-
Thông tin
-
Quiz
Vấn đề đói nghèo tiếp cận từ tính quy luật: cơ sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia | Tiểu luận Quan hệ quốc tế
Thế giới đang bước sang thế kỉ XXI với một nền văn minh hiện đại, nền khoa học phát triển vượt bậc với những phát minh mới. Tuy nhiên vẫn còn ngổn ngang vấn đề cấp bách toàn cầu. Trong số đó chính là vấn đề đói nghèo, đói nghèo vẫn còn tồn tại trầm trọng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Quan hệ quốc tế 24 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Vấn đề đói nghèo tiếp cận từ tính quy luật: cơ sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia | Tiểu luận Quan hệ quốc tế
Thế giới đang bước sang thế kỉ XXI với một nền văn minh hiện đại, nền khoa học phát triển vượt bậc với những phát minh mới. Tuy nhiên vẫn còn ngổn ngang vấn đề cấp bách toàn cầu. Trong số đó chính là vấn đề đói nghèo, đói nghèo vẫn còn tồn tại trầm trọng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Quan hệ quốc tế 24 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ ------------------------- TIỂU LUẬN Môn: Quan hệ quốc tế
Đề tài: VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO TIẾP CẬN TỪ TÍNH QUY
LUẬT: CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN
TRƯỜNG QUỐC TẾ LÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA
Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hà Sinh viên
: Nguyễn Thị Thảo Uyên Lớp : Quản lý xã hội K40 Mã sinh viên : 2055320051
Hà Nội, tháng 12 năm 2021 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 3
1.Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 3
2.Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 3
3.Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 3
4.Bố cục tiểu luận ............................................................................................ 4
CHƯƠNG 1: ........................................................................................................ 4
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ............................ 4
1.1.Các khái niệm liên quan đến vấn đề toàn cầu ........................................ 4
1.1.1.Các vấn đề toàn cầu ............................................................................ 4
1.1.2.Đói nghèo ............................................................................................. 4
1.2.Tính quy luật: cơ sở h ạ
o t động của các quốc gia trên trường quốc tế
là lợi ích quốc gia ............................................................................................ 7
CHƯƠNG 2: ........................................................................................................ 9
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI VÀ HƯỚNG
GIẢI QUYẾT ÁP DỤNG TÍNH QUY LUẬT : CƠ SỞ H Ạ O T ĐỘNG CỦA
CÁC QUỐC GIA TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ LÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA . 9
2.1.Tổng quan về đói nghèo trên thế g ới
i trong 10 năm gần đây ............... 9
2.1.1.Thực trạng ........................................................................................... 9
2.1.2. Nguyên nhân gây nên đói nghèo trên thế giới .............................. .10
2.2.Giải quyết đói nghèo áp dụng tính quy luật: Cơ sở hoạt động của các
quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia ......................................... 11
2.2.2.Phát huy vai trò của các tổ chức quốc tế vì mục tiêu tiên niên kỉ -
xóa nghèo .................................................................................................... 14
CHƯƠNG 3: ...................................................................................................... 16
DỰ BÁO XU HƯỚNG ĐÓI NGHÈO TRÊN THẾ GIỚI TRONG THỜI
GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM
TRONG CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO THỜI GIAN TỚI ...... 16
3.1.Dự báo xu hướng đói nghèo trên thế giới trong 10 năm tới ................ 16
3.2.Một số kiến nghị cho Việt Nam trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
thời gian tới ..................................................................................................... 17
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 21 MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước sang thế kỉ XXI với một nền văn minh rực rỡ, nền khoa
học phát triển vượt bậc với những phát minh mới. Tuy nhiên vẫn còn ngổn ngang
những vấn đề cấp bách toàn cầu.Một trong số đó chính là vấn đề đói nghèo, đói
nghèo vẫn còn tồn tại trầm trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn. Nghèo đói
luôn là bất hạnh của con người, n
ó đã cướp đi ước mơ, cướp đi quyền được sống,
được làm những điều mình thích không những thế đói nghèo còn cướp đi cả cơ
hội học hỏi, cơ hội hòa nhập với những nền văn minh lớn, đặc biệt là công nghệ
4.0, trí tuệ Al. Do đó chúng ta cần phải nghiên cứu, phân tích thực trạng đói nghèo
trên thế giới tìm ra nguyên nhân và từ đó đề ra các hướng giải quyết, khắc phục
đói nghèo có như vậy kinh tế xã hội mới phát triển được.Đây thực sự là một cuộc
chiến lâu dài và cần có sự chung tay của tất cả các quốc gia.
Vì vậy, em đã chọn đề tài “ Vấn đề đói nghèo tiếp cận từ tính quy luật: Cơ
sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia” cho tiểu
luận của mình với mong muốn góp phần nhỏ công sức trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. 2.Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi không gian: Vấn đề đói nghèo trên phạm vi thế giới.
-Phạm vi thời gian: trong 10 năm gần đây (2011-2021)
-Phạm vi nội dung: giải quyết đói nghèo liên quan đến hợp tác quốc tế và
áp dụng tính quy luật: cơ sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia.
3.Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp luận: phương pháp duy vật biện chứng, Triết học Mác-L n ê in
và tư tưởng Hồ Chí Minh.
-Phương pháp cụ thể:phương pháp tổng hợp, nghiên cứu, phân tích, dự báo. 4.Bố cục tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, nội dung và kết luận, tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Thực trạng đói nghèo hiện nay trên thế giới và hướng giải quyết áp
dụng tính quy luật: cơ sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia.
Chương 3: Dự báo xu hướng đói nghèo trên thế giới trong thời gian tới và một số
kiến nghị, chính sách cho Việt Nam trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.Các khái niệm liên quan đến vấn đề toàn cầu
1.1.1.Các vấn đề toàn cầu
Thuật ngữ “những vấn đề toàn cầu” dùng để chỉ những vấn đề mà tác
động của nó liên quan trực tiếp đến từng con người, đến vận mệnh của tất cả các
dân tộc không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, biên giới quốc gia.1
Những vấn đề toàn cầu hiện nay là sản phẩm của toàn cầu hóa, phát sinh
từ quá trình toàn cầu hóa, biểu hiện ra với tính cách là một phúc hợp của các vấn
đề khoa học, kỹ thuật và các vấn đề chính trị- xã hội của thời đại chúng ta mà
muốn giải quyết chúng thì cần có sự nỗ lực và hợp tác của cộng đồng thế giới.2 1.1.2.Đói nghèo
1.1.2.1.Khái niệm đói nghèo
Thế giới đã và đang đối mặt với nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết như
ngăn chặn chiến tranh và bảo vệ hòa bình, ô nhiễm môi trường, nóng lên toàn cầu,
đói nghèo, khủng bố quốc tế…Trong đó đói nghèo tác động rất nhiều đến các lợi
1 Lê Minh Châu: Quan hệ quốc tế đại cương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.103.
2 GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn: Những vấn đề cấp bách toàn cầu trong hai thập niên đầu thế kỉ XXI, Nxh Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.10.
ích của quốc gia bao gồm: an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chất lượng sống
và môi trường sống của công dân, sự bất bình đẳng xã hội và đặc biệt là sự phát
triển xã hội của quốc gia đó. Đói nghèo không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền
kinh tế kém phát triển mà nó còn tồn tại ngay trên các nước phát triển.Tuy nhiên,
tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia do đó tính
chất và mức độ nghèo đói giữa các quốc gia có sự khác nhau.
Các khái niệm về đói nghèo được các tổ chức quốc tế nêu như sau:
-Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về đói nghèo là sự thiếu hụt
không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía
cạnh sinh lý học và xã hội học. Sự thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng đủ
nhu cầu về vật chất và sinh học như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục và nhà ở. Sự
thiếu hụt về mặt xã hội liên quan đến các vấn đề như bình đẳng, rủi ro và được tự
chủ, tôn trọng trong xã hội.
-Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) đã đưa ra khái niệm về nghèo thu nhập là
diễn tả sự thiếu thốn cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu
chuẩn tối thiểu nhất định.
-Liên hợp Quốc đã đưa ra hai khái niệm về nghèo, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối:
Nghèo tuyệt dối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng nhữn g hưởng
những nhu cầu cơ bản tói thiểu. Nhu cầu cơ bản tổi thiểu c ho cuộc sống là những
đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế, giáo dục.
Nghèo tương đối là tình trạng bộ p ậ
h n dân cư có mức sống dưới mức trung bình
của cộng đồng và ở một thời kì nhất định. Nghèo tương đối phát triển theo không
gian và thời gian nhất định tùy thuộc vào mức sống chung của xã hội.
1.1.2.2.Hậu quả của đói nghèo
-Đối với an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ó đ i nghèo là nguyên nhân
cơ bản dẫn đến phát sinh các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, trộm cắp,...Từ đó dễ bị k
xấu, bọn phản động lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ gây mất an ninh và ổn định chính trị.
-Chất lượng cuộc sống và môi trường của con người không đảm bảo.Đa số
người nghèo đều bị thiếu dinh dưỡng, năng lượng, sức lực bị suy kiệt, kết quả lao
động giảm sút, khả năng chống bệnh tật kém
-Đối nghèo còn gây nên sự bất bình đẳng xã hội. Chính phân hóa giàu nghèo
đã chia thế giới thành các nước giàu, nước nghèo và ngay trong mỗi quốc gia, mỗi
vùng,... c ng chia thành người giàu, người nghèo. Các nước nghèo bao giờ c ng
gánh chịu những bất công. Phần lớn các quốc gia nghèo thường là con nợ lớn của
các nước giàu, thường không có vị thế cao trên trường quốc tế
-Đối với sự phát triển của xã hội, quốc gia, dân tộc. Việc đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội thường gặp nhiều trở ngại do: thiếu vốn đầu tư, trình độ lao động
thấp, khoa học công nghệ lạc hậu.Các nước nghèo trở thành thị trường lao động,
nguyên vật liệu với giá r mạt, là thị trường tiêu thụ hàng hóa.Vì thế các nước
nghèo lại càng nghèo và tụt hậu xa hơn so với các nước giàu và phát triển.Không
những thế đói nghèo ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mỗi người dân, tác động
đến môi trường sống, làm gia tăng bất bình đẳng xã hội. Đồng thời là nhân tố gây
trở ngại sự phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và
phát triển của thế giới và nhân loại. Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể
thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy. Toàn cầu
hóa đã trở thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng
trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác.
Mặt khác, đói nghèo còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại.
Thay vì con người có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho phát triển, thì một phần
lớn nguồn lực đó phải dành ra để giải quyết vấn đề đói nghèo và các vấn đề toàn cầu
khác do đói nghèo mang lại. Nghèo đói, bất công là nguyên nhân của tội phạm quốc
tế (khủng bố, nạn buôn bán ma túy và rửa tiền); nghèo đói cộng với thiếu hiểu biết
kéo theo đó là gia tăng dân số, cạn kiệt nguồn nước, khan hiếm nguồn năng lượng
(do sự gia tăng nhanh chóng những hoạt động kinh tế của con người); lương thực,
thực phẩm ngày càng thiếu hụt; bệnh tật (nhất là đại dịch HIV/AIDS) ngày càng lan
tràn, khó kiếm soát; môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và vấn đề di dân tự
do đang ngày càng trở nên phức tạp.
Như vậy, đói nghèo là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa
đến sự tồn vong và phát triển của loài người. Tác động của nó trong quan hệ quốc tế
là rất lớn và vì vậy vấn đề này không phải của một quốc gia riêng l nào mà là của
toàn nhân loại, đòi hỏi thế giới phải chung tay để giải quyết một cách triệt để và toàn
diện. Ngăn chặn tình trạng đói nghèo sẽ không chỉ giúp nâng cao cuộc sống tại các
nước đang phát triển mà còn mang lại sự bảo đảm về an ninh cho các nước giàu
1.2.Tính quy luật: cơ sở h ạ
o t động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia
Theo các nhà nghiên cứu trong kỷ nguyên hạt nhân nhân không có chỗ
đứng riêng cho các quốc gia, kể cả những quốc gia rất hùng mạnh về quân sự, tất
cả các quốc gia sẽ có chung số phận khi chiến tranh hạt nhân xảy ra.Qua đó ta có
thể thấy các quốc gia đang có chỗ đứng giống nhau và số phận giống nhau. Ngày
nay, các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ ra đời không ngừng lớn mạnh,
qua đó ta có thể thấy các quốc gia có nhiều lợi ích chung, tuy nhiên nếu quốc gia
nào biết nắm bắt cơ hội nhiều hơn sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia đó nhiều hơn.
Các nước lớn có xu hướng phát triển phát triển kinh tế để đem lợi ích giữa các quốc gia hợp tác.
-Hợp tác quốc tế giữa các bên song phương hoặc đa phương không những
mang lại về lợi ích như phát triển kinh tế, phát triển khoa học công nghệ đem lại
lợi nhuận cao cho quốc gia mà còn giải quyết được các vấn đề khác như tạo công
ăn việc làm giữa thúc đẩy việc xóa đói giảm nghèo, tăng GDP.Ngoài ra còn có
thể tạo cơ hội học tập cho các du học sinh có cơ hội được học tập và làm việc ngoài nước.
-Hội nhập kinh tế quốc tế: là việc các nước trên thế giới bắt đầu tham gia
hội nhập quốc tế từ hội nhập kinh tế quốc tế, vì lĩnh vực kinh tế và lợi ích kinh tế
là động lực cho sự phát triển. Hội nhập kinh tế q ố
u c tế trong giai đoạn hiện nay
của thế giới được thể hiện bằng việc mở cửa nền kinh tế và hướng đến việc tự do
hóa cơ chế phát triển kinh tế với quốc tế bằng nhiều hình thức như đơn phương,
đa phương, khu vực, liên khu vực, tiểu khu vực, toàn cầu... và tùy theo năng lực
kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế, tiềm lực kinh tế, sự ổn định chính trị... của mình để c ấ
h p nhận tham gia theo các mô hình liên kết quốc tế. Hiện tại, nền kinh tế thế
giới có 5 mô hình cơ bản thể hiện cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm:
Thứ nhất, là liên minh kinh tế - tiền tệ, hiện tại có Liên minh Châu Âu (EU),
được thể hiện bằng việc có thị trường chung, chính sách kinh tế chung, tiền tệ
chung. Trong đó, yếu tố quan trọng nhất là thị trường chung có sự hòa đồng của các yếu tố khác.
Thứ hai, là thị trường duy nhất, được thiết lập theo hướng bỏ thuế quan và
hàng rào thuế quan thương mại trong thị trường duy nhất mà các quốc gia tham
gia, đồng thời với việc ban hành chính sách thuế quan chung tạo nền sản xuất
chung. Ví dụ như Khối thị trường chung châu Âu trước đây.
Thứ ba, là liên minh thuế quan (CU). Các quốc gia phải cắt giảm thuế quan
và bỏ thuế quan, cùng việc tuân thủ các chế định về chính sách thuế quan chung
trong liên minh và chính sách thuế quan chung của liên minh với các quốc gia khác ngoài liên minh.
Thứ tư, là khu vực mậu dịch tự do (FTA), các quốc gia tiến hành cắt giảm
và loại bỏ các hàng rào thuế quan có định lượng trong khu vực. Đối với thuế quan
của các nước trong khu vực với thị trường của các quốc gia ngoài khu vực vẫn
giữ theo chính sách thuế quan của mình, ví dụ như: AFTA của ASEAN, Hiệp định
đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Thứ năm, là thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), các nước tham gia thỏa
thuận dành cho nhau các ưu đãi thương mại bằng việc cắt giảm thuế quan cho một
số mặt hàng thương mại.Hội nhập kinh tế quóc tế là nơi để các quốc gia có thể
chia s nhằm mục tiêu chung đạt được lợi ích cho nước mình và các nước, tổ chức
quốc tế khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh... trên cơ sở tuân thủ các khuôn
khổ chế định chung, ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển. CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI VÀ HƯỚNG
GIẢI QUYẾT ÁP DỤNG TÍNH QUY LUẬT : CƠ SỞ H Ạ O T ĐỘNG CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN TR Ờ
Ư NG QUỐC TẾ LÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA
2.1.Tổng quan về đói nghèo trên thế giới trong 10 năm gần đây 2.1.1.Thực trạn g
Báo cáo của Liên hợp quốc chỉ ra sau nhiều thập kỷ liên tục giảm, số người
đói kém trên thế giới bắt đầu có xu hướng tăng từ năm 2014 và mục tiêu xóa đói
vào năm 2030 càng trở nên khó khăn khi số người không đủ ăn tiếp tục tăng từ
811 triệu người năm 2017 lên 821 triệu người vào năm 2018.
Báo cáo c ng chỉ ra tình trạng suy dinh dưỡng diễn ra trên diện rộng tại
châu Phi, tác động tới 20% dân số châu lục này và tại châu Á tác động tới 12%
dân số. Trong khi đó, tình trạng mất an ninh lương thực khiến tổng cộng hơn 2
tỷ người (với 8% tập trung ở Bắc Mỹ và châu Âu) thường xuyên không được tiếp nhận đủ d ỡ
ư ng chất, thực phẩm an toàn.
Năm 2019, gần 690 triệu người, tương đương 8,9% dân số thế giới, hiện
trong tình trạng đói kém, tăng thêm 10 triệu người chỉ trong vòng một năm và
thêm 60 triệu người trong 5 năm qua.
Châu Á vẫn là nơi có số lượng người suy dinh dưỡng lớn nhất (381 triệu
người). Đứng thứ hai là châu Phi (250 triệu người), tiếp theo sau là châu Mỹ
Latinh và vùng Caribê (48 triệu người). Trong 5 năm qua, tình trạng thiếu ăn đã
tăng lên cùng với sự phát triển của dân số toàn cầu.
Theo tỷ lệ phần trăm, châu Phi là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất và
có thể còn nghiêm trọng hơn trong tương lai, với 19,1% dân số bị suy dinh dưỡng.
Con số này gấp đôi tỷ lệ ở châu Á (8,3%) c ng như châu Mỹ Latinh và vùng Caribê (7,4%).
Thực trạng đói nghèo ngày càng nghiêm trọng hơn khi có sự tác động của
đại dịch Covid-19 có nguồn gốc từ V Hán, Trung Quốc kéo dài 2 năm qua vẫn chưa chấm dứt.
-Tổ chức phi chính phủ Oxfam( liên minh quốc tế gồm 20 tổ chức từ thiện
hoạt động tại 94 quốc gia toàn cầu để tìm giải pháp lâu dài cho nghèo đói và bất
công) ngày 9/7 cho biết số người thiếu ăn trên thế giới đã tăng mạnh trong năm
2020, gấp 6 lần so với năm 2019.
-Oxfam ước tính mỗi phút có 11 người có thể chết vì thiếu ăn nghiêm trọng,
trong khi đó số người có thể tử vong vì dịch COVID-19 là 7 người/phút. Tổng
cộng có nửa triệu người đang sống "trong các điều kiện thiếu ăn" trên thế giới,
trong khi 155 triệu người "cực kỳ đói kém", tương đương với dân số của Pháp và
Đức cộng lại. Đáng nói là 2/3 số này sống ở các nước đang xảy ra chiến tranh
hoặc xung đột. Yemen, Cộng hòa Trung Phi, Afghani, Nam Sudan, Venezuela và
Syria là những nước mà các cuộc khủng hoảng lương thực đang ngày một tồi tệ
hơn do dịch bệnh và các hậu quả kinh tế.
-Năm 2020, gần 120 triệu người rơi vào cảnh nghèo đói khi đại dịch Covid-
19 tàn phá các nền kinh tế và xã hội.
- Theo Ngân hàng Thế giới, từ 88 - 115 triệu người đang rơi vào cảnh nghèo
đói vì khủng hoảng, phần lớn những người nghèo cùng cực mới là ở các nước
Nam Á và châu Phi cận Sahara, nơi có tỷ lệ đói nghèo vốn đã cao. Năm nay, con
số đó dự kiến sẽ lên mức từ 143 - 163 triệu người. Những “người nghèo mới” này
sẽ gia nhập đội ng 1,3 tỷ người hiện đang sống trong tình trạng nghèo đa chiều
và dai dẳng, những người đã chứng kiến tình trạng thiếu thốn từ trước của họ trở
nên tồi tệ hơn trong đại dịch toàn cầu.
2.1.2. Nguyên nhân gây nên đói nghèo trên thế giới
Nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo là do chiến tranh, cơ cấu chính trị
cơ cấu kinh tế thất bại quốc gia, tụt hậu về công nghệ dẫn đến khó phát triển kinh
tế, tụt hậu về giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh không thể
kiểm soát được và không có bình đẳng nam nữ, thất nghiệp, thiếu việc làm.
Điều kiện tự nhiên c ng tác động rất nhiều đến đói nghèo.Mức độ nghèo
đói thường có quan hệ mật thiết với điều kiện địa lí tự nhiên.Những vùng chịu ảnh
hưởng bởi các điều kiện địa lí, thiên tai như vậy, mọi thứ đều thiếu thốn hoặc ở
trong tình trạng rất tệ, từ các dịch vụ công cộng thiết yếu như điện, nước, y tế..Bên
cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người nghèo rất kém do
nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích l y kém nên họ khó có khả năng
chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất
nguồn lao động, mất sức khỏe,…)
*Nguyên nhân gây nên đói nghèo tại Việt Nam
-Việt Nam là nước nông nghiệp đến năm 2004 vẫn còn 70% dân sống ở
nông thôn trong khi tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia thấp.
-Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các
thiết chế phòng ngừa hiệu quả, dễ tái nghèo trở lại.
-Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu
là do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ trong
khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp.
-Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao
động, không được đào tạo để chuyển sang hu vực công nghiệp, chính sách quản
lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn nông dân di cư, nhập cư vào thành phố.
-Ngoài ra còn có thể kể đến do các tệ nạn xã hội và HIV/AIDS đã gây nên đói nghèo ở nước ta.
2.2.Giải quyết đói nghèo áp dụng tính quy luật: Cơ sở hoạt động của các
quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia
2.2.1.Tăng cường hợp tác quốc tế giữa các nước
Do phạm vi nghiên cứu của tiểu luận chỉ tập trung vào giải quyết đói nghèo
áp dụng tính quy luật cơ sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi
ích quốc gia nảy sinh trong môi trường quốc tế đo đó các giải pháp chỉ tập trung
đến lợi ích quốc tế.
Để giải quyết được đói nghèo các quốc gia phải tăng cường hợp tác quốc
tế về kinh tế để thu hút các vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể Nhật Bản đã tài trợ
nguồn ODA cho Việt Nam từ những ngày bắt đầu đổi mới đến nay. ODA của
Nhật Bản vẫn được coi là một nguồn vốn hết sức quý giá cho tiến trình thực hiện
công cuộc đổi mới kinh tế tại Việt Nam.Chính sách ODA của Nhật Bản trong
nhiều năm qua đã đáp ứng được sự mong muốn của Chính phủ và nhân dân Việt
Nam, nó đã hỗ trợ tích cực cho sự phát triển lâu dài giữa Việt Nam và Nhật Bản
đặc biệt là trong các quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế.Nhật Bản đã phần nào
giúp Việt Nam tiếp thu những thành tựu khoa học và công nghệ mới, góp phần
thúc đẩy công nghiệp hóa rút ngắn thông qua chương trình đào tạo phát triển
nguồn nhân lực và hơn nữa là đầu tư vào việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ
tầng,khi đó Việt Nam lại có thể thu hút nhiều hơn vốn đầu tư FDI , nguồn việc trợ
ODA từ nhiều nước hơn.
Tăng cường hợp tác quốc tế còn mở ra cơ hội việc làm. Từ đó giảm tỉ lệ
thất nghiệp và giảm tỉ lệ đói nghèo giữa những nước hợp tác. Cụ thể tại Hàn Quốc và Việt Nam:
- Trong đó có việc hợp tác thuyền viên tàu cá gần bờ, với gần 10.000 lao
động Việt Nam đang làm việc tại Hàn Quốc; việc triển khai các hợp đồng cung
ứng lao động giữa các doanh nghiệp hai nước; các dự án ODA do Bộ Lao động
và Việc làm Hàn Quốc tài trợ Việt Nam trong các lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp,
việc làm, quan hệ lao động, an toàn vệ sinh lao động. Bộ trưởng đề nghị Bộ Lao
động và Việc làm Hàn Quốc nghiên cứu, mở rộng các ngành nghề mới mà phía
bạn có nhu cầu tiếp nhận.
-Tại Việt Nam, Sự có mặt của các doanh nghiệp Hàn Quốc đã tác động mạnh
mẽ đến kinh tế Việt Nam. Tổng doanh thu 2018 của Samsung – một trong những
tập đoàn lớn nhất Hàn Quốc có giá trị tương đương 28% GDP 2018 của Việt Nam.
Hàng loạt tập đoàn khác như Huyndai, LG, CJ, Kumho, Lotte… chọn Việt Nam là
"cứ điểm" trong các hoạt động kinh doanh đã đóng góp vào sự phát triển của các
lĩnh vực thiết bị đ ệ
i n tử, bất động sản, phân phối, giải trí, nông nghiệp, thực
phẩm…Các tập đoàn Hàn Quốc không ngừng mở rộng kinh doanh kéo theo một
lượng lớn nhân sự là các chuyên gia, kỹ sư, doanh nhân đến Việt Nam sinh sống và
làm việc. Theo số liệu từ Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam, đến cuối năm 2018 có
khoảng 150.000 người Hàn đang sinh sống tại Việt Nam với 80% tập trung tại
TP.HCM và 20% tại các tỉnh thành khác như Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, V ng
Tàu, Bắc Ninh… Ngoài ảnh hưởng tích cực ở khía cạnh kinh tế, sự tham gia và đóng
góp ở lĩnh vực thể thao và văn hóa như ông Park Hang Seo HLV trưởng của đội
tuyển bóng đá nam quốc gia đ
ã góp phần kéo gần nền văn hóa hai quốc gia Việt – Hàn.
Tăng cường hợp tác quốc tế bằng cách mở ra cơ hội học tập giữa các nước
hợp tác. Cụ thể năm hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Năm 2016, Gần
17 nghìn du học sinh và nghiên cứu sinh Việt Nam tại Mỹ cùng hàng loạt các
chương trình trao đổi và đào tạo giảng viên không chỉ tạo nên một nguồn nhân
lực chất lượng cao cho Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa
hai nước. Không chỉ được tiếp cận với một nền giáo dục tiên tiến, những du học
sinh này còn có cơ hội tích l y kinh nghiệm làm việc tại các công ty Mỹ trong quá
trình thực tập hoặc sau khi tốt nghiệp, trở thành một nguồn nhân lực thiết yếu
trong xây dựng đất nước. Ngoài hỗ trợ học bổng, VEF (Q y giáo dục Việt Nam
được Quốc hội Hoa Kỳ thành lập năm 2000 với ngân sách khoảng 5 triệu
USD/năm) còn phối hợp với các trường đại học Mỹ tiến hành đánh giá thực trạng
giáo dục đại học và sau đại học tại Việt Nam để tìm hiểu những hạn chế, qua đó
cùng chính phủ Việt Nam đề ra những giải pháp có thể đáp ứng tối đa nhu cầu
giáo dục trong nước. Hiện, các trường đại học Mỹ đang xây dựng một mô hình
giáo dục kết hợp giữa mô hình giáo dục Mỹ và điều kiện giáo dục hiện tại của
Việt Nam, trong đó có tự chủ về chương trình giảng dạy và tài chính, nhằm tạo
môi trường học tập mở hơn, năng động hơn. Bà Sandy Dang cho biết thêm: “Điều
thú vị là chúng ta không áp dụng hoàn toàn mô hình giáo dục của Mỹ mà dựa trên
nền tảng của Việt Nam. Đây là điểm rất quan trọng. Chúng tôi sẵn sàng giúp Việt
Nam xây dựng một mô hình giáo dục thực sự đáp ứng được những nhu cầu cụ thể của Việt Nam”.
2.2.2.Phát huy vai trò của các tổ chức quốc tế vì mục tiêu tiên niên kỉ - xóa nghèo Liên hợp quốc (UN):
-Mục tiêu xóa nghèo nằm đầu tiên trong 17 mục tiểu phát triển bền v ng
của Liên Hợp Quốc đến năm 2030.
-Ngày Quốc tế xóa nghèo 17/10, Tổng thư ký Liên hợp quốc, Guterres kêu
gọi các nước trên thế giới thúc đẩy sự phục hồi mang tính chuyển đổi, toàn diện
và bền vững sau đại dịch Covid-19 để xóa nghèo.Ông yêu cầu thế giới cùng cam
kết “ Xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn” và đề ra mục tiêu xóa nghèo với từ
việc tiếp cận ba m i nhọn và,đó là:
-Đầu tiên, quá trình phục hồi phải có sự chuyển đổi rõ ràng vì thế giới không
thể trở lại cấu trúc như khi đại dịch Covid-19 chưa xảy ra, cấu trúc đã chứng kiến
những bất lợi và bất bình đẳng vốn đã khiến tình trạng nghèo đói kéo dài.
-Thứ hai là phục hồi toàn diện, bao gồm mọi nhóm đối tượng trong xã hội,
vì phục hồi không đồng đều sẽ khiến nhiều người bị bỏ lại phía sau, dễ bị tổn
thương và có nguy cơ cao hơn, khiến các mục tiêu phát triển bền vững càng trở nên khó thực hiện hơn.
-Thứ ba, việc phục hồi phải bền vững vì thế giới cần được xây dựng một
cách bền vững, phi carbon và đạt các mục tiêu đưa phát thải ròng về 0. Ở đó, các
chính phủ cần lắng nghe nhiều hơn ý kiến từ những người nghèo, nhóm chịu tác
động trực tiếp từ những quyết định của chính phủ.
Phát huy vài trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc xóa nghèo tại các
nước đang phát triển.Cụ thể tại Việt Nam, các tổ chức INGOs(các tổ chức phi
chính phủ Quốc tế)có vai trò lớn trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, thể
hiện rõ trên những khía cạnh sau:
-Thứ nhất, vai trò hỗ trợ tài chính. Khoảng 76,1% tổ chức INGOs giữ vai
trò hỗ trợ tài chính; hơn 58,2% có vai trò hỗ trợ kỹ thuật và gần 52,2 % giữ vai
trò hỗ trợ phương pháp. Theo các tổ chức INGOs, song song với hỗ trợ tài chính thì các h
ỗ trợ về kỹ thuật và hỗ trợ phương pháp sẽ đảm bảo dự án
có chất lượng. Bên cạnh đó, tương ứng c ng có tới 41,8% và 44,8% tổ
chức INGOs có vai trò là người triển khai hoặc đồng triển khai dự án với các đối
tác địa phương. Phương pháp triển khai dự án và kiến thức kỹ thuật là những đóng
góp quan trọng nhất của INGOs ở Việt Nam.
-Thứ hai, vai trò hỗ trợ giải quyết các vấn đề ở cộng đồng. Tổ chức INGOs
là kênh hỗ trợ người nghèo - nhóm đối tượng dễ bị tổn thương mà Nhà nước
chưa quan tâm hết. Ở Thanh Hóa và Yên Bái, INGOs thể hiện vai trò cứu trợ
nhân đạo, cung cấp tín dụng, hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn... Đây là
những hoạt động quan trọng nhất c ng như được đầu tư nhiều nhất của hầu hết
các INGOs hoạt động ở Việt Nam.
-Thứ ba, vai trò chia s kinh nghiệm. Ngoài vai trò đóng góp trực tiếp vào
thay đổi cuộc sống của người dân, các INGOs còn có vai trò chia s kinh nghiệm,
phương pháp làm c ng như cách thức xây dựng chương trình quốc gia, chính sách
và khung pháp lý cho những vấn đề liên quan. Nhiều INGOs như: Tổ chức quốc
tế Oxfam, đóng góp trực tiếp cho việc xây dựng chương trình 135 của Ủy ban dân
tộc và chính sách trợ cấp xã hội của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; Tổ
chức PATH (Program for Appropriate Technology in Health ) là tổ chức phi chính
phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực y tế) tham gia vào việc xây dựng Luật phòng
chống HIV; Tổ chức CARE(Cooperative for American Remittances to Europe) là
tổ chức nhân đạo và hỗ trợ phát triển quốc tế, tham gia xây dựng chiến lược phòng
chống thiên tai và biến đổi khí hậu quốc gia...
-Thứ tư, vai trò ngoại giao nhân dân. Các INGOs đóng vai trò cầu nối
thông tin giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. Thực tế, có rất nhiều giao
lưu giữa Việt Nam và các quốc gia thông qua nhân viên, người dân và các nhà
tài trợ của các tổ chức INGOs thông qua hội thảo hoặc trao đổi kinh nghiệm. Các
INGOs là kênh thu hút thêm vốn và mở rộng quan hệ đối ngoại, từ đó nâng cao
hình ảnh của Việt Nam với thế giới, giới thiệu về môi trường cởi mở, thân thiện của Việt Nam.
Tóm lại, INGOs đã có vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo,
phát triển bền vững, phù hợp với các ưu tiên, định hướng phát triển kinh tế-xã hội
của Việt Nam. Hoạt động của INGOs mang lại nhiều lợi ích và thay đổi tích cực
trong đời sống của Việt Nam. Việt Nam đánh giá cao sự giúp đỡ của các INGOs.
Mức độ tham gia của các tổ chức INGOs vào công cuộc xóa đói giảm nghèo,
phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam ngày càng mạnh, thể hiện số lượng
INGOs hoạt động ở Việt Nam ngày càng tăng, lĩnh vực và địa bàn hoạt động
ngày càng rộng, mức viện trợ ngày càng lớn, quan hệ giữa chính phủ Việt Nam
và INGOs đã nâng lên thành quan hệ đối tác. CHƯƠNG 3:
DỰ BÁO XU HƯỚNG ĐÓI NGHÈO TRÊN THẾ GIỚI TRONG THỜI
GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM
TRONG CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO THỜI GIAN TỚI
3.1.Dự báo xu hướng đói nghèo trên thế giới trong 10 năm tới
Theo một nghiên cứu mới công bố ngày 3/12 của Chương trình Phát triển
Liên hợp quốc (UNDP), thế giới sẽ có thêm 207 triệu người có nguy cơ bị đẩy
vào cảnh nghèo đói cùng cực đến trước năm 2030 do những tác động nghiêm
trọng kéo dài của đại dịch COVID-19, nâng tổng số người sống trong tình cảnh
này lên hơn 1 tỷ người.
Nghiên cứu trên đã đưa các kịch bản khác nhau về quá trình hồi phục sau
đại dịch COVID-19 nhằm đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG),
c ng như đánh giá những tác động đa chiều của dịch bệnh trong thập kỷ tới.
Theo kịch bản "COVID cơ bản," dựa trên tỷ lệ tử vong do đại dịch hiện nay
và dự báo tăng trưởng kinh tế mới đây nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đại
dịch COVID-19 sẽ đẩy thêm 44 triệu người vào cảnh nghèo đói cùng cực vào năm
2030 so với trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng dịch bệnh hiện nay.
Tuy nhiên, kịch bản "thiệt hại lớn," trong đó quá trình hồi phục bị kéo dài,
cho rằng đại dịch hiện nay có thể đẩy thêm 207 triệu người vào cản h nghèo đói
cùng cực vào năm 2030 và làm gia tăng số người nghèo là nữ giới.
Kịch bản này đồng thời dự báo rằng 80% cuộc khủng hoảng kinh tế do đại
dịch gây ra sẽ tiếp diễn trong 10 năm tới do năng suất lao động sụt giảm, từ đó
cản trở sự phục hồi hoàn toàn về mức tăng trưởng như trước đại dịch.
3.2.Một số kiến nghị ch
o Việt Nam trong công cuộc xóa đói giảm nghèo thời gian tới
Đảng và Nhà nước ta xác định công tác giảm nghèo bền vững là chủ trương
lớn, quan trọng, nhất quán, xuyên suốt trong quá trình thực hiện công cuộc đổi
mới, xây dựng và phát triển đất nước. Những năm qua, các cấp uỷ, tổ chức đảng
luôn quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, cùng với sự tham gia tích cực của cả
hệ thống chính trị, sự nỗ lực của toàn dân, công tác giảm nghèo đã đạt được nhiều
thành tựu nổi bật: Hệ thống chính sách, pháp luật về giảm nghèo được ban hành
khá đồng bộ, toàn diện; ngân sách nhà nước và nguồn lực huy động từ xã hội đầu
tư cho công tác giảm nghèo ngày càng tăng; nhận thức, ý chí vươn lên của người
nghèo tăng cao, có nhiều tấm gương điển hình nỗ lực vươn lên thoát nghèo; hàng
chục triệu hộ nghèo đã thoát nghèo, nhiều hộ có cuộc sống trung bình, khá giả,
nhiều địa bàn nghèo thoát khỏi tình trạng khó khăn, một số địa bàn đạt chuẩn nông
thôn mới. Tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh. Kết quả trên có ý nghĩa rất to lớn, khẳng
định ý chí, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân ta trong công cuộc xoá đói,
giảm nghèo, thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ ta.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, kết quả giảm nghèo chưa
thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo và phát sinh nghèo còn cao; chênh lệch mức
sống. Do đó cần phải có những chính sách, giải pháp cụ thể hơn nữa trong công
tác xóa đói giảm nghèo, cụ thể:
-Để thực hiện giảm nghèo đa chiều thực sự bền vững, đại biểu Nguyễn Thị
Mai Hoa (Đoàn Đồng Tháp) đã đề xuất hai nội dung. Trước hết là phải tiếp cận
theo tư duy là chuyển người nghèo, hộ nghèo từ đối tượng sang chủ thể và phải
quan tâm hỗ trợ kinh tế kinh tế hộ, nhóm hộ và coi đây là đòn bẩy cho công tác
giảm nghèo. Bởi sự đổi mới trong tư duy về chủ trương giảm nghèo theo hướng
giảm cho không và tăng cho vay ưu đãi là một hướng chúng ta cần phải tiếp cận
cho vấn đề giảm nghèo. Kiến nghị thứ hai được là cần đổi mới trong quan điểm
xây dựng chính sách giảm nghèo theo hướng đầu tư cho con người.. Cụ thể, trong
những giai đoạn tới cần tập trung chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cần phải
đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề, quan tâm phát triển các hoạt động sinh kế tại
chỗ nhằm phát huy lợi thế của địa phương vùng nghèo…
-Theo đại biểu Nguyễn Thị Minh Trang( Vĩnh Long) phải xác định các tiêu
chí hộ nghèo trong giai đoạn mới thực chất hơn. Các tiêu chí về thu nhập, các tiêu
chí đánh giá đo lường đa chiều cần rõ ràng, thiên về định lượng. Việc xây dựng
thiết chế, chính sách cần quan tâm đồng đều đến các đối tượng hộ nghèo, hộ cận
nghèo và cả hộ mới thoát nghèo bởi vì khoảng cách giữa các nhóm đối tượng này
là không lớn, chỉ cần một tác động nhỏ từ xã hội c ng có thể làm cho họ bị tái
nghèo. Cần tiếp tục gắn kết chặt chẽ hơn công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật, trợ giúp pháp lý với các tiêu chí giảm nghèo trong giai đoạn mới,
giúp người dân tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp lý liên quan đến đời
sống sinh hoạt, hôn nhân gia đình, đất đai… Việc này chính là thiết thực bảo vệ
người nghèo trước tác động tiêu cực của xã hội để họ không bị rơi vào cạm bẫy
tín dụng đen, ma túy và các hành vi vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội khác, tăng
khả năng tiếp cận có hiệu quả và hưởng thụ tối đa nguồn lực ưu đãi dành cho họ.
-Ngoài ra còn có một số các biện pháp khác như:
Một là, củng cố và nâng cao hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về
giảm nghèo bền vững. Tiếp tục rà soát các chính sách giảm nghèo hiện hành, tích
hợp các chính sách theo hướng tinh gọn, tập trung, tránh dàn trải, giảm thiểu số
văn bản, hạn chế chính sách chồng chéo, phân tán; bãi bỏ những chính sách không
hiệu quả trong thời gian dài (như chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo).
Hai là, nghiên cứu xây dựng khung chính sách giảm nghèo tiếp cận đa
chiều, phân loại các nhóm hộ nghèo theo từng loại thiếu hụt để có giải pháp hỗ
trợ các đối tượng tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản, giảm tỷ lệ hộ thiếu hụt
theo từng lĩnh vực (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin).
Ba là, thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn huy động, tăng cường huy động
nguồn lực từ ngân sách địa phương và các nguồn huy động đóng góp hợp pháp
của doanh nghiệp và vận động tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước; vốn đối ứng, tham gia đóng góp của người dân, đối tượng thụ hưởng.
Bốn là,đẩy mạnh tuyên truyền mục tiêu giảm nghèo sâu rộng đến các cấp,
các ngành, các tầng lớp dân cư và người nghèo; phát động phong trào thi đua "Cả
nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau"; tôn vinh các
doanh nghiệp, tập thể cá nhân có nhiều đóng góp về nguồn lực, cách làm hiệu quả
trong công tác giảm nghèo bền vững.
Chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam mang đậm triết lý phát triển
xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang đạt được những thành tựu to lớn.
Đây thật sự là chương trình có ý nghĩa nhân văn và nhân đạo sâu sắc, là động lực
thúc đẩy quá trình hiện thực hóa mục tiêu xóa đói, giảm nghèo phải bảo đảm tính
toàn diện, công bằng và bền vững. Học tập và làm theo tinh thần chống giặc đói
nghèo của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải biến thành lẽ sống, khát vọng làm giàu,
vươn lên trong cuộc sống của toàn thể nhân dân và cả dân tộc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. KẾT LUẬN
Trong chương 1, tiểu luận đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề
toàn cầu và phân tích tính quy luật trong quan hệ quốc tế cụ thể là khái niệm những
vấn đề toàn cầu,khái niệm, hậu quả của đói nghèo và phân tích tính quy luật: cơ
sở hoạt động của các quốc gia trên trường quốc tế là lợi ích quốc gia.Đây là những
vấn đề mang tính nền tảng để từng bước hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong
cuộc chiến xóa đói nghèo trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng.
Chương 2 của tiểu luận đã tập trung nghiên cứu thực trạng đói nghèo trên
thế giới và các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, từ đó đề ra một số giải pháp giảm
tỉ lệ đói nghèo trên cơ sở lợi ích quốc gia trên trường quốc tế.Trong những năm
qua tỉ lệ đói nghèo trên thế giới không ngừng tăng nhanh mặc dù đã có sự chung
tay của các quốc gia trên toàn thế giới. Và tình trạng này càng nghiêm trọng hơn
khi đại dịch Covid – 19 bùng phát đã gần 2 năm vẫn chưa có dấu hiệu ngừng
lại.Do đó cần phải nâng cao hơn nữa ý thức của các quốc gia trong cuộc chiến xóa
nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Chương 3 của tiểu luận đã đưa ra dự báo của các nhà khoa học và các tổ
chức quốc tế về tình trạng đói nghèo trong 10 năm tới trên thế giới.Qua đó, đề ra
một số kiến nghị cho Việt Nam trong công tác xóa đói giảm nghèo.Đất nước ta đã
và đang thực hiện rất tốt công tác này và nó có ý nghĩa cô cùng quan trọng đến sự
tồn tại, phát triển của đất nước.