Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên của Nguyễn Du | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên của Nguyễn Du | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

Chủ đề:
Môn:

Ngữ Văn 11 1.2 K tài liệu

Thông tin:
38 trang 1 năm trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên của Nguyễn Du | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên của Nguyễn Du | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

53 27 lượt tải Tải xuống
Dàn ý cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên
Dàn ý số 1
1. Mở bài:
Giới thiệu vài nét đặc sắc về tác giả tác phẩm, đoạn trích
Dẫn dắt về nhân vật Thúy Kiều và em gái Thúy Vân hai người con gái có tài
sắc nghiêng nước nghiêng thành là nhân vật chính trong trích đoạn Trao duyên.
2. Thân bài:
Đoạn 1: Thúy Kiều nhờ em là Thúy vân thay mình trả ân nghĩa cho Kim Trọng
“Cậy em em có chịu lời
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
+ Một nỗi đau đến lòng khi đành phải hy sinh tình yêu của mình, hy sinh chính
hạnh phúc cá nhân để cứu lấy cha, cứu lấy gia đình cho trọn chữ hiếu.
-> Minh chứng được tính cách, phẩm giá của Thúy Kiều là người đặt chữ hiếu lên hết
+ Cách xưng hô, dùng từ khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa…) có ý nghĩa một phần
là nhờ vả một phần nài ép Thúy Kiều coi đó là việc Thúy Vân cần làm “tình chị duyên
em”
-> Tuy rằng trong lòng rất đau xót nhưng Thúy Kiều vẫn mạnh mẽ quyết đoán.
Mối tình của Thúy Kiều với chàng Kim tuy rất mặn nồng, thắm thiết nhưng lại
mong manh, nhanh tan vỡ.
Mâu thuẫn giữa hành động >< lời nói, lí trí >< tình cảm của Thúy Kiều trong
cảnh trao duyên cho Thúy Vân. Lời trao duyên, trao kỉ vật nửa muốn trao, nửa
muốn níu giữ.
Đoạn 2: Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên
(Mai sau dù có bao giờ…thiếp đã phụ chàng từ đây)
Cuộc độc thoại nội tâm đầy đau đớn, Thúy Kiều hướng một lòng về tình yêu
thương mong nhớ người mình yêu
Mức độ của nỗi đau cao hơn,xót xa hơn khi Kiều chuyển sang tự nói với bản
thân mình, từ đau đớn chuyển thành tiếng khóc, khóc cho mình, khóc cho mối
tình đẹp phải chia li.
-> Nổi bật vẻ đẹp nhân cách hy sinh đến quên mình, quên hạnh phúc cho nghĩa cử cao
đẹp của Thúy Kiều
3. Kết bài
Đoạn trích nói lên được số phận bất hạnh của nàng Kiều về tình yêu, không
được hưởng tình yêu trọn vẹn.
Tính hiện thực, nhân đạo của Nguyễn Du sử dụng trong đoạn trích “Nỗi thương
mình”
Nghệ thuật miêu tả nội tâm, khám phá nội tâm nhân vật đặc sắc.
Dàn ý số 2
a) Mở bài
- Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều:
+ Nguyễn Du (1765 - 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam với tài năng kiệt xuất,
một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của dân tộc.
+ Truyện Kiều một kiệt tác kinh điển của nền văn học Việt Nam, được viết bằng
chữ Nôm theo thể lục bát gồm 3254 câu.
- Giới thiệu đoạn trích Trao duyên:
+ Đoạn trích từ câu 723 đến 756 trong tác phẩm “Truyện Kiều” phần gia biến lưu
lạc, thuật lại diễn biến tâm trạng của Kiều trong đêm cuối cùng trao duyên cho Thúy
Vân nhờ em trả nghĩa với chàng Kim hộ mình.
b) Thân bài: Cảm nhận 12 câu thơ đầu bài Trao duyên
* Luận điểm 1: Lời nhờ cậy của Thúy Kiều với Thúy Vân (2 câu thơ đầu)
- Lời nói:
+ “Cậy em”: nhờ vả, gửi gắm, mong đợi, tin tưởng về sự giúp đỡ của em.
+ “Chịu lời”: Đồng nghĩa với “nhận lời” nhưng “nhận lời” nó còn bao hàm sắc thái tự
nguyện, có thể đồng ý hoặc không đồng ý, còn “chịu lời” thì bắt buộc phải chấp nhận,
không thể từ chối bởi nó mang sắc thái nài nỉ, nài ép của người nhờ cậy.
-> Ngôn ngữ vừa nhờ vả, vừa nài nỉ, vừa là sự ép buộc.
- Hành động “Lạy, thưa”: trang nghiêm, trịnh trọng, hạ mình của người bề dưới với
người bề trên -> cách nói tạo sự ràng buộc tế nhị
- Kiều là chị lại lạy, thưa em mình
-> Đây là hành động bất thường nhưng lại hoàn toàn bình thường trong hoàn cảnh này
bởi hành động của Kiều lạy đức hi sinh cao cả của Thúy Vân. Bởi vậy, việc Thúy
Kiều nhún nhường, hạ mình van nài Thúy Vân là hoàn toàn hợp lí.
=> Hành động bất thường đặt trong mối quan hệ với các từ ngữ đặc biệt đã nhấn mạnh
tình thế éo le của Thúy Kiều.
* Luận điểm 2: Lí lẽ trao duyên của Kiều (10 câu thơ tiếp)
- Tình cảnh đặc biệt của Kiều:
"Giữa đường đứt gánh tương tư
Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai"
+ Thành ngữ “đứt gánh tương tư”: tình duyên dang dở của Thúy Kiều -> Thúy Kiều
vào tình cảnh không thể khác, đó là lý do để nhờ em.
+ Đứng giữa bên hiếu và bên tình, nàng lựa chọn việc trao duyên.
+ Chữ “mặc”: phó mặc, ủy thác, ủy nhiệm -> Kiều giao toàn bộ trọng trách cho Vân
thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
-> Tâm trạng Kiều đau đớn, xót xa
=> Lời thuyết phục khôn khéo của Kiều dấy lên tình thương và trách nhiệm của người
em đối với chị của Thúy Vân.
- Nhắc lại mối tình đẹp với Kim Trọng:
+ “Quạt ước, chén thề”: những kỉ niệm đẹp, ấm êm, hạnh phúc của Kim Kiều với
những lời thề nguyền, đính ước gắn bó, thủy chung.
+ “Sóng gió bất kì”: Tai họa bất ngờ ập đến, Kiều bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng
nan, phải chọn giữa tình và hiếu. Kiều đã chọn hi sinh chữ tình.
-> Mối tình Kim - Kiều là mối tình đẹp nhưng mong manh, dễ vỡ
=> Vừa bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều, vừa khiến Vân xúc động nhận
lời.
- Kiều nhắc đến tuổi trẻ, tình máu mủ và cái chết
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non"
+ "ngày xuân": tuổi trẻ -> Thúy Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước.
+ “Tình máu mủ”: tình cảm ruột thịt của những người cùng huyết thống.
-> Kiều khéo léo thuyết phục Vân bằng tình cảm ruột thịt để em không thể chối từ.
+ “Thịt nát xương mòn”, “Ngậm cười chín suối” -> cái chết đầy mãn nguyện của Kiều.
=> Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận
lời.
+ "Chị ... thơm lây" -> Đối với Kiều việc Thúy Vân chấp nhận lời nhờ cậy giống
như một sự ban ơn.
=> lẽ của Kiều vừa thấu tình vừa đạt khiến Vân không thể không nhận lời. Qua
đó thấy Kiều là một người con gái thông minh, sắc sảo và đầy cảm xúc.
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Sử dụng từ ngữ tinh tế, tài tình
- Sử dụng thành ngữ dân gian, hình ảnh ẩn dụ
- Thủ pháp nghệ thuật liệt kê, ẩn dụ
- Giọng thơ nhẹ nhàng, da diết, giàu cảm xúc.
c) Kết bài
- Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật 12 câu thơ đầu bài Trao duyên.
-Nêu cảm nhận của em về đoạn thơ.
Xem thêm: Dàn ý 12 câu đầu thơ Trao duyên
Cảm nhận 12 câu đầu Trao duyên - Mẫu 1
Truyện Kiều trong nền văn học trung đại cũng như trong cả nền văn học Việt Nam
được xem một kiệt tác văn học nhiều giá trị. Làm nên giá trị của truyện không
chỉ bởi nghệ thuật đặc sắc còn bởi nội dung nhiều nét tiến bộ, được xem
bước đi vượt bậc gần hai trăm năm của Nguyễn Du trong giới văn nhân nho thời
bấy giờ. Với nhân vật trung tâm nàng Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn cùng với cuộc đời
15 năm sóng gió định của nàng, Nguyễn Du đã lột tả được những hiện thực tàn
nhẫn, thối nát của hội phong kiến, đồng thời thể hiện các giá trị nhân đạo sâu sắc
khi coi trọng đề cao vẻ đẹp của con người, xót thương cho những số phận nhiều đớn
đau, bất hạnh, được biết người phụ nữ trong hội cũ. Đoạn trích Trao duyên
một trong những đoạn trích đặc sắc của Truyện Kiều, 12 câu đầu tác giả đã nêu bật
được vẻ đẹp sắc sảo, thông minh vốn sẵn tính trời của Thúy Kiều, cũng như cách nàng
mạnh mẽ chống chọi với đợt sóng gió đầu tiên trong cuộc đời.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Thúy Kiều quả một nhân vật nữ nhiều bất hạnh trong cuộc đời, những bi kịch
của nàng hầu như bao gồm tất cả những nỗi đau mà người phụ nữ trong xã hội cũ phải
gánh chịu. Từ nỗi đau thân phận bọt bèo không tiếng nói, bị cường quyền chèn ép
dẫn tới nhà tan cửa nát đến nỗi đau bán thân làm lẽ cho người, chịu cảnh chồng chung,
rồi nỗi đau ly biệt với người mình yêu thương, buộc phải từ bỏ tình yêu chữ hiếu,
cho đến cuối cùng nỗi đau bị sỉ nhục, chà đạp chốn phong trần, thanh y hai lượt
thanh lâu hai lần đầy tủi hổ. Kiều một xuất phát điểm cao, con nhà giàu , sống
trong nhung lụa ngọc ngà lại có một tình yêu đẹp với Kim Trọng.
Vốn mọi sự đang diễn ra êm đềm thì bất ngờ gia biến xảy đến, cha em của Thúy
Kiều bị vu oan rồi tống giam, tất cả tài sản đều bị tịch thu. Đối diện với biến cố lớn
như thế, Kiều không còn cách nào khác chỉ đành nhờ người mối mai bán mình, để
kiếm tiền cứu cha em, đồng thời bội ước với Kim Trọng. Sau khi đã giải quyết
xong chuyện nhà, cha em được cứu, Kiều mới quay lại nhìn về tình yêu dang dở
của mình. Nhớ đến Kim Trọng, Kiều lại càng đau khổ dằn vặt trong suy nghĩ
nghĩ bản thân đã làm chuyện lỗi với người yêu. Trong lúc ấy nàng hết lòng suy
nghĩ chuyện tạ lỗi, cũng như đắp cho chàng Kim, để trả món nợ duyên tình gãy
gánh, cuối cùng nàng mới nghĩ ra một cách nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với
Kim Trọng, nhờ em gái giúp mình chăm sóc đỡ đần chàng Kim một đời. Tuy nhiên
việc gán ghép, tình chị duyên em ấy không phải dễ mở lời, đặc biệt khi Thúy Vân
còn quá nhỏ để hiểu hết những nỗi đau khổ, dằn vặt trong lòng Kiều. Biết vậy Thúy
Kiều đã gọi em gái đến và lựa lời nhờ cậy rằng:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Kiều rất khéo léo khi sử dụng hai chữ “cậy” và “chịu”, “cậy” mang nghĩa nhờ cậy, thể
hiện tấm lòng tha thiết, mong đợi được giúp đỡ, gần như khẩn khoản xin Vân nhận
lời. Trong khi đó “chịu” lại ngầm thể hiện sự khó khăn của việc trao duyên cho Vân,
cũng như chuyện Vân đồng ý không dễ dàng, bộc lộ sự thấu hiểu khó xử của
Thúy Kiều khi phải mở lời cậy nhờ em gái. Tiếp đến hành động bảo em gái ngồi lên
ghế sau đó cúi lạy lại cũng một cử chỉ tinh tế, Kiều làm vậy không chỉ muốn đưa
Thúy Vân vào thế không thể từ chối lời chị còn bày tỏ tấm lòng thành của nàng
trước Thúy Vân, rằng bản thân đã nợ em i một lần ân nghĩa cả đời cũng không
thể trả, chỉ mong rằng sau lần vái lạy, mong Vân hãy nể tình ruột thịt đồng ý giúp
đỡ.
Thấy những hành động trang trọng, khác thường của chị, bản thân Thúy Vân chưa
hiểu chuyện thế nhưng mặc nhiên nàng khó thể mở lời từ chối, bởi lẽ Kiều
dường như đang ngầm cầu xin Thúy Vân giúp đỡ, lấy thân phận của người chịu ơn
nói với em gái. Sau đó nữa Kiều đã thẳng thắn nói với Vân”
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
Giọng điệu quyết đoán, mạnh mẽ khẳng định mối duyên với Kim Trọng đã “đứt gánh”,
mong rằng từ nay Vân sẽ thay mình “chắp mối” duyên tình dang dở. Kiều cũng thấu
hiểu nỗi băn khoăn và khó xử của Thúy Vân, nàng lại ôn tồn, lặng lẽ kể lại câu chuyện
tình yêu tốt đẹp của mình với chàng Kim:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”,
Câu thơ bộc lộ tình yêu sâu sắc, lời hẹn thề ước định chung thân, mối nhân duyên tốt
đẹp chỉ chờ ngày đơm hoa kết trái. Thế nhưng đớn đau thay “Sự đâu sóng gió bất
kỳ/Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?”. Đứng giữa chữ hiếu chữ tình Kiều đành
chọn gia đình, chọn bội ước, từ bỏ tình yêu để cứu cha em, đau xót nhưng Kiều
cũng chẳng thể làm khác. Nói đến đây, phận em, con trong gia đình hẳn Thúy
Vân lại càng thấu hiểu thông cảm cho những nỗi khổ tâm của chị mình, lẽ lòng
nàng cũng dần xuôi theo ý định của Thúy Kiều. Nhưng Kiều không dừng lại đó,
nàng cũng bộc lộ tấm lòng thông cảm cho Thúy Vân, khi thấy em phải thay mình lấy
Kim Trọng, một người không thương, phải gắn cả cuộc đời không nắm
chắc được hạnh phúc điều ấy được thể hiện trong câu nói của Thúy Kiều rằng “Ngày
xuân em hãy còn dài”. Ý chỉ Thúy Vân cuộc đời tươi đẹp hãy còn đang chờ phía
trước, rằng thể khởi đầu này không phải khởi đầu nàng hoàn toàn mong
đợi, thế nhưng ít ra lẽ nàng vẫn được một chút bình yên. Câu thơ cũng thể hiện nỗi
chạnh lòng xót xa của Kiều khi đối diện với thực tại, khi phải trao duyên cho em gái,
tuổi xuân của Vân còn dài, vậy của nàng chẳng lẽ ngắn, ấy thế nhưng cuối cùng nàng
vẫn phải chịu bất hạnh, phải rời xa quê hương, chịu cảnh làm thiếp thất, nói không đau,
không sầu khổ thì nói dối. Trong nỗi đau đớn, dằn vặt ấy Kiều tiếp tục nỉ non từng
lời với Thúy Vân:
“Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Câu thơ những lời khẩn khoản, thiết tha nhất Kiều dành cho em gái, cũng
biện pháp hữu hiệu cuối cùng để khiến Thúy Vân mềm lòng đồng ý lấy Kim Trọng.
Kiều đã khéo léo đánh vào tâm của em gái, khi đề cập đến tình chị em ruột thịt,
mong em gái thương xót mình mệnh khổ. Không chỉ thế lời Kiều ai oán, thê lương,
càng đem đến hiệu ứng dường như ấy lần cuối cùng Kiều nhờ vả Thúy Vân. chỉ
khi hoàn thành chuyện này, thì lòng nàng mới thôi day dứt, mới có thể yên tâm rời đi,
cho “thịt nát xương mòn” hay về nơi chín suối Kiều cũng chấp nhận. Chỉ mong
rằng thể trả hết nợ ân nghĩa thế gian, trước cha mẹ, sau người yêu Vân
người duy nhất Kiều thể tin tưởng nhờ cậy chuyện trọng đại như này. Cũng hy
vọng rằng chàng Kim Trọng một khi quay lại, không tìm thấy nàng thì cũng bớt đi
phần đau khổ, thể bắt đầu cuộc sống mới với Thúy Vân, một đời hạnh phúc ấm
êm.
Mười hai câu đầu của đoạn trích Trao duyên đã bộc lộ rõ tính cách, cũng như sự thông
minh, quyết đoán, khéo léo mạnh mẽ của Thúy Kiều trong công cuộc thuyết phục
trao duyên cho em gái, trả món nợ ân tình với Kim Trọng. Đồng thời cũng bộc lộ
những nỗi đau khổ, dằn vặt sâu sắc của nàng khi bên này vừa từ bỏ tình yêu, chấp
nhận bán thân làm lẽ để cứu cha, thì ngay sau đó lại phải nhọc lòng suy nghĩ việc
đắp, tạ lỗi với chàng Kim, vẻ đẹp nhân cách đáng quý, sống có tình có nghĩa trước sau
của Thúy Kiều, xứng với cái danh tài sắc vẹn toàn của nàng.
Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 2
Truyện Kiều của Nguyễn Du một trong những kiệt tác nổi bật góp phần làm nên
diện mạo, đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao của của văn học trung đại Việt Nam.
Tác phẩm với 3254 câu thơ lục bát viết về cuộc đời chìm nổi của người con gái tài sắc
nhưng bạc mệnh Thúy Kiều. Nhiều đoạn trích của thi phẩm được đưa vào chương
trình SGK để dạy học trong nhà trường, Trao duyên một trong những đoạn trích
như vậy. Trích đoạn đã tái hiện lại bi kịch tình yêu đầy đau đớn Thúy Kiều, qua đó thể
hiện sự trân trọng, đồng cảm của tác giả Nguyễn Du với tình duyên dang dở cuộc
đời đầy sóng gió của nàng Kiều. Mười hai câu đầu đoạn trích đã thể hiện rõ điều đó.
Thúy Kiều Kim Trọng tình cờ gặp nhau, họ đem lòng cảm mến dành cho nhau
tình cảm đặc biệt. Vượt qua những quy định của lễ giáo phong kiến, Kiều “xăm xăm
băng lối vườn khuya một mình” để tới gặp mặt, kết tóc thề nguyện cùng Kim Trọng.
Tình yêu của họ nhân duyên tiền định, vốn sẵn đẹp đẽ thể dài lâu, thế nhưng,
phận đời trớ trêu, dòng người đẩy, Kiều đành ngậm ngùi quyết định "trao" lại mối
duyên của mình cho Thuý Vân. Sau một đêm trắng suy nghĩ, Kiều chua xót nhờ cậy
em:
“Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
"Cậy" đây cậy nhờ, lời thỉnh cầu, trông mong được giúp đỡ. Từ "cậy" chứa
đựng cả niềm hy vọng, tin tưởng của người nhờ vả vào người được nhờ. Từ "chịu" thể
hiện sự khẩn thiết, Kiều như đang van nài, cầu xin em, đặt Thuý Vân vào tình thế khó
lòng từ chối. Hành động “lạy”, “thưa” kết hợp cùng lời nói của Kiều cho thấy được sự
khéo léo, chân thành của nàng khi nhờ cậy em. Kiều chị, Vân em, lẽ thường thì
chị chẳng lạy thưa em bao giờ nhưng trong tình cảnh này Kiều lại làm như vậy lại
mang ý nghĩa cùng sâu sắc bởi lúc này Kiều đang người nhờ vả, đang chịu ơn
em. Nàng không muốn phụ tấm chân tình của Kim Trọng nhưng cũng hiểu rằng việc
trao lại mối duyên dang dở sẽ mang đến sự khó xử, thiệt thòi cho Thúy Vân.
Tình yêu vốn tình cảm thiêng liêng, khi yêu chẳng ai muốn san sẻ tình yêu của
mình cho người khác, thế nên hành động trao duyên của Thúy Kiều cũng không hề dễ
dàng. Nàng mở lời cậy nhờ em, mong em nhận lời, nàng tâm sự cùng Vân:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.”
Trong nỗi đau xót của tình yêu đứt gánh, keo loan ngỡ trăm năm vậy mà đành nhớ em
“chắp mối”. Hai tiếng “mặc emcất lên cả sự tin tưởng, phó mặc cho Vân, mong
cầu Vân sẽ cùng chàng Kim kết lại keo loan bền chặt ấy. Trong nỗi đau chia sẻ tình
yêu, bao kỉ niệm tươi đẹp của khoảng thời gian hạnh phúc ùa về trong tâm trí. Điệp từ
“khi” kết hợp với các cụm động từ “gặp chàng Kim”, “quạt ước”, “chén thề” cho thấy
tình yêu bền chặt, thắm thiết của Kiều- Kim. Nhưng hiện thực phũ phàng, trêu ngươii,
tình yêu đành dang dở vì sóng gió ập đến với gia đình nàng. Kiều đau đớn bởi tình yêu
tan vỡ, thân phận trớ trêu:
"Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"
Để trọn đạo làm con, Kiều buộc phải bán mình chuộc cha em, gìn giữ ấm êm gia
đình. Giữa chữ tình chữ hiếu, Kiều chọn chữ hiếu bởi công lao dưỡng dục nghìn
nặng trăm sâu, Kiều nào thể dứt bỏ. Nàng không đành lòng lựa chọn hạnh phúc riêng
mà quay lưng với biến cố của gia đình. Bởi thế mà nàng đau đớn khôn nguôi, tình yêu
đẹp đẽ vừa chớm nở đây thôi lại vội vàng vỡ tan, trai tim nàng như rỉ máu tình yêu
tan vỡ, xót xa, đau đớn cùng. Cậy nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng
cũng để lòng nàng được vơi chút bận tâm khi đang trong nỗi mặc cảm của một kẻ
phụ tình. Hết lòng thuyết phục Vân, nàng mong em gái mình có thể hiểu và chấp nhận
lời thỉnh cầu, dẫu biết điều đó thật khó cho Vân:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"
Bằng sự thông minh, suy nghĩ thấu đáo của mình, Kiều đã khéo léo đưa ra ba lẽ để
thuyết phục Vân. Trước hết Vân thanh xuân, Vân còn trẻ, Vân sẽ có thời gian để
cùng Kim Trọng tìm hiểu kết tóc se duyên trong đoạn cuộc đời còn lại. Hơn nữa,
Kiều Vân lại chị em ruột thịt, Vân nào thể đành lòng nhìn chị khổ đau, dằn
vặt trong mặc cảm tội lỗi phụ bạc tình yêu. Cuối cùng, nàng nói về cái chết của bản
thân, một niềm vui tìm thấy trong nỗi đau của cái chết “Ngậm cười chín suối hãy còn
thơm lây”, nếu được Vân chấp thuận thì phải chết, Kiều cũng an lòng nhắm
mắt. Từng lời lẽ của Thuý Kiều thốt ra đều hợp lẽ, hợp tình, Kiều dằn lòng gặm nhấm
nỗi đau thương, chịu thua thiệt về bản thân mình, chỉ mong Vân giúp mình cùng Kim
Trọng kết duyên để đắp cho người mình thương. Mặc cảm tội lỗi dường như đang
bao vây lấy tâm trí trái tim nhỏ nơi Kiều. Lời nhờ cậy thuyết phục Vân của
Thuý Kiều thật cảm động, chân thành , tha thiết biết bao.
Bằng 12 câu thơ lục bát cùng cách sử dụng ngôn từ tinh tế, chọn lọc, Nguyễn Du đã
khắc hoạ thành công bi kịch tình yêu tâm trạng đau đớn của Thuý Kiều trong cơn
nguy nan của số phận.
Cảm nhận 12 câu đầu Trao duyên - Mẫu 3
Truyện Kiều một kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho nền văn
học Việt Nam. Tác phẩm mang nhiều giá trị nhân đạo khiến độc giả phải suy ngẫm.
Một trong những đoạn trích nổi bật lột tả nét nội tâm nhân vật Thúy Kiều chính
đoạn trích “Trao duyên.”
Khi gia đình gặp nạn, để giải cứu cho cha và em trai, Thúy Kiều buộc phải trao lại mối
duyên của mình cho Thúy Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
“Cậy, lạy, thưa” những từ người vai ới nói chuyện với người vai trên.
Những từ ngữ này thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của Kiều dành cho người em gái
mình nhờ vả. mình vai trên nhưng Kiều không dùng sự ra lệnh đối với em. Tuy
trong lòng nhiều suy nghĩ, trăn trở nhưng vẫn bình tĩnh xử lí, sắp xếp, thu vén
chuyện của mình.
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?"
Kiều trình bày với em về hoàn cảnh của mình, về mối tình dang dở của mình với
chàng Kim mong em hãy thấu hiểu cho nỗi khổ của mình chấp nhận mối
thừa của chị. Hai người đã có những hẹn thề gắn bó dài lâu nhưng nay Kiều không giữ
lời hứa đó. Bởi lẽ, nàng không thể hoàn thành cả “chữ hiếu” lẫn “chữ tình”; nên “chữ
tình” này, xin gửi lại để Vân thay chị thực hiện. Từng lời nói của Kiều nỗi đau khổ,
day dứt nàng đang phải trải qua. Nào ai muốn nhìn thấy cha em trai bị oan
trong tù? Nào ai muốn rời bỏ người mình yêu thương khi tình cảm rất mặn nồng? Ta
càng thêm thương xót cho nàng Kiều bạc mệnh.
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vân còn trẻ, đang trong độ tuổi xuân thì, chàng Kim lai tài tử hiếm có, nếu Vân
thay Kiều đến với Kim Trọng thì nàng Kiều sẽ yên m ra đi sao đi chăng
nữa Vân với Kiều cũng cùng chung giọt máu. Để cảm kích sự đồng ý của Vân, dù cho
Kiều ‘thịt nát xương mòn” nơi đất khách quê người nàng cũng yên tâm ra đi,
không còn suy tư trăn trở.
Đoạn thơ gây ám ảnh người đọc bởi làm hiện ra trước mắt chúng ta một bức tranh
như thực về nàng Kiều trọng tình, trọng nghĩa, ta phần nào hiểu thêm, đồng cảm,
thương xót cho số phận một cô gái “hồng nhan bạc mệnh.”
Điểm nổi bật làm nên thành công vang dội của tác phẩm đó chính thể thơ lục bát
dân gian của dân tộc. Đoạn trích sử dụng những câu cảm thán đã khắc họa thành công
tâm trạng, nỗi lòng của Thúy Kiều khi trao mối duyên của mình cho Thúy Vân.
Đoạn trích nói riêng tác phẩm nói chung đã góp một phần không nhỏ vào việc làm
đa dạng nền văn hóa dân tộc. Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn trích “Trao duyên”
cùng tác phẩm Truyện Kiều vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của để lại nhiều ấn
tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Cảm nhận 12 câu đầu Trao duyên - Mẫu 4
Cả cuộc đời trải qua biết bao thăng trầm sóng gió, Nguyễn Du đã đúc kết kinh nghiệm
quý báu làm nên tiếng vang lớn cho hậu thế qua tác phẩm “Đoạn trường tân thanh”
hay còn gọi là Truyện Kiều. Dưới ngòi bút tài hoa, một xã hội thê lương tàn bạo bị chi
phối bởi đồng tiền, đẩy con người đến tận cùng đau khổ được lột tả khéo léo thông
qua thân phận người phụ nữ đó là nàng Thúy Kiều. “Trao duyên”, tuy chỉ là đoạn trích
ngắn nhưng đã phản ánh những bất hạnh chân thực nhất trong cuộc đời của Thúy Kiều.
Đây là đoạn trích vô cùng ấn tượng và đặc sắc trong toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du.
Thúy Kiều với Kim Trọng, một mối tình giữa quân tử giai nhân tưởng đẹp đẽ
nhưng cũng chỉ hoa trong gương, trăng dưới nước. Gia biến ập đến, nàng Kiều phải
buộc lòng từ bỏ đoạn duyên thề hẹn chưa kịp “phỉ nguyền” với Kim Trọng để đi lấy
Mã Giám Sinh.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
đạo hiếu, Kiều bán mình chuộc cha thế nhưng nghĩ đến người mình yêu lại không
đành lòng để chàng đau đáu ngóng trông, lại đành lòng trao duyên cho Thúy Vân. Đó
nỗi đau thương cắt từng khúc ruột, nỗi đau âm chua xót trải dọc suốt 12 câu đầu
của đoạn trích “Trao duyên”. Mở đầu đoạn, khung cảnh trở nên não nề trầm lắng
khi Thúy Kiều mở lời cậy nhờ Thúy Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Thúy Kiều, trên cương vị một người chị sao thể cậy nhờ, lạy thưa với em? hội
thời xưa rất coi trọng tôn ti nhưng Nguyễn Du lại để Thúy Kiều sử dụng kính ngữ với
Thúy Vân, đó là dụng ý vô cùng tài hoa của tác giả. Nguyễn Du sử dụng từ “Cậy” gửi
gắm trong đó sự tin tưởng, trân trọng cả lòng biết ơn của Thúy Kiều đối với em
gái khi gửi gắm lại mối duyên dang dở với Kim Trọng. “Cậy em em chịu lời”, câu
thơ vừa mang ý khẩn thiết cầu xin, nhờ vả trịnh trọng nhưng lại đặt Thúy Vân thế
khó xử trước thỉnh cầu của người chị, đó như sự gượng ép, càng khẳng định mối
tình thâm của Thúy Kiều với Kim Trọng, không muốn chuyện của mình phụ
lòng chàng Kim. Thúy Kiều hạ thấp vai vế của mình, đứng trên vị trí của người đi nhờ
cậy “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. “Lạy” là hành động tôn kính, ghi ân thường chỉ
cha mẹ, thầy giáo mới thể nhận, nhưng Kiều lạy em gái mình, đó cái lạy đối
với ân nhân. “Lạy rồi thưa”, ngôn ngữ sử dụng cùng trang trọng, như cái lễ ràng
buộc khiến Vân không thể chối từ.
Sau khi sử dụng hàng loạt các hành động, ngôn ngữ trang trọng như vậy, Thúy Kiều
mới giãi bày câu chuyện của mình với Thúy Vân, mong rằng em có thể thay chị yêu
thương, chăm sóc, chắp tiếp đoạn duyên với Kim Trọng:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Duyên tình đến nửa chừng đứt đoạn, thành ngữ “đứt gánh tương tư” như một lời than
cay đắng tưởng niệm mối tình không trọn. Sóng gió đã cướp đi hạnh phúc đáng lẽ
thuộc về Kiều, để nàng chơ giữa đoạn đường còn tình cảm, còn nhung nhớ ngập
ngụa những khổ đau thống thiết khi phải xa lìa yêu thương. Chữ “tương tư” như tiếng
sóng ngầm khắc khoải, day dứt mang theo cả tuyệt vọng. Tác giả n sử dụng điển
tích “keo loan” đmong muốn duyên sau với Thúy Vân sẽ bền chặt, mong rằng Thúy
Vân sẽ bằng lòng nhận lấy đoạn duyên này. Thúy Kiều biết, đó “mối thừa”,
chuyện tình dang dở của mình nên em gái sẽ phần thiệt thòi nên mới thốt lên từ
“mặc”, ý rằng để Vân được tự mình định đoạt.
Gửi duyên cho Vân thế nỗi nhớ mong về ngày xưa năm cứ thế trỗi dậy
trong lòng Kiều, ức như một bộ phim tua lại, ràng tràn đầy nhung nhớ giữa bể
khổ trần ai:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Từ “khi” điệp lại đến ba lần, mở ra từng mốc thời gian Thúy Kiều gặp được Kim
Trọng, tất cả những kỷ niệm, vui mừng, đính ước, thề hẹn đều rõ ràng đến vậy. “Ngày
quạt ước”, “đêm chén thề”, ngày đêm, không gian thời gian cứ như tuần hoàn
liên tục, đó khi họ bầu bạn đối thơ, ngắm trăng, uống rượu, trao nhau vật đính
ước… bao giờ Kiều quên được điều đó, nỗi nhớ ấy như con dao khứa sâu, chỉ
thể lần cuối nhớ lại trong ức đẹp nhất, khi Kiều vẫn còn chưa thuộc về Giám
Sinh. Chắc về sau còn được cảm thấy hạnh phúc khi nhớ lại, khi còn trở
thành niềm day dứt, khổ sở và bi thương của nàng Kiều.
Tiếp đó, Nguyễn Du khéo léo để Kiều nhắc lại “cơ sự cho nên nỗi này” để mối tình
đẹp như hoa mộng của Kiều phải chia xa:
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
“Sóng gió” ấy phong ba ập lên đầu gia đình Kiều, cha em bị bắt còn Kim Trọng
phải về quê chịu tang, hai ngả hai nơi, một bên hiếu, một bên tình, thật cùng
khó xử. Bán mình chuộc cha, phụ tình cảm thủy chung bấy lâu nay người thương
hết lòng dành cho nàng. tình phụ hiếu, sau này sao thể ngửa mặt nhìn đời, đối
diện với cha mẹ trong nhà, với dòng họ, tổ tiên. Làm thế nào, cũng khó thể vẹn
toàn. “Hai bề vẹn hai” đó điều khó khăn nhất trong sự nguy ngập với tính mạng của
cha em. Đó mãi câu hỏi đau đớn xoáy sâu vào lòng Kiều, nàng biết, không
cách nào vẹn cả đôi đường. Nỗi đau ấy đang ngày đêm làm Kiều khổ sở, Kiều như
phơi bày ruột gan, bộc bạch tất cả nỗi niềm mong rằng Thúy Vân thể hiểu lòng chị
mà giúp cho tình duyên này không đến mức phải phụ lòng.
Hơn thế, Thúy Kiều còn dùng lý lẽ thích đáng để thuyết phục Vân có thể nhận lời:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Phải, Thúy Vân n trẻ, năm tháng dài rộng, cho tình cảm với Kim Trọng khuyết
thiếu thể đắp còn hơn người chị đã rời xa. Từ “xót” cùng với cụm từ “tình u
mủ” như chạm vào tình cảm huyết thống Thúy Vân với Thúy Kiều, của chị
cũng của em, chúng ta máu mủ ruột thịt hãy thương lấy nhau. Mong rằng Thúy
Vân niệm tình máu mủ yêu thương lo toan bao nhiêu năm mà thay chị gánh vác lời thề
“nước non” với Kim Trọng. Lý do Kiều đưa ra vừa hợp lý vừa hợp tình.
Không những vậy, nỗi lo sợ về cái chết không còn hội trở lại càng trở thành
do thuyết phục hơn với Thúy Vân:
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Việc trả nghĩa trả tình cho Kim Trọng quan trọng hơn cả tính mạng của Kiều. Khi chết,
con người trở về với cát bụi, không còn liên quan đến thế gian này nữa nhưng tâm
nguyện của họ vẫn còn vang vọng đâu đây. Tâm nguyện của Kiều mong mỏi em
mình nối duyên với chàng Kim, chỉ vậy nàng mới thể “ngậm cười chín suối”.
Câu thơ như lời trăn trối của Kiều sợ rằng sau này không thgặp lại được Kim
Trọng. Cũng lấy cái chết, lấy tâm nguyện của một kẻ sắp chết nên lời thỉnh cầu
càng thêm nặng khiến cho Thúy Vân không thể khước từ.
Tuy rằng lấy tên “Trao duyên” nhưng đó lại là cái duyên ép uổng mà Thúy Kiều để
lại cho em mình, đó nỗi đau bất đắc chọn đạo hiếu cao hơn tình yêu Kiều
phải chấp nhận. Xuyên suốt đoạn trích sự oan ức, thống khổ, không nỡ chia lìa của
Thúy Kiều. Cho để lại đoạn duyên chắp nối cho em, âu cũng điều không đành
lòng.
Bằng nghệ thuật độc đáo, ngôn từ bậc thầy, giọng thơ đi sâu vào lòng người, Nguyễn
Du đã lột tả trọn vẹn nỗi đau câu chuyện của Thúy Kiều khi gửi gắm mối duyên
với Kim Trọng trong 12 câu thơ đầu đoạn trích “Trao duyên” (Đoạn trường tân thanh).
Đó còn tiếng kêu than về một hội thối nát, làm cuộc sống của người dân tội
điêu đứng đồng thời sự bất bình, lòng thương cảm cho thân phận của người phụ nữ
đương thời mỏng manh như bèo nước, chịu nhiều oan trái khổ đau.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 5
Đại thi o Nguyễn Du một thiên tài văn học, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
Tên tuổi của Nguyễn Du gắn liền với "Truyện Kiều", một trong những tác phẩm nổi
tiếng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Được viết dựa trên cốt truyện của "Kim Vân
Kiều truyện", "Truyện Kiều" phản ảnh sinh động hội thời đại của tác giả, một
hội mục nát bất công, nhẫn tâm dồn ép nhân dân vào bước đường cùng. Tuy chỉ
một đoạn trích ngắn từ "Truyện Kiều", song "Trao duyên" vẫn thể hiện đầy đủ chủ đề
của tác phẩm. Sống trong thời đại con người bị đồng tiền làm băng hoại đạo đức,
nhân vật chính Thúy Kiều bị ép phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha và em
trai, phải từ bỏ tình cảm của mình với Kim Trọng, trao lại duyên tình dang dở ấy cho
Thúy Vân dù trong lòng có bao nỗi đau xót. Nỗi đau ấy được khắc họa rõ nét nhất qua
mười hai câu đầu của đoạn trích:
"Cậy em em có chịu lời,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
Nhan đề đoạn trích "Trao duyên" nhưng trớ trêu thay đây không phải cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ ta thường gặp trong ca dao xưa. đọc
mới hiểu được, "trao duyên" đây gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Trước phút dấn thân vào quãng
đời lưu lạc, Thúy Kiều nghĩ đến Kim Trọng, nghĩ đến việc mình đã không giữ trọn lời
đính ước với người yêu, băn khoăn thức trắng đêm nghĩ cách trả nghĩa cho chàng,
cuối cùng đành nhờ cậy em là Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng.
Mở đầu đoạn thơ là lời thỉnh cầu chân thành tha thiết của Kiều:
"Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa."
Nguyễn Du một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, điều đó có thể dễ dàng thấy
được qua hai câu thơ trên. "Cậy" "nhờ" đều nghĩa nhờ vả, xin sự giúp đỡ của
một ai đó, nhưng thay vì sử dụng từ "nhờ", Nguyễn Du đã khéo léo chọn từ "cậy", bởi
từ "cậy" này nghĩa nhờ với tất cả sự hi vọng tin tưởng, nét nghĩa này từ
"nhờ" không thể hiện được. Cũng như vậy, thay từ "nhận", tác giả lại dùng từ
"chịu" bởi khác với từ "nhận", từ "chịu" không chỉ thể hiện sự đồng ý, nhận lời
còn kèm theo ý bắt buộc, khiến cho người được nhờ vả khó nói lời từ chối. Cách tác
giả dùng từ rất chính xác, bởi lẽ đây chuyện rất quan trọng đối với Kiều, nàng hi
vọng Thúy Vân đồng ý, nên lời van nài cũng chút ép buộc. Tuy Kiều cũng hiểu
việc nhờ Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng hết sức lí, nhưng nàng vẫn quyết
tâm muốn trả nghĩa cho người yêu, bỏ qua lẽ thường, nàng "lạy" "thưa" đối với em
mình. Kiều dùng chính lễ nghi lạy trước thưa sau, thay bậc đổi ngôi này để ràng buộc
Vân. Trong tình thế vừa tình vừa lễ như vậy, Vân sao có thể không nhận lời?
Lạy xong, Kiều mở lời giãi bày hoàn cảnh của mình với em, nói ra ý định muốn em
kết duyên với Kim Trọng:
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em."
Thành ngữ "đứt gánh tương tư" có ý chỉ tình yêu dang dở. Tình cảm của Kiều với Kim
Trọng chưa kịp tới hồi viên mãn thì sóng gió đã ập tới, đành phải dở dang, Kiều đau
khổ biết mấy, nhưng đành ngậm ngùi trao lại cho em. Nàng dùng điển tích v"keo
loan" để thể hiện ý định muốn Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng. Không những thế,
nàng cũng bày tỏ sự ray rứt đối với em, đem mối tình sâu đậm của nàng biến thành
một mối "tơ thừa" giao phó cho Thúy Vân, "mặc" cho Thúy Vân định liệu.
Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa
của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về khiến nàng đau đớn khôn
nguôi, nàng không dằn được lòng mình, tâm sự với em:
"Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề."
Từ "khi" được lặp lại ba lần gợi cho người đọc nghĩ đến tình cảm sâu nặng giữa Kiều
với chàng Kim, nhớ đến những kỉ niệm đẹp của hai người. Với nghệ thuật liệt
"ngày quạt ước", "đêm chén thề" những kỉ niệm đẹp đẽ ấy trở nên sống động hơn
trong lòng Kiều. Những ức ấy vốn rất ngọt ngào, giờ đây khi nhớ đến lại trở thành
một nỗi đau không thể nào nguôi trong lòng nàng, đặc biệt khi nghĩ đến nguyên
nhân của nỗi đau này:
"Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai."
"Sóng gió bất kì" khi Kim Trọng phải về quê chịu tang chú, gia đình Kiều lại bị
mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, cách duy nhất để cứu họ là nàng phải bán mình, đồng
nghĩa với việc nàng phải làm trái với lời hẹn ước trước kia với người yêu. Hoàn cảnh
trái ngang quá, giữa hai lẽ "hiếu" "tình", Kiều chỉ thể chọn một. Nàng dằn vặt
nội tâm, day dứt đau đớn, cuối cùng đành hi sinh tình yêu của mình để làm tròn chữ
hiếu. Nàng tỏ nỗi lòng với Vân, dùng nỗi đau của mình để thuyết phục Vân, hy vọng
em mình có thể thấu hiểu cho và chấp nhận yêu cầu của mình.
Đã tỏ bày nỗi lòng nhưng vẫn sợ Vân không đồng ý, Kiều lại dùng lí lẽ để thuyết phục
em:
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
Để thuyết phục em, Kiều không tiếc viện đến tình máu mủ, cùng với cả cái chết. Các
thành ngữ "tình máu mủ", "lời nước non", "thịt nát xương mòn", "ngậm cười chín
suối" được dùng đến trong bốn câu thơ trên thể hiện sự quyết tâm thuyết phục em cho
bằng được của Kiều. Đối với nàng, việc trả nghĩa cho Kim Trọng còn quan trọng hơn
cả mạng sống, chỉ cần Vân kết duyên với Kim Trọng, cho chết đi thì Kiều cũng
thấy được an ủi, mãn nguyện. Chính sách viện đến tình máu mủ cái chết ấy đã
khiến cho Vân chẳng thể nào từ chối lời khẩn cầu của nàng.
Với thể thơ lục bát được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, đầy sáng tạo kết hợp với
nhiều biện pháp tu từ, sử dụng sáng tạo thành ngữ dân gian kết hợp tài tình ngôn
ngữ bác học với ngôn ngư bình dân, Nguyễn Du đã khắc họa nét tâm trạng dằn vặt,
đau đớn khi phải hi sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu của Kiều, khiến hình tượng của
nàng trở nên đẹp đẽ hơn trong lòng người đọc. Đồng thời, qua tác phẩm ta còn thể
thấy được syêu thương, cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du dành cho nhân vật của
mình.
Thông qua việc thể hiện nỗi đau của Kiều khi phải trao duyên tình dang dở của mình
cho em, "Trao duyên" mang đến độc giả cái nhìn chân thực về thời đại của tác giả,
một thời đại mà con người bị đồng tiền làm băng hoại đạo đức, bị chính đồng tiền dồn
ép tới đường cùng, không còn lối thoát. Chính giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc ấy
đoạn trích, cũng như "Truyện Kiều" đã để lại trong lòng nhiều thế hệ độc giả ấn
tượng sâu sắc.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 6
Nhà thơ Nguyễn Du một đại thi hào của nước ta. Ông đã để lại nhiều bài thơ hay
bất hủ vượt qua mọi sự cách trở của thời gian. Trong đó, Truyện Kiều là một tác phẩm
vô cùng kiệt xuất của tác giả Nguyễn Du.
Trong đó, đoạn trích Trao duyên một đoạn trích thể hiện tấn bi kịch trong lòng của
nhân vật chính Thúy Kiều khi phải đấu tranh giữa bên hiếu, bên tình. Cuối cùng Thúy
Kiều lựa chọn hy sinh thân mình để bảo vệ hạnh phúc cho gia đình chuộc cha em
trai ra khỏi chốn lao tù.
Đoạn trích Trao duyên nói lên sự bi kịch của người phụ nữ khi tình duyên dang dở,
nhất 12 câu thơ đầu trong đoạn trích đã khắc họa thành công sự đau thương trong
lòng của Thúy Kiều:
"Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
……
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
Trong 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên này thể hiện sự đau khổ của Thúy
Kiều khi làm chị nhưng lại phải nhờ vả cậy nhờ em mình. Những lời tâm sự rút gan
rút ruột của Thúy Kiều cho thấy sự đau khổ của người con gái phải rời xa mối tình
tâm đầu ý hợp của mình. Khi tình duyên dang dở Thúy Kiều quyết định từ bỏ tình yêu,
từ bỏ Kim Trọng để bán mình chuộc cha.
Thúy Kiều thương cho Kim Trọng sợ chàng sau khi mãn tang chú quay lại tìm nàng
thì biết tin nàng bặt âm tín sẽ đau buồn lắm. Thúy Kiều người suy nghĩ sâu sắc
nên nàng đã nhờ em gái của mình Thúy Vân thay nàng chăm sóc an ủi Kim Trọng
theo cách "Tình chị duyên em".
Trong câu thơ "Cậy em em chịu lời - Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa" thể hiện sự
thành khẩn của Thúy Kiều khi gửi trao tâm nguyện của mình lại cho em gái Thúy
Vân. Thể hiện tâm trạng vô cùng đau khổ của cô với việc lựa chọn này.
Trong mỗi câu thơ Thúy Kiều như đứt từng khúc rút để nói lại với em gái của mình.
Thúy Kiều đã dùng những từ ngữ cùng sâu sắc như "Giữa đường đứt gánh tương
tư" thể hiện sự bất lực không còn con đường nào lựa chọn, nên buộc lòng phải nhờ
cậy tới Thúy Vân.
muốn trao duyên của mình cho em gái nhưng trong lòng Thúy Kiều đè nặng
những đau đớn, tương trong lòng. Bởi những kỉ niệm yêu thương ngọt ngào vẫn
còn khắc cốt ghi tâm trong lòng Thúy Kiều. Kim Trọng người con trai Thúy
Kiều thật lòng yêu thương, muốn trao gửi cả cuộc đời mình vào tay người con trai đó,
cùng chàng đi tiếp chặng đường tương lai nhưng giờ phải lựa chọn từ bỏ trái tim nàng
đau khổ như chết đi sống lại.
Trong 12 câu thơ đầu của đoạn trích Trao duyên thể hiện sự bất lực, bất khả kháng của
người con gái Thúy Kiều khi sóng gió gia đình bất ngờ ập tới khiến gia đình
gặp cảnh tai biến không hiểu nguyên do từ đâu. Trước người cha tuổi cao sức yếu
người em trai tình thân như thủ túc, Thúy Kiều chị cả nàng không thể thấy cha
em mình bị giam cầm dửng dưng sống hạnh phúc bên người mình yêu, bỏ mặc sự
sống chết của người thân.
Sự lựa chọn của Thúy Kiều cho thấy nàng người cùng sâu sắc, hiếu thuận với
cha mẹ, cũng người tình, biết lo lắng cho người khác, luôn đặt mình vào hoàn
cảnh của người khác để nghĩ cho người đó. Trong khi đó bản thân nàng tương lai như
thế nào nàng cũng không , con đường phía trước mịt, mịt mờ nhưng nàng cũng
cam tâm tình nguyện ra đi vì người thân.
Trong những câu thơ tiếp theo:
"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề"
Thúy Kiều kể lại những kỉ niệm thời còn hẹn hò giữa nàng và Kim Trọng, mỗi câu thơ
đều thể hiện sự tâm đầu ý hợp giữa hai người. Một mối tình trai tài gái sắc cùng
đẹp đôi, xứng đôi vừa lứa. Nhưng sóng gió, tai biến gia đình Thúy Kiều buộc
lòng phải từ bỏ.
Thúy Kiều mong Thúy Vân vì tình cảm chị em máu mủ mà nhận lời nhờ cậy của mình,
chăm sóc Kim Trọng thay mình, yêu thương chàng tiếp tục cùng chàng sánh duyên
thay cho mình. Điều này cho thấy sự tình nghĩa của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng
là vô cùng sâu sắc.
Chỉ với 12 câu thơ nhưng tác giả Nguyễn Du đã khắc họa thành công tâm trạng đau
đớn của Thúy Kiều khi phải dứt tình ra đi, để giữ trọn chữ hiếu với gia đình, cứu
những người thân của mình. Qua đó, cũng cho người đọc thấy được bi kịch nghiệt
ngã của người con gái tài sắc vẹn toàn như Thúy Kiều nhưng phải chịu đau khổ, trong
cuộc sống.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 7
Nhắc đến Nguyễn Du là người ta nhớ ngay đến ông là một trong những đại thi hào vô
cùng xuất sắc của dân tộc. Nguyễn Du cũng đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học
đồ sộ với rất nhiều c tác phẩm hay đặc biệt trong đó không thể không nói đến
Truyện Kiều. Tác phẩm nói về cuộc đời của nàng Kiều với biết bao nhiêu cay đắng tủi
hờn. Đoạn trích Trao duyên một phân đoạn đặc sắc của tác phẩm với 12 câu đầu
thấm đẫm nước mắt về nghĩa về nh của Thúy Kiều khi phải trao duyên cho em gái
Thúy Vân.
thể thấy đoạn trích nằm trong phần hai của bộ thơ kể về chuỗi ngày biến động
cũng như lưu lạc của Thúy Kiều. Với mười hai câu thơ đầu được xem chính phần
mở màn cho chuỗi ngày đầy xót thương y. Đồng thời bài thơ cũng còn tiếng lòng
tha thiết, cắt cứa như thẳm sâu Thúy Kiều gửi cậy lại cho Thúy Vân, Thúy Kiều đã
nhờ em viết tiếp câu chuyện tình yêu Kim Kiều thay mình.
Ngay từ phần mở đầu đoạn trích độc giả đã thấy được một nghịch cảnh cùng trớ
trêu, chưa từng xuất hiện trong đời thực mà khiến cho chúng ta nỗi đau đến nhói lòng.
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa
Nhân vật Thúy Kiều là chị ấy thế nhưng lại cúi xuống mà “cậy”, lại “thưa” với em gái
của mình Thúy Vân? Nguyễn Du cũng đã sử dụng các từ ngữ mang sắc thái vô cùng
trang trọng thường chỉ được dùng để đối đáp, gửi thưa với các bậc bề trên thế nhưng ở
đây chính Thúy Kiều lại dùng ngỏ lời với em gái của mình. Với hai câu thơ đầu này
cũng đã gợi lên cho người đọc một cảm giác sắp dường như sắp một chuyện
quan trọng. phải chăng đây thì Thúy Kiều đang mang nặng một nỗi tâm tình
cảm khó nói, hay mang một vấn đề nghiêm trọng muốn gửi gắm cho cô em em gái của
mình. Tác giả Nguyễn Du cũng đã khéo léo sử dụng được cặp từ hô ứng tài tình đó là:
“cậy - chịu”, “Ngồi lên - thưa” tất cả như đã thể hiện được một sự -gic đầy khéo léo
trong việc thể hiện được lời tâm tình của nhân vật Thúy Kiều rồi sau đó cũng mới thể
hiện được sự thiết tha tỏ tường nhất. Nhân vật Thúy Kiều như đã bày tỏ được nỗi lòng
mong muốn Thúy Vân cũng sẽ cố gắng giúp cho mình chỉ Thúy Vân mới giúp
được Thúy Kiều lúc này và việc này mà thôi.
Không do dự Thúy Kiều đã bộc bạch cái nỗi lòng đau đáu của mình với Thúy
Vân, nàng kể sự tình, nỗi lòng của nàng ra và mong Thúy Vân có thể hiểu cho mình.
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Sử dụng hình ảnh “Gánh tương tư” đây như cũng lại ám chỉ trách nhiệm tình cảm,
đó là một nghĩa vụ chăm sóc yêu thương. Khi mà bị đứt gánh tương thì ý của Thúy
Kiều lúc này như đang nói đến tình duyên dang dở. Kiều đã tự trách mình không làm
tròn cái đạo lí nghĩa tình với người thương Kim Trọng và nàng cũng đang tự dằn vặt
khôn xiết cái trách nhiệm bản thân. Không chỉ dừng lại ở đó thì chính Thúy Kiều cũng
đã thật khéo léo muộn được điển tích xưa “keo loan” để thể nói hết được tâm
trạng cũng như nỗi lòng của nàng. Và mục đích cuối là Thúy Kiều mong muốn Vân sẽ
thay mình kết duyên với Kim Trọng, thay mình chăm sóc yêu thương chàng. Sử dụng
hai chữ “mặc em” cùng hợp đặc sắc, từ đã cho thấy được một sự thể hiện sự
tin tưởng tuyệt đối của Thúy Kiều khi đem chuyện tình kiếp cả đời giao phó lại cho
em gái của chính mình.
Hình ảnh "gánh tương tư" mà Thúy Kiều nói ở đây dường như không chỉ là lời hứa
suông đâu còn bao hàm biết bao nỗi nhọc nhằn, chất chứa được biết bao tình
cảm đánh đổi. Nhân vật Thúy Kiều biết như thế sẽ ép buộc em, cũng biết là lúc này
nàng sẽ làm khó em cho nên nàng đã nói hết những băn khoăn trong lòng mình ra cho
Thúy Kiều.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Nhân vật Thúy Kiều nhớ lại những ức của một thời lãng mạn đã qua, đã từng gắn
với chàng Kim. Nàng kể lúc quen với Kim Trọng như thế nào tình nghĩa mặn
nồng ra sao, bao nhiêu câu thề thốt nhưng không may thì chuyện tình đó lại dở dang.
lí do chính bởi nàng vì muốn bảo vệ cha mẹ em trai mà Kiều đành phụ Kim Trọng.
Khi đứng giữa cân đo giữa đạo làm con người mình thương Kiều thì nàng cũng
đành xé lòng làm trọn chữ hiếu mà trong tâm cứ xót xa chữ tình. Thúy Kiều đã hi sinh
chữ tình để làm tròn chữ Hiếu, nàng đã sống tròn với trách nhiệm người chị cả gia
đình nhưng mong muốn Thúy Vân thể thay mình trả nghĩa chữ tình kia với Kim
Trọng.
Đưa ra một loạt lẽ thuyết phục, Thúy Kiều như nói Thúy Vân rằng em vẫn còn trẻ
còn rất nhiều thời gian để vun vén tình cảm. Thúy Kiều thực sự muốn hai
người kết nhân duyên mong cho hạnh phúc đến với Thúy Vân Kim Trọng.
Không chỉ vậy Kiều cũng viện đến cả tình máu mủ ruột già để có thể có lí lẽ xác đáng
cậy nhờ ân tình Thúy Vân. Thúy Kiều luôn mong rằng em hãy chị chị em em nặng
nghĩa tình mà có thể thay nàng để viết nốt lời thề non hẹn biển với chàng Kim.
Nhân vật Thúy Kiều như đang chắt chiu ra từng nỗi đau xót đến tái tê để có thể bày tỏ
cùng với Thúy Vân mong Thúy Vân thể hiểu được cho nỗi lòng của chính mình
có thể chia sẻ, đồng cảm.
Chính tấm ân tình trời bể của Thúy Vân Thúy Kiều chắc chắn sẽ luôn khắc tạc ghi tâm
thông qua hai câu thơ:
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối, hãy còn thơm lây
Với hai câu này Nguyễn Du đã sử dụng thành ngữ của nhân dân ta: thịt nát xương
mòn, ngậm cười chín suối dường như cũng đã khiến ta liên tưởng đến cái chết, đến sự
đớn đau. phải chăng chính Thúy Kiều đã tiên liệu trước được bão giông sắp xảy
đến với cuộc đời mình nàng nhanh chóng muốn sắp xếp ổn thỏa mọi thứ. Những
ân tình ngày hôm nay Thúy Vân nhận lời cho Thúy Kiều như đã khắc ghi không bao
giờ quân được. Trong 12 câu đầu của đoạn trích “Trao Duyên” thì tác giả cũng thật tài
tình khi sử dụng thể thơ lục bát kết hợp với các điển tích thành ngữ dân gian để
thể bộc lộ tâm trạng Thúy Kiều. Thông qua đây ta nhận xét thấy được đây hình ảnh
một bức tranh với ngôn từ giản dị, mang được sự gần gũi nhưng tạo được ấn tượng vô
cùng mạnh trong lòng độc giả.
Thông qua 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao Duyên” thì tác giả Nguyễn Du như
dựng lên sự éo le đầy bi ai của cuộc đời người phụ nữ trong hội phong kiến xưa.
Với 12 câu thơ này cũng đã đủ sức lên án một xã hội đã mục rỗng, thối nát mà ở trong
xã hội đó sức mạnh của đồng tiền như đã dồn nén con người đến tận cùng của nỗi đau
mà không thể nào có thể thoát ra được.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 8
Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc với những tuyệt tác nghệ thuật mà ông đóng
góp vào nền văn học Việt Nam. Trong số đó không ai không biết đến thi truyện
“Truyện Kiều” niềm tự hào của dân tộc. Đó một câu chuyện được viết nên bằng
những vần thơ tô đậm số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thối nát xưa.
Mười hai câu đầu đặc sắc trong đoạn trích “Trao Duyên” thuộc phần đầu của thi
truyện, là lời nức nở nghẹn ngào khi phải trao mối tình duyên của Thúy Kiều.
Mối tình của nàng Thúy Kiều với Kim Trọng thật sâu đậm, thế nhưng vì xã hội phong
kiến thời bấy giờ đã giăng tạo đầy rẫy những bất công khiến đôi uyên ương phải xa
cách. Trước tình cảnh đó, để không phụ tấm chân tình Kim Trọng dành cho mình,
Thúy Kiều đã trao duyên cho người em gái của mình Thúy Vân trong mười hai câu
thơ đầu đoạn trích. Ta nghe như đâu đây tiếng van nài tha thiết từ tấm lòng người chị
đang chất chứa muôn vàn khổ đau:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Đó lời lẽ chân tình thuần hậu Thúy Kiều nói với người em gái của mình. Từ
“cậy” chứ không phải từ nhờ cách dùng từ đặc sắc của Nguyễn Du bởi chỉ trong từ
cậy đã thể hiện được hết sự van xin nài nỉ nhưng cũng đôi phần ép buộc. Lời khẩn
cầu vừa mang ý tứ nhờ vả vừa sự thấp thỏm mong ngóng lời đồng ý “có chịu lời”.
Hành động của Thúy Kiều nghe ra hơi sự lý: lạy thưa bởi hành động ấy chỉ
những người nhỏ hơn mới thể dùng với bậc tiền bối của mình. Điều này chứng tỏ
sự nghiêm túc, thật tâm khẩn cầu của Thúy Kiều. Lạy là hành động trang nghiêm trịnh
trọng trong khi đó thế của nàng hạ mình như thể mang ơn Thúy Vân qua từ
“thưa”. Đó những lời nói, hành động khác lạ bắt nguồn từ thái độ nghiêm túc hệ
trọng khó nói của việc trao duyên. Thúy Kiều rất khéo léo khi thấu hiểu sự thiệt
thòi của em để dùng từ ngữ tạo n một bầu không khí trao duyên khiến Thúy Vân
không thể nào chối từ. Từng từ ngữ câu nói thốt ra đều được Thúy Kiều cân nhắc
càng, chọn lọc. Cái tinh tế trong nội tâm nhân vật được Nguyễn Du diễn tả một cách
rất thông minh khéo léo. Càng đọc thơ ta càng thấy rằng Kiều đã suy nghĩ rất nhiều,
rất rồi mới quyết định trao mối nhân duyên nàng đã từng mong ước sẽ được lâu
bền, sẽ “đơm hoa kết trái” cho Thúy Vân
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
“Gánh tương tư” của Thúy Kiều chính tình yêu sâu nặng với Kim Trọng nhưng
giờ đây đã “đứt gánh” mà không thể nào nối liền lại được. Câu thơ tiếng xót xa cho
chính bản thân mình, cho người em chưa một mối tình của riêng mình giờ đây
đáp nghĩa cùng chàng Kim không một chút tình. Thúy Kiều van nài sự xót
thương cho số phận bạc mệnh của mình để em gái thương mình nhận lời. Nàng
băn khoăn Kim Trọng và Thúy Vân bị lỡ làng nhân duyên trong khi chính nàng mới là
người chịu nhiều đau khổ thương tâm nhất. Cái ray rứt của Kiều ray rứt cho Thúy
Vân phải “chắp mối thừa” của mình, tình thương em gái từ tận đáy lòng. Từ
“mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ hay chối bỏ mà có nghĩa sự phó thác
trách nhiệm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự nhờ cậy nơi Vân về mối
nhân duyên dang dở của mình.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề
Ta thể hình dung ra hình ảnh một mỹ nhân tuyệt thế đang ngước mắt hoài niệm về
mối tình sâu đậm, tình yêu tràn ngập trong ánh mắt. Từ “khi” được lặp lại ba lần như
muốn nhấn mạnh tình cảm Kiều dành cho Kim Trọng, đâu phải tình cảm một sớm
một chiều tình cảm được vun đắp qua từng năm tháng. Câu thơ “ngày hẹn ước,
đêm chén thề” làm sống dậy những kỉ niệm đẹp của đôi tình nhân. Câu thơ ẩn chứa
những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui kỉ niệm về ngày tháng tình nồng ý đậm.
Thế nhưng đó cũng tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, sự tiếc thương về kết thúc của
những kỉ niệm đẹp ấy và chuỗi ngày bi thảm mịt mù tiếp theo.
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Những biến cố liên tục ập đến gia đình Thúy Kiều phải hy sinh bản thân mình để
gia đình được êm ấm đoàn tụ. Chữ “Hiếu” một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, vì
hiếu con người ta phải dẹp bỏ lợi ích riêng tư, đó đã trở thành điều hiển nhiên
trong quan niệm đạo đức khi xưa. Kiều người con hiếu thảo, tình nghĩa bởi thế
mà giữa bên tình bên nghĩa nàng đã chọn nghĩa để giữ trọn đạo hiếu làm con. Nàng đã
tự mình chôn vùi tình cảm riêng tư, hạnh phúc của bản thân để báo hiếu cha mẹ.
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Khi đã quyết định bán thân chuộc cha em, Kiều tự thấy mình người phản bội,
không xứng đáng với Kim Trọng. đời ai chẳng khao khát được gắn se duyên
bên cạnh người mình yêu, xu hướng hy sinh tất cả mọi thứ tình yêu. Đặc biệt
điều ấy càng thhiện người con gái đa sầu đa cảm, sống tình nghĩa.Vì thế
Kiều sẵn sàng “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”. Sự hy sinh ấy thật cao cả
biết bao!
“Trao Duyên” không chỉ đặc sắc nội dung còn nghệ thuật khi hàng loạt những
từ đắt giá được sử dụng khéo léo nhuần nhuyễn. Qua đoạn trích, ta thể thấy được
hội phong kiến thối nát xưa đặc biệt hình tượng người phụ nữ qua nhân vật
Thúy Kiều: trọng tình trọng nghĩa, hy sinh cao cả đó những vẻ đẹp phẩm chất cao
quý của người phụ nữ Việt Nam.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 9
Kiều là một tuyệt tác của Nguyễn Du, bài thơ như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công. Đoạn trích “Trao duyên” đã
nói lên nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa nàng
Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng phần mở đầu cho cuộc đời đầy đau khổ của Thúy
Kiều. Và đặc sắc nhất có lẽ là 12 câu thơ đầu. Chỉ 12 câu nhưng sao như tiếng nấc uất
nghẹn ngào.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân. Từ
“cậy” được sử dụng thật đặc sắc, “cậy” chứ không phải “nhờ”, người được “cậy”
khó lòng từ chối. Thúy Kiều đã đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân
Thúy Vân không thể thoái thác được phải “chịu lời”. Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao
hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin. Không người chị nào lại xưng với
em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ dùng với bề trên như “thưa, lạy”. Kiều muốn
chuẩn bị tâm cho Vân để đón nhận một chuyện hệ trọng nàng chuẩn bị nhờ cậy
em bởi nàng hiểu rằng việc mà nàng sắp nói ra đây là rất khó khăn với Vân và cũng là
một việc rất tế nhị:
“Hở môi ra những thẹn thùng
Đề lòng thì phụ tấm lòng với ai”
Từng từ được thốt ra đều được nhân vật cân nhắc kĩ càng, chọn lọc, Nguyễn Du đã sử
dụng những từ ngữ rất “đắt”. Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính cái tinh tế
trong thế giới nội tâm Nguyễn Du muốn diễn tả. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta
thấy Kiều đã suy nghĩ rất nhiều, rất kỹ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên
nàng đã từng mong ước sẽ “đơm hoa kết trái”, mối nhân duyên nàng mong ước sẽ
được lâu bền lại cho Thúy Vân:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
“Gánh tương tư” của chị, tình yêu sâu nặng của chị nhưng giờ giữa đường lại
“đứt gánh” còn đâu. duyên của chị, khi đến với em đã “tơ từa”. Chị hiểu
em tuổi còn trẻ thể chưa biết đến tình yêu. Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật
ngọt của tình u nhưng xin em hãy xót người chị bạc mệnh này mà đáp nghĩa cùng
chàng Kim. Ôi! Lời của Kiều thật thống thiết. Cái băn khoăn của Kiều băn khoăn
cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên. Cái ray rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy Vân
phải “chắp mối tơ thừa” của mình. Từ “mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em,
mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiệm lại cho
Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mình nơi Vân.
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề”
Từ “khi” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm Kiều dành cho Kim
Trọng nào đâu phải tình cảm một sớm một chiều. Những kỉ niệm đẹp giữa nàng
Kim Trọng như sống lại trong những câu thơ “ngày hẹn ước, đêm chén thề”. Câu thơ
ẩn chứa những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc
nghẹn của Thúy Kiều, những kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi
thảm tiếp sau.
“Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
“Sóng gió bất kì” khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bmắc oan,
cha em Kiều bị bắt, Kiều phải bán mình chuộc cha em. Những biến cố xảy ra
liên tục, đẩy Kiều vào chỗ bế tắc, người chị cả, Kiều phải hi sinh bản thân mình để
gia đình được đoàn tụ, êm ấm, bởi lẽ: “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”.
Chữ Hiếu một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, hiếu con người ta phải dẹp bỏ
tình riêng, là một quan niệm đạo đức phổ biến của người xưa. Và Kiều cũng thế, nàng
không bao giờ cho phép mình trở thành người con bất hiếu. Nàng đã chôn vùi tình
cảm riêng tư để báo hiếu cho cha mẹ:
“Nỗi riêng riêng những bàng hoàng
Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn”
Khi đã quyết định bán thân chuộc cha em, Kiều lại nhớ đến Kim Trọng, nàng tự
thấy mình là người phản bội, không xứng đáng với chàng:
“Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa”
đời, phàm, người ta thường hi sinh tất cả mọi thứ tình yêu. người ai chẳng
khát khao được gắn với người mình yêu. người con gái đa sầu đa cảm như
Kiều thì khát vọng ấy lại càng mạnh mẽ gấp bội, vì tình yêu nàng đã từng vượt qua cả
lễ giáo phong kiến khắt khe nhất để xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Vậy
mà giờ Kiều lại đành lòng vứt bỏ, thật đau đớn xiết bao! Nhưng vì:
“Duyên hội ngộ, đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?”
lẽ chỉ những người con gái mang trong mình trái tim bao dung như Thuý Kiều
mới đủ sức mạnh để làm những việc tưởng chừng khó khăn nhất như thế!
Sợ chưa thuyết phục được em, Kiều đã dùng hết lẽ, sự tỉnh táo nhất của lí trí để trải
lòng cùng em:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”
Đúng vậy, Thúy Vân còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng nên
xin hãy nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim. Để thêm thuyết phục Vân không
thể chối từ, Kiều đã đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân. “Máu chảy ruột mềm” còn
thiêng liêng hơn tình chị em gắn bó, ruột thịt. Em hãy giúp chị thay “lời nước non”
cùng chàng. Kiều cũng đã đặt mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người
mình không quen biết, còn người yêu của chị mình, ta thể cảm nhận đây
Thúy Vân là người thiệt thòi nhất…
Tuổi của Kiều Vân xấp xỉ nhau “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” thế nhưng đối
với Kiều giờ đây, tuổi xuân của nàng đã kết thúc. Khoảng thời gian xuân xanh đẹp đẽ
giữa nàng Kim Trọng nay chỉ còn những kỉ niệm không tương lai. “Trao
duyên” cho em, nghe thật lạ nhưng trong hoàn cảnh của Kim,Vân, Kiều thì đây
một việc không khó hiểu trong hội phong kiến ngày xưa. Những dòng nước mắt
không thể chảy ra nhưng cứ âm ỉ, phảng phất trong từng câu, từng chữ… Nỗi đau đớn
đến lòng nhưng vẫn phải dằn xuống, kìm nén để nói những lời trao duyên cho em.
Thật đau xót thay! Chữ· Tình đối với Kiều cùng quan trọng, thế nhưng nàng lại từ
bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu. Mất đi tình yêu đối với nàng là mất đi tất cả. Nói đến đây
Kiều tưởng như cuộc đời mình đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc, níu giữ:
“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Bản thân phải hi sinh, Kiều không đắn đo thiệt hơn, nhưng khi nhờ cậy đến em gái thì
đó một cái ơn lớn· đối với nàng. Cho nên lời nhờ cậy của Kiều thật thiết tha, lời
cảm tạ của Kiều thật sâu sắc, cảm động. Xét về ngôn từ thì lời nói của Kiều khẩn thiết
mà vẫn đúng mực, kêu nài mà vẫn chí nghĩa chí tình. Nhờ cậy thì vịn đến tình máu mủ
ruột thịt. Cảm tạ thì đề cao ơn nghĩa của Thúy Vân nói đến sự bạc mệnh của mình.
Kiều quả thật là người “sắc sảo mặn mà”.
Kiều đã hi sinh tất cả, kể cả cuộc đời nàng đang độ xuân xanh gia đình. Thuý Vân
đến đâu cũng thể hiểu nỗi đau sự hi sinh quá lớn của chị nên chắc
chắn rằng nàng không thể khước từ và chỉ ngậm ngùi đồng ý nhận duyên từ chị. Có lẽ
thế nên ngay từ đầu chúng ta không nghe một lời đối thoại nào của Vân chỉ
nghe những lời thuyết phục, van nài và bộc bạch nơi Kiều. Vân đã chấp thuận.
Khi trao duyên cho em xong, Kiều đã nghĩ đến cái chết: “thịt nát xương mòn, ngậm
cười chín suối”. Cuộc đời nàng sau khi báo đáp ơn nghĩa sinh thành thì coi như chấm
dứt. bởi lẽ mất đi tình yêu nàng đã mất tất cả, mất hi vọng, mất định hướng, linh
hồn nàng như dại đông cứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy tăm tối ngày
mai.
hội phong kiến thối nát đã chia rẽ tình yêu đôi lứa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình,
chà đạp lên số phận của người phụ nữ, những con người xinh đẹp, tài hoa.
“Đau đớn thay phận đàn bà
Hỡi ôi thân ấy biết là mấy thân!”
kiếp số của họ:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta nhận thấy Nguyễn Du thật sự một bậc đại tài trong
việc thấu hiểu từng khía cạnh tinh tế nhất của tâm can con người. Chính sự thấu hiểu
sâu sắc ấy cùng với nghệ thuật dùng từ điêu luyện, đã khiến tác phẩm của Nguyễn Du·
tồn tại như một giá trị vĩnh cửu vượt qua tất cả thử thách khắt khe của thời gian, để lại
ấn tượng mạnh mẽ trong lòng đối tượng tiếp nhận, đã khiến cho triệu vạn người phải
rơi nước mắt khóc than cho số phận nàng Kiều:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du Tố Hữu)
Cảm nhn 12 câu đu Trao duyên - Mẫu 10
Đọc Truyn Kiu ca Nguyn Du, ngưi đc không khi xót xa trưc sphn đy đau
khvà truân chuyên ca nàng. Ngưi con gái tài hoa y phi tri qua bao phen đon
trưng, ni đau chia ct tình thân chưa nguôi thì phi chu ni xót xa khi đôi la chia
lìa. Đon trích Trao duyên trong tác phm là minh chng cho ni đau khôn nguôi ca
Kiu khi tình yêu tan v. Mưi hai câu đu đon là nhng li thơ cht cha ni lòng
Kiu.
Mở đầu đon trích là li nhờ cậy tha thiết ca Thúy Kiu vi Thúy Vân:
"Cy em em có chu lời
Ngi lên cho chị lạy ri sthưa"
Bằng tt cả sự chân thành và mong cu, Kiu đã ngỏ lời "cy" nhVân. T“cy” đt
đầu câu thơ mang sc nng ca tiếng nhờ vả, có chăng Kiu đang trông mong, nguyn
cầu em chp thun. Bao nhiêu ni hy vng, mong chvà nim tin trn vn chị đều đt
hết nơi Vân. Tiếng "chu" ct lên như mt s nài n, mong cu em xót thương mà chp
nhn đng thi như mt li báo trưc vvic mà mình sp nói ra đây sẽ rất khó x
với Vân.
Phn làm ch, theo thbậc trong gia đình hay l giáo phong kiến, Kiu nào thlạy
em, nhưng trong tình cnh này, nàng đã chn cách "ly" và "thưa" vi Vân. Hơn ai hết,
Kiu hiu nhng thiệt thòi ca Vân khi chp thun li nh vả, nàng lúc này k
mang ơn, mt cái ly hay câu thưa nào sánh shy sinh ca em dành cho mình.
Lòng đau đn khi tình yêu không trn, nhđến Thúy Vân- ngưi em gái duy nht by
lâu nàng luôn yêu quý tin tưng thay mình ni tiếp mi duyên cùng Kim Trng
nàng không khi xót xa.
"Gia đưng đt gánh tương tư
Keo loan chp mi tơ tha mc em".
Thành ng “gia đưng đt gánh” đưc vn dng đy khéo léo đ ch mối lương
duyên chìa lìa ca Kim - Kiu. “Gánh tương tư” sâu nng bao nhiêu thì đt gánh càng
khđau, cay đng by nhiêu. Đin tích “keo loan” vn dành cho nhng mi tình gn
kết, bn cht nay li dành nhngưi “chp mi”. Cm danh t“tơ tha” kết hp vi
cụm tmc em” làm ni bt tâm trng ngm ngùi, chua xót ca Thúy Kiu. Kiu
hiu nhng thit thòi Vân phi chu khi chp nhn mi duyên này. Nếu vi Thúy
Kiu, đó duyên trăm năm còn vi Vân thì đó chmi “duyên tha” thôi. Hai
từ “mc em” như mt sphó mc, uthác nơi em ca Kiu, nàng tin rằng em shiu
cho ni khó xvà tình cnh éo le ca mình.
Lời va dt cũng là lúc bao knim tình đôi la cht ùa vnhư thác lũ, đó là nhng kí
c đp đẽ:
"Kể từ khi gp chàng Kim
Khi ngày qut ưc, khi đêm chén th."
Ngày gp Kim Trng, tình yêu chớm n, hai ngưi "tình trong như đã mt ngoài còn
e", Kim- Kiu đã tng hnh phúc biết bao vi nhng li hn ưc, vi chén u th
nguyn. Đip t"khi" càng nhn mnh ni nhda diết và cnỗi tiếc thương nơi Kiu.
Nàng tâm svới em như đgiãi bày ni ng cũng là mong em sphn nào hiu đưc
nhng day dt nơi nàng.
"Sđâu sóng gió bt k
Hiếu tình khôn lhai bề vẹn hai”
“Sóng gió bt kì” tai ương bt ngđến gia đình chem Kiu phi gánh chu.
Cha em boan sai, Kiu buc phi bán mình cu ngưi thân. Ch“hiếu” đã trn
ch“tình” còn day dt. Làm sao đvẹn chai b? Đó mt câu hi luôn thưng
trc trong trái tim nàng. Đlàm tròn ch“hiếu”, Kiu đã bỏ lỡ mối keo loan trăm năm,
trao duyên cho em đ thay mình trnghĩa cho chàng Kim, cho vn ch“tình” sâu
nặng. Nói ri, đthuyết phc em thêm, nàng tiếp li:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mthay li nưc non
Chdù tht nát xương mòn
Ngm cưi chín sui hãy còn thơm lây"
Nhng lKiu đưa ra va chân thành tha thiết, li va thu tình đt lý. Thúy Vân
còn tui tr, còn thi gian đtìm hiu Kim Trng, còn Kiu thì khác, khi nàng quyết
định bán mình cu cha cũng khi tdo, thanh xuân khép li, phía trưc bao tai
ương, sóng gió trc ch. Hơn thế nữa, Vân Kiu máu mủ rut nên ddàng
đồng, cm, thu hiu thay Kiu tr duyên cho Kim Trng “thay li c non”.
Thm chí, nàng còn nói đến cái chết “ngm i chín sui” đmong Vân hiu đưc
tâm nguyn tha thiết ca mình. Chc lkhi nghe nhng li y, Vân cũng không th
đành lòng nhìn chđau đn mà chi từ lời nhờ cậy tnàng.
Sự kết hp gia ththơ lc bát quen thuc cùng nhng tngđầy tinh tế đã làm cho
i hai câu đu đon thơ thhin đưc ni đau “đt rut” ca Thúy Kiu khi tình
duyên tan v. Qua đó, ta càng trân trng hơn vđẹp ca mt trái tim thiết tha, chung
thy, mt tm lòng hiếu tho và giàu đc hi sinh nơi cô gái tài sc y.
| 1/38

Preview text:


Dàn ý cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên Dàn ý số 1 1. Mở bài:
● Giới thiệu vài nét đặc sắc về tác giả tác phẩm, đoạn trích
● Dẫn dắt về nhân vật Thúy Kiều và em gái Thúy Vân hai người con gái có tài
sắc nghiêng nước nghiêng thành là nhân vật chính trong trích đoạn Trao duyên. 2. Thân bài:
– Đoạn 1: Thúy Kiều nhờ em là Thúy vân thay mình trả ân nghĩa cho Kim Trọng
“Cậy em em có chịu lời
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
+ Một nỗi đau đến xé lòng khi đành phải hy sinh tình yêu của mình, hy sinh chính
hạnh phúc cá nhân để cứu lấy cha, cứu lấy gia đình cho trọn chữ hiếu.
-> Minh chứng được tính cách, phẩm giá của Thúy Kiều là người đặt chữ hiếu lên hết
+ Cách xưng hô, dùng từ khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa…) có ý nghĩa một phần
là nhờ vả một phần nài ép Thúy Kiều coi đó là việc Thúy Vân cần làm “tình chị duyên em”
-> Tuy rằng trong lòng rất đau xót nhưng Thúy Kiều vẫn mạnh mẽ quyết đoán.
● Mối tình của Thúy Kiều với chàng Kim tuy rất mặn nồng, thắm thiết nhưng lại mong manh, nhanh tan vỡ.
● Mâu thuẫn giữa hành động >< lời nói, lí trí >< tình cảm của Thúy Kiều trong
cảnh trao duyên cho Thúy Vân. Lời trao duyên, trao kỉ vật nửa muốn trao, nửa muốn níu giữ.
– Đoạn 2: Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên
(Mai sau dù có bao giờ…thiếp đã phụ chàng từ đây)
● Cuộc độc thoại nội tâm đầy đau đớn, Thúy Kiều hướng một lòng về tình yêu
thương mong nhớ người mình yêu
● Mức độ của nỗi đau cao hơn,xót xa hơn khi Kiều chuyển sang tự nói với bản
thân mình, từ đau đớn chuyển thành tiếng khóc, khóc cho mình, khóc cho mối tình đẹp phải chia li.
-> Nổi bật vẻ đẹp nhân cách hy sinh đến quên mình, quên hạnh phúc cho nghĩa cử cao đẹp của Thúy Kiều 3. Kết bài
● Đoạn trích nói lên được số phận bất hạnh của nàng Kiều về tình yêu, không
được hưởng tình yêu trọn vẹn.
● Tính hiện thực, nhân đạo của Nguyễn Du sử dụng trong đoạn trích “Nỗi thương mình”
● Nghệ thuật miêu tả nội tâm, khám phá nội tâm nhân vật đặc sắc. Dàn ý số 2 a) Mở bài
- Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều:
+ Nguyễn Du (1765 - 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam với tài năng kiệt xuất,
một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của dân tộc.
+ Truyện Kiều là một kiệt tác kinh điển của nền văn học Việt Nam, được viết bằng
chữ Nôm theo thể lục bát gồm 3254 câu.
- Giới thiệu đoạn trích Trao duyên:
+ Đoạn trích từ câu 723 đến 756 trong tác phẩm “Truyện Kiều” phần gia biến và lưu
lạc, thuật lại diễn biến tâm trạng của Kiều trong đêm cuối cùng trao duyên cho Thúy
Vân nhờ em trả nghĩa với chàng Kim hộ mình.
b) Thân bài: Cảm nhận 12 câu thơ đầu bài Trao duyên
* Luận điểm 1: Lời nhờ cậy của Thúy Kiều với Thúy Vân (2 câu thơ đầu) - Lời nói:
+ “Cậy em”: nhờ vả, gửi gắm, mong đợi, tin tưởng về sự giúp đỡ của em.
+ “Chịu lời”: Đồng nghĩa với “nhận lời” nhưng “nhận lời” nó còn bao hàm sắc thái tự
nguyện, có thể đồng ý hoặc không đồng ý, còn “chịu lời” thì bắt buộc phải chấp nhận,
không thể từ chối bởi nó mang sắc thái nài nỉ, nài ép của người nhờ cậy.
-> Ngôn ngữ vừa nhờ vả, vừa nài nỉ, vừa là sự ép buộc.
- Hành động “Lạy, thưa”: trang nghiêm, trịnh trọng, hạ mình của người bề dưới với
người bề trên -> cách nói tạo sự ràng buộc tế nhị
- Kiều là chị lại lạy, thưa em mình
-> Đây là hành động bất thường nhưng lại hoàn toàn bình thường trong hoàn cảnh này
bởi hành động của Kiều là lạy đức hi sinh cao cả của Thúy Vân. Bởi vậy, việc Thúy
Kiều nhún nhường, hạ mình van nài Thúy Vân là hoàn toàn hợp lí.
=> Hành động bất thường đặt trong mối quan hệ với các từ ngữ đặc biệt đã nhấn mạnh
tình thế éo le của Thúy Kiều.
* Luận điểm 2: Lí lẽ trao duyên của Kiều (10 câu thơ tiếp)
- Tình cảnh đặc biệt của Kiều:
"Giữa đường đứt gánh tương tư
Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai"
+ Thành ngữ “đứt gánh tương tư”: tình duyên dang dở của Thúy Kiều -> Thúy Kiều ở
vào tình cảnh không thể khác, đó là lý do để nhờ em.
+ Đứng giữa bên hiếu và bên tình, nàng lựa chọn việc trao duyên.
+ Chữ “mặc”: phó mặc, ủy thác, ủy nhiệm -> Kiều giao toàn bộ trọng trách cho Vân
thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
-> Tâm trạng Kiều đau đớn, xót xa
=> Lời thuyết phục khôn khéo của Kiều dấy lên tình thương và trách nhiệm của người
em đối với chị của Thúy Vân.
- Nhắc lại mối tình đẹp với Kim Trọng:
+ “Quạt ước, chén thề”: những kỉ niệm đẹp, ấm êm, hạnh phúc của Kim và Kiều với
những lời thề nguyền, đính ước gắn bó, thủy chung.
+ “Sóng gió bất kì”: Tai họa bất ngờ ập đến, Kiều bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng
nan, phải chọn giữa tình và hiếu. Kiều đã chọn hi sinh chữ tình.
-> Mối tình Kim - Kiều là mối tình đẹp nhưng mong manh, dễ vỡ
=> Vừa bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều, vừa khiến Vân xúc động mà nhận lời.
- Kiều nhắc đến tuổi trẻ, tình máu mủ và cái chết
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non"
+ "ngày xuân": tuổi trẻ -> Thúy Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước.
+ “Tình máu mủ”: tình cảm ruột thịt của những người cùng huyết thống.
-> Kiều khéo léo thuyết phục Vân bằng tình cảm ruột thịt để em không thể chối từ.
+ “Thịt nát xương mòn”, “Ngậm cười chín suối” -> cái chết đầy mãn nguyện của Kiều.
=> Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời.
+ "Chị dù ... thơm lây" -> Đối với Kiều việc Thúy Vân chấp nhận lời nhờ cậy giống như một sự ban ơn.
=> Lí lẽ của Kiều vừa thấu tình vừa đạt lí khiến Vân không thể không nhận lời. Qua
đó thấy Kiều là một người con gái thông minh, sắc sảo và đầy cảm xúc.
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Sử dụng từ ngữ tinh tế, tài tình
- Sử dụng thành ngữ dân gian, hình ảnh ẩn dụ
- Thủ pháp nghệ thuật liệt kê, ẩn dụ
- Giọng thơ nhẹ nhàng, da diết, giàu cảm xúc. c) Kết bài
- Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật 12 câu thơ đầu bài Trao duyên.
-Nêu cảm nhận của em về đoạn thơ.
Xem thêm: Dàn ý 12 câu đầu thơ Trao duyên
Cảm nhận 12 câu đầu Trao duyên - Mẫu 1
Truyện Kiều trong nền văn học trung đại cũng như trong cả nền văn học Việt Nam
được xem là một kiệt tác văn học có nhiều giá trị. Làm nên giá trị của truyện không
chỉ bởi nghệ thuật đặc sắc mà còn bởi nội dung có nhiều nét tiến bộ, được xem là
bước đi vượt bậc gần hai trăm năm của Nguyễn Du trong giới văn nhân nho sĩ thời
bấy giờ. Với nhân vật trung tâm là nàng Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn cùng với cuộc đời
15 năm sóng gió vô định của nàng, Nguyễn Du đã lột tả được những hiện thực tàn
nhẫn, thối nát của xã hội phong kiến, đồng thời thể hiện các giá trị nhân đạo sâu sắc
khi coi trọng đề cao vẻ đẹp của con người, xót thương cho những số phận nhiều đớn
đau, bất hạnh, được biết là người phụ nữ trong xã hội cũ. Đoạn trích Trao duyên là
một trong những đoạn trích đặc sắc của Truyện Kiều, ở 12 câu đầu tác giả đã nêu bật
được vẻ đẹp sắc sảo, thông minh vốn sẵn tính trời của Thúy Kiều, cũng như cách nàng
mạnh mẽ chống chọi với đợt sóng gió đầu tiên trong cuộc đời.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Thúy Kiều quả là một nhân vật nữ có nhiều bất hạnh trong cuộc đời, những bi kịch
của nàng hầu như bao gồm tất cả những nỗi đau mà người phụ nữ trong xã hội cũ phải
gánh chịu. Từ nỗi đau thân phận bọt bèo không có tiếng nói, bị cường quyền chèn ép
dẫn tới nhà tan cửa nát đến nỗi đau bán thân làm lẽ cho người, chịu cảnh chồng chung,
rồi nỗi đau ly biệt với người mình yêu thương, buộc phải từ bỏ tình yêu vì chữ hiếu,
cho đến cuối cùng là nỗi đau bị sỉ nhục, chà đạp ở chốn phong trần, thanh y hai lượt
thanh lâu hai lần đầy tủi hổ. Kiều có một xuất phát điểm cao, con nhà giàu có, sống
trong nhung lụa ngọc ngà lại có một tình yêu đẹp với Kim Trọng.
Vốn mọi sự đang diễn ra êm đềm thì bất ngờ gia biến xảy đến, cha và em của Thúy
Kiều bị vu oan rồi tống giam, tất cả tài sản đều bị tịch thu. Đối diện với biến cố lớn
như thế, Kiều không còn cách nào khác chỉ đành nhờ người mối mai bán mình, để
kiếm tiền cứu cha và em, đồng thời bội ước với Kim Trọng. Sau khi đã giải quyết
xong chuyện nhà, cha và em được cứu, Kiều mới quay lại nhìn về tình yêu dang dở
của mình. Nhớ đến Kim Trọng, Kiều lại càng đau khổ và dằn vặt trong suy nghĩ vì
nghĩ bản thân đã làm chuyện có lỗi với người yêu. Trong lúc ấy nàng hết lòng suy
nghĩ chuyện tạ lỗi, cũng như bù đắp cho chàng Kim, để trả món nợ duyên tình gãy
gánh, cuối cùng nàng mới nghĩ ra một cách là nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với
Kim Trọng, nhờ em gái giúp mình chăm sóc đỡ đần chàng Kim một đời. Tuy nhiên
việc gán ghép, tình chị duyên em ấy không phải là dễ mở lời, đặc biệt khi Thúy Vân
còn quá nhỏ để hiểu hết những nỗi đau khổ, dằn vặt trong lòng Kiều. Biết vậy Thúy
Kiều đã gọi em gái đến và lựa lời nhờ cậy rằng:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Kiều rất khéo léo khi sử dụng hai chữ “cậy” và “chịu”, “cậy” mang nghĩa nhờ cậy, thể
hiện tấm lòng tha thiết, mong đợi được giúp đỡ, gần như là khẩn khoản xin Vân nhận
lời. Trong khi đó “chịu” lại ngầm thể hiện sự khó khăn của việc trao duyên cho Vân,
cũng như chuyện Vân đồng ý là không dễ dàng, bộc lộ sự thấu hiểu và khó xử của
Thúy Kiều khi phải mở lời cậy nhờ em gái. Tiếp đến hành động bảo em gái ngồi lên
ghế sau đó cúi lạy lại cũng là một cử chỉ tinh tế, Kiều làm vậy không chỉ muốn đưa
Thúy Vân vào thế không thể từ chối lời chị mà còn bày tỏ tấm lòng thành của nàng
trước Thúy Vân, rằng bản thân đã nợ em gái một lần ân nghĩa mà cả đời cũng không
thể trả, chỉ mong rằng sau lần vái lạy, mong Vân hãy nể tình ruột thịt mà đồng ý giúp đỡ.
Thấy những hành động trang trọng, khác thường của chị, bản thân Thúy Vân dù chưa
hiểu chuyện gì thế nhưng mặc nhiên là nàng khó có thể mở lời từ chối, bởi lẽ Kiều
dường như là đang ngầm cầu xin Thúy Vân giúp đỡ, lấy thân phận của người chịu ơn
nói với em gái. Sau đó nữa Kiều đã thẳng thắn nói với Vân”
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
Giọng điệu quyết đoán, mạnh mẽ khẳng định mối duyên với Kim Trọng đã “đứt gánh”,
mong rằng từ nay Vân sẽ thay mình “chắp mối” duyên tình dang dở. Kiều cũng thấu
hiểu nỗi băn khoăn và khó xử của Thúy Vân, nàng lại ôn tồn, lặng lẽ kể lại câu chuyện
tình yêu tốt đẹp của mình với chàng Kim:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”,
Câu thơ bộc lộ tình yêu sâu sắc, lời hẹn thề ước định chung thân, mối nhân duyên tốt
đẹp chỉ chờ ngày đơm hoa kết trái. Thế nhưng đớn đau thay “Sự đâu sóng gió bất
kỳ/Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?”. Đứng giữa chữ hiếu và chữ tình Kiều đành
chọn gia đình, chọn bội ước, từ bỏ tình yêu để cứu cha và em, dù đau xót nhưng Kiều
cũng chẳng thể làm khác. Nói đến đây, phận là em, là con trong gia đình hẳn Thúy
Vân lại càng thấu hiểu và thông cảm cho những nỗi khổ tâm của chị mình, có lẽ lòng
nàng cũng dần xuôi theo ý định của Thúy Kiều. Nhưng Kiều không dừng lại ở đó,
nàng cũng bộc lộ tấm lòng thông cảm cho Thúy Vân, khi thấy em phải thay mình lấy
Kim Trọng, một người mà cô không thương, phải gắn bó cả cuộc đời mà không nắm
chắc được hạnh phúc điều ấy được thể hiện trong câu nói của Thúy Kiều rằng “Ngày
xuân em hãy còn dài”. Ý chỉ Thúy Vân cuộc đời tươi đẹp hãy còn đang chờ ở phía
trước, dù rằng có thể khởi đầu này không phải là khởi đầu mà nàng hoàn toàn mong
đợi, thế nhưng ít ra có lẽ nàng vẫn được một chút bình yên. Câu thơ cũng thể hiện nỗi
chạnh lòng xót xa của Kiều khi đối diện với thực tại, khi phải trao duyên cho em gái,
tuổi xuân của Vân còn dài, vậy của nàng chẳng lẽ ngắn, ấy thế nhưng cuối cùng nàng
vẫn phải chịu bất hạnh, phải rời xa quê hương, chịu cảnh làm thiếp thất, nói không đau,
không sầu khổ thì là nói dối. Trong nỗi đau đớn, dằn vặt ấy Kiều tiếp tục nỉ non từng lời với Thúy Vân:
“Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Câu thơ là những lời khẩn khoản, thiết tha nhất mà Kiều dành cho em gái, cũng là
biện pháp hữu hiệu cuối cùng để khiến Thúy Vân mềm lòng đồng ý lấy Kim Trọng.
Kiều đã khéo léo đánh vào tâm lý của em gái, khi đề cập đến tình chị em ruột thịt,
mong em gái thương xót mình mệnh khổ. Không chỉ thế lời Kiều ai oán, thê lương,
càng đem đến hiệu ứng dường như ấy là lần cuối cùng Kiều nhờ vả Thúy Vân. Mà chỉ
khi hoàn thành chuyện này, thì lòng nàng mới thôi day dứt, mới có thể yên tâm rời đi,
cho dù “thịt nát xương mòn” hay về nơi chín suối Kiều cũng chấp nhận. Chỉ mong
rằng có thể trả hết nợ ân nghĩa thế gian, trước là cha mẹ, sau là người yêu mà Vân là
người duy nhất Kiều có thể tin tưởng và nhờ cậy chuyện trọng đại như này. Cũng hy
vọng rằng chàng Kim Trọng một khi quay lại, không tìm thấy nàng thì cũng bớt đi
phần đau khổ, mà có thể bắt đầu cuộc sống mới với Thúy Vân, một đời hạnh phúc ấm êm.
Mười hai câu đầu của đoạn trích Trao duyên đã bộc lộ rõ tính cách, cũng như sự thông
minh, quyết đoán, khéo léo và mạnh mẽ của Thúy Kiều trong công cuộc thuyết phục
trao duyên cho em gái, trả món nợ ân tình với Kim Trọng. Đồng thời cũng bộc lộ
những nỗi đau khổ, dằn vặt sâu sắc của nàng khi bên này vừa từ bỏ tình yêu, chấp
nhận bán thân làm lẽ để cứu cha, thì ngay sau đó lại phải nhọc lòng suy nghĩ việc bù
đắp, tạ lỗi với chàng Kim, vẻ đẹp nhân cách đáng quý, sống có tình có nghĩa trước sau
của Thúy Kiều, xứng với cái danh tài sắc vẹn toàn của nàng.
Cảm nhận của em về 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 2
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những kiệt tác nổi bật góp phần làm nên
diện mạo, đánh dấu sự phát triển đến đỉnh cao của của văn học trung đại Việt Nam.
Tác phẩm với 3254 câu thơ lục bát viết về cuộc đời chìm nổi của người con gái tài sắc
nhưng bạc mệnh Thúy Kiều. Nhiều đoạn trích của thi phẩm được đưa vào chương
trình SGK để dạy và học trong nhà trường, Trao duyên là một trong những đoạn trích
như vậy. Trích đoạn đã tái hiện lại bi kịch tình yêu đầy đau đớn Thúy Kiều, qua đó thể
hiện sự trân trọng, đồng cảm của tác giả Nguyễn Du với tình duyên dang dở và cuộc
đời đầy sóng gió của nàng Kiều. Mười hai câu đầu đoạn trích đã thể hiện rõ điều đó.
Thúy Kiều và Kim Trọng tình cờ gặp nhau, họ đem lòng cảm mến và dành cho nhau
tình cảm đặc biệt. Vượt qua những quy định của lễ giáo phong kiến, Kiều “xăm xăm
băng lối vườn khuya một mình” để tới gặp mặt, kết tóc thề nguyện cùng Kim Trọng.
Tình yêu của họ là nhân duyên tiền định, vốn sẵn đẹp đẽ và có thể dài lâu, thế nhưng,
phận đời trớ trêu, dòng người xô đẩy, Kiều đành ngậm ngùi quyết định "trao" lại mối
duyên của mình cho Thuý Vân. Sau một đêm trắng suy nghĩ, Kiều chua xót nhờ cậy em:
“Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
"Cậy" ở đây là cậy nhờ, là lời thỉnh cầu, trông mong được giúp đỡ. Từ "cậy" chứa
đựng cả niềm hy vọng, tin tưởng của người nhờ vả vào người được nhờ. Từ "chịu" thể
hiện sự khẩn thiết, Kiều như đang van nài, cầu xin em, đặt Thuý Vân vào tình thế khó
lòng từ chối. Hành động “lạy”, “thưa” kết hợp cùng lời nói của Kiều cho thấy được sự
khéo léo, chân thành của nàng khi nhờ cậy em. Kiều là chị, Vân là em, lẽ thường thì
chị chẳng lạy thưa em bao giờ nhưng trong tình cảnh này Kiều lại làm như vậy lại
mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc bởi lúc này Kiều đang là người nhờ vả, đang chịu ơn
em. Nàng không muốn phụ tấm chân tình của Kim Trọng nhưng cũng hiểu rằng việc
trao lại mối duyên dang dở sẽ mang đến sự khó xử, thiệt thòi cho Thúy Vân.
Tình yêu vốn là tình cảm thiêng liêng, khi yêu chẳng ai muốn san sẻ tình yêu của
mình cho người khác, thế nên hành động trao duyên của Thúy Kiều cũng không hề dễ
dàng. Nàng mở lời cậy nhờ em, mong em nhận lời, nàng tâm sự cùng Vân:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.”
Trong nỗi đau xót của tình yêu đứt gánh, keo loan ngỡ trăm năm vậy mà đành nhớ em
“chắp mối”. Hai tiếng “mặc em” cất lên là cả sự tin tưởng, phó mặc cho Vân, mong
cầu Vân sẽ cùng chàng Kim kết lại keo loan bền chặt ấy. Trong nỗi đau chia sẻ tình
yêu, bao kỉ niệm tươi đẹp của khoảng thời gian hạnh phúc ùa về trong tâm trí. Điệp từ
“khi” kết hợp với các cụm động từ “gặp chàng Kim”, “quạt ước”, “chén thề” cho thấy
tình yêu bền chặt, thắm thiết của Kiều- Kim. Nhưng hiện thực phũ phàng, trêu ngươii,
tình yêu đành dang dở vì sóng gió ập đến với gia đình nàng. Kiều đau đớn bởi tình yêu
tan vỡ, thân phận trớ trêu:
"Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"
Để trọn đạo làm con, Kiều buộc phải bán mình chuộc cha và em, gìn giữ ấm êm gia
đình. Giữa chữ tình và chữ hiếu, Kiều chọn chữ hiếu bởi công lao dưỡng dục nghìn
nặng trăm sâu, Kiều nào thể dứt bỏ. Nàng không đành lòng lựa chọn hạnh phúc riêng
mà quay lưng với biến cố của gia đình. Bởi thế mà nàng đau đớn khôn nguôi, tình yêu
đẹp đẽ vừa chớm nở đây thôi lại vội vàng vỡ tan, trai tim nàng như rỉ máu vì tình yêu
tan vỡ, xót xa, đau đớn vô cùng. Cậy nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng
cũng là để lòng nàng được vơi chút bận tâm khi đang trong nỗi mặc cảm của một kẻ
phụ tình. Hết lòng thuyết phục Vân, nàng mong em gái mình có thể hiểu và chấp nhận
lời thỉnh cầu, dẫu biết điều đó thật khó cho Vân:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"
Bằng sự thông minh, suy nghĩ thấu đáo của mình, Kiều đã khéo léo đưa ra ba lý lẽ để
thuyết phục Vân. Trước hết là Vân có thanh xuân, Vân còn trẻ, Vân sẽ có thời gian để
cùng Kim Trọng tìm hiểu mà kết tóc se duyên trong đoạn cuộc đời còn lại. Hơn nữa,
Kiều và Vân lại là chị em ruột thịt, Vân nào có thể đành lòng nhìn chị khổ đau, dằn
vặt trong mặc cảm tội lỗi phụ bạc tình yêu. Cuối cùng, nàng nói về cái chết của bản
thân, một niềm vui tìm thấy trong nỗi đau của cái chết “Ngậm cười chín suối hãy còn
thơm lây”, nếu được Vân chấp thuận thì dù có phải chết, Kiều cũng an lòng mà nhắm
mắt. Từng lời lẽ của Thuý Kiều thốt ra đều hợp lẽ, hợp tình, Kiều dằn lòng gặm nhấm
nỗi đau thương, chịu thua thiệt về bản thân mình, chỉ mong Vân giúp mình cùng Kim
Trọng kết duyên để bù đắp cho người mình thương. Mặc cảm tội lỗi dường như đang
bao vây lấy tâm trí và trái tim nhỏ bé nơi Kiều. Lời nhờ cậy và thuyết phục Vân của
Thuý Kiều thật cảm động, chân thành , tha thiết biết bao.
Bằng 12 câu thơ lục bát cùng cách sử dụng ngôn từ tinh tế, chọn lọc, Nguyễn Du đã
khắc hoạ thành công bi kịch tình yêu và tâm trạng đau đớn của Thuý Kiều trong cơn nguy nan của số phận.
Cảm nhận 12 câu đầu Trao duyên - Mẫu 3
Truyện Kiều là một kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho nền văn
học Việt Nam. Tác phẩm mang nhiều giá trị nhân đạo khiến độc giả phải suy ngẫm.
Một trong những đoạn trích nổi bật lột tả rõ nét nội tâm nhân vật Thúy Kiều chính là
đoạn trích “Trao duyên.”
Khi gia đình gặp nạn, để giải cứu cho cha và em trai, Thúy Kiều buộc phải trao lại mối
duyên của mình cho Thúy Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
“Cậy, lạy, thưa” là những từ mà người ở vai dưới nói chuyện với người vai trên.
Những từ ngữ này thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của Kiều dành cho người em gái mà
mình nhờ vả. Dù mình ở vai trên nhưng Kiều không dùng sự ra lệnh đối với em. Tuy
trong lòng cô nhiều suy nghĩ, trăn trở nhưng vẫn bình tĩnh xử lí, sắp xếp, thu vén chuyện của mình.
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?"
Kiều trình bày với em về hoàn cảnh của mình, về mối tình dang dở của mình với
chàng Kim và mong em hãy thấu hiểu cho nỗi khổ của mình mà chấp nhận mối tơ
thừa của chị. Hai người đã có những hẹn thề gắn bó dài lâu nhưng nay Kiều không giữ
lời hứa đó. Bởi lẽ, nàng không thể hoàn thành cả “chữ hiếu” lẫn “chữ tình”; nên “chữ
tình” này, xin gửi lại để Vân thay chị thực hiện. Từng lời nói của Kiều là nỗi đau khổ,
day dứt mà nàng đang phải trải qua. Nào ai muốn nhìn thấy cha và em trai bị oan
trong tù? Nào ai muốn rời bỏ người mình yêu thương khi tình cảm rất mặn nồng? Ta
càng thêm thương xót cho nàng Kiều bạc mệnh.
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vân còn trẻ, đang trong độ tuổi xuân thì, chàng Kim lai là tài tử hiếm có, nếu Vân
thay Kiều đến với Kim Trọng thì nàng Kiều sẽ yên tâm mà ra đi vì dù sao đi chăng
nữa Vân với Kiều cũng cùng chung giọt máu. Để cảm kích sự đồng ý của Vân, dù cho
Kiều có ‘thịt nát xương mòn” nơi đất khách quê người nàng cũng yên tâm mà ra đi,
không còn suy tư trăn trở.
Đoạn thơ gây ám ảnh người đọc bởi nó làm hiện ra trước mắt chúng ta một bức tranh
như thực về nàng Kiều trọng tình, trọng nghĩa, ta phần nào hiểu thêm, đồng cảm,
thương xót cho số phận một cô gái “hồng nhan bạc mệnh.”
Điểm nổi bật làm nên thành công vang dội của tác phẩm đó chính là thể thơ lục bát
dân gian của dân tộc. Đoạn trích sử dụng những câu cảm thán đã khắc họa thành công
tâm trạng, nỗi lòng của Thúy Kiều khi trao mối duyên của mình cho Thúy Vân.
Đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung đã góp một phần không nhỏ vào việc làm
đa dạng nền văn hóa dân tộc. Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn trích “Trao duyên”
cùng tác phẩm Truyện Kiều vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của nó và để lại nhiều ấn
tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Cảm nhận 12 câu đầu Trao duyên - Mẫu 4
Cả cuộc đời trải qua biết bao thăng trầm sóng gió, Nguyễn Du đã đúc kết kinh nghiệm
quý báu làm nên tiếng vang lớn cho hậu thế qua tác phẩm “Đoạn trường tân thanh”
hay còn gọi là Truyện Kiều. Dưới ngòi bút tài hoa, một xã hội thê lương tàn bạo bị chi
phối bởi đồng tiền, đẩy con người đến tận cùng đau khổ được lột tả khéo léo thông
qua thân phận người phụ nữ đó là nàng Thúy Kiều. “Trao duyên”, tuy chỉ là đoạn trích
ngắn nhưng đã phản ánh những bất hạnh chân thực nhất trong cuộc đời của Thúy Kiều.
Đây là đoạn trích vô cùng ấn tượng và đặc sắc trong toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du.
Thúy Kiều với Kim Trọng, một mối tình giữa quân tử và giai nhân tưởng đẹp đẽ
nhưng cũng chỉ là hoa trong gương, trăng dưới nước. Gia biến ập đến, nàng Kiều phải
buộc lòng từ bỏ đoạn duyên thề hẹn chưa kịp “phỉ nguyền” với Kim Trọng để đi lấy Mã Giám Sinh.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Vì đạo hiếu, Kiều bán mình chuộc cha thế nhưng nghĩ đến người mình yêu lại không
đành lòng để chàng đau đáu ngóng trông, lại đành lòng trao duyên cho Thúy Vân. Đó
là nỗi đau thương cắt từng khúc ruột, nỗi đau âm ỉ chua xót trải dọc suốt 12 câu đầu
của đoạn trích “Trao duyên”. Mở đầu đoạn, khung cảnh trở nên não nề và trầm lắng
khi Thúy Kiều mở lời cậy nhờ Thúy Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Thúy Kiều, trên cương vị một người chị sao có thể cậy nhờ, lạy thưa với em? Xã hội
thời xưa rất coi trọng tôn ti nhưng Nguyễn Du lại để Thúy Kiều sử dụng kính ngữ với
Thúy Vân, đó là dụng ý vô cùng tài hoa của tác giả. Nguyễn Du sử dụng từ “Cậy” gửi
gắm trong đó là sự tin tưởng, trân trọng và cả lòng biết ơn của Thúy Kiều đối với em
gái khi gửi gắm lại mối duyên dang dở với Kim Trọng. “Cậy em em có chịu lời”, câu
thơ vừa mang ý khẩn thiết cầu xin, nhờ vả trịnh trọng nhưng lại đặt Thúy Vân ở thế
khó xử trước thỉnh cầu của người chị, đó như là sự gượng ép, càng khẳng định mối
tình thâm của Thúy Kiều với Kim Trọng, không muốn vì chuyện của mình mà phụ
lòng chàng Kim. Thúy Kiều hạ thấp vai vế của mình, đứng trên vị trí của người đi nhờ
cậy “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. “Lạy” là hành động tôn kính, ghi ân thường chỉ
có cha mẹ, thầy giáo mới có thể nhận, nhưng Kiều lạy em gái mình, đó là cái lạy đối
với ân nhân. “Lạy rồi thưa”, ngôn ngữ sử dụng vô cùng trang trọng, như cái lễ ràng
buộc khiến Vân không thể chối từ.
Sau khi sử dụng hàng loạt các hành động, ngôn ngữ trang trọng như vậy, Thúy Kiều
mới giãi bày câu chuyện của mình với Thúy Vân, mong rằng em có thể thay chị yêu
thương, chăm sóc, chắp tiếp đoạn duyên với Kim Trọng:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Duyên tình đến nửa chừng đứt đoạn, thành ngữ “đứt gánh tương tư” như một lời than
cay đắng tưởng niệm mối tình không trọn. Sóng gió đã cướp đi hạnh phúc đáng lẽ
thuộc về Kiều, để nàng chơ vơ giữa đoạn đường còn tình cảm, còn nhung nhớ ngập
ngụa những khổ đau thống thiết khi phải xa lìa yêu thương. Chữ “tương tư” như tiếng
sóng ngầm khắc khoải, day dứt mang theo cả tuyệt vọng. Tác giả còn sử dụng điển
tích “keo loan” để mong muốn duyên sau với Thúy Vân sẽ bền chặt, mong rằng Thúy
Vân sẽ bằng lòng nhận lấy đoạn duyên này. Thúy Kiều biết, đó là “mối tơ thừa”, là
chuyện tình dang dở của mình nên em gái sẽ có phần thiệt thòi nên mới thốt lên từ
“mặc”, ý rằng để Vân được tự mình định đoạt.
Gửi duyên cho Vân thế mà nỗi nhớ mong về ngày xưa năm cũ cứ thế mà trỗi dậy
trong lòng Kiều, ký ức như một bộ phim tua lại, rõ ràng tràn đầy nhung nhớ giữa bể khổ trần ai:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Từ “khi” điệp lại đến ba lần, mở ra từng mốc thời gian Thúy Kiều gặp được Kim
Trọng, tất cả những kỷ niệm, vui mừng, đính ước, thề hẹn đều rõ ràng đến vậy. “Ngày
quạt ước”, “đêm chén thề”, ngày và đêm, không gian và thời gian cứ như tuần hoàn
liên tục, đó là khi họ bầu bạn đối thơ, ngắm trăng, uống rượu, trao nhau vật đính
ước… Có bao giờ Kiều quên được điều đó, nỗi nhớ ấy như con dao khứa sâu, chỉ có
thể lần cuối nhớ lại trong ký ức đẹp nhất, khi Kiều vẫn còn chưa thuộc về Mã Giám
Sinh. Chắc gì về sau còn được cảm thấy hạnh phúc khi nhớ lại, có khi nó còn trở
thành niềm day dứt, khổ sở và bi thương của nàng Kiều.
Tiếp đó, Nguyễn Du khéo léo để Kiều nhắc lại “cơ sự cho nên nỗi này” để mối tình
đẹp như hoa mộng của Kiều phải chia xa:
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
“Sóng gió” ấy là phong ba ập lên đầu gia đình Kiều, cha và em bị bắt còn Kim Trọng
phải về quê chịu tang, hai ngả hai nơi, một bên là hiếu, một bên là tình, thật vô cùng
khó xử. Bán mình chuộc cha, phụ tình cảm thủy chung bấy lâu nay mà người thương
hết lòng dành cho nàng. Vì tình phụ hiếu, sau này sao có thể ngửa mặt nhìn đời, đối
diện với cha mẹ trong nhà, với dòng họ, tổ tiên. Làm thế nào, cũng khó có thể vẹn
toàn. “Hai bề vẹn hai” đó là điều khó khăn nhất trong sự nguy ngập với tính mạng của
cha và em. Đó mãi là câu hỏi đau đớn xoáy sâu vào lòng Kiều, nàng biết, không có
cách nào vẹn cả đôi đường. Nỗi đau ấy đang ngày đêm làm Kiều khổ sở, Kiều như
phơi bày ruột gan, bộc bạch tất cả nỗi niềm mong rằng Thúy Vân có thể hiểu lòng chị
mà giúp cho tình duyên này không đến mức phải phụ lòng.
Hơn thế, Thúy Kiều còn dùng lý lẽ thích đáng để thuyết phục Vân có thể nhận lời:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Phải, Thúy Vân còn trẻ, năm tháng dài rộng, cho dù tình cảm với Kim Trọng khuyết
thiếu có thể bù đắp còn hơn người chị đã rời xa. Từ “xót” cùng với cụm từ “tình máu
mủ” như chạm vào tình cảm huyết thống mà Thúy Vân có với Thúy Kiều, của chị
cũng là của em, chúng ta là máu mủ ruột thịt hãy thương lấy nhau. Mong rằng Thúy
Vân niệm tình máu mủ yêu thương lo toan bao nhiêu năm mà thay chị gánh vác lời thề
“nước non” với Kim Trọng. Lý do Kiều đưa ra vừa hợp lý vừa hợp tình.
Không những vậy, nỗi lo sợ về cái chết không còn có cơ hội trở lại càng trở thành lý
do thuyết phục hơn với Thúy Vân:
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Việc trả nghĩa trả tình cho Kim Trọng quan trọng hơn cả tính mạng của Kiều. Khi chết,
con người trở về với cát bụi, không còn liên quan đến thế gian này nữa nhưng tâm
nguyện của họ vẫn còn vang vọng đâu đây. Tâm nguyện của Kiều là mong mỏi em
mình nối duyên với chàng Kim, chỉ có vậy nàng mới có thể “ngậm cười chín suối”.
Câu thơ như là lời trăn trối của Kiều sợ rằng sau này không thể gặp lại được Kim
Trọng. Cũng vì lấy cái chết, lấy tâm nguyện của một kẻ sắp chết nên lời thỉnh cầu
càng thêm nặng khiến cho Thúy Vân không thể khước từ.
Tuy rằng lấy tên là “Trao duyên” nhưng đó lại là cái duyên ép uổng mà Thúy Kiều để
lại cho em mình, đó là nỗi đau bất đắc dĩ vì chọn đạo hiếu cao hơn tình yêu mà Kiều
phải chấp nhận. Xuyên suốt đoạn trích là sự oan ức, thống khổ, không nỡ chia lìa của
Thúy Kiều. Cho dù để lại đoạn duyên chắp nối cho em, âu cũng là điều không đành lòng.
Bằng nghệ thuật độc đáo, ngôn từ bậc thầy, giọng thơ đi sâu vào lòng người, Nguyễn
Du đã lột tả trọn vẹn nỗi đau và câu chuyện của Thúy Kiều khi gửi gắm mối duyên
với Kim Trọng trong 12 câu thơ đầu đoạn trích “Trao duyên” (Đoạn trường tân thanh).
Đó còn là tiếng kêu than về một xã hội thối nát, làm cuộc sống của người dân vô tội
điêu đứng đồng thời là sự bất bình, lòng thương cảm cho thân phận của người phụ nữ
đương thời mỏng manh như bèo nước, chịu nhiều oan trái khổ đau.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 5
Đại thi hào Nguyễn Du là một thiên tài văn học, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
Tên tuổi của Nguyễn Du gắn liền với "Truyện Kiều", một trong những tác phẩm nổi
tiếng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Được viết dựa trên cốt truyện của "Kim Vân
Kiều truyện", "Truyện Kiều" phản ảnh sinh động xã hội thời đại của tác giả, một xã
hội mục nát bất công, nhẫn tâm dồn ép nhân dân vào bước đường cùng. Tuy chỉ là
một đoạn trích ngắn từ "Truyện Kiều", song "Trao duyên" vẫn thể hiện đầy đủ chủ đề
của tác phẩm. Sống trong thời đại mà con người bị đồng tiền làm băng hoại đạo đức,
nhân vật chính Thúy Kiều bị ép phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha và em
trai, phải từ bỏ tình cảm của mình với Kim Trọng, trao lại duyên tình dang dở ấy cho
Thúy Vân dù trong lòng có bao nỗi đau xót. Nỗi đau ấy được khắc họa rõ nét nhất qua
mười hai câu đầu của đoạn trích:
"Cậy em em có chịu lời,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
Nhan đề đoạn trích là "Trao duyên" nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc
mới hiểu được, "trao duyên" ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Trước phút dấn thân vào quãng
đời lưu lạc, Thúy Kiều nghĩ đến Kim Trọng, nghĩ đến việc mình đã không giữ trọn lời
đính ước với người yêu, băn khoăn thức trắng đêm nghĩ cách trả nghĩa cho chàng,
cuối cùng đành nhờ cậy em là Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng.
Mở đầu đoạn thơ là lời thỉnh cầu chân thành tha thiết của Kiều:
"Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa."
Nguyễn Du là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, điều đó có thể dễ dàng thấy
được qua hai câu thơ trên. "Cậy" và "nhờ" đều có nghĩa là nhờ vả, xin sự giúp đỡ của
một ai đó, nhưng thay vì sử dụng từ "nhờ", Nguyễn Du đã khéo léo chọn từ "cậy", bởi
vì từ "cậy" này có nghĩa là nhờ với tất cả sự hi vọng và tin tưởng, nét nghĩa này từ
"nhờ" không thể hiện được. Cũng như vậy, thay vì từ "nhận", tác giả lại dùng từ
"chịu" bởi vì khác với từ "nhận", từ "chịu" không chỉ thể hiện sự đồng ý, nhận lời mà
còn kèm theo ý bắt buộc, khiến cho người được nhờ vả khó nói lời từ chối. Cách tác
giả dùng từ rất chính xác, bởi lẽ đây là chuyện rất quan trọng đối với Kiều, nàng hi
vọng Thúy Vân đồng ý, nên lời van nài cũng có chút ép buộc. Tuy Kiều cũng hiểu
việc nhờ Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng là hết sức vô lí, nhưng nàng vẫn quyết
tâm muốn trả nghĩa cho người yêu, bỏ qua lẽ thường, nàng "lạy" và "thưa" đối với em
mình. Kiều dùng chính lễ nghi lạy trước thưa sau, thay bậc đổi ngôi này để ràng buộc
Vân. Trong tình thế vừa tình vừa lễ như vậy, Vân sao có thể không nhận lời?
Lạy xong, Kiều mở lời giãi bày hoàn cảnh của mình với em, nói ra ý định muốn em
kết duyên với Kim Trọng:
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em."
Thành ngữ "đứt gánh tương tư" có ý chỉ tình yêu dang dở. Tình cảm của Kiều với Kim
Trọng chưa kịp tới hồi viên mãn thì sóng gió đã ập tới, đành phải dở dang, Kiều đau
khổ biết mấy, nhưng đành ngậm ngùi trao lại cho em. Nàng dùng điển tích về "keo
loan" để thể hiện ý định muốn Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng. Không những thế,
nàng cũng bày tỏ sự ray rứt đối với em, đem mối tình sâu đậm của nàng biến thành
một mối "tơ thừa" giao phó cho Thúy Vân, "mặc" cho Thúy Vân định liệu.
Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa
của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về khiến nàng đau đớn khôn
nguôi, nàng không dằn được lòng mình, tâm sự với em:
"Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề."
Từ "khi" được lặp lại ba lần gợi cho người đọc nghĩ đến tình cảm sâu nặng giữa Kiều
với chàng Kim, nhớ đến những kỉ niệm đẹp của hai người. Với nghệ thuật liệt kê
"ngày quạt ước", "đêm chén thề" những kỉ niệm đẹp đẽ ấy trở nên sống động hơn
trong lòng Kiều. Những kí ức ấy vốn rất ngọt ngào, giờ đây khi nhớ đến lại trở thành
một nỗi đau không thể nào nguôi trong lòng nàng, đặc biệt là khi nghĩ đến nguyên nhân của nỗi đau này:
"Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai."
"Sóng gió bất kì" là khi Kim Trọng phải về quê chịu tang chú, gia đình Kiều lại bị
mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, cách duy nhất để cứu họ là nàng phải bán mình, đồng
nghĩa với việc nàng phải làm trái với lời hẹn ước trước kia với người yêu. Hoàn cảnh
trái ngang quá, giữa hai lẽ "hiếu" và "tình", Kiều chỉ có thể chọn một. Nàng dằn vặt
nội tâm, day dứt đau đớn, cuối cùng đành hi sinh tình yêu của mình để làm tròn chữ
hiếu. Nàng tỏ nỗi lòng với Vân, dùng nỗi đau của mình để thuyết phục Vân, hy vọng
em mình có thể thấu hiểu cho và chấp nhận yêu cầu của mình.
Đã tỏ bày nỗi lòng nhưng vẫn sợ Vân không đồng ý, Kiều lại dùng lí lẽ để thuyết phục em:
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
Để thuyết phục em, Kiều không tiếc viện đến tình máu mủ, cùng với cả cái chết. Các
thành ngữ "tình máu mủ", "lời nước non", "thịt nát xương mòn", "ngậm cười chín
suối" được dùng đến trong bốn câu thơ trên thể hiện sự quyết tâm thuyết phục em cho
bằng được của Kiều. Đối với nàng, việc trả nghĩa cho Kim Trọng còn quan trọng hơn
cả mạng sống, chỉ cần Vân kết duyên với Kim Trọng, cho dù có chết đi thì Kiều cũng
thấy được an ủi, mãn nguyện. Chính sách viện đến tình máu mủ và cái chết ấy đã
khiến cho Vân chẳng thể nào từ chối lời khẩn cầu của nàng.
Với thể thơ lục bát được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, đầy sáng tạo kết hợp với
nhiều biện pháp tu từ, sử dụng sáng tạo thành ngữ dân gian và kết hợp tài tình ngôn
ngữ bác học với ngôn ngư bình dân, Nguyễn Du đã khắc họa rõ nét tâm trạng dằn vặt,
đau đớn khi phải hi sinh chữ tình để làm tròn chữ hiếu của Kiều, khiến hình tượng của
nàng trở nên đẹp đẽ hơn trong lòng người đọc. Đồng thời, qua tác phẩm ta còn có thể
thấy được sự yêu thương, cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du dành cho nhân vật của mình.
Thông qua việc thể hiện nỗi đau của Kiều khi phải trao duyên tình dang dở của mình
cho em, "Trao duyên" mang đến độc giả cái nhìn chân thực về thời đại của tác giả,
một thời đại mà con người bị đồng tiền làm băng hoại đạo đức, bị chính đồng tiền dồn
ép tới đường cùng, không còn lối thoát. Chính giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc ấy
mà đoạn trích, cũng như "Truyện Kiều" đã để lại trong lòng nhiều thế hệ độc giả ấn tượng sâu sắc.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 6
Nhà thơ Nguyễn Du là một đại thi hào của nước ta. Ông đã để lại nhiều bài thơ hay
bất hủ vượt qua mọi sự cách trở của thời gian. Trong đó, Truyện Kiều là một tác phẩm
vô cùng kiệt xuất của tác giả Nguyễn Du.
Trong đó, đoạn trích Trao duyên là một đoạn trích thể hiện tấn bi kịch trong lòng của
nhân vật chính Thúy Kiều khi phải đấu tranh giữa bên hiếu, bên tình. Cuối cùng Thúy
Kiều lựa chọn hy sinh thân mình để bảo vệ hạnh phúc cho gia đình chuộc cha và em
trai ra khỏi chốn lao tù.
Đoạn trích Trao duyên nói lên sự bi kịch của người phụ nữ khi tình duyên dang dở,
nhất là 12 câu thơ đầu trong đoạn trích đã khắc họa thành công sự đau thương trong lòng của Thúy Kiều:
"Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. ……
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
Trong 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên này thể hiện sự đau khổ của Thúy
Kiều khi làm chị nhưng lại phải nhờ vả cậy nhờ em mình. Những lời tâm sự rút gan
rút ruột của Thúy Kiều cho thấy sự đau khổ của người con gái phải rời xa mối tình
tâm đầu ý hợp của mình. Khi tình duyên dang dở Thúy Kiều quyết định từ bỏ tình yêu,
từ bỏ Kim Trọng để bán mình chuộc cha.
Thúy Kiều thương cho Kim Trọng sợ chàng sau khi mãn tang chú quay lại tìm nàng
thì biết tin nàng bặt vô âm tín sẽ đau buồn lắm. Thúy Kiều là người suy nghĩ sâu sắc
nên nàng đã nhờ em gái của mình là Thúy Vân thay nàng chăm sóc an ủi Kim Trọng
theo cách "Tình chị duyên em".
Trong câu thơ "Cậy em em có chịu lời - Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa" thể hiện sự
thành khẩn của Thúy Kiều khi gửi trao tâm nguyện của mình lại cho cô em gái Thúy
Vân. Thể hiện tâm trạng vô cùng đau khổ của cô với việc lựa chọn này.
Trong mỗi câu thơ Thúy Kiều như đứt từng khúc rút để nói lại với em gái của mình.
Thúy Kiều đã dùng những từ ngữ vô cùng sâu sắc như "Giữa đường đứt gánh tương
tư" thể hiện sự bất lực không còn con đường nào lựa chọn, nên buộc lòng cô phải nhờ cậy tới Thúy Vân.
Dù muốn trao duyên của mình cho em gái nhưng trong lòng Thúy Kiều đè nặng
những đau đớn, tương tư trong lòng. Bởi những kỉ niệm yêu thương ngọt ngào vẫn
còn khắc cốt ghi tâm trong lòng Thúy Kiều. Kim Trọng là người con trai mà Thúy
Kiều thật lòng yêu thương, muốn trao gửi cả cuộc đời mình vào tay người con trai đó,
cùng chàng đi tiếp chặng đường tương lai nhưng giờ phải lựa chọn từ bỏ trái tim nàng
đau khổ như chết đi sống lại.
Trong 12 câu thơ đầu của đoạn trích Trao duyên thể hiện sự bất lực, bất khả kháng của
người con gái Thúy Kiều khi mà sóng gió gia đình bất ngờ ập tới khiến gia đình cô
gặp cảnh tai biến không hiểu nguyên do từ đâu. Trước người cha tuổi cao sức yếu và
người em trai tình thân như thủ túc, Thúy Kiều là chị cả nàng không thể thấy cha và
em mình bị giam cầm mà dửng dưng sống hạnh phúc bên người mình yêu, bỏ mặc sự
sống chết của người thân.
Sự lựa chọn của Thúy Kiều cho thấy nàng là người vô cùng sâu sắc, hiếu thuận với
cha mẹ, cũng là người có tình, biết lo lắng cho người khác, luôn đặt mình vào hoàn
cảnh của người khác để nghĩ cho người đó. Trong khi đó bản thân nàng tương lai như
thế nào nàng cũng không rõ, con đường phía trước mù mịt, mịt mờ nhưng nàng cũng
cam tâm tình nguyện ra đi vì người thân.
Trong những câu thơ tiếp theo:
"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề"
Thúy Kiều kể lại những kỉ niệm thời còn hẹn hò giữa nàng và Kim Trọng, mỗi câu thơ
đều thể hiện sự tâm đầu ý hợp giữa hai người. Một mối tình trai tài gái sắc vô cùng
đẹp đôi, xứng đôi vừa lứa. Nhưng vì sóng gió, tai biến gia đình mà Thúy Kiều buộc lòng phải từ bỏ.
Thúy Kiều mong Thúy Vân vì tình cảm chị em máu mủ mà nhận lời nhờ cậy của mình,
chăm sóc Kim Trọng thay mình, yêu thương chàng tiếp tục cùng chàng sánh duyên
thay cho mình. Điều này cho thấy sự tình nghĩa của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng là vô cùng sâu sắc.
Chỉ với 12 câu thơ nhưng tác giả Nguyễn Du đã khắc họa thành công tâm trạng đau
đớn của Thúy Kiều khi phải dứt tình ra đi, để giữ trọn chữ hiếu với gia đình, cứu
những người thân của mình. Qua đó, nó cũng cho người đọc thấy được bi kịch nghiệt
ngã của người con gái tài sắc vẹn toàn như Thúy Kiều nhưng phải chịu đau khổ, trong cuộc sống.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 7
Nhắc đến Nguyễn Du là người ta nhớ ngay đến ông là một trong những đại thi hào vô
cùng xuất sắc của dân tộc. Nguyễn Du cũng đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học
đồ sộ với rất nhiều các tác phẩm hay và đặc biệt trong đó không thể không nói đến
Truyện Kiều. Tác phẩm nói về cuộc đời của nàng Kiều với biết bao nhiêu cay đắng tủi
hờn. Đoạn trích Trao duyên là một phân đoạn đặc sắc của tác phẩm với 12 câu đầu
thấm đẫm nước mắt về nghĩa về tình của Thúy Kiều khi phải trao duyên cho em gái Thúy Vân.
Có thể thấy đoạn trích nằm trong phần hai của bộ thơ kể về chuỗi ngày biến động
cũng như lưu lạc của Thúy Kiều. Với mười hai câu thơ đầu được xem chính là phần
mở màn cho chuỗi ngày đầy xót thương ấy. Đồng thời bài thơ cũng còn là tiếng lòng
tha thiết, cắt cứa và như thẳm sâu Thúy Kiều gửi cậy lại cho Thúy Vân, Thúy Kiều đã
nhờ em viết tiếp câu chuyện tình yêu Kim Kiều thay mình.
Ngay từ phần mở đầu đoạn trích độc giả đã thấy được một nghịch cảnh vô cùng trớ
trêu, chưa từng xuất hiện trong đời thực mà khiến cho chúng ta nỗi đau đến nhói lòng.
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa
Nhân vật Thúy Kiều là chị ấy thế nhưng lại cúi xuống mà “cậy”, lại “thưa” với em gái
của mình – Thúy Vân? Nguyễn Du cũng đã sử dụng các từ ngữ mang sắc thái vô cùng
trang trọng thường chỉ được dùng để đối đáp, gửi thưa với các bậc bề trên thế nhưng ở
đây chính Thúy Kiều lại dùng ngỏ lời với em gái của mình. Với hai câu thơ đầu này
cũng đã gợi lên cho người đọc một cảm giác sắp dường như sắp có một chuyện gì
quan trọng. Và phải chăng ở đây thì Thúy Kiều đang mang nặng một nỗi tâm tư tình
cảm khó nói, hay mang một vấn đề nghiêm trọng muốn gửi gắm cho cô em em gái của
mình. Tác giả Nguyễn Du cũng đã khéo léo sử dụng được cặp từ hô ứng tài tình đó là:
“cậy - chịu”, “Ngồi lên - thưa” tất cả như đã thể hiện được một sự lô-gic đầy khéo léo
trong việc thể hiện được lời tâm tình của nhân vật Thúy Kiều rồi sau đó cũng mới thể
hiện được sự thiết tha tỏ tường nhất. Nhân vật Thúy Kiều như đã bày tỏ được nỗi lòng
mong muốn Thúy Vân cũng sẽ cố gắng giúp cho mình vì chỉ có Thúy Vân mới giúp
được Thúy Kiều lúc này và việc này mà thôi.
Không do dự gì mà Thúy Kiều đã bộc bạch cái nỗi lòng đau đáu của mình với Thúy
Vân, nàng kể sự tình, nỗi lòng của nàng ra và mong Thúy Vân có thể hiểu cho mình.
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Sử dụng hình ảnh “Gánh tương tư” ở đây như cũng lại ám chỉ trách nhiệm tình cảm,
đó là một nghĩa vụ chăm sóc yêu thương. Khi mà bị đứt gánh tương tư thì ý của Thúy
Kiều lúc này như đang nói đến tình duyên dang dở. Kiều đã tự trách mình không làm
tròn cái đạo lí nghĩa tình với người thương – Kim Trọng và nàng cũng đang tự dằn vặt
khôn xiết cái trách nhiệm bản thân. Không chỉ dừng lại ở đó thì chính Thúy Kiều cũng
đã thật khéo léo muộn được điển tích xưa là “keo loan” để có thể nói hết được tâm
trạng cũng như nỗi lòng của nàng. Và mục đích cuối là Thúy Kiều mong muốn Vân sẽ
thay mình kết duyên với Kim Trọng, thay mình chăm sóc yêu thương chàng. Sử dụng
hai chữ “mặc em” vô cùng hợp lí và đặc sắc, từ đã cho thấy được một sự thể hiện sự
tin tưởng tuyệt đối của Thúy Kiều khi đem chuyện tình kiếp cả đời giao phó lại cho em gái của chính mình.
Hình ảnh "gánh tương tư" mà Thúy Kiều nói ở đây nó dường như không chỉ là lời hứa
suông đâu mà nó còn bao hàm biết bao nỗi nhọc nhằn, chất chứa được biết bao tình
cảm đánh đổi. Nhân vật Thúy Kiều biết như thế sẽ là ép buộc em, cũng biết là lúc này
nàng sẽ làm khó em cho nên nàng đã nói hết những băn khoăn trong lòng mình ra cho Thúy Kiều.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Nhân vật Thúy Kiều nhớ lại những ký ức của một thời lãng mạn đã qua, đã từng gắn
bó với chàng Kim. Nàng kể lúc quen với Kim Trọng như thế nào và tình nghĩa mặn
nồng ra sao, bao nhiêu câu thề thốt nhưng không may thì chuyện tình đó lại dở dang.
lí do chính bởi nàng vì muốn bảo vệ cha mẹ và em trai mà Kiều đành phụ Kim Trọng.
Khi đứng giữa cân đo giữa đạo làm con và người mình thương Kiều thì nàng cũng
đành xé lòng làm trọn chữ hiếu mà trong tâm cứ xót xa chữ tình. Thúy Kiều đã hi sinh
chữ tình để làm tròn chữ Hiếu, nàng đã sống tròn với trách nhiệm người chị cả gia
đình nhưng mong muốn Thúy Vân có thể thay mình trả nghĩa chữ tình kia với Kim Trọng.
Đưa ra một loạt lí lẽ thuyết phục, Thúy Kiều như nói Thúy Vân rằng em vẫn còn trẻ
và còn có rất nhiều thời gian để vun vén tình cảm. Và Thúy Kiều thực sự muốn hai
người kết nhân duyên và mong cho hạnh phúc đến với Thúy Vân và Kim Trọng.
Không chỉ vậy Kiều cũng viện đến cả tình máu mủ ruột già để có thể có lí lẽ xác đáng
cậy nhờ ân tình Thúy Vân. Thúy Kiều luôn mong rằng em hãy vì chị chị em em nặng
nghĩa tình mà có thể thay nàng để viết nốt lời thề non hẹn biển với chàng Kim.
Nhân vật Thúy Kiều như đang chắt chiu ra từng nỗi đau xót đến tái tê để có thể bày tỏ
cùng với Thúy Vân và mong Thúy Vân có thể hiểu được cho nỗi lòng của chính mình
có thể chia sẻ, đồng cảm.
Chính tấm ân tình trời bể của Thúy Vân Thúy Kiều chắc chắn sẽ luôn khắc tạc ghi tâm thông qua hai câu thơ:
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối, hãy còn thơm lây
Với hai câu này Nguyễn Du đã sử dụng thành ngữ của nhân dân ta: thịt nát xương
mòn, ngậm cười chín suối dường như cũng đã khiến ta liên tưởng đến cái chết, đến sự
đớn đau. Và phải chăng chính Thúy Kiều đã tiên liệu trước được bão giông sắp xảy
đến với cuộc đời mình mà nàng nhanh chóng muốn sắp xếp ổn thỏa mọi thứ. Những
ân tình ngày hôm nay Thúy Vân nhận lời cho Thúy Kiều như đã khắc ghi không bao
giờ quân được. Trong 12 câu đầu của đoạn trích “Trao Duyên” thì tác giả cũng thật tài
tình khi sử dụng thể thơ lục bát kết hợp với các điển tích và thành ngữ dân gian để có
thể bộc lộ tâm trạng Thúy Kiều. Thông qua đây ta nhận xét thấy được đây là hình ảnh
một bức tranh với ngôn từ giản dị, mang được sự gần gũi nhưng tạo được ấn tượng vô
cùng mạnh trong lòng độc giả.
Thông qua 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao Duyên” thì tác giả Nguyễn Du như
dựng lên sự éo le đầy bi ai của cuộc đời người phụ nữ ở trong xã hội phong kiến xưa.
Với 12 câu thơ này cũng đã đủ sức lên án một xã hội đã mục rỗng, thối nát mà ở trong
xã hội đó sức mạnh của đồng tiền như đã dồn nén con người đến tận cùng của nỗi đau
mà không thể nào có thể thoát ra được.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 8
Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc với những tuyệt tác nghệ thuật mà ông đóng
góp vào nền văn học Việt Nam. Trong số đó không ai là không biết đến thi truyện
“Truyện Kiều” là niềm tự hào của dân tộc. Đó là một câu chuyện được viết nên bằng
những vần thơ tô đậm số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thối nát xưa.
Mười hai câu đầu đặc sắc trong đoạn trích “Trao Duyên” thuộc phần đầu của thi
truyện, là lời nức nở nghẹn ngào khi phải trao mối tình duyên của Thúy Kiều.
Mối tình của nàng Thúy Kiều với Kim Trọng thật sâu đậm, thế nhưng vì xã hội phong
kiến thời bấy giờ đã giăng tạo đầy rẫy những bất công khiến đôi uyên ương phải xa
cách. Trước tình cảnh đó, để không phụ tấm chân tình mà Kim Trọng dành cho mình,
Thúy Kiều đã trao duyên cho người em gái của mình là Thúy Vân trong mười hai câu
thơ đầu đoạn trích. Ta nghe như đâu đây tiếng van nài tha thiết từ tấm lòng người chị
đang chất chứa muôn vàn khổ đau:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Đó là lời lẽ chân tình thuần hậu mà Thúy Kiều nói với người em gái của mình. Từ
“cậy” chứ không phải từ nhờ là cách dùng từ đặc sắc của Nguyễn Du bởi chỉ trong từ
cậy đã thể hiện được hết sự van xin nài nỉ nhưng cũng có đôi phần ép buộc. Lời khẩn
cầu vừa mang ý tứ nhờ vả vừa có sự thấp thỏm mong ngóng lời đồng ý “có chịu lời”.
Hành động của Thúy Kiều nghe ra hơi có sự vô lý: lạy và thưa bởi hành động ấy chỉ
những người nhỏ hơn mới có thể dùng với bậc tiền bối của mình. Điều này chứng tỏ
sự nghiêm túc, thật tâm khẩn cầu của Thúy Kiều. Lạy là hành động trang nghiêm trịnh
trọng trong khi đó tư thế của nàng là hạ mình như thể mang ơn Thúy Vân qua từ
“thưa”. Đó là những lời nói, hành động khác lạ bắt nguồn từ thái độ nghiêm túc hệ
trọng và khó nói của việc trao duyên. Thúy Kiều rất khéo léo khi thấu hiểu sự thiệt
thòi của em để dùng từ ngữ tạo nên một bầu không khí trao duyên khiến Thúy Vân
không thể nào chối từ. Từng từ ngữ câu nói thốt ra đều được Thúy Kiều cân nhắc kĩ
càng, chọn lọc. Cái tinh tế trong nội tâm nhân vật được Nguyễn Du diễn tả một cách
rất thông minh khéo léo. Càng đọc thơ ta càng thấy rằng Kiều đã suy nghĩ rất nhiều,
rất kĩ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên mà nàng đã từng mong ước sẽ được lâu
bền, sẽ “đơm hoa kết trái” cho Thúy Vân
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
“Gánh tương tư” là của Thúy Kiều chính là tình yêu sâu nặng với Kim Trọng nhưng
giờ đây đã “đứt gánh” mà không thể nào nối liền lại được. Câu thơ là tiếng xót xa cho
chính bản thân mình, cho người em chưa có một mối tình của riêng mình mà giờ đây
đáp nghĩa cùng chàng Kim không có một chút tư tình. Thúy Kiều van nài sự xót
thương cho số phận bạc mệnh của mình để em gái thương mình mà nhận lời. Nàng
băn khoăn Kim Trọng và Thúy Vân bị lỡ làng nhân duyên trong khi chính nàng mới là
người chịu nhiều đau khổ thương tâm nhất. Cái ray rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy
Vân phải “chắp mối tơ thừa” của mình, là tình thương em gái từ tận đáy lòng. Từ
“mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ hay chối bỏ mà nó có nghĩa là sự phó thác
trách nhiệm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự nhờ cậy nơi Vân về mối
nhân duyên dang dở của mình.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề
Ta có thể hình dung ra hình ảnh một mỹ nhân tuyệt thế đang ngước mắt hoài niệm về
mối tình sâu đậm, tình yêu tràn ngập trong ánh mắt. Từ “khi” được lặp lại ba lần như
muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim Trọng, đâu phải tình cảm một sớm
một chiều mà là tình cảm được vun đắp qua từng năm tháng. Câu thơ “ngày hẹn ước,
đêm chén thề” làm sống dậy những kỉ niệm đẹp của đôi tình nhân. Câu thơ ẩn chứa
những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui kỉ niệm về ngày tháng tình nồng ý đậm.
Thế nhưng đó cũng là tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, sự tiếc thương về kết thúc của
những kỉ niệm đẹp ấy và chuỗi ngày bi thảm mịt mù tiếp theo.
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Những biến cố liên tục ập đến gia đình và Thúy Kiều phải hy sinh bản thân mình để
gia đình được êm ấm đoàn tụ. Chữ “Hiếu” là một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, vì
hiếu mà con người ta phải dẹp bỏ lợi ích riêng tư, đó đã trở thành điều hiển nhiên
trong quan niệm đạo đức khi xưa. Kiều là người con hiếu thảo, có tình nghĩa bởi thế
mà giữa bên tình bên nghĩa nàng đã chọn nghĩa để giữ trọn đạo hiếu làm con. Nàng đã
tự mình chôn vùi tình cảm riêng tư, hạnh phúc của bản thân để báo hiếu cha mẹ.
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Khi đã quyết định bán thân chuộc cha và em, Kiều tự thấy mình là người phản bội,
không xứng đáng với Kim Trọng. Ở đời ai chẳng khao khát được gắn bó se duyên ở
bên cạnh người mình yêu, có xu hướng hy sinh tất cả mọi thứ vì tình yêu. Đặc biệt
điều ấy càng thể hiện rõ ở người con gái đa sầu đa cảm, sống có tình nghĩa.Vì thế mà
Kiều sẵn sàng “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”. Sự hy sinh ấy thật cao cả biết bao!
“Trao Duyên” không chỉ đặc sắc ở nội dung mà còn ở nghệ thuật khi hàng loạt những
từ đắt giá được sử dụng khéo léo nhuần nhuyễn. Qua đoạn trích, ta có thể thấy được
xã hội phong kiến thối nát xưa và đặc biệt là hình tượng người phụ nữ qua nhân vật
Thúy Kiều: trọng tình trọng nghĩa, hy sinh cao cả đó là những vẻ đẹp phẩm chất cao
quý của người phụ nữ Việt Nam.
Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao duyên - Mẫu 9
Kiều là một tuyệt tác của Nguyễn Du, bài thơ như tiếng khóc ai oán của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến đầy rẫy những thối nát, bất công. Đoạn trích “Trao duyên” đã
nói lên nỗi lòng đau xót của Thúy Kiều khi phải trao mối tình mặn nồng giữa nàng và
Kim Trọng cho Thúy Vân, cũng là phần mở đầu cho cuộc đời đầy đau khổ của Thúy
Kiều. Và đặc sắc nhất có lẽ là 12 câu thơ đầu. Chỉ 12 câu nhưng sao như tiếng nấc uất nghẹn ngào.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân. Từ
“cậy” được sử dụng thật đặc sắc, là “cậy” chứ không phải “nhờ”, người được “cậy”
khó lòng từ chối. Thúy Kiều đã đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân và
Thúy Vân không thể thoái thác được và phải “chịu lời”. Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao
hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin. Không có người chị nào lại xưng hô với
em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ dùng với bề trên như “thưa, lạy”. Kiều muốn
chuẩn bị tâm lí cho Vân để đón nhận một chuyện hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy
em bởi nàng hiểu rằng việc mà nàng sắp nói ra đây là rất khó khăn với Vân và cũng là
một việc rất tế nhị:
“Hở môi ra những thẹn thùng
Đề lòng thì phụ tấm lòng với ai”
Từng từ được thốt ra đều được nhân vật cân nhắc kĩ càng, chọn lọc, Nguyễn Du đã sử
dụng những từ ngữ rất “đắt”. Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính là cái tinh tế
trong thế giới nội tâm mà Nguyễn Du muốn diễn tả. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta
thấy Kiều đã suy nghĩ rất nhiều, rất kỹ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên mà
nàng đã từng mong ước sẽ “đơm hoa kết trái”, mối nhân duyên mà nàng mong ước sẽ
được lâu bền lại cho Thúy Vân:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
“Gánh tương tư” là của chị, tình yêu sâu nặng là của chị nhưng giờ giữa đường lại
“đứt gánh” còn đâu. Tơ duyên là của chị, khi đến với em nó đã là “tơ từa”. Chị hiểu
em tuổi còn trẻ có thể chưa biết đến tình yêu. Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật
ngọt của tình yêu nhưng xin em hãy xót người chị bạc mệnh này mà đáp nghĩa cùng
chàng Kim. Ôi! Lời của Kiều thật thống thiết. Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn
cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên. Cái ray rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy Vân
phải “chắp mối tơ thừa” của mình. Từ “mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em,
mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiệm lại cho
Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mình nơi Vân.
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày hẹn ước khi đêm chén thề”
Từ “khi” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim
Trọng nào đâu phải tình cảm một sớm một chiều. Những kỉ niệm đẹp giữa nàng và
Kim Trọng như sống lại trong những câu thơ “ngày hẹn ước, đêm chén thề”. Câu thơ
ẩn chứa những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc
nghẹn của Thúy Kiều, những kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi thảm tiếp sau.
“Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
“Sóng gió bất kì” là khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan,
cha và em Kiều bị bắt, Kiều phải bán mình chuộc cha và em. Những biến cố xảy ra
liên tục, đẩy Kiều vào chỗ bế tắc, là người chị cả, Kiều phải hi sinh bản thân mình để
gia đình được đoàn tụ, êm ấm, bởi lẽ: “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”.
Chữ Hiếu là một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, vì hiếu con người ta phải dẹp bỏ
tình riêng, là một quan niệm đạo đức phổ biến của người xưa. Và Kiều cũng thế, nàng
không bao giờ cho phép mình trở thành người con bất hiếu. Nàng đã chôn vùi tình
cảm riêng tư để báo hiếu cho cha mẹ:
“Nỗi riêng riêng những bàng hoàng
Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn”
Khi đã quyết định bán thân chuộc cha và em, Kiều lại nhớ đến Kim Trọng, nàng tự
thấy mình là người phản bội, không xứng đáng với chàng:
“Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa”
Ở đời, phàm, người ta thường hi sinh tất cả mọi thứ vì tình yêu. Là người ai chẳng
khát khao được gắn bó với người mình yêu. Và ở người con gái đa sầu đa cảm như
Kiều thì khát vọng ấy lại càng mạnh mẽ gấp bội, vì tình yêu nàng đã từng vượt qua cả
lễ giáo phong kiến khắt khe nhất để “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Vậy
mà giờ Kiều lại đành lòng vứt bỏ, thật đau đớn xiết bao! Nhưng vì:
“Duyên hội ngộ, đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?”
Có lẽ chỉ có những người con gái mang trong mình trái tim bao dung như Thuý Kiều
mới đủ sức mạnh để làm những việc tưởng chừng khó khăn nhất như thế!
Sợ chưa thuyết phục được em, Kiều đã dùng hết lý lẽ, sự tỉnh táo nhất của lí trí để trải lòng cùng em:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”
Đúng vậy, Thúy Vân còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng tư nên
xin hãy nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim. Để thêm thuyết phục và Vân không
thể chối từ, Kiều đã đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân. “Máu chảy ruột mềm” còn
gì thiêng liêng hơn tình chị em gắn bó, ruột thịt. Em hãy giúp chị thay “lời nước non”
cùng chàng. Kiều cũng đã đặt mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người
mình không quen biết, mà còn là người yêu của chị mình, ta có thể cảm nhận ở đây
Thúy Vân là người thiệt thòi nhất…
Tuổi của Kiều và Vân xấp xỉ nhau “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” thế nhưng đối
với Kiều giờ đây, tuổi xuân của nàng đã kết thúc. Khoảng thời gian xuân xanh đẹp đẽ
giữa nàng và Kim Trọng nay chỉ còn là những kỉ niệm mà không có tương lai. “Trao
duyên” cho em, nghe thật kì lạ nhưng trong hoàn cảnh của Kim,Vân, Kiều thì đây là
một việc không khó hiểu trong xã hội phong kiến ngày xưa. Những dòng nước mắt
không thể chảy ra nhưng cứ âm ỉ, phảng phất trong từng câu, từng chữ… Nỗi đau đớn
đến xé lòng nhưng vẫn phải dằn xuống, kìm nén để nói những lời trao duyên cho em.
Thật đau xót thay! Chữ· Tình đối với Kiều vô cùng quan trọng, thế nhưng nàng lại từ
bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu. Mất đi tình yêu đối với nàng là mất đi tất cả. Nói đến đây
Kiều tưởng như cuộc đời mình đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc, níu giữ:
“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Bản thân phải hi sinh, Kiều không đắn đo thiệt hơn, nhưng khi nhờ cậy đến em gái thì
đó là một cái ơn lớn· đối với nàng. Cho nên lời nhờ cậy của Kiều thật thiết tha, lời
cảm tạ của Kiều thật sâu sắc, cảm động. Xét về ngôn từ thì lời nói của Kiều khẩn thiết
mà vẫn đúng mực, kêu nài mà vẫn chí nghĩa chí tình. Nhờ cậy thì vịn đến tình máu mủ
ruột thịt. Cảm tạ thì đề cao ơn nghĩa của Thúy Vân và nói đến sự bạc mệnh của mình.
Kiều quả thật là người “sắc sảo mặn mà”.
Kiều đã hi sinh tất cả, kể cả cuộc đời nàng đang độ xuân xanh vì gia đình. Thuý Vân
dù có vô tư đến đâu cũng có thể hiểu nỗi đau và sự hi sinh quá lớn của chị nên chắc
chắn rằng nàng không thể khước từ và chỉ ngậm ngùi đồng ý nhận duyên từ chị. Có lẽ
vì thế nên ngay từ đầu chúng ta không nghe một lời đối thoại nào của Vân mà chỉ
nghe những lời thuyết phục, van nài và bộc bạch nơi Kiều. Vân đã chấp thuận.
Khi trao duyên cho em xong, Kiều đã nghĩ đến cái chết: “thịt nát xương mòn, ngậm
cười chín suối”. Cuộc đời nàng sau khi báo đáp ơn nghĩa sinh thành thì coi như chấm
dứt. bởi lẽ mất đi tình yêu là nàng đã mất tất cả, mất hi vọng, mất định hướng, linh
hồn nàng như tê dại và đông cứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy tăm tối ở ngày mai.
Xã hội phong kiến thối nát đã chia rẽ tình yêu đôi lứa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình,
chà đạp lên số phận của người phụ nữ, những con người xinh đẹp, tài hoa.
“Đau đớn thay phận đàn bà
Hỡi ôi thân ấy biết là mấy thân!”
kiếp số của họ:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta nhận thấy Nguyễn Du thật sự là một bậc đại tài trong
việc thấu hiểu từng khía cạnh tinh tế nhất của tâm can con người. Chính sự thấu hiểu
sâu sắc ấy cùng với nghệ thuật dùng từ điêu luyện, đã khiến tác phẩm của Nguyễn Du·
tồn tại như một giá trị vĩnh cửu vượt qua tất cả thử thách khắt khe của thời gian, để lại
ấn tượng mạnh mẽ trong lòng đối tượng tiếp nhận, đã khiến cho triệu vạn người phải
rơi nước mắt khóc than cho số phận nàng Kiều:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
Cảm nhận 12 câu đầu Trao duyên - Mẫu 10
Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, người đọc không khỏi xót xa trước số phận đầy đau
khổ và truân chuyên của nàng. Người con gái tài hoa ấy phải trải qua bao phen đoạn
trường, nỗi đau chia cắt tình thân chưa nguôi thì phải chịu nỗi xót xa khi đôi lứa chia
lìa. Đoạn trích Trao duyên trong tác phẩm là minh chứng cho nỗi đau khôn nguôi của
Kiều khi tình yêu tan vỡ. Mười hai câu đầu đoạn là những lời thơ chất chứa nỗi lòng Kiều.
Mở đầu đoạn trích là lời nhờ cậy tha thiết của Thúy Kiều với Thúy Vân:
"Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa"
Bằng tất cả sự chân thành và mong cầu, Kiều đã ngỏ lời "cậy" nhờ Vân. Từ “cậy” đặt
đầu câu thơ mang sức nặng của tiếng nhờ vả, có chăng Kiều đang trông mong, nguyện
cầu em chấp thuận. Bao nhiêu nỗi hy vọng, mong chờ và niềm tin trọn vẹn chị đều đặt
hết nơi Vân. Tiếng "chịu" cất lên như một sự nài nỉ, mong cầu em xót thương mà chấp
nhận đồng thời như một lời báo trước về việc mà mình sắp nói ra đây sẽ rất khó xử với Vân.
Phận làm chị, theo thứ bậc trong gia đình hay lễ giáo phong kiến, Kiều nào có thể lạy
em, nhưng trong tình cảnh này, nàng đã chọn cách "lạy" và "thưa" với Vân. Hơn ai hết,
Kiều hiểu những thiệt thòi của Vân khi chấp thuận lời nhờ vả, nàng lúc này là kẻ
mang ơn, một cái lạy hay câu thưa nào có sánh sự hy sinh của em dành cho mình.
Lòng đau đớn khi tình yêu không trọn, nhờ đến Thúy Vân- người em gái duy nhất bấy
lâu nàng luôn yêu quý và tin tưởng thay mình nối tiếp mối duyên cùng Kim Trọng mà nàng không khỏi xót xa.
"Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em".
Thành ngữ “giữa đường đứt gánh” được vận dụng đầy khéo léo để chỉ mối lương
duyên chìa lìa của Kim - Kiều. “Gánh tương tư” sâu nặng bao nhiêu thì đứt gánh càng
khổ đau, cay đắng bấy nhiêu. Điển tích “keo loan” vốn dành cho những mối tình gắn
kết, bền chặt nay lại dành nhờ người “chắp mối”. Cụm danh từ “tơ thừa” kết hợp với
cụm từ” mặc em” làm nổi bật tâm trạng ngậm ngùi, chua xót của Thúy Kiều. Kiều
hiểu những thiệt thòi mà Vân phải chịu khi chấp nhận mối duyên này. Nếu với Thúy
Kiều, đó là duyên trăm năm còn với Vân thì đó chỉ là mối “duyên thừa” mà thôi. Hai
từ “mặc em” như một sự phó mặc, uỷ thác nơi em của Kiều, nàng tin rằng em sẽ hiểu
cho nỗi khó xử và tình cảnh éo le của mình.
Lời vừa dứt cũng là lúc bao kỉ niệm tình đôi lứa chợt ùa về như thác lũ, đó là những kí ức đẹp đẽ:
"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề."
Ngày gặp Kim Trọng, tình yêu chớm nở, hai người "tình trong như đã mặt ngoài còn
e", Kim- Kiều đã từng hạnh phúc biết bao với những lời hẹn ước, với chén rượu thề
nguyền. Điệp từ "khi" càng nhấn mạnh nỗi nhớ da diết và cả nỗi tiếc thương nơi Kiều.
Nàng tâm sự với em như để giãi bày nỗi lòng cũng là mong em sẽ phần nào hiểu được những day dứt nơi nàng.
"Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
“Sóng gió bất kì” là tai ương bất ngờ đến mà gia đình chị em Kiều phải gánh chịu.
Cha và em bị oan sai, Kiều buộc phải bán mình cứu người thân. Chữ “hiếu” đã trọn
mà chữ “tình” còn day dứt. Làm sao để vẹn cả hai bề? Đó là một câu hỏi luôn thường
trực trong trái tim nàng. Để làm tròn chữ “hiếu”, Kiều đã bỏ lỡ mối keo loan trăm năm,
trao duyên cho em để thay mình trả nghĩa cho chàng Kim, cho vẹn chữ “tình” sâu
nặng. Nói rồi, để thuyết phục em thêm, nàng tiếp lời:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"
Những lý lẽ Kiều đưa ra vừa chân thành tha thiết, lại vừa thấu tình đạt lý. Thúy Vân
còn tuổi trẻ, còn thời gian để tìm hiểu Kim Trọng, còn Kiều thì khác, khi nàng quyết
định bán mình cứu cha cũng là khi tự do, thanh xuân khép lại, phía trước là bao tai
ương, sóng gió trực chờ. Hơn thế nữa, Vân và Kiều là máu mủ ruột rà nên dễ dàng
đồng, cảm, thấu hiểu mà thay Kiều trả duyên cho Kim Trọng “thay lời nước non”.
Thậm chí, nàng còn nói đến cái chết “ngậm cười chín suối” để mong Vân hiểu được
tâm nguyện tha thiết của mình. Chắc có lẽ khi nghe những lời ấy, Vân cũng không thể
đành lòng nhìn chị đau đớn mà chối từ lời nhờ cậy từ nàng.
Sự kết hợp giữa thể thơ lục bát quen thuộc cùng những từ ngữ đầy tinh tế đã làm cho
mười hai câu đầu đoạn thơ thể hiện được nỗi đau “đứt ruột” của Thúy Kiều khi tình
duyên tan vỡ. Qua đó, ta càng trân trọng hơn vẻ đẹp của một trái tim thiết tha, chung
thủy, một tấm lòng hiếu thảo và giàu đức hi sinh nơi cô gái tài sắc ấy.