









Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN _____ _____ ⁂
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ: HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI – CHẤT ĐỔI ĐỂ XÂY
DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN TRIẾT HỌC HỆ CHÍNH
QUY CỦA KHOA TRIẾT HỌC, ĐH KHXH&NV
NGUYỄN XUÂN MẠNH 19032342
KHOA: TRIẾT HỌC _ LỚP: K64 TRIẾT HỌC Hà nội, 2022 MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN............................................................................3
1.1. Khái niệm lượng và chất............................................................................3
1.2. Biện chứng giữa chất và lượng..................................................................3
1.2.1. Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất..................................3
1.2.2. Chiều ngược lại của qui luật..................................................................5
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận.........................................................................5
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI-CHẤT ĐỔI ĐỂ XÂY
DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN TRIẾT HỌC HỆ CHÍNH
QUY CỦA KHOA TRIẾT HỌC, ĐH KHXH&NV.............................................6
2.1. Khung chương trình đào tạo của trường Đại học KHXH&NV.............6
2.2. Quy luật lượng đổi chất đổi trong chương trình đào tạo cử nhân hệ
chính quy của trường Đại học KHXN&NV.......................................................7
KẾT LUẬN..............................................................................................................9 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm lượng và chất
Trong lịch sử triết học, vấn đề lượng và chất đã được các nhà triết học
đem ra “mổ xẻ” và xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau. Sự khác biệt này
phụ thuộc vào thế giới quan và phương pháp luận của các nhà triết học. Phép
biện chứng duy vật đem lại quan điểm đúng đắn về khái niệm lượng chất và
mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Theo quan điểm của triết học Marx – Lenin:
Chất là tính qui định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất
hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác. Đó là sự
thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính vốn có của sự vật. Ví dụ: tính qui định
về chất của hoạt động tư duy con người được thể hiện thông qua sự thống
nhất hữu cơ của các thuộc tính như: năng lực phản ánh của bộ não, tính hình
thức và qui luật của nhận thức. Chất có tính ổn định tương đối để khẳng định
sự vật là gì và đồng thời là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái khác. Sự vật
vừa là một chất, vừa là nhiều chất cụ thể khác nhau, tùy theo những mỗi liên hệ nhất định.
Lượng cũng là tính qui định khách quan vốn có của sự vật biểu thị số
lượng, qui mô, trình độ, xu hướng của sự vận động và phát triển của sự vật
cũng như của các thuộc tính của nó.
1.2. Biện chứng giữa chất và lượng
1.2.1. Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
Trong bất kỳ sự vật nào của hiện thực khách quan cũng bao gồm sự
thống nhất giữa chất và lượng ở một độ nhất định. Độ là liên hệ qui định lẫn 3
nhau giữa chất và lượng, nó là giới hạn mà trong đó sự vật vẫn là nó, nó
chưa trở thành cái khác, nhưng đồng thời trong giới hạn độ hai mặt chất và
lượng tác động qua lại lẫn nhau làm cho sự vật vận động và biến đổi. Sự vận
động và biến đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ quá trình thay đổi về
lượng, nhưng sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi đã kết thúc một quá trình
thay đổi về lượng, sự thay đổi đó đạt giới hạn của điểm nút, giới hạn mà ở
đó sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, vượt qua giới hạn độ để
dẫn đến nhảy vọt về chất.
Nhảy vọt về chất kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng nhưng nó
không chấm dứt sự vận động, nó chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của vận
động. Đó là quá trình sự vật cũ, chất cũ mất đi làm xuất hiện sự vật mới, chất
mới v.v... Ví dụ như sự thay đổi lượng tri thức của các môn học, năm học,
giai đoạn trong điều kiện khách quan cho phép dẫn đến kết quả tốt nghiệp ra trường của sinh viên.
Xét về hình thức nhảy vọt diễn ra dưới hai hình thức: là nhảy vọt dần
dần và nhảy vọt đột biến. Nhảy vọt dần dần diễn ra trong một thời gian dài,
sự tích lũy biến đổi về lượng (sự biến đổi bộ phận để dẫn đến sự biến đổi
toàn bộ) mới có sự biến đổi về chất. Nhảy vọt đột biến diễn ra trong một thời
gian rất ngắn, sự tích lũy, biến đổi về lượng và đồng thời với mo là quá trình
nhảy vọt về chất toàn bộ.
Sự thay đổi lượng - chất - sự vật bao giờ cũng được xem xét bởi
những điều kiện khách quan nhất định. Bởi vì, trong điều kiện khách quan
này sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi vế chất, thì ngược lại trong
điều kiện khác cũng vẫn biến đổi về lượng như vậy nhưng không có sự biến đổi về chất 4
1.2.2. Chiều ngược lại của qui luật
Qui luật lượng chất không chỉ nói lên một chiều là sự biến đổi về
lượng dẫn đến sự biến đổi về chất, mà còn có chiều ngược lại. Đó là quá
trình hình thành sự vật mới, chất mới và chất mới qui định lượng mới của
nó. Khi sự vật mới ra đời bao hàm chất mới, nó lại tạo ra một lượng mới phù
hợp với nó và trong sự vật mới lại lặp lại quá trình thay đổi lượng - chất - sự vật...
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Ta cần chú ý đến sự quan trọng của hai phương diện lượng và chất vì
bất kì sự vật nào cũng có hai phương diện chất và lượng tồn tại trong tính
quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau.
Cần phân biệt sự khác nhau giữa tính qui định về chất và lượng. Xem
xét quá trình thay đổi về chất phải nghiên cứu quá trình tích lũy về lượng,
biến đổi về lượng trong những điều kiện khách quan nhất định.
Phê phán những khuynh hướng tuyệt đối việc thay đổi chất mà không
chú ý đến quá trình thay đổi lượng và ngược lại... 5
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI-CHẤT ĐỔI ĐỂ
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN TRIẾT HỌC
HỆ CHÍNH QUY CỦA KHOA TRIẾT HỌC, ĐH KHXH&NV.
2.1. Khung chương trình đào tạo của trường Đại học KHXH&NV
Khung chương trình đào tạo cử nhân hệ chính quy của trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn được thiết kế theo quy luật lượng đổi chất
đổi để đưa người dần nâng cao trình độ trong quá trình học.
Về căn bản khung chương trình của trường Đại học Khoa học Xã hôi
và Nhân văn nói chung cũng Khoa Triết học của trường nói riêng được chia theo hình thức sau:
- Nhóm M1: kiến thức chung.
Ví dụ: Triết học Mác - Lê nin, Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Chủ
nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh…
- Nhóm M2: kiến thức chung theo lĩnh vực.
Ví dụ: Lôgic học đại cương, Xã hội học đại cương, Tâm lí học đại cương...
- Nhóm M3: kiến thức theo khối ngành
Ví dụ: Đạo đức học, Mỹ học…
- Nhóm M4: khối kiến thức theo nhóm ngành.
Ví dụ: Tác phẩm kinh điển triết học Mác – Lênin, Lôgic học biện chứng...
- Nhóm M5: khối kiến thức ngành.
Ví dụ: Lịch sử triết học phương Đông cổ - trung đại, Lịch sử triết
học phương Tây cổ - trung đại, Lịch sử triết học phương Tây cận 6
đại, Triết học phương Tây hiện đại, Lịch sử triết học macxit sau
V.I. Lênin, Lịch sử tư tưởng và tư tưởng triết học Việt Nam…
- Nhóm M6: Các học phần hướng chuyên ngành.
Ví dụ: Vấn đề dung thông tam giáo ở Việt Nam, Tư tưởng triết học
của Phan Bội Châu, Các trào lưu triết học Kitô giáo hiện nay, Triết
học Nghệ thuật, Vấn đề dân tộc và tôn giáo trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Lôgic trong luật pháp...
2.2. Quy luật lượng đổi chất đổi trong chương trình đào tạo cử nhân hệ
chính quy của trường Đại học KHXN&NV
Quan sát khung đào tạo cử nhân hệ chính quy của trường đại học
KHXH&NV nói chũng chũng như của khoa Triết nói riêng ta nhận thấy
các nhóm môn từ M1 đến M5 phạm vi kiến thức thu hẹp dần, rõ nét hơn.
Nếu nhóm M1 M2 là các các môn chung đại cương kiến thức rộng trải
nhiều lĩnh vực khác nhau (Tâm lý học, xã hội học, Sử học, Triết học…) thì
từ M3 đến M5 bắt đầu học sâu các môn chuyên ngành của ngành học.
Cần phải tích lũy đủ lượng ở các nhóm ngành Mn-1 thì mới có thể học
tốt các nhóm Mn. Ta cần phải năm vững các kiến thức ở môn Tâm lý học
đại cương, Xã hội học đại cương ở M2 mới có thể học tốt môn Đạo đức
học ở M3. Sinh viên không thể chưa học Triết học Marx Lenin, chưa hiểu
về Chủ nghĩa xã hội khoa học mà có thể học được Triết học Marx sau Lenin.
Các môn tiên quyết cũng tương tự như vậy. Phải tích lũy đủ lượng ở
môn tiên quyết thì mới đủ điều kiện học các môn sau đó. Các môn tiên
quyết là nền tảng để học các môn sau cũng như phải đọc quyển sách theo 7
thứ tự chương của nó. Điều này là bắt buộc. Các môn học cần được học
theo tiến trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Học xong Lịch sử
triết học phương Tây cổ trung đại mới có thể học được Lịch sử triết học
phương Tây cận đại rồi đến hiện đại. Phải học từ các môn đại cương để
hiểu được tổng quát sau đó mới đào sâu nghiên cứu các môn chuyên ngành.
Học các môn Tâm lý học đại cương, Xã hội học đại cương để hiều về thiết
chế xã hội, chuẩn mực xã hội, lệch chuẩn… thì việc học môn “Đạo đức học
phương Đông với đạo đức con người Việt Nam hiện nay” cũng dễ dàng
hơn vì đã có kiến thức nền. Từ đó khi đã tích lũy đủ lượng là những kiến
thức được tích lũy qua từng kỳ sẽ dẫn đến biến đổi về chất là từ người còn
mù mờ chưa hiểu được các vấn đề của ngành học sau khi học qua các tiến
trình đào tạo trình độ sẽ được nâng cao.
Sự sắp xếp các môn học theo từng kỳ từng năm là sự tính toán để cho
các sinh viên kịp tích lũy đủ lượng để biến đổi chất. Cho dù ngay từ năm
nhất sinh viên đã được học về triết học Marx Lenin nhưng phải sang năm 3
sinh viên mới được tiếp cận đến Triết Marx Lenin Lý luận và thực tiễn. Lúc
này khoa sẽ cho sinh viên một khoảng thời gian để có thể nghiền ngẫm, ôn
lại những điều đã học ở môn Triết Marx Lenin đã học ở năm nhất. 8 KẾT LUẬN
Quy luật những thay đổi về lượng sẽ dẫn đến những thay đổi về chất
và ngược lại cũng giống như các quy luật khác, đều mang tính khách quan,
không có quy luật nào mang tính chủ quan.
Quá trình vận động và phát triển của sự vật diễn ra theo chiều hướng
tích lũy về lượng đến một giới hạn nhất định, sau đó sẽ chuyển hóa về chất.
Từ đó đã rút ra được những tư tưởng mang tính định hướng, hạn chế được tư
tưởng chủ quan, duy ý chí trong việc thực hiện những bước nhảy vọt.
Quá trình tiếp thu kiến thức của sinh viên đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong sự phát triển của xã hội, của đất nước. Bởi chính quá trình này
tạo ra những con người có đủ năng lực để tiếp quản đất nước, đưa đất nước
phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu. Vì vậy, mỗi học sinh, sinh
viên cần phải có nhận thức rõ ràng, đúng đắn về vấn để này, phải tích đủ
lượng tới giới hạn điểm nút thì mới được thực hiện bước nhảy, không được
nôn nóng, đốt cháy giai đoạn. Hiện nay, kiểu học tín chỉ đã tạo điều kiện cho
những sinh viên cảm thấy mình đủ năng lực có thể đăng kí học vượt để ra
trường sớm. Tuy nhiên cũng có không ít sinh viên đăng kí học vượt nhưng
không đủ khả năng để theo, dẫn đến hậu quả là phải thi lại chính những môn
đã đăng kí học vượt. Điều này cũng có nghĩa là các sinh viên đó chưa tích
lũy đủ về lượng đến giới hạn điểm nút mà đã thực hiện bước nhảy, đi ngược
lại với quy luật lượng – chất, và hậu quả tất yếu là sự thất bại.
Cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất của sự
vật; đồng thời phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về
lượng của sự vật. Cần khác phục tư tưởng nôn nóng, tả khuynh và tư tưởng
bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn. Cần phải vận dụng linh hoạt 9
các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, lĩnh vực cụ thể. 10