Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay | Tiểu luận môn Triết học Mác – Lênin

Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác xây dựng nên. Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác. Lý luận đó đã được thừa nhận lý luận khoa học và phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Thông tin:
25 trang 4 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay | Tiểu luận môn Triết học Mác – Lênin

Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác xây dựng nên. Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác. Lý luận đó đã được thừa nhận lý luận khoa học và phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

274 137 lượt tải Tải xuống
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TR

MÔN HỌC: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC – LÊ-NIN
Đề tài: VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH
TẾ-XÃ HỘI VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
GVHD: PGS. TS Đoàn Đức Hiếu
Tên thành viên MSSV
Trần Đức Anh Huy
Huỳnh Vân Anh
16148023
18116044
Nguyễn Khánh Linh 18116080
Bùi Thị Thúy Hằng 18116062
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2019
ĐIỂM SỐ
TIÊU CHÍ NỘI DUNG BỐ CỤC TRÌNH BÀY TỔNG
ĐIỂM
NHẬN XÉT
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
Ký tên
PGS. TS Đoàn Đức Hiếu
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM V
THỨ TỰ NHIỆM VỤ THỰC HIỆN KẾT QUẢ
1
Huỳnh Vân Anh Hoàn thành tốt
2 Nguyễn Khánh Linh Hoàn thành tốt
3
Bùi Thị Thúy Hằng Hoàn thành tốt
4
Trần Đức Anh Huy Hoàn thành tốt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 ............................................................................................................... 2
TỔNG QUAN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ ................................................................ 2
1.1 Khái niệm nội dung của quy luật giá trị ................................................... 2
1.1.1 Khái niệm quy luật giá trị ....................................................................... 2
1.1.2 Nội dung của quy luật giá trị .................................................................. 2
Tóm lại, yêu cầu chung của quy luật giá trị mang tính khách quan, đảm bảo
sự công bằng, hợp lý, bình đẳng giữa người sản xuất trao đổi hàng hóa ....... 3
1.2 Tác động của quy luật giá trị ......................................................................... 3
CHƯƠNG 2 ............................................................................................................ 7
2.1 Khái niệm kinh tế thị trường ......................................................................... 7
2.2 Kinh tế thị trường định hướng hội thế nào ............................................... 7
2.3 Quy luật giá trị ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 12
2.2.1 Sự cần thiết của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường. ... 12
2.2.2 Thực trạng vận dụng cũng như tác động của quy luật giá trị trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. ................................................................ 13
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 19
LỜI MỞ ĐẦU
Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử do C.Mác xây dựng nên. Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác. Lý luận đó đã
được thừa nhận lý luận khoa học và phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu
lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài
người, Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ
rõ được bản chất của từng chế độ xã hội. Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách
đúng đắn và khoa học sự vận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định cũng
như tiến trình vận động lịch sử của xã hội loài người.
Trong thực tiễn, Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở bám sát tư tưởng Mác-Lênin và đặc biệt là việc vận
dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào công cuộc xây dựng đất nước, việc vạch ra
những mối liên hệ hợp quy luật và đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện thành
công công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam thành một đất nước giàu mạnh, xã hội
công bằng văn minh cũng là một nhiệm vụ thực tiễn đang đặt ra.
Chính vì những lý do trên, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “Vận dụng học
thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
hiện nay”.
Với những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, những sai sót mắc phải
trong khi thực hiện sẽ là điều không thể tránh khỏi, chúng em mong nhận được những
lời phê bình và góp ý quý báu của thầy.
Đặc biệt em xin cảm ơn thầy Đoàn Đức Hiếu, thầy đã giảng dạy và hướng dẫn
nhóm chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
5
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1.1 Khái niệm và nội dung của quy luật giá trị
1.1.1 Khái niệm quy luật giá trị
Quy luật giá trị quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi
hàng hóa. Do đó đâu sản xuất trao đổi hàng hóa đó sự xuất hiện
hoạt động của quy luật giá trị. Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế và sản xuất và
lưu thông hàng hóa đều chịu sự tác động chi phối của quy luật này. Tuân theo
yêu cầu của quy luật thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát triển được, ngược lại
sẽ thua lỗ và phá sản.
1.1.2 Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa
trên sở lượng giá trị hàng hóa hay thời gian lao động hội cần thiết
dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong quá trình sản xuất thì vấn đề quan trọng nhất là hàng hóa sản
xuất ra có bán được hay không. Để có thể tiêu thụ hàng hóa thì thời gian
lao động biệt để sản xuất ra hàng hóa đó phải phù hợp với thời gan
lao động hội cần thiết tức phù hợp với mức hao phí hội
thể chấp nhận được. Trong trao đổi hàng hóa cũng phải dựa vào thời gian
lao động hội được với nhau khi lượng giá trị của chúng ngang nhau,
tức là khi trao đỏi hàng hóa phải theo quy tắc ngang nhau. Hai hàng hóa
được trao đổi với nhau khi được kết tinh cùng một lượng lao động như
nhau hoặc trao đổi mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng giá
trị. Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện trong trường hợp giá cả
n xuống, xung quanh giá trị và giá trị như cái trục của giá cả.
Quy luật giá trị trừu tượng thể hiện sự vận động thông qua sự biến
động của giá cả hàng hóa. Giá cả biểu thị bằng tiền của giá trị. Giá cả
phụ thuộc vào giá trị giá trsở của giá cả. Trong nền kinh tế hàng
hóa thì giá cả giá thị trường chênh lệch nhau, cung ít hơn cầu thì giá cả
6
sẽ cao hơn giá trị và ngược lại. Nhưng xét cho cùng thì tổng giá cả và hàng
hóa bao giờ cũng bằng tổng giá trị hàng hóa. Giá cả hàng hóa thể tách
rời giá trị nhưng bao giờn xuống cũng xoay quanh giá trị, đó là sự biểu
hiện hoạt động của quy lật giá trị.
Tóm lại, yêu cầu chung của quy luật giá trị mang tính khách quan,
nó đảm bảo sự công bằng, hợp lý, bình đẳng giữa người sản xuất và trao
đổi hàng hóa.
7
1.2 Tác động của quy luật giá trị
Bất cứ một sự vật hiện tượng nào khi tồn tại trong tự nhiên đều tuân theo
những quy định nhất định. Những quy luật này chi phối đến cả quá trình hình
thành và phát triển của mỗi sự vật hiện tượng.
tất nhiên nền kinh tế thế giới nói chung cũng như nền kinh tế VIệt Nam
nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Theo thời gian nền kinh tế không
ngừng biến đổi. Nó cũng liên tục phân chia và hình thành nhiều thành phần kinh tế
mới những định hướng khác, những đặc điểm quy luật riêng biệt đối với
các thành viên tham gia trong nền kinh tế đó. Chúng giống nhau nhìn bề ngoài
tưởng như sản xuất trao đổi hàng hóa việc riêng của mỗi thành viên độc lập
hinhg như không chịu sự chi phối nào. Trên thực tế mọi người sản xuất và trao đổi
hàng hóa đều chịu sựu chi phối của quy luật giá trị.
Vì vậy, quy luật giá trị có tác động chủ yếu như sau:
Điều tiết sản xuất lưu thông hàng hóa
Điều tiết sản xuất của quy luật giá trị là điều chỉnh, phân bố các yếu tố như:
tư liệu sản xuất, sức lao đọng và tiền vốn từ ngành nay sang ngành khác, từ nơi này
sang nơi khác. làm cho sản xuất hàng hóa của ngành này, nới này được phát
triển mở rộng, ngành khác nơi khác bị thu hẹp. Thông qua sự biến động giá cả thị
trường từ đó tạo ra những tỉ lệ cân đối tạm thời giữa các ngành các vùng của một
ngành kinh tế hàng hóa nhất định.
Quy luật đó thể hiện chỗ: cungcầu thường xuyên muốn khớp với nhau
thường xuyên tách, như từ trước tới nay chưa hề ăn khớp với nhau đói
lập nhau, cung luôn bám sát cầu. Chính vì thé luôn xảy ra các trừng hợp sau đây:
- Khi cung bằng cầu thì giá trị bằng giá cả hàng hóa, trường hợp này xảy ra
một cách ngẫu nhiên và rất hiếm.
- Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lãi cao.
Những người đang sản xuất mặt hàng này sẽ mở rộng quy sản xuất, đầu
thêm liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những người đang sản
xuất hàng hóa khác thu hẹp quy mô sản xuất của mình để chạy sang sản xuất
loại hàng hóa bán chạy này. Như vây, liệu sản xuất, sưc slao đọng, tiền
vốn được chuyển vào ngành tăng lên, quy sản xuát cũng được mở rộng,
cung về loại hàng này trên thị trường này tăng lên.
- Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị, hàng hóa ế thừa, không tiêu
thụ được, thể lỗ vốn. tình hình này bắt buộc những người đang sản xuất
loại hàng này phải thu hẹp quy sản xuất, chuyển sang các mặt hàng
giá trị trên thị trường làm cho liệu sản xuất ngành này giảm đi
ngành khác lại có thể tăng lên. Còn nếu như mặt hàng nào đó có giá cả bằng
giá trị thì người sản xuất tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Thực chất của điều tiết lưu thông trong quy luật giá trị điều chỉnh một
cách tự phát khối lượng hàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, tạo ra bằng
giá cả hội. Giá trị của hàng hóa thay đổi. Thì những điều kiện thể làm cho
tổng khối lượng hàng hóa có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay đổi.
“… Khi thực hiện quy luật giá trị của hàng hóa trong hội gồm những sản
xuất trao đỏi hàng hóa cho nhau, sự cạnh tranh lập ra bằng cách đó trong điều
kiện nào đó một trật tự duy nhất một tổ chức duy nhất thể của nền sản
xuất xã hội. CHỉ do sự tăng hay giảm hàng hóa mà những người sản xuất hàng
hóa riêng lẽ biết được, ràng hội cần những vật phẩm nào và cần số lượng
bao nhiêu.”
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp sản xuất, tăng năng suất lao đọng lực
lương sản xuất hội phát triển nhanh
n.
Quy luật đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia liệu sản xuất sử dụng lao
đọng vào các ngành sản xuất khác. Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy
luật giá trị thể hiệnchỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến cao, do đó
góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợphóa sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ
giá thành sản phẩm.
Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa một chủ thể
kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động biệt khác
nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của
hàng
hóa thế lợi, thu được lãi cao. Còn ngược lại, người sản xuất lao động
biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa thì người sản xuất ở thế bất lợi,
lỗ vốn. Để dành được ưu thế trong cạnh tranh thu được lợi nhuận cao, tránh
được nguy vỡ nợ, phá sản. Họ phải hạ thấp hao phí lao động biệt của mình,
sao cho bằng hao phí lao động hội cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách
cả tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lí, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng
suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt ngày càng đẩy mạnh quá trình này diễn ra
mạnh mẽ hơn, mang tính hội. Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy t
cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động sản xuất không ngừng tăng lên,
chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống. Kết quả là lực lượng sản xuất
hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hơn.
Phân hóa người sản xuất hàng hóa thành kẻ giàu người nghèo
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là những người
có điều kiện sản xuất có trình độ, kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt nên có hao phí
lo động biệt thấp hơn hoa phí lao động hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi,
giàu lên, sẽ mua được nhiều liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm
chí có thể thuê lao động, làm chủ, nhờ đó mà giàu nên nhanh chóng người sản xuất
hàng hóa nào có mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hòa sẽ rơi vào
tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí thể phá sản, thậm chí trở thành lao động
làm thuê, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện sản xuấtbản
chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Sự bình tuyển tự nhiên ấy đã phân hóa những người sản xuất kinh doanh ra
thành người giàu, người nghèo. Lịch sử phát triên của sản xuất đã diễn ra quá
trình phân hoá này đã làm cho sản xuất hoàng giản đơn trong hội phong kiến
dần dần nảy sinh ra sản xuất tư bản chủ nghĩa
“…Mỗi người đều sản xuất riêng biệt cho lợi ích riêng của mình, không phụ
thuộc vào nhà sản xuất khác. Họ sản xuất cho thị trường nhưng dĩ nhiên không
một người nào trong số họ biết được dung lượng của thị trường. Mỗi quan hệ như
vậy giữa những người sản xuất riêng lẻ, sản xuất cho thị trường chung sẽ giúp ích
cho thị trường cạnh tranh thì gọi là cạnh tranh. Dĩ nhiên trong những điều kiện ấy,
sự thăn bằng giữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có thể có được sau nhiều lần biến
động.
Những người khéo léo hơn, tháo vát hơn và có sức lực hơn sẽ ngày càng lớn
mạnh và nhờ những biến động ấy, con người yếu ớt vụng về sẽ bị biến dộng đó
đè bẹp. Một vài người sẽ trở nên giàu có, còn quần chúng sẽ trở nên nghèo đói,
đó là kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh. Kết cục là những người
sản xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họ và trở thành công
nhân làm thuê trong công xưởng đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ”
CHƯƠNG 2:
QUY LUẬT GIÁ TRỊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH T
THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1Khái niệm kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường sự phát triển cao hơn cuar kiểu tố chức kinh tế hội
hình thái phổ biến của sản xuấtsản xuất ra sản phẩm để trao đổi trên thị trường.
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế khách quan do trình độ phát triển của sản xuất
quyết định, trong đó quá trình từ sản xuất đến trao đôii, phân phối và tiêu dùng như
thế nào và cho ai đều thông qua việc mua bán, thông qua hệ thông thị trường, và do
thị trường quyết định.
Đặc trưng bản của nền kinh tế thị trường các chủ thể tự do lựa chọn các
hình thức sở hữu, phương thức kinh doanh, ngành nghề luật pháp nghiêm cấm.
Mọi hoạt động kinh tế đều diễn ra theo quy luật của nó,sản xuất bán hàng theo
quy luật của thị trường. Bán cái thị trường cần chứ khong phải bán cái
mình có, tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế các chủ thể dược theo đuổi các lợi ích
chính đáng của mình.
Trong kinh tế thị trường có hai chủ thể:
-Người tiêu dùng và người sản xuất
-Tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế
2.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội thế nào
Kinh tế thị trường định hưỡng hội chủ nghĩa thực chất nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, vận động theo chế thị trường sự vận động của nhà
nước, theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa. Đó nên kinh tế thị trường hiện đại hội
nhập quốc tế sự quản của nhà nước pháp quyền hội hội nghĩa, do Đáng
Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo nhằm mục tiêu: đan giàu nước mạnh, hộ công
bằng, dân chủ, văn mình”
Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hưỡng hội chủ nghĩa ở
nước ta:
Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo chế kế hoạch hóa tập trung - hành
chính - quan liêu - bao cấp sang phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo
chế thị trường có sự quản của nhà nước theo định hướng XHCN, là nội dung
bản chất và đặc điểm khái quát nhất đôi với nền kinh tế nước ta hiện đại tương
lai. Đặc biệt cương lĩnh xây dựng trong thờiquá độ lên CNXH được đại hội đại
biểu toàn quốc lần VII thông qua vào 1991 cũng đã nêu lên 6 đặc trưng cơ bản của
XHCN những quan điểm phương hướng tổng quan phát triển kinh tế hội
theo định hướng XHCN ở nước ta. Tuy nhiên cũng cần phải phân tích sâu thêm về
bản chất, đặc điểm đã khái quát nói trên, để thể hiểu hơn nói sâu thêm
nhận thức và hành động.
Các chủ thể có tính năng động và tự chủ cao và nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN nắm bắt được nhiều liệu sản xuất luôn học hỏi từ các nước
trên nên ngày càng tự chủ tính năng động trong hoạt động sản xuất và kinh
doanh.
Giá cả do thị trường quy định.
Nền kinh tế vận hành theo các quy luật vấn đề của thị trường.
Cạnh tranh là tất yếu vì mục đích lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại cần sự điều tiết vĩ mô của nhà nước
nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần kích thích cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động làm sản phẩm hàng
hoá ngày càng đã dạng và phong phú nên cần có sự quản lý của nhà nước.
Nền kinh tế thị trường hiện đại gắn với tính chất XHCN
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nhà nước ta xây dựng là nền kinh
tế thị trường hiện đại với tính chất hội hiện đại (XHCN). Mặc nền kinh tế
nước ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu kém phát triển nhưng khi nước ta
chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường thì thế giới đã chuyển
sang kinh tế thị trường hiện đại. Bởi vậy, chúng ta không thể không nhất thiết
phải trải qua giai đoạn kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường tự do, mà đi
thẳng vào phát triển thị trường hiện đại. Đây nội dung yêu cầu của sự phát
triển rút ngắn. Mặt khác thế giới vẫn đang nằm trong thời đại quá độ từ CNTB lên
CNXH, cho nên sự phát triển kinh tế - hội chủ nghĩa nước ta phải theo định
hướng XHCN cần thiết, khách quan cũng nội dung, yêu cầu của sự phát
triển rút ngắn. Sự nghiệp “dân giàu nước mạnh, hội công bằng, dân chủ văn
minh” vừa là mục tiêu, vừa là nội dung nhiệm vụ phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta. Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi người dân trong xã
hội làm giàu một cách hợp pháp. Dân giàu thì nước mới mạnh, nhưng dân giàu
phải làm cho nước mạnh đảm bảo độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN Việt Nam nền kinh tế vận hành
đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định
hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh
tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế có sựu quản lí của Nhà nước pháp quyền
XHCN do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ đạo kinh tế Nhà nước
Nền kinh tế hàng hóa, nền kinh tế thị trường, phải là nền kinh tế đa thành phần,
đa hình thức sở hữu. Thế nhưng nền kinh tế thị trường chúng ta xây dựng
nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần sự tham gia bởi “bàn tay hữu tình” của
Nhà nước trong việc điều tiết, quản nền knh tế đó. Đồng thời chính sẽ đảm
bảo sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự quản lý, điều tiết định
hướng phát triển nền kinh tế thị trường của nhà nước thông qua các công c
chính sách kinh tế mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước. Kinh tế
Nhà nước phải đảm bảo nắm giữ vai trò một vị trí then chốt, ý nghĩa “đài
chỉ huy” “mạch máu” của nền kinh tế cùng với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo
của “dân giàu nước mạnh, hội công bằng, dân chủ văn minh” inh tế Nhà nước,
cần coi trọng vai trò của khu vực kinh tế nhân kinh tế hỗn hợp, đặt chúng
trong mối quan hệ gắn bó gần gũi hữu nghị thống nhất không tách rời biệt lập.
Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo hướng XHCN ở nước ta là
Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước của dân, do dân,
dân.
Yếu tố quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện đại Nhà nước tham gia
vào các quá trình kinh tế. Nhưng khác với Nhà nước của nhiều nền kinh tế khác
trên thế giới. Nhà nước ta nhà nước “của dân, do dân và vì dân”. Nhà nước của
đại đa số nhân dân lao động đặt dướ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó
đủ khả năng để đỏi mới để đảm bảo giữ vững định hướng XHCN trong việc
phát triển kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta sự khác biệt về bản chất một nội
dung một điều kiện, một tiền đề cho sự phát triển về bản chất của mô hình
kinh tế thị trường nước ta so với nhiều hình kinh tế thị trường khác hiện có
trên thế giới.
chế vận hành của nền kinh tế thông qua chế thị trường với sự tham gia,
quản lý, điều tiết của Nhà nước.
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện thông
qua thị trường. Các quy luật kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường (quy luật giá trị,
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh hợp tác…) sẽ chi phối hoạt động kinh tế.
Quy luật giá trị quy định mục đích theo đuổi trong các hoạt động kinh tế lợi
nhuận (giá trị không ngừng tăng lên), quy định sự phân bố các nguồn lực vào các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, đồng thời đặt vào các chủ thể kinh tế
trong một cuộc cạnh tranh quyết liệt. Thông qua các công cụ, chính sách kinh tế
mô, cùng với việc sử dụng các lực lượng kinh tế của mình. Thị trường không phải
căn cứ duy nhất có tính quyết định nhưng kế hoạch nhà nước cũng không thể thoát
li khỏi tình hình biến động của thị trường. Các kế hoạch nhằm đảm bảo cân đối,
tổng thể của nền kinh tế cũng như tổng thể cung – tổng thể cầu. Sản xuất tiêu dùng,
hàng hóa tiền tệ. Kế hoạch hóa vĩthể tác động đến cung cầu, giá cả, để uốn
nắn những sai lệch của sự phát triển do sự tác động tự phát của thị trường gây ra.
Mở của hội nhập kinh tế thế giới, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia
Quá trình phát triển của kinh tế thị trường đi liền với xã hội nền sản xuất xã hội.
Tiến trình hội hóa nền sản xuất trên sở phát triển của nền kinh tế thị trường
là không biên giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc điểm
quan trọng của kinh tế thị trường hiện đại việc mở rộng giao lưu kinh tế với
nước ngoài. Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế với những khu vực hóa và toàn
cầu hóa đa dạng ngày càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đị của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay. Tất cả các nước trên thế giới,
muốn hay không muốn, ít nhiều đều bị lôi cuốn, thu hút vào các quan hệ kinh tế
quốc tế. Muốn kết hợp sức mạnh của dân với sức mạnh của thời đại thì nước ta
phải tham gia vào sự phản công lao động quốc tế trước hết mở mang quan hệ
phân công, hợp tác toàn diện với các nước trong khối XHCN, mở mang quan hệ
kinh tế khoa học kỹ thuật với các nước công nghệ phát triển, các tổ chức quốc tế và
các tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng cơ hội.
Tăng trưởng kinh tế gắn liện với cộng bằng hội
Phát triển trong công bằng và phát triển bền vững là những thuật ngữ phổ biến
xu thế của thời đại hiện nay. Phát triển trong công bằng được hiểu chính
sách phát triển phải đảm bảo công bằng hội hướng tiêu vào mục phát triển con
người lành mạnh hóa hội, tạo sự đồng thuận hội, tạo cho mọi tầng lớp
nhân dân đều hội tham gia vào quá trình phát triển được hưởng những
thành quả xứng đáng với sức lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, là giảm khoảng cách
chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân các vùng, thành thị nông
thôn. Khác với nhiều nước nền kinh tế phát triển những không đảm bảo cân bằng
hội. Tuy nhiên cũng nhấn mạnh rằng sự đảm bảo công bằng trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN nước ta hoàn toàn xa lạ khác hẳn với chủ nghĩa bình
quân. Người nghèo được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế. Mức độ bảo
lãnh sự công bằng hội trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, khả năng
sức mạnh tạo sự bền vững cho kinh tế của quốc gia. Vì vậy, nếu quá nhấn mạnh
đến sự công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, ngân sách còn
thu hẹp thì chắc chắn sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế - hội của đất
nước. Chúng ta cần có những giải pháp vừa cơ bản vừa cụ thể:
- Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng trưởng bền
vững và điều chỉnh cơ cấu đầu tư làm đảm bảo công bằng xã hội.
- Phát triển và nâng cao nguồn nhân lực.
- Tiếp tục giải phóng nguồn nhân lực, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực
và lao động mới để nguồn nhân lực phát huy tiềm năng trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Cải cách căn bản chính sách tiền lương bảo đảm công bằng và tạo lao
động tiềm lực cho lao động phát triển.
- Xây dựng hệ thống an ninh xã hội đa tầng và linh hoạt có thể hỗ trợ
lẫn nhau.
- Thực hiện bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống
- Tích cực và kiên quyết phòng chống tệ nạn xã hội.
Giải quyết mối quan hệ lao động tư bản thông qua phân phối thu
nhập trong kinh tế thị trường định hướng XHCN
Việc giải quyết mối quan hệ trên được thực hiện theo kết quả lao động là chủ
yếu kết hợp với một phần theo vốntài sản. Đây là điểm khác biệt giữa nền kinh
tế thị trường trong chủ nghĩa bản với nền kinh tế thị trường trong định hướng
XHCN ở nước ta. Trong mối quan hệ giữa lao động bản, giữa lao động sống
lao động quá khứ, chủ nghĩa bản coi trọng nhân tố bản, nhân tố lao động
quá khứ được tích lũy đầu hơn yếu tố tiền lương thu nhập của người lao
đọng. Ngược lại CNXH đặt vị trí của con người ở trung tâm của sự phát triển. Cho
nên trong phân phối lao động và thành quả lao động của xã hội, CNXH nhấn mạnh
nhân tố lao động yếu tố tiền lương - thu nhập của người lao động. Tuy nhiên,
trong khi nhấn mạnh để yếu tố lao động đến nâng cao thu nhập tiêu dùng của
người lao động, chúng ta không thể không coi trọng đến vai trò của yếu tố vốn, đến
tăng cường tích lũy và đầu tư (nhà nước và tư nhân) và đến mối quan hệ biện
chứng giữa bản lao động. vậy, thu nhập theo sở đó với gia tăng số
người giàu trong xã hội và thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo vừa là
mục tiêu vừa nội dung quan trọng của chínhch thu nhập chính sách điều
tiết thu nhập của nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường trong
quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Tóm lại quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta phải là “quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh tiến lên hiện đại trong một
xã hội nhân dân làm chủ nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp lực, bất công,
tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”.
2.3Quy luật giá trị ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN
2.2.1 Sự cần thiết của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị
trường.
Để tối đa các nguồn lực của xã hội và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó thì
hệ thống kinh tế đều được tổ chức một cách hợp lí bằng nhiều cách khác nhau
nhằm sản xuất ra hàng hóa. Việc sản xuất hàng hóa phải được tiến hành theo
những phương pháp tốt nhất, phân phối hang hóa sản xuất phải được tiến hành
theo những phương pháp tốt nhất nhu cầu của xã hội. Đó là vấn đề cơ bản của tổ
chức kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế chỉ huy thì những vấn đề cơ bản do cơ
quan nhà nước quy định, còn một nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản do
cơ quan nhà nước quyết định được xem là nền kinh tế thị trường.
Phát triển kinh tế thị trường là xu thế tất yếu của quá trình đổi mới kinh tế xã
hội. Thực tế cho thấy, không quốc gia nào trên thế giới có nền kinh tế phát triển lại
không có sự điều hành của nhà nước. Mỗi quốc gia có một chính sách quản lí và
phát triển kinh tế đặc thù của quốc gia đó, nhưng xét đến cùng thì cũng không
thoát khỏi quy luật chung là áp dụng các quy luật kinh tế và ận hành chúng 1 cách
có hiệu quả vào sự phát triển của xã hội. Nó có vai trò điều tiết nền sản xuất hàng
hóa một cách hợp lí rồi từ đó gây ảnh hưởng đến nền kinh tế đất nước. Chính vì
vậy, quy luật giá trị có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế thị
trường của mỗi quốc gia, do đó, ở đâu có xuất hiện sản xuất và trao đổi hang hóa
thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế
trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chịu sự ác động và chi phối của quy luật
này, tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát
triển được, ngược lại sẽ bị thua lỗ và phá sản. Đối với Việt Nam nó gây ảnh hưởng
đến nền kinh tế quốc dân thông qua sự điều tiết đối với nền sản xuất hàng hóa.
2.2.2 Thực trạng vận dụng cũng như tác động của quy luật giá trị trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước Việt
Nam còn là một trong những nước có nền kinh tế phát triển chậm.
Nền kinh tế nước ta đang từ sản xuát nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN, từ sản
xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hang hóa. Quy luật giá trị gắn liền nền sản xuất
hang hóa đó còn hoạt động trên một phạm vi khá rộng trong một thời gian dài,
vai tròphạm vi hoạt động của nó biến đổi từng thờicùng với sự chuyển biến
của quan hệ sản xuất của lực lượng sản xuất với sự phát triển của phân công lao
động hội. vậy, trong khi xác nhận vai trò chủ đạo quy luật kinh tế XHCN,
chúng ta cần nhận thức đúng quy luật giá trịnhững phạm trù kinh tế gắn bó với
những quy luật đso như tiền tệ, giá cả, tín dụng, tài chính, thành tựu khoa học
thuật,… để kích thích sản xuất và lưu thông hang hóa phát triển, thúc đẩy nền kinh
tế nước ta nước ta tiến nhanh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Với quan điểm của Đảng và nhà nước, thì các quy luật kinh tế được phép phát
huy tác dụng của trong đó quy luật giá trị đóng vai trò quy luật kinh tế căn bản
chi phối toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế. Vậy, quy luật giá trị ảnh hưởng
như thế nào đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam, chúng ta đã vận dụng ra
sao? Tìm hiểu về các lĩnh vực sau sẽ hiểu rõ hơn.
Trong lĩnh vực sản xuất
Nếu sản xuất XHCN không chịu sự điều tiết của quy luật giá trị chịu sự
chi phối của quy luật kinh tế bản của CNXH quy luật phát triển kế hoạch
và cân đối nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, quy luật giá tr không phải không ảnh
hưởng đến sản xuất. Những vật phẩm tiêu dung cần thiết để bù vào sức lao động đã
hao phí trong quá trình sản xuất đều được sản xuất và tiêu thụ dưới hình thức hàng
hóa và chịu sự tác động của quy luật giá trị. Trong những thành phần kinh tế khác
nhau, tác động của quy luật giá trị những điểm không giống nhau. Nhà nước ta
đã chủ động vận dụng những quy luật giá trị vào lĩnh vực sản xuất. thế các
nghiệp của chúng ta không thể và không được bỏ qua các quy luật giá trị.
Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường trao đổi ngang giá, tức
trao đổi thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng hóa. Nguyên tắc này
đòi hỏi phải tuân thủ quy luật giá - sản phẩm và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ
sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:
Xét tầm vi mô: mỗi nhân khi sản xuất đều cố gắng làm cho thời gian
lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội.
Xét tầm mô: mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động, nâng cao lao động
hội cần thiết.
Như vậy Nhà nước đưa ra các chính sách kinh tế để khuyến khích nâng cao
trình độ chuyên môn. Mỗi doanh nghiệp phải cố gắng cải tiến máy móc,mẫu mã,
nâng cao tay nghề. Nếu không quy luật giá trị đây sẽ thực hiện vai trò đào thải
nó: loại bỏ những cái kém hiệu quả kích thích nhân, ngành doanh nghiệp phát
huy tính hiệu quả. Tất yếu điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản
xuất trong đó đội ngũ lao động tay nghề chuyên môn ngày càng cao, ng
cụ lao động luôn luôn được cải tiến, và cùng với sự hội hóa chuyên môn
hóa lực lượng sản xuất của một phát triển, đây là những vật dụng đúng đắn của nhà
nước ta.
Theo yêu cầu của quy luật giá tr trong sản xuất giá trị đặc biệt của từng
nghiệp phải phù hợp với thấp hơn giá trị xã hội, do đó quy luật giá trị dùng làm
sở cho việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh các cấp
quản lý kinh tế cũng như các ngành sản xuất, các đơn vị sản xuất ở cơ sở khi đặt kế
hoạch hay thực hiện kế hoạch kinh tế đều phải tính đến giá thành, quan hệ cung
cầu để định khối lượng kết cấu hàng hóa…
o Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế
Việc chuyển từ chế độ tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường thì cùng với việc loại bỏ chế xin cho cấp phát bảo hộ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. mỗi doanh nghiệp phải tự hạch toán không bị ràng buộc
quá đáng bởi các chỉ tiêu sản xuất về nhà nước đưa ra và phải tự nghiên cứu để đưa
ra thị trường phù hợp với sản phẩm của mình thực hiện phân đoạn thị trường để
xác định tấn công vào đâu? bằng sản phẩm gì?
Mặt khác cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao dịch
trên sàn giao dịch chứng khoán, thúc đẩy hơn nữa tiến trình hội nhập kinh tế thế
giới. Mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp phải nâng cao sức mạnh cạnh tranh của mình
để có thể đứng vững khi bão táp trong quá trinh hội nhập. sức cạnh tranh được nói
đến đây sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp
trong nước, giữa doanh nghiệp trong nước với cácnhân trong nước, giữa các
nhân trong nước với cá nhân nước ngoài.
| 1/25

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 
MÔN HỌC: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN
Đề tài: VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH
TẾ-XÃ HỘI VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
GVHD: PGS. TS Đoàn Đức Hiếu Tên thành viên MSSV Trần Đức Anh Huy 16148023 Huỳnh Vân Anh 18116044 Nguyễn Khánh Linh 18116080 Bùi Thị Thúy Hằng 18116062
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2019 ĐIỂM SỐ TIÊU CHÍ NỘI DUNG BỐ CỤC TRÌNH BÀY TỔNG ĐIỂM NHẬN XÉT
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
...................................................................................................................................... Ký tên
PGS. TS Đoàn Đức Hiếu
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ THỨ TỰ NHIỆM VỤ THỰC HIỆN KẾT QUẢ 1 Huỳnh Vân Anh Hoàn thành tốt 2 Nguyễn Khánh Linh Hoàn thành tốt 3 Bùi Thị Thúy Hằng Hoàn thành tốt 4 Trần Đức Anh Huy Hoàn thành tốt MỤC LỤC MỞ ĐẦU LỜI MỞ ĐẦU
................................................................................. .... ... ....... ... .... ... .. 1 CHƯƠNG 1
........................................................................................................ .... ... 2 TỔNG QUAN V Ề QUY LUẬT GIÁ TRỊ
.................................... .... ... .... ... ... .... ... .... 2 1.1 Khái niệm và nội dung của quy luật giá trị
..................................... .... ... .... ... 2 1.1.1 Khái niệm quy luật giá trị
....................................................... .... ... .... ... .. 2 1.1.2 Nội dung của quy luật giá trị
........................................... .... ... .... ... ... .... .. 2 Tóm lại, yêu cầu chung của quy luật giá trị mang tính khách quan, nó đảm bảo
sự công bằng, hợp lý, bình đẳng giữa người sản xuất và trao đổi hàng hóa . . . . . . .3
1.2 Tác động của quy luật giá trị
......................................................................... 3 CHƯƠNG 2
............................................................................................................ 7 2.1 Khái niệm kinh tế thị trường
................................................................... .... .. 7
2.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội thế nào
....................................... .... ... . 7 2.3 Quy luật giá trị ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 12 2.2.1 Sự cầ
n thiết của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường. . . . 12 2.2.2
Thực trạng vận dụng cũng như tác động của quy luật giá trị trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay .
................................................................ 13 KẾT LUẬN
................................................................................. ....... .... ...... .... ... ....18 TÀI LIỆU THAM KHẢO
.................................................................... .... ... .... ... ... .. 19 LỜI MỞ ĐẦU
Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử do C.Mác xây dựng nên. Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác. Lý luận đó đã
được thừa nhận lý luận khoa học và phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu
lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài
người, Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ
rõ được bản chất của từng chế độ xã hội. Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách
đúng đắn và khoa học sự vận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định cũng
như tiến trình vận động lịch sử của xã hội loài người.
Trong thực tiễn, Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở bám sát tư tưởng Mác-Lênin và đặc biệt là việc vận
dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào công cuộc xây dựng đất nước, việc vạch ra
những mối liên hệ hợp quy luật và đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện thành
công công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam thành một đất nước giàu mạnh, xã hội
công bằng văn minh cũng là một nhiệm vụ thực tiễn đang đặt ra.
Chính vì những lý do trên, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “Vận dụng học
thuyết hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay”.
Với những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, những sai sót mắc phải
trong khi thực hiện sẽ là điều không thể tránh khỏi, chúng em mong nhận được những
lời phê bình và góp ý quý báu của thầy.
Đặc biệt em xin cảm ơn thầy Đoàn Đức Hiếu, thầy đã giảng dạy và hướng dẫn
nhóm chúng em hoàn thành bài tiểu luận này. 5 CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1.1 Khái niệm và nội dung của quy luật giá trị 1.1.1
Khái niệm quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi
hàng hóa. Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa ở đó có sự xuất hiện và
hoạt động của quy luật giá trị. Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế và sản xuất và
lưu thông hàng hóa đều chịu sự tác động và chi phối của quy luật này. Tuân theo
yêu cầu của quy luật thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát triển được, ngược lại sẽ thua lỗ và phá sản. 1.1.2
Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa
trên cơ sở lượng giá trị hàng hóa hay thời gian lao động xã hội cần thiết
dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong quá trình sản xuất thì vấn đề quan trọng nhất là hàng hóa sản
xuất ra có bán được hay không. Để có thể tiêu thụ hàng hóa thì thời gian
lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa đó phải phù hợp với thời gan
lao động xã hội cần thiết tức là phù hợp với mức hao phí mà xã hội có
thể chấp nhận được. Trong trao đổi hàng hóa cũng phải dựa vào thời gian
lao động xã hội được với nhau khi lượng giá trị của chúng ngang nhau,
tức là khi trao đỏi hàng hóa phải theo quy tắc ngang nhau. Hai hàng hóa
được trao đổi với nhau khi được kết tinh cùng một lượng lao động như
nhau hoặc trao đổi mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng giá
trị. Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện trong trường hợp giá cả
lên xuống, xung quanh giá trị và giá trị như cái trục của giá cả.
Quy luật giá trị là trừu tượng nó thể hiện sự vận động thông qua sự biến
động của giá cả hàng hóa. Giá cả là biểu thị bằng tiền của giá trị. Giá cả
phụ thuộc vào giá trị vì giá trị là cơ sở của giá cả. Trong nền kinh tế hàng
hóa thì giá cả và giá thị trường chênh lệch nhau, cung ít hơn cầu thì giá cả 6
sẽ cao hơn giá trị và ngược lại. Nhưng xét cho cùng thì tổng giá cả và hàng
hóa bao giờ cũng bằng tổng giá trị hàng hóa. Giá cả hàng hóa có thể tách
rời giá trị nhưng bao giờ lên xuống cũng xoay quanh giá trị, đó là sự biểu
hiện hoạt động của quy lật giá trị.
Tóm lại, yêu cầu chung của quy luật giá trị mang tính khách quan,
nó đảm bảo sự công bằng, hợp lý, bình đẳng giữa người sản xuất và trao đổi hàng hóa. 7
1.2 Tác động của quy luật giá trị
Bất cứ một sự vật hiện tượng nào khi tồn tại trong tự nhiên đều tuân theo
những quy định nhất định. Những quy luật này chi phối đến cả quá trình hình
thành và phát triển của mỗi sự vật hiện tượng.
Và tất nhiên nền kinh tế thế giới nói chung cũng như nền kinh tế VIệt Nam
nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Theo thời gian nền kinh tế không
ngừng biến đổi. Nó cũng liên tục phân chia và hình thành nhiều thành phần kinh tế
mới có những định hướng khác, có những đặc điểm và quy luật riêng biệt đối với
các thành viên tham gia trong nền kinh tế đó. Chúng giống nhau là nhìn bề ngoài
tưởng như sản xuất trao đổi hàng hóa là việc riêng của mỗi thành viên độc lập và
hinhg như không chịu sự chi phối nào. Trên thực tế mọi người sản xuất và trao đổi
hàng hóa đều chịu sựu chi phối của quy luật giá trị.
Vì vậy, quy luật giá trị có tác động chủ yếu như sau:  Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Điều tiết sản xuất của quy luật giá trị là điều chỉnh, phân bố các yếu tố như:
tư liệu sản xuất, sức lao đọng và tiền vốn từ ngành nay sang ngành khác, từ nơi này
sang nơi khác. Nó làm cho sản xuất hàng hóa của ngành này, nới này được phát
triển mở rộng, ngành khác nơi khác bị thu hẹp. Thông qua sự biến động giá cả thị
trường từ đó tạo ra những tỉ lệ cân đối tạm thời giữa các ngành các vùng của một
ngành kinh tế hàng hóa nhất định.
Quy luật đó thể hiện ở chỗ: cung và cầu thường xuyên muốn khớp với nhau
mà thường xuyên tách, như từ trước tới nay nó chưa hề ăn khớp với nhau mà đói
lập nhau, cung luôn bám sát cầu. Chính vì thé luôn xảy ra các trừng hợp sau đây: -
Khi cung bằng cầu thì giá trị bằng giá cả hàng hóa, trường hợp này xảy ra
một cách ngẫu nhiên và rất hiếm. -
Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lãi cao.
Những người đang sản xuất mặt hàng này sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu
tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những người đang sản
xuất hàng hóa khác thu hẹp quy mô sản xuất của mình để chạy sang sản xuất
loại hàng hóa bán chạy này. Như vây, tư liệu sản xuất, sưc slao đọng, tiền
vốn được chuyển vào ngành tăng lên, quy mô sản xuát cũng được mở rộng,
cung về loại hàng này trên thị trường này tăng lên. -
Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị, hàng hóa ế thừa, không tiêu
thụ được, có thể lỗ vốn. tình hình này bắt buộc những người đang sản xuất
loại hàng này phải thu hẹp quy mô sản xuất, chuyển sang các mặt hàng có
giá trị trên thị trường và làm cho tư liệu sản xuất ở ngành này giảm đi ở
ngành khác lại có thể tăng lên. Còn nếu như mặt hàng nào đó có giá cả bằng
giá trị thì người sản xuất tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Thực chất của điều tiết lưu thông trong quy luật giá trị là điều chỉnh một
cách tự phát khối lượng hàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, tạo ra bằng
giá cả xã hội. Giá trị của hàng hóa thay đổi. Thì những điều kiện có thể làm cho
tổng khối lượng hàng hóa có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay đổi.
“… Khi thực hiện quy luật giá trị của hàng hóa trong xã hội gồm những sản
xuất trao đỏi hàng hóa cho nhau, sự cạnh tranh lập ra bằng cách đó và trong điều
kiện nào đó một trật tự duy nhất và một tổ chức duy nhất có thể có của nền sản
xuất xã hội. CHỉ có do sự tăng hay giảm hàng hóa mà những người sản xuất hàng
hóa riêng lẽ biết được, rõ ràng là xã hội cần những vật phẩm nào và cần số lượng là bao nhiêu.”  Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí sản
xuất, tăng năng suất lao đọng lực lương sản xuất xã hội phát triển nhanh hơn.
Quy luật đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sử dụng lao
đọng vào các ngành sản xuất khác. Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy
luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến cao, do đó
góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.
Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa là một chủ thể
kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác
nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng
hóa ở thế có lợi, thu được lãi cao. Còn ngược lại, người sản xuất có lao động cá
biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa thì người sản xuất ở thế bất lợi,
lỗ vốn. Để dành được ưu thế trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao, tránh
được nguy cơ vỡ nợ, phá sản. Họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình,
sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách
cả tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lí, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng
suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt ngày càng đẩy mạnh quá trình này diễn ra
mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì
cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động sản xuất không ngừng tăng lên,
chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống. Kết quả là lực lượng sản xuất xã
hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hơn.
 Phân hóa người sản xuất hàng hóa thành kẻ giàu người nghèo
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là những người
có điều kiện sản xuất có trình độ, kiến thức cao, trang bị kĩ thuật tốt nên có hao phí
lo động cá biệt thấp hơn hoa phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi,
giàu lên, sẽ mua được nhiều tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm
chí có thể thuê lao động, làm chủ, nhờ đó mà giàu nên nhanh chóng người sản xuất
hàng hóa nào có mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hòa sẽ rơi vào
tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, thậm chí trở thành lao động
làm thuê, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện sản xuất tư bản
chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Sự bình tuyển tự nhiên ấy đã phân hóa những người sản xuất kinh doanh ra
thành người giàu, người nghèo. Lịch sử phát triên của sản xuất đã diễn ra là quá
trình phân hoá này đã làm cho sản xuất hoàng giản đơn trong xã hội phong kiến
dần dần nảy sinh ra sản xuất tư bản chủ nghĩa
“…Mỗi người đều sản xuất riêng biệt cho lợi ích riêng của mình, không phụ
thuộc vào nhà sản xuất khác. Họ sản xuất cho thị trường nhưng dĩ nhiên không
một người nào trong số họ biết được dung lượng của thị trường. Mỗi quan hệ như
vậy giữa những người sản xuất riêng lẻ, sản xuất cho thị trường chung sẽ giúp ích
cho thị trường cạnh tranh thì gọi là cạnh tranh. Dĩ nhiên trong những điều kiện ấy,
sự thăn bằng giữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có thể có được sau nhiều lần biến động.
Những người khéo léo hơn, tháo vát hơn và có sức lực hơn sẽ ngày càng lớn
mạnh và nhờ những biến động ấy, con người yếu ớt vụng về sẽ bị biến dộng đó
đè bẹp. Một vài người sẽ trở nên giàu có, còn quần chúng sẽ trở nên nghèo đói,
đó là kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh. Kết cục là những người
sản xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họ và trở thành công
nhân làm thuê trong công xưởng đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ” CHƯƠNG 2:
QUY LUẬT GIÁ TRỊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1Khái niệm kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là sự phát triển cao hơn cuar kiểu tố chức kinh tế xã hội mà
hình thái phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi trên thị trường.
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế khách quan do trình độ phát triển của sản xuất
quyết định, trong đó quá trình từ sản xuất đến trao đôii, phân phối và tiêu dùng như
thế nào và cho ai đều thông qua việc mua bán, thông qua hệ thông thị trường, và do
thị trường quyết định.
Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là các chủ thể tự do lựa chọn các
hình thức sở hữu, phương thức kinh doanh, ngành nghề mà luật pháp nghiêm cấm.
Mọi hoạt động kinh tế đều diễn ra theo quy luật của nó,sản xuất và bán hàng theo
quy luật của thị trường. Bán cái gì mà thị trường cần chứ khong phải bán cái mà
mình có, tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế các chủ thể dược theo đuổi các lợi ích chính đáng của mình.
Trong kinh tế thị trường có hai chủ thể:
-Người tiêu dùng và người sản xuất
-Tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế
2.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội thế nào
Kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự vận động của nhà
nước, theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nên kinh tế thị trường hiện đại hội
nhập quốc tế có sự quản lí của nhà nước pháp quyền xã hội hội nghĩa, do Đáng
Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo nhằm mục tiêu: “ đan giàu nước mạnh, xã hộ công
bằng, dân chủ, văn mình”
 Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung - hành
chính - quan liêu - bao cấp sang phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN, là nội dung
bản chất và đặc điểm khái quát nhất đôi với nền kinh tế nước ta hiện đại và tương
lai. Đặc biệt cương lĩnh xây dựng trong thời kì quá độ lên CNXH được đại hội đại
biểu toàn quốc lần VII thông qua vào 1991 cũng đã nêu lên 6 đặc trưng cơ bản của
XHCN và những quan điểm phương hướng tổng quan và phát triển kinh tế xã hội
theo định hướng XHCN ở nước ta. Tuy nhiên cũng cần phải phân tích sâu thêm về
bản chất, đặc điểm đã khái quát nói trên, để có thể hiểu rõ hơn và nói sâu thêm
nhận thức và hành động.
Các chủ thể có tính năng động và tự chủ cao và nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN nắm bắt được nhiều tư liệu sản xuất và luôn học hỏi từ các nước
trên nên ngày càng tự chủ và tính năng động trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Giá cả do thị trường quy định.
Nền kinh tế vận hành theo các quy luật vấn đề của thị trường.
Cạnh tranh là tất yếu vì mục đích lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại cần có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước vì
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần kích thích cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động làm sản phẩm hàng
hoá ngày càng đã dạng và phong phú nên cần có sự quản lý của nhà nước.
 Nền kinh tế thị trường hiện đại gắn với tính chất XHCN
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nhà nước ta xây dựng là nền kinh
tế thị trường hiện đại với tính chất xã hội hiện đại (XHCN). Mặc dù nền kinh tế
nước ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước ta
chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường thì thế giới đã chuyển
sang kinh tế thị trường hiện đại. Bởi vậy, chúng ta không thể và không nhất thiết
phải trải qua giai đoạn kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường tự do, mà đi
thẳng vào phát triển thị trường hiện đại. Đây là nội dung và yêu cầu của sự phát
triển rút ngắn. Mặt khác thế giới vẫn đang nằm trong thời đại quá độ từ CNTB lên
CNXH, cho nên sự phát triển kinh tế - xã hội chủ nghĩa nước ta phải theo định
hướng XHCN là cần thiết, khách quan và cũng là nội dung, yêu cầu của sự phát
triển rút ngắn. Sự nghiệp “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh” vừa là mục tiêu, vừa là nội dung nhiệm vụ phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta. Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi người dân trong xã
hội làm giàu một cách hợp pháp. Dân có giàu thì nước mới mạnh, nhưng dân giàu
phải làm cho nước mạnh đảm bảo độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành
đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định
hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh
tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế có sựu quản lí của Nhà nước pháp quyền
XHCN do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
 Nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ đạo kinh tế Nhà nước
Nền kinh tế hàng hóa, nền kinh tế thị trường, phải là nền kinh tế đa thành phần,
đa hình thức sở hữu. Thế nhưng nền kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng là
nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần sự tham gia bởi “bàn tay hữu tình” của
Nhà nước trong việc điều tiết, quản lí nền knh tế đó. Đồng thời chính nó sẽ đảm
bảo sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự quản lý, điều tiết định
hướng phát triển nền kinh tế thị trường của nhà nước là thông qua các công cụ
chính sách kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước. Kinh tế
Nhà nước phải đảm bảo nắm giữ vai trò ở một vị trí then chốt, có ý nghĩa là “đài
chỉ huy” là “mạch máu” của nền kinh tế cùng với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo
của “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” inh tế Nhà nước,
cần coi trọng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp, đặt chúng
trong mối quan hệ gắn bó gần gũi hữu nghị thống nhất không tách rời biệt lập.
 Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo hướng XHCN ở nước ta là
Nhà nước pháp quyền XHCN, là
Nhà nước của dân, do dân, và vì dân.
Yếu tố quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện đại là Nhà nước tham gia
vào các quá trình kinh tế. Nhưng khác với Nhà nước của nhiều nền kinh tế khác
trên thế giới. Nhà nước ta là nhà nước “của dân, do dân và vì dân”. Nhà nước của
đại đa số nhân dân lao động đặt dướ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó
có đủ khả năng để đỏi mới để đảm bảo giữ vững định hướng XHCN trong việc
phát triển kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta sự khác biệt về bản chất là một nội
dung và là một điều kiện, một tiền đề cho sự phát triển về bản chất của mô hình
kinh tế thị trường ở nước ta so với nhiều mô hình kinh tế thị trường khác hiện có trên thế giới.
Cơ chế vận hành của nền kinh tế thông qua cơ chế thị trường với sự tham gia,
quản lý, điều tiết của Nhà nước.
Mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện thông
qua thị trường. Các quy luật kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường (quy luật giá trị,
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh hợp tác…) sẽ chi phối hoạt động kinh tế.
Quy luật giá trị quy định mục đích theo đuổi trong các hoạt động kinh tế và lợi
nhuận (giá trị không ngừng tăng lên), quy định sự phân bố các nguồn lực vào các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, đồng thời đặt nó vào các chủ thể kinh tế
trong một cuộc cạnh tranh quyết liệt. Thông qua các công cụ, chính sách kinh tế vĩ
mô, cùng với việc sử dụng các lực lượng kinh tế của mình. Thị trường không phải
căn cứ duy nhất có tính quyết định nhưng kế hoạch nhà nước cũng không thể thoát
li khỏi tình hình biến động của thị trường. Các kế hoạch nhằm đảm bảo cân đối,
tổng thể của nền kinh tế cũng như tổng thể cung – tổng thể cầu. Sản xuất tiêu dùng,
hàng hóa tiền tệ. Kế hoạch hóa vĩ mô có thể tác động đến cung cầu, giá cả, để uốn
nắn những sai lệch của sự phát triển do sự tác động tự phát của thị trường gây ra.
 Mở của hội nhập kinh tế thế giới, trên cơ sở
giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Quá trình phát triển của kinh tế thị trường đi liền với xã hội nền sản xuất xã hội.
Tiến trình xã hội hóa nền sản xuất trên cơ sở phát triển của nền kinh tế thị trường
là không có biên giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc điểm
quan trọng của kinh tế thị trường hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với
nước ngoài. Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế với những khu vực hóa và toàn
cầu hóa đa dạng ngày càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đị của
cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay. Tất cả các nước trên thế giới, dù
muốn hay không muốn, ít nhiều đều bị lôi cuốn, thu hút vào các quan hệ kinh tế
quốc tế. Muốn kết hợp sức mạnh của dân với sức mạnh của thời đại thì nước ta
phải tham gia vào sự phản công lao động quốc tế trước hết là mở mang quan hệ
phân công, hợp tác toàn diện với các nước trong khối XHCN, mở mang quan hệ
kinh tế khoa học kỹ thuật với các nước công nghệ phát triển, các tổ chức quốc tế và
các tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng cơ hội.
 Tăng trưởng kinh tế gắn liện với cộng bằng xã hội
Phát triển trong công bằng và phát triển bền vững là những thuật ngữ phổ biến
và là xu thế của thời đại hiện nay. Phát triển trong công bằng được hiểu là chính
sách phát triển phải đảm bảo công bằng xã hội hướng tiêu vào mục phát triển con
người và lành mạnh hóa xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội, là tạo cho mọi tầng lớp
nhân dân đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và được hưởng những
thành quả xứng đáng với sức lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, là giảm khoảng cách
chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và các vùng, thành thị và nông
thôn. Khác với nhiều nước nền kinh tế phát triển những không đảm bảo cân bằng
xã hội. Tuy nhiên cũng nhấn mạnh rằng sự đảm bảo công bằng trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN nước ta hoàn toàn xa lạ khác hẳn với chủ nghĩa bình
quân. Người nghèo được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế. Mức độ bảo
lãnh sự công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, khả năng và
sức mạnh tạo sự bền vững cho kinh tế của quốc gia. Vì vậy, nếu quá nhấn mạnh
đến sự công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, ngân sách còn
thu hẹp thì chắc chắn sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Chúng ta cần có những giải pháp vừa cơ bản vừa cụ thể: -
Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng trưởng bền
vững và điều chỉnh cơ cấu đầu tư làm đảm bảo công bằng xã hội. -
Phát triển và nâng cao nguồn nhân lực. -
Tiếp tục giải phóng nguồn nhân lực, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực
và lao động mới để nguồn nhân lực phát huy tiềm năng trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. -
Cải cách căn bản chính sách tiền lương bảo đảm công bằng và tạo lao
động tiềm lực cho lao động phát triển. -
Xây dựng hệ thống an ninh xã hội đa tầng và linh hoạt có thể hỗ trợ lẫn nhau. -
Thực hiện bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống -
Tích cực và kiên quyết phòng chống tệ nạn xã hội.
 Giải quyết mối quan hệ lao động và
tư bản thông qua phân phối và thu
nhập trong kinh tế thị trường định hướng XHCN
Việc giải quyết mối quan hệ trên được thực hiện theo kết quả lao động là chủ
yếu kết hợp với một phần theo vốn và tài sản. Đây là điểm khác biệt giữa nền kinh
tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản với nền kinh tế thị trường trong định hướng
XHCN ở nước ta. Trong mối quan hệ giữa lao động và tư bản, giữa lao động sống
và lao động quá khứ, chủ nghĩa tư bản coi trọng nhân tố tư bản, nhân tố lao động
quá khứ được tích lũy – đầu tư hơn là yếu tố tiền lương – thu nhập của người lao
đọng. Ngược lại CNXH đặt vị trí của con người ở trung tâm của sự phát triển. Cho
nên trong phân phối lao động và thành quả lao động của xã hội, CNXH nhấn mạnh
nhân tố lao động và yếu tố tiền lương - thu nhập của người lao động. Tuy nhiên,
trong khi nhấn mạnh để yếu tố lao động đến nâng cao thu nhập và tiêu dùng của
người lao động, chúng ta không thể không coi trọng đến vai trò của yếu tố vốn, đến
tăng cường tích lũy và đầu tư (nhà nước và tư nhân) và đến mối quan hệ biện
chứng giữa tư bản và lao động. Vì vậy, thu nhập theo cơ sở đó với gia tăng số
người giàu trong xã hội và thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo vừa là
mục tiêu vừa là nội dung quan trọng của chính sách thu nhập và chính sách điều
tiết thu nhập của nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường trong
quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Tóm lại quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta phải là “quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh tiến lên hiện đại trong một
xã hội nhân dân làm chủ nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp lực, bất công,
tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”.
2.3Quy luật giá trị ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 2.2.1
Sự cần thiết của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường.
Để tối đa các nguồn lực của xã hội và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó thì
hệ thống kinh tế đều được tổ chức một cách hợp lí bằng nhiều cách khác nhau
nhằm sản xuất ra hàng hóa. Việc sản xuất hàng hóa phải được tiến hành theo
những phương pháp tốt nhất, phân phối hang hóa sản xuất phải được tiến hành
theo những phương pháp tốt nhất nhu cầu của xã hội. Đó là vấn đề cơ bản của tổ
chức kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế chỉ huy thì những vấn đề cơ bản do cơ
quan nhà nước quy định, còn một nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản do
cơ quan nhà nước quyết định được xem là nền kinh tế thị trường.
Phát triển kinh tế thị trường là xu thế tất yếu của quá trình đổi mới kinh tế xã
hội. Thực tế cho thấy, không quốc gia nào trên thế giới có nền kinh tế phát triển lại
không có sự điều hành của nhà nước. Mỗi quốc gia có một chính sách quản lí và
phát triển kinh tế đặc thù của quốc gia đó, nhưng xét đến cùng thì cũng không
thoát khỏi quy luật chung là áp dụng các quy luật kinh tế và ận hành chúng 1 cách
có hiệu quả vào sự phát triển của xã hội. Nó có vai trò điều tiết nền sản xuất hàng
hóa một cách hợp lí rồi từ đó gây ảnh hưởng đến nền kinh tế đất nước. Chính vì
vậy, quy luật giá trị có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế thị
trường của mỗi quốc gia, do đó, ở đâu có xuất hiện sản xuất và trao đổi hang hóa
thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế
trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chịu sự ác động và chi phối của quy luật
này, tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát
triển được, ngược lại sẽ bị thua lỗ và phá sản. Đối với Việt Nam nó gây ảnh hưởng
đến nền kinh tế quốc dân thông qua sự điều tiết đối với nền sản xuất hàng hóa. 2.2.2
Thực trạng vận dụng cũng như tác động của quy luật giá trị trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước Việt
Nam còn là một trong những nước có nền kinh tế phát triển chậm.
Nền kinh tế nước ta đang từ sản xuát nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN, từ sản
xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hang hóa. Quy luật giá trị gắn liền nền sản xuất
hang hóa đó còn hoạt động trên một phạm vi khá rộng và trong một thời gian dài,
vai trò và phạm vi hoạt động của nó biến đổi từng thời kì cùng với sự chuyển biến
của quan hệ sản xuất của lực lượng sản xuất với sự phát triển của phân công lao
động xã hội. Vì vậy, trong khi xác nhận vai trò chủ đạo quy luật kinh tế XHCN,
chúng ta cần nhận thức đúng quy luật giá trị và những phạm trù kinh tế gắn bó với
những quy luật đso như tiền tệ, giá cả, tín dụng, tài chính, thành tựu khoa học kĩ
thuật,… để kích thích sản xuất và lưu thông hang hóa phát triển, thúc đẩy nền kinh
tế nước ta nước ta tiến nhanh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Với quan điểm của Đảng và nhà nước, thì các quy luật kinh tế được phép phát
huy tác dụng của nó trong đó quy luật giá trị đóng vai trò quy luật kinh tế căn bản
chi phối toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế. Vậy, quy luật giá trị có ảnh hưởng
như thế nào đối với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, chúng ta đã vận dụng ra
sao? Tìm hiểu về các lĩnh vực sau sẽ hiểu rõ hơn.  T rong lĩnh vực sản xuất
Nếu sản xuất XHCN không chịu sự điều tiết của quy luật giá trị mà chịu sự
chi phối của quy luật kinh tế cơ bản của CNXH và quy luật phát triển có kế hoạch
và cân đối nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, quy luật giá trị không phải không ảnh
hưởng đến sản xuất. Những vật phẩm tiêu dung cần thiết để bù vào sức lao động đã
hao phí trong quá trình sản xuất đều được sản xuất và tiêu thụ dưới hình thức hàng
hóa và chịu sự tác động của quy luật giá trị. Trong những thành phần kinh tế khác
nhau, tác động của quy luật giá trị có những điểm không giống nhau. Nhà nước ta
đã chủ động vận dụng những quy luật giá trị vào lĩnh vực sản xuất. Vì thế các xí
nghiệp của chúng ta không thể và không được bỏ qua các quy luật giá trị.
Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá, tức là
trao đổi thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng hóa. Nguyên tắc này
đòi hỏi phải tuân thủ quy luật giá - sản phẩm và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ
sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:
 Xét ở tầm vi mô: mỗi cá nhân khi sản xuất đều cố gắng làm cho thời gian
lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội.
 Xét ở tầm vĩ mô: mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động, nâng cao lao động xã hội cần thiết.
Như vậy Nhà nước đưa ra các chính sách kinh tế để khuyến khích nâng cao
trình độ chuyên môn. Mỗi doanh nghiệp phải cố gắng cải tiến máy móc,mẫu mã,
nâng cao tay nghề. Nếu không quy luật giá trị ở đây sẽ thực hiện vai trò đào thải
nó: loại bỏ những cái kém hiệu quả kích thích cá nhân, ngành doanh nghiệp phát
huy tính hiệu quả. Tất yếu điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản
xuất mà trong đó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn ngày càng cao, công
cụ lao động luôn luôn được cải tiến, và cùng với nó sự xã hội hóa và chuyên môn
hóa lực lượng sản xuất của một phát triển, đây là những vật dụng đúng đắn của nhà nước ta.
Theo yêu cầu của quy luật giá trị trong sản xuất giá trị đặc biệt của từng xí
nghiệp phải phù hợp với thấp hơn giá trị xã hội, do đó quy luật giá trị dùng làm cơ
sở cho việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh các cấp
quản lý kinh tế cũng như các ngành sản xuất, các đơn vị sản xuất ở cơ sở khi đặt kế
hoạch hay thực hiện kế hoạch kinh tế đều phải tính đến giá thành, quan hệ cung
cầu để định khối lượng kết cấu hàng hóa… o
Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế
Việc chuyển từ chế độ tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường thì cùng với nó là việc loại bỏ cơ chế xin cho cấp phát bảo hộ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. mỗi doanh nghiệp phải tự hạch toán không bị ràng buộc
quá đáng bởi các chỉ tiêu sản xuất về nhà nước đưa ra và phải tự nghiên cứu để đưa
ra thị trường phù hợp với sản phẩm của mình thực hiện phân đoạn thị trường để
xác định tấn công vào đâu? bằng sản phẩm gì?
Mặt khác cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao dịch
trên sàn giao dịch chứng khoán, thúc đẩy hơn nữa tiến trình hội nhập kinh tế thế
giới. Mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp phải nâng cao sức mạnh cạnh tranh của mình
để có thể đứng vững khi bão táp trong quá trinh hội nhập. sức cạnh tranh được nói
đến ở đây là sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp
trong nước, giữa doanh nghiệp trong nước với các cá nhân trong nước, giữa các cá
nhân trong nước với cá nhân nước ngoài.