp tỉnh, tổ chuyên gia cấp huyện giúp nước bạn lựa chọn,
lập hồ sơ, kiểm tra, xem xét lý lịch từng người; sau đó tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để kiện
toàn bộ máy chính quyền các cấp. Bộ đội ta đã giúp Campuchia tăng cường đội ngũ cán bộ
xây dựng và củng cố hệ thống chính quyền cách mạng các cấp ở 21 tỉnh, thành phố, 169
huyện, thị trấn, 1.540 xã phường và 12.247 ấp.
Bên cạnh đó, ta còn giúp nước bạn xây dựng các tổ chức đoàn thể như: công đoàn, hội phụ
nữ, đoàn thanh niên,… nhằm củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng, lãnh đạo, tổ chức,
động viên nhân dân tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc, lao động sản xuất, kiến thiết đất nước.
2.4.Truy quét và ngăn chặn tàn quân Khmer Đỏ quay trở lại trên chiến trường
Thực hiên nghĩa ṿ ụ quốc tế cao cả, trong giai đoạn 1979 - 1982, Quân tình nguyên Việ ṭ
Nam đã cùng lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia liên tiếp mở các cuôc tị ến công
truy quét tàn quân Pol Pot ở khu vực biên giới phía Tây, Tây Nam và trong nôi đ ̣ ịa. Mùa
mưa năm 1980, trên biên giới phía Tây và Tây Bắc, bộ đội ta và Campuchia đánh thiêṭ hại
năng 07 sư đọ àn, buôc 05 sư đọ àn khác phải tháo chạy ra ngoài biên giới, trốn vào vùng
rừng núi phía Bắc và Tây Bắc. Mùa khô 1981 - 1982, ta tiếp tục tiến công vào nhiều vị trí
then chốt, trong đó có Văn phòng Trung ương Pol Pot ở Ô Đa, các căn cứ ở Cao Mê Lai,
Đầm Rông, Tróc Xây, tiêu diêt mộ t phần sinh lực, pḥ á hủy nhiều phương tiện chiến đấu,
kho tàng; đồng thời, mở rộng các đợt hoạt động tác chiến, đẩy quân địch trên các măt trậ n
vào thế ḷ úng túng, bị động đối phó. Trên các măt trậ n 479, 579, 779, 979, ta cùng ̣ với
Campuchia cơ bản xóa xong các ổ phản đông ̣ ở địa bàn trọng điểm, đưa phong trào cách
mạng Campuchia phát triển mạnh mẽ lên nấc thang mới. Đến những năm 1983 1985, nhờ
sự giúp đỡ đắc lực của ta, Campuchia đã tự bảo vệ, quản lý được Thủ đô Phnôm Pênh,
cảng Kampong Som, 04 tỉnh (Svây-riêng, Prây-veng, Kông-pông Chàm, Kan-đan), một số
khu vực trọng điểm và cơ bản đã kiểm soát được tuyến biên giới phía Tây.
Sau khi đánh đuổi được tàn quân Pol Pot, theo đề nghị của bạn, Quân tình nguyện và chuyên
gia quân sự Việt Nam đã phối hợp với quân và dân Campuchia triển khai xây dựng tuyến
phòng thủ dài hơn 600 km giáp với biên giới Thái Lan. Cuối năm 1987, tuyến phòng thủ
do các mặt trận 479, 579, 979 đảm nhiệm xây dựng cơ bản hoàn thành; kịp thời phát hiện,
ngăn chặn, đẩy lùi các cuộc tiến công của tàn quân Pol Pot. Ngoài ra, còn tổ chức nhiều
đợt đánh địch trên tuyến hành lang và các “căn cứ lõm” ở khu vực phía Bắc và Đông Nam
thị xã Kra-chi-ê. Tháng 4-1988, căn cứ vào tình hình thực tế trong nước, khu vực và nội bộ lOMoAR cPSD| 61622929
Campuchia, Bộ Chính trị Việt Nam quyết định bàn giao các công việc và đẩy nhanh tiến
độ rút Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự ở Campuchia về nước. Theo đó, từ ngày
21 đến 26-9-1989, toàn bô Quân ṭ ình nguyên và chuyên gia quân sự̣ Việt Nam đã về nước,
hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Campuchia. Kết luận
Để nói về vai trò của Quân tình nguyện Việt Nam, ông Hun Sen (khi này là Thủ tướng
Chính phủ Campuchia), tại Lễ khánh thành Khu Di tích lịch sử Địa điểm thành lập Đoàn
125 - Tiền thân Quân đội nhân dân cách mạng Campuchia tại Đồng Nai (tháng 1-2012), đã
khẳng định như sau: "Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này, có đất nước nào đã giúp
nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản
sự quay lại của chúng? Câu trả lời chính là nhân dân và Quân đội Việt Nam. Nhân dân
Campuchia có niềm tin, chỉ có Tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp
khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay
khẩn cầu Tiên, Phật tới cứu thì bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam
chính là “Đội quân nhà Phật”.
Có thể thấy, phát biểu của ông Hun Sen đã thể hiện sâu sắc
vai trò to lớn và ý nghĩa thiêng liêng của quân tình nguyện Việt Nam trong lịch sử
Campuchia. Sự giúp đỡ của Việt Nam không chỉ là hành động chính trị quân sự, mà còn là
nghĩa cử nhân đạo sâu sắc, được nhân dân Campuchia ghi nhớ như một sự cứu rỗi trong
thời khắc đen tối nhất của lịch sử.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Thị Hồng Dung. (2021). Việt Nam chiến đấu vì hòa bình, ổn định và hồi
sinh đất nước Campuchia. Lý luận chính trị, 61 - 67. 2.
Hoàn thành sứ mệnh hồi sinh quốc gia-dân tộc Campuchia, “Đội quân nhà Phật” rút về nước.
(2024, 11 20). Retrieved from Quân đội Nhân dân.
https://www.qdnd.vn/vung-buoc-duoi-quan-ky-quyet-thang/lich-su-quan-doi-nhan-dan-
vietnam/hoan-thanh-su-menh-hoi-sinh-quoc-gia-dan-toc-campuchia-doi-quan-nha-phat-rut- venuoc-802564 3.
Quân đội nhân dân Việt Nam với công cuộc hồi sinh đất nước Cam-pu-chia (1979 -
1989). (2019). Quốc phòng toàn dân. http://tapchiqptd.vn/vi/lich-su-quan-su-viet-nam/quan-
doi-nhan-dan-viet-nam-voi-cong-cuochoi-sinh-dat-nuoc-campuchia-1979-1989/14234.html lOMoAR cPSD| 61622929 4.
Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Campuchia.
(2021, 10 15). Retrieved from Quân sử Việt Nam.
https://www.quansuvn.net/index.php?topic=31983.110