Văn mẫu lớp 11: Phân tích 8 câu thơ cuối bài Trao duyên (2 Dàn ý + 13 mẫu) | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích 8 câu thơ cuối bài Trao duyên (2 Dàn ý + 13 mẫu) | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

Chủ đề:
Môn:

Ngữ Văn 11 1.2 K tài liệu

Thông tin:
44 trang 1 năm trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Văn mẫu lớp 11: Phân tích 8 câu thơ cuối bài Trao duyên (2 Dàn ý + 13 mẫu) | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích 8 câu thơ cuối bài Trao duyên (2 Dàn ý + 13 mẫu) | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

55 28 lượt tải Tải xuống
Dàn ý phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên
Dàn ý số 1
I. Mở bài:
Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều: Nguyễn Du là đại thi hào dân
tộc danh nhân văn hóa thế giới, Truyện Kiều được xem là kiệt tác của nền văn
học được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Giới thiệu đoạn trích Trao duyên: Vị trí, nội dung
Đoạn cuối 8 câu cuối đoạn: Tâm trng đau đn đến cùng cc ca Thúy Kiu
khi hướng về tình yêu ca mình và Kim Trng.
Trích dẫn thơ:
II. Thân bài:
*Tám câu thơ cuối: Kiều trở về thực tại đau xót khi nhớ tới Kim Trọng
- Hình thức: Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
- Tâm trạng: Nàng ý thức rõ về cái hiện hữu của mình: “trâm gãy gương tan”, “tơ
duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”
→ Hình ảnh gợi tả số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc bẽo, lênh đênh trôi nổi
- Nghệ thuật đối lập: quá khứ >< hiện tại
→ Khắc sâu nỗi đau của Kiều trong hiện tại.
- Các hành động
Nhận mình là "người phụ bạc"
Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu
Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.
→ Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy
sinh cao quý
* Tóm lại: 8 câu cuối đoạn
Nội dung: Tâm trng đau đn đến cùng cc ca Thúy Kiu khi hưng về tình
yêu ca mình và Kim Trng.
Nghthut: Sử dụng tngbiểu cảm, thành ng, câu cm thán, các đip từ.
III. Kết bài:
Khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
Trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: Đây là trích đoạn hay và cảm động
nhất của Truyện Kiều, đem lại nhiều xúc cảm nơi người đọc.
Dàn ý số 2
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều, đoạn thơ Trao duyên và 8 câu
thơ cuối đoạn.
Lưu ý: học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào
năng lực của bản thân.
2. Thân bài
Bây giờ trâm gãy tình tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
- Câu nói thốt lên trong sự cay đắng, nghiệt ngã của số phận. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp
giữa hai người giờ đây chỉ còn là kí ức.
- Sự hụt hẫng, tiếc nuối về một thời yêu nhau say đắm của hai người → tiếc nuối cho
mối duyên của hai người cũng như tiếc nuối về kỉ niệm mà họ đã từng có với nhau.
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
….……………………………..
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
- Sau khi trao duyên cho Thúy Vân, Kiều âm thầm nhắn nhủ đến Kim Trọng: nàng đã
phụ tình chàng từ đây. Đó không chỉ là câu nói đau xót khi phải chia tay người yêu khi
tình cảm vẫn còn mặn nồng sâu sắc mà còn là suy tư về cuộc sống tăm tối phía trước
đang chờ đón Kiều.
- Tơ duyên của Kiều và Kim chỉ ngắn ngủi có từng ấy, xin gửi lại chàng mối duyên
này cho người em là Thúy Vân.
- Kiều đã phải thốt lên: “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” đây vừa là lời xin lỗi
Kiều gửi đến Kim, vừa là lời oán trách vì phận mình sao bạc bẽo.
→ Kiều không chỉ suy nghĩ về việc cứu cha và em, trao lại mối duyên của mình cho
Vân mà còn suy nghĩ cho người mình hết lòng yêu thương. Một cô gái nhỏ bé vốn
sống bình an nay phải suy tư rất nhiều, không chỉ thế, cuộc sống trôi nổi phía trước
của nàng cũng khiến người ta vô cùng đau xót về kiếp hồng nhan bạc phận.
- Diễn biến tâm lí của Kiều đi qua nhiều cảm xúc khác nhau, từ nghĩ cách cứu cha
em, trao lại mối duyên của mình, đến việc nghĩ cho người mình yêu thương và đến
cuộc sống bấp bênh của nàng sau này khiến người ta không khỏi đau xót.
3. Kết bài
Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của 8 câu thơ; đồng thời khái quát lại giá trị của
đoạn thơ và cả tác phẩm.
Phân tích 8 câu cuối Trao duyên - Mẫu 1
“Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều”
Bàn về văn học, Standal viết: “Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội”. Tố
Hữu cũng từng cho rằng: “ Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời.
Văn học không là gì nếu vì cuộc đời mà có”. Đây cũng là một trong những chức năng
cơ bản của văn học: phản ánh đời sống xã hội. Nguyễn Du đại thi hào trong nền thơ
ca Việt Nam đã thấm nhuần chức năng ấy. Ông sống trong giai đoạn lịch sử đầy bão
táp, cái xã hội mà mọi thứ đều bị chi phối bởi đồng tiền. Ông đã chứng kiến rất nhiều
cảnh bất công cũng như cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người phụ nữ lúc bấy
giờ. Đó chính là lí do kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) ra đời. Trong đó,
đoạn trích “Trao duyên” là một trong những đoạn trích tiêu biểu thể hiện được tài
năng cũng như tư tưởng nhân đạo của tác giả mà đặc biệt phải kể đến tám câu thơ cuối
bài đã thể hiện một cách chân xác nỗi xót xa của nàng Kiều cho duyên phận với chàng
Kim.
Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân
đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng
Liên Đường chủ nhân). Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở
làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong
một gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Cha là
Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tần, một người phụ
nữ Kinh Bắc có tài xướng ca. Quê hương Nguyễn Du là vùng đất địa linh, nhân kiệt,
hiếu học và trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học vấn uyên bác, có
nhiều tài năng văn học. Gia đình và quê hương chính là “mảnh đất phì nhiêu” nuôi
dưỡng thiên tài Nguyễn Du.
Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn
mẹ, cuộc đời Nguyễn Du bắt đầu gặp những sóng gió trong cơn quốc biến ba đào:
sống nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh) thì
Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du
thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan ở tận Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê
sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha,
có lúc lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều nhất là thời gian ông sống không nhà ở kinh thành
Thăng Long. Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần
gũi nhân dân và thấm thía biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, đặc biệt là người dân lao
động, phụ nữ, trẻ em, cầm ca, ăn mày… những con người “dưới đáy” xã hội. Chính
nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du nhà nhân đạo
chủ nghĩa lớn.
Ngoài “Đoạn trường Tân thanh” (Truyện Kiều); “Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn
chiêu hồn) và hai bài tồn nghi là “Sinh tế Trường Lưu nhị nữ” (Văn tế sống hai cô gái
Trường Lưu) và “Thác lời trai phường nón.” Nguyễn Du còn có ba tập thơ chữ Hán có
giá trị. Thanh Hiên tiền hậu tập; Nam trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục. Một số bài
như Phản chiêu hồn, Thái Bình mại ca giả, Long thành cầm giả ca đã thể hiện rõ rệt
lòng ưu ái trước vận mệnh con người. Những bài viết về Thăng Long, về quê hương
và cảnh vật ở những nơi Nguyễn Du đã đi qua đều toát lên nỗi ngậm ngùi dâu bể.
Theo Giáo sư Nguyễn Lộc, trang 455 viết: “Đoạn trường tân thanh… là một truyện
thơ Nôm viết bằng thể lục bát, dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh
Tâm tài Nhân, Trung Quốc gồm 3.254 câu thơ. Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện
Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-20). Có thuyết nói Nguyễn Du viết trước khi đi
sứ, có thể vào thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-09). Thuyết sau này được
nhiều người chấp nhận. Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn
hóa VN. Nhiều nhân vật trong Truyện Kiều trở thành điển hình cho những mẫu người
trong xã hội cũ, mang những tính cách tiêu biểu như Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải, và
đều đi vào thành ngữ VN.
Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Lê Đình Kỵ, người được xem là “chuyên gia Truyện
Kiều” đã có những trang văn nhận định thú vị: “Truyện Kiều nổi lên so với những giá
trị văn học đương thời, và khiến sáng tác của Nguyễn Du gần với chúng ta ngày nay,
về cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Nhưng dù sao thì Nguyễn Du vẫn là người
của thời đại mình, không thể thoát ly hoàn cảnh xã hội, lịch sử cụ thể, về cả hệ tư
tưởng lẫn phương pháp nghệ thuật, thể hiện ở xu hướng lý tưởng hóa, ước lệ. Điều
này khó tránh trong tình hình sáng tác chung, trong trình độ tư duy nghệ thuật chung
đương thời… Trước sau Truyện Kiều vẫn là di sản vĩ đại, là tuyệt đỉnh của nền văn
học dân tộc quá khứ. Quan điểm lịch sử cũng như đòi hỏi muôn đời của giá trị văn học
đều cho phép ta khẳng định điều đó”.
Là một đoạn được trích từ “Truyện Kiều”, “Trao duyên” gồm 34 câu thơ. Đây là
những câu thơ nằm ở vị trí từ câu 723 đến câu 756 trong kiệt tác tác phẩm. Đoạn trích
hướng người đọc đến nhân vật trung tâm là Thúy Kiều trong một hoàn cảnh rất đỗi
đặc biệt: Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha sau khi gia đình bị vu
oan. Trong đêm trước ngày phải xa gia đình để theo phường buôn phấn bán hương,
Kiều đã nhờ em gái của mình là Thúy Vân thay Kiều trả nghĩa cho Kim Trọng; phần
còn lại của đoạn trích là những dòng viết về tâm tư nỗi niềm của Thúy Kiều khi nghĩ
về cuộc đời mình và khi nhớ đến Kim Trọng. Đoạn trích là tiếng lòng tha thiết của
Kiều về hoàn cảnh bi đát của gia đình, của phận mình và của tình yêu đầu đời đẹp đẽ.
Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc
mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân
vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với
người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn t
không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Đặc biệt, khi thể hiện nỗi xót xa của nàng Kiều cho duyên phận với chàng Kim,
Nguyễn Du đã gây được ấn tượng trong tám câu thơ cuối đoạn trích:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình chuộc cha. Nhưng làm vậy thì nàng đã
phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang Kim Trọng. Tình thế ép
buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị trao duyên lại cho em,
nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng Thuý Kiều rất đau đớn, day
dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị sắp đi xa vĩnh viễn “một đi
không trở lại”. Sau khi đã nói hết nỗi lòng của mình với em gái, Kiều đã nhìn lại cuộc
đời mình rồi đau đớn nhận ra sự thật phũ phàng là so với quá khứ thì hiện tại có một
sự đối lập đến xót xa:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Giờ đây mọi chuyện đã tan vỡ, lỡ làng, nói làm sao hết những tình cảm tha thiết, da
diết, những kỉ niệm ngọt ngào ân ái ngày xưa đã trao nhau. Thành ngữ “Trâm gãy
gương tan” là sự tan vỡ của tình yêu, cũng là sự tan nát trong trái tim Thúy Kiều. Tình
yêu của nàng với Kim Trọng ngày một nâng lên, ngày càng tha thiết thì nỗi đau, sự
dằn vặt trong trái tim nàng càng mạnh mẽ, càng đớn đau hơn. Nguyễn Du đã sử dụng
hình ảnh ước lệ “trâm gãy gương tan” đã mang lại sự biểu đạt rất hiệu quả. Thông qua
hình ảnh ấy, tác giả đã cho thấy sự nhận thức sâu sắc của nàng Kiều về bi kịch hiện tại.
Kiều bàng hoàng chua xót khi so với thời quá khứ những năm tháng Kiều đã thật
hạnh phúc với mối tình đầu đời như hoa như mộng, bây giờ còn lại chỉ là những đau
đớn tủi phận khi biết bao nhiêu hẹn ước tươi đẹp trở thành hư vô.
“Trâm” và “gương” vốn tượng trưng cho những hình ảnh đẹp đẽ của người con gái
đến tuổi để ý đến dung nhan của bản thân khi tình yêu gõ cửa trái tim. Nhưng những
gì Kiều trân trọng, nâng niu để mong đến một ngày có thể cùng Trọng mãi mãi kề bên
(để có thể hiện thực hóa những gì mà nàng và người yêu đã từng thề nguyền hẹn ước
từ thời khắc “Kể từ khi gặp chàng Kim” “Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”)
bỗng chốc chỉ trong phút giây, tai ương ập đến, tất cả những mong ước vỡ tan thành
mây thành khói.
“Muôn vàn ái ân” không thể cân đo đong đếm ở miền kí ức thơ mộng có sự hiện diện
của Thúy Kiều và Kim Trọng mà nàng nhắc đến ở câu thơ tiếp theo như càng làm tăng
thêm sự đối lập so với những đau khổ mà nàng vừa nhắc đến ở câu thơ trước đó. Khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy nhìn vào tình cảnh của Kiều để thấy
những gì mà nàng phải chịu đựng ở độ tuổi xuân sắc lẽ ra vốn vẫn còn được sống
trong vòng tay yêu thương, bảo bọc của mẹ cha mới thấy thương, thấy xót hơn cho
nàng.
Trao duyên cho em, nỗi đau này ai có thể thấu cho nàng Kiều. Trong tột cùng nỗi đau
khổ và tuyệt vọng, Kiều nghĩ về Kim Trọng. Với nàng Kim Trọng là tất cả, là niềm tin,
hi vọng, là niềm an ủi, chia sẻ với nàng mọi điều. Tuy nhiên, Kim Trọng lại đang ở
cách nàng rất xa, bởi thế cuộc đối thoại này với Kim Trọng chỉ là trong tưởng tượng.
Nàng cất lên lời than vô cùng chua xót, đau đớn trước thực tại phũ phàng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”
Kiều cất lên lời oán trách số phận, trách sự vô tình, khắc nghiệt của cuộc đời, than thở
cho số phận éo le, mỏng manh, bạc bẽo của bản thân đã khiến cho tơ duyên đứt đoạn
chỉ còn “ngắn ngủi có ngần ấy thôi”. Nói ra những lời ấy, Kiều thật mong Trọng cũng
chấp nhận cho duyên tình giữa chàng và Kiều chỉ là những kí ức ngắn ngủi dù tươi
đẹp biết bao. Cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy rằng khi cậy nhờ em
“xót tình máu mủ thay lời nước non” mà giúp nàng giữ duyên, Kiều cũng đã rất thành
khẩn khi bảo em “ngồi lên” để mình “lạy”, giờ đây, lại thêm một lần thành khẩn,
nhưng Kiều gửi cái “lạy” tạ lỗi đến một người rất quan trọng với nàng là chàng Kim.
Từ ‘lạy’ ở đây khác với từ ‘lạy’ ở đoạn đầu. ‘Lạy’ là để Thúy Kiều tạ lỗi với Kim
Trọng, để hối lỗi, để vĩnh biệt. Nàng tự cảm thấy được số phận mình là số phận mệnh
bạc. Nàng tự thương cho chính mình và đây cũng là nỗi đồng cảm của tác giả với
Thúy Kiều.Từng lời nói, từng hành động của Kiều được thể hiện trong thơ đã giúp
hiện hữu ở trang viết của Nguyễn Du hình ảnh người con gái mang nặng nghĩa tình
với mối tình dang dở nhưng không có cách nào cứu vãn nó.
Lời nhắn nhủ vừa mang nỗi tiếc nuối, vừa cam chịu chỉ “có ngần ấy thôi” ít ỏi quá
chàng ơi, nhưng không thể nào kéo dài thêm được nữa. Thôi thì thiếp đành cam chấp
nhận số phận, tơ duyên ngắn ngủi, hạnh phúc quá mong manh, kiếp này đã lỡ phu thê,
thiếp xin bái biệt đi về cõi âm. Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho
duyên phận của mình tơ duyên ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật
đau khổ biết bao: trao duyên rồi, đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn
thương vẫn chất chứa trong lòng nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã
thể hiện đúng quy luật tâm lí của con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu
đong càng lắc càng đầy là như thế! Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương
tơ lòng là như vậy.
Đến đây, Kiều mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận bạc bẽo của mình giữa cõi đời bất
công:
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Lời thơ uất nghẹn, phận gì? mà bạc như vôi? Câu thơ cho thấy thân phận nhỏ bé hơn
bao giờ hết của nàng Kiều. Hơn thế nữa, câu thơ cũng là lời dự cảm, một lời lo lắng
cho tương lai đầy bất trắc phía trước. Hình ảnh “hoa” vốn là biểu trưng cho người con
gái đẹp, ở đây không ai khác chính là nàng Kiều nhưng những bông hoa ấy lại trôi lỡ
làng, vô định, không biết cuộc đời sẽ ra sao và đi đâu về đâu. Nỗi đau trào dâng, bao
nhiêu tình cảm dồn nén choán đầy cả tâm trí. Câu thơ chứa chan tình cảm, xót xa đau
cho kiếp số phũ phàng, chua chát lời thơ như hờn oán, trách móc than thân trách
phận.
“Phận bạc” ở đây được sử dụng như một lời nói lên án cả xã hội phong kiến. Nhưng
dù như vậy nàng cũng đành bất lực “đã đành” như một lời thở than, cam chịu số phận
đớn đau. Số phận nàng ta cũng bắt gặp trong rất nhiều tác phẩm như nàng Vũ Nương
bất hạnh bị chồng ruồng rẫy phải tự vẫn để minh oan, hay những người con gái được
phản ánh trong các câu ca dao:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Chính Nguyễn Du cũng đã từng thổn thức:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Lời than oán của Kiều không ai có thể trả lời được, đó là một lời than oán cay đắng,
tuyệt vọng, kêu lên chỉ để oán trách trời mà thôi! Rồi đây số phận ca Kiều sẽ trôi dạt
như bông hoa đẹp đẽ đã “đành trôi” trên dòng nước dơ bẩn, nhơ nhớp chảy cuốn xiết,
lỡ làng, không thể nào cứu vãn được nữa. “Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết,
hoa rụng, tuyết tan, nghĩa là tuổi thanh xuân trinh trắng và đẹp đẽ của Kiều đã chấm
dứt từ đây. Và lúc đó, trong những giây phút cuối cùng của cuộc trao duyên, Kiều cất
tiếng gọi người yêu:
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Mỗi một thanh âm về tiếng gọi người yêu mà Kiều thốt lên chắc hẳn cũng là ngần ấy
lần nàng quặn thắt tâm can mà đau đớn xót xa. Những từ diễn tả sự xót xa tủi phận cứ
liên tiếp xuất hiện và được xâu lại thành chuỗi: “ngắn ngủi”, “lỡ làng”, “thôi thôi”,
“Kim lang”, “phận sao phận” đã tạo thành những cơn sóng của đau thương ồ ạt bủa
vây lấy người con gái đáng thương mà nàng đã gắng hết sức không để cho nó quật ngã.
Có lẽ rằng đây là lần cuối cùng nàng có thể gọi Kim Trọng là “Kim Lang” tha thiết
như thế. Thúy Kiều gọi Kim Trọng hai lần dường như bao nhiêu tình cảm chất chứa
đều được thốt lên qua tiếng gọi người yêu đầy tha thiết của nàng. Kiều vẫn nhận mình
là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên không ngớt trong lòng nàng. Sau
đoạn đối thoại với Kim Trọng nỗi đau về tình yêu tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều.
“Thôi thôi” là tiếng than tiếc rẻ, dằn vặt. “Thôi thôi” cũng là tiếng xác nhận sự phụ
bạc của mình. Tiếng gọi của nàng như một tiếng kêu chới với và tuyệt vọng bởi vì
không có hồi âm. Kiều đã gắng gượng đến phút cuối cùng, lấy hết sức mình để thốt
lên những tiếng kêu cuối cùng tiếng kêu than oán, kêu cứu của một người phụ nữ
“tài hoa bạc mệnh” trong xã hội phong kiến. Sau tiếng kêu não lòng ấy, Kiều ngất đi,
kết thúc cuộc trao duyên đầy chất trữ tình: “Cạn lời hồn ngất máu sau Một hơi lặng
ngắt đôi tay giá đồng”. Việc “trao duyên” đã thành, việc bán mình cũng đã xong, thì bi
kịch của Thuý Kiều cũng đến. “Ôi”, “Hỡi” Kim Lang, Thuý Kiều gọi tên tình nhân lần
sau cuối trong nước mắt nhạt nhòa, nàng ôm nỗi đau giằng xé tâm can khi biết chắc
chắn rằng từ đây nàng đã mất chàng Kim mãi mãi.
Sự thật ấy làm cho Thuý Kiều kêu lên thống thiết “thôi thôi” một cách vật vã, đớn đau
“đứt từng đoạn ruột”. Điều đó cho ta thấy được tình cảm của Thuý Kiều dành cho
Kim Trọng vô cùng lớn, vô cùng sâu đậm, chung thủy sắc son. Kết thúc đoạn trích
“Trao duyên”, duyên thì được trao, nhưng tình thì lại không thể. Mâu thuẫn giữa tình
cảm và lí trí trong trái tim Kiều vì thế chưa được giải quyết hoàn toàn. Mặc cảm vì
mình là người phụ tình, nỗi đau ấy sẽ còn dày xé nàng trong suốt mười lăm năm lưu
lạc.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, người đọc cũng thấy tiếng kêu thốt lên ấy đã
hòa trong tiếng nấc thể hiện Kiều thương mình nhưng nhiều hơn cả là sự xót xa dành
cho chàng Kim. Trong sự tan vỡ của tình yêu của hai người, Kiều nhận hết trách
nhiệm, lỗi lầm về mình và tự gán cho mình là kẻ phụ bạc. Lời trao duyên như nói một
lời trăn trối, vĩnh biệt. Trước lời trao duyên, tình yêu thật mặn nồng, say đắm, hạnh
phúc, sau lời trao duyên mình đã trắng tay, đôi lứa chia ly, tình yêu tan vỡ.
Mộng Liên Đường Chủ Nhân (1820) theo bản dịch của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim,
bình luận: “…Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên
tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột… Tố Như
Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải
có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút
lực ấy”.
Trong đoạn trích Trao Duyên, nhà thơ đã khóc cho một tình yêu chân thật, trong sáng
giữa Thuý Kiều và Kim Trọng. Tình yêu giữa Kiều và Kim Trọng là một tình yêu
trong sáng, tình yêu đẹp nhưng do sóng gió trong gia đình mà Kiều phải bán mình
chuộc cha, làm cho tình yêu này bị chia rẽ. Nàng đành phải trao duyên của mình lại
cho Thuý Vân. Sự “hi sinh” của Thuý Kiều làm cho người đời cảm phục, tình cảm của
Thuý Kiều làm cho chúng ta trân quý yêu thương. Đó là điểm sáng chói ngời trong
phẩm giá con người Thúy Kiều, khiến cho nàng sống mãi trong lòng người đọc.
Bên cạnh những nội dung đã điểm qua ở trên, điều làm nên sự thành công trong việc
chuyển tải những thông điệp mà tác giả gửi gắm còn nằm ở nghệ thuật của đoạn trích.
Trong đoạn trích này, Nguyễn Du đã vận dụng thật hiệu quả nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật để làm nổi bật ở nhân vật những phẩm chất đáng trọng. Bên cạnh đó, khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy tài năng của đại thi hào Nguyễn Du
trong việc lựa chọn hình thức độc thoại nội tâm để bộc bạch những tâm tư cùng với
nỗi niềm chất chứa trong lòng của nàng Kiều. Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã th
hiện xuất sắc những diễn biến phức tạp của nhân vật. Với hệ thống ngôn từ được sử
dụng một cách điêu luyện và độc đáo, Nguyễn Du chính là một bậc thầy về ngôn ngữ.
Trong Lời đầu sách ở Từ điển Truyện Kiều (1974), Giáo sư Đào Duy Anh viết:
“Trong lịch sử ngôn ngữ và lịch sử văn học VN, nếu Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập
là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều
lại là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta. Với Truyện
Kiều của Nguyễn Du, có thể nói rằng ngôn ngữ VN đã trải qua một cuộc thay đổi về
chất và đã tỏ rõ khả năng biểu hiện đầy đủ và sâu sắc… Nguyễn Du sinh quán ở
Thăng Long, tổ quán ở Nghệ -Tĩnh, mẫu quán ở Bắc Ninh, đã nhờ những điều kiện ấy
mà dựng lên được một ngôn ngữ có thể nói là gồm được đặc sắc của cả ba khu vực
quan trọng nhất của của văn hóa nước ta thời trước”.
Sáng tác của Nguyễn Du bao trùm tư tưởng nhân đạo, trước hết và trên hết là niềm
quan tâm sâu sắc tới thân phận con người. Truyện Kiều không chỉ là bản cáo trạng mà
còn là khúc ca tình yêu tự do trong sáng, là giấc mơ tự do công lí “tháo cũi sổ lồng”.
Nhưng toàn bộ Truyện Kiều chủ yếu là tiếng khóc xé ruột cho thân phận và nhân
phẩm con người bị chà đạp, đặc biệt là người phụ nữ. Không chỉ xót thương, Nguyễn
Du còn trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp, cùng những khát vọng sống, khát vọng tình yêu
hạnh phúc. Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt qua một số ràng buộc của ý
thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người.
Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà ông đem lại cho văn học Việt Nam trong thời đại ông
đúng như Tố Hữu đã từng ca ngợi:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.
8 câu cuối Trao duyên - Mẫu 2
Đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều đã cho thấy bút pháp rất mực tài hoa của
Nguyễn Du trong việc khắc họa sâu sắc nội tâm nhân vật. Qua trích đoạn, ta càng thấu
hiểu, thương cảm cho cho số phận truân chuyên, bạc mệnh của Thuý Kiều. Tám câu
cuối bài thơ là đoạn thơ đầy ấn tượng khi tái hiện đầy xót xa tâm trạng đau đớn, tuyệt
vọng của Thúy Kiều.
Sau khi cậy nhờ em thay mình chắp mối "duyên thừa" cùng Kim Trọng, Thúy Kiều đã
đau đớn mà bộc lộ lòng mình. Đó là nỗi tuyệt vọng, khổ đau lên đến tột cùng khi phải
buông tay với mối tình đẹp đẽ với chàng Kim.
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân"
Trạng ngữ xác định thời gian "bây giờ" chỉ thực tại đau đớn mà Kiều đang đối mặt,
chịu đựng, đó là nỗi đau khắc sâu vào tâm khảm khi chứng kiến tình duyên tan vỡ,
chữ tình chưa hề phai nhạt nhưng vì biến cố mà rơi vào cảnh chia lìa không gì có thể
hàn gắn “trâm gãy gương tan”. Tác giả sử dụng khéo léo thành ngữ "trâm gãy gương
tan" để ẩn dụ cho mối tình đẹp đẽ nhưng mong manh của Kim- Kiều.
Tình yêu Kiều dành cho Kim càng chân thực, mãnh liệt, lớn lao bao nhiêu thì nỗi đau
mà nàng đang gánh chịu lại xót xa bấy nhiêu. Trâm đã gãy, bình đã tan, tình yêu nào
có thể chắp vá được nữa, hy vọng gắn kết mối tình xưa cũng không còn. Kiều đau đớn
nghĩ về giây phút hạnh phúc "muôn vàn ái ân" của hai người trước đây. Đó là những
kỉ niệm thắm thiết, những kí ức nồng đượm mà cả Kim và Kiều có được. Đêm trăng
thề nguyện hẹn ước, uống chén rượu hồng hẹn ước trăm năm, thưởng ánh trăng vàng,
ngâm thơ, đàn hát,... Tất cả những hạnh phúc lớn lao trước đây đều trở thành dĩ vãng,
tan biến trong hư vô khi tình chưa cạn mà buộc phải chia xa.
Tiếc thương cho tình yêu không trọn, nghĩ về Kim Trọng , Kiều trách móc bản thân
mình phụ bạc chàng, lời dằn vặt nghẹn lòng cất lên:
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi"
Xuyên suốt cuộc đời Kiều qua từng trang thơ của Nguyễn Du ta đều biết Kiều là một
người sống tình nghĩa, nàng chưa từng phụ bạc một ai. Hơn nữa, Kiều cũng luôn dành
hết những điều tốt đẹp cho người mà mình yêu thương, tin tưởng. Nàng đánh đổi hạnh
phúc đời mình để tròn chữ hiếu “phận làm con trước phải đền ơn sinh thành”, không
còn cách nào khác nàng đành phụ tấm chân tình cùng mối lương duyên tốt đẹp với
Kim Trọng. Trong thâm tâm nàng luôn day dứt và tự trách móc vì cho rằng mình đã
bội ước với Kim Trọng. Hành động "trăm nghìn gửi lạy" cùng lời tha thiết, cảm thán
"Tơ duyên ngắn ngủi, có ngần ấy thôi" là lời tạ lỗi đầy day dứt, xót xa dành cho chàng
Kim. Phải là một người yêu thương, trân trọng tình yêu thiêng liêng với Kim Trọng
nhiều đến thế nào Kiều mới tự trách móc, dằn vặt chính mình đến như thế?
Sau những tỏ bày gửi chàng Kim là lời Kiều than trách cho phận mình bạc bẽo, sự tự
ý thức về thân phận mình đã cho thấy Kiều là một người thấu hiểu lẽ đời, đó cũng là
một dự cảm của nàng về tương lai không mấy êm ả trong cuộc đời mình:
"Phận sao phận bạc như vôi.
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
Lời kêu than đầy uất ức về nỗi đau thân phận như một biểu hiện đầy tự nhiên khi nỗi
xót xa lên đến đỉnh điểm trong Kiều. Các thành ngữ "bạc như vôi", "nước chảy hoa
trôi" như một lời thở than, trách móc uất nghẹn của Kiều trước cuộc đời bất công,
trước một xã hội tàn nhẫn đã đẩy nàng vào bế tắc, khổ đau, tuyệt vọng. Chấp nhận "đã
dành" cho "nước chảy hoa trôi" cũng là sự cam chịu, là biểu hiện về đức hi sinh của
người con gái trước những sóng gió cuộc đời. Và phải chăng, điều đó như báo hiệu
một tương lai mờ mịt, một số phận bạc mệnh của nàng.
Hai tiếng "Kim Lang" tha thiết chứa chan biết bao yêu thương, trân trọng mà Kiều
dành cho Kim Trọng. Điệp ngữ "Kim Lang" kết hợp với thán từ "Ôi", " Hỡi" cùng
nhịp thơ 3/3 như tiếng gào thét tâm can của Kiều. Từng tiếng thơ thốt lên nghẹn ngào,
đau xót, đượm màu nước mắt, nhuốm vị thương đau. Lời từ biệt cuối của người con
gái thủy chung, trọng nghĩa trọng tình ấy mang cả nỗi luyến tiếc, đớn đau đến tận
cùng:
“Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Tám câu thơ cuối trích đoạn tuy không dài nhưng ta vẫn cảm nhận được bao phẩm
chất tốt đẹp nơi Kiều. Đó là lòng chung thuỷ, nhân ái, là sự ý thức thân phận và một
trái tim khát khao hạnh phúc sâu thẳm trong Kiều. Qua tám câu thơ, giá trị nhân đạo
mà Nguyễn Du gửi gắm cũng được thể hiện rõ. Đó là lời lên án xã hội phong kiến đầy
bất công đã đẩy con người vào những bi kịch đớn đau. Là tiếng nói thương cảm trước
những số phận bạc mệnh như Kiều và bày tỏ niềm trân trọng trước những phẩm chất,
tình cảm tốt đẹp của con người trong xã hội. Mặt khác, thành công về nghệ thuật cũng
là một điểm nhấn đầy ấn tượng trong đoạn thơ. Đó là bút pháp miêu tả nội tâm tính tế,
nghệ thuật độc thoại nội tâm, so sánh, ẩn dụ, sử dụng kết hợp các thành ngữ dân gian
cùng thề thể thơ lục bát quen thuộc tất cả đã làm nên một đoạn thơ đầy trọn vẹn và ý
nghĩa.
Trao duyên nói chung và tám câu cuối trích đoạn nói riêng đã góp phần mình vào sự
thành công của tuyệt tác Truyện Kiều. Tin rằng, trong tương lai, Trao duyên cùng với
Truyện Kiều sẽ vẹn nguyên giá trị lâu bền, được bao thế hệ đọc giả trân trọng và giữ
gìn.
Phân tích Trao duyên 8 câu cuối - Mẫu 3
Kết thúc đoạn thơ, bi kịch càng được đẩy lên cao. Mâu thuẫn này nối tiếp mâu thuẫn
khác, Kiều đã hoàn toàn bất lực trước mong muốn níu kéo, cố gắng trở về với tình yêu.
Nhưng tất cả chỉ là quá khứ xa xôi và tương lai mờ mịt.
Dù có quay về quá khứ hãy hướng tới tương lai, cuối cùng Kiều vẫn là con người sống
với thực tại của mình:
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
Hàng loạt những thành ngữ được liệt kê hàm chứa bao bi kịch người con gái. Đó là sự
vỡ tan, dở dang của tình yêu và bọt bèo, trôi nổi của đời Kiều. Bi kịch càng sâu sắc
khi trước hiện tại nàng vẫn không thôi khao khát tình yêu hạnh phúc. Những từ ngữ có
tính chất vô hạn định như "muôn vàn, trăm nghìn" thể hiện sâu sắc khát vọng về một
tình yêu thiết tha, vĩnh viễn. Oan nghiệt thay, khát vọng ấy cũng chính là hiện thực
không gì cứu vãn nổi. Bi kịch tình yêu dâng lên tột đỉnh.
Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho duyên phận của mình tơ duyên
ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật đau khổ biết bao: trao duyên rồi,
đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong lòng
nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lý của
con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu đong càng lắc càng đầy là như thế!
Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. Cuối đoạn thơ,
mặc dù Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em, đã nhờ em trả nghĩa
cho Kim Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn
không nguôi. Vẫn còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng, vẫn biết mình phận bạc,
Thúy Kiều vẫn phải thốt lên đau đớn:
"Ôi Kim lang hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao
người, bao thế hệ! Chỉ một câu thơ và tên Kim Trọng được gọi đến hai lần. Những
thán từ "ôi, hỡi" khiến câu thơ vang lên như một lời than, tiếng gọi thảng thốt, nghẹn
ngào, mang theo lời trăn trối cuối cùng gửi đến chàng Kim trước lúc đi xa. Kiều đã rất
ân cần với chàng Kim thế mà giờ đây nàng tự nhận mình là người phụ bạc, không đổ
lỗi cho hoàn cảnh mà tự nhận hết trách nhiệm về mình. Nàng đâu còn nghĩ đến nỗi
đau của riêng mình. Tất cả tấm lòng, sự lo lắng lại dành cho hạnh phúc của người
mình yêu. Kiều thương chàng Kim hơn chính bản thân mình.
Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã thể hiện xuất sắc những diễn biến phức tạp của
nhân vật. Với hệ thống ngôn từ được sử dụng một cách điêu luyện và độc đáo,
Nguyễn Du chính là một bậc thầy về ngôn ngữ.
Tác phẩm đã làm rung động biết bao trái tim người đọc từ hàng thế hệ nay. Đoạn trích
"Trao duyên" đã phác họa thành công bi kịch tình yêu của Thúy Kiều, nhưng ánh lên
rực rỡ một nàng Kiều đẹp đẽ, sống động với nhân cách cao cả. Càng hiểu nàng bao
nhiêu, ta càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có
thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó
chẳng đáng cảm phục lắm sao.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 4
Dù chỉ là một trích đoạn ngắn từ “Truyện Kiều” nhưng “Trao duyên” đã góp phần thể
hiện thành công những vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều và tài năng sáng tác của thiên
tài Nguyễn Du. Đoạn trích là tiếng lòng tha thiết của Kiều về hoàn cảnh bi đát của gia
đình, của phận mình và của tình yêu đầu đời đẹp đẽ. Đặc biệt, khi thể hiện nỗi xót xa
của nàng Kiều cho duyên phận với chàng Kim, Nguyễn Du đã gây được ấn tượng
trong tám câu thơ cuối đoạn trích:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Trong việc cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên nói riêng hay toàn bộ đoạn trích nói
chung, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả và tác phẩm.
Nguyễn Du (sinh năm 1765 mất năm 1820) còn được người đời biết đến với tên chữ
là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Thể hiện sự tự hào về Nguyễn Du, độc giả từ bao đời
vẫn không ngớt lời ca ngợi vì đại thi hào đã có rất nhiều đóng góp cho nền văn học
nước nhà.
Là người con của vùng đất Hà Tĩnh vùng đất sản sinh biết bao nhân kiệt cho đất
nước, Nguyễn Du nổi danh với các tác phẩm được sáng tác ở cả chữ Hán và chữ Nôm.
Về chữ Hán, ông có những tập thơ nổi tiếng như: “Thanh Hiên tiền hậu tập”, “Nam
trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”. Còn về chữ Nôm, có thể kể đến một số tác phẩm
như: “Truyện Kiều”, “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Thác lời trai phường nón”…
Sở dĩ gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp sáng tác là do Nguyễn Du đã
dùng vốn sống của mình để phản ánh trong tác phẩm hiện thực cuộc đời, không chỉ
vậy nhà thơ còn bộc lộ tấm lòng nhân đạo rất vĩ đại của ông. Thực chất những tác
phẩm chữ Hán của ông là những dòng tự sự về cuộc đời đầy sóng gió, bi kịch của
chính ông: những biến động dữ dội của một thời đại lịch sử trong giai đoạn từ cuối thế
kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã khiến gia đình sống đời lưu lạc, tan tác.
Sống trong xã hội đó, Nguyễn Du được tận mắt chứng kiến những ái ố của cuộc đời
thông qua hình ảnh của những thân phận nhỏ bé phải chịu cảnh chèn ép tàn nhẫn, độc
ác của các thế lực đen tối trong xã hội. Một cách tổng thể, người đọc có thể cảm nhận
được không chỉ ở những tác phẩm chữ Hán mà trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du
đều hiển hiện rõ rệt tấm lòng chân thành của Nguyễn Du với cuộc đời.
Ông phản ánh hiện thực nhưng cốt là để bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với những kiếp
người sống trong đau khổ triền miên. Trong những phận người mà Nguyễn Du thường
viết về họ, ông rất quan tâm đến những người phụ nữ sống kiếp cầm ca, phải đem tài
sắc làm thú vui cho người đời. Và một thành công lớn mà Nguyễn Du đã làm được ở
những sáng tác của mình mà chúng ta không thể không nhắc tới là ông đã vượt lên
một cách ngoạn mục những định kiến của xã hội phong kiến để nỗ lực khẳng định giá
trị cao đẹp của con người.
Là một đoạn được trích từ “Truyện Kiều”, “Trao duyên” gồm 34 câu thơ. Đây là
những câu thơ nằm ở vị trí từ câu 723 đến câu 756 trong kiệt tác tác phẩm. Đoạn trích
hướng người đọc đến nhân vật trung tâm là Thúy Kiều trong một hoàn cảnh rất đỗi
đặc biệt: Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha sau khi gia đình bị vu
oan.
Trong đêm trước ngày phải xa gia đình để theo phường buôn phấn bán hương, Kiều
đã nhờ em gái của mình là Thúy Vân thay Kiều trả nghĩa cho Kim Trọng; phần còn lại
của đoạn trích là những dòng viết về tâm tư nỗi niềm của Thúy Kiều khi nghĩ về cuộc
đời mình và khi nhớ đến Kim Trọng.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy đây là những dòng tâm trạng đau khổ
cùng cực của nàng Kiều sau khi Trao duyên
Sau khi đã nói hết nỗi lòng của mình với em gái, Kiều đã nhìn lại cuộc đời mình rồi
đau đớn nhận ra sự thật phũ phàng là so với quá khứ thì hiện tại có một sự đối lập đến
xót xa:
“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy trong câu thơ trên, việc Nguyễn Du
đã sử dụng hình ảnh ước lệ “trâm gãy gương tan” đã mang lại sự biểu đạt rất hiệu quả.
Thông qua hình ảnh ấy, tác giả đã cho thấy sự nhận thức sâu sắc của nàng Kiều về bi
kịch hiện tại. Kiều bàng hoàng chua xót khi so với thời quá khứ những năm tháng
Kiều đã thật hạnh phúc với mối nh đầu đời như hoa như mộng, bây giờ còn lại chỉ là
những đau đớn tủi phận khi biết bao nhiêu hẹn ước tươi đẹp trở thành hư vô.
“Trâm” và “gương” vốn tượng trưng cho những hình ảnh đẹp đẽ của người con gái
đến tuổi để ý đến dung nhan của bản thân khi tình yêu gõ cửa trái tim. Nhưng những
gì Kiều trân trọng, nâng niu để mong đến một ngày có thể cùng Trọng mãi mãi kề bên
(để có thể hiện thực hóa những gì mà nàng và người yêu đã từng thề nguyền hẹn ước
từ thời khắc “Kể từ khi gặp chàng Kim” “Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”)
bỗng chốc chỉ trong phút giây, tai ương ập đến, tất cả những mong ước vỡ tan thành
mây thành khói.
“Muôn vàn ái ân” không thể cân đo đong đếm ở miền ký ức thơ mộng có sự hiện diện
của Thúy Kiều và Kim Trọng mà nàng nhắc đến ở câu thơ tiếp theo như càng làm tăng
thêm sự đối lập so với những đau khổ mà nàng vừa nhắc đến ở câu thơ trước đó. Khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy nhìn vào tình cảnh của Kiều để thấy
những gì mà nàng phải chịu đựng ở độ tuổi xuân sắc lẽ ra vốn vẫn còn được sống
trong vòng tay yêu thương, bảo bọc của mẹ cha mới thấy thương, thấy xót hơn cho
nàng.
Không chỉ bản thân Kiều mà ngay cả người đọc cũng không khỏi lo lắng, hoang mang
cho những tháng ngày sắp tới mà Kiều phải vượt qua. Đối chiếu giữa thực tại và một
thời đã xa, đau khổ có dâng trào thành từng dòng nước mắt thì Kiều cũng không thể
làm nó trở về trạng thái bình yên xưa cũ, thế nên nàng chỉ còn có thể ngậm ngùi để
tìm cách an ủi, động viên chính mình và người yêu:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”
Nói ra những lời ấy, Kiều thật mong Trọng cũng chấp nhận cho duyên tình giữa chàng
và Kiều chỉ là những ký ức ngắn ngủi dù tươi đẹp biết bao. Cảm nhận 8 câu cuối bài
Trao duyên, ta cũng thấy rằng khi cậy nhờ em “xót tình máu mủ thay lời nước non”
mà giúp nàng giữ duyên, Kiều cũng đã rất thành khẩn khi bảo em “ngồi lên” để mình
“lạy”, giờ đây, lại thêm một lần thành khẩn, nhưng Kiều gửi cái “lạy” tạ lỗi đến một
người rất quan trọng với nàng là chàng Kim. Từng lời nói, từng hành động của Kiều
được thể hiện trong thơ đã giúp hiện hữu ở trang viết của Nguyễn Du hình ảnh người
con gái mang nặng nghĩa tình với mối tình dang dở nhưng không có cách nào cứu vãn
nó.
Cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên trong hai câu thơ tiếp theo, dường như Nguyễn
Du đã tạo cơ hội đã Kiều có thể trút hết nỗi lòng mà khóc nức nở cho thân phận của
mình:
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Có lẽ từ đầu buổi “trao duyên” đến thời điểm thổn thức trong tiếng khóc nàng, Kiều
đã rất cố gắng để kìm giữ hết sức có thể để bình tĩnh nói cho trọn vẹn điều nàng mong
muốn. Đến khi nhận mong muốn em gái thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng có lẽ đã
được chấp thuận, rồi nàng cẩn thận dặn dò Thúy Vân, Thúy Kiều mới cho phép bản
thân mình có thể thương xót cho nàng một cách thành thật nhất, tự nhiên nhất.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy Kiều tự ý thức được một điều là
số phận của nàng không khác gì màu vôi bạc. Trước đây, khi Kiều được sống êm đềm
trong mái ấm gia đình, Kiều có thể chưa bao giờ tưởng tượng ra được viễn cảnh ê chề
giống như ngày hôm nay Kiều chứng kiến. Nhưng thật lòng mà nói, chắc ngay cả
tưởng tượng, Kiều cũng không hẳn tưởng ra những đau khổ phũ phàng lại ập đến cuộc
đời mình nhanh vội như vậy, nhanh đến mức Kiều còn chưa kịp trải đời để có thể ứng
phó.
Thế nên Kiều phải đối diện với nó trong bàng hoàng và sự hoang mang tột độ. Rồi nỗi
đau cứ thế mà tăng lên thêm mãi khi Kiều còn nhận thấy một tương lai mù mịt, tăm tối
không biết sẽ như thế nào. Cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy rằng
Kiều cảm nhận được đó là một tương lai “nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tháng ngày sắp
tới mờ mịt và có lẽ với Kiều, những gì còn lại sau những đau thương đầu đời có lẽ chỉ
là những hình ảnh thân thương, quý giá về gia đình, người yêu mà Kiều lưu lại trong
trí.
Cuối cùng, nỗi đau khổ, tuyệt vọng cứ tuôn trào mạnh mẽ thành tiếng gọi người yêu
đầy tha thiết nhưng lại đau đến xé lòng:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Mỗi một thanh âm về tiếng gọi người yêu mà Kiều thốt lên chắc hẳn cũng là ngần ấy
lần nàng quặn thắt tâm can mà đau đớn xót xa. Những từ diễn tả sự xót xa tủi phận cứ
liên tiếp xuất hiện và được xâu lại thành chuỗi: “ngắn ngủi”, “lỡ làng”, “thôi thôi”,
“Kim lang”, “phận sao phận” đã tạo thành những cơn sóng của đau thương ồ ạt bủa
vây lấy người con gái đáng thương mà nàng đã gắng hết sức không để cho nó quật ngã.
Thế nhưng, có lẽ sức người có hạn, gắng gượng bao nhiêu nàng cũng không thể che
giấu đi những tổn thương mà nàng đang gánh chịu. Vậy nên cố gắng cuối cùng của sự
gắng gượng chính là tiếng gọi Kim Trọng để rồi sau đó, nàng nhận lỗi và nói lời tạ từ
với Trọng, đó cũng là lời tự trách bản thân mình trong day dứt, dằn vặt.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, người đọc cũng thấy tiếng kêu thốt lên ấy đã
hòa trong tiếng nấc thể hiện Kiều thương mình nhưng nhiều hơn cả là sự xót xa dành
cho chàng Kim. Trong sự tan vỡ của tình yêu của hai người, Kiều nhận hết trách
nhiệm, lỗi lầm về mình và tự gán cho mình là kẻ phụ bạc. Việc Kiều lấy hết can đảm
để thốt lên lời thú nhận đó đã làm hiện lên ở nàng những vẻ đẹp đáng trân trọng.
Đó là vẻ đẹp của người con gái rất đỗi cao thượng trong tình yêu, dẫu bị hoàn cảnh xô
đẩy, dồn đuổi đến cùng đường để đưa ra quyết định tưởng chừng không thể đau xót
hơn nữa quyết định bán mình. Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy Kiều
vẫn xem mình là người đáng phê phán vì đã phụ bạc một tình yêu tuy mới chớm nở
nhưng đã rất đậm sâu. Đó chính là phẩm chất đáng quý nơi Kiều khiến ta mỗi lúc mỗi
yêu quý nàng hơn.
Nhìn tổng thể khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy Nguyễn Du đã nêu bật
lên sự tha thiết, trân trọng của Thúy Kiều đối với tình yêu thông qua hành động “trao
duyên”. Cũng bằng cách thể hiện đó, Nguyễn Du đã bộc lộ rõ những vẻ đẹp ở phẩm
chất của người con gái đầu lòng họ Vương: vừa là một mẫu người nêu gương đạo đức
khi lấy chữ hiếu làm đầu, vừa là một hình ảnh nữ nhân lý tưởng khi có ý thức và nỗ
lực hết mình để thể hiện thái độ trân trọng, nâng niu dành cho tình yêu đích thực của
mình.
Bên cạnh những nội dung đã điểm qua ở trên, điều làm nên sự thành công trong việc
chuyển tải những thông điệp mà tác giả gửi gắm còn nằm ở nghệ thuật của đoạn trích.
Trong đoạn trích này, Nguyễn Du đã vận dụng thật hiệu quả nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật để làm nổi bật ở nhân vật những phẩm chất đáng trọng. Bên cạnh đó, khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy tài năng của đại thi hào Nguyễn Du
trong việc lựa chọn hình thức độc thoại nội tâm để bộc bạch những tâm tư cùng với
nỗi niềm chất chứa trong lòng của nàng Kiều.
Như vậy, với những ý nghĩa về nội dung và giá trị về nghệ thuật nói trên, đoạn trích
“Trao duyên” nói chung và tám câu thơ cuối đoạn trích nói riêng đã giúp cho người
đọc có thể phần nào đồng cảm và thấu hiểu cho nỗi lòng của nhân vật Thúy Kiều. Đó
cũng là tình cảm dành cho những kiếp nữ nhân tài hoa nhưng bị sự cay nghiệt của số
phận dồn ép đến tận cùng. Tuy nhiên, phải thừa nhận một điều rằng dù cho tình cảnh
có ngang trái, éo le đến nhường nào, ở họ vẫn toát lên những vẻ đẹp đáng quý.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 5
Trao duyên cho em, nỗi đau này ai có thể thấu cho nàng Kiều. Sau giây phút vô cùng
đau đớn, Kiều rơi vào nỗi đau khổ và tuyệt vọng đến cùng cực, nàng nghĩ về Kim
Trọng và càng đau xót hơn, nỗi đau đó được thể hiện trong tám câu thơ cuối trong
đoạn trích: “Trao duyên”.
Trong tột cùng nỗi đau khổ và tuyệt vọng, Kiều nghĩ về Kim Trọng. Với nàng Kim
Trọng là tất cả, là niềm tin, hy vọng, là niềm an ủi, chia sẻ với nàng mọi điều. Tuy
nhiên, Kim Trọng lại đang ở cách nàng rất xa, bởi thế cuộc đối thoại này với Kim
Trọng chỉ là trong tưởng tượng. Nàng cất lên lời than vô cùng chua xót, đau đớn trước
thực tại phũ phàng:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Thành ngữ “Trâm gãy gương tan” là sự tan vỡ của tình yêu, cũng là sự tan nát trong
trái tim Thúy Kiều. Tình yêu với của nàng với Kim Trọng ngày một nâng lên, ngày
càng tha thiết thì nỗi đau, sự dằn vặt trong trái tim nàng càng mạnh mẽ, càng đớn đau
hơn. Lời nàng tạ tội của nàng thật thương tâm: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân/ Tơ
duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”. Kiều cất lên lời oán trách số phận, trách sự vô tình,
khắc nghiệt của cuộc đời, than thở cho số phận éo le, mỏng manh, bạc bẽo của bản
thân.
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Dường như lúc này đây tình cảm của nàng đã lấn át cả lý trí. “Phận bạc” ở đây được
sử dụng như một lời nói lên án cả xã hội phong kiến. Nhưng dù như vậy nàng cũng
đành bất lực “đã đành” như một lời thở than, cam chịu số phận đớn đau. Số phận nàng
ta cũng bắt gặp trong rất nhiều tác phẩm như nàng Vũ Nương bất hạnh bị chồng ruồng
rẫy phải tự vẫn để minh oan, hay những người con gái được phản ánh trong các câu ca
dao:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Câu thơ cho thấy thân phận nhỏ bé hơn bao giờ hết của nàng Kiều. Hơn thế nữa, câu
thơ cũng là lời dự cảm, một lời lo lắng cho tương lai đầy bất trắc phía trước. Hình ảnh
“hoa” vốn là biểu trưng cho người con gái đẹp, ở đây không ai khác chính là nàng
Kiều nhưng những bông hoa ấy lại trôi lỡ làng, vô định, không biết cuộc đời sẽ ra sao
và đi đâu về đâu. Nỗi đau trào dâng, bao nhiêu tình cảm dồn nén choán đầy cả tâm trí.
Bởi vậy, nàng thốt lên lời xin lỗi đầy đau đớn với Kim Trọng:
Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Có lẽ rằng đây là lần cuối cùng nàng có thể gọi Kim Trọng là “Kim Lang” tha thiết
như thế. Thúy Kiều gọi Kim Trọng hai lần dường như bao nhiêu tình cảm chất chứa
đều được thốt lên qua tiếng gọi người yêu đầy tha thiết của nàng. Kiều vẫn nhận mình
là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên không ngớt trong lòng nàng. Sau
đoạn đối thoại với Kim Trọng nỗi đau về tình yêu tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều.
Sau cả một đêm thức trắng không thể tiếp tục chịu đựng hơn được nữa, Kiều đã ngất
đi:
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng
Kết thúc đoạn trích “Trao duyên”, duyên thì được trao, nhưng tình thì lại không thể.
Mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí trong trái tim Kiều vì thế chưa được giải quyết hoàn
toàn. Mặc cảm vì mình là người phụ tình, nỗi đau ấy sẽ còn dày xé nàng trong suốt
mười lăm năm lưu lạc.
Đoạn trích là sự kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình, ngôn ngữ độc thoại đã cho thấy
nỗi đau đớn đến tột cùng của Thúy Kiều. Nhưng đồng thời qua những câu thơ ngắn
ngủi đã cho thấy tình cảm và nhân cách đẹp đẽ của nàng, dù rơi vào đau khổ tuyệt
vọng đến cùng cực nhưng nàng vẫn luôn lo nghĩ cho người khác mà quên đi nỗi đau
của bản thân.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 6
Kết thúc đoạn thơ, bi kịch càng được đẩy lên cao. Mâu thuẫn này nối tiếp mâu thuẫn
khác, Kiều đã hoàn toàn bất lực trước mong muốn níu kéo, cố gắng trở về với tình yêu.
Nhưng tất cả chỉ là quá khứ xa xôi và tương lai mờ mịt.
Dù có quay về quá khứ hãy hướng tới tương lai, cuối cùng Kiều vẫn là con người sống
với thực tại của mình:
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vài ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
Hàng loạt những thành ngữ được liệt kê hàm chứa bao bi kịch người con gái. Đó là sự
vỡ tan, dở dang của tình yêu và bọt bèo, trôi nổi của đời Kiều. Bi kịch càng sâu sắc
khi trước hiện tại nàng vẫn không thôi khao khát tình yêu hạnh phúc. Những từ ngữ có
tính chất vô hạn định như "muôn vàn, trăm nghìn" thể hiện sâu sắc khát vọng về một
tình yêu thiết tha, vĩnh viễn. Oan nghiệt thay, khát vọng ấy cũng chính là hiện thực
không gì cứu vãn nổi. Bi kịch tình yêu dâng lên tột đỉnh.
Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho duyên phận của mình tơ duyên
ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật đau khổ biết bao: trao duyên rồi,
đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong lòng
nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lý của
con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu đong càng lắc càng đầy là như thế!
Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. Cuối đoạn thơ,
mặc dù Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em, đã nhờ em trả nghĩa
cho Kim Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn
không nguôi. Vẫn còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng, vẫn biết mình phận bạc,
Thúy Kiều vẫn phải thốt lên đau đớn:
"Ôi Kim lang hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao
người, bao thế hệ! Chỉ một câu thơ và tên Kim Trọng được gọi đến hai lần. Những
thán từ "ôi, hỡi" khiến câu thơ vang lên như một lời than, tiếng gọi thảng thốt, nghẹn
ngào, mang theo lời trăn trối cuối cùng gửi đến chàng Kim trước lúc đi xa. Kiều đã rất
ân cần với chàng Kim thế mà giờ đây nàng tự nhận mình là người phụ bạc, không đổ
lỗi cho hoàn cảnh mà tự nhận hết trách nhiệm về mình. Nàng đâu còn nghĩ đến nỗi
đau của riêng mình. Tất cả tấm lòng, sự lo lắng lại dành cho hạnh phúc của người
mình yêu. Kiều thương chàng Kim hơn chính bản thân mình.
Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã thể hiện xuất sắc những diễn biến phức tạp của
nhân vật. Với hệ thống ngôn từ được sử dụng một cách điêu luyện và độc đáo,
Nguyễn Du chính là một bậc thầy về ngôn ngữ.
Tác phẩm đã làm rung động biết bao trái tim người đọc từ hàng thế hệ nay. Đoạn trích
"Trao duyên" đã phác họa thành công bi kịch tình yêu của Thúy Kiều, nhưng ánh lên
rực rỡ một nàng Kiều đẹp đẽ, sống động với nhân cách cao cả. Càng hiểu nàng bao
nhiêu, ta càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có
thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó
chẳng đáng cảm phục lắm sao.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 7
Trong giây phút ấy, Vân bỗng bị “hồn” Kiều quên đi. Kiều đang sống mà cảm thấy
như mình đã chết, đang nói với em mình mà không biết đang nói với ai, lúc này, Kiều
rơi vào trạng thái độc thoại nội tâm. Nỗi bất hạnh hiện lên thật trọn vẹn, hiện lên trong
hình dung nhưng rất cụ thể khiến Kiều vô cùng tuyệt vọng:
Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể là sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Lời đối thoại có sự chuyển hướng: Đang nói với em Vân, Kiều dường như quay sang
nói với chàng Kim hay nói khác hơn, trước mắt Kiều, Thuý Vân trở thành chàng Kim.
Cho nên bao nhiêu tình thương nỗi nhớ, nỗi thương yêu ấp ủ, nỗi đau khổ thống thiết
cho mối tình đầu tan vỡ bỗng tuôn tràn ra. Nhìn lại cái “bây giờ” của Kiều chỉ thấy
mất mát. “Trâm” và “gương” là biểu tượng của tình duyên ngày xưa. Thế nhưng giờ
“Trâm” đã “gãy” còn “gương” cũng đã vỡ “tan” cả. Hình tượng “Trâm gãy gương
tan” là hình ảnh của tình duyên tan vỡ. Kiều đã nhận của chàng Kim “muôn vàn ái ân”
đến nỗi “kể làm sao xiết” mà giờ đây Kiều lại phản bội, thất hứa, làm “tơ duyên ngắn
ngủi”, “trâm gãy gương tan”. Nghẹn ngào, cay đắng, xót xa bấy nhiêu tâm trạng đối
diện với Kiều.
Tuy trao duyên cho em Vân, nhờ em “thay lời nước non” với chàng Kim, Kiều vẫn
thấy mình chịu muôn vàn tội lỗi nên nàng đã gửi lại “trăm nghìn cái lạy” cho “tình
quân”-người đã cùng nàng trải qua bao kỷ niệm tình yêu nồng nàn, say đắm, đã cùng
nàng thề nguyền trăm năm bên nhau mà cuối cùng lại bị nàng phản bội-mà vẫn cảm
thấy chưa đủ. Trước đây ít phút, nàng đã “lạy” em Vân của mình để cầu xin em nối
duyên với chàng. Khác hẳn với cái lạy “mang ơn”, cái “lạy” này là cái lạy tạ tội vô
cùng thống thiết. Trong tình cảnh này, Kiều vẫn không thể làm gì hơn ngoài sự tạ tội.
Và cái lạy đó đối với Kiều đã kết thúc mối tình đầu ngắn ngủi, đầy tiếc nuối. Câu “Tơ
duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” Kiều thốt lên sao mà thấm đượm vị chua chát, cay
đắng của sự chia ly lứa đôi. Đến đây, Kiều mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận của
mình giữa cõi đời bất công:
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Đó là lời oán trách, lời than oán số phận “bạc như vôi” của mình.Lời than oán của
Kiều không ai có thể trả lời được, đó là một lời than oán cay đắng, tuyệt vọng, kêu lên
chỉ để oán trách trời mà thôi! Rồi đây số phận của Kiều sẽ trôi dạt như bông hoa đẹp
đẽ đã “đành trôi” trên dòng nước dơ bẩn, nhơ nhớp chảy cuốn xiết, lỡ làng, không thể
nào cứu vãn được nữa. “Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan,
nghĩa là tuổi thanh xuân trinh trắng và đẹp đẽ của Kiều đã chấm dứt từ đây. Và lúc đó,
trong những giây phút cuối cùng của cuộc trao duyên, Kiều cất tiếng gọi người yêu:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
“Thôi thôi” là tiếng than tiếc rẻ, dằn vặt. “Thôi thôi” cũng là tiếng xác nhận sự phụ
bạc của mình.Tiếng gọi của nàng như một tiếng kêu chới với và tuyệt vọng bởi vì
không có hồi âm.Kiều đã gắng gượng đến phút cuối cùng, lấy hết sức mình để thốt lên
những tiếng kêu cuối cùng tiếng kêu than oán, kêu cứu của một người phụ nữ “tài
hoa bạc mệnh” trong xã hội phong kiến.Sau tiếng kêu não lòng ấy, Kiều ngất đi, kết
thúc cuộc trao duyên đầy chất trữ tình:”Cạn lời hồn ngất máu sau-Một hơi lặng ngắt
đôi tay giá đồng”
Đoạn thơ “Trao Duyên” đúng là Kiều đã nói hết lời (“cạn lời”). Lời trao duyên như
nói một lời trăn trối, vĩnh biệt. Trước lời trao duyên, tình yêu thật mặn nồng, say đắm,
hạnh phúc, sau lời trao duyên mình đã trắng tay, đôi lứa chia ly, tình yêu tan vỡ.
Trước khi trao duyên mình là người sống, sau khi trao duyên mình là hồn oan nơi chín
suối. Bằng tài năng tuyệt vời của mình, Nguyễn Du hình dung rất rõ và thể hiện rất
thành công số phận bi kịch, nội tâm rối bời, tâm trạng đau khổ, dằng dặc, cay đắng,
xót xa và tuyệt vọng trong cuộc trao duyên của Kiều với việc sử dụng một cách khéo
léo, tinh tế, sắc sảo từ ngữ, nhiều biện pháp nghệ thuật thích hợp, kết hợp linh động lời
kể với lời tự tình, lời độc thoại, ……, làm cho đoạn “Trao duyên” trở thành đoạn thơ
lâm li nhất trong Truyện Kiều. Và đó cũng là lý do vì sao Truyện Kiều trở thành bất
hủ!
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 8
Truyện Kiều - một thi phẩm bất hủ của tác giả Nguyễn Du, được viết dựa vào một tác
phẩm cổ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một tác giả sống vào đời
nhà Thanh, Trung Quốc. Truyện kể về cuộc đời đầy đau thương mất mát của Thuý
Kiều, trải qua muôn vàn sóng gió, khổ hạnh, chết đi sống lại,… cuối cùng hạnh phúc
cũng mỉm cười với nàng. 8 câu cuối bài thơ đã thể hiện được tất cả nỗi lòng của Kiều.
Thuý Kiều một người con hiếu hạnh, tài đức vẹn toàn.
Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình chuộc cha. Nhưng làm vậy thì nàng đã
phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang Kim Trọng. Tình thế ép
buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị trao duyên lại cho em,
nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng Thuý Kiều rất đau đớn, day
dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị sắp đi xa vĩnh viễn “một đi
không trở lại”. Bốn câu thơ tưởng chừng như Thuý Kiều đang trăn trối nói về ngày
sau khi mình chết đi. Mai sau em “đốt lò hương”, nhìn thấy trời “hiu hiu gió” thì hồn
chị đã về: Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống khổ của một kẻ phụ tình. Trước
khi thát oan, nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho người bạn tình chung thuỷ vì tội
đã phản bội lại lời thề nguyền.
Nhưng làm vậy thì nàng đã phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang
Kim Trọng. Tình thế ép buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị
trao duyên lại cho em, nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng
Thuý Kiều rất đau đớn, day dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị
sắp đi xa vĩnh viễn “một đi không trở lại”.
Bốn câu thơ tưởng chừng như Thuý Kiều đang trăn trối nói về ngày sau khi mình chết
đi. Mai sau em “đốt lò hương”, nhìn thấy trời “hiu hiu gió” thì hồn chị đã về:
Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống khổ của một kẻ phụ tình. Trước khi thát oan,
nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho người bạn tình chung thuỷ vì tội đã phản bội
lại lời thề nguyền. Nỗi day dứt ấy chị vẫn mang theo xuống cửu tuyền. Hôm nay chị
trở về thì đã "âm dương cách biệt đôi đường" không thể nói được gì, chỉ xin rảy cho
chén nước để oan hồn chị được siêu thoát. Khát vọng, nhu cầu của con người và thực
tế cuộc sống mà con người phải đối mặt: người đàn bà trong câu chuyện chỉ mong có
một cuộc sống( bình yên, êm ấm, mong những đứa con của chị được ăn no, muốn
được thấy cảnh vợ chồng con cái quây quần bên nhau để có những giờ phút vui vẻ.
Nhìn lại thực tại, nghĩ đến tình quân nàng nhắn nhủ đôi lời tâm sự, giãi bày:
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Giờ đây mọi chuyện đã tan vỡ, lỡ làng, nói làm sao hết những tình cảm tha thiết, da
diết, những kỉ niệm ngọt ngào ân ái ngày xưa đã trao nhau. Thôi thì thiếp đành cam
chấp nhận số phận, tơ duyên ngắn ngủi, hạnh phúc quá mong manh, kiếp này đã lỡ
phu thê, thiếp xin bái biệt đi về cõi âm. Lời nhắn nhủ vừa mang nỗi tiếc nuối, vừa cam
chịu chỉ "có ngần ấy thôi" ít ỏi quá chàng ơi, nhưng không thể nào kéo dài thêm được
nữa. Khát vọng, nhu cầu của con người và thực tế cuộc sống mà con người phải đối
mặt: người đàn bà trong câu chuyện chỉ mong có một cuộc sống( bình yên, êm ấm,
mong những đứa con của chị được ăn no, muốn được thấy cảnh vợ chồng con cái
quây quần bên nhau để có những giờ phút vui vẻ. Thế nhưng, chị lại phải đối mặt với
một bi kịch gia đình: luôn bị người chồng đánh đập, hành hạ một cách tàn nhẫn. Và dù
rất thương con, muốn bảo vệ các con, tránh cho chúng khỏi bị tổn thương thì chị vẫn
khiến những đứa con đầu lòng, bị tổn thương vì phải chứng kiến cảnh bố đánh mẹ.
Tình cảm đạo đức và hành vi trái đạo đức: thằng Phác vì thương mẹ, muôn bênh vực
mẹ nhưng do còn non nớt trong nhận thức và bồng bột trong cách ứng xử nên đã có
một hành động dại dột là xông vào đánh bố, thậm chí cầm dao định đâm bố. Nếu hành
động này không được ngăn cản sẽ khiếm bi kịch chồng chất nên bi kịch vốn đã rất
nặng nề căng thẳng trong cuộc sống của gia đình ấy. Với những hành động này, Phác
vốn là đứa con thương mẹ, là chỗ dựa, niềm an ủi cho người mẹ lại trở thành một mũi
dao đâm thẳng vào lòng mẹ nó để làm nhỏ xuống những giọt nước mắt.
Câu thơ chứa chan tình cảm, xót xa đau cho kiếp số phũ phàng, chua chát - lời thơ như
hờn oán, trách móc than thân trách phận:
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Lời thơ uất nghẹn, phận gì? mà bạc như vôi? Phận trâu ngựa, kiếp chó mèo chứ không
phải là phận người, kiếp người nữa. Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình
chuộc cha. Nhưng làm vậy thì nàng đã phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc
với tình lang Kim Trọng. Tình thế ép buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân,
xem như chị trao duyên lại cho em, nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng
dù rằng Thuý Kiều rất đau đớn, day dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể
rằng chị sắp đi xa vĩnh viễn “một đi không trở lại”. Bốn câu thơ tưởng chừng như
Thuý Kiều đang trăn trối nói về ngày sau khi mình chết đi. Mai sau em “đốt lò hương”,
nhìn thấy trời “hiu hiu gió” thì hồn chị đã về: Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống
khổ của một kẻ phụ tình. Trước khi thát oan, nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho
người bạn tình chung thuỷ vì tội đã phản bội lại lời thề nguyền. Cuộc đời quá cay
đắng, bạc bẽo hay xã hội quá bất công, tàn nhẫn với con người tài sắc vẹn toàn như
Thuý Kiều. Đành rằng cuộc đời “nước chảy hoa trôi” nhưng cũng có giới hạn thôi chứ
sao mà quá bi đát, quá phũ phàng đến vậy. Quay về với thực tại Thuý Kiều như bừng
tỉnh, thốt lên:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Việc “trao duyên” đã thành, việc bán mình cũng đã xong, thì bi kịch của Thuý Kiều
cũng đến. "Ôi", "Hỡi" Kim Lang, Thuý Kiều gọi tên tình nhân lần sau cuối trong nước
mắt nhạt nhoà, nàng ôm nỗi đau giằng xé tâm can khi biết chắc chắn rằng từ đây nàng
đã mất chàng Kim mãi mãi. Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình chuộc cha.
Nhưng làm vậy thì nàng đã phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang
Kim Trọng. Tình thế ép buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị
trao duyên lại cho em, nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng
Thuý Kiều rất đau đớn, day dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị
sắp đi xa vĩnh viễn “một đi không trở lại”. Bốn câu thơ tưởng chừng như Thuý Kiều
đang trăn trối nói về ngày sau khi mình chết đi. Mai sau em “đốt lò hương”, nhìn thấy
trời “hiu hiu gió” thì hồn chị đã về: Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống khổ của
một kẻ phụ tình. Trước khi thát oan, nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho người
bạn tình chung thuỷ vì tội đã phản bội lại lời thề nguyền.
Sự thật ấy làm cho Thuý Kiều kêu lên thống thiết “thôi thôi” một cách vật vã, đớn đau
“đứt từng đoạn ruột”. Điều đó cho ta thấy được tình cảm của Thuý Kiều dành cho
Kim Trọng vô cùng lớn, vô cùng sâu đậm, chung thuỷ sắc son.
Sự “hi sinh” của Thuý Kiều làm cho người đời cảm phục, tình cảm của Thuý Kiều
làm cho chúng ta trân quý yêu thương. Đó là điểm sáng chói ngời trong phẩm giá con
người Thúy Kiều, khiến cho nàng sống mãi trong lòng người đọc.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 9
Trao Duyên là một trong những đoạn trích cảm động, đau thương nhất trong Truyện
Kiều, ở đó Nguyễn Du đã thể hiện khả năng nắm bắt tâm lí nhân vật tài tình, đồng thời
thấy được bi kịch tình yêu, bi kịch nỗi đau tâm hồn đầy giằng xé của Thúy Kiều khi
trao duyên cho Thúy Vân. Đặc biệt là 8 câu thơ cuối.
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Sự thức tỉnh của Thúy Kiều về nỗi đau của đời mình, để thấm thía hơn hiện thực mối
tình đẹp đẽ sâu nặng tha thiết với chàng Kim giờ chỉ đành bỏ ngỏ, không thể tái hồi,
dẫu có ghép lại thì cũng không còn được như xưa. “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”,
đối lập giữa cái bây giờ và cái bao giờ. Cái bây giờ là hiện tại đớn đau, cái bao giờ là
mảnh tình một thuở muôn vàn ái ân. Hạnh phúc với Kiều lúc này chỉ là một tương lai
mờ mịt xa xăm chỉ có thể cảm thấy mà không nhìn thấy.
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
“hồng nhan bạc mệnh”, câu nói ấy dường như ám cả vào nàng, vào cuộc đời nàng,
suốt đời ôm lấy kiếp long đong. Chính xã hội phong kiến kim tiền giả dối, thối nát và
tàn ác đã đẩy Kiểu đến bước đường cùng đầy đau đớn này, nhưng dù như vậy phận nữ
nhi thường tình, nàng còn có thể làm gì hơn được nữa, nàng cũng đành bất lực “đã
đành” như một lời thở than, cam chịu số phận đớn đau. Câu thơ như lời đối thoại, mà
cũng như lời độc thoại đớn đau đến tột cùng, Kiều than cho số kiệp bạc bẽo, thân phận
bèo bọt của mình, cũng giống như biết bao nhiêu kiếp hồng nhan bạc mệnh khác bị
cuống vào guồng quay oan nghiệt của xã hội phong kiến. Câu thơ vang lên nặng nề, ai
oán như một lời nghi vấn nghìn năm thiên cổ, như thay cho tiếng nói của biết bao số
kiếp bạc mệnh khác.
Nhưng trong đỉnh điểm của nỗi đau riêng lắng của mình, Kiều lại nghĩ đến chàng Kim.
Tên Kim Trọng vang lên lúc này, như một tiếng kêu thương của một người đang chới
với trước bờ vực thẳm của đời mình:
"Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Sự thực là có một Thúy Kiều đã chết, đó là cái chết trong tâm hồn,cái chết của mối
tình đầu chưa trọn vẹn suốt 15 năm lưu lạc mãi vẫn tan nát cõi lòng. Rõ ràng trong
đau đớn Kiều vẫn hướng về Kim Trọng, vẫn một lòng thủy chung son sắt với chàng,
thế nhưng nàng vẫn nhận mình là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên
không ngớt trong lòng nàng. Sau những dòng tâm tư quằn quại, nỗi đau về tình yêu
tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều. Sau cả một đêm thức trắng, thể xác mệt nhọc,
tâm hồn, trái tim tan nát, Kiều dường như không thể trụ vững được nữa:
“Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng"
Trong tột cùng của nỗi đau, ta vẫn thấy tỏa sáng một tình yêu cao đẹp, đẹp đến đau
thương, bi thương cho số kiếp nàng Kiều , “hồn ngất máu say”, “hơi lạnh ngắt”, tất cả
những cách diễn đạt như ghim những khắc khoải vào lòng người đó, đã trở thành niềm
đau đáu tâm can, làm cồn lên những dày xé bất tận trong lòng người đọc về cái kết
quá đỗi bi thương, cũng vì một trái tim yêu quá sâu nặng, tha thiết đến quặn thắt của
Kiều. Với nàng, tình yêu cho chàng Kim là lẽ sống, bây giờ lẽ sống ấy đã không còn,
sự thực chẳng khác nào, sống không bằng chết.
Nếu không có một trái tim đồng cảm với nàng kiều, sao Nguyễn Du có thể viết những
câu thơ như rỉ máu đầu ngọn bút như thế, trang văn, từng nhịp thơ, lời thơ như tiếng
lòng gào thét, cũng đầy uất nghẹn, bế tắc của Thúy Kiều. Đó thực sự là sự đồng điệu
đến từng điệu hồn tế vi nhất của tác giả và nhân vật.
Phân tích Trao duyên 8 câu cui - Mẫu 10
Đại thi hào Nguyn Du đã để lại một di sn văn hóa vô cùng to ln, là kit tác ca văn
học trung đi Vit Nam - Truyn Kiu. Trong mi đon trích ca tác phm, thông qua
nhân vt Thúy Kiu tác giđã lan ta cnhng giá trhin thc và giá trnhân đo
trong tng câu thơ. Đc bit là trong đon trích Trao duyên - một đon trích tiêu biu,
cao trào cho bi kch ca cuc đi Thúy Kiu, tám câu thơ cui đưc ví như li oán
thán, tiếng thét không nên li ca mt kiếp ngưi nhbé đành cam chu san bài ca
số phn.
Sau khi thuyết phc em gái mình là Thúy Vân chp nhn mi nhân duyên vi Kim
Trng, Thúy Kiu đem trao hết tt cnhng kỉ vật gia nàng và Kim Trng cho Thúy
Vân và dn dò em bng nhng li tự tận đáy lòng. Thúy Kiu trong lúc đau đn, xót
xa đã bt giác quên đi vic đang trò chuyn vi em mà chuyn sang đc thoi ni tâm,
đó là khi nàng nhớ về Kim Trng. Tám câu thơ dưi đây là tiếng than oán xé lòng và
lời tbit đy đau thương ca Kiu dành cho tình quân ca mình.
“Bây gitrâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gi ly tình quân
Tơ duyên ngn ngi có ngn y thôi.
Phn sao phn bc như vôi?
Đã đành nưc chy hoa trôi llàng.
Ôi Kim Lang! Hi Kim Lang”
Thôi thôi thiếp đã phchàng tđây!”
Có ththy, trong tám câu thơ trên đã có đến năm câu cm thán, trưc mt ngưi đc
là hình nh ca mt cô gái tài sc vn toàn nhưng sphn đưa đy đến bưc “đon
trưng” đang ngi sp xung buông xuôi tt c. Li thơ ca Thúy Kiu đy đau đn,
chm ti srung cm ca ngưi đc. “trâm gãy gương tan” ám chcho mi tình đã
tan v, tan vtheo cách không thnào hàn gn hay lành li đưc na. Đây slà s
chia ly vĩnh vin, không thể cứu vãn đưc na ri. y vy mà trưc đó nàng và chàng
Kim đã có mi tình đp biết bao “muôn vàn ái ân” vi bao knim và kỉ vật trao nhau.
Bây giờ tất cả đều không còn ý nghĩa gì na, nàng phi rũ bỏ hết, tmình chi btình
cảm y đtrn hiếu nghĩa vi mcha.
Đối vi Kim Trng, ngưi “tình quân” ca nàng đã tin yêu nàng hết lòng, cho đến bây
giờ lại không thcùng nàng trn nghĩa phu thê, đó là điu khiến Thúy Kiu day dt và
đau đn nht. Nàng không biết làm thế nào để tạ lỗi vi Kim Trng, chcòn biết “trăm
nghìn gi ly”, gi cái ly tạ lỗi vi tm chân tình ca chàng Kim, đây là cái ly cho
sự bái bit đy thiêng liêng cho thy Thúy Kiu rt trân trng và chân thành vi mi
tình này. Chmong rng Kim Trng hiu đưc ni lòng, sphn và hoàn cnh ca
mình mà chp nhn se duyên vi em gái. Thúy Kiu đã phi than oán về số phn vi
hàng lot thành ngnhư “tơ duyên ngn ngi”, “phận bạc như vôi”, “hoa trôi llàng”,
ám chcho sphn hm hiu, bc bo, trôi ni ca Thúy Kiu. Nàng Kiu ý thc đưc
số mình đy đau kh, lênh đênh dang d, nếu như quá khứ đầy yêu thương, muôn vàn
ái ân bao nhiêu thì bây gilà thc ti đy đau kh, bẽ bàng by nhiêu, sphn nàng
đã đưc an bài như vy.
Không còn là nhng ngưi lng lcam chu, câm nín chu đng sphn, nhân vt
Thúy Kiu ca Nguyn Du đã bt phá ra khi nhng đnh kiến xã hi đương thi,
dám kêu lên tiếng xót xa, không ngi oán than cho cuc đi và sphn. Mc dù chng
ththay đi nhưng ít ra điu đó thhin rng Thúy Kiu là mt ngưi thu hiu lý l,
trn tình trn nghĩa. Đt mình trong hoàn cnh buc phi chn la gia gia đình và
tình yêu nàng đã chn hy sinh tình yêu đbán thân cu ly cha m. Tiếng gi chàng
Kim “Ôi Kim Lang! Hi Kim Lang” là tiếng gi da diết, nghn ngào, có phn đau đn
trong tuyt vng, ta có thhình dung ra Thúy Kiu đã trthành mt ngưi vô hn,
đau đn đến tn cùng. “Thôi thôi” như là sự kết thúc, không còn hy vng, không còn
gì đchờ đợi, phi chp nhn stht nghit ngã này. Đến đây là kết thúc tình yêu này,
và Thúy Kiu đã chp nhn mình là ngưi phụ bạc, không thchi cãi tình cm nàng
dành cho Kim Trng là tha thiết, chân thành nhưng chhiếu đã buc nàng chn hy
sinh tình yêu, nàng không có la chn khác. Tuy đã nhđưc Thúy Vân gánh vác mi
nhân duyên này nhưng sâu trong thâm tâm ca Thúy Kiu không đưc thanh thn,
nàng đau kh, than thân trách phn và oán thán cuc đi bt công vi mình. Mc
cuc đi ca Kiu đau khnhưng li toát lên nhân cách sáng ngi, nàng vn luôn đòi
hỏi vthân phn, tình yêu đôi la nhưng cũng không quên đi đo nghĩa làm con.
Qua đon trích Trao duyên, chúng ta cm nhn đưc Thúy Kiu không chlà mt hình
ng nghthut, mt sphn đưc sáng to bi bàn tay tài hoa ca đi thi mà nàng
rất gn vi mt con ngưi thc, vi mt nhân cách tnhiên nhiu chiu. Tình cm,
nỗi đau và shy sinh ca Thúy Kiu khiến chúng ta không ngng nghĩ vchính bn
thân mình gia cuộc đi, cm thông cho sự đắng cay, bc bo ca sphn nàng Kiu.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 11
Trao duyên là một trong những đoạn trích cảm động, đau thương nhất trong kiệt tác
Truyện Kiều, ở đó Nguyễn Du đã thể hiện khả năng nắm bắt tâm lí nhân vật tài tình,
đồng thời cho ta thấy được bi kịch trong tình yêu, bi kịch nỗi đau về tâm hồn của
Thúy Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân, đặc biệt là 8 câu thơ cuối:
"Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Quê cha ở Tiên Điền, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, quê mẹ ở Bắc Ninh, nhưng ông lại được sinh ra ở Thăng Long
nhờ đó, Nguyễn Du dễ dàng tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa. Tác giả là con
của một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan to, có truyền thống làm thơ văn và
say mê ca kĩ. Ông sinh ra và lớn lên trong thời kì lịch sử đầy biến động dữ dội của xã
hội phong kiến. Cuộc đời đầy rẫy bi kịch, Nguyễn Du sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải
ở với anh trai là Nguyễn Khản. Gia đình tan tác, bản thân ông cũng đã từng lưu lạc
“mười năm gió bụi” ở quê vợ Thái Bình. Nhưng chính những cơ cực, vất vả đó đã hun
đúc cho ông vốn sống quý giá và sự am hiểu sâu sắc vốn văn hóa dân gian. Nguyễn
Du làm quan dưới hai triều Lê và Nguyễn. Ông là vị quan thanh liêm, được nhân dân
tin yêu, quý trọng. Sự nghiệp văn học của ông rất đồ sộ với những kiệt tác ở nhiều thể
loại: thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập gồm Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm,
Bắc hành tạp lục. Thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều và Văn tế
thập loại chúng sinh. Đoạn trích Trao duyên bắt đầu từ câu 723 đến 756 của Truyện
Kiều.
Sau khi thuyết phục Thúy Vân nhận lời, trao duyên trao kỉ vật và dặn dò em. Kiều
đang sống mà cảm thấy như mình đã chết, đang nói với em mình mà không biết đang
nói với ai, Kiều rơi vào trạng thái độc thoại nội tâm. Nỗi bất hạnh hiện lên thật rõ
khiến Kiều rơi vào cảm giác vô cùng tuyệt vọng:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
"Trâm gãy gương tan" gợi sự đổ vỡ của tình yêu cũng như cõi lòng tan nát của Thúy
Kiều. Việc sử dụng hình ảnh ước lệ đạt hiệu quả cao, thông qua hình ảnh ấy tác giả đã
cho thấy sự nhận thức sâu sắc của nàng Kiều về bi kịch hiện tại. Những ngày tháng
trong quá khứ Kiều đã rất hạnh phúc với Kim Trọng - mối tình đầu đẹp như hoa như
mộng, giờ đây chỉ còn lại những đau đớn không nói thành lời. “Trâm” và “gương” là
hai hình ảnh vốn tượng trưng cho sự đẹp đẽ của người con gái đến tuổi để ý nhan sắc
của bản thân. Những gì Kiều trân trọng bấy lâu, nâng niu từng tí một để mong có một
ngày ở bên Kim Trọng mãi mãi vậy mà chỉ trong phút chốc tất cả những mong ước, hi
vọng đã vỡ tan tành. Kiều đã nhận của chàng Kim "muôn vàn ái ân” nhiều đến nỗi “kể
làm sao xiết” vậy mà giờ đây lại thất hứa, Kiều nghẹn ngào, cay đắng, xót xa cho thân
phận của mình. Nguyễn Du đã mở ra hai chiều thời gian hiện tại và quá khứ. Quá khứ
thì “muôn vàn ái ân” đầy hạnh phúc trong khi ấy hiện tại thì đầy đau khổ, lỡ làng và
bạc bẽo. Sự đối lập nhấn mạnh, khắc sâu bi kịch, nỗi đau của Kiều, càng nuối tiếc quá
khứ đẹp đẽ bao nhiêu thì thực tại càng bẽ bàng, hụt hẫng bấy nhiêu.
Mọi chuyện bây giờ đã lỡ, Kiều không thể làm cho mọi thứ trở về bình yên như xưa
cũ mà chỉ tìm cách động viên, an ủi bản thân mình cũng như người yêu:
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”
Lời nhận tội của nàng thật đáng thương, tội nghiệp. Trăm nghìn cái lạy cho "tình
quân" - người đã cùng nàng trải qua bao kỷ niệm tình yêu thiết tha, nồng nàn, say đắm,
đã cùng nhau thề nguyền trăm năm bên nhau vậy mà cuối cùng nàng lại phản bội.
Trước đó nàng đã “lạy” em của mình để cầu xin em nối duyên với chàng. Nhưng cái
"lạy" lần này là cái lạy mang ơn, là cái lạy tạ tội vô cùng thống thiết. Trong tình cảnh
này, Kiều vẫn không thể làm gì hơn ngoài sự tạ tội. Và cái lạy đó đối với Kiều đã kết
thúc mối tình đầu ngắn ngủi, đầy tiếc nuối. “Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”
Kiều thốt lên sao mà thấm đượm vị chua chát, cay đắng của sự chia ly. Đến đây, Kiều
mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận của mình giữa cõi đời bất công. Kiều cất lên lời
oán trách sự vô tình, khắc nghiệt của cuộc đời, than thở cho số phận éo le, bạc bẽo của
mình không thể giữ nổi hạnh phúc:
"Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
"Phận bạc như vôi" là số phận hẩm hiu, bạc bẽo. Đó là lời oán trách, lời than oán số
phận của Kiều mà không ai có thể thấu hết được, là một lời than oán cay đắng, tuyệt
vọng. Rồi đây số phận của Kiều sẽ trôi dạt như bông hoa đẹp đẽ đã “đành trôi” trên
dòng nước dơ bẩn, nhơ nhớp chảy cuốn xiết, lỡ làng, không thể nào cứu vãn được nữa.
“Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan, nghĩa là tuổi thanh xuân
trinh trắng của Kiều đã chấm dứt từ đây. Trước khi thán oan, nàng chấp nhận cho thân
nát để đền cho người bạn tình chung thuỷ vì đã phản bội lời thề nguyền. Cuộc đời quá
cay đắng hay xã hội quá bất công, tàn nhẫn với con người tài sắc vẹn toàn như Thuý
Kiều. Đành rằng cuộc đời “nước chảy hoa trôi” nhưng cũng có giới hạn thôi chứ sao
mà bi đát quá, phũ phàng quá. Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến
người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý. Chính Kiều là người nhận thức được rõ
nhất về cuộc đời mình, vì thế nỗi đau càng thêm xót xa.
Trong đỉnh điểm của nỗi đau riêng đang cào xé trong tim mình, Kiều lại nghĩ đến
chàng Kim. Tên Kim Trọng vang lên lúc này như một tiếng kêu đáng thương của một
người đang chới với trước bờ vực thẳm của đời mình:
"Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Nhịp thơ 3/3, 2/4/2 vừa da diết vừa nghẹn ngào như những tiếng nấc không thành
tiếng. Thán từ “Ôi, hỡi” là những tiếng kêu đau đớn, tuyệt vọng của Kiều. Hai lần
nhắc đến Kim Lang cho thấy sự tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng. Sự đau
đớn của Kiều được đẩy lên đỉnh điểm, tình cảm bây giờ lấn át cả lí trí. Nàng không thể
nghĩ được gì nữa chỉ biết kêu tên người yêu trong nỗi đau đớn đến cùng cực. Sự thật
làm cho Thuý Kiều kêu lên thống thiết “thôi thôi” một cách vật vã, đớn đau đứt từng
đoạn ruột. Điều đó cho ta thấy được tình cảm của Thuý Kiều dành cho Kim Trọng vô
cùng lớn, vô cùng sâu đậm, chung thuỷ sắc son.
Bằng nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật, sử dụng các từ ngữ tinh tế, đắt giá, các
thành ngữ giàu sức gợi cùng với việc sử dụng các thủ pháp ẩn dụ, so sánh, liệt kê, đối
lập Nguyễn Du đã thể hiện rất thành công số phận bi kịch, nội tâm rối bời, tâm trạng
đau khổ, cay đắng, xót xa và tuyệt vọng trong cuộc trao duyên của Thúy Kiều. Bằng
tài năng của mình tác giả đã làm cho đoạn “Trao duyên” trở thành đoạn thơ bi đát nhất
trong Truyện Kiều, đó cũng là lý do Truyện Kiều vẫn còn nguyên giá trị dù đã trải qua
khoảng thời gian rất lâu rồi.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 12
Mối tình Kim - Kiều buổi ban đầu ngỡ sẽ nên duyên đẹp, nhưng số phận đưa đẩy, đ
cứu cha và em mình, Kiều buộc phải bán thân. Lời hẹn thề cùng vật đính ước, Kiều
đánh ngậm ngùi gửi trao cho em gái Thúy Vân. Tình cảm và lý trí mâu thuẫn, Kiểu
vừa đau, vừa xót, vừa thương. Đoạn trích Trao duyên đã thể hiện rất rõ tâm trạng ấy
của nàng Kiều, đặc biệt, đọc 8 câu cuối đoạn trích ta khóc khỏi xót xa trước những lời
thấu tâm can của Kiều:
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kế làm sao xiết muôn vàn ái ân.
...
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây."
Lời thề nguyền đêm xưa con đó, vậy mà bây giờ đây tình đôi ta vụn vỡ, chia lìa "trâm
gãy, gương tan". Tình yêu đẹp biết bao vậy mà phải chia đôi ai khiến lòng người đau
đớn, xót xa. Hơn thế nữa, Kiều là phận gái, lại là người nặng tình nghĩa, thủy chung,
nàng càng đau gấp bội. Buộc phải trao duyên cho em là lựa chọn cuối cùng của Kiều
dù lòng chẳng đặng, thực tại phũ phàng quá, trái tim nàng, cõi lòng nàng tan nát. Mỗi
lời thốt ra như một lời ai oán khóc thương cho phận mình, cho cuộc tình mình:
"Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng"
Những thành ngữ "phận bạc như vôi" "nước chảy hoa trôi" được tác giả vận dụng vào
thơ để đặc tả thân phận bạc bẽo, chìm nổi, lênh đênh của nàng Kiều. Xã hội bất công,
lòng người gian dối đã đọa đày nàng vào chỗ tối tăm, đây tình yêu nàng vào cuộc tơ
duyên "ngắn ngủi". Trước sự phũ phàng của số phận, nàng dù rất muốn nhưng chẳng
thể nào đấu tranh, đành ngậm ngùi chấp nhận "Đã đánh nước chảy hoa trôi lỡ làng".
Thương biết bao số phận lênh đênh của người phụ nữ phong kiến, cuộc đời may rủi
không do mình chọn lựa:
"Thân em như trái bần trôi
Gió dập, sóng dồi biết tấp vào đâu".
Thúy Kiều ví mình như hoa giữa dòng, vô định, nhỏ bé, mong lung giữa mênh mông
sóng nước. Hoa "lỡ làng" mối duyên đẹp rồi sẽ đi về đâu, có đến được bến bờ hay mãi
lênh đênh giữa dòng nước lớn.
Càng nghĩ càng đau đớn, tâm can nàng Kiều nặng trĩu, nàng thương mình một mà
thương Kim Trong mười. Nàng thấy bản thân đã phụ lòng kẻ tri âm, Kiều thốt lên lời
xin lỗi đẫm nước mắt:
"Ơi !Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Các thán từ ơi, hỡi, kết hợp với hai tiếng Kim Lang nặng lòng tha thiết, dường như
bao nhiêu tình cảm dành cho Kim, Kiều đã dồn hết vào trong hai tiếng gọi ấy. Kiều tự
nhận lỗi về mình, tự nhận mình là kẻ phụ bạc tấm lòng chàng Kim để rồi đau đớn, cay
đắng trào dâng, cồn cào trong trái tim nàng:
"Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Lời xin lỗi cuối cùng đau xót đến nghẹn ngào của Kiều khiến ai cũng phải xót thương.
Trước chàng Kim, Kiều không đổ lỗi cho số phận hay hoàn cảnh mà nàng tự nhận lỗi
về mình. Điều đó cho thấy được tâm tư và tấm lòng của nàng. Nàng không còn nghĩ
đến nỗi đau của mình nữa mà mọi lắng lo đều hướng đến chàng Kim - người nàng vốn
vẫn hết mực thương yêu.
8 câu thơ cuối bài là một nốt nhạc trầm sâu lắng của đoạn trích. Kiều thương Kim
Trọng bao nhiêu thì người đọc càng thương Kiều bấy nhiêu. Và trên hết, con là sự
cảm phục một người con gái có cốt cách cao cả, trọng nghĩa, trọng tình.
Phân tích 8 câu cuối Trao duyên - Mẫu 13
Trao Duyên là một trong những đoạn trích cảm động, đau thương nhất trong Truyện
Kiều, ở đó Nguyễn Du đã thể hiện khả năng nắm bắt tâm lí nhân vật tài tình, đồng thời
thấy được bi kịch tình yêu, bi kịch nỗi đau tâm hồn đầy giằng xé của Thúy Kiều khi
trao duyên cho Thúy Vân. Đặc biệt là 8 câu thơ cuối.
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Sự thức tỉnh của Thúy Kiều về nỗi đau của đời mình, để thấm thía hơn hiện thực mối
tình đẹp đẽ sâu nặng tha thiết với chàng Kim giờ chỉ đành bỏ ngỏ, không thể tái hồi,
dẫu có ghép lại thì cũng không còn được như xưa. “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”,
đối lập giữa cái bây giờ và cái bao giờ. Cái bây giờ là hiện tại đớn đau, cái bao giờ là
mảnh tình một thuở muôn vàn ái ân. Hạnh phúc với Kiều lúc này chỉ là một tương lai
mờ mịt xa xăm chỉ có thể cảm thấy mà không nhìn thấy.
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
“hồng nhan bạc mệnh”, câu nói ấy dường như ám cả vào nàng, vào cuộc đời nàng,
suốt đời ôm lấy kiếp long đong. Chính xã hội phong kiến kim tiền giả dối, thối nát và
tàn ác đã đẩy Kiểu đến bước đường cùng đầy đau đớn này, nhưng dù như vậy phận nữ
nhi thường tình, nàng còn có thể làm gì hơn được nữa, nàng cũng đành bất lực “đã
đành” như một lời thở than, cam chịu số phận đớn đau. Câu thơ như lời đối thoại, mà
cũng như lời độc thoại đớn đau đến tột cùng, Kiều than cho số kiếp bạc bẽo, thân phận
bèo bọt của mình, cũng giống như biết bao nhiêu kiếp hồng nhan bạc mệnh khác bị
cuống vào guồng quay oan nghiệt của xã hội phong kiến. Câu thơ vang lên nặng nề, ai
oán như một lời nghi vấn nghìn năm thiên cổ, như thay cho tiếng nói của biết bao số
kiếp bạc mệnh khác.
Nhưng trong đỉnh điểm của nỗi đau riêng lắng của mình, Kiều lại nghĩ đến chàng Kim.
Tên Kim Trọng vang lên lúc này, như một tiếng kêu thương của một người đang chới
với trước bờ vực thẳm của đời mình:
"Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Sự thực là có một Thúy Kiều đã chết, đó là cái chết trong tâm hồn,cái chết của mối
tình đầu chưa trọn vẹn suốt 15 năm lưu lạc mãi vẫn tan nát cõi lòng. Rõ ràng trong
đau đớn Kiều vẫn hướng về Kim Trọng, vẫn một lòng thủy chung son sắt với chàng,
thế nhưng nàng vẫn nhận mình là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên
không ngớt trong lòng nàng. Sau những dòng tâm tư quằn quại, nỗi đau về tình yêu
tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều. Sau cả một đêm thức trắng, thể xác mệt nhọc,
tâm hồn, trái tim tan nát, Kiều dường như không thể trụ vững được nữa:
“Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng"
Trong tột cùng của nỗi đau, ta vẫn thấy tỏa sáng một tình yêu cao đẹp, đẹp đến đau
thương, bi thương cho số kiếp nàng Kiều , “hồn ngất máu say”, “hơi lạnh ngắt”, tất cả
những cách diễn đạt như ghim những khắc khoải vào lòng người đó, đã trở thành niềm
đau đáu tâm can, làm cồn lên những dày xé bất tận trong lòng người đọc về cái kết
quá đỗi bi thương, cũng vì một trái tim yêu quá sâu nặng, tha thiết đến quặn thắt của
Kiều. Với nàng, tình yêu cho chàng Kim là lẽ sống, bây giờ lẽ sống ấy đã không còn,
sự thực chẳng khác nào, sống không bằng chết.
Nếu không có một trái tim đồng cảm với nàng kiều, sao Nguyễn Du có thể viết những
câu thơ như rỉ máu đầu ngọn bút như thế, trang văn, từng nhịp thơ, lời thơ như tiếng
lòng gào thét, cũng đầy uất nghẹn, bế tắc của Thúy Kiều. Đó thực sự là sự đồng điệu
đến từng điệu hồn tế vi nhất của tác giả và nhân vật.
| 1/44

Preview text:


Dàn ý phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên Dàn ý số 1 I. Mở bài:
● Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều: Nguyễn Du là đại thi hào dân
tộc danh nhân văn hóa thế giới, Truyện Kiều được xem là kiệt tác của nền văn
học được dịch ra nhiều thứ tiếng.
● Giới thiệu đoạn trích Trao duyên: Vị trí, nội dung
● Đoạn cuối 8 câu cuối đoạn: Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều
khi hướng về tình yêu của mình và Kim Trọng. ● Trích dẫn thơ: II. Thân bài:
*Tám câu thơ cuối: Kiều trở về thực tại đau xót khi nhớ tới Kim Trọng
- Hình thức: Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
- Tâm trạng: Nàng ý thức rõ về cái hiện hữu của mình: “trâm gãy gương tan”, “tơ
duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”
→ Hình ảnh gợi tả số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc bẽo, lênh đênh trôi nổi
- Nghệ thuật đối lập: quá khứ >< hiện tại
→ Khắc sâu nỗi đau của Kiều trong hiện tại. - Các hành động
● Nhận mình là "người phụ bạc"
● Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu
● Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.
→ Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý
* Tóm lại: 8 câu cuối đoạn
● Nội dung: Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hường về tình
yêu của mình và Kim Trọng.
● Nghệ thuật: Sử dụng từ ngữ biểu cảm, thành ngữ, câu cảm thán, các điệp từ. III. Kết bài:
● Khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
● Trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: Đây là trích đoạn hay và cảm động
nhất của Truyện Kiều, đem lại nhiều xúc cảm nơi người đọc. Dàn ý số 2 1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều, đoạn thơ Trao duyên và 8 câu thơ cuối đoạn.
Lưu ý: học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào
năng lực của bản thân. 2. Thân bài
Bây giờ trâm gãy tình tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
- Câu nói thốt lên trong sự cay đắng, nghiệt ngã của số phận. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp
giữa hai người giờ đây chỉ còn là kí ức.
- Sự hụt hẫng, tiếc nuối về một thời yêu nhau say đắm của hai người → tiếc nuối cho
mối duyên của hai người cũng như tiếc nuối về kỉ niệm mà họ đã từng có với nhau.
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
….……………………………..
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
- Sau khi trao duyên cho Thúy Vân, Kiều âm thầm nhắn nhủ đến Kim Trọng: nàng đã
phụ tình chàng từ đây. Đó không chỉ là câu nói đau xót khi phải chia tay người yêu khi
tình cảm vẫn còn mặn nồng sâu sắc mà còn là suy tư về cuộc sống tăm tối phía trước đang chờ đón Kiều.
- Tơ duyên của Kiều và Kim chỉ ngắn ngủi có từng ấy, xin gửi lại chàng mối duyên
này cho người em là Thúy Vân.
- Kiều đã phải thốt lên: “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” đây vừa là lời xin lỗi
Kiều gửi đến Kim, vừa là lời oán trách vì phận mình sao bạc bẽo.
→ Kiều không chỉ suy nghĩ về việc cứu cha và em, trao lại mối duyên của mình cho
Vân mà còn suy nghĩ cho người mình hết lòng yêu thương. Một cô gái nhỏ bé vốn
sống bình an nay phải suy tư rất nhiều, không chỉ thế, cuộc sống trôi nổi phía trước
của nàng cũng khiến người ta vô cùng đau xót về kiếp hồng nhan bạc phận.
- Diễn biến tâm lí của Kiều đi qua nhiều cảm xúc khác nhau, từ nghĩ cách cứu cha và
em, trao lại mối duyên của mình, đến việc nghĩ cho người mình yêu thương và đến
cuộc sống bấp bênh của nàng sau này khiến người ta không khỏi đau xót. 3. Kết bài
Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của 8 câu thơ; đồng thời khái quát lại giá trị của
đoạn thơ và cả tác phẩm.
Phân tích 8 câu cuối Trao duyên - Mẫu 1
“Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều”
Bàn về văn học, Standal viết: “Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội”. Tố
Hữu cũng từng cho rằng: “ Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời.
Văn học không là gì nếu vì cuộc đời mà có”. Đây cũng là một trong những chức năng
cơ bản của văn học: phản ánh đời sống xã hội. Nguyễn Du – đại thi hào trong nền thơ
ca Việt Nam đã thấm nhuần chức năng ấy. Ông sống trong giai đoạn lịch sử đầy bão
táp, cái xã hội mà mọi thứ đều bị chi phối bởi đồng tiền. Ông đã chứng kiến rất nhiều
cảnh bất công cũng như cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người phụ nữ lúc bấy
giờ. Đó chính là lí do kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) ra đời. Trong đó,
đoạn trích “Trao duyên” là một trong những đoạn trích tiêu biểu thể hiện được tài
năng cũng như tư tưởng nhân đạo của tác giả mà đặc biệt phải kể đến tám câu thơ cuối
bài đã thể hiện một cách chân xác nỗi xót xa của nàng Kiều cho duyên phận với chàng Kim.
Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân
đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng
Liên Đường chủ nhân). Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở
làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong
một gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Cha là
Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tần, một người phụ
nữ Kinh Bắc có tài xướng ca. Quê hương Nguyễn Du là vùng đất địa linh, nhân kiệt,
hiếu học và trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học vấn uyên bác, có
nhiều tài năng văn học. Gia đình và quê hương chính là “mảnh đất phì nhiêu” nuôi
dưỡng thiên tài Nguyễn Du.
Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn
mẹ, cuộc đời Nguyễn Du bắt đầu gặp những sóng gió trong cơn quốc biến ba đào:
sống nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh) thì
Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du
thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan ở tận Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê
sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha,
có lúc lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều nhất là thời gian ông sống không nhà ở kinh thành
Thăng Long. Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần
gũi nhân dân và thấm thía biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, đặc biệt là người dân lao
động, phụ nữ, trẻ em, cầm ca, ăn mày… những con người “dưới đáy” xã hội. Chính
nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du – nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
Ngoài “Đoạn trường Tân thanh” (Truyện Kiều); “Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn
chiêu hồn) và hai bài tồn nghi là “Sinh tế Trường Lưu nhị nữ” (Văn tế sống hai cô gái
Trường Lưu) và “Thác lời trai phường nón.” Nguyễn Du còn có ba tập thơ chữ Hán có
giá trị. Thanh Hiên tiền hậu tập; Nam trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục. Một số bài
như Phản chiêu hồn, Thái Bình mại ca giả, Long thành cầm giả ca đã thể hiện rõ rệt
lòng ưu ái trước vận mệnh con người. Những bài viết về Thăng Long, về quê hương
và cảnh vật ở những nơi Nguyễn Du đã đi qua đều toát lên nỗi ngậm ngùi dâu bể.
Theo Giáo sư Nguyễn Lộc, trang 455 viết: “Đoạn trường tân thanh… là một truyện
thơ Nôm viết bằng thể lục bát, dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh
Tâm tài Nhân, Trung Quốc gồm 3.254 câu thơ. Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện
Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-20). Có thuyết nói Nguyễn Du viết trước khi đi
sứ, có thể vào thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-09). Thuyết sau này được
nhiều người chấp nhận. Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn
hóa VN. Nhiều nhân vật trong Truyện Kiều trở thành điển hình cho những mẫu người
trong xã hội cũ, mang những tính cách tiêu biểu như Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải, và
đều đi vào thành ngữ VN.
Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Lê Đình Kỵ, người được xem là “chuyên gia Truyện
Kiều” đã có những trang văn nhận định thú vị: “Truyện Kiều nổi lên so với những giá
trị văn học đương thời, và khiến sáng tác của Nguyễn Du gần với chúng ta ngày nay,
về cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Nhưng dù sao thì Nguyễn Du vẫn là người
của thời đại mình, không thể thoát ly hoàn cảnh xã hội, lịch sử cụ thể, về cả hệ tư
tưởng lẫn phương pháp nghệ thuật, thể hiện ở xu hướng lý tưởng hóa, ước lệ. Điều
này khó tránh trong tình hình sáng tác chung, trong trình độ tư duy nghệ thuật chung
đương thời… Trước sau Truyện Kiều vẫn là di sản vĩ đại, là tuyệt đỉnh của nền văn
học dân tộc quá khứ. Quan điểm lịch sử cũng như đòi hỏi muôn đời của giá trị văn học
đều cho phép ta khẳng định điều đó”.
Là một đoạn được trích từ “Truyện Kiều”, “Trao duyên” gồm 34 câu thơ. Đây là
những câu thơ nằm ở vị trí từ câu 723 đến câu 756 trong kiệt tác tác phẩm. Đoạn trích
hướng người đọc đến nhân vật trung tâm là Thúy Kiều trong một hoàn cảnh rất đỗi
đặc biệt: Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha sau khi gia đình bị vu
oan. Trong đêm trước ngày phải xa gia đình để theo phường buôn phấn bán hương,
Kiều đã nhờ em gái của mình là Thúy Vân thay Kiều trả nghĩa cho Kim Trọng; phần
còn lại của đoạn trích là những dòng viết về tâm tư nỗi niềm của Thúy Kiều khi nghĩ
về cuộc đời mình và khi nhớ đến Kim Trọng. Đoạn trích là tiếng lòng tha thiết của
Kiều về hoàn cảnh bi đát của gia đình, của phận mình và của tình yêu đầu đời đẹp đẽ.
Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc
mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân
vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với
người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ
không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Đặc biệt, khi thể hiện nỗi xót xa của nàng Kiều cho duyên phận với chàng Kim,
Nguyễn Du đã gây được ấn tượng trong tám câu thơ cuối đoạn trích:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình chuộc cha. Nhưng làm vậy thì nàng đã
phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang Kim Trọng. Tình thế ép
buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị trao duyên lại cho em,
nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng Thuý Kiều rất đau đớn, day
dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị sắp đi xa vĩnh viễn “một đi
không trở lại”. Sau khi đã nói hết nỗi lòng của mình với em gái, Kiều đã nhìn lại cuộc
đời mình rồi đau đớn nhận ra sự thật phũ phàng là so với quá khứ thì hiện tại có một
sự đối lập đến xót xa:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Giờ đây mọi chuyện đã tan vỡ, lỡ làng, nói làm sao hết những tình cảm tha thiết, da
diết, những kỉ niệm ngọt ngào ân ái ngày xưa đã trao nhau. Thành ngữ “Trâm gãy
gương tan” là sự tan vỡ của tình yêu, cũng là sự tan nát trong trái tim Thúy Kiều. Tình
yêu của nàng với Kim Trọng ngày một nâng lên, ngày càng tha thiết thì nỗi đau, sự
dằn vặt trong trái tim nàng càng mạnh mẽ, càng đớn đau hơn. Nguyễn Du đã sử dụng
hình ảnh ước lệ “trâm gãy gương tan” đã mang lại sự biểu đạt rất hiệu quả. Thông qua
hình ảnh ấy, tác giả đã cho thấy sự nhận thức sâu sắc của nàng Kiều về bi kịch hiện tại.
Kiều bàng hoàng chua xót khi so với thời quá khứ – những năm tháng Kiều đã thật
hạnh phúc với mối tình đầu đời như hoa như mộng, bây giờ còn lại chỉ là những đau
đớn tủi phận khi biết bao nhiêu hẹn ước tươi đẹp trở thành hư vô.
“Trâm” và “gương” vốn tượng trưng cho những hình ảnh đẹp đẽ của người con gái
đến tuổi để ý đến dung nhan của bản thân khi tình yêu gõ cửa trái tim. Nhưng những
gì Kiều trân trọng, nâng niu để mong đến một ngày có thể cùng Trọng mãi mãi kề bên
(để có thể hiện thực hóa những gì mà nàng và người yêu đã từng thề nguyền hẹn ước
từ thời khắc “Kể từ khi gặp chàng Kim” – “Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”)
bỗng chốc chỉ trong phút giây, tai ương ập đến, tất cả những mong ước vỡ tan thành mây thành khói.
“Muôn vàn ái ân” không thể cân đo đong đếm ở miền kí ức thơ mộng có sự hiện diện
của Thúy Kiều và Kim Trọng mà nàng nhắc đến ở câu thơ tiếp theo như càng làm tăng
thêm sự đối lập so với những đau khổ mà nàng vừa nhắc đến ở câu thơ trước đó. Khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy nhìn vào tình cảnh của Kiều để thấy
những gì mà nàng phải chịu đựng ở độ tuổi xuân sắc lẽ ra vốn vẫn còn được sống
trong vòng tay yêu thương, bảo bọc của mẹ cha mới thấy thương, thấy xót hơn cho nàng.
Trao duyên cho em, nỗi đau này ai có thể thấu cho nàng Kiều. Trong tột cùng nỗi đau
khổ và tuyệt vọng, Kiều nghĩ về Kim Trọng. Với nàng Kim Trọng là tất cả, là niềm tin,
hi vọng, là niềm an ủi, chia sẻ với nàng mọi điều. Tuy nhiên, Kim Trọng lại đang ở
cách nàng rất xa, bởi thế cuộc đối thoại này với Kim Trọng chỉ là trong tưởng tượng.
Nàng cất lên lời than vô cùng chua xót, đau đớn trước thực tại phũ phàng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”
Kiều cất lên lời oán trách số phận, trách sự vô tình, khắc nghiệt của cuộc đời, than thở
cho số phận éo le, mỏng manh, bạc bẽo của bản thân đã khiến cho tơ duyên đứt đoạn
chỉ còn “ngắn ngủi có ngần ấy thôi”. Nói ra những lời ấy, Kiều thật mong Trọng cũng
chấp nhận cho duyên tình giữa chàng và Kiều chỉ là những kí ức ngắn ngủi dù tươi
đẹp biết bao. Cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy rằng khi cậy nhờ em
“xót tình máu mủ thay lời nước non” mà giúp nàng giữ duyên, Kiều cũng đã rất thành
khẩn khi bảo em “ngồi lên” để mình “lạy”, giờ đây, lại thêm một lần thành khẩn,
nhưng Kiều gửi cái “lạy” tạ lỗi đến một người rất quan trọng với nàng là chàng Kim.
Từ ‘lạy’ ở đây khác với từ ‘lạy’ ở đoạn đầu. ‘Lạy’ là để Thúy Kiều tạ lỗi với Kim
Trọng, để hối lỗi, để vĩnh biệt. Nàng tự cảm thấy được số phận mình là số phận mệnh
bạc. Nàng tự thương cho chính mình và đây cũng là nỗi đồng cảm của tác giả với
Thúy Kiều.Từng lời nói, từng hành động của Kiều được thể hiện trong thơ đã giúp
hiện hữu ở trang viết của Nguyễn Du hình ảnh người con gái mang nặng nghĩa tình
với mối tình dang dở nhưng không có cách nào cứu vãn nó.
Lời nhắn nhủ vừa mang nỗi tiếc nuối, vừa cam chịu chỉ “có ngần ấy thôi” ít ỏi quá
chàng ơi, nhưng không thể nào kéo dài thêm được nữa. Thôi thì thiếp đành cam chấp
nhận số phận, tơ duyên ngắn ngủi, hạnh phúc quá mong manh, kiếp này đã lỡ phu thê,
thiếp xin bái biệt đi về cõi âm. Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho
duyên phận của mình tơ duyên ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật
đau khổ biết bao: trao duyên rồi, đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn
thương vẫn chất chứa trong lòng nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã
thể hiện đúng quy luật tâm lí của con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu
đong càng lắc càng đầy là như thế! Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy.
Đến đây, Kiều mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận bạc bẽo của mình giữa cõi đời bất công:
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Lời thơ uất nghẹn, phận gì? mà bạc như vôi? Câu thơ cho thấy thân phận nhỏ bé hơn
bao giờ hết của nàng Kiều. Hơn thế nữa, câu thơ cũng là lời dự cảm, một lời lo lắng
cho tương lai đầy bất trắc phía trước. Hình ảnh “hoa” vốn là biểu trưng cho người con
gái đẹp, ở đây không ai khác chính là nàng Kiều nhưng những bông hoa ấy lại trôi lỡ
làng, vô định, không biết cuộc đời sẽ ra sao và đi đâu về đâu. Nỗi đau trào dâng, bao
nhiêu tình cảm dồn nén choán đầy cả tâm trí. Câu thơ chứa chan tình cảm, xót xa đau
cho kiếp số phũ phàng, chua chát – lời thơ như hờn oán, trách móc than thân trách phận.
“Phận bạc” ở đây được sử dụng như một lời nói lên án cả xã hội phong kiến. Nhưng
dù như vậy nàng cũng đành bất lực “đã đành” như một lời thở than, cam chịu số phận
đớn đau. Số phận nàng ta cũng bắt gặp trong rất nhiều tác phẩm như nàng Vũ Nương
bất hạnh bị chồng ruồng rẫy phải tự vẫn để minh oan, hay những người con gái được
phản ánh trong các câu ca dao:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Chính Nguyễn Du cũng đã từng thổn thức:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Lời than oán của Kiều không ai có thể trả lời được, đó là một lời than oán cay đắng,
tuyệt vọng, kêu lên chỉ để oán trách trời mà thôi! Rồi đây số phận của Kiều sẽ trôi dạt
như bông hoa đẹp đẽ đã “đành trôi” trên dòng nước dơ bẩn, nhơ nhớp chảy cuốn xiết,
lỡ làng, không thể nào cứu vãn được nữa. “Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết,
hoa rụng, tuyết tan, nghĩa là tuổi thanh xuân trinh trắng và đẹp đẽ của Kiều đã chấm
dứt từ đây. Và lúc đó, trong những giây phút cuối cùng của cuộc trao duyên, Kiều cất tiếng gọi người yêu:
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Mỗi một thanh âm về tiếng gọi người yêu mà Kiều thốt lên chắc hẳn cũng là ngần ấy
lần nàng quặn thắt tâm can mà đau đớn xót xa. Những từ diễn tả sự xót xa tủi phận cứ
liên tiếp xuất hiện và được xâu lại thành chuỗi: “ngắn ngủi”, “lỡ làng”, “thôi thôi”,
“Kim lang”, “phận sao phận” đã tạo thành những cơn sóng của đau thương ồ ạt bủa
vây lấy người con gái đáng thương mà nàng đã gắng hết sức không để cho nó quật ngã.
Có lẽ rằng đây là lần cuối cùng nàng có thể gọi Kim Trọng là “Kim Lang” tha thiết
như thế. Thúy Kiều gọi Kim Trọng hai lần dường như bao nhiêu tình cảm chất chứa
đều được thốt lên qua tiếng gọi người yêu đầy tha thiết của nàng. Kiều vẫn nhận mình
là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên không ngớt trong lòng nàng. Sau
đoạn đối thoại với Kim Trọng nỗi đau về tình yêu tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều.
“Thôi thôi” là tiếng than tiếc rẻ, dằn vặt. “Thôi thôi” cũng là tiếng xác nhận sự phụ
bạc của mình. Tiếng gọi của nàng như một tiếng kêu chới với và tuyệt vọng bởi vì
không có hồi âm. Kiều đã gắng gượng đến phút cuối cùng, lấy hết sức mình để thốt
lên những tiếng kêu cuối cùng – tiếng kêu than oán, kêu cứu của một người phụ nữ
“tài hoa bạc mệnh” trong xã hội phong kiến. Sau tiếng kêu não lòng ấy, Kiều ngất đi,
kết thúc cuộc trao duyên đầy chất trữ tình: “Cạn lời hồn ngất máu sau – Một hơi lặng
ngắt đôi tay giá đồng”. Việc “trao duyên” đã thành, việc bán mình cũng đã xong, thì bi
kịch của Thuý Kiều cũng đến. “Ôi”, “Hỡi” Kim Lang, Thuý Kiều gọi tên tình nhân lần
sau cuối trong nước mắt nhạt nhòa, nàng ôm nỗi đau giằng xé tâm can khi biết chắc
chắn rằng từ đây nàng đã mất chàng Kim mãi mãi.
Sự thật ấy làm cho Thuý Kiều kêu lên thống thiết “thôi thôi” một cách vật vã, đớn đau
“đứt từng đoạn ruột”. Điều đó cho ta thấy được tình cảm của Thuý Kiều dành cho
Kim Trọng vô cùng lớn, vô cùng sâu đậm, chung thủy sắc son. Kết thúc đoạn trích
“Trao duyên”, duyên thì được trao, nhưng tình thì lại không thể. Mâu thuẫn giữa tình
cảm và lí trí trong trái tim Kiều vì thế chưa được giải quyết hoàn toàn. Mặc cảm vì
mình là người phụ tình, nỗi đau ấy sẽ còn dày xé nàng trong suốt mười lăm năm lưu lạc.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, người đọc cũng thấy tiếng kêu thốt lên ấy đã
hòa trong tiếng nấc thể hiện Kiều thương mình nhưng nhiều hơn cả là sự xót xa dành
cho chàng Kim. Trong sự tan vỡ của tình yêu của hai người, Kiều nhận hết trách
nhiệm, lỗi lầm về mình và tự gán cho mình là kẻ phụ bạc. Lời trao duyên như nói một
lời trăn trối, vĩnh biệt. Trước lời trao duyên, tình yêu thật mặn nồng, say đắm, hạnh
phúc, sau lời trao duyên mình đã trắng tay, đôi lứa chia ly, tình yêu tan vỡ.
Mộng Liên Đường Chủ Nhân (1820) theo bản dịch của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim,
bình luận: “…Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên
tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột… Tố Như
Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải
có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”.
Trong đoạn trích Trao Duyên, nhà thơ đã khóc cho một tình yêu chân thật, trong sáng
giữa Thuý Kiều và Kim Trọng. Tình yêu giữa Kiều và Kim Trọng là một tình yêu
trong sáng, tình yêu đẹp nhưng do sóng gió trong gia đình mà Kiều phải bán mình
chuộc cha, làm cho tình yêu này bị chia rẽ. Nàng đành phải trao duyên của mình lại
cho Thuý Vân. Sự “hi sinh” của Thuý Kiều làm cho người đời cảm phục, tình cảm của
Thuý Kiều làm cho chúng ta trân quý yêu thương. Đó là điểm sáng chói ngời trong
phẩm giá con người Thúy Kiều, khiến cho nàng sống mãi trong lòng người đọc.
Bên cạnh những nội dung đã điểm qua ở trên, điều làm nên sự thành công trong việc
chuyển tải những thông điệp mà tác giả gửi gắm còn nằm ở nghệ thuật của đoạn trích.
Trong đoạn trích này, Nguyễn Du đã vận dụng thật hiệu quả nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật để làm nổi bật ở nhân vật những phẩm chất đáng trọng. Bên cạnh đó, khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy tài năng của đại thi hào Nguyễn Du
trong việc lựa chọn hình thức độc thoại nội tâm để bộc bạch những tâm tư cùng với
nỗi niềm chất chứa trong lòng của nàng Kiều. Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã thể
hiện xuất sắc những diễn biến phức tạp của nhân vật. Với hệ thống ngôn từ được sử
dụng một cách điêu luyện và độc đáo, Nguyễn Du chính là một bậc thầy về ngôn ngữ.
Trong Lời đầu sách ở Từ điển Truyện Kiều (1974), Giáo sư Đào Duy Anh viết:
“Trong lịch sử ngôn ngữ và lịch sử văn học VN, nếu Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập
là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều
lại là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta. Với Truyện
Kiều của Nguyễn Du, có thể nói rằng ngôn ngữ VN đã trải qua một cuộc thay đổi về
chất và đã tỏ rõ khả năng biểu hiện đầy đủ và sâu sắc… Nguyễn Du sinh quán ở
Thăng Long, tổ quán ở Nghệ -Tĩnh, mẫu quán ở Bắc Ninh, đã nhờ những điều kiện ấy
mà dựng lên được một ngôn ngữ có thể nói là gồm được đặc sắc của cả ba khu vực
quan trọng nhất của của văn hóa nước ta thời trước”.
Sáng tác của Nguyễn Du bao trùm tư tưởng nhân đạo, trước hết và trên hết là niềm
quan tâm sâu sắc tới thân phận con người. Truyện Kiều không chỉ là bản cáo trạng mà
còn là khúc ca tình yêu tự do trong sáng, là giấc mơ tự do công lí “tháo cũi sổ lồng”.
Nhưng toàn bộ Truyện Kiều chủ yếu là tiếng khóc xé ruột cho thân phận và nhân
phẩm con người bị chà đạp, đặc biệt là người phụ nữ. Không chỉ xót thương, Nguyễn
Du còn trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp, cùng những khát vọng sống, khát vọng tình yêu
hạnh phúc. Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt qua một số ràng buộc của ý
thức hệ phong kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người.
Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà ông đem lại cho văn học Việt Nam trong thời đại ông
đúng như Tố Hữu đã từng ca ngợi:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.
8 câu cuối Trao duyên - Mẫu 2
Đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều đã cho thấy bút pháp rất mực tài hoa của
Nguyễn Du trong việc khắc họa sâu sắc nội tâm nhân vật. Qua trích đoạn, ta càng thấu
hiểu, thương cảm cho cho số phận truân chuyên, bạc mệnh của Thuý Kiều. Tám câu
cuối bài thơ là đoạn thơ đầy ấn tượng khi tái hiện đầy xót xa tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của Thúy Kiều.
Sau khi cậy nhờ em thay mình chắp mối "duyên thừa" cùng Kim Trọng, Thúy Kiều đã
đau đớn mà bộc lộ lòng mình. Đó là nỗi tuyệt vọng, khổ đau lên đến tột cùng khi phải
buông tay với mối tình đẹp đẽ với chàng Kim.
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân"
Trạng ngữ xác định thời gian "bây giờ" chỉ thực tại đau đớn mà Kiều đang đối mặt,
chịu đựng, đó là nỗi đau khắc sâu vào tâm khảm khi chứng kiến tình duyên tan vỡ,
chữ tình chưa hề phai nhạt nhưng vì biến cố mà rơi vào cảnh chia lìa không gì có thể
hàn gắn “trâm gãy gương tan”. Tác giả sử dụng khéo léo thành ngữ "trâm gãy gương
tan" để ẩn dụ cho mối tình đẹp đẽ nhưng mong manh của Kim- Kiều.
Tình yêu Kiều dành cho Kim càng chân thực, mãnh liệt, lớn lao bao nhiêu thì nỗi đau
mà nàng đang gánh chịu lại xót xa bấy nhiêu. Trâm đã gãy, bình đã tan, tình yêu nào
có thể chắp vá được nữa, hy vọng gắn kết mối tình xưa cũng không còn. Kiều đau đớn
nghĩ về giây phút hạnh phúc "muôn vàn ái ân" của hai người trước đây. Đó là những
kỉ niệm thắm thiết, những kí ức nồng đượm mà cả Kim và Kiều có được. Đêm trăng
thề nguyện hẹn ước, uống chén rượu hồng hẹn ước trăm năm, thưởng ánh trăng vàng,
ngâm thơ, đàn hát,... Tất cả những hạnh phúc lớn lao trước đây đều trở thành dĩ vãng,
tan biến trong hư vô khi tình chưa cạn mà buộc phải chia xa.
Tiếc thương cho tình yêu không trọn, nghĩ về Kim Trọng , Kiều trách móc bản thân
mình phụ bạc chàng, lời dằn vặt nghẹn lòng cất lên:
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi"
Xuyên suốt cuộc đời Kiều qua từng trang thơ của Nguyễn Du ta đều biết Kiều là một
người sống tình nghĩa, nàng chưa từng phụ bạc một ai. Hơn nữa, Kiều cũng luôn dành
hết những điều tốt đẹp cho người mà mình yêu thương, tin tưởng. Nàng đánh đổi hạnh
phúc đời mình để tròn chữ hiếu “phận làm con trước phải đền ơn sinh thành”, không
còn cách nào khác nàng đành phụ tấm chân tình cùng mối lương duyên tốt đẹp với
Kim Trọng. Trong thâm tâm nàng luôn day dứt và tự trách móc vì cho rằng mình đã
bội ước với Kim Trọng. Hành động "trăm nghìn gửi lạy" cùng lời tha thiết, cảm thán
"Tơ duyên ngắn ngủi, có ngần ấy thôi" là lời tạ lỗi đầy day dứt, xót xa dành cho chàng
Kim. Phải là một người yêu thương, trân trọng tình yêu thiêng liêng với Kim Trọng
nhiều đến thế nào Kiều mới tự trách móc, dằn vặt chính mình đến như thế?
Sau những tỏ bày gửi chàng Kim là lời Kiều than trách cho phận mình bạc bẽo, sự tự
ý thức về thân phận mình đã cho thấy Kiều là một người thấu hiểu lẽ đời, đó cũng là
một dự cảm của nàng về tương lai không mấy êm ả trong cuộc đời mình:
"Phận sao phận bạc như vôi.
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
Lời kêu than đầy uất ức về nỗi đau thân phận như một biểu hiện đầy tự nhiên khi nỗi
xót xa lên đến đỉnh điểm trong Kiều. Các thành ngữ "bạc như vôi", "nước chảy hoa
trôi" như một lời thở than, trách móc uất nghẹn của Kiều trước cuộc đời bất công,
trước một xã hội tàn nhẫn đã đẩy nàng vào bế tắc, khổ đau, tuyệt vọng. Chấp nhận "đã
dành" cho "nước chảy hoa trôi" cũng là sự cam chịu, là biểu hiện về đức hi sinh của
người con gái trước những sóng gió cuộc đời. Và phải chăng, điều đó như báo hiệu
một tương lai mờ mịt, một số phận bạc mệnh của nàng.
Hai tiếng "Kim Lang" tha thiết chứa chan biết bao yêu thương, trân trọng mà Kiều
dành cho Kim Trọng. Điệp ngữ "Kim Lang" kết hợp với thán từ "Ôi", " Hỡi" cùng
nhịp thơ 3/3 như tiếng gào thét tâm can của Kiều. Từng tiếng thơ thốt lên nghẹn ngào,
đau xót, đượm màu nước mắt, nhuốm vị thương đau. Lời từ biệt cuối của người con
gái thủy chung, trọng nghĩa trọng tình ấy mang cả nỗi luyến tiếc, đớn đau đến tận cùng:
“Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Tám câu thơ cuối trích đoạn tuy không dài nhưng ta vẫn cảm nhận được bao phẩm
chất tốt đẹp nơi Kiều. Đó là lòng chung thuỷ, nhân ái, là sự ý thức thân phận và một
trái tim khát khao hạnh phúc sâu thẳm trong Kiều. Qua tám câu thơ, giá trị nhân đạo
mà Nguyễn Du gửi gắm cũng được thể hiện rõ. Đó là lời lên án xã hội phong kiến đầy
bất công đã đẩy con người vào những bi kịch đớn đau. Là tiếng nói thương cảm trước
những số phận bạc mệnh như Kiều và bày tỏ niềm trân trọng trước những phẩm chất,
tình cảm tốt đẹp của con người trong xã hội. Mặt khác, thành công về nghệ thuật cũng
là một điểm nhấn đầy ấn tượng trong đoạn thơ. Đó là bút pháp miêu tả nội tâm tính tế,
nghệ thuật độc thoại nội tâm, so sánh, ẩn dụ, sử dụng kết hợp các thành ngữ dân gian
cùng thề thể thơ lục bát quen thuộc tất cả đã làm nên một đoạn thơ đầy trọn vẹn và ý nghĩa.
Trao duyên nói chung và tám câu cuối trích đoạn nói riêng đã góp phần mình vào sự
thành công của tuyệt tác Truyện Kiều. Tin rằng, trong tương lai, Trao duyên cùng với
Truyện Kiều sẽ vẹn nguyên giá trị lâu bền, được bao thế hệ đọc giả trân trọng và giữ gìn.
Phân tích Trao duyên 8 câu cuối - Mẫu 3
Kết thúc đoạn thơ, bi kịch càng được đẩy lên cao. Mâu thuẫn này nối tiếp mâu thuẫn
khác, Kiều đã hoàn toàn bất lực trước mong muốn níu kéo, cố gắng trở về với tình yêu.
Nhưng tất cả chỉ là quá khứ xa xôi và tương lai mờ mịt.
Dù có quay về quá khứ hãy hướng tới tương lai, cuối cùng Kiều vẫn là con người sống
với thực tại của mình:
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
Hàng loạt những thành ngữ được liệt kê hàm chứa bao bi kịch người con gái. Đó là sự
vỡ tan, dở dang của tình yêu và bọt bèo, trôi nổi của đời Kiều. Bi kịch càng sâu sắc
khi trước hiện tại nàng vẫn không thôi khao khát tình yêu hạnh phúc. Những từ ngữ có
tính chất vô hạn định như "muôn vàn, trăm nghìn" thể hiện sâu sắc khát vọng về một
tình yêu thiết tha, vĩnh viễn. Oan nghiệt thay, khát vọng ấy cũng chính là hiện thực
không gì cứu vãn nổi. Bi kịch tình yêu dâng lên tột đỉnh.
Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho duyên phận của mình tơ duyên
ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật đau khổ biết bao: trao duyên rồi,
đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong lòng
nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lý của
con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu đong càng lắc càng đầy là như thế!
Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. Cuối đoạn thơ,
mặc dù Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em, đã nhờ em trả nghĩa
cho Kim Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn
không nguôi. Vẫn còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng, vẫn biết mình phận bạc,
Thúy Kiều vẫn phải thốt lên đau đớn:
"Ôi Kim lang hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao
người, bao thế hệ! Chỉ một câu thơ và tên Kim Trọng được gọi đến hai lần. Những
thán từ "ôi, hỡi" khiến câu thơ vang lên như một lời than, tiếng gọi thảng thốt, nghẹn
ngào, mang theo lời trăn trối cuối cùng gửi đến chàng Kim trước lúc đi xa. Kiều đã rất
ân cần với chàng Kim thế mà giờ đây nàng tự nhận mình là người phụ bạc, không đổ
lỗi cho hoàn cảnh mà tự nhận hết trách nhiệm về mình. Nàng đâu còn nghĩ đến nỗi
đau của riêng mình. Tất cả tấm lòng, sự lo lắng lại dành cho hạnh phúc của người
mình yêu. Kiều thương chàng Kim hơn chính bản thân mình.
Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã thể hiện xuất sắc những diễn biến phức tạp của
nhân vật. Với hệ thống ngôn từ được sử dụng một cách điêu luyện và độc đáo,
Nguyễn Du chính là một bậc thầy về ngôn ngữ.
Tác phẩm đã làm rung động biết bao trái tim người đọc từ hàng thế hệ nay. Đoạn trích
"Trao duyên" đã phác họa thành công bi kịch tình yêu của Thúy Kiều, nhưng ánh lên
rực rỡ một nàng Kiều đẹp đẽ, sống động với nhân cách cao cả. Càng hiểu nàng bao
nhiêu, ta càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có
thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó
chẳng đáng cảm phục lắm sao.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 4
Dù chỉ là một trích đoạn ngắn từ “Truyện Kiều” nhưng “Trao duyên” đã góp phần thể
hiện thành công những vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều và tài năng sáng tác của thiên
tài Nguyễn Du. Đoạn trích là tiếng lòng tha thiết của Kiều về hoàn cảnh bi đát của gia
đình, của phận mình và của tình yêu đầu đời đẹp đẽ. Đặc biệt, khi thể hiện nỗi xót xa
của nàng Kiều cho duyên phận với chàng Kim, Nguyễn Du đã gây được ấn tượng
trong tám câu thơ cuối đoạn trích:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Trong việc cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên nói riêng hay toàn bộ đoạn trích nói
chung, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả và tác phẩm.
Nguyễn Du (sinh năm 1765 – mất năm 1820) còn được người đời biết đến với tên chữ
là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Thể hiện sự tự hào về Nguyễn Du, độc giả từ bao đời
vẫn không ngớt lời ca ngợi vì đại thi hào đã có rất nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà.
Là người con của vùng đất Hà Tĩnh – vùng đất sản sinh biết bao nhân kiệt cho đất
nước, Nguyễn Du nổi danh với các tác phẩm được sáng tác ở cả chữ Hán và chữ Nôm.
Về chữ Hán, ông có những tập thơ nổi tiếng như: “Thanh Hiên tiền hậu tập”, “Nam
trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”. Còn về chữ Nôm, có thể kể đến một số tác phẩm
như: “Truyện Kiều”, “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Thác lời trai phường nón”…
Sở dĩ gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp sáng tác là do Nguyễn Du đã
dùng vốn sống của mình để phản ánh trong tác phẩm hiện thực cuộc đời, không chỉ
vậy nhà thơ còn bộc lộ tấm lòng nhân đạo rất vĩ đại của ông. Thực chất những tác
phẩm chữ Hán của ông là những dòng tự sự về cuộc đời đầy sóng gió, bi kịch của
chính ông: những biến động dữ dội của một thời đại lịch sử trong giai đoạn từ cuối thế
kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX đã khiến gia đình sống đời lưu lạc, tan tác.
Sống trong xã hội đó, Nguyễn Du được tận mắt chứng kiến những ái ố của cuộc đời
thông qua hình ảnh của những thân phận nhỏ bé phải chịu cảnh chèn ép tàn nhẫn, độc
ác của các thế lực đen tối trong xã hội. Một cách tổng thể, người đọc có thể cảm nhận
được không chỉ ở những tác phẩm chữ Hán mà trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du
đều hiển hiện rõ rệt tấm lòng chân thành của Nguyễn Du với cuộc đời.
Ông phản ánh hiện thực nhưng cốt là để bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ với những kiếp
người sống trong đau khổ triền miên. Trong những phận người mà Nguyễn Du thường
viết về họ, ông rất quan tâm đến những người phụ nữ sống kiếp cầm ca, phải đem tài
sắc làm thú vui cho người đời. Và một thành công lớn mà Nguyễn Du đã làm được ở
những sáng tác của mình mà chúng ta không thể không nhắc tới là ông đã vượt lên
một cách ngoạn mục những định kiến của xã hội phong kiến để nỗ lực khẳng định giá
trị cao đẹp của con người.
Là một đoạn được trích từ “Truyện Kiều”, “Trao duyên” gồm 34 câu thơ. Đây là
những câu thơ nằm ở vị trí từ câu 723 đến câu 756 trong kiệt tác tác phẩm. Đoạn trích
hướng người đọc đến nhân vật trung tâm là Thúy Kiều trong một hoàn cảnh rất đỗi
đặc biệt: Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha sau khi gia đình bị vu oan.
Trong đêm trước ngày phải xa gia đình để theo phường buôn phấn bán hương, Kiều
đã nhờ em gái của mình là Thúy Vân thay Kiều trả nghĩa cho Kim Trọng; phần còn lại
của đoạn trích là những dòng viết về tâm tư nỗi niềm của Thúy Kiều khi nghĩ về cuộc
đời mình và khi nhớ đến Kim Trọng.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy đây là những dòng tâm trạng đau khổ
cùng cực của nàng Kiều sau khi Trao duyên
Sau khi đã nói hết nỗi lòng của mình với em gái, Kiều đã nhìn lại cuộc đời mình rồi
đau đớn nhận ra sự thật phũ phàng là so với quá khứ thì hiện tại có một sự đối lập đến xót xa:
“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy trong câu thơ trên, việc Nguyễn Du
đã sử dụng hình ảnh ước lệ “trâm gãy gương tan” đã mang lại sự biểu đạt rất hiệu quả.
Thông qua hình ảnh ấy, tác giả đã cho thấy sự nhận thức sâu sắc của nàng Kiều về bi
kịch hiện tại. Kiều bàng hoàng chua xót khi so với thời quá khứ – những năm tháng
Kiều đã thật hạnh phúc với mối tình đầu đời như hoa như mộng, bây giờ còn lại chỉ là
những đau đớn tủi phận khi biết bao nhiêu hẹn ước tươi đẹp trở thành hư vô.
“Trâm” và “gương” vốn tượng trưng cho những hình ảnh đẹp đẽ của người con gái
đến tuổi để ý đến dung nhan của bản thân khi tình yêu gõ cửa trái tim. Nhưng những
gì Kiều trân trọng, nâng niu để mong đến một ngày có thể cùng Trọng mãi mãi kề bên
(để có thể hiện thực hóa những gì mà nàng và người yêu đã từng thề nguyền hẹn ước
từ thời khắc “Kể từ khi gặp chàng Kim” – “Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề”)
bỗng chốc chỉ trong phút giây, tai ương ập đến, tất cả những mong ước vỡ tan thành mây thành khói.
“Muôn vàn ái ân” không thể cân đo đong đếm ở miền ký ức thơ mộng có sự hiện diện
của Thúy Kiều và Kim Trọng mà nàng nhắc đến ở câu thơ tiếp theo như càng làm tăng
thêm sự đối lập so với những đau khổ mà nàng vừa nhắc đến ở câu thơ trước đó. Khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy nhìn vào tình cảnh của Kiều để thấy
những gì mà nàng phải chịu đựng ở độ tuổi xuân sắc lẽ ra vốn vẫn còn được sống
trong vòng tay yêu thương, bảo bọc của mẹ cha mới thấy thương, thấy xót hơn cho nàng.
Không chỉ bản thân Kiều mà ngay cả người đọc cũng không khỏi lo lắng, hoang mang
cho những tháng ngày sắp tới mà Kiều phải vượt qua. Đối chiếu giữa thực tại và một
thời đã xa, đau khổ có dâng trào thành từng dòng nước mắt thì Kiều cũng không thể
làm nó trở về trạng thái bình yên xưa cũ, thế nên nàng chỉ còn có thể ngậm ngùi để
tìm cách an ủi, động viên chính mình và người yêu:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”
Nói ra những lời ấy, Kiều thật mong Trọng cũng chấp nhận cho duyên tình giữa chàng
và Kiều chỉ là những ký ức ngắn ngủi dù tươi đẹp biết bao. Cảm nhận 8 câu cuối bài
Trao duyên, ta cũng thấy rằng khi cậy nhờ em “xót tình máu mủ thay lời nước non”
mà giúp nàng giữ duyên, Kiều cũng đã rất thành khẩn khi bảo em “ngồi lên” để mình
“lạy”, giờ đây, lại thêm một lần thành khẩn, nhưng Kiều gửi cái “lạy” tạ lỗi đến một
người rất quan trọng với nàng là chàng Kim. Từng lời nói, từng hành động của Kiều
được thể hiện trong thơ đã giúp hiện hữu ở trang viết của Nguyễn Du hình ảnh người
con gái mang nặng nghĩa tình với mối tình dang dở nhưng không có cách nào cứu vãn nó.
Cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên trong hai câu thơ tiếp theo, dường như Nguyễn
Du đã tạo cơ hội đã Kiều có thể trút hết nỗi lòng mà khóc nức nở cho thân phận của mình:
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Có lẽ từ đầu buổi “trao duyên” đến thời điểm thổn thức trong tiếng khóc nàng, Kiều
đã rất cố gắng để kìm giữ hết sức có thể để bình tĩnh nói cho trọn vẹn điều nàng mong
muốn. Đến khi nhận mong muốn em gái thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng có lẽ đã
được chấp thuận, rồi nàng cẩn thận dặn dò Thúy Vân, Thúy Kiều mới cho phép bản
thân mình có thể thương xót cho nàng một cách thành thật nhất, tự nhiên nhất.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy Kiều tự ý thức được một điều là
số phận của nàng không khác gì màu vôi bạc. Trước đây, khi Kiều được sống êm đềm
trong mái ấm gia đình, Kiều có thể chưa bao giờ tưởng tượng ra được viễn cảnh ê chề
giống như ngày hôm nay Kiều chứng kiến. Nhưng thật lòng mà nói, chắc ngay cả
tưởng tượng, Kiều cũng không hẳn tưởng ra những đau khổ phũ phàng lại ập đến cuộc
đời mình nhanh vội như vậy, nhanh đến mức Kiều còn chưa kịp trải đời để có thể ứng phó.
Thế nên Kiều phải đối diện với nó trong bàng hoàng và sự hoang mang tột độ. Rồi nỗi
đau cứ thế mà tăng lên thêm mãi khi Kiều còn nhận thấy một tương lai mù mịt, tăm tối
không biết sẽ như thế nào. Cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy rằng
Kiều cảm nhận được đó là một tương lai “nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tháng ngày sắp
tới mờ mịt và có lẽ với Kiều, những gì còn lại sau những đau thương đầu đời có lẽ chỉ
là những hình ảnh thân thương, quý giá về gia đình, người yêu mà Kiều lưu lại trong trí.
Cuối cùng, nỗi đau khổ, tuyệt vọng cứ tuôn trào mạnh mẽ thành tiếng gọi người yêu
đầy tha thiết nhưng lại đau đến xé lòng:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Mỗi một thanh âm về tiếng gọi người yêu mà Kiều thốt lên chắc hẳn cũng là ngần ấy
lần nàng quặn thắt tâm can mà đau đớn xót xa. Những từ diễn tả sự xót xa tủi phận cứ
liên tiếp xuất hiện và được xâu lại thành chuỗi: “ngắn ngủi”, “lỡ làng”, “thôi thôi”,
“Kim lang”, “phận sao phận” đã tạo thành những cơn sóng của đau thương ồ ạt bủa
vây lấy người con gái đáng thương mà nàng đã gắng hết sức không để cho nó quật ngã.
Thế nhưng, có lẽ sức người có hạn, gắng gượng bao nhiêu nàng cũng không thể che
giấu đi những tổn thương mà nàng đang gánh chịu. Vậy nên cố gắng cuối cùng của sự
gắng gượng chính là tiếng gọi Kim Trọng để rồi sau đó, nàng nhận lỗi và nói lời tạ từ
với Trọng, đó cũng là lời tự trách bản thân mình trong day dứt, dằn vặt.
Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, người đọc cũng thấy tiếng kêu thốt lên ấy đã
hòa trong tiếng nấc thể hiện Kiều thương mình nhưng nhiều hơn cả là sự xót xa dành
cho chàng Kim. Trong sự tan vỡ của tình yêu của hai người, Kiều nhận hết trách
nhiệm, lỗi lầm về mình và tự gán cho mình là kẻ phụ bạc. Việc Kiều lấy hết can đảm
để thốt lên lời thú nhận đó đã làm hiện lên ở nàng những vẻ đẹp đáng trân trọng.
Đó là vẻ đẹp của người con gái rất đỗi cao thượng trong tình yêu, dẫu bị hoàn cảnh xô
đẩy, dồn đuổi đến cùng đường để đưa ra quyết định tưởng chừng không thể đau xót
hơn nữa – quyết định bán mình. Khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy Kiều
vẫn xem mình là người đáng phê phán vì đã phụ bạc một tình yêu tuy mới chớm nở
nhưng đã rất đậm sâu. Đó chính là phẩm chất đáng quý nơi Kiều khiến ta mỗi lúc mỗi yêu quý nàng hơn.
Nhìn tổng thể khi cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta thấy Nguyễn Du đã nêu bật
lên sự tha thiết, trân trọng của Thúy Kiều đối với tình yêu thông qua hành động “trao
duyên”. Cũng bằng cách thể hiện đó, Nguyễn Du đã bộc lộ rõ những vẻ đẹp ở phẩm
chất của người con gái đầu lòng họ Vương: vừa là một mẫu người nêu gương đạo đức
khi lấy chữ hiếu làm đầu, vừa là một hình ảnh nữ nhân lý tưởng khi có ý thức và nỗ
lực hết mình để thể hiện thái độ trân trọng, nâng niu dành cho tình yêu đích thực của mình.
Bên cạnh những nội dung đã điểm qua ở trên, điều làm nên sự thành công trong việc
chuyển tải những thông điệp mà tác giả gửi gắm còn nằm ở nghệ thuật của đoạn trích.
Trong đoạn trích này, Nguyễn Du đã vận dụng thật hiệu quả nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật để làm nổi bật ở nhân vật những phẩm chất đáng trọng. Bên cạnh đó, khi
cảm nhận 8 câu cuối bài Trao duyên, ta cũng thấy tài năng của đại thi hào Nguyễn Du
trong việc lựa chọn hình thức độc thoại nội tâm để bộc bạch những tâm tư cùng với
nỗi niềm chất chứa trong lòng của nàng Kiều.
Như vậy, với những ý nghĩa về nội dung và giá trị về nghệ thuật nói trên, đoạn trích
“Trao duyên” nói chung và tám câu thơ cuối đoạn trích nói riêng đã giúp cho người
đọc có thể phần nào đồng cảm và thấu hiểu cho nỗi lòng của nhân vật Thúy Kiều. Đó
cũng là tình cảm dành cho những kiếp nữ nhân tài hoa nhưng bị sự cay nghiệt của số
phận dồn ép đến tận cùng. Tuy nhiên, phải thừa nhận một điều rằng dù cho tình cảnh
có ngang trái, éo le đến nhường nào, ở họ vẫn toát lên những vẻ đẹp đáng quý.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 5
Trao duyên cho em, nỗi đau này ai có thể thấu cho nàng Kiều. Sau giây phút vô cùng
đau đớn, Kiều rơi vào nỗi đau khổ và tuyệt vọng đến cùng cực, nàng nghĩ về Kim
Trọng và càng đau xót hơn, nỗi đau đó được thể hiện trong tám câu thơ cuối trong
đoạn trích: “Trao duyên”.
Trong tột cùng nỗi đau khổ và tuyệt vọng, Kiều nghĩ về Kim Trọng. Với nàng Kim
Trọng là tất cả, là niềm tin, hy vọng, là niềm an ủi, chia sẻ với nàng mọi điều. Tuy
nhiên, Kim Trọng lại đang ở cách nàng rất xa, bởi thế cuộc đối thoại này với Kim
Trọng chỉ là trong tưởng tượng. Nàng cất lên lời than vô cùng chua xót, đau đớn trước thực tại phũ phàng:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Thành ngữ “Trâm gãy gương tan” là sự tan vỡ của tình yêu, cũng là sự tan nát trong
trái tim Thúy Kiều. Tình yêu với của nàng với Kim Trọng ngày một nâng lên, ngày
càng tha thiết thì nỗi đau, sự dằn vặt trong trái tim nàng càng mạnh mẽ, càng đớn đau
hơn. Lời nàng tạ tội của nàng thật thương tâm: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân/ Tơ
duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”. Kiều cất lên lời oán trách số phận, trách sự vô tình,
khắc nghiệt của cuộc đời, than thở cho số phận éo le, mỏng manh, bạc bẽo của bản thân.
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Dường như lúc này đây tình cảm của nàng đã lấn át cả lý trí. “Phận bạc” ở đây được
sử dụng như một lời nói lên án cả xã hội phong kiến. Nhưng dù như vậy nàng cũng
đành bất lực “đã đành” như một lời thở than, cam chịu số phận đớn đau. Số phận nàng
ta cũng bắt gặp trong rất nhiều tác phẩm như nàng Vũ Nương bất hạnh bị chồng ruồng
rẫy phải tự vẫn để minh oan, hay những người con gái được phản ánh trong các câu ca dao:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Câu thơ cho thấy thân phận nhỏ bé hơn bao giờ hết của nàng Kiều. Hơn thế nữa, câu
thơ cũng là lời dự cảm, một lời lo lắng cho tương lai đầy bất trắc phía trước. Hình ảnh
“hoa” vốn là biểu trưng cho người con gái đẹp, ở đây không ai khác chính là nàng
Kiều nhưng những bông hoa ấy lại trôi lỡ làng, vô định, không biết cuộc đời sẽ ra sao
và đi đâu về đâu. Nỗi đau trào dâng, bao nhiêu tình cảm dồn nén choán đầy cả tâm trí.
Bởi vậy, nàng thốt lên lời xin lỗi đầy đau đớn với Kim Trọng:
Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Có lẽ rằng đây là lần cuối cùng nàng có thể gọi Kim Trọng là “Kim Lang” tha thiết
như thế. Thúy Kiều gọi Kim Trọng hai lần dường như bao nhiêu tình cảm chất chứa
đều được thốt lên qua tiếng gọi người yêu đầy tha thiết của nàng. Kiều vẫn nhận mình
là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên không ngớt trong lòng nàng. Sau
đoạn đối thoại với Kim Trọng nỗi đau về tình yêu tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều.
Sau cả một đêm thức trắng không thể tiếp tục chịu đựng hơn được nữa, Kiều đã ngất đi:
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng
Kết thúc đoạn trích “Trao duyên”, duyên thì được trao, nhưng tình thì lại không thể.
Mâu thuẫn giữa tình cảm và lí trí trong trái tim Kiều vì thế chưa được giải quyết hoàn
toàn. Mặc cảm vì mình là người phụ tình, nỗi đau ấy sẽ còn dày xé nàng trong suốt mười lăm năm lưu lạc.
Đoạn trích là sự kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình, ngôn ngữ độc thoại đã cho thấy
nỗi đau đớn đến tột cùng của Thúy Kiều. Nhưng đồng thời qua những câu thơ ngắn
ngủi đã cho thấy tình cảm và nhân cách đẹp đẽ của nàng, dù rơi vào đau khổ tuyệt
vọng đến cùng cực nhưng nàng vẫn luôn lo nghĩ cho người khác mà quên đi nỗi đau của bản thân.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 6
Kết thúc đoạn thơ, bi kịch càng được đẩy lên cao. Mâu thuẫn này nối tiếp mâu thuẫn
khác, Kiều đã hoàn toàn bất lực trước mong muốn níu kéo, cố gắng trở về với tình yêu.
Nhưng tất cả chỉ là quá khứ xa xôi và tương lai mờ mịt.
Dù có quay về quá khứ hãy hướng tới tương lai, cuối cùng Kiều vẫn là con người sống
với thực tại của mình:
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vài ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
Hàng loạt những thành ngữ được liệt kê hàm chứa bao bi kịch người con gái. Đó là sự
vỡ tan, dở dang của tình yêu và bọt bèo, trôi nổi của đời Kiều. Bi kịch càng sâu sắc
khi trước hiện tại nàng vẫn không thôi khao khát tình yêu hạnh phúc. Những từ ngữ có
tính chất vô hạn định như "muôn vàn, trăm nghìn" thể hiện sâu sắc khát vọng về một
tình yêu thiết tha, vĩnh viễn. Oan nghiệt thay, khát vọng ấy cũng chính là hiện thực
không gì cứu vãn nổi. Bi kịch tình yêu dâng lên tột đỉnh.
Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho duyên phận của mình tơ duyên
ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật đau khổ biết bao: trao duyên rồi,
đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong lòng
nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lý của
con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu đong càng lắc càng đầy là như thế!
Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. Cuối đoạn thơ,
mặc dù Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em, đã nhờ em trả nghĩa
cho Kim Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn
không nguôi. Vẫn còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng, vẫn biết mình phận bạc,
Thúy Kiều vẫn phải thốt lên đau đớn:
"Ôi Kim lang hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao
người, bao thế hệ! Chỉ một câu thơ và tên Kim Trọng được gọi đến hai lần. Những
thán từ "ôi, hỡi" khiến câu thơ vang lên như một lời than, tiếng gọi thảng thốt, nghẹn
ngào, mang theo lời trăn trối cuối cùng gửi đến chàng Kim trước lúc đi xa. Kiều đã rất
ân cần với chàng Kim thế mà giờ đây nàng tự nhận mình là người phụ bạc, không đổ
lỗi cho hoàn cảnh mà tự nhận hết trách nhiệm về mình. Nàng đâu còn nghĩ đến nỗi
đau của riêng mình. Tất cả tấm lòng, sự lo lắng lại dành cho hạnh phúc của người
mình yêu. Kiều thương chàng Kim hơn chính bản thân mình.
Ngòi bút tài tình của Nguyễn Du đã thể hiện xuất sắc những diễn biến phức tạp của
nhân vật. Với hệ thống ngôn từ được sử dụng một cách điêu luyện và độc đáo,
Nguyễn Du chính là một bậc thầy về ngôn ngữ.
Tác phẩm đã làm rung động biết bao trái tim người đọc từ hàng thế hệ nay. Đoạn trích
"Trao duyên" đã phác họa thành công bi kịch tình yêu của Thúy Kiều, nhưng ánh lên
rực rỡ một nàng Kiều đẹp đẽ, sống động với nhân cách cao cả. Càng hiểu nàng bao
nhiêu, ta càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có
thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó
chẳng đáng cảm phục lắm sao.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 7
Trong giây phút ấy, Vân bỗng bị “hồn” Kiều quên đi. Kiều đang sống mà cảm thấy
như mình đã chết, đang nói với em mình mà không biết đang nói với ai, lúc này, Kiều
rơi vào trạng thái độc thoại nội tâm. Nỗi bất hạnh hiện lên thật trọn vẹn, hiện lên trong
hình dung nhưng rất cụ thể khiến Kiều vô cùng tuyệt vọng:
Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể là sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Lời đối thoại có sự chuyển hướng: Đang nói với em Vân, Kiều dường như quay sang
nói với chàng Kim hay nói khác hơn, trước mắt Kiều, Thuý Vân trở thành chàng Kim.
Cho nên bao nhiêu tình thương nỗi nhớ, nỗi thương yêu ấp ủ, nỗi đau khổ thống thiết
cho mối tình đầu tan vỡ bỗng tuôn tràn ra. Nhìn lại cái “bây giờ” của Kiều chỉ thấy
mất mát. “Trâm” và “gương” là biểu tượng của tình duyên ngày xưa. Thế nhưng giờ
“Trâm” đã “gãy” còn “gương” cũng đã vỡ “tan” cả. Hình tượng “Trâm gãy gương
tan” là hình ảnh của tình duyên tan vỡ. Kiều đã nhận của chàng Kim “muôn vàn ái ân”
đến nỗi “kể làm sao xiết” mà giờ đây Kiều lại phản bội, thất hứa, làm “tơ duyên ngắn
ngủi”, “trâm gãy gương tan”. Nghẹn ngào, cay đắng, xót xa – bấy nhiêu tâm trạng đối diện với Kiều.
Tuy trao duyên cho em Vân, nhờ em “thay lời nước non” với chàng Kim, Kiều vẫn
thấy mình chịu muôn vàn tội lỗi nên nàng đã gửi lại “trăm nghìn cái lạy” cho “tình
quân”-người đã cùng nàng trải qua bao kỷ niệm tình yêu nồng nàn, say đắm, đã cùng
nàng thề nguyền trăm năm bên nhau mà cuối cùng lại bị nàng phản bội-mà vẫn cảm
thấy chưa đủ. Trước đây ít phút, nàng đã “lạy” em Vân của mình để cầu xin em nối
duyên với chàng. Khác hẳn với cái lạy “mang ơn”, cái “lạy” này là cái lạy tạ tội vô
cùng thống thiết. Trong tình cảnh này, Kiều vẫn không thể làm gì hơn ngoài sự tạ tội.
Và cái lạy đó đối với Kiều đã kết thúc mối tình đầu ngắn ngủi, đầy tiếc nuối. Câu “Tơ
duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” Kiều thốt lên sao mà thấm đượm vị chua chát, cay
đắng của sự chia ly lứa đôi. Đến đây, Kiều mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận của
mình giữa cõi đời bất công:
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Đó là lời oán trách, lời than oán số phận “bạc như vôi” của mình.Lời than oán của
Kiều không ai có thể trả lời được, đó là một lời than oán cay đắng, tuyệt vọng, kêu lên
chỉ để oán trách trời mà thôi! Rồi đây số phận của Kiều sẽ trôi dạt như bông hoa đẹp
đẽ đã “đành trôi” trên dòng nước dơ bẩn, nhơ nhớp chảy cuốn xiết, lỡ làng, không thể
nào cứu vãn được nữa. “Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan,
nghĩa là tuổi thanh xuân trinh trắng và đẹp đẽ của Kiều đã chấm dứt từ đây. Và lúc đó,
trong những giây phút cuối cùng của cuộc trao duyên, Kiều cất tiếng gọi người yêu:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
“Thôi thôi” là tiếng than tiếc rẻ, dằn vặt. “Thôi thôi” cũng là tiếng xác nhận sự phụ
bạc của mình.Tiếng gọi của nàng như một tiếng kêu chới với và tuyệt vọng bởi vì
không có hồi âm.Kiều đã gắng gượng đến phút cuối cùng, lấy hết sức mình để thốt lên
những tiếng kêu cuối cùng – tiếng kêu than oán, kêu cứu của một người phụ nữ “tài
hoa bạc mệnh” trong xã hội phong kiến.Sau tiếng kêu não lòng ấy, Kiều ngất đi, kết
thúc cuộc trao duyên đầy chất trữ tình:”Cạn lời hồn ngất máu sau-Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng”
Đoạn thơ “Trao Duyên” đúng là Kiều đã nói hết lời (“cạn lời”). Lời trao duyên như
nói một lời trăn trối, vĩnh biệt. Trước lời trao duyên, tình yêu thật mặn nồng, say đắm,
hạnh phúc, sau lời trao duyên mình đã trắng tay, đôi lứa chia ly, tình yêu tan vỡ.
Trước khi trao duyên mình là người sống, sau khi trao duyên mình là hồn oan nơi chín
suối. Bằng tài năng tuyệt vời của mình, Nguyễn Du hình dung rất rõ và thể hiện rất
thành công số phận bi kịch, nội tâm rối bời, tâm trạng đau khổ, dằng dặc, cay đắng,
xót xa và tuyệt vọng trong cuộc trao duyên của Kiều với việc sử dụng một cách khéo
léo, tinh tế, sắc sảo từ ngữ, nhiều biện pháp nghệ thuật thích hợp, kết hợp linh động lời
kể với lời tự tình, lời độc thoại, ……, làm cho đoạn “Trao duyên” trở thành đoạn thơ
lâm li nhất trong Truyện Kiều. Và đó cũng là lý do vì sao Truyện Kiều trở thành bất hủ!
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 8
Truyện Kiều - một thi phẩm bất hủ của tác giả Nguyễn Du, được viết dựa vào một tác
phẩm cổ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một tác giả sống vào đời
nhà Thanh, Trung Quốc. Truyện kể về cuộc đời đầy đau thương mất mát của Thuý
Kiều, trải qua muôn vàn sóng gió, khổ hạnh, chết đi sống lại,… cuối cùng hạnh phúc
cũng mỉm cười với nàng. 8 câu cuối bài thơ đã thể hiện được tất cả nỗi lòng của Kiều.
Thuý Kiều một người con hiếu hạnh, tài đức vẹn toàn.
Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình chuộc cha. Nhưng làm vậy thì nàng đã
phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang Kim Trọng. Tình thế ép
buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị trao duyên lại cho em,
nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng Thuý Kiều rất đau đớn, day
dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị sắp đi xa vĩnh viễn “một đi
không trở lại”. Bốn câu thơ tưởng chừng như Thuý Kiều đang trăn trối nói về ngày
sau khi mình chết đi. Mai sau em “đốt lò hương”, nhìn thấy trời “hiu hiu gió” thì hồn
chị đã về: Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống khổ của một kẻ phụ tình. Trước
khi thát oan, nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho người bạn tình chung thuỷ vì tội
đã phản bội lại lời thề nguyền.
Nhưng làm vậy thì nàng đã phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang
Kim Trọng. Tình thế ép buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị
trao duyên lại cho em, nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng
Thuý Kiều rất đau đớn, day dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị
sắp đi xa vĩnh viễn “một đi không trở lại”.
Bốn câu thơ tưởng chừng như Thuý Kiều đang trăn trối nói về ngày sau khi mình chết
đi. Mai sau em “đốt lò hương”, nhìn thấy trời “hiu hiu gió” thì hồn chị đã về:
Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống khổ của một kẻ phụ tình. Trước khi thát oan,
nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho người bạn tình chung thuỷ vì tội đã phản bội
lại lời thề nguyền. Nỗi day dứt ấy chị vẫn mang theo xuống cửu tuyền. Hôm nay chị
trở về thì đã "âm dương cách biệt đôi đường" không thể nói được gì, chỉ xin rảy cho
chén nước để oan hồn chị được siêu thoát. Khát vọng, nhu cầu của con người và thực
tế cuộc sống mà con người phải đối mặt: người đàn bà trong câu chuyện chỉ mong có
một cuộc sống( bình yên, êm ấm, mong những đứa con của chị được ăn no, muốn
được thấy cảnh vợ chồng con cái quây quần bên nhau để có những giờ phút vui vẻ.
Nhìn lại thực tại, nghĩ đến tình quân nàng nhắn nhủ đôi lời tâm sự, giãi bày:
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Giờ đây mọi chuyện đã tan vỡ, lỡ làng, nói làm sao hết những tình cảm tha thiết, da
diết, những kỉ niệm ngọt ngào ân ái ngày xưa đã trao nhau. Thôi thì thiếp đành cam
chấp nhận số phận, tơ duyên ngắn ngủi, hạnh phúc quá mong manh, kiếp này đã lỡ
phu thê, thiếp xin bái biệt đi về cõi âm. Lời nhắn nhủ vừa mang nỗi tiếc nuối, vừa cam
chịu chỉ "có ngần ấy thôi" ít ỏi quá chàng ơi, nhưng không thể nào kéo dài thêm được
nữa. Khát vọng, nhu cầu của con người và thực tế cuộc sống mà con người phải đối
mặt: người đàn bà trong câu chuyện chỉ mong có một cuộc sống( bình yên, êm ấm,
mong những đứa con của chị được ăn no, muốn được thấy cảnh vợ chồng con cái
quây quần bên nhau để có những giờ phút vui vẻ. Thế nhưng, chị lại phải đối mặt với
một bi kịch gia đình: luôn bị người chồng đánh đập, hành hạ một cách tàn nhẫn. Và dù
rất thương con, muốn bảo vệ các con, tránh cho chúng khỏi bị tổn thương thì chị vẫn
khiến những đứa con đầu lòng, bị tổn thương vì phải chứng kiến cảnh bố đánh mẹ.
Tình cảm đạo đức và hành vi trái đạo đức: thằng Phác vì thương mẹ, muôn bênh vực
mẹ nhưng do còn non nớt trong nhận thức và bồng bột trong cách ứng xử nên đã có
một hành động dại dột là xông vào đánh bố, thậm chí cầm dao định đâm bố. Nếu hành
động này không được ngăn cản sẽ khiếm bi kịch chồng chất nên bi kịch vốn đã rất
nặng nề căng thẳng trong cuộc sống của gia đình ấy. Với những hành động này, Phác
vốn là đứa con thương mẹ, là chỗ dựa, niềm an ủi cho người mẹ lại trở thành một mũi
dao đâm thẳng vào lòng mẹ nó để làm nhỏ xuống những giọt nước mắt.
Câu thơ chứa chan tình cảm, xót xa đau cho kiếp số phũ phàng, chua chát - lời thơ như
hờn oán, trách móc than thân trách phận:
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Lời thơ uất nghẹn, phận gì? mà bạc như vôi? Phận trâu ngựa, kiếp chó mèo chứ không
phải là phận người, kiếp người nữa. Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình
chuộc cha. Nhưng làm vậy thì nàng đã phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc
với tình lang Kim Trọng. Tình thế ép buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân,
xem như chị trao duyên lại cho em, nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng
dù rằng Thuý Kiều rất đau đớn, day dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể
rằng chị sắp đi xa vĩnh viễn “một đi không trở lại”. Bốn câu thơ tưởng chừng như
Thuý Kiều đang trăn trối nói về ngày sau khi mình chết đi. Mai sau em “đốt lò hương”,
nhìn thấy trời “hiu hiu gió” thì hồn chị đã về: Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống
khổ của một kẻ phụ tình. Trước khi thát oan, nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho
người bạn tình chung thuỷ vì tội đã phản bội lại lời thề nguyền. Cuộc đời quá cay
đắng, bạc bẽo hay xã hội quá bất công, tàn nhẫn với con người tài sắc vẹn toàn như
Thuý Kiều. Đành rằng cuộc đời “nước chảy hoa trôi” nhưng cũng có giới hạn thôi chứ
sao mà quá bi đát, quá phũ phàng đến vậy. Quay về với thực tại Thuý Kiều như bừng tỉnh, thốt lên:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Việc “trao duyên” đã thành, việc bán mình cũng đã xong, thì bi kịch của Thuý Kiều
cũng đến. "Ôi", "Hỡi" Kim Lang, Thuý Kiều gọi tên tình nhân lần sau cuối trong nước
mắt nhạt nhoà, nàng ôm nỗi đau giằng xé tâm can khi biết chắc chắn rằng từ đây nàng
đã mất chàng Kim mãi mãi. Vì phải cứu gia đình, nàng đành phải bán mình chuộc cha.
Nhưng làm vậy thì nàng đã phản bội lời thề nguyền thuỷ chung, son sắc với tình lang
Kim Trọng. Tình thế ép buộc nàng đành nhờ cậy em ruột là Thuý Vân, xem như chị
trao duyên lại cho em, nhờ em thực hiện lời thề của mình với Kim Trọng dù rằng
Thuý Kiều rất đau đớn, day dứt tâm can và nhắn nhủ với em mình như thể rằng chị
sắp đi xa vĩnh viễn “một đi không trở lại”. Bốn câu thơ tưởng chừng như Thuý Kiều
đang trăn trối nói về ngày sau khi mình chết đi. Mai sau em “đốt lò hương”, nhìn thấy
trời “hiu hiu gió” thì hồn chị đã về: Hồn chị đã về đây, mang nặng nỗi thống khổ của
một kẻ phụ tình. Trước khi thát oan, nàng chấp nhận cho thân nát để đền cho người
bạn tình chung thuỷ vì tội đã phản bội lại lời thề nguyền.
Sự thật ấy làm cho Thuý Kiều kêu lên thống thiết “thôi thôi” một cách vật vã, đớn đau
“đứt từng đoạn ruột”. Điều đó cho ta thấy được tình cảm của Thuý Kiều dành cho
Kim Trọng vô cùng lớn, vô cùng sâu đậm, chung thuỷ sắc son.
Sự “hi sinh” của Thuý Kiều làm cho người đời cảm phục, tình cảm của Thuý Kiều
làm cho chúng ta trân quý yêu thương. Đó là điểm sáng chói ngời trong phẩm giá con
người Thúy Kiều, khiến cho nàng sống mãi trong lòng người đọc.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 9
Trao Duyên là một trong những đoạn trích cảm động, đau thương nhất trong Truyện
Kiều, ở đó Nguyễn Du đã thể hiện khả năng nắm bắt tâm lí nhân vật tài tình, đồng thời
thấy được bi kịch tình yêu, bi kịch nỗi đau tâm hồn đầy giằng xé của Thúy Kiều khi
trao duyên cho Thúy Vân. Đặc biệt là 8 câu thơ cuối.
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Sự thức tỉnh của Thúy Kiều về nỗi đau của đời mình, để thấm thía hơn hiện thực mối
tình đẹp đẽ sâu nặng tha thiết với chàng Kim giờ chỉ đành bỏ ngỏ, không thể tái hồi,
dẫu có ghép lại thì cũng không còn được như xưa. “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”,
đối lập giữa cái bây giờ và cái bao giờ. Cái bây giờ là hiện tại đớn đau, cái bao giờ là
mảnh tình một thuở muôn vàn ái ân. Hạnh phúc với Kiều lúc này chỉ là một tương lai
mờ mịt xa xăm chỉ có thể cảm thấy mà không nhìn thấy.
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
“hồng nhan bạc mệnh”, câu nói ấy dường như ám cả vào nàng, vào cuộc đời nàng,
suốt đời ôm lấy kiếp long đong. Chính xã hội phong kiến kim tiền giả dối, thối nát và
tàn ác đã đẩy Kiểu đến bước đường cùng đầy đau đớn này, nhưng dù như vậy phận nữ
nhi thường tình, nàng còn có thể làm gì hơn được nữa, nàng cũng đành bất lực “đã
đành” như một lời thở than, cam chịu số phận đớn đau. Câu thơ như lời đối thoại, mà
cũng như lời độc thoại đớn đau đến tột cùng, Kiều than cho số kiệp bạc bẽo, thân phận
bèo bọt của mình, cũng giống như biết bao nhiêu kiếp hồng nhan bạc mệnh khác bị
cuống vào guồng quay oan nghiệt của xã hội phong kiến. Câu thơ vang lên nặng nề, ai
oán như một lời nghi vấn nghìn năm thiên cổ, như thay cho tiếng nói của biết bao số kiếp bạc mệnh khác.
Nhưng trong đỉnh điểm của nỗi đau riêng lắng của mình, Kiều lại nghĩ đến chàng Kim.
Tên Kim Trọng vang lên lúc này, như một tiếng kêu thương của một người đang chới
với trước bờ vực thẳm của đời mình:
"Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Sự thực là có một Thúy Kiều đã chết, đó là cái chết trong tâm hồn,cái chết của mối
tình đầu chưa trọn vẹn suốt 15 năm lưu lạc mãi vẫn tan nát cõi lòng. Rõ ràng trong
đau đớn Kiều vẫn hướng về Kim Trọng, vẫn một lòng thủy chung son sắt với chàng,
thế nhưng nàng vẫn nhận mình là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên
không ngớt trong lòng nàng. Sau những dòng tâm tư quằn quại, nỗi đau về tình yêu
tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều. Sau cả một đêm thức trắng, thể xác mệt nhọc,
tâm hồn, trái tim tan nát, Kiều dường như không thể trụ vững được nữa:
“Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng"
Trong tột cùng của nỗi đau, ta vẫn thấy tỏa sáng một tình yêu cao đẹp, đẹp đến đau
thương, bi thương cho số kiếp nàng Kiều , “hồn ngất máu say”, “hơi lạnh ngắt”, tất cả
những cách diễn đạt như ghim những khắc khoải vào lòng người đó, đã trở thành niềm
đau đáu tâm can, làm cồn lên những dày xé bất tận trong lòng người đọc về cái kết
quá đỗi bi thương, cũng vì một trái tim yêu quá sâu nặng, tha thiết đến quặn thắt của
Kiều. Với nàng, tình yêu cho chàng Kim là lẽ sống, bây giờ lẽ sống ấy đã không còn,
sự thực chẳng khác nào, sống không bằng chết.
Nếu không có một trái tim đồng cảm với nàng kiều, sao Nguyễn Du có thể viết những
câu thơ như rỉ máu đầu ngọn bút như thế, trang văn, từng nhịp thơ, lời thơ như tiếng
lòng gào thét, cũng đầy uất nghẹn, bế tắc của Thúy Kiều. Đó thực sự là sự đồng điệu
đến từng điệu hồn tế vi nhất của tác giả và nhân vật.
Phân tích Trao duyên 8 câu cuối - Mẫu 10
Đại thi hào Nguyễn Du đã để lại một di sản văn hóa vô cùng to lớn, là kiệt tác của văn
học trung đại Việt Nam - Truyện Kiều. Trong mỗi đoạn trích của tác phẩm, thông qua
nhân vật Thúy Kiều tác giả đã lan tỏa cả những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
trong từng câu thơ. Đặc biệt là trong đoạn trích Trao duyên - một đoạn trích tiêu biểu,
cao trào cho bi kịch của cuộc đời Thúy Kiều, tám câu thơ cuối được ví như lời oán
thán, tiếng thét không nên lời của một kiếp người nhỏ bé đành cam chịu sự an bài của số phận.
Sau khi thuyết phục em gái mình là Thúy Vân chấp nhận mối nhân duyên với Kim
Trọng, Thúy Kiều đem trao hết tất cả những kỉ vật giữa nàng và Kim Trọng cho Thúy
Vân và dặn dò em bằng những lời tự tận đáy lòng. Thúy Kiều trong lúc đau đớn, xót
xa đã bất giác quên đi việc đang trò chuyện với em mà chuyển sang độc thoại nội tâm,
đó là khi nàng nhớ về Kim Trọng. Tám câu thơ dưới đây là tiếng than oán xé lòng và
lời từ biệt đầy đau thương của Kiều dành cho tình quân của mình.
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang”
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Có thể thấy, trong tám câu thơ trên đã có đến năm câu cảm thán, trước mắt người đọc
là hình ảnh của một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng số phận đưa đẩy đến bước “đoạn
trường” đang ngồi sụp xuống buông xuôi tất cả. Lời thơ của Thúy Kiều đầy đau đớn,
chạm tới sự rung cảm của người đọc. “trâm gãy gương tan” ám chỉ cho mối tình đã
tan vỡ, tan vỡ theo cách không thể nào hàn gắn hay lành lại được nữa. Đây sẽ là sự
chia ly vĩnh viễn, không thể cứu vãn được nữa rồi. Ấy vậy mà trước đó nàng và chàng
Kim đã có mối tình đẹp biết bao “muôn vàn ái ân” với bao kỉ niệm và kỉ vật trao nhau.
Bây giờ tất cả đều không còn ý nghĩa gì nữa, nàng phải rũ bỏ hết, tự mình chối bỏ tình
cảm ấy để trọn hiếu nghĩa với mẹ cha.
Đối với Kim Trọng, người “tình quân” của nàng đã tin yêu nàng hết lòng, cho đến bây
giờ lại không thể cùng nàng trọn nghĩa phu thê, đó là điều khiến Thúy Kiều day dứt và
đau đớn nhất. Nàng không biết làm thế nào để tạ lỗi với Kim Trọng, chỉ còn biết “trăm
nghìn gửi lạy”, gửi cái lạy tạ lỗi với tấm chân tình của chàng Kim, đây là cái lạy cho
sự bái biệt đầy thiêng liêng cho thấy Thúy Kiều rất trân trọng và chân thành với mối
tình này. Chỉ mong rằng Kim Trọng hiểu được nỗi lòng, số phận và hoàn cảnh của
mình mà chấp nhận se duyên với em gái. Thúy Kiều đã phải than oán về số phận với
hàng loạt thành ngữ như “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “hoa trôi lỡ làng”,
ám chỉ cho số phận hẩm hiu, bạc bẽo, trôi nổi của Thúy Kiều. Nàng Kiều ý thức được
số mình đầy đau khổ, lênh đênh dang dở, nếu như quá khứ đầy yêu thương, muôn vàn
ái ân bao nhiêu thì bây giờ là thực tại đầy đau khổ, bẽ bàng bấy nhiêu, số phận nàng
đã được an bài như vậy.
Không còn là những người lặng lẽ cam chịu, câm nín chịu đựng số phận, nhân vật
Thúy Kiều của Nguyễn Du đã bứt phá ra khỏi những định kiến xã hội đương thời,
dám kêu lên tiếng xót xa, không ngại oán than cho cuộc đời và số phận. Mặc dù chẳng
thể thay đổi nhưng ít ra điều đó thể hiện rằng Thúy Kiều là một người thấu hiểu lý lẽ,
trọn tình trọn nghĩa. Đặt mình trong hoàn cảnh buộc phải chọn lựa giữa gia đình và
tình yêu nàng đã chọn hy sinh tình yêu để bán thân cứu lấy cha mẹ. Tiếng gọi chàng
Kim “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang” là tiếng gọi da diết, nghẹn ngào, có phần đau đớn
trong tuyệt vọng, ta có thể hình dung ra Thúy Kiều đã trở thành một người vô hồn,
đau đớn đến tận cùng. “Thôi thôi” như là sự kết thúc, không còn hy vọng, không còn
gì để chờ đợi, phải chấp nhận sự thật nghiệt ngã này. Đến đây là kết thúc tình yêu này,
và Thúy Kiều đã chấp nhận mình là người phụ bạc, không thể chối cãi tình cảm nàng
dành cho Kim Trọng là tha thiết, chân thành nhưng chữ hiếu đã buộc nàng chọn hy
sinh tình yêu, nàng không có lựa chọn khác. Tuy đã nhờ được Thúy Vân gánh vác mối
nhân duyên này nhưng sâu trong thâm tâm của Thúy Kiều không được thanh thản,
nàng đau khổ, than thân trách phận và oán thán cuộc đời bất công với mình. Mặc dù
cuộc đời của Kiều đau khổ nhưng lại toát lên nhân cách sáng ngời, nàng vẫn luôn đòi
hỏi về thân phận, tình yêu đôi lứa nhưng cũng không quên đi đạo nghĩa làm con.
Qua đoạn trích Trao duyên, chúng ta cảm nhận được Thúy Kiều không chỉ là một hình
tượng nghệ thuật, một số phận được sáng tạo bởi bàn tay tài hoa của đại thi mà nàng
rất gần với một con người thực, với một nhân cách tự nhiên nhiều chiều. Tình cảm,
nỗi đau và sự hy sinh của Thúy Kiều khiến chúng ta không ngừng nghĩ về chính bản
thân mình giữa cuộc đời, cảm thông cho sự đắng cay, bạc bẽo của số phận nàng Kiều.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 11
Trao duyên là một trong những đoạn trích cảm động, đau thương nhất trong kiệt tác
Truyện Kiều, ở đó Nguyễn Du đã thể hiện khả năng nắm bắt tâm lí nhân vật tài tình,
đồng thời cho ta thấy được bi kịch trong tình yêu, bi kịch nỗi đau về tâm hồn của
Thúy Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân, đặc biệt là 8 câu thơ cuối:
"Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Quê cha ở Tiên Điền, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, quê mẹ ở Bắc Ninh, nhưng ông lại được sinh ra ở Thăng Long
nhờ đó, Nguyễn Du dễ dàng tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa. Tác giả là con
của một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan to, có truyền thống làm thơ văn và
say mê ca kĩ. Ông sinh ra và lớn lên trong thời kì lịch sử đầy biến động dữ dội của xã
hội phong kiến. Cuộc đời đầy rẫy bi kịch, Nguyễn Du sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải
ở với anh trai là Nguyễn Khản. Gia đình tan tác, bản thân ông cũng đã từng lưu lạc
“mười năm gió bụi” ở quê vợ Thái Bình. Nhưng chính những cơ cực, vất vả đó đã hun
đúc cho ông vốn sống quý giá và sự am hiểu sâu sắc vốn văn hóa dân gian. Nguyễn
Du làm quan dưới hai triều Lê và Nguyễn. Ông là vị quan thanh liêm, được nhân dân
tin yêu, quý trọng. Sự nghiệp văn học của ông rất đồ sộ với những kiệt tác ở nhiều thể
loại: thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập gồm Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm,
Bắc hành tạp lục. Thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều và Văn tế
thập loại chúng sinh. Đoạn trích Trao duyên bắt đầu từ câu 723 đến 756 của Truyện Kiều.
Sau khi thuyết phục Thúy Vân nhận lời, trao duyên trao kỉ vật và dặn dò em. Kiều
đang sống mà cảm thấy như mình đã chết, đang nói với em mình mà không biết đang
nói với ai, Kiều rơi vào trạng thái độc thoại nội tâm. Nỗi bất hạnh hiện lên thật rõ
khiến Kiều rơi vào cảm giác vô cùng tuyệt vọng:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
"Trâm gãy gương tan" gợi sự đổ vỡ của tình yêu cũng như cõi lòng tan nát của Thúy
Kiều. Việc sử dụng hình ảnh ước lệ đạt hiệu quả cao, thông qua hình ảnh ấy tác giả đã
cho thấy sự nhận thức sâu sắc của nàng Kiều về bi kịch hiện tại. Những ngày tháng
trong quá khứ Kiều đã rất hạnh phúc với Kim Trọng - mối tình đầu đẹp như hoa như
mộng, giờ đây chỉ còn lại những đau đớn không nói thành lời. “Trâm” và “gương” là
hai hình ảnh vốn tượng trưng cho sự đẹp đẽ của người con gái đến tuổi để ý nhan sắc
của bản thân. Những gì Kiều trân trọng bấy lâu, nâng niu từng tí một để mong có một
ngày ở bên Kim Trọng mãi mãi vậy mà chỉ trong phút chốc tất cả những mong ước, hi
vọng đã vỡ tan tành. Kiều đã nhận của chàng Kim "muôn vàn ái ân” nhiều đến nỗi “kể
làm sao xiết” vậy mà giờ đây lại thất hứa, Kiều nghẹn ngào, cay đắng, xót xa cho thân
phận của mình. Nguyễn Du đã mở ra hai chiều thời gian hiện tại và quá khứ. Quá khứ
thì “muôn vàn ái ân” đầy hạnh phúc trong khi ấy hiện tại thì đầy đau khổ, lỡ làng và
bạc bẽo. Sự đối lập nhấn mạnh, khắc sâu bi kịch, nỗi đau của Kiều, càng nuối tiếc quá
khứ đẹp đẽ bao nhiêu thì thực tại càng bẽ bàng, hụt hẫng bấy nhiêu.
Mọi chuyện bây giờ đã lỡ, Kiều không thể làm cho mọi thứ trở về bình yên như xưa
cũ mà chỉ tìm cách động viên, an ủi bản thân mình cũng như người yêu:
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”
Lời nhận tội của nàng thật đáng thương, tội nghiệp. Trăm nghìn cái lạy cho "tình
quân" - người đã cùng nàng trải qua bao kỷ niệm tình yêu thiết tha, nồng nàn, say đắm,
đã cùng nhau thề nguyền trăm năm bên nhau vậy mà cuối cùng nàng lại phản bội.
Trước đó nàng đã “lạy” em của mình để cầu xin em nối duyên với chàng. Nhưng cái
"lạy" lần này là cái lạy mang ơn, là cái lạy tạ tội vô cùng thống thiết. Trong tình cảnh
này, Kiều vẫn không thể làm gì hơn ngoài sự tạ tội. Và cái lạy đó đối với Kiều đã kết
thúc mối tình đầu ngắn ngủi, đầy tiếc nuối. “Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”
Kiều thốt lên sao mà thấm đượm vị chua chát, cay đắng của sự chia ly. Đến đây, Kiều
mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận của mình giữa cõi đời bất công. Kiều cất lên lời
oán trách sự vô tình, khắc nghiệt của cuộc đời, than thở cho số phận éo le, bạc bẽo của
mình không thể giữ nổi hạnh phúc:
"Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
"Phận bạc như vôi" là số phận hẩm hiu, bạc bẽo. Đó là lời oán trách, lời than oán số
phận của Kiều mà không ai có thể thấu hết được, là một lời than oán cay đắng, tuyệt
vọng. Rồi đây số phận của Kiều sẽ trôi dạt như bông hoa đẹp đẽ đã “đành trôi” trên
dòng nước dơ bẩn, nhơ nhớp chảy cuốn xiết, lỡ làng, không thể nào cứu vãn được nữa.
“Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan, nghĩa là tuổi thanh xuân
trinh trắng của Kiều đã chấm dứt từ đây. Trước khi thán oan, nàng chấp nhận cho thân
nát để đền cho người bạn tình chung thuỷ vì đã phản bội lời thề nguyền. Cuộc đời quá
cay đắng hay xã hội quá bất công, tàn nhẫn với con người tài sắc vẹn toàn như Thuý
Kiều. Đành rằng cuộc đời “nước chảy hoa trôi” nhưng cũng có giới hạn thôi chứ sao
mà bi đát quá, phũ phàng quá. Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến
người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý. Chính Kiều là người nhận thức được rõ
nhất về cuộc đời mình, vì thế nỗi đau càng thêm xót xa.
Trong đỉnh điểm của nỗi đau riêng đang cào xé trong tim mình, Kiều lại nghĩ đến
chàng Kim. Tên Kim Trọng vang lên lúc này như một tiếng kêu đáng thương của một
người đang chới với trước bờ vực thẳm của đời mình:
"Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Nhịp thơ 3/3, 2/4/2 vừa da diết vừa nghẹn ngào như những tiếng nấc không thành
tiếng. Thán từ “Ôi, hỡi” là những tiếng kêu đau đớn, tuyệt vọng của Kiều. Hai lần
nhắc đến Kim Lang cho thấy sự tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng. Sự đau
đớn của Kiều được đẩy lên đỉnh điểm, tình cảm bây giờ lấn át cả lí trí. Nàng không thể
nghĩ được gì nữa chỉ biết kêu tên người yêu trong nỗi đau đớn đến cùng cực. Sự thật
làm cho Thuý Kiều kêu lên thống thiết “thôi thôi” một cách vật vã, đớn đau đứt từng
đoạn ruột. Điều đó cho ta thấy được tình cảm của Thuý Kiều dành cho Kim Trọng vô
cùng lớn, vô cùng sâu đậm, chung thuỷ sắc son.
Bằng nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật, sử dụng các từ ngữ tinh tế, đắt giá, các
thành ngữ giàu sức gợi cùng với việc sử dụng các thủ pháp ẩn dụ, so sánh, liệt kê, đối
lập Nguyễn Du đã thể hiện rất thành công số phận bi kịch, nội tâm rối bời, tâm trạng
đau khổ, cay đắng, xót xa và tuyệt vọng trong cuộc trao duyên của Thúy Kiều. Bằng
tài năng của mình tác giả đã làm cho đoạn “Trao duyên” trở thành đoạn thơ bi đát nhất
trong Truyện Kiều, đó cũng là lý do Truyện Kiều vẫn còn nguyên giá trị dù đã trải qua
khoảng thời gian rất lâu rồi.
Phân tích 8 câu cuối bài Trao duyên - Mẫu 12
Mối tình Kim - Kiều buổi ban đầu ngỡ sẽ nên duyên đẹp, nhưng số phận đưa đẩy, để
cứu cha và em mình, Kiều buộc phải bán thân. Lời hẹn thề cùng vật đính ước, Kiều
đánh ngậm ngùi gửi trao cho em gái Thúy Vân. Tình cảm và lý trí mâu thuẫn, Kiểu
vừa đau, vừa xót, vừa thương. Đoạn trích Trao duyên đã thể hiện rất rõ tâm trạng ấy
của nàng Kiều, đặc biệt, đọc 8 câu cuối đoạn trích ta khóc khỏi xót xa trước những lời thấu tâm can của Kiều:
"Bây giờ trâm gãy gương tan
Kế làm sao xiết muôn vàn ái ân. ...
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây."
Lời thề nguyền đêm xưa con đó, vậy mà bây giờ đây tình đôi ta vụn vỡ, chia lìa "trâm
gãy, gương tan". Tình yêu đẹp biết bao vậy mà phải chia đôi ai khiến lòng người đau
đớn, xót xa. Hơn thế nữa, Kiều là phận gái, lại là người nặng tình nghĩa, thủy chung,
nàng càng đau gấp bội. Buộc phải trao duyên cho em là lựa chọn cuối cùng của Kiều
dù lòng chẳng đặng, thực tại phũ phàng quá, trái tim nàng, cõi lòng nàng tan nát. Mỗi
lời thốt ra như một lời ai oán khóc thương cho phận mình, cho cuộc tình mình:
"Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng"
Những thành ngữ "phận bạc như vôi" "nước chảy hoa trôi" được tác giả vận dụng vào
thơ để đặc tả thân phận bạc bẽo, chìm nổi, lênh đênh của nàng Kiều. Xã hội bất công,
lòng người gian dối đã đọa đày nàng vào chỗ tối tăm, đây tình yêu nàng vào cuộc tơ
duyên "ngắn ngủi". Trước sự phũ phàng của số phận, nàng dù rất muốn nhưng chẳng
thể nào đấu tranh, đành ngậm ngùi chấp nhận "Đã đánh nước chảy hoa trôi lỡ làng".
Thương biết bao số phận lênh đênh của người phụ nữ phong kiến, cuộc đời may rủi không do mình chọn lựa:
"Thân em như trái bần trôi
Gió dập, sóng dồi biết tấp vào đâu".
Thúy Kiều ví mình như hoa giữa dòng, vô định, nhỏ bé, mong lung giữa mênh mông
sóng nước. Hoa "lỡ làng" mối duyên đẹp rồi sẽ đi về đâu, có đến được bến bờ hay mãi
lênh đênh giữa dòng nước lớn.
Càng nghĩ càng đau đớn, tâm can nàng Kiều nặng trĩu, nàng thương mình một mà
thương Kim Trong mười. Nàng thấy bản thân đã phụ lòng kẻ tri âm, Kiều thốt lên lời
xin lỗi đẫm nước mắt:
"Ơi !Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Các thán từ ơi, hỡi, kết hợp với hai tiếng Kim Lang nặng lòng tha thiết, dường như
bao nhiêu tình cảm dành cho Kim, Kiều đã dồn hết vào trong hai tiếng gọi ấy. Kiều tự
nhận lỗi về mình, tự nhận mình là kẻ phụ bạc tấm lòng chàng Kim để rồi đau đớn, cay
đắng trào dâng, cồn cào trong trái tim nàng:
"Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Lời xin lỗi cuối cùng đau xót đến nghẹn ngào của Kiều khiến ai cũng phải xót thương.
Trước chàng Kim, Kiều không đổ lỗi cho số phận hay hoàn cảnh mà nàng tự nhận lỗi
về mình. Điều đó cho thấy được tâm tư và tấm lòng của nàng. Nàng không còn nghĩ
đến nỗi đau của mình nữa mà mọi lắng lo đều hướng đến chàng Kim - người nàng vốn
vẫn hết mực thương yêu.
8 câu thơ cuối bài là một nốt nhạc trầm sâu lắng của đoạn trích. Kiều thương Kim
Trọng bao nhiêu thì người đọc càng thương Kiều bấy nhiêu. Và trên hết, con là sự
cảm phục một người con gái có cốt cách cao cả, trọng nghĩa, trọng tình.
Phân tích 8 câu cuối Trao duyên - Mẫu 13
Trao Duyên là một trong những đoạn trích cảm động, đau thương nhất trong Truyện
Kiều, ở đó Nguyễn Du đã thể hiện khả năng nắm bắt tâm lí nhân vật tài tình, đồng thời
thấy được bi kịch tình yêu, bi kịch nỗi đau tâm hồn đầy giằng xé của Thúy Kiều khi
trao duyên cho Thúy Vân. Đặc biệt là 8 câu thơ cuối.
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Sự thức tỉnh của Thúy Kiều về nỗi đau của đời mình, để thấm thía hơn hiện thực mối
tình đẹp đẽ sâu nặng tha thiết với chàng Kim giờ chỉ đành bỏ ngỏ, không thể tái hồi,
dẫu có ghép lại thì cũng không còn được như xưa. “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”,
đối lập giữa cái bây giờ và cái bao giờ. Cái bây giờ là hiện tại đớn đau, cái bao giờ là
mảnh tình một thuở muôn vàn ái ân. Hạnh phúc với Kiều lúc này chỉ là một tương lai
mờ mịt xa xăm chỉ có thể cảm thấy mà không nhìn thấy.
“Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
“hồng nhan bạc mệnh”, câu nói ấy dường như ám cả vào nàng, vào cuộc đời nàng,
suốt đời ôm lấy kiếp long đong. Chính xã hội phong kiến kim tiền giả dối, thối nát và
tàn ác đã đẩy Kiểu đến bước đường cùng đầy đau đớn này, nhưng dù như vậy phận nữ
nhi thường tình, nàng còn có thể làm gì hơn được nữa, nàng cũng đành bất lực “đã
đành” như một lời thở than, cam chịu số phận đớn đau. Câu thơ như lời đối thoại, mà
cũng như lời độc thoại đớn đau đến tột cùng, Kiều than cho số kiếp bạc bẽo, thân phận
bèo bọt của mình, cũng giống như biết bao nhiêu kiếp hồng nhan bạc mệnh khác bị
cuống vào guồng quay oan nghiệt của xã hội phong kiến. Câu thơ vang lên nặng nề, ai
oán như một lời nghi vấn nghìn năm thiên cổ, như thay cho tiếng nói của biết bao số kiếp bạc mệnh khác.
Nhưng trong đỉnh điểm của nỗi đau riêng lắng của mình, Kiều lại nghĩ đến chàng Kim.
Tên Kim Trọng vang lên lúc này, như một tiếng kêu thương của một người đang chới
với trước bờ vực thẳm của đời mình:
"Ơi Kim Lang! Hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Sự thực là có một Thúy Kiều đã chết, đó là cái chết trong tâm hồn,cái chết của mối
tình đầu chưa trọn vẹn suốt 15 năm lưu lạc mãi vẫn tan nát cõi lòng. Rõ ràng trong
đau đớn Kiều vẫn hướng về Kim Trọng, vẫn một lòng thủy chung son sắt với chàng,
thế nhưng nàng vẫn nhận mình là người phụ bạc, khiến nỗi đau như đang dấy lên
không ngớt trong lòng nàng. Sau những dòng tâm tư quằn quại, nỗi đau về tình yêu
tan vỡ trào dâng trong trái tim Kiều. Sau cả một đêm thức trắng, thể xác mệt nhọc,
tâm hồn, trái tim tan nát, Kiều dường như không thể trụ vững được nữa:
“Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lạnh ngắt, đôi tay giá đồng"
Trong tột cùng của nỗi đau, ta vẫn thấy tỏa sáng một tình yêu cao đẹp, đẹp đến đau
thương, bi thương cho số kiếp nàng Kiều , “hồn ngất máu say”, “hơi lạnh ngắt”, tất cả
những cách diễn đạt như ghim những khắc khoải vào lòng người đó, đã trở thành niềm
đau đáu tâm can, làm cồn lên những dày xé bất tận trong lòng người đọc về cái kết
quá đỗi bi thương, cũng vì một trái tim yêu quá sâu nặng, tha thiết đến quặn thắt của
Kiều. Với nàng, tình yêu cho chàng Kim là lẽ sống, bây giờ lẽ sống ấy đã không còn,
sự thực chẳng khác nào, sống không bằng chết.
Nếu không có một trái tim đồng cảm với nàng kiều, sao Nguyễn Du có thể viết những
câu thơ như rỉ máu đầu ngọn bút như thế, trang văn, từng nhịp thơ, lời thơ như tiếng
lòng gào thét, cũng đầy uất nghẹn, bế tắc của Thúy Kiều. Đó thực sự là sự đồng điệu
đến từng điệu hồn tế vi nhất của tác giả và nhân vật.