Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (2 Dàn ý + 16 Mẫu) | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (2 Dàn ý + 16 Mẫu) | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

Chủ đề:
Môn:

Ngữ Văn 11 1.2 K tài liệu

Thông tin:
77 trang 1 năm trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (2 Dàn ý + 16 Mẫu) | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (2 Dàn ý + 16 Mẫu) | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

170 85 lượt tải Tải xuống
Dàn ý phân tích Đọc Tiểu Thanh kí
Dàn ý số 1
1. Mở bài phân tích Đọc Tiểu Thanh kí
- Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du:
+ Nguyễn Du (1765 - 1820) đại thi hào của dân tộc Việt Nam với tài năng kiệt
xuất, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của dân tộc.
- Giới thiệu bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí:
+ Đọc Tiểu Thanh một trong những tác phẩm tiêu biểu của thơ văn Nguyễn
Du, là tiếng nói đồng cảm với thân phận người phụ nữ bất hạnh xưa - nạn nhân của
chế độ phong kiến.
2. Thân bài phân tích Đọc Tiểu Thanh kí
* Tìm hiểu khái quát về cuộc đời nàng Tiểu Thanh
- Tiểu Thanh người con gái thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước đời
Minh (Trung Hoa), là người rất thông minh và nhiều tài nghệ.
- Tuy có tài sắc vẹn toàn nhưng phải chịu số phận làm lẽ cô đơn, bất hạnh, hẩm hiu.
- Nàng bị vợ cả ghen, đày ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ côi cút một mình.
- Trước khi lâm bệnh mất buồn rầu năm 18 tuổi, nàng để lại một tập thơ sau
bị vợ cả đốt, hiện chỉ còn sót lại một số bài được tập hợp trong "phần dư".
=> Tiểu Thanh là người con gái tài sắc, bạc mệnh.
* Luận điểm 1: Đọc phần dư cảo, thương cảm cho Tiểu Thanh (hai câu đề)
"Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư"
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang)
- Tây Hồ hoa uyển (vườn hoa bên Tây Hồ) - thành khư (gò hoang) -> Hình ảnh thơ
đối lập giữa quá khứ và hiện tại
- “tẫn”: đến cùng, triệt để, hết
-> Nguyễn Du mượn sự thay đổi của cảnh sắc để nói lên được sự thay đổi của cuộc
sống: Hồ Tây là một cảnh đẹp xưa kia thì giờ đây trở thành một bãi gò hoang.
=> Đau xót, ngậm ngùi cho vẻ đẹp chỉ còn trong dĩ vãng.
"Độc điếu song tiền nhất chỉ thư"
(Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
- "độc điếu": một mình viếng - "thổn thức": trạng thái thương xót, đồng cảm
- "nhất chỉ thư": một tập sách - "mảnh giấy tàn": bài viếng nàng Tiểu Thanh của
Nguyễn Du.
-> Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc một tập sách (di cảo của Tiểu Thanh)
-> Nhấn mạnh sự cô đơn lắng sâu trầm tư, sự xót thương với người xưa
=> Hai câu thơ thể hiện được sự thương xót của nhà thơ dành cho Tiểu Thanh,
người con gái tài sắc nhưng có một cuộc đời thật bạc bẽo. Người mất đi rồi chỉ còn
lại cảnh Hồ Tây nhưng nó cũng không còn đẹp như khi nàng còn sống nữa.
* Luận điểm 2: Số phận bi thương, uất hận của Tiểu Thanh (hai câu thực)
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
(Son phấn có thần chôn vẫn hận)
- "Son phấn": vật trang điểm của phụ nữ, tượng trưng cho vẻ đẹp, sắc đẹp của
người phụ nữ
-> Sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Tiểu Thanh.
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
(Văn chương không mệnh đốt còn vương)
- "Văn chương": tượng trưng cho tài năng.
- "hận, vương": diễn tả cảm xúc
- “Chôn”, “đốt”: động từ cụ thể hóa sự ghen ghét, sự vùi dập phũ phàng của người
vợ cả đối với nàng Tiểu Thanh.
-> Triết về số phận con người: tài hoa bạc mệnh, tài mệnh tương đố, hồng nhan
đa truân… cái tài, cái đẹp thường bị vùi dập.
-> Thái độ của xã hội phong kiến không chấp nhận những con người tài sắc.
=> Gợi lại cuộc đời số phận bi thương của Tiểu Thanh, ca ngợi, khẳng định tài
sắc của Tiểu Thanh đồng thời xót xa cho số phận bi thảm của nàng - cái nhìn nhân
đạo mới mẻ, tiến bộ.
* Luận điểm 3: Niềm suy và mối đồng cảm của tác giả với Tiểu Thanh (hai câu
luận)
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
- “Cổ kim hận sự”: mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp ->
mối hận của những người tài hoa mà bạc mệnh.
- "Thiên nan vấn": khó mà hỏi trời được
-> Nỗi oan khuất của thân phận người phụ nữ tài hoa trong hội phong kiến đầy
bất công: người có sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài thường cô độc.
- "Kì oan": nỗi oan lạ lùng
- "Ngã": ta (chỉ bản thể cá nhân)
-> Nỗi oan lạ lùng nết phong nhã. Số phận cay đắng của những con người tài
hoa trong xã hội xưa.
=> Nguyễn Du không chỉ thương xót cho nàng Tiểu Thanh còn bàn ra tới nỗi
hận của muôn người, muôn đời trong đó bản thân nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự
cảm thông sâu sâu sắc đến độ “tri âm tri kỉ”.
* Luận điểm 4: Từ cảm thương cho người, tác giả xót thương cho chính mình (hai
câu kết)
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hà hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)
- "Tam bách dư niên": Con số mang tính ước lệ, ý chỉ thời gian dài.
- "Tố Như": Tên chữ của Nguyễn Du
-> Tiếng khóc cho nàng Tiểu Thanh nay đã tác giả thấu hiểu giải oan cho
nàng, ông băn khoăn không biết hậu thế ai sẽ khóc ông.
=> Ý thơ chuyển đột ngột từ “thương người” sang “thương mình” với khát vọng
tìm được sự đồng cảm nơi hậu thế.
- Câu hỏi tu từ: "Người đời ai khóc Tố Như chăng" -> một câu hỏi nhức nhối, da
diết, thể hiện nỗi buồn thống thiết, ngậm ngùi cho sự cô độc của chính tác giả trong
hiện tại.
-> Khao khát tìm gặp được tấm lòng tri kỉ giữa cuộc đời.
=> Tâm trạng hoài nghi, đau khổ, thương người, thương mình của nhà thơ. Tấm
lòng nhân đạo mênh mông vượt qua mọi không gian và thời gian.
3. Kết bài phân tích Đọc Tiểu Thanh kí
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:
Nội dung: Thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của
người phụ nữ có tài văn chương trong xã hội phong kiến, xót xa cho những
giá trị tinh thần bị chà đạp - một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa
nhân đạo của Nguyễn Du.
Đặc sắc nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, từ ngữ thơ sâu sắc,
đầy triết lí, nghệ thuật đối, câu hỏi tu từ; hình ảnh thơ hàm súc, giàu giá tr
biểu tượng.
- Nêu cảm nhận của em.
Dàn ý số 2
I. Mbài
- Gii thiu vtác giNguyn Du: Nguyn Du là mt thiên tài văn hc, mt nhà nhân
đạo chnghĩa ln ca dân tc. Snghip sáng tác ca ông gm nhng tác phm có
giá trị cả chHán và chNôm.
- Giới thiu vĐọc Tiu Thanh c Tiu Thanh kí): Đc Tiu Thanh mt
trong snhng sáng tác bng chHán tiêu biu ca Nguyn Du, thhin cm xúc,
suy ca ông vsố phn bt hnh ca ngưi phnữ. Đng thi, qua đó giúp chúng
ta có cm nhn sâu sc về tấm lòng nhân đo ca ông.
II. Thân bài
1. Hai câu đ
- Hình nh thơ đi lp giquá khhin ti: Tây Hhoa uyn(vưn hoa bên Tây
Hồ) thành khư (gò hoang)
- Động t“tn”: đến cùng, trit đ, hết
Câu thơ gi ra mt nghch cnh gia quá khvà hin ti: n hoa bên Tây H
nay đã thành bãi đt hoang ri. Tđó, gi sxót xa trưc sđổi thay, stàn phá ca
thi gian đi vi cái đp.
- Cách sử dụng tng: đc điếu (mt mình viếng) nht ch thư (mt tp sách).
Nguyn Du như mun nhn mnh sự đơn nhưng cũng nhn mnh csự tương
xứng trong cuc gp gnày. Mt trng thái cô đơn gp mt kiếp cô đơn bt hnh
Hai câu thơ din t tâm trng ca Nguyn Du trưc cnh hoang tàn, đó cũng chính
là ni nim xót xa, tiếc nui cho sphn ca nàng Tiu Thanh.
2. Hai câu thực
- Nghthut hoán dụ:
Son phn: tưng trưng cho vẻ đẹp, sc đp ca ngưi phụ nữ
Văn chương: tưng trưng cho tài năng.
- Từ ngdin tả cảm xúc: hn, vương
- “Chôn”, “đt” nhng đng tcụ thhóa sghen ghét, svùi dp phũ phàng ca
ngưi vcả đối vi nàng Tiu Thanh thái đcủa hi phong kiến không chp
nhn nhng con ngưi tài sc.
Triết vsố phn con ngưi trong hi phong kiến: tài hoa bc mnh, tài mnh
tương đ, hng nhan đa truân cái tài, cái đp thưng bị vùi dp.
Hai câu thơ cc tnỗi đau vsố phn bt hnh ca nàng Tiu Thanh đng thi
cũng là tm lòng trân trng, ngi ca nhan sc và đcao tài năng trí tucủa Tiu Thanh;
đồng thi có sc tcáo mnh mẽ.
3. Hai câu luận
- “Ckim hn s”: mi hận xưa nay, mi hn muôn đi, mi hn truyn kiếp. Đó
chính là mi hn ca nhng ngưi tài hoa mà bc mnh.
- Thiên nan vn: khó mà hi tri đưc.
→ Câu thơ mang tính khái quát cao. Ni hn kia không phi là ni hn ca riêng nàng
Tiu Thanh, ca Nguyn Du ca tt cnhng ngưi tài hoa trong hi phong
kiến. Câu thơ thhin sđau đn phn ut cao đtrưc mt thc tế lí: ngưi
sắc thì bt hnh, nghsĩ có tài thưng cô đc.
- Kì oan: ni oan llùng
- Ngã: ta (tchbản thcá nhân táo bo so vi thi đi Nguyn Du sng). Nguyn Du
không đng bên ngoài nhìn vào na giđây ông chđộng tìm stri âm vi
nàng, vi nhng ngưi tài hoa bc mnh.
Nguyn Du không chthương xót cho nàng Tiu Thanh còn bàn ra ti ni hn
của muôn ngưi, muôn đi trong đó bn thân nhà thơ. Qua đó, thhin scảm
thông sâu sâu sc đến đ“tri âm tri kỉ”
4. Hai câu kết
- Nghthut: Câu hi tu t. Nguyn Du khóc nàng Tiu Thanh băn khoăn, khóc
cho chính mình.
- “Khp”: khóc. Tiếng khóc du hiu mãnh lit nht ca tình cm, cm xúc thương
thân mình, thân ngưi trào lên mãnh lit không kìm nén đưc. Ông không viết đơn
thun mà khóc cho Tiu Thanh. Ông băn khoăn không biết hu thế ai skhóc ông.
Thhin ni đơn ca nghln “Tiếng chim lgia tri thu khuya” (Xuân
Diu). Ông thy mình lc lõng hin ti đã tìm thy đưc mt ni tri kquá
khnhưng vn mong ngóng mt tm lòng trong tương lai.
Tấm lòng nhân đo mênh mông vưt qua mi không gian và thi gian.
III. Kết bài
- Khái quát li giá trnội dung nghthut ca văn bn: Th hin cm xúc, suy
của Nguyn Du v số phn bt hnh ca ngưi ph nữ tài sc trong hi
phong kiến. Chnghĩa nhân đo sâu sc trong sáng tác ca Nguyn Du.
Phân tích bài Đc tiu Thanh Kí - Mẫu 1
-khp đã tng nói “Mt nghchân chính phi mt nhà nhân đo ttrong ct
tucâu nói y làm ta bng nhđến mt nhà thơ ln ca dân tc, mt danh nhân văn
hoá thế gii, mt bc thy vngôn ngvà hơn clà mt ngưi quan đim tư tưng
nhân đo tiến bnht trong hi phong kiến xưa,… con ngưi đi y không ai
khác ngoài đi thi hào dân tc Nguyn Du. Thơ ca ông không chhay mà còn sâu sc
đi vào trái tim ngưi đc đrồi nhng áng văn bút y sng mãi vi thi gian
chng bao gimất đi cái giá trcao cvốn ca vy chng ltự nhiên nhà thơ
Tố Hữu sau này có viết:
Tiếng thơ ai đng đt tri
Nghe như non nưc vng li ngàn tu
Nghìn năm sau nhNguyn Du
Tiếng thơ như tiếng mru nhng ngày”.
giđây ta hãy cùng khám phá tài hoa ca ông qua thi phm “Đc Tiu Thanh kí”
trong đó chính cái nhìn đng cm đến tinh tế về nhng con ngưi tài hoa bc
mệnh, b rẻ rúng trong hi phong kiến đang dn suy thoái cùng vi đó bc thông
đip gi gm đến muôn đi sau để rồi cho ta thy cái nhân đo thm nhun trong ông
đẹp đẽ đến nhưng nào!
Bài thơ đưc sáng tác vào mt ln Nguyn Du đi sTrung Quc đưc ly cm hng
từ câu chuyn vcuc đi bt hnh ca nàng Tiu Thanh sng vào thi Minh (tthế
kỉ XIV đến thế kỉ XVII). Nàng vn ngưi tài sc vn toàn nhưng ri cái quy lut
phũ phàng ca tri đt đâu có tha riêng cho mt ai: “Chtài lin vi chtai mt vn”!
Vẫn cái tui “Xuân xanh xp xtới tun cp kê” nhưng nàng đã phi làm vlẽ khi
mới mt thiếu ncuc đi nàng cũng chìm trong bóng ti tđây… Bvợ cả
ghen ghét, đày đa sng mt mình ti đnh núi Côn Sơn không ai quan tâm kcả bố
mẹ hay tngưi phu quân ca nàng đrồi sđơn, ut c đã làm nàng chết dn,
chết mòn theo thi gian cũng đrồi ngưi con gái y sng mãi tui xuân xanh…
Sau khi mt đi, nhng bc honhng bài thơ cha đng tâm ca nàng cũng b
ngưi vcả đốt sch chcòn ơng vn, sót li chút ít thôi. lnhan đbài
thơ “Đc Tiu Thanh kí” cũng bt đu tđây, phi chăng sau khi đc tp thơ y đã
khiến Nguyn Du rung đng ri to thành ngun cm hng tuôn trào trong ông?
Nguyn Du tng viết trong “Truyn Kiu” rng:
“Ngưi bun cnh có vui đâu bao gi”.
đó cũng chính tâm trng ca ông khi c ti ngọn núi Côn Sơn đã li tàn qua
năm tháng:
“Tây Hhoa uyn tn thành khuê
Độc điếu song tin nht chthư”.
(Tây Hồ cảnh đp hoá gò hoang
Thn thc bên song mnh giy tàn)
Đó không chsthay đi nghit ngã ca cnh vt còn ca con ngưi, tmột
vườn hoa đp, lng ly, sc sng căng tràn bao nhiêu thì nay li trnên tàn t, hoang
phế, đìu hìu by nhiêu. Con ngưi cũng vy, thi gian cũng đã p đi biết bao nhiêu
thtừ con ngưi, phi chăng đó smỏng manh, ngn ngi ca cái đp, sxut
chúng, hơn ngưi ca tài năng cũng tàn phai theo? Tiu Thanh chng hngoi l,
vâng, nàng tài, sc ai chng biết, ai chng hay nhưng ri: “Tri xanh
quen thói hng đánh ghen” khiến cho bông hoa như nàng cũng phi li tàn trưc
ngn la ghen tuông bùng cháy ddội như mun thiêu đt trn cái tài, cái sc ca
nàng. Làm vlẽ đã đành nhưng nàng chng có đưc sự tự do kcả trong tình cm ca
mình. Mi thtừ, mi vic làm, mi cuc gp gđều phi đưc ngưi vcả đồng ý
thì thư mi đưc gi đi, vic mi đưc làm, chng mi đưc gp,… ng như nàng
phu quân cũng như không vy, ưc chăng cũng mt ln đưc nói ra tâm tư, cũng
một ln đưc nhung nhnhư ngưi phnữ trong “Chinh phngâm” ca Đoàn Th
Đim:
“Cùng trông li mà cùng chng thy
Thy xanh xanh nhng my ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngt mt màu
Lòng chàng ý thiếp ai su hơn ai”.
Nguyn du gi nên ni xót xa, thương cm cho cái đp btrò đi trêu đùa đến nhn
tâm, đến khi btàn li, bhuhoi thm tlà lìa xa trn thế mi thôi…
Độc điếu song tin nht chthư”
Khi ti nơi đây, o tàn, trơ tri đã đành nay còn thêm cm đm, đìu hiu không mt
bóng ngưi vy Nguyn Du vn trang trng kính viếng bi chăng trong hmt
sợi dây đng cm đang kết ni vi nhau, đó tiếng nói đng điu ca nhng con
ngưi đa tài nhưng sphn chng đưc trn vn như cái tài y. “Đc điếu”- tâm thế
đơn không chriêng Tiu Thanh còn ca Nguyn Du. Nàng thì đơn gia
chn không ngưi, cnh vt thê lương hoang tàn còn ông thì đơn gia dòng đi bi
chng ai hiu đưc ông, hiu đưc cái nhân đo cao quý, cái ng sâu sc con
ngưi cao cng ti by lâu nay. Đc di co ca nàng li càng khiến ông không
khi t xa bi cái phũ phàng ca cuc đi đt ra đththách đi ngưi l,
chính ông cũng đã sm chiêm nghim điu y:
“Tri qua mt cuc bdâu
Nhng điu trông thy mà đau đn lòng”.
Thm thoát cũng đã hơn ba trăm năm, nhng gì vngưi con gái y chcòn là mt tp
thơ vi nhng trang giâý tàn Nguyn Du đc bên ca s, dù ít i đi chăng na
cũng đcho hu thế xót xa nhl, nhlệ trưc cách trò đi đi xvới nàng,
cách mà nó làm nàng nhbé, tàn tạ rồi ra đi mãi mãi đến đau lòng…
Cuc đi nàng, sphn nàng luôn làm ngưi đi suy tư, thn thc ngay c Nguyn
Du cũng vy:
“Chi phn hu thn liên tử hậu
Văn chương vô mnh ly phn dư”.
(Son phn có thn chôn vn hn
Văn chương không mnh đt còn vương)
Son phn làm gì có thn? Nhưng vi Nguyn Du thì có đy. Văn chương thì làm gì có
mệnh (vô mnh) nhưng trong thơ ca Nguyn Du hoàn toàn ngưc li. Dưng như
ông đã khéo léo sdụng hình nh “chi phn” đn d cho nhan sc ca Tiu Thanh,
nhan sc y không chđẹp mà còn bt ttrưng tn mãi mãi. Vđẹp y sc
sống diu ngay ckhi bchôn vùi i đt xấu thì vn làm ngưi đi nhđến
tiếc thương đây cũng ln đu tiên trong nn văn hc trung đi Vit Nam,
i skìm hãm ca hi phong kiến mt nhà thơ dám miêu tvẻ đẹp hình thc
của ngưi phụ n, ngay ckhi Nguyn Dmiêu tNương cũng ch khiêm tn ho
nên vđẹp tâm hn ca nàng. ng như đó tiếng nói bt bình ca Nguyn Du bi
lẽ vẻ đẹp ca ngưi ph nữ bị hi rrúng, coi thưng đây cũng mt bưc đi
mới trong nn văn hc trung đi đương thi. Văn chương vn “vô mệnh” nay li thành
hữu mnh, lđó n dcho tài năng ca nay cũng phi “ly” cái bc mnh ca
con ngưi. cũng biết đau kh, biết bun vui, biết vương vn,… ri bng cht
nhn ra cái oan trái, ngang ngưc ông tri sp đt cho nó. sc, i ri cũng
để làm gì:
“Có tài mà cy chi tài
Chtài lin vi chtai mt vn”.
Hai câu thc khép li lòng thương cm sâu sc vsố phn bt hnh tài hoa nhưng
bạc mnh ca nàng Tiu Thanh đng thi mang nim tin vào thuyết luân hi đo pht
cũng như ngun cm hng nhân đo ca Nguyn Du. Ông nhn ra đưc nhng giá
trị tốt đp ca con ngưi qua đó ta thy mt tâm hn đa cm đến sâu sc!
Hai câu lun vn nim thương cm y nhưng giđây còn vang lên tiếng nói ca tri
âm nghe mà nhói lòng ngưi:
Cổ kim hn sthiên nan vn
Phong lưu kì oan ngã tcư”.
(Ni hn kim ctri khôn hi
Cái án phong lưu khách tmang)
Tài hoa nhưng bc mnh lđã trthành “Ckim hn s, xưa thì sphn ca
nàng Tiu Thanh nhng ngưi cùng cnh ng, nay thì nhng ngưi như ông.
Nhưng ri khi ngng đu lên hi tri thì tri cũng chbiết lng thinh không nói mt
lời khiến cái hn càng thêm hn, thm thía li càng thêm thm thía,.. khi tri không
đáp con ngưi cũng chbiết bt lc, bế tc, thhin mt hiện thc bt công ca
hội phong kiến nhiu htục đ rồi Thuý Kiu trong “Truyn Kiu” cũng phi tht lên
rằng:
“Đau đn thay phn đàn bà
Lời rng bc mnh cũng là li chung”.
Nguyn Du đau đn, căm gin trưc cái đp, cái thin đang dn bthế lực hắc ám chà
đạp, nhng con ngưi như Bà, Giám Sinh hay SKhanh đưc ông miêu t
bằng tt cả sự căm phn. Tú bà thì:
“Thot trông nht nht màu da
Ăn gì to ln đy đà làm sao”.
Mã Giám Sinh thì:
“Quá niên trc ngoi ttun
Mày râu nhn nhi áo qun bnh bao”.
Sở Khanh li là kẻ:
“Mt chàng va trc thanh xuân
Hình dong chi chut áo khăn du dàng”.
Tại sao nhng knhư vy lãi vn sng yên bình, ăn chơi trác táng khi y nhng
ngưi như Tiu Thanh hay Thuý Kiu, Đm tiên li phi chu biết bao sóng gió cuc
đời để rồi ngưi thì ra đi mãi mãi, ni thì chng bao giđưc tình yêu ca chính
mình,… Bn thân Nguyn Du tcho mình ngưi tài cùng hi vi nhng con
ngưi tài hoa bc mnh. Cái tài ca ông dùng đcảm nhn cái đp, đthương con
ngưi, đthhin vđẹp sâu sc ca tâm hn cha đng cm hng nhân đo khác
hoàn toàn vi Nguyn Công Trmang nét cao ngo, thhin cái tôi mt cách ngông
cung. Cái phong lưu ca con ngưi đã trthành mt cái oán, cái án y khiến ngưi ta
bị đày đọa, bhắt hi, bhành hcho đến sc cùng lc kit thì mi thôi. Phi chăng
khi đt mình cùng vào chiếc thuyn khiến cho tiếng nói tri âm, tri klại càng vng
thêm sâu sc thêm nhưng nào…
Đau đn trưc cái ngang trái ca cuc đi giđây Nguyn Du lại tự thương cho
chính bn thân mình đó vô tình trthành mt nét mi trong văn hc trung đại- cảm
hứng tthương:
“Bt tri tam bách dư niên hu
Thiên hhà nhân khp TNhư”.
(Chng biết ba trăm năm na
Ngưi đi ai khóc TNhư chăng?)
Hai câu kết mra cmột thế gii ni tâm ca Nguyn Du, “tam bách liên hu”-
con s300 năm chmang tính cht ưc lng trưng nhưng đó li là ni nim cô đơn
của ông trong thi đi. Câu hi tu tcui bài bày tnim khao khát, mong mun
tìm đưc sthu hiu, thương cm. Tiếng khóc ca ngưi đi thNguyn Du
luôn tìm kiếm bi đó tiếng vang ca stri âm, đng cm. Txót thương cho nhng
kiếp ngưi tài hoa bc mnh và ri ông cũng tkhóc cho chính mình, ông cũng là mt
trong nhng sít nhà thơ đưa tên chcủa mình vào trong thi phm, ng như đó
cái tôi, cái nhân mà ông mun khng đnh qua đó li mt ln na Nguyn Du th
hin tm lòng nhân đo ln lao ca mình đó stự thương. Khép li bài thơ tiếng
nói bt bình ln na ca ông, bng 2 câu thơ tht niêm phá tính quy phm vn ca
văn hc trung đi đlên án mnh mnhng kkhông chân trng giá trcủa con ngưi
đặc bit là nhng con ngưi tài hoa.
Bài thơ đã ra đi cách đây my trăm năm nhưng giá trnhân đo đlại vn
mãi mãi. “Đc Tiu Thanh kí” thhin cm xúc, suy ca Nguyn Du vsố phn
bất hnh ca ngưi phnữ tài, sc nhưng bhi phong kiến mc nát chà đp.
Khóc cho hri Nguyn Du cũng khóc cho chính mình, cho mt tài năng
hội mc nát y chng thnhn ra vy Nguyn Du cùng vi “Đc Tiu Thanh kí”
luôn sng mãi trong lòng hu thế với nhng giá trnhân đo cao quý, đúng như Lâm
Ngũ Đưng tng nói: “văn chương bt hủ cổ kim đu viết bng huyết l”.
Phân tích Đọc Tiêu Thanh kí đạt điểm 9
+
- Mẫu 2
Nguyễn Du tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa cuối thế kỉ XVIII,
đầu thế kỉ XIX với “con mắt nhìn thấu sáu cõi” “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời”.
Những người phụ nữ tài sắc nhưng đường đời truân chuyên bất hạnh cảm
hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du. nàng Tiểu Thanh cũng một kiếp
người tài hoa bạc mệnh như thế. người con gái tài sắc, vốn thông minh nên từ
nhỏ nàng Tiểu Thanh đã thông hiểu các môn nghệ thuật cầm kỳ thi họa. Năm 16
tuổi, nàng được gả làm vợ lẽ cho Phùng Sinh, một công tử nhà gia thế. Vợ cả tính
hay ghen lại cay độc, bắt nàng ra sống riêng trên Côn Sơn, gần Tây Hồ. đau
buồn, nàng sinh bệnh rồi qua đời khi mới tròn mười tám xuân xanh. Những đau
khổ, muộn phiền được gửi gắm vào thơ nhưng phần lớn bị vợ cả đem đốt hết, may
mắn còn một số bài sót lại. Thương xót, đồng cảm với số phận của người con gái
tài sắc vẹn tròn số mệnh ngắn ngủi, Nguyễn Du viết ra bài thơ “Độc Tiểu
Thanh kí”. Bài thơ không chỉ thể hiện cảm xúc, suy sâu sắc của Nguyễn Du về
số phận bất hạnh của người phụ nữ mà còn thể hiện niềm xót xa cho những giá trị
tinh thần bị chà đạp.
Khi đọc những dòng thơ cuối cùng còn sót lại của nàng, Nguyễn Du đã thật sự thấu
hiểu bày tỏ lòng thương cảm của mình qua bài thơ “Độc tiểu thanh kí” như
lời t thương của nàng trước nỗi đau cuộc đời, hai câu đầu hai câu tả cảnh
nhưng để kể việc:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành k
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
Bằng giác quan nghệ thuật, ta bắt gặp một vườn hoa với sắc hương hình dáng
trong quá khứ. Cái đẹp ấy đã chi phối choáng ngợp đến tâm hồn ta. Cái đẹp ấy
tưởng chừng sẽ trường tồn vĩnh cửu với thời gian nhưng dần theo năm tháng cũng
lụi tàn dần, một sự lụi tàn đến ngỡ ngàng chua xót. Vườn hoa bình yên, êm
ngày nào giờ đã trở thành một i hoang phế trơ trụi tiêu điều. Từ “tẫn” được
Nguyễn Du sử dụng để miêu tả nhưng lại mang một hàm ý thể hiện sự thương tiếc,
thể thấy thời gian đã tàn phá mọi thứ. Đứng trước sự nuối tiếc, thương xót pha
lẫn chút ngậm ngùi. Nguyễn Du mượn sự biến đổi của thiên nhiên ngụ ý sự
biến đổi khôn lường của cuộc sống, con người. Đó sự ý thức về cái hạn của
trời đất cái hữu hạn của con người. gợi lên sự tàn lụi không thể nào tránh
khỏi cho một kiếp người, cho hồng nhan. Ước chăng cũng một lần được nói ra tâm
tư, cũng một lần được nhung nhớ như người phụ nữ trong “Chinh phụ ngâm” của
Đoàn Thị Điểm:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấu
Thấy xanh xanh mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”
Nguyễn Du đã rất đau xót! Câu thơ không chỉ ý nghĩa cho sự mở đầu, giới thiệu sự
việc mà chính là cảm xúc của nhân vật trữ tình:
“Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”.
Một khung cửa sổ tương thông lòng người với trụ, tương thông lòng người với
tình người. Bên những mảnh thơ tàn của một tài hoa bị vùi dập, Nguyễn Du cảm
nhận thổn thức đau thương. Ông muốn níu giữ tất cả, níu kéo tất cả nhưng cuối
cùng chỉ còn lại sự tàn tạ. Sâu sắc của câu thơ nằm ở chỗ từ “độc” và từ “nhất” đều
mang ý nghĩa lại “một” lại cùng hiện hữu. “Độc” một “nhất” cũng một,
nhưng nếu “nhất chỉ thư” số từ chỉ lượng một tập thơ thì “độc điếu” trạng từ
chỉ tâm thế của nhà thơ một trạng thái cô độc một mình. Việc dùng cùng một nghĩa
qua hai từ khác nhau, Nguyễn Du như muốn nhấn mạnh sự đơn nhưng cũng
nhấn mạnh cả sự tương xứng trong cuộc gặp gỡ này. Một trạng thái đơn gặp
một kiếp cô đơn bất hạnh. Cái để gợi cho lòng người thi sĩ đau có nhiều mà tình thì
mênh mông, hạn, Nguyễn Du đã khóc Tiểu Thanh khóc nàng qua một tập
sách nhỏ. Lòng Nguyễn Du mênh mông mà sâu lắng quá!
Nguyễn Du cảm giác mảnh giấy tàn ấy vẫn còn vương vấn linh hồn của nàng,
còn phảng phất đến tận bây giờ. Ông xót xa cho thân phận bạc mệnh đó:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
Hai câu thơ gói trọn tiếng lòng xót xa của Nguyễn Du, chua xót đến tột độ khi nghĩ
đến người con gái bạc mệnh ấy. Trước phần di cảo của một tài năng, Nguyễn Du
cảm nhận được cả cái tài, cái tình Tiểu Thanh, “chi phấn” được hiểu là son phấn ẩn
dụ cho nhan sắc, thì “văn chương” chính ẩn dụ cho tài năng của nàng. Đó đều
những giá trị đáng quý, nhưng đau xót thay những giá trị tốt đẹp ấy đều bị dập vùi
dập, chà đạp bởi một hội tàn ác, xấu xa . Nghệ thuật đối được dùng rất chỉnh
giữa những hình ảnh “chi phấn hữu thần” với “văn chương vô mệnh”, “liên tử hậu”
với “lụy phần dư” dẫn đến sự song hành của hai cặp đối tượng: son phấn văn
chương, sắc đẹp tài năng. Tiểu Thanh hội tụ tất cả những tinh túy ấy. Người
con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại phải chịu số phận bất hạnh, trái ngang. Những
nghiệt ngã đời nàng nỗi sầu vạn kỉ. Dưới suối vàng, Tiểu Thanh chắc còn đau
đớn, u uất... Nỗi đau ai oán của nàng sâu sắc, mạnh mẽ hơn nhiều khi cả linh hồn
nàng cũng bị hủy diệt: “Văn chương không mệnh đốt còn vương”. Văn chương
vốn “vô mệnh” nay lại thành hữu mệnh, lẽ đó ẩn dụ cho tài năng của nấy
cũng phải “lụy” cái bạc mệnh của con người. cũng biết đau khổ, biết buồn vui,
biết vương vấn,…và rồi bỗng chợt nhận ra cái oan trái, ngang ngược ông trời
sắp đặt cho nó. Có sắc, có tài rồi cũng để làm gì:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”
Hai câu thực khép lại lòng thương cảm sâu sắc về số phận bất hạnh tài hoa
nhưng bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh đồng thời mang niềm tin vào thuyết luân hồi
đạo phật cũng như nguồn cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du. Ông nhận ra
được những giá trị tốt đẹp của con người qua đó ta thấy một tâm hồn đa cảm đến
sâu sắc!
Hai câu luận vẫn niềm thương cảm ấy nhưng giờ đây còn vang lên tiếng nói của
tri âm nghe mà nhói lòng người, nhưng biết làm sao đây?
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
Hai câu thơ cất lên đầy sự tuyệt vọng, ai oán u sầu nặng nề. Tài hoa nhưng bạc
mệnh lẽ đã trở thành “Cổ kim hận sự”, xưa thì số phận của nàng Tiểu Thanh
những người cùng cảnh ngộ, nay thì những người như ông. Nhưng rồi khi
ngẩng đầu lên hỏi trời thì trời cũng chỉ biết lặng thinh không nói một lời khiến cái
hận càng thêm hận, thấm thía lại càng thêm thấm thía,... khi trời không đáp con
người cũng chỉ biết bất lực, bế tắc, thể hiện một hiện thực bất công của hội
phong kiến nhiều hủ tục. Cái tài và sắc đẹp phải được trở lại đúng với giá trị của nó,
không ai quyền phủ nhận. Nhưng hiện tại, sự thực hoàn toàn khác. Người tài tử
buộc phải chấp nhận cái án phong lưu mang nặng tình nhân thế. Từ xúc cảm xót
thương cho Tiểu Thanh đến tình thương dành cho những kiếp người tài hoa bạc
mệnh nói chung rồi nhìn lại thì tự thương mình, tự coi mình cũng cùng mang nỗi
oan lạ lùng, sự vận động của cảm xúc nhà thơ như từng lớp sóng lòng âm nhưng
thấm thía, từng lớp từng lớp dần dần cho thấy sự đồng cảm đã đạt đến mức tri ân,
chủ nghĩa nhân đạo đã biểu hiện mức cao nhất, để rồi Thuý Kiều trong “Truyện
Kiều” cũng phải thốt lên rằng:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Đứng trước số phận của nàng Tiểu Thanh Nguyễn Du trở lại lòng mình “Giật
mình mình lại thương mình xót xa” đó tình trở thành một nét mới trong văn
học trung đại - cảm hứng tự thương. Hai câu thơ cuối như xoáy chặt vào lòng ta
một nỗi đau đớn, tuyệt vọng của một trang tài tử:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Hai câu thơ mở ra như cả thế giới nội tâm của Nguyễn Du, lời thơ như vừa tuyệt
vọng, vừa hy vọng, vừa đơn, vừa tìm kiếm. “tam bách dư niên hậu”- con số 300
năm chỉ mang tính chất ước lệ tượng trưng nhưng đó lại nỗi niềm đơn của
ông trong thời đại Nguyễn Du tự đặt ra để kiếm tìm cho mình một người tri âm tri
kỷ như ông đã khóc cho Tiểu Thanh, như Thúy Kiều đã từng khóc cho Đạm Tiên.
u hỏi tu từ cuối bài bày tỏ niềm khao khát, mong muốn tìm được sự thấu hiểu,
thương cảm. Tiếng khóc của người đời thứ Nguyễn Du luôn tìm kiếm bởi đó
là tiếng vang của sự tri âm, đồng cảm. Từ xót thương cho những kiếp người tài hoa
bạc mệnh và rồi ông cũng tự khóc cho chính mình, ông cũng là một trong những số
ít nhà thơ đưa tên chữ của mình vào trong thi phẩm, dường như đó là cái tôi, cái
nhân ông muốn khẳng định qua đó lại một lần nữa Nguyễn Du thể hiện tấm
lòng nhân đạo lớn lao của mình đó là sự tự thương. Khép lại bài thơ là tiếng nói bất
bình lần nữa của ông, bằng hai câu thơ thất niêm phá tính quy phạm vốn của
văn học trung đại để lên án mạnh mẽ những kẻ không chân trọng giá trị của con
người đặc biệt là những con người tài hoa.
Khép lại bài thơ tiếng nói bất bình lần nữa của ông, bằng hai câu thơ thất niêm
đã phá tính quy phạm vốn của văn học trung đại để lên án mạnh mẽ những kẻ
không chân trọng giá trị của con người đặc biệt những con người tài hoa. Tấm
lòng Nguyễn Du còn thấu đến ngàn đời. Nhưng lẽ giờ đây, trang tài tử đã yên
lòng nhắm mắt bởi đời sau đã bao tấm lòng gửi lời tri ân đến ông, như vần thơ
của Tố Hữu đầy thương cảm và trân trọng:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Hỡi Người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng Người!”
“Nghệ thuật lĩnh vực của cái độc đáo. vậy đòi hỏi người sáng tạo phải
phong cách nổi bật, tức cái rất riêng mới lạ trong phong cách của mình.”
Để làm nên thành công của tác phẩm “Đọc tiểu thanh ký” thì yếu tố nghệ thuật
nắm giữ một vai trò cùng quan trọng qua việc vận dụng thể thơ đường luật,
những hình ảnh đối lập đem lại hiệu quả nghệ thuật cao qua đó thể hiện sự thương
cảm sâu sắc tác giả dành cho Tiểu Thanh - một hồng nhan bạc mệnh, một tài
năng thi ca đoản mệnh, cho những kiếp hồng nhan đa truân, tài tử đa cùng, với
cảm hứng tự thương sự tri âm sâu sắc, ông đã đặt vấn đề: quyền sống của người
nghệ sĩ, sự cần thiết phải tôn vinh, trân trọng những người làm nên các giá trị văn
hóa tinh thần.
Nhà văn Bùi Hiển cho rằng: “Ở nước nào cũng thế thôi, sự cảm thông sẻ chia giữa
người đọc người viết trên hết”. Nhưng với một Nguyễn Du trong “Độc Tiểu
Thanh kí” ta còn thấy ông một nỗi niềm, một sự trăn trở, một niềm khát khao
được mọi người cảm thông với chính mình. Qua tác phẩm Nguyễn Du đã thể hiện
sự cảm thông sâu sắc với số phận số phận bất hạnh của người phụ nữ cả những
kiếp người tài hoa bạc mệnh nhưng đó cũng sự cảm thông ông dành cho
chính mình. Trải qua biết bao năm tháng cái tình của Nguyễn Du vẫn còn nguyên
trong lòng bạn đọc.
Phân tích Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 3
Nguyễn Du được xem một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn
của dân tộc. Ông được mệnh danh là đại thi hào của văn học Việt Nam. Trong suốt
cuộc đời sáng tác của mình, ông đã để lại vàn những tác phẩm giá trị cả
chữ Hán chữ Nôm. Tác phẩm của ông luôn chan chứa tình yêu thương con
người, trân trọng những điều tốt đẹp bên trong con người.
“Độc Tiểu Thanh kí” một trong số những sáng tác bằng chữ Hán tiêu biểu của
Nguyễn Du. Độc Tiểu Thanh kí phân tích Nó đã thể hiện được những cảm xúc, suy
của tác giả về số phận bất hạnh của người phụ nữ xã hội cũ. Đồng thời qua tác
phẩm, chúng ta thể cảm nhận sâu sắc trân trọng tấm lòng nhân đạo, yêu
thương con người của ông.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã khắc hoạ nên hoàn cảnh, bối cảnh sác tác:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.”
đây, tác giả đã sử dụng hình ảnh thơ đối lập giữa quá khứ hiện tại: “Tây H
hoa uyển” (vườn hoa bên Tây Hồ) với “thành khư” (gò hoang). Cùng với đó, động
từ “tẫn” nhằm thể hiện sự triệt để đến cùng của sự vật. Từ đó, câu thơ đã gợi ra một
nghịch cảnh giữa quá khứ hiện tại: Vườn hoa bên Tây Hồ xưa kia nay đã thành
bãi đất hoang, không sự sống. vậy lời thơ khơi gợi sự xót xa của nhà thơ
trước sự đổi thay, sự tàn phá của thời gian đối với cái đẹp.
Tác giả cũng rất tài tình khi sử dụng các từ chỉ sự đơn độc: “độc điếu” (một mình
viếng) “nhất chỉ thư” (một tập sách). Với hai hình ảnh đó, tác giả như muốn
nhấn mạnh sự đơn tột cùng của con người. Đồng thời cũng nhấn mạnh cả sự
tương xứng trong cuộc gặp gỡ này. Đó cuộc gặp gỡ của một người mang trạng
thái cô đơn với một kiếp bất hạnh, đơn độc.
Độc Tiểu Thanh kí phân tích Chỉ với hai câu thơ, tâm trạng của tác giả đã được thể
hiện một cách ràng. Tác giả đã ngỡ ngàng trước cảnh tượng thiên nhiên hoang
vắng, tàn tạ cũng cùng xót xa, tiếc nuối cho số phận éo le của nàng Tiểu
Thanh.
Tiếp theo, tác giả miêu tả nét số phận của nàng Tiểu Thanh thông qua hai câu
thơ tả thực:
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
Đến đây, tác giả đã sử dụng nghệ thuật hoán dụ rất tài tình. Hình ảnh “chi phấn”
tượng tượng trưng cho vẻ đẹp, sắc đẹp của người phụ nữ. Còn văn chươnglại
tượng trưng cho tài năng, trí tuệ của con người. Việc sử dụng từ hoán dụ như vậy
đã gợi tả người con gái vừa có tài, vừa có sắc, hoàn hảo, rất đáng trân trọng.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các từ ngữ diễn tả cảm xúc như “hận”, “vương”
để thể hiện tình cảm của mình. Đó là sự tiếc nuối, xót xa cho tài năng dung mạo
của người thiếu nữ bạc mệnh. Các từ “chôn”, “đốt” đều những động từ cụ thể
hóa sự ghen ghét, sự vùi dập vô cùng phũ phàng của người vợ cả đối với nàng Tiểu
Thanh. Đây cũng điển hình cho thái độ của hội phong kiến khi xưa. đó, họ
không chấp nhận những con người tài sắc vẹn toàn như nàng, chỉ chực tìm cách vùi
dập, đè nén những số phận bất hạnh ấy.
Thông qua lời thơ, Nguyễn Du cũng bộc lộ triết của mình về số phận con người
trong hội phong kiến. Với ông, họ những người tài hoa nhưng bạc mệnh, “tài
mệnh tương đố”, “hồng nhan đa truân”. khi tài, sắc, họ sẽ bị vùi dập
không thương tiếc:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần
(Truyện Kiều)
Qua hai câu thơ, Nguyễn Du đã cực tả nỗi đau về số phận bất hạnh của nàng Tiểu
Thanh tài sắc. Đồng thời cũng bộc lộ tấm lòng ca ngợi, trân trọng nhan sắc đề
cao tài năng, ttuệ của nàng Tiểu Thanh. Không những thế, còn sức tố cáo
mạnh mẽ đối với xã hội phong kiến bấy giờ khi vùi kiếp người xuống dưới bùn đen.
Tiếp đó, tác giả suy ngẫm rộng ra về số phận con người, với cuộc đời:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.”
Cụm từ “cổ kim hận sự” nhằm diễn tả mối hận xưa nay. Đó không chỉ mối
hận nhất thời mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp. cũng chính mối
hận của những người tài hoa bạc mệnh đối với cuộc đời đầy rẫy những bất
công. Nỗi hận ấy thật sự “thiên nan vấn”, khó thể hỏi trời được. Câu thơ
này đã mang tính khái quát cao, biểu trưng cho cả hội. Nỗi hận kia không phải
nỗi hận của riêng nàng Tiểu Thanh hay của tác giả Nguyễn Du còn của tất
cả những con người tài hoa trong hội phong kiến cũ. Câu thơ đã thể hiện nét
sự đau đớn và phẫn uất cao độ trước một thực tế vô lí của cuộc đời. Đó là người có
nhan sắc thì bất hạnh, nghệ tài năng lại thường độc. Nỗi trái ngang ấy,
không biết phải làm sao được.
Nhấn mạnh thêm nỗi đau đớn của số phận Tiểu Thanh, giả sử dụng từ “kì oan”,
nỗi oan lạ lùng, hiếm gặp. Kết hợp với đó, từ “ngã” nhẳm chỉ bản thể nhân.
Đây là cái khẳng định mình đầy táo bạo so với thời đại Nguyễn Du đang sống. Tác
giả đã không đứng bên ngoài nhìn vào nữa, giờ đây ông trở nên chủ động,
tự mình đi tìm sự tri âm với nàng, với những người tài hoa nhưng bạc mệnh. Qua
đó, ta thấy được tấm lòng trân trọng cái đẹp của nhà thơ. Ông không chỉ xót
thương riêng cho nàng Tiểu Thanh còn bàn ra tới nỗi hận của muôn người,
muôn đời. trong đó chính bản thân nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự cảm thông
của nhà thơ đối với nhân vật đã đến độ “tri âm tri kỉ”, thấu hiểu tìm được điểm
chung.
Sau cùng, tác giả sử dụng hai câu kết để khóc cho người, khó cho mình ở tương lai:
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Đến đây, Nguyễn Du đã sử dụng câu hỏi tu từ một cách độc đáo. Nguyễn Du khóc
nàng Tiểu Thanh, đồng thời cũng băn khoăn khóc thương cho chính mình. Ông
băn khoăn, trăn trở rồi hậu thế ai sẽ khóc thương ông, liệu ai đồng cảm với ông
hay không? Điều này đã thể hiện nỗi cô đơn của nghệ sĩ lớn “Tiếng chim cô lẻ giữa
trời thu khuya” (Xuân Diệu). Ông cảm thấy mình lạc lõng cùng hiện tại đã
tìm thấy được một người làm tri âm, tri kỉ quá khứ. Thế nhưng bản thân vẫn ước
mong, mong ngóng một tấm lòng thấu hiểu mình trong tương lai, như mình đã tìm
đến thấu hiểu nàng Tiểu Thanh Vậy. Điều này đã cho thấy vượt qua mọi không
gian, thời gian, trái tim yêu thương tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyên du
vẫn còn tồn tại mãi.
Khép lại bài thơ Độc Tiểu Thanh kí, ta vẫn không khỏi xót xa cho nàng Tiểu
Thanh tài giỏi nhưng bạc mệnh. Đồng thời thấy tấm lòng yêu thương, vị tha, thấu
cảm của Nguyễn Du với những con người bất hạnh trong xã hội cũ.
Phân tích Độc Tiểu Thanh Kí - Mẫu 4
một đại thi hào của dân tộc cũng danh nhân văn hóa thế giới, Nguyễn Du đã
để lại cho đời sau một gia tài văn học đồ sộ bao gồm cả chữ Hán chữ Nôm. Khi
sáng tác thơ văn, người ta thấy Nguyễn Du luôn day dứt một nỗi niềm thương cảm
dành cho những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong hội đó những nàng
Dương Qúy Phi, nàng Thúy Kiều còn cả nàng Tiểu Thanh trong bài thơ Độc
Tiểu Thanh ký.
Ai đã từng đọc bài thơ Độc Tiểu Thanh đề biết đây chính là bài thơ viết về nàng
Tiểu Thanh một người con gái tài sắc vẹn toàn sống vào thời Minh, Trung Quốc.
Tuy nhiên, xoay quanh tiêu đề của bài thơ này vẫn còn nhiều tranh cãi. Người thì
hiểu rằng: Nguyễn Du đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh nhưng cũng người lại
hiểu rằng Nguyễn Du đọc câu truyện viết về nàng Tiểu Thanh. Nhưng dù hiểu theo
cách nào, nguồn cảm hứng để đại thi hào Nguyễn Du sáng tác nên bài thơ này cũng
từ cuộc đời đầy bi ai của nàng. Tiểu Thanh vốn dĩ có tài sắc, được gả làm vợ lẽ một
gia đình quyền quý khi mới chỉ 16 tuổi. Nhưng nàng lại phải sống quạnh trên
Sơn cạnh Tây Hồ do vợ cả hay ghen. đau buồn cảnh sống túng, Tiểu
Thanh sớm sinh bệnh mất tuổi 18. Trong những tháng ngày ấy, Tiểu Thanh
gửi nỗi lòng của mình vào những vần thơ nhưng cũng bị vợ cả đốt gần hết, may
vẫn có những vần thơ được giữ lại đến ngày nay.
Nguyễn Du đứng trước bài thơ của nàng Tiểu Thanh mà nức nở:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Dịch: Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang,
Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trước cửa sổ mà thôi”
Hai câu thơ mở đầu nghe buồn não ruột bởi Nguyễn Du thấy sự đối lập giữa quá
khứ hiện tại. Tây Hồ khi còn nàng Tiểu Thanh xinh đẹp, trẻ trung một vườn
hoa rực rỡ nhưng đến hiện tại chỉ còn bãi hoang điêu tàn. Từ “tẫn” được tác giả
sử dụng thể hiện mọi thứ đã bị thay đổi hoàn toàn, không còn một dấu vết nào của
năm xưa. Sự thay đổi của thời gian quả thực khắc nghiệt: vườn hoa biến thành
hoang chứng tích của thời gian, còn cuộc đời hẩm hiu, đau khổ của nàng Tiểu
Thanh cũng chỉ còn lại qua chứng tích những trang giấy thơ văn thôi.
Nguyễn Du đứng trước quang cảnh của thực tại, khó tránh những tiếng thở dài não
ruột và liên tưởng đến thân phận của những người có tài văn chương. Sự lẻ loi, đơn
độc lên đến tột cùng khi chỉ trong 1 câu thơ tới 2 từ gồm từ “độc” từ “nhất”
xuất hiện.
Tiếp đến hai câu thực, câu chuyện về nàng Tiểu Thanh vẫn là tiền đề khơi gợi cảm
xúc, lòng trắc ẩn của đại thi hào:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Bất cứ ai nghe câu chuyện về Tiểu Thanh cũng khó tránh khỏi sự tiếc thương cho
cuộc đời đầy bi ai. Trước khi cảm nhận cái chết đang gần kề, Tiểu Thanh thêu
họa sĩ vẽ chân dung của mình nhưng nàng chỉ chọn được 1 bức duy nhất theo đúng
ý để treo lên. Tiểu Thanh cứ nhìn bức tranh mình xinh đẹp, kiều diễm với thần thái
tự tại khóc đến chết. Cuối cùng, chính bức tranh đó cũng bị người vợ cả đốt
cùng thơ văn của nàng. Bằng cách sử dụng hình ảnh gắn liền với hồng nhan “chi
phấn”, tác giả đã khéo léo nói về cuộc đời tài hoa bạc mệnh của người con gái ấy.
Không chỉ vậy, Nguyễn Du còn khơi gợi ra những bất công, ngang trái trong cuộc
sống đời thực, chẳng phải riêng của nàng Tiểu Thanh. Người tài hoa bị cái ác dập
vùi trong đau khổ đến mức nếu son phấn thần chắc chắn chết cũng vẫn hận,
còn văn chương không số mệnh nhưng bị đốt bỏ cũng mãi vương vấn. Cái
tàn nhẫn của người đời đủ khiến những vật tri giác cũng phải oán thán trời
xanh.
Khác với hai câu đề hai câu thực phần hướng ngoại, đến hai câu luận,
Nguyễn Du đã ngẫm về đời và ngẫm về mình:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
(Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Mặc dù bản dịch thơ khá chuẩn, nhưng từ “Mối hờn” không đảm bảo sức nặng như
từ cổ kim hận trong nguyên tác. Mối hờn đây không phải thù hận sự tiếc
hận sự tiếc hận cho những con người tài năng, những thế hệ i năng nhưng lại
gặp phải nhiều ngang trái trong cuộc đời. Cảm thương cho những con người như
vậy, Nguyễn Du cũng tin rằng dường như một thông lệ định sẵn cho những con
người tài hoa sẽ bạc mệnh như nàng Tiểu Thanh, như nàng Thúy Kiều… Mối hận
cổ kim mối hận của người xưa người nay, tức người thời Nguyễn Du,
chính Nguyễn Du. Người xưa thể Nguyễn Du những người như nàng.
Người nay thể những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh cùng thời Nguyễn
Du và chính thế hệ tài năng như Nguyễn Du đã gặp nhiều ngang trái trong cuộc đời.
Đến đây, Nguyễn Du tự thấy mình thể xếp vào cùng hội cùng thuyền với nàng
Tiểu Thanh qua câu thơ: Phong vận oan ngã tự cư. Lời oán trách không chỉ thể
hiện sự bất bình, sự đau khổ bất lực của nhà thơ trước những bất công của
hội đã chà đạp lên giá trị văn chương, nghệ thuật thời phong kiến. Biết oán ai bây
giờ, chỉ biết oán trời, oán vận. Trời vốn tình với những con người tài hoa, hiện
tại là Nguyễn Dutrước đó 300 năm là nàng Tiểu Thanh còn về sau hậu thế cũng
sẽ những con người phải chịu nỗi ấm ức này. lẽ chính bản thân Nguyễn Du
thời điểm này và cả về sau cũng không thể lý giải được những ngang trái mình gặp
trên đường đời. Những tâm sự của các thi đời xưa như: thời trai trẻ ta cũng kẻ
có tài, mà vẫn phải chịu cảnh lang thang mười năm gió bụi đã trở nên quá phổ biến.
Câu hỏi về cuộc đời cứ mãi không có câu trả lời, va đập vào sự vô định vô hình tạo
nên nỗi đau thấm gan thấm ruột.
Sau cái chết của nàng Tiểu Thanh, đến 300 năm sau vẫn Nguyễn Du ngồi bên
cửa sổ trước tập thơ, câu chuyện về nàng cảm thương, xót thương cho số phận
của người con gái ấy. Vậy, Nguyễn Du người cùng hội cùng thuyền với Tiểu
Thanh cũng tự hỏi:
Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
(Không biết hơn ba trăm năm sau
Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)
Người xưa cho rằng, những người cùng cảnh ngộ sẽ có sự thấu hiểu và cảm thương
cho nhau sâu sắc hơn bất kỳ ai. Giống như Nguyễn Du cảm thương số phận nàng
Tiểu Thanh, Thúy Kiều cũng đã từng khóc than tỏ lòng thành với nàng Đạm
Tiên. Những con người đồng khí sẽ thường gặp nhau dù cách nhau nhiều thế kỉ,
họ cũng sẽ gặp nhau trong tâm tưởng, trong sự hoài niệm. Nguyễn Du dù cách Tiểu
Thanh tới 300 năm, nhưng trước cuộc đời, trước số phận của nàng Nguyễn Du
không tránh khỏi sự đồng cảm, lời khóc than. rồi, chính Nguyễn Du nghĩ đến
cuộc đời của mình tự hỏi rằng: liệu hậu thế về sau, liệu 300 năm lẻ nữa,
người đời có ai cảm thương cho số phận của ông như chính ông đã cảm thương cho
số phận của nàng Tiểu Thanh hay không. Cũng từ đây, ta thấy được một nỗi cô đơn,
nỗi độc giữa chính cuộc đời, chính thời đại chẳng thể tìm được người tri âm, tri
kỷ. Với mong muốn ấy, Tố Như khát khao hậu thế về sau có thể có người trở thành
tri âm của ông qua những tác phẩm ông để lại cho cuộc đời.
Độc Tiểu Thanh bài thơ thể hiện nỗi lòng, sự cảm thông của đại thi hào
Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh tài hoa bạc mệnh. Cũng qua đó, Nguyễn Du cảm
thán cuộc đời, cảm thán cuộc đời mình dường như cũng giống nàng Tiểu Thanh.
Cũng như những bài thơ khác của ông, Độc Tiểu Thanh mang đầy giá trị nhân
đạo khi Nguyễn Du đã nhắc đến vấn đề cuộc sống của những con người bị cái ác,
bị xã hội vùi dập và đặc biệt là người phụ nữ trong thời đại xưa. Ông không chỉ thể
hiện sxót thương còn cả sự trân trọng những họ để lại cho đời sau. Trước
tấm lòng của Tố Như, chẳng cần đợi đến 300 năm sau, Tố Hữu đã “tri âm” Nguyễn
Du qua những vần thơ da diết:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…
(Kính gửi cụ Nguyễn Du Tố Hữu)
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 5
Nguyễn Du đại thi hào dân tộc danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ tiêu
biểu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông để lại cho đời số lượng lớn bài thơ
trong đó những sáng tác đạt đến trình độ cổ điển và mẫu mực, Trong đó phải kể
đến bài thơ " Độc tiểu thanh kí", bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh người con
gái tài hoa bạc mệnh.
Tương truyền Tiểu Thanh một gái Trung Quốc tài sắc, sống khoảng
đầu thời Minh. được biết đến người con gái thông mình, nhiều tài nghệ thuật
như thi ca, âm nhạc. 16 tuổi về làm vợ lẽ cho một nhà quyền quý. vợ cả hay
ghen bắt phải sống một mình trên Sơn, cạnh Tây Hồ. Sống trong sự đơn,
buồn tủi, Tiêu Thanh sinh bệnh từ giã cuộc đời năm 18 tuổi. quá thương
thay cho thân phận người con gái tài hoa bạc mệnh nên Nguyễn Du đã viết nên bài
thơ này. Mở đầu bài thơ với hai câu đề đã như tiếng trút lòng của Tiểu Thanh
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành k
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
(Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Câu thơ không nhằm mục đích miêu tả cảnh đẹp Tây Hồ ngụ ý tác giả chỉ
mượn không gian để nói lên suy nghĩ, cảm nhận về sự biến đổi trong cuộc sống.
Tây Hồ vốn được biết đến cảnh đẹp tiếng nhưng với cuộc đời của nàng Tiểu
Thanh thì cảnh đẹp nơi ấy "hóa gò hoang". Người nằm dưới lòng "gò hoang" kia là
nàng Tiểu Thanh bạc mệnh chỉ để lại trên trần thế "mảnh giấy tàn" là phần di sản
của Tiểu Thanh.
Trong không gian điêu tàn ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ đơn qua từ ngữ
"độc điếu". Hai hình ảnh "gò hoang" "mảnh giấy tàn" đã làm cho nhà thơ cảm
giác "thổn thức bên song". Hai câu đầu chỉ lời giới thiệu thì sang hai cậu thực
nhà thơ đã làm sáng tỏ hơn cảm giác buồn thương ngậm ngùi trong hai câu đề
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Mượn hình ảnh "son phấn" và " văn chương" ngụ ý nhắc đến nàng Tiểu Thanh. Cả
cuộc đời nàng chỉ biết làm bạn với son phấn văn chương để vơi đi những buồn
tủi, bất hạnh. Nhà thơ dùng từ "son phấn" để ẩn dụ khi nói về nhan sắc của nàng
Tiểu Thanh nhưng cái đẹp ấy lại bị vùi dập không thương tiếc.
đã chết "chôn" nhưng linh hồn nàng vẫn chưa siêu thoát vẫn ôm một nỗi "hận"
trần thế. "Hận" sự ghen tuông của vợ cả đã đẩy nàng vào cái chết khi
tuổi vừa mới 18 đôi ơi, hận những trang văn vốn chẳng tội tình cũng bị
đốt cháy nhưng như còn chút nuối tiếc " còn vương" nên vẫn còn lại một số bài. Từ
số phận của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con
người trong xã hội phong kiến trong hai câu luận tiếp theo:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Dường như nỗi oan ức của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng mỗi nàng
cái án, cái kết thúc chung của những con người "tài hoa bạc mệnh" từ thời "cổ"
chí "kim". Nhà thơ dùng từ "hận sự" như muốn nhắc đến một mối hận suốt đời
nhắm mắt cũng không thể quên. tài, sắc nhưng lại không thể an yên, vui vẻ
với kiếp người. Khi đọc những vần thơ trên người đọc còn sẽ liên tưởng đến hình
ảnh nàng Kiều của Nguyễn Du. Đó cũng một số phận sinh ra trong hội phong
kiến tài sắc chẳng kém ai vậy cuộc đời nàng lênh đênh, bạc mệnh quá. Nhà thơ
Nguyễn Du đã từng viết 2 câu thơ ngậm ngùi, xót xa:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Những oan khuất của nghìn đời ấy chỉ trời mới hiểu "trời khôn hỏi" nhưng dẫu
biết thì cũng không thể làm được. Đó như một cái án của nhiều nạn nhân,
nhiều con người trong cái hội lúc bấy giờ phải "tự mang". Hai câu thơ khóc
thương người nhưng dường như cũng để thương mình của Nguyễn Du đã thể hiện
được tầm vóc lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo cách nhìn sâu sắc của ông. Khép
lại bài thơ với hai câu kết những dòng suy tư, cảm nghĩ của chính nhà thơ v
thời thế, thời cuộc:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)
Khóc cho Tiểu Thanh của ba trăm năm trước bằng sự đồng điệu về suy nghĩ, thấu
hiểu về cảm xúc nhưng nhà thơ đã tự vấn, hoài nghi và đặt câu hỏi cho chính mình.
Một câu hỏi chứa đựng nhiều xót xa, nếu như ba trăm năm sau những vần thơ của
Tiểu Thanh vẫn còn có Nguyễn Du thương cảm nhưng liệu ba trăm năm sau có còn
"ai khóc Tố Như chăng".
Người đời khi ấy liệu nhớ hay đã quên đến ông, câu hỏi như xoáy sâu vào suy
nghĩ của người đọc. Câu thơ như bộc lộ nỗi bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc để
rồi khóc thương người, nhà thơ tự khóc thương chính mình.
Nhưng đến ngày hôm nay, ai trong chúng ta đều biết đến, đều ghi nhớ đến Nguyễn
Du một đại thi hào của dân tộc, một tượng đài bất từ của nền văn học Việt Nam
bởi những tác phẩm đồ sộ mang giá trị cao đã đang được lưu truyền cho các thế
hệ sau.
“Độc tiểu thanh ký” một bài thơ để lại những thương cảm trong lòng người đọc
về số phận bất hạnh của những con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Đồng thời qua
đây, tác giả cũng đã phản ánh thực trạng xã hội phong kiến tàn ác đã đẩy con người
vào những bước đường cùng, chà đạp lên nhân phẩm lãng quên những giá trị
mà họ đã để lại cho đời.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 6
Nguyễn Du một cái tên nhắc đến thì ai cũng biết. Tên tuổi của ông thường
gắn liền với Truyện Kiều thế nhưng ông còn nhiều sáng tác khác nữa. thể nói
Nguyễn Du một người sự đồng cảm với những người phụ nữ đương thời.
Chính vì thế những bài thơ của ông thường khóc cho số phận của những con người
hồng nhan bạc mệnh. Ngoài Kiều ra thì chúng ta còn thấy Nguyễn Du khóc thương
cho nàng tiểu Thanh đời nhà Minh qua tác phẩm độc tiểu thanh ký. Qua bài thơ
Nguyễn Du thể hiện sự thương cảm cho những con người tài sắc nhưng bạc mệnh.
Đồng thời qua đó ông thể hiện sự day dứt trăn trở cho số phận những người tài
trong đó có chính bản thân ông.
Cảnh Hồ Tây gắn liền với những với giai thoại về nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn
toàn, sống vào đầu đời nhà Minh. hoàn cảnh éo le, nàng phải làm vợ lẽ một
thương gia giàu Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Vợ cả ghen, bắt nàng trong
ngôi nhà xây biệt lập trên núi Sơn. Nàng làm một tập thơ ghi lại tâm trạng
đau khổ của mình. ít lâu sau, Tiểu Thanh buồn mà chết, giữa lúc tuổi vừa mười tám.
Nàng chết rồi, vợ cả vẫn ghen, đem đốt tập thơ của nàng, may còn sót một số bài
được người đời chép lại đặt tên Phần (đốt còn sót lại) thuật luôn câu
chuyện bạc phận của nàng.
Mở đầu bài thơ tác giả dựng lên một hình ảnh Hồ Tây đầy những u ám, không
đẹp phảng phất ngây ngất nữa mang một nỗi niềm oan ức của người con gái
đa tài có nhan sắc kia:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành k
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. ”
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Nhắc đến Tây Hồ người ta thường nghĩ đến những cảnh đẹp thế nhưng đây
Nguyễn Du lại nói hoang. thể nói đây ngày xưa đúng một cảnh đẹp
thật đấy nhưng giờ đây thì không. chỉ còn lại một hoang vu thôi. nơi
ấy nàng Tiểu Thanh đã mất đi chính sự mất đi ấy đã làm cho cảnh vật nơi đây
âm u tràn trong những uất ức phải chịu. không còn đẹp nữa giống như
người con gái ấy không còn nữa. Tây Hồ thành hoang cũng như ấy đã ra đi
và giờ đây chỉ còn là một nắm xương khô mà thôi. Hai chữ “thổn thức” như gợi lên
bao đau đớn buồn thương của người con gái ấy. Tiếng lòng Tiểu Thanh hay chính
tiếng lòng của Nguyễn Du. đây một sự đồng điệu về nhân vật tác giả.
Họ cùng chung một sự nghiệp văn chương cho nên trước sư ra đi của người tài giỏi
Nguyễn Du đồng điệu tâm hồn mình.
Đến hai câu thơ sau chúng ta lại thấy được những linh hồn của nàng tài sắc ấy
vẫn còn vấn vương trên cõi trần, vẫn ở đâu đó khiến cho nhà thơ cảm nhận được:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư:
(Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Son phấn đây chỉ nhằm nói đến Tiểu Thanh, son phấn để chỉ người phụ nữ bởi
một vật trang điểm khiến cho nhan sắc của những người phụ nữ thêm phần
lộng lẫy xinh đẹp hơn. Tác ginhư cảm nhận thấy được cái thần thái của người
con gái ấy vẫn còn đâu đây mặc bị chôn đi nhưng nỗi hận vẫn còn. Chính
nhà thơ dùng tâm hồn đồng điệu của mình để cảm nhận được điều đó. Và chính cái
chết ấy đã mang đi sự nghiệp văn chương của cô. Vốn còn được phát triển
nữa nhưng thật sự không thể được vì cái người làm ra nó vì xinh đẹp mà bị giết hại.
thể nói nhan sắc kia đã làm cho văn chương bị liên lụy. Thế nhưng những tác
phẩm văn chương của nàng tiểu Thanh ấy bị đốt đi nhưng hãy còn vương. Văn
chương đâu mệnh linh hồn vậy đây lại có. Tất cả để nói lên rằng linh
hồn của tiểu Thanh.
Nhà thơ tiếp tục bày tỏ nỗi lòng mình với nàng Tiểu Thanh tài sắc trong hai câu
thơ tiếp. thnói rằng những câu thơ như càng ngày càng thấm đẫm sự thương
xót người xưa của nhà thơ. Từ đó ta thấy được nhà thơ đang như “thương người
như thể thương thân” vậy:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang. )”
Nỗi hận của nàng Tiểu Thanh một nỗi hận kim cổ, câu thơ chứa đựng biết bao
nhiêu tuyệt vọng. Không những thế Nguyên Du đã nâng nỗi hận của Tiểu Thanh
thành nỗi hận của đời này truyền sang đời khác. Cái chết oan ức của Tiểu Thanh
không thể hết oan ức được. Phong vận câu thơ thứ sáu không nghĩa sự
phong lưu về vật chất mà là sự phong lưu về tinh thần, Nói cách khác là chỉ cái tâm,
cái tài của những kẻ tài hoa. Con người tài hoa tinh túy của trời đất, vậy sao
số phận họ lại nhiều vất vả, truân chuyên đến vậy? đúng là:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”
Càng thương tiếc Tiểu Thanh bao nhiêu thì Nguyễn Du lại nghĩ đến bản thân mình
bấy nhiêu:
“Bất tri tam bách dư niên hậu, .
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?)
Nhà thơ lo lắng cho bản thân mình trước sự trôi chảy của cuộc đời. Rồi mai này
Nguyễn Du cũng mất đi nhưng không biết rằng có ai khóc Tố Như không. Câu hỏi
cất lên mang đầy sự trăn trở về số phận mình. Ba trăm năm con số ấy rất dài
nhưng đến ngày nay thì người ta đã nhớ đến Nguyễn Du rất nhiều rồi.
Qua đây ta thấy được sự thương cảm xót xa đồng điệu của những con người tài hoa
bạc mệnh với nhau. Nguyễn Du quả thật một nhà văn của người phụ nữ, ông
không những một tác phẩm về cuộc đời nàng Kiều ông còn thương cảm với
nàng Tiểu Thanh bên Trung Quốc. Tóm lại nhà thơ viết lên bài thơ này một mặc để
bày tỏ sự thương tiếc với người tài hoa nhưng bạc mệnh lại vừa thể hiện sự trăn trở
về số phận của bản thân mình.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 7
Độc Tiểu Thanh kí là một trong những bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Du in
trong Thanh Hiên thi tập. thể Nguyễn Du sáng tác bài y trước hoặc sau khi
được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc.
Thắng cảnh Tây Hồ gắn liền với giai thoại về nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn toàn,
sống vào đầu đời nhà Minh. Vì hoàn cảnh éo le, nàng phải làm vợ lẽ một thương
gia giàu Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Vợ cả ghen, bắt nàng trong ngôi nhà
xây biệt lập trên núi Sơn. Nàng làm một tập thơ ghi lại tâm trạng đau khổ
của mình. ít lâu sau, Tiểu Thanh buồn chết, giữa lúc tuổi vừa mười tám. Nàng
chết rồi, vợ cả vẫn ghen, đem đốt tập thơ của nàng, may còn sót một số bài được
người đời chép lại đặt tên là Phần dư (đốt còn sót lại) và thuật luôn câu chuyện bạc
phận của nàng.
Nguyễn Du đọc những bài thơ ấy, lòng dạt dào thương cảm gái tài hoa bạc
mệnh, đồng thời ông cũng bày tỏ nỗi băn khoăn, day dứt trước số phận bất hạnh
của bao con người tài hoa khác trong xã hội cũ, trong đó có cả bản thân ông.
Phiên âm chữ Hán:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành k
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn;
Phong vận kì oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Dịch thơ Tiếng Việt:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Đến với Tiểu Thanh ba trăm năm sau ngày nàng mất, trong lòng nhà thơ Nguyễn
Du dậy lên cảm xúc xót xa trước cảnh đời tang thương dâu bể:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,)
Câu thơ sức gợi liên tưởng rất lớn. Cảnh đẹp năm xưa đã thành phế tích, đã bị
hủy hoại chẳng còn lại gì. Trên hoang ấy chôn vùi nắm xương tàn của nàng
Tiểu Thanh xấu số. Nói đến cảnh đẹp Tây Hồ, chắc hẳn tác giả còn ngụ ý nói về
con người đã từng sống đây, tức Tiểu Thanh. Cuộc đời của người con gái tài sắc
này cũng chẳng còn lại ngoài những giai thoại về nàng. Cảnh ấy khiến tình này
nhân lên gấp bội. Trái tim của nhà thơ thổn thức trước những gợi lại một kiếp
người bất hạnh:
Độc điếu song tiền nhất chi thư.
(Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.)
Tiểu Thanh đã bày tỏ tâm trạng của mình qua những bài thơ đó như thế nào?
Chắc chắn nỗi buồn tủi cho thân phận, nỗi xót xa cho duyên kiếp dở dang
thống thiết hơn cả nỗi đau nhân tình không người chia sẻ. Tiếng lòng Tiểu
Thanh đồng điệu với tiếng lòng Nguyễn Du nên mới tạo ra được xúc động mãnh
liệt đến thế. Nhà thơ khóc thương Tiểu Thanh tài hoa bạc mệnh, đồng thời cũng
khóc thương chính mình kẻ cùng hội cùng thuyền trong giới phong vận.
Nguyễn Du cỏ cảm giác là dường như linh hồn Tiểu Thanh vẫn còn vương vấn đâu
đây. Nàng chết lúc mới mười tám tuổi trong cô đơn, héo hắt, đau khổ. Oan hồn của
nàng làm sao tiêu tan được?
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư:
(Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.)
Ba trăm năm đã qua nhưng tất cả những gắn với nàng vẫn như còn đó. Chi
phấn (son phấn) nghĩa bóng chỉ phụ nữ; tức Tiểu Thanh. Son phấn vật để trang
điểm, song cung tượng trưng cho sắc đẹp phụ nữ. sắc đẹp thì thần (thần
chữ Hán cũng nghĩa như hồn) vẫn sống mãi với thời gian như Tây Thi,
Dương Quý Phi tên tuổi đời đời còn lưu lại. Nỗi hận của son phấn Cũng nỗi hận
của Tiểu Thanh, của sắc đẹp, của cái Đẹp bị hãm hại, dập vùi. Nó có thể bị đày đọa,
bị chôn vùi, nhưng nó vẫn để thương để tiếc cho muôn đời.
Văn chương cái tài của Tiểu Thanh nói riêng ng vẻ đẹp tinh thần của
cuộc đời nói chung. Văn chương mệnh bởi đâu sống chết như người? y
vậy mà đây, như linh hồn, cũng biết giận, biết thương, biết cố gắng chống
chọi lại bạo lực hủy diệt để tồn tại, để nói với người đời sau những điều tâm huyết.
Dụ bị đốt, bị hủy, nhưng những còn sót lại vẫn khiến người đời thương
cảm, xót xa. Nhà thơ đã thay đổi số phận cho son phấn, văn chương, để chúng
được sống gắn với Tiểu Thanh, thay nàng nói lên nỗi uất hận ngàn đời. Hai
câu thơ đầy ý vị ngậm ngùi, cay đắng, như một tiếng khóc thổn thức, nghẹn ngào.
Đến hai câu luận:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.)
Nhà thơ tiếp tục bày tỏ niềm thương cảm của lòng mình. Câu thơ: cổ kim hận sự
thiên nan vấn chứa đựng sự tuyệt vọng. Từ nỗi hận nhỏ hận riêng cho số phận
Tiểu Thanh, Nguyễn Du nâng cao, mở rộng thành nỗi hận truyền kiếp từ xưa tới
nay của giới giai nhân tài tử. Tài hoa bạc mệnh, đó phải quy luật bất di bất
dịch của Tạo hóa ? định mệnh ràng khắt khe của số phận? Nếu đúng như thế
thì nguyên nhân do đâu? Trải mấy ngàn năm, điều đó đã tích tụ thành nỗi oán
hờn to lớn không biết hỏi ai. Nỗi oan lạ lùng của những kẻ tài sắc như Tiểu
Thanh cũng là nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh rõ ràng là vô lí, bất công,
nhưng khó hỏi trời trời cũng không sao giải thích được (thiên nan vấn). Do
đó mà càng thêm hờn, thêm hận.
Phong vận câu thơ thứ sáu không nghĩa sự phong lưu về vật chất sự
phong lưu về tinh thần, Nói cách khác chỉ cái tâm, cái tài của những kẻ tài hoa.
Con người tài hoa tinh túy của trời đất, vậy sao số phận họ lại nhiều vất vả,
truân chuyên đến vậy? Nguyễn Du đã từng viết: Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Bởi thế nên phong lưu đã thành cái án chung thân mà khách (kẻ tài hoa) phải mang
nặng suốt đời. Oái oăm thay, biết là vậy mà bao thế hệ văn nhân tài tử vẫn tự mang
vào mình. Nguyễn Du đã nhập thân vào Tiểu Thanh để nói lên những điều bao
đời nay vẫn cứ mãi băn khoăn, dằn vặt.
Càng ngẫm nghĩ, nhà thơ càng thương tiếc Tiểu Thanh càng thương thân phận
mình. Từ thương người, ông chuyển sang thương thân:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng)
Câu hỏi đậm sắc thái tu từ cho thấy Nguyễn Du vừa băn khoăn vừa mong đợi
người đời sau đồng cảm và thương cảm cho số phận của mình. Có thể hiểu ba trăm
năm con số tượng trưng cho một khoảng thời gian rất dài. Ý Nguyễn Du muốn
bày tỏ là giờ đây, một mình ta khóc nàng, coi nỗi oan của nàng như của ta. Vậy sau
này liệu có còn ai mang nỗi oan như ta nhỏ lệ khóc ta chăng ? Câu thơ thể hiện tâm
trạng đơn của nhà thơ chưa tìm thấy người đồng cảm trong hiện tại nên đành
gửi hi vọng da diết ấy vào hậu thế. Hậu thế không chỉ khóc cho riêng Tố Như,
là khóc cho bao kiếp tài hoa tài tử khác.
Nhà thơ thấy giữa mình Tiểu Thanh những nét đồng bệnh tương liên. Tiểu
Thanh mất đi, ba trăm năm sau Nguyễn Du thương xót cho số phận nàng. Liệu
sau khi Tố Như chết ba trăm năm, có ai nhớ tới ông mà khóc thương chặng?
Câu thơ như tiếng khóc xót xa cho thân phận, thương nh vơ, độc, không
kẻ tri âm, tri kỷ; một mình ôm mối hận của kẻ tài hoa bạc mệnh giữa cõi đời.
Dường như nhà thơ, đang mang tâm trạng của nàng Kiều sau bao sóng gió cuộc
đời: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Mở đầu bài thơ thương người, kết thúc bài thơ thương thân. Tứ thơ không
lạc điệu bởi đến đây, Tiểu Thanh Nguyễn Du đã hòa làm một một số kiếp
tài hoa đau thương trong muôn vàn số kiếp tài hoa đau thương trong hội
phong kiến cũ.
Bài thơ cho thấy niềm thương cảm của Nguyễn Du đối với con người mênh mông
biết chừng nào ! không bị giới hạn bởi thời gian không gian. Nguyễn Du
không chỉ thương người đang sống thương cả người đã khuất mấy trăm năm.
Thương người, thương mình, đó biểu hiện cao nhất của đạo làm người. Đời
người hữu hạn nỗi đau con người thì hạn. Trái tim đa cảm của nhà thơ rất
nhạy bén trước nỗi đau to lớn ấy. Giống như truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh
đỉnh cao tư tưởng nhân văn của đại thi hào Nguyễn Du.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 8
Nguyễn Du tên chữ Tố Như. hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (Nhà
săn bắn núi Hồng Sơn), sinh năm 1765 thời mặt tại làng Tiên Điền, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Thân sinh là cụ Hoàng Giáp Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, thủ tướng Lê triều.
Gia đình cụ Nguyễn Du một gia đình Nho học lỗi lạc, cả nhà đều làm quan to
dưới triều Lê khiến thời ấy đã có câu ca dao ca ngợi:
Bao giờ ngàn Hống hết cây,
Sông Rum hết nước, họ này hết quan.
Gia đình Nguyễn Du còn một gia đình văn học nổi tiếng. Cụ Nguyễn Nghiễm
từng gửi gắm tâm sự mình vào bài phú “Khổng Tử mộng Chu Công”. Thời bấy giờ
nước ta có 5 danh sĩ nổi tiếng mà gia đình họ Nguyễn đã có 2 người được nêu danh
(Nguyễn Du và Nguyễn Đạm).
Nguyễn Du con trắc thất Trần Thị Tần, người huyện Đông Ngạn tỉnh Bắc
Ninh. Bà 4 người con Nguyễn Du con thứ ba. Năm 18, Nguyễn Du thi đỗ
Tam trường (Tú tài), và bắt đầu cuộc đời chìm nổi theo vận mệnh đất nước.
Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, kêu gọi tôi thần nhà ra làm quan. Vua cũng
cho triệu Nguyễn Du. Không thể từ chối được, nên năm ấy ông ra làm Tri huyện
Phù Dực, tỉnh Thái Bình, sau lại thăng Tri Phủ. Thường Tín cùng tỉnh. Làm quan
được mấy năm thì ông cáo bệnh xin về.
Năm 1806, ông lại được triệu về Kinh với chức Đông Các học sĩ. Năm 1809, được
đưa làm Cai bạ tỉnh Quảng Bình (tức là Bố Chính). Năm 1813, ông được thăng cần
Chính điện học được làm Chánh sứ sang cống Tàu đáp lễ sắc phong An Nam
Quốc vương. Thời gian này, Nguyễn Du viết Bắc hành tạp lục. Đi sứ về, ông được
thăng chức Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Năm 1820; ông vừa được lệnh đi sứ Tàu lần thứ
hai thì thọ bệnh rồi mất nhằm ngày mùng 10 tháng 8 năm Canh Thìn (Minh Mạng
nguyên niên).
Bài thơ Độc Tiểu Thanh một bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán, được in trong
Thanh Hiên thi tập, thể hiện lòng nhân ái và sự đồng cảm của nhà thơ về nàng Tiểu
Thanh tài sắc nhưng phận bạc.
Nguyễn Du với Tiểu Thanh là hai người xa lạ. Vậy Tiểu Thanh là ai?
Tương truyền Tiểu Thanh một gái Trung Quốc tài sắc, sống khoảng
đầu thời Minh. Vốn thông minh nên từ nhỏ đã thông hiểu nhiều môn nghệ thuật
như thi ca, âm nhạc. Năm 16 tuổi, cô làm vợ lẽ một nhà quyền quý. Vợ cả người
hay ghen, bắt phải sống riêng trên Sơn, cạnh Tây Hồ. Nỗi uất ức đau khổ
được gửi gắm vào thơ nhưng bài thơ đã bị người vợ cả đốt, may mắn một số
bài thơ còn sót lại. Người ta cho khắc in số thơ đó, đặt tên Phần (Bị đốt còn
sót lại). Sống trong tình cảnh đó, Tiểu Thanh sinh bệnh từ giã cõi đời tuổi 18.
Nguyễn Du cảm thương người con gái tài sắc phận bạc ấy làm bài thơ này. Bài
thơ chữ Hán được dịch nghĩa theo văn xuôi là:
Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi. Chỉ viếng nàng qua một tập sách
đọc trước cửa sổ. Son phấn thần chắc phải xót xa những việc sau khi chết.
Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở. Mối hận cổ kim khó mà hỏi trời
được. Sống phong lưu, nhàn nhã cũng tự mang bản án vào mình. Ta tự thấy
người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng nết phong nhã. Không biết hơn
ba trăm năm sau, thiên hạ ai người khóc Tố Như?
Bài thơ khá hay nên nhiều người dịch ra tiếng Việt. Giản Chi, Nguyễn Quảng
Tuân, Tam Tập dịch theo thể thơ, riêng Hoàng Chương thì diễn ra thơ lục
bát. hình thức nào, người dịch vẫn không làm chệch hướng nội dung của bài
thơ. Ở đây, chúng ta tìm hiểu, cảm nhận bài thơ theo bản dịch của Vũ Tam Tập.
Hai câu đề của bài thơ:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Đấy hai câu thơ tức cảnh sinh tình bài thơ không được sáng tác tại chỗ (Tây
Hồ). Đây cảnh trong tâm tưởng của nhà thơ. đúng thế. Nhà riêng của một
nhà quyền quý chắc chắn đẹp, cảnh Tây Hồ vốn đẹp nổi tiếng. Hiện thực thế,
nhưng với đời của nàng Tiểu Thanh, với nhà thơ thì không thế. Cảnh đẹp ấy, trong
tâm tưởng của nhà thơ đã “hóa hoang”. Một đồi đất nhỏ thì đẹp! đó
là nấm mồ chủ ai đến thăm (Truyện Kiều) thì người đang nằm dưới lòng đất
kia lại càng lạnh lẽo, càng đơn. Người đang nằm dưới lòng “gò hoang” kia,
nàng Tiểu Thanh bạc mệnh kia chỉ còn lại dương thế “mảnh giấy tàn” phần di
cảo của Tiểu Thanh Kí. Chính hai chi tiết, hai hình ảnh “gò hoang” “mảnh giấy
tàn” này nguyên nhân khiến nhà thơ “thổn thức bên song". Cảm xúc của nhà thơ
về nàng Tiểu Thanh được diễn tả rõ hơn ở hai câu thực:
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Hoán dụ “son phấn” để chỉ nàng Tiểu Thanh. Tiểu Thanh đã chết (chôn) nhưng
linh hồn chắc phải xót xa, căm giận người đã đốt những trang thơ của nàng. “Hận”
hai lẽ: ghen tuông quáng khiến nàng phải chết, đốt những trang thơ vốn
chẳng số phận {mệnh), chúng vẫn không cháy hết như còn nuối tiếc (còn
vương) muốn giữ phần còn lại cho hậu thế.
Trên những câu thơ tức cảnh sinh tình, cảm thương cho người tài sắc nhưng bạc
phận. Từ đó nhà thơ đã bàn rộng thêm ở hai câu luận:
Hình như nhà thơ muốn an ủi nàng Tiểu Thanh, tự nhủ với lòng mình rằng xưa nay
những người tài hoa nhưng bạc mệnh cũng đã có nhiều. Việc đó thì chỉ trời mới
hiểu. Nhưng trời hiểu vẫn chẳng thể nào can thiệp được sự ganh ghét của
người vợ cả, của người đời về lối sống phong lưu đài các, nhàn nhã của người
tài. Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Ban đầu, các nhà văn xưa mượn thuyết tài mệnh tương đối này để miêu tả cuộc đời
của những phụ nữ nhan sắc, hiền đức nhưng phải chịu nhiều nỗi oan khiên.
Nguyễn Dữ với chuyện Người con gái Nam Xương, Nguyễn Gia Thiều viết về
cung nữ trong Cung oán ngâm khúc, Đặng Trần Côn với người chinh phụ trong
Chinh phụ ngâm... Đấy là những mảnh đời riêng biệt.
Riêng với Nguyễn Du, nhà thơ lại quan tâm đặc biệt đến đời của những phụ nữ
cả sắc lẫn tài “thi hoa lẫn... cung thương làu bậc ngũ âm...” (Kiều) khá tương đồng
với thân phận của những nhà nho thất sủng trong hội loạn lạc, suy thoái.
Dương Quý Phi, Tiểu Thanh, Người con gái gảy đàn Thăng Long trong thơ chữ
Hán; Đạm Tiên, Thúy Kiều trong Truyện Kiều. Đây những kẻ “tài nh chi
lắm cho trời đất ghen” nhà thơ cảm thông với họ đồng thời cũng ngụ ý với
thân phận của mình.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Ấy dự cảm của nhà thơ về số phận của mình. Với Tiểu Thanh, người phụ nữ xa
lạ phần đời bất hạnh khiến nhà thơ thương khóc như vậy nàng sống trước
nhà thơ ngoài mấy trăm năm, không biết ngoài ba trăm năm sau ai thương cảm
khóc nhà thơ chăng?
Biết được số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du liên tưởng đến số phận của mình.
Đúng vậy, nhưng như trên đã viết, nhà thơ nghĩ đến thân phận của những nhà nho,
những người tài, trong đó ông. Đấy mối đồng cảm “tình lại gặp tình”, như
Thúy Kiều trước mộ Đạm Tiên, “thấy người nằm đó biết sau thế nào?” Đó sự
liên tưởng, mối ưu tự nhiên của những người đời sống tinh thần thiên vtình
cảm.
Trước mộ Đạm Tiên.
Kiều rằng: “Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách còn là tinh anh”
Công chúng, thời nào cũng thế, rất công minh trong việc tìm tòi, chắt lọc “tinh
anh” của “đấng tài hoa”. Điều ấy chúng ta thây ở tục ngữ, những bài ca dao, những
tác phẩm văn chương có từ thuở xa xưa tới nay vẫn còn được truyền tụng. Ngay cả
Truyện Kiều, hay Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du đã qua hai trăm năm vẫn còn
được truyền tụng, và sẽ còn được truyền tụng lâu dài.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 9
“Độc Tiểu Thanh ký” một câu chuyện đời được kể bằng mấy câu thơ đọng
hàm súc của Nguyễn Du. thể coi đây bài thơ bằng chữ Hán hay nhất của ông
in trong tập Thanh hiên thi tập. Bài thơ chính tiếng lòng tiếc thương, xót xa cho
số phận của người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh.
Bài thơ độc Tiểu Thanh được lấy cảm hứng từ câu chuyện cảm động của người
con gái sống vào đầu đời nhà Minh. Nhưng vì gia cảnh nghèo khó, éo len nên nàng
được gả vào một gia đình giàu có, làm lẽ đến hết đời. Tuy nhiên vợ cả ghen tuông
nên đã cho nàng tách biệt trong ngôi nhà núi Sơn. Trong những năm tháng
sống ở đó, bà đã có hàng trăm bài thơ thổ lộ nỗi niềm, tình cảnh cô đơn lẻ bóng của
mình. Ít lâu sau đó, nàng vì quá buồn mà chết trong lúc tuổi đời còn quá trẻ. Vợ
cả đã đốt đi hết những bài thơ nàng viết, tuy nhiên còn sót lại một số bài, sau
này người ta bảo chép lại đặt tên “Phần dư” để ghi chép lại cuộc đời đầy oan
nghiệt của nàng.
Nguyễn Du khi bắt gặp những bài thơ ấy đã nảy sinh lòng trắc ẩn, xót thương cho
thân phận tài hoa bạc mệnh. qua nhân vật này, ông phản chiếu vào cuộc đời
mình, nhận ra cuộc đời có quá nhiều bất công, khổ ải.
Nguyễn Du đã mở đầu bài thơ bằng cách gợi ra không gian nơi nàng Tiểu Thanh
từng sống:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Hai câu thơ sức gợi, sức ám ảnh rất lớn, khiến người đọc tưởng tượng ra không
gian, khung cảnh rất xa xa nơi người con gái bạc mệnh đã từng sống. Tây Hồ
nơi cảnh đẹp hữu tình nhưng lại hóa hoang vắng, heo hút người con gái
i mãi chôn vùi tuổi thanh xuân của mình ở đây.
Những tâm sự chồng chất ấy, nàng đã giãi bày qua những vần thơ đẫm nước mắt.
Hình ảnh người con gái chồng cũng như không, một mình võ, “thổn thức”
bên song cửa sổ với những mảnh giấy tàn viết nên tâm sự đau lòng. Không còn
buồn thê thảm hơn khi “có chồng hờ hững cũng như không”. Cuộc đời của
những người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa trong hội phong kiến dường như đều bị
chà đạp như thế.
Nguyễn Du cảm giác như mảnh giấy tàn ấy vẫn còn vương vấn linh hồn của
nàng, còn phảng phất cho đến tận bây giờ.
Ông xót xa cho thân phận bạc mệnh đó
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Hai câu thơ này đã toát lên sự xót xa, chua xót đến tột độ của Nguyễn Du khi nghĩ
đến người con gái mệnh bạc ấy. Đã 300 năm trôi qua nhưng hình ảnh của nàng vẫn
còn vương vấn, khiến người đòi về sau không khỏi xót thương. Tác giả dùng từ «
son phấn » để chỉ nhan sắc của người con gái xinh đẹp bao nhiêu thì cũng bị
vùi dập, chà đạp không tiếc thương, cuối cùng đành ôm hận chết. Những trang
thơ nàng viết, bị người ta đốt cháy hết thì vẫn còn được lưu truyền cho đến
ngày nay.
Hai câu luận đã thể hiện được sự đồng cảm, xót xa cho thân phận tài hoa này :
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang
Hai câu thơ cất lên đầy sự tuyệt vọng, ai oán u sầu nặng nề. Hỏi trời cao, trời
không thấu, trách kẻ bạc tình, người không hay. Nguyễn Du thốt lên một câu hỏi
đầy chua xót nhưng nhận về mình nhiều khổ đau. Những người phụ nữ tài hoa,
xinh đẹp từ xưa đến nay dường như đã mang trong mình cái « án » oan nghiệt,
không thể bỏ được.Hay chính hội phong kiến đã đẩy họ vào bước đường
cùng nhiều chua cay như thế này.
Và ở hai câu kết, tác giả đã vận vào bản thân mình, vận sự bạc mệnh của nời phụ
nữ tài hoa ấy
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Một câu hỏi tu từ đầy ngậm ngùi và chua xót khi nghĩ đến cảnh mình sau 300 năm
nữa. Tiểu Thanh sau 300 năm vẫn khiến người đọc xót xa, day dứt, nhưng liệu rằng
mình có còn được như thế, hay hóa thành cát bụi.
Câu hỏi đậm giá trị nhân văn, ông muốn hỏi tâm ý của mọi người khi nghĩ đến
số phận của những người tài hoa sau một thời gian dài sẽ như thế nào. Từ số kiếp
tài hoa bạc mệnh của Tiểu Thanh, ông đã liên tưởng đến cuộc đời nhiều sóng gió
của bản thân mình. Câu thơ còn khiến cho người đọc phải nghĩ, phải day dứt và xót
xa trăm nghìn lần.
Bài thơ “Độc tiểu thanh ký” của Nguyễn Du là một kiệt tác để lại trong lòng người
đọc nhiều nỗi niềm thương cảm về số phận bất hạnh của nhiều người trong hội,
lên án xã hội chà đạp lên nhân phẩm của họ.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 10
Thơ văn Nguyễn Du tựa như một kim tự tháp sừng sững giữa đất trời mênh mông.
Ba mặt của kim tự tháp ấy, mỗi mặt đều mang một vẻ đẹp kỳ lạ. Mặt chính diện
óng ánh sắc màu “Truyện Kiều” với “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Mặt
trái cấu trúc bằng một thứ vật liệu dân với Thác lời trai phường Nón”, với
“Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu”. Và mặt phải của ngôi tháp là những lớp men
ngọc, những khối đá hoa cương, đã được tạo, được khắc bằng “Thanh Hiên thi tập”,
“Nam trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”. Nhân dân ta rất lấy làm tự hào về thi
hào dân tộc Nguyễn Du.
Nếu “Truyện Kiều” công trình nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du về nỗi đau,
niềm vui của những kiếp người thì thơ chữ Hán lại cho thấy một cách trực diện sự
khám phá tài tình của ông về cái thế giới sâu thẳm ẩn náu trong đáy tâm hồn nhà
thơ. Thi Xuân Diệu đã viết: “Chính thơ chữ Hán chứa đựng bóng hình, đời sống,
nét mặt, mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du”.
Từ những cảm nhận ấy, mỗi một chúng ta xúc động biết bao khi đọc bài thơ “Độc
Tiểu Thanh ký” của Tố Như. Tiểu Thanh ai? Đó một gái “Nổi danh tài sắc
một thì” sống vào đời Minh. Nàng lấy làm lẽ một thương gia họ Phùng. Vợ cả
đánh ghen, bắt nàng “biệt cư” trong một ngôi nhà trên núi Sơn cạnh Tây Hồ.
Tiểu Thanh một tập thơ nói lên cuộc đời khát khao hạnh phúc đầy nước mắt
của mình. Tiểu Thanh đau khổ chết giữa lúc tuổi đời vừa mười tám xuân xanh.
Nàng chết rồi tập thơ của nàng vẫn bị vợ cả đêm đốt, may còn sót lại một số
trang, một sbài được người đời chép lại gọi phần cào. Thi o Nguyễn
Du trên đường đi sứ qua Tây Hồ, đã đến viếng mộ Tiểu Thanh đọc tập cảo
của nàng. Đọc hai câu trong phần đề ta cảm nhận điều đó. Đúng bài thơ “Độc
Tiểu thanh ký” nằm trong Bắc hành tạp lục”.
Từ lúc nàng Tiểu Thanh sống và chết đến lúc Nguyễn Du đi sứ (1813) qua Tây Hồ
đã hơn ba trăm năm. Đã biết bao vật đổi sao dời, biển dâu, dâu biển. Thế
một vài bài thơ mỏng manh của nàng Tiểu Thanh vẫn làm cho một nhà thơ phương
Nam rơi lệ? Mở đầu bài thơ là cả một sự bùi ngùi thương cảm:
“Tây hồ hoa uyển tận thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
“Hoa uyển” “khư” hai khái niệm chuyển hóa đối lập. Cảnh xưa đẹp thế
nay đã hoang tàn, phế tích. Chữ “tận” nghĩa hết, kiệt cùng. Bao trùm lên cảnh
vật một màu sắc tang thương, đau buồn. Nơi hoang ấy chỉ còn lại nấm mồ
người bạc mệnh một mảnh giấy tàn (nhất chỉ thư). Một mình nhà thơ đứng lặng
trước cửa sổ đọc “mảnh giấy tàn” điếu người xấu số. Thương cuộc đời bể dâu cũng
thương người, thương người bạc mệnh ng thương mình. Xót xa thương
cảm. Đó sự cảm thông của khách tài tử với giai nhân bạc mệnh, của người đang
sống đối với người đã khuất. Sau hơn ba trăm năm nàng Tiểu Thanh mất
“mảnh giấy tàn” của nàng vẫn còn làm cho Nguyễn Du thổn thức, rơi lệ!
Hai câu thơ trong phần thực như chứa đầy nỗi uất ức của Tố Như:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
“Chỉ phấn” son phấn tượng trưng cho sắc đẹp của Tiểu Thanh. Văn chương
hiện thân cho tài năng của nàng. Nguyễn Du hỏi đời hỏi người nhưng để
khẳng định: Son phấn thần, sau khi chết người ta còn xót thương, tiếc nuối. Văn
chương còn số mệnh người ta còn bận lòng về những bài thơ sót lại sau
khi bị đốt! Son phấn văn chương như những chứng nhân về cuộc đời, về kiếp
người oan khổ, ly hận! Vì thế nên son phấn, sắc đẹp thì “có thần”, nó vẫn sống mãi
với thời gian lòng người như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Quý Phi…. cũng
như hoa tàn nhưng hương hoa, linh hồn của hoa còn tỏa ngát đâu đây, sắc đẹp của
giai nhân vẫn sống mãi cùng tên tuổi họ: “Thác thể phách, còn tinh anh”. Nỗi
hận xót xa của “son phấn” chính nỗi đau thương, nỗi hận của nàng Tiểu
Thanh: “Tuổi trẻ bị chôn vùi, sắc đẹp bị hãm hại! Văn chương tài năng, vẻ
đẹp tinh thần của Tiểu Thanh. Văn chương vốn mệnh tri, đâu sống,
chết như Người. Ấy vậy mà “mảnh giấy tàn” của người bạc mệnh “vẫn trơ gan
cùng tuế nguyệt”, chống chọi lạc cùng cái ác, vươn lên tồn tại, làm nhức nhối
người đời, xưa và nay. Nguyễn Du nói về “son phấn” và “văn chương” là để khẳng
định ngợi ca tài sắc Tiểu Thanh, của mọi tài tử giai nhân trong cuộc đời bể dâu.
chính Nguyễn Du, với cảm quan người nghệ liên tài từ “mảnh giấy tàn” nói
lên nỗi uất hận ngàn đời của Tiểu Thanh, của những hồng nhan bạc mệnh!
Nghĩ về tài sắc giai nhân cái đẹp trong cõi nhân gian, Nguyễn Du xót xa suy
ngẫm về lẽ đời và tình người trong mọi điều oan trái:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
Sự oán hận xưa nay khó hỏi trời được. Đất dày trời cao “Oan này còn một
kêu trời nhưng xa” (“Truyện Kiều”). Nói hỏi trời vì không thể hỏi người. Và khi đã
“thiên nan vấn” tức nỗi bế tắc, oan khổ đày rẫy mọi nơi, mọi chốn. Câu thơ như
một tiếng kêu thương rung động cõi đất, trời. Và nỗi oan phong vận kỳ dị kia, ta tự
mình lại buộc lấy mình. Phong nhã, phong lưu cùng với đào hoa vẻ đẹp, bản
sắc của con người. Trong cõi đời ta mấy ai được phong nhã hào hoa? Phong lưu
niềm ước của nhiều người. Sao Nguyễn Du lại gọi “cái án phong lưu”?
Khách phong lưu đáng lẽ được hưởng i nhàn nhã, thanh thản cuộc đời sao lại
phải mang cái án oái ăm vào mình? Đúng nghịch lý, nghịch cảnh. “Nhất phiến
tài tình thiên cổ lụy!” . Đã bao đời nay, “cái án phong lưu ấy” đã đeo đẳng số
tao nhân mặc khách. Nguyễn Du đâu phải kẻ “Khéo nước mắt khóc người
đời xưa” đã nhập thân vào Tiểu Thanh để nói lên những điều day dứt, băn
khoăn bao đời nay. Khách tài tử phong lưu đã tri âm với giai nhân bạc mệnh là vậy.
Họ là tài tình, là cái đẹp, là khát vọng về cái đẹp, nên họ cảm thương nhau. Nguyễn
Du đã cảm thương Dương Quý Phi (Dương Phi cố lý), đã “thổn thức” Tiểu Thanh,
với cảm tâm của một khách tài tử. Thương nàng Tiểu Thanh bao nhiêu, ông càng
thương mình bấy nhiêu! “Độc Tiểu Thanh ký” khúc bi ai thương người, cũng
lời tự thương đau xót:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
Nguyễn Du một bậc tài tử trong đời. Tiểu Thanh một khách hồng nhan.
Nguyễn Du tìm thấy giữa mình người con gái ấy những nét “đồng bệnh
tương liên”. Tài tử gian nan, hồng nhan bạc mệnh. Tiểu Thanh chết trong đau khổ,
lưu lại với “nhất chỉ thư”, một mảnh giấy tàn, thế hơn ba trăm năm sau còn
Nguyễn Du Thương xót cho số phận nàng. Rồi nhà thơ tự khóc mình cất tiếng
nói: Liệu sau khi ông mất, hơn ba trăm năm, trong thiên hạ còn ai thương ông?
Hai câu kết này rất nổi tiếng. Ai đã từng đọc Nguyễn Du đều nhớ. Tôi vẫn rất thích
hai câu dịch của Xuân Diệu:
“Ba trăm năm nữa mơ màng
Có ai thiên hạ khóc chàng Tố Như?”
Câu thơ Chứa đầy tâm sự, tâm trạng. “Một tấm lòng vẫn giấu che, bộc lộ trong một
phút giây, chệch nhẹ bức mành, ta nhìn được cả một thế giới còn chưa nói”
(“Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán Xuân Diệu). Câu thơ như tiếng
khóc xót thương cho số phận mình. nơi đất khách quê người, trong những tháng
ngày đi sứ. Tố Như càng cảm thấy mình vơ, không kẻ tri âm tri kỷ, một mình
ôm mối hận của kẻ tài hoa bạc mệnh: “Người đời ai khóc Tố Như chăng?”.
Viết về Nguyễn Du, nhà thơ Tố Hữu câu “Tiếng thơ ai động đất trời….”. Sau
khi Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử. Nguyễn Du cất tiếng nghẹn ngào:
“Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi?”
trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký”, ông lại xót xa hỏi: “Son phấn thần chôn
vẫn hận Văn chương vô mệnh đốt còn vương?”. Bài thơ cho ta thấy niềm thương
cảm sâu xa của Tố Như đối với con người cùng mênh mông. Đời người hữu
hạn, nỗi đau của con người con người bạc mệnh hạn. Đọc bài thơ “Độc
Tiểu Thanh ký”, chúng ta càng thấy cái tâm của nhà thơ lớn dân tộc, càng
cùng thấm thía chất nhân văn trong thơ chữ Hán của Tố Như.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 11
Nhắc đến Nguyễn Du, ai trong chúng ta cũng nghĩ ngay đến “Truyện Kiều” bởi
đây một tác phẩm kiệt xuất của thơ ca trung ca trung đại Việt Nam. Song, ngoài
“Truyện Kiều” Nguyễn Du cũng còn sáng tác nhiều bài thơ thể hiện sự đồng cảm,
thương xót đối với những thân phận hồng nhan nhưng bạc mệnh. Trong số các bài
thơ đó thì “Độc Tiểu Thanh kí” là bài thơ tiêu biểu hơn cả.
Bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” được gợi cảm hứng từ một câu chuyện có thật về một
gái sống vào đầu đời nhà Minh. gái ấy tên Tiểu Thanh, nàng nhan sắc
vẹn toàn, cầm thi họa đều giỏi cả. Thế nhưng nhà nghèo cho nên nàng được gả
vào làm vợ lẽ một nhà giàu. bị vợ cả ghen tuông, bắt nàng ra sống riêng
Sơn, gần Tây Hồ. Trong những ngày tháng quạnh đó, nàng Tiểu Thanh đã viết
thơ để bày tỏ tình cảnh nỗi lòng mình. Ít lâu sau, nàng quá muộn phiền
qua đời khi mới mười tám xuân xanh. Người vợ cả đã đem đốt hết những bài thơ
của nàng, tuy nhiên một số bài vẫn còn sót lại. Người ta thấy thơ hay nên chép
lại và đặt tựa là “Phần dư tập”.
Nguyễn Du khi đọc được những bài thơ của nàng Tiểu Thanh đã rất đồng cảm,
thương thay cho một thân phận tài hoa nhưng bạc mệnh. Thương cho nàng Tiểu
Thanh, tác giả cũng nghĩ đến chính bản thân mình, và từ đó ông cũng nhận ra cuộc
đời là đầy rẫy những bất công, khổ ải.
Ngay từ mở đầu bài thơ, không gian nơi nàng Tiểu Thanh từng sống đã gợi lên một
nỗi buồn xa vắng:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Đọc lên hai câu thơ, người đọc hình dung đến một khung cảnh hoang vắng nào đó
của miền sơn ớc. đó, chỉ duy nhất một người con gái lẻ loi ngồi bên lầu.
Tây Hồ cảnh tuy đẹp nhưng lại hóa hoang vắng, quạnh quẽ, đìu hiu. Một gái
tuổi còn xuân xanh phải chôn vùi một nơi heo hút thế này sao không buồn
cho được.
Những nỗi lòng buồn hận ấy, nàng đã giãi bày qua những vần thơ bi ai, tha thiết.
Hình ảnh “thổn thức” bên song cửa sổ với những mảnh giấy tàn còn gợi nhắc về
câu chuyện nàng bị người vợ cả ghen tuông đem đốt hết những vần thơ ấy. Để bây
giờ chỉ còn lại những “mảnh giấy tàn” nhưng đủ sức làm cho người ta phải cảm
thấy thương tâm bởi những “thổn thức” đau đáu không biết giãi bày với một ai của
nàng Tiểu Thanh. lẽ, số phận của nàng cũng số phận chung của rất nhiều
gái trong hội phong kiến ngày đó. Cuộc đời của những người tài giỏi, tài hoa
thường hay bị vùi dập và chà đạp đến thương tâm.
Những tâm tư đau khổ của nàng Tiểu Thanh dường như vẫn còn sức ám ảnh rất lớn,
cho nên Nguyễn Du mới cảm giác như mảnh giấy tàn ấy vẫn còn vương vấn
linh hồn của người con gái bạc mệnh ấy:
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Tác giả dùng từ “son phấn” để chỉ sắc đẹp của người con gái. Thế nhưng cái đẹp,
cái tài ấy lại bị vùi dập không thương tiếc. Mảnh giấy tàn như vẫn còn vương vấn
những u buồn uất hận bởi nàng phải chết khi còn quá trẻ. Chính vì phải chết khi
còn quá trẻ cho nên người đời không khỏi xót thương cho thân phận tài hoa bạc
mệnh của nàng. Không những thế, những trang thơ mà nàng viết để bày tỏ nỗi lòng
cũng bị người ta đốt cháy hết. Chỉ còn lại một phần những mảnh giấy tàn còn
lưu lại đến ngày nay. thể thấy rằng, hội phong kiến không chỉ cướp đi tuổi
xanh của người con gái mà còn muốn vùi dập, bóp chết một tài năng.
Đến đây, nhà thơ Nguyễn Du không khỏi thương xót cho số phận nàng Tiểu
Thanh:
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang
Một sự tuyệt vọng, bi ai oán và u sầu xoáy tận tâm can! Nỗi oan trái của người con
gái đem hỏi trời cao, trời cao không thấu, trách kẻ bạc tình, người nào hay. Nỗi
oan trái ấy dường như đã trở thành cái “án” của những người tài hoa. Tài hoa
nhưng bạc mệnh. Hiểu điều đó, Nguyễn Du thốt câu hỏi để rồi nhận ra thực tế
đầy chua xót. Đó cái số phận sinh ra đã thế hay chính cái hội phong kiến đã
đẩy họ vào bước đường cùng oan trái như vậy? Câu trả lời có lẽ sẽ khiến người đọc
phải day dứt và ám ảnh mãi không thôi.
hai câu kết, từ sự bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh, tác giả đã vận vào số phận
của mình để lại cho người đọc một câu hỏi chất vấn về số phận của những con
người tài hoa:
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Một câu hỏi chứa đựng rất nhiều xót xa, ngậm ngùi. Ba trăm năm sau những
vần thơ của nàng Tiểu Thanh vẫn còn khiến người đời thương cảm. Thế nhưng liệu
rằng ba trăm năm sau “ai khóc Tố Như chăng?”. Câu hỏi như xoáy vào tâm can
của người đọc. Người đời còn nhớ hay sẽ quên những số phận tài hoa bạc mệnh
thương tâm như thế này? Vào thời điểm đó, thực sự đây một câu hỏi hãy còn để
ngỏ. Thực tế đã chứng minh cho đến ngày nay, đã qua ba thế kỉ chúng ta vẫn
còn nhớ nhắc đến tài năng Nguyễn Du. Điều này đã cho thấy, trải qua bao
nhiêu thời gian thì tài năng những giá trị của những người kiệt xuất vẫn luôn
được trân trọng và cảm thông.
“Độc tiểu thanh ký” một bài thơ để lại những thương cảm trong lòng người đọc
về số phận bất hạnh của những con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Đồng thời qua
đây, tác giả cũng muốn nói lên thực trạng hội phong kiến tàn ác đã đẩy con
người vào những bước đường cùng, chà đạp lên nhân phẩm hòng bóp chết
những tài năng của họ.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 12
Đề tài người phụ nữ ít được các nhà thơ trung đại đề cập đến, ấy vậy mà đại thi hào
Nguyễn Du lại viết về người phụ nữ với tất cả tấm lòng trân trọng, thương yêu.
Bên cạnh kiệt tác thơ Nôm "Truyện Kiều" viết về người phụ nữ trong xã hội phong
kiến, thì bài thơ ọc Tiểu Thanh kí" một sáng tác xuất sắc bằng chữ Hán viết
về đề tài này.
Nguyễn Du sáng tác bài thơ trong một lần đi sứ sang Trung Quốc cho triều Nguyễn.
Bài thơ tên chữ Hán "Đọc Tiểu Thanh kí" đã gợi ra nhiều cách hiểu. ý kiến
cho rằng đó Nguyễn Du đọc tập truyện viết về cuộc đời nàng Tiểu Thanh, cảm
thương cho sphận người phụ nữ tài hoa bạc mệnh viết bài thơ này. Lại ý
kiến khác cho Nguyễn Du đã được đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh để lại
ngưỡng mộ, xót thương cho cuộc đời nàng. hiểu theo cách nào thì ta đều thấy
trên hết đó là tấm lòng thấm đẫm tình đời, tình người của nhà thơ.
Tiểu Thanh một gái thông minh, xinh đẹp, tài thơ phú, sống vào đầu thời
Minh Trung Quốc, cách Nguyễn Du 300 năm. Nàng bị gia đình ép gả làm vợ lẽ
cho một nhà quyền quý. Do vợ cả ghen ghét, đố kị nàng bị đẩy ra sống riêng
Sơn, cạnh vườn hoa Tây Hồ. Hằng ngày nàng chỉ còn biết làm bạn với thơ, rồi lâm
bệnh chết trong đơn khi mới 18 tuổi. Số thơ văn nàng để lại bị vợ cả đốt
gần hết, chỉ còn sót lại một số bài sau này người ta sưu tầm lại gọi "phần
dư".
Cảm hứng xuyên suốt bài thơ là tấm lòng đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du với số
phận nàng Tiểu Thanh. Cũng từ sự đồng cảm sâu sắc đó, ông nhận ra những bất
công ngang trái của cuộc đời thương người, thương mình nhiều hơn. Đến với
bài thơ, đầu tiên ta được nhà thơ dẫn dắt đến không gian đầy ấn tượng, nơi khi xưa
nàng Tiểu Thanh từng sống:
"Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư"
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Chỉ một chữ "tẫn" sức gợi, sức ám ảnh rất lớn với người đọc. Phần dịch thơ
dịch chưa thoát hết ý nghĩa của chữ "tẫn" này. Nghĩa của bị hủy diệt, bị tàn
phá, chứ đâu đơn giản "hóa hoang". Chỉ một chữ "tẫn" gợi ra sự đối lập ghê
gớm giữa quá khứ hiện tại. Quá khứ Tây Hồ cảnh đẹp, non nước hữu tình thì
nay chỉ còn một bãi hoang xác, tiêu điều. Câu thơ nghe xót xa làm sao!
Người đọc thể tưởng tượng khi xưa nàng Tiểu Thanh còn sống thì nơi đây
thắng cảnh đắm lòng người, nay người đẹp không còn, cảnh đẹp cũng tiêu tan.
Đứng trước quang cảnh ấy, nhà thơ Nguyễn Du bỗng trào dâng niềm ngậm ngùi,
lại càng xót xa hơn khi đứng bên song cửa sổ với tập sách của nàng. "Độc điếu" chỉ
sự độc, lẻ bóng của nhà thơ khi đã vượt qua thời gian, không gian trở về quá
khứ để thổn thức khóc thương nàng Tiểu Thanh. Vạn vật đều đổi thay theo thời
gian, giữa cuộc đời dâu bể tên tuổi một người con gái tài sắc nhưng bất hạnh vào
đầu thời Minh lẽ cũng dần bị lãng quên theo năm tháng. Câu thơ như tiếng thở
dài đầy chua xót của Nguyễn Du trước kiếp hồng nhan bạc mệnh.
Đến hai câu thực là những hình ảnh đầy nh biểu trưng:
"Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư"
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Nói đến "son phấn" "văn chương", ta liên tưởng ngay đến nhan sắc tài năng
của nàng Tiểu Thanh. Nhan sắc không tội tình nhưng vẫn bị ghen ghét, tài
năng không tội cũng bị vùi dập không thương tiếc. Hai câu thơ toát lên sự
thương xót của nhà thơ cho tài năng nhan sắc của nàng Tiểu Thanh. Nàng phải
chết khi tuổi còn quá trẻ, sáng tác của nàng bị vợ cả tiêu hủy gần hết chỉ còn "phần
dư". Dù sống cách nàng 300 năm, nhưng Nguyễn Du bằng tấm lòng thương cảm có
thể thấu hiểu những bất công nàng phải chịu. Câu thơ cũng thể hiện quan niệm
"tài mệnh tương đố" của Nguyễn Du. Trong sáng tác của ông, ta thường bắt gặp
những phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng lại gặp nhiều ngang trái, éo le như nàng Đạm
Tiên, nàng Kiều. Bởi vậy Nguyễn Du cũng đúc kết thành những câu thơ mang tính
khái quát cao:
"Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Hay:
"Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?"
(Văn chiêu hồn - Nguyễn Du)
Điểm mới mẻ của bài thơ "Đọc Tiểu Thanh kí" nhà thơ đã mang đến tiếng nói
nhân đạo độc đáo. Điều đó thể hiện ở hai câu 5 và 6 của bài thơ:
"Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư"
(Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Nguyễn Du tự coi mình cùng hội cùng thuyền với những người tài hoa bạc mệnh
thốt lên đầy chua xót. Câu hỏi tại sao những con người tài hoa hay gặp nhiều
trắc trở, truân chuyên dường như không lời đáp, phải chăng những người tài hoa
luôn tự mang trong mình cái "án" bạc mệnh? Trong kiệt tác "Truyện Kiều", nhà
thơ từng thốt lên "Tài tình chi lắm cho trời đất ghen", rồi lên "Trời xanh quen thói
hồng đánh ghen". Nếu được sống trong một hội khác, thì những người tài
sắc vẹn toàn như nàng Tiểu Thanh lẽ đã không phải chịu nhiều bất công, không
bị vùi dập như vậy. Câu thơ thể hiện khát khao của nguyễn Du về những người
tài có tình sẽ được trân trọng.
Khép lại bài thơ là tâm trạng đầy ngậm ngùi, chua xót của Nguyễn Du :
"Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)
Tiểu Thanh đã xa cách cuộc đời được 300 năm, nhưng vẫn còn người thấu hiểu
đồng cảm với nàng. Nthơ đã tự hỏi lòng mình, liệu sau 300 năm nữa còn
ai hiểu được ông hay không? Một câu hỏi đầy sức ám ảnh như xoáy vào tâm can
người đọc khi nghĩ đến số phận của những người tài hoa sau một thời gian dài sẽ ra
sao? Khép lại bài thơ niềm mong mỏi được tri kỉ giữa cuộc đời này của đại
thi hào. Thực tế thì cho đến ngày nay, đã qua ba thế kỉ nhưng chúng ta vẫn luôn
nhớ đến tên tuổi Nguyễn Du cùng những kiệt tác của ông. Đó minh chứng cho
thấy dù qua bao thời gian thì tài năng giá trị của những người tài hoa vẫn
luôn được trân trọng, yêu mến. Chính điều này làm nên giá trị nhân văn cao cả cho
bài thơ.
Với tám câu thơ chữ Hán thất ngôn bát cú, ngôn từ trang trọng, tinh tế, Nguyễn Du
đã lên án, tố cáo mạnh mẽ sự bất công của hội phong kiến với những phụ nữ tài
sắc vẹn toàn. Bài thơ mang đến cho người đọc sự đồng cảm xót xa trước số phận
hồng nhan bạc mệnh của người phụ nữ. Từ đó, mỗi người chúng ta biết trân trọng,
yêu mến, ý thức giữ gìn trước những giá trị tài năng, sáng tạo của người xưa
nay.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 13
Cái đẹp và cái tài từ rất lâu vẫn luôn là chuẩn mực sống và niềm khao khát của con
người trong hội. Tuy nhiên với Nguyễn Du, ông luôn một nỗi thấu cảm
thương xót cho những kiếp người hồng nhan bạc mệnh mọi thời đại. Điều này
được thể hiện rất qua tác phẩm Độc Tiểu Thanh viết về nàng Tiểu Thanh tài
sắc vẹn toàn nhưng lại có cuộc sống đau khổ và không trọn vẹn.
Nguyễn Du một đại thi hào của dân tộc Việt Nam thế kỷ XVIII nửa đầu thế
kỷ XIX. Nguyễn Du (1765 1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Ông
sinh ra lớn lên trong một gia đình truyền thống khoa bảng. Gia đình nơi
ảnh hưởng rất lớn đến phong cách sáng tác của Nguyễn Du.
Nguyễn Du điều kiện tiếp nhận truyền thống văn hóa quý báu của quê hương,
gia đình nhiều vùng văn hóa khác nhau thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật.
Ông sống trong thời đại hội phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng
khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.
Nguyễn Du đã trực tiếp sống, chứng kiến trải qua một thời kỳ lịch sử đầy biến
động của dân tộc. Điều đó đã được ghi lại trong các sáng tác của ông, đặc biệt
tấm lòng nhân đạo. Không chỉ nổi tiếng với “Truyện Kiều” ông còn nhà thơ
sáng tác bằng chữ Hán điêu luyện với những tác phẩm nổi bật đặc sắc.
Khi phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, ta thấy đây một trong những tác phẩm được
nhiều người biết đến của Nguyễn Du. Được lấy cảm hứng từ Phần (phần bị đốt
còn sót lại), Độc Tiểu Thanh Kí đã khắc họa nét về cuộc đời của nàng Tiểu
Thanh tài sắc nhưng lại làm vợ lẽ người khác sống một cuộc sống đau
buồn, đầy những nỗi uất ức. Bản thân cuộc đời Tiểu Thanh đã làm cho Nguyễn Du
nảy sinh mối đồng cảm hạn trước số phận nghiệt ngã tiếng lòng ấy được bật
lên thành lời thơ.
Thân phận của nàng Tiểu Thanh giỏi giang tài sắc nhưng lại một số phận nhiều
khổ đau cùng với những suy ngẫm sâu sắc của Nguyễn Du những nét chính khi
phân tích Độc Tiểu Thanh Kí. Để thể phân tích Độc Tiểu Thanh một cách
sâu sắc, người đọc cần đi theo mạch xúc cảm của toàn bài, theo trình tự của thể thơ
thất ngôn bát cú đường luật.
Cảm nhận hai câu đề khi phân tích “Độc Tiểu Thanh Kí”. Mở đầu bài thơ tiếng
thở dài của tác giả với những biến thiên dâu bể của cuộc đời:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành k
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
“Hoa uyển” trong câu đầu vườn hoa, tượng trưng cho quá khứ quãng thời
gian thanh xuân tươi đẹp. “Tẫn thành khư” tất cả hóa thành bãi hoang tàn, sự
biến hóa của thời gian trước dòng đời tấp nập. Khi phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, ta
thấy ngay câu đầu tiên, Nguyễn Du đã mượn hình ảnh của không gian nơi Tiểu
Thanh từng sống để nói lên cảm nhận của chính ông về những biến đổi của thời
gian.
Tây Hnơi cảnh đẹp hữu tình nhưng lại hóa hoang vắng, heo hút một
người con gái đã mãi mãi chôn vùi tuổi thanh xuân của mình đây. Sự biến thiên
dâu bể của cuộc đời không sao thể đoán định được, cảnh đẹp ngày xưa nay chỉ
còn phế tích, chỉ còn lại dấu ấn về một thời đã qua. Cảnh vẫn còn đây
người xưa giờ nơi nào. Tâm tư ấy khiến ta nhớ đến hai câu thơ của bà huyện Thanh
Quan
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
(Thăng Long thành hoài cổ Bà huyện Thanh Quan)
Mọi chuyện ngỡ cứ như vừa xảy ra hôm qua. Đau xót thay mọi chuyện chỉ còn
quá khứ. Cảnh vẫn còn đây nhưng người xưa giờ nơi nào. Phân tích Độc Tiểu
Thanh Kí, người đọc dễ dàng nhận thấy từ “độc” nghĩa duy nhất, đơn độc. Còn
cụm “Nhất chỉ thư” một quyển sách, một tập giấy còn sót lại. Trong không gian
điêu tàn, Nguyễn Du xuất hiện với dáng vẻ thẩn thờ đồng thời cũng thể hiện sự
lắng sâu trầm tư trong những nét cô đơn.
Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc những tập sách về cuộc đời nàng Tiểu Thanh tội
nghiệp. Một mình đối diện trước sự bất lực của nàng Tiểu Thanh về số phận của
chính mình. Phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, người đọc nhận ra sự tồn tại của con gái
tài sắc một thời chỉ được biết đến qua một tập sách, phần còn sót lại khiến ông
không thể không bật lên những nỗi xót thương cho nàng.
Xưa Tiểu Thanh luôn độc đến lúc mất, nay Nguyễn Du cũng viếng nàng một
mình bên khung cửa thể hiện sự thông hiểu sâu sắc của Nguyễn Du với nàng Tiểu
Thanh. Câu thơ sự đồng cảm giữa hai tâm hồn đơn. Thời gian không gian
không thể ngăn cách được tấm lòng “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
Hai câu tiếp theo đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thương ngậm ngùi. Đó sự
tiếc thương cho số phận bi kịch của nàng Tiểu Thanh. Sắc đẹp tài năng đến thế
nhưng lại chết trong cô độc, điều đó khiến người đời cảm thấy xót xa.
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
“Văn chương” và “chi phấn” đều là những hình ảnh ẩn dụ gợi nhiều suy nghĩ. “Son
phấn hữu thần liên tử hậu” son phấn thần chắc phải xót xa về những việc sau
khi chết hay chính son phấn thần sau khi chết khiến người ta vẫn còn thương
tiếc. “Văn chương mệnh lụy phần dư”- tập thơ của nàng Tiểu Thanh nói riêng
văn chương nói chung, văn chương không số mệnh cũng bị đốt dở hay
văn chương không có số mệnh nhưng người ta vẫn bận lòng về những gì còn sót lại.
Người đọc nhận ra rằng tác giả thể mất đi hay bị lãng quên nhưng sức sống của
tác phẩm vẫn còn mãi trong lòng độc giả. “Chi phấn son phấn”, tượng trưng
cho nhan sắc dung mạo của người con gái. Hình ảnh “son phấn”, “văn chương”
được gắn với những từ ngữ chỉ cảm xúc, số phận của con người như “hận”, “vô
mệnh” tạo nên sự độc đáo trong bài thơ. Làm hiện thái độ thương xót son
phấn hay văn chương nếu hồn cũng sẽ cùng uất hận, tiếc thương cho nỗi uất
hận và khổ tâm của Tiểu Thanh.
ghen tuông của người vợ cả, Tiểu Thanh phải sống một cuộc đời thương tâm,
sống cô lập và lấy văn chương nói lên nỗi lòng của chính mình để rồi ra đi ở cái độ
tuổi rực rỡ nhất của một người con gái. “Chi phấn” “văn chương” đều giống
nhau hai điểm đều số phận thảm thương bị vùi dập đốt dở nhưng lại
mang sức sống trường tồn. Ở đây đồng thời cũng là hình ảnh tượng trưng cho nàng
Tiểu Thanh.
Tuy nàng không còn nhưng nhan sắc và tài năng của nàng vẫn luôn được người đời
ca tụng thương tiếc “Thác thể phách còn tinh anh”. Từ số phận của Tiểu
Thanh, Nguyễn Du đã khái quát nên được cái nhìn tổng quan về những con người
trong xã hội phong kiến:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Câu thơ vang lên mang nhiều thanh trắc tạo cảm giác trầm lắng xuống mỗi câu thơ
như nỗi uất ức không thể thốt lên thành lời được. “Ckim hận sự” những nỗi
hận từ xưa đến nay. Những nỗi hận không chỉ Tiểu Thanh còn lời chung của
vô vàn những số phận tài hoa bạc mệnh khác.
“Thiên nan vấn” khó hỏi trời. Câu nói chung của những con người tài hoa ấy
khó để hỏi trời hay do chính trời cao cũng không lời giải đáp. Lời uất hận của
Tiểu Thanh cũng chính lời bộc bạch, tâm sự của nhà thơ. Phân tích Độc Tiểu
Thanh Kí, người đọc nhận thấy Nguyễn Du khóc cho Tiểu Thanh cũng chính
khóc thương cho chính số phận cay đắng, đau khổ của chính mình.
Thương thay cho những tấm hồng nhan bị người đời ghẻ lạnh, những con người đã
hiểu rất về giá trị của bản thân nhưng lại phải bất lực trước sự chông gai trên
đường đời. Câu thơ phản ánh cho người đọc thấy sự khắc nghiệt của hội đối
với những người tài hoa mong muốn khát khao hạnh phúc của họ. Như những
câu thơ đau đớn mà Nguyễn Du từng viết trong Truyện Kiều
“Lạ gì bỉ sắc thư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
(Truyện Kiều Nguyễn Du)
Câu thơ cũng chính lời tâm sự của nhà thơ. Nguyễn Du tự cảm thấy mình
người cùng hội cùng thuyền với nàng Tiểu Thanh. Khóc cho Tiểu Thanh cũng
chính khóc cho số phận mình, cho số phận cay đắng của những người tài hoa
mệnh bạc. Khép lại bài thơ là những suy về thời thế, là câu hỏi cho những mệnh
tài hoa:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
(Không biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
“Tam bách” danh từ phiếm chỉ số nhiều, con số ước lệ về một quãng thời gian
rất dài. Ngược lại với “tam bách”, “hà nhân” lại từ phiếm chỉ số ít. Ghép lại cả
hai câu thơ là một câu hỏi tu từ thể hiện nỗi xót xa, ngậm ngùi khi hỏi về tương lai.
Ba trăm năm trước những vần thơ của nàng Tiểu Thanh vẫn còn khiến người đời
thương cảm.
Ông vẫn có thể khóc cho những dòng thơ về nàng Tiểu Thanh một cách chân thành
từ trái tim đồng điệu. Tiểu Thanh còn ông tìm đến làm tri kỉ để giải đi nỗi oán
giận bằng giọt nước mắt thấu hiểu. Liệu rằng ba trăm sau sẽ ai khóc cho những
dòng thơ về cuộc đời ông như hôm nay ông đã khóc cho Tiểu Thanh? Câu hỏi của
Nguyễn Du xoáy sâu vào tâm hồn của người đọc về sự lẻ loi trước dòng đời xô bồ,
phũ phàng.
Cuộc đời của một con người tài hoa, “có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng trải
suốt nghìn đời” luôn đối mặt với sự lẻ loi. Ông luôn khao khát được kiếm cho
mình một tấm tri kỉ giữa dòng đời vạn biến. Như nhạc Thành An đã từng
chung nỗi niềm cô đơn, thể hiện rõ sự xa lạ giữa xã hội, con người
“Triệu người quen có mấy người thân
Khi lìa đời có mấy người đưa”
Tác giả đã vận dụng thành công thể thơ thất ngôn bát kết hợp với việc sử dụng
chữ Hán trang trọng, giản dị. Phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, ta thấy bài thơ đã thể
hiện nét những cảm xúc cùng những suy trăn trở của Nguyễn Du về số phận
bất hạnh của người phụ nữ có tài năng văn chương trong xã hội phong kiến.
Không chỉ nói về số phận của nàng Tiểu Thanh ta còn bắt gặp nỗi niềm ấy
trong những sáng tác khác của Nguyễn Du. Đó còn Thúy Kiều, Đạm Tiên,
Cầm,.. Điểm chung giữa họ đều những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng đều
rơi vào hoàn cảnh ngang trái. Nguyễn Du không ngợi ca tài sắc của họ mà còn cảm
thông sâu sắc cho những số phận bất hạnh ấy Điều đó cũng nói lên một phương
diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du nỗi xót xa cho những
giá trị tinh thần bị chà đạp..
Độc Tiểu Thanh đã để lại trong lòng người đọc những thương xót về số phận
của nàng Tiểu Thanh sắc đẹp lẫn tài năng nhưng bất hạnh. Đồng thời Nguyễn
Du cũng lên án về hội phong kiến tàn ác chà đạp lên những người tài nỗi
thương xót sâu sắc của Nguyễn Du đối với số phận tài hoa bạc mệnh. Tiếng lòng
ấy của ông vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm mỗi người về sự đau xót bất
lực của con người trước trò đùa của con tạo xoay vần. Đến mãi đến ngày hôm nay,
vượt qua mọi quy luật băng hoại của thời gian, những trang viết của Nguyễn Du
vẫn làm rung động lòng người
“Tiếng thơ ai vọng đất trời
Nghe như non nước vọng vào nghìn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du Tố Hữu)
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 14
Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, ông được xem một cây đại thụ trong nền văn
học Việt Nam. Ông nhà thơ chuyên hướng ngòi bút về cuộc đời số phận của
con người "tài hoa, bạc mệnh" đặc biệt những người phụ nữ như: nàng Thúy
Kiều trong Truyện Kiều, nàng Ca Nhi trong Long thành cầm giả ca, nàng Tiểu
Thanh trong độc Tiểu Thanh kí,... Những Tác phẩm thơ ca của ông đã được người
đời ví như một Kim Tự Tháp vĩ đại đứng sừng sừng giữa một vùng sa mạc khô cằn
rộng lớn. Những điều ẩn kì diệu của công trình đại ấy đến giờ vẫn chưa
được khám phá hết.
Bài thơ Độc Tiểu Thanh một bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán, được in trong
Thanh Hiên thi tập, thể hiện lòng nhân ái và sự đồng cảm của nhà thơ về nàng Tiểu
Thanh tài sắc nhưng phận bạc.
Tiểu Thanh - một gái tài sắc vẹn toàn nhưng chỉ mới 16 tuổi nàng đã phải nếm
trải những sóng gió, bất hạnh của cuộc đời. Cuối cùng nàng cũng vùi chôn trong
nấm mồ khi đang độ xuân xanh tuổi trẻ. Phần tinh hoa để lại cho đời cũng tiêu tan
chỉ cái lòng ghen tuông ích kỷ, tàn ác của người vợ cả. Sự biến đổi đau thương
ấy của cuộc đời nàng như được hiện hữu trong cảnh vật:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chí thư.
Vườn hoa cạnh Tây Hồ khi xưa một địa danh nổi tiếng với những cảnh đẹp
Trung Quốc. "hoa uyển" " khư " là hai khái niệm đối lập nhau cùng với từ "tẫn"
như muốn nói đến cảnh đẹp Tây Hồ khi xưa đã biến mất, trở thành gò hoang lụi tàn.
Núi Sơn cạnh Tây Hồ nơi đã giam giữ nàng Tiểu Thanh khi xưa đẹp thế
giờ đã trở nên thanh vắng, lạnh lẽo. Chỉ còn lại tấm mồ của người con gái bạc
mệnh Tiểu Thanh và một tờ giấy tàn "nhất chỉ thư"- chính tập sách duy nhất còn
sót của Tiểu Thanh - Tiểu Thanh ký.
Câu thơ chính tiếng thở dài của tác giả trước lẽ "biến thiên dâu bể" của cuộc đời
niềm thổn thức của một tấm lòng nhân đạo lớn: vạn vật đều phải thay đổi theo
thời gian, còn Tiểu Thanh cũng vậy, dần bị dòng thời gian vùi lấp trong quên lãng.
"độc điếu" - chỉ sự đơn, đơn độc khi Nguyễn Du một mình vượt qua cả không
gian, thời gian trở về quá khứ khóc thương cho số phận của nàng Tiểu Thanh thông
qua "nhất chỉ thư".
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
"Son phấn", "văn chương" những hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sắc đẹp tài
năng của nàng Tiểu Thanh. Nguyễn Du đã mượn hình ảnh của hai vật này để nói
lên sự ganh ghét, đố kị của người vợ cả, người đời. Nhắc lại tấm bi kịch của cuộc
đời nàng một cuộc đời đơn độc, lẻ loi. Nhà thơ đã thổi hồn vào son phấn để
chúng cất lên tiếng nói thương cảm, xót xa cho số phận bất hạnh, son phấn "có
thần" chắc chắn phải xót xa vì những việc sau khi chết.
Cũng Như những đóa hoa đã tàn nhưng hương hoa vẫn còn đọng lại, tỏa hương
đâu đó trong không gian, người đời sẽ mãi thương xót cho những phận nữ nhi "
hồng nhan bạc mệnh". Còn "văn chương"- chỉ một vật tri, giác, không
số mệnh cũng bị đốt dở bởi sự mỏng manh, chóng tàn của - "lụy phần
dư",ấy vậy nó như có linh hồn, cố gắng chống chọi lại sự vùi dập của số phận.
bị thiêu đốt, nhưng những còn sót lại đã khiến người đời cảm thấy sót xa.
Ông đã lên tiếng thương cảm cho số phận của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn
nhưng không được trân trọng trong hội xưa đồng thời cũng thay họ nói lên
những nỗi uất hận ngàn đời.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư.
"Cổ kim hận'' là những nỗi oan khuất mà những kẻ tài hoa từ xưa đến nay vẫn phải
gánh chịu cay lắm, xót lắm, đành kêu trời chứ biết làm thế nào bây giờ? "Oan
này còn một kêu trời không xa." - Truyện Kiều. Luôn những câu hỏi đặt ra
nhưng mãi không ai câu trả lời, huống hồ đó nỗi oan của những con người
tài sắc vẹn toàn như Tiểu Thanh, có hỏi trời trời không tỏ, có hỏi đất đất không hay.
Câu thơ như tiếng kêu thương rung động đất, trời. Ông tự xem mình người cùng
một hội với Tiểu Thanh - những con người tài hoa bạc mệnh đã vướng phải cái án
"phong vận" lạ. Cuộc đời của Tiểu Thanh đã soi sáng tâm hồn của Nguyễn Du,
ông thấm thía nỗi đau của khách văn chương đa tài đa nạn. "ngã tự cư" Nguyễn
Du với nỗi đau biết mình không tránh khỏi cái sự nghiệt ngã của người cùng hội
cùng thuyền giữa biển đời sóng gió. Đau đớn tận đáy lòng, ông không khỏi kêu lên
tiếng than của một trái tim đầy ắp nỗi sầu nhân thế
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Nguyễn Du một bậc tài tử trong đời, Tiểu thanh lại một khách hồng nhan.
Mặc cách nhau đến 300 năm nhưng ông vẫn cảm thấy giữa mình người con
gái ấy có một nét tương đồng. "Tài tử gian nan, hồng nhan bạc mệnh.", Tiểu Thanh
ra đi để lại một " nhất chỉ thư", một mảnh giấy tàn thế 300 năm sau còn
Nguyễn Du thương xót cho số phận nàng. Câu hỏi tu từ được Nguyễn Du sử dụng
với hàm ý như muốn đang thắc mắc rằng liệu 300 năm sau ai còn nhớ đến ông
như khi ông nhớ đến nàng Tiểu Thanh.
Ông băn khoăn, mong đợi người đời sau cũng đồng cảm, thương cảm đến ông. Hai
câu thơ trên chính tâm trạng đơn của ông nơi "đất khách quê người" trong
những tháng ngày đi sứ, ông càng cảm mình thấy vơ, không một kẻ tri kỉ, một
mình ôm mối hận của kẻ tài hoa bạc mệnh: "Người đời ai khóc Tố Như chăng?".
Ngày 1/11/1965, trong dịp lễ kỉ niệm ngày sinh của Nguyễn Du, nhà thơ Tố Hữu
đã có dịp đi qua vùng quê của ông và đã viết lên dòng thơ:
"Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân
Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều..."
(Kính gửi cụ Nguyễn Du Tố Hữu)
"Đọc Tiểu Thanh ký" là bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú. Nó phản ánh
ràng về một hội đầy rẫy sự bất công tàn độc. Đồng thời, Nguyễn Du cũng đã
khéo léo mượn hình ảnh của nàng Tiểu Thanh để bày tỏ những nỗi niềm trong tận
đáy lòng của ông về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài văn chương trong
hội phong kiến vướng phải. Tất cả điều đó đã nói lên một phương diện quan trọng
trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà
đạp.
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 15
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu”
Mấy trăm năm đã trôi qua nhưng lẽ những vần thơ Nguyễn Du vẫn mãi trường
tồn trong lòng người đọc. Bởi lẽ nhà đại thi hào viết thơ “ như có máu nhỏ trên đầu
ngọn bút , nước mắt thấm qua trang giấy”. Thơ ông đề cập sâu sắc đến nỗi đau từ
cổ chí kim của con người nhất người phụ nữ những “kiếp hồng nhan” hay
những kẻ tài hoa bạc mệnh. “Độc Tiểu Thanh kí” một trong những tác
phẩm tiêu biểu nhất cho tấm lòng thương người tiếc tài của đại thi hào Nguyễn Du.
Chính cái tâm sang ngời ấy đã khiến tác phẩm của ông sống mãi trong suốt trường
lịch sử hay còn bởi con mắt tinh tường trông 6 cõi như nhà văn, nhà triết học
Pháp Didorot nói: “Nghệ thuật chỗ tìm ra cái phi thường trong cái bình thường
và cái bình thường trong cái phi thường”.
Giữa cuộc sống thường nhật đầy rẫy những bộn bề, lo toan, hiếm ai thử sống
chậm lại để một lần cảm nhận về những điều phi thường trong vàn điều hết sức
bình thường ấy. “ Tìm ra điều phi thường trong cái bình thường” là một cách khám
phá, một cách nhìn sâu sắc mọi vấn đề. Nếu chỉ tìm hiểu về những thứ hào nhoáng,
hời hợt vẻ bề ngoài thì sẽ chẳng bao giờ ta thể nhận ra được vẻ đẹp tiềm ẩn
bên trong thứ vật chất phù du ấy. Nhưng từ trong cái phi thường ta phải nhận ra
được những thứ bình thường”. Đây lại một cách đánh giá bao quát , đơn giản
hóa vấn đề, phải con mắt tinh tế lắm thì ta mới dễ dàng nhận ra vẻ đẹp bình dị,
rất đỗi thân quen của đối tượng cần nhắc đến. Nhận định của Dodirot đã đưa ra một
quan điểm hoàn toàn xác đáng : Người nghệ phải cái nhìn linh hoạt, thấu
đáo, đa phương diện về một vấn đề hay đối tượng văn học”.
Mộng Liên Đường chủ nhân nói: “Nguyễn Du con mắt trông thấu sáu cõi,
tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” Thật vậy , tấm lòng Nguyễn Du luôn canh cánh lo
cho con người,ông vui với niềm vui của con người, đau cùng nỗi đau con người,
phải khóc, phải cười, phải trăn trở với con người. Thơ ông trở nặng suy , đau
đáu một nỗi niềm : Nhân tình thế thái”. Lời thơ như tiếng tri âm, đồng cảm của
những kẻ cùng chung số phận đặc biệt Tiểu Thanh trong tác phẩm “Độc Tiểu
Thanh kí” .Hai con người như hòa vào làm một để cất lên tiếng than đau đến đứt
ruột.
Trong hội phong kiến đương thời, biết bao nhiêu người phụ nữ phải sống
trong những nỗi đày đọa triền miên cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng Nguyễn Du
lại không viết về những người phụ nữ ấy chính cái tài “tìm ra điều phi thường
trong cái tầm thườngđã giúp ông vượt qua cả rào cản về mặt thời gian( cách xa
hơn 300 năm) không gian địa trắc trở( Trung Quốc) để tới tri âm với nàng
Tiểu Thanh- người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng làm lẽ nên bị vợ cả ghen, đày
ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ.
Buồn rầu, nàng sinh bệnh chết và để lại tập thơ. Nhưng vợ cả vẫn ghen nên đốt tập
thơ,giờ chỉ còn lại một số bài thơ gọi là “phần dư”.
Câu thơ đầu tiên cất lên là lời than cho cái đẹp bị dập vùi, tàn phá phũ phàng:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư”
Cảm xúc trước sự đổi thay của cuộc đời cảm xúc mang tính nhân văn khá phổ
biến trong thơ trung đại. Nguyễn Trãi thăm núi Dục Thúy cảm khái trước cảnh
“rêu phủ nét chữ người xưa”.Bà Huyện Thanh Quan ngậm ngùi trước cảnh “dấu
xưa xe ngựa” giờ chỉ còn là “ hồn thu thảo”, “ nền cũ lâu đài” gợi nhớ một triều đại
rực rỡ đã đi qua. Câu thơ của Nguyễn Du gợi lên lẽ đời dâu bể nhưng mối
thương tâm của thi nhân lại đặt nơi cái đẹp bị tàn phá phũ phàng.Hình ảnh thơ đối
lập: cảnh đẹp >< hoang gợi nghịch cảnh éo le. Từ “tẫn” trong nguyên bản chữ
Hán “tẫn thành khư” gợi sự đổi thay mãnh liệt không còn dấu vết nào. Dường như
phải một con mắt tinh tế lắm mới thể nhận ra đống đổ nát nơi hoang xưa
đã từng một địa danh rất đẹp. Thời gian tàn phá lên mọi cảnh vật , phủ mờ đi tất
cả. Đang trong dòng hoài niệm bỗng tác giả sực tỉnh trở về thực tại, với nghịch
cảnh trớ trêu, nghịch cảnh giữa qúa khứ hiện tại, giữa vẻ đẹp huy hoàng/sự
hoang vu cô quạnh.
Nhớ đến Tây Hồ nhớ đến nàng Tiểu Thanh- người con gái tài hoa bạc mệnh.
Nguyễn Du xót xa tiếc nuối, ai oán trước số phận nghiệt ngã của Tiểu Thanh .Cái
chết của nàng bằng chứng xót xa cho một kiếp hồng nhan, từ đó càng nuối tiếc
trước cảnh người đẹp đều chịu chung số phận. Nếu như trong Truyện Kiều,
Thúy Kiều tri ngộ với số phận Đạm Tiên qua lời kể của Vương Quan thì Độc
Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du thấu hiểu nỗi oan khiên của Tiểu Thanh qua mảnh
giấy tàn” trước song cửa sổ:
“Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
Cuộc tri ngộ giữa Thúy Kiều Đạm Tiên còn sự chứng kiến của chị em Kiều ,
còn viếng thăm của Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh chỉ qua một tập sách bị đốt
dở. Chữ độc” chữ “nhất”trong câu thơ chữ Hán cũng để nói một lòng đau
tìm gặp một hồn đau.Ông đã một mình đối diện với số đời của Tiểu Thanh. Đây
phải chăng là sự đồng cảm giữa “tài tử và giai nhân”,giữa “xưa và nay”.
Người con gái với số phận nghiệt ngã là thế nhưng với ngòi bút nhân đạo của mình,
ông đã khai phá được những vẻ đẹp tài năng tâm hồn ẩn sâu bên trong con
người nàng. Đời Tiểu Thanh điển hình của hai nỗi oan lớn: hồng nhan bạc phận,
tài mệnh tương đố.Người đẹp như nàng bất hạnh, chết yểu. tài thơ văn như
nàng mà bị dập vùi. Di cảo của Tiểu Thanh chính là di hận:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vộ mệnh lụy phần dư”.
Nguyễn Du nhắc đến cuộc đời Tiểu Thanh bằng những ẩn dụ tượng trưng quen
thuộc , son phấn biểu tượng cho sắc đẹp, văn chương ẩn dụ cho tài năng của
Tiểu Thanh .Hai vật thể vô tri vô giác được nhân cách hóa như có “thần”,có “ hồn”.
Chính nước mắt máu của Tiểu Thanh đã tạo nên “cái thần”,”cái mệnh”của son
phấn, văn chương, hay “niềm cảm thông lạ lung của nhà đại thi hào dân tộc”(hoài
Thanh) đã tạo “thần”,cái “hồn” để để cho để nỗi hận còn vương đến muôn
đời ?Cảm xúc của Tố Như càng dồn nén thì câu thơ càng dẫn đến tính đa
nghĩa.Nếu hiểu văn chương chủ thể tự hận thì dẫn đến ch cảm: son phấncó
thần, cũng phải xót xa về những việc làm sau khi chết, văn chương không số
mệnh cũng bị đốt dở. Nếu hiểu “son phấn”, “văn chương” đối tượng thương
cảm của người đời thì cách hiểu: son phấn như thần, sau khi chết người ta
còn thương tiếc, văn chương số mệnh người ta phải bận lòng đến những
bài thơ còn sót lại. Tiểu Thanh đẹp , tài năng thế,ai mới trông qua tưởng đó
một người phụ nữ “phi thường”,hội tụ tất cả tài năng của quan niệm phong kiến,
nhưng họ cũng giống như những người phụ nữ khác đương thời,cũng phải chịu
một nỗi đau chung, rất “bình thường” cả về thể xác lẫn tinh thần.
Nhưng xét đến cùng cũng quy vào cảm hứng vĩnh hằng của Nguyễn Du trước
cái đẹp tài năng. Ta đã từng bắt gặp nỗi niềm thương cảm của Nguyễn Du
thương cho “nghiệp chướng phấn son”, nhưng đồng thời ca ngợi một trang giai
nhân tuyệt sắc: “Non bồng xa xuống một cành xinh/ Sắc đẹp màu xuân nức sáu
thành” khi viếng ca nữ đất La Thành. Trong “Độc Tiểu Thanh kí”,cái đẹp thể
tàn về than xác nhưng “chôn vẫn hận”.Cái mệnh của Tiểu Thanh thật ngắn ngủi
còn cái mệnh của văn chương thì “đốt còn vương”. Giọt nước mắt xót thương cho
số phận Tiểu Thanh đã kết tinh lại thành hạt châu trân trọng và ngợi ca cái đẹp.Nếu
đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, hội phủ nhận tài năng,trí tuệ của người phụ nữ
thì tác phẩm của Nguyễn Du lại càng được đánh giá cao bởi chiều sâu nhân đạo.
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Nguyễn Du đã từ cái hận của Tiểu Thanh nghĩ đến cái hận muôn đời, cái hận
nay cứ triền miên không bao giờ chấm dứt.Từ nỗi đau riêng của Tiểu Thành
quy thành nỗi đau từ cổ chí kim của bao kiếp người tài hoa. Nỗi oan của Tiểu
Thanh trong suy nghĩ ấy, lẽ Nguyễn Du còn liên tưởng đến bao cuộc đời như
Khuất Nguyên, Đỗ Phủ những người tài ông hằng ngưỡng mộ bao
người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bế tắc của nghìn đời “khó hỏi
trời” (thiên nan vấn). u thơ đã giúp ta hình dung cuộc sống của những nạn
nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ức của nhà thơ với thời cuộc,
đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du. Do vậy nỗi hận trở nên quá
lớn khó mà hỏi trời được: “Thiên nan vấn”. Lời thơ như lời than, oán trách ông trời
lẽ đời nghiệt ngã, trái ngang đã đẩy bao kẻ phong lưu vào kiếp đời buôn ba, đau
khổ.Nhưng có hỏi trời thì cũng chẳng mong một lời giải đáp, vì thế càng hận, càng
nhức nhối.Nỗi đau của Tiểu thanh vốn rất riêng nhưng Nguyễn Du đã tinh tế
nhận ra nỗi đau rất bình thường, rất rộng lớn- đó nỗi đau của cả một lớp người,
một thế hệ:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn”
Bên cạnh nỗi hận cái “án phong lưu”. đây lại một nghịch cảnh chua xót;
khách phong lưu phải khổ, phải mang cái án oan lạ lùng nết phong nhã. Đến
câu thơ thứ sáu thì khách thể và chủ thể đã hòa vào làm một:
“Phong vận kì oan ngã tự cư”
Câu thơ dịch chữ “ngã” thành chữ “khách” đã không đậm được yếu tố chủ thể
nhập thân vào khách thể.Nguyễn Du tự cho mình người cùng hội với Tiểu
Thanh.Đó là tình cảm chân thành đồng điệu của Nguyễn Du, cũng thể hiện tầm vóc
lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo rất đẹp rất sâu của ông. Không phải chỉ một lần
nhà thơ nói lên điều này. Ông đã từng hóa thân vào nàng Kiều để khóc thay nhân
vật, ông đã từng khẳng định một cách đầy ý thức “thuở nhỏ, ta tự cho mình
tài”. Cách trông người ngẫm đến ta ấy, trong thi văn cổ điển Việt Nam trước
ông lẽ hiếm ai thể hiện sâu sắc như vậy. Tự đặt mình “đồng hội đồng thuyền”
với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã tự phơi bày lòng mình cùng nhân thế. Tâm sự
chung của những người mắc “kỳ oan” đã được bộc bạch trực tiếp mạnh mẽ trong
tiếng nói riêng khiến người đọc cũng không khỏi ngậm ngùi. m sấy không
chỉ của riêng Nguyễn Du còn nỗi niềm của các nhà thơ thời bấy giờ. Vậy
từ giọt lệ thương người, khóc người, Nguyễn Du đã chuyển sang tự thương mình.
Hai câu thơ cuối khép lại bài thơ niềm mong ước được tri âm của Nguyễn Du
hậu thế:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du không hỏi quá khứ, hiện tại hỏi tương lai,
không hỏi trời, đất mà lại hỏi người đời.Hỏi ba trăm năm sau,thiên hạ ai khác
Tố Như?Với Tiểu Thanh, ba trăm năm sau đã một Nguyễn Du “thổn thức bên
song” với “mảnh gả giấy tàn”. Còn Nguyễn Du liệu có ai khóc, ai đau cho phận đời
trôi nổi. “Bất tri”-không biết được. Niềm tự thương kết tụ thành một lời thắc mắc
lửng giữa không trung chẳng ai thể giải đáp được thế tự đau đến cực
độ.Ông muốn tìm thấy sự tri âm mai hậu bởi lẽ khi con người ta đơn, lạc lõng
mới dễ trở n yếu đuối,vô vọng. Nhà thơ khác khoải hoài vọng tương lai: đời
sau trong muôn một còn kẻ “khóc người đời xưa”bởi thời đại Nguyễn Du khổ
đau,khát khao được giải tỏa nhưng vẫn bế tắc.Bế tắc nhưng vẫn không thôi hi
vọng.Vì vậy, nỗi niềm Tố Như gửi tới mai hậu không phải sự tuyệt vọng
niềm hi vọng được giải tỏa.
Tự thương mình một nét mới mang tinh thần nhân bản của thời đại cuối thế kỉ
thứ XVIII-đầu thế kỉ XIX-thời đại con người chưa ý thức được về bản thân, về tài
năng, nỗi đau của chính mình.Sự tự thương mình sự tự ý thức,là bằng nước mắt
thấm in bản ngã của mình để chống lại sự chi phối của quan niệm “phi ngã”,
“vô ngã”.
Bài thơ mở đầu bằng khóc người , thương người nay kết thúc bằng khóc mình,
thương mình. Khóc người,thương người sự mênh mang cao cả của trái tim nhân
đạo. Khóc mình, thương mình sự sâu sắc của tưởng nhân văn. Độc Tiểu
Thanh kí đã hội nhập được cả hai điều đó.
Chỉ với tám câu thơ nhưng người đọc đã đủ cảm nhận được một tâm hồn tha thiết
yêu cuộc sống, yêu con người của đại thi hào Nguyễn Du. Không cần đến 300 năm
sau , hậu thế vẫn luôn nhớ đến ông, nhớ đến những vần thơ tràn đầy xúc cảm như
thứ ánh sáng lấp lánh nổi bật lên kho tàng văn thơ trung đại nói riêng văn học
Việt Nam nói chung:
“Hỡi Người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng Người.”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du Tố Hữu)
Nghệ thuật chân chính không nhất thiết phải dùng những ngôn từ lệ , những
đề tài mới chưa ai khám phá mà“Nghệ thuật chỗ tìm ra cái phi thường trong cái
bình thường cái bình thường trong cái phi thường” . Muốn vậy kẻ làm thơ phải
năng khiếu, vốn văn hóa rộng rãi, tưởng thẩm cao đẹp, hơn hết một
cái tâm sáng ngời bởi lẽ “ thơ là tiếng lòng” ( Diệp Tiếp).
Qua tác phẩm văn chương, nhà thơ nhìn đời một cách cao đẹp, đầy giá trị nhân
văn.Nhờ việc hiểu rõ về những thứ “tầm thường” , “phi thường” thi sĩ có cách đánh
giá sâu sắc về cuộc đời. Từ cuộc đời Tiểu Thanh đầy rẫy những đau khổ bất công,
nhà thơ bày tỏ thái độ cảm thông, tiếc nuối , tiếc cho lẽ đời dâu bể:
“ Trải qua một cuộc bể dâu
Những gì trông thấy mà đau đớn lòng”.
Chính cái tài thấu muôn đời muôn kiếp ấy đã đưa tên tuổi Nguyễn Du trở thành
một nhà thơ hàng đầu của nền văn học viết. Ấy thế mới thấy được quá trình lao
động sáng tạo nghệ thuật của thi gian nan biết chừng nào. Phải cảm ơn những
nhà văn, nhà thơ như thế , người đời mới có thể hiểu rõ về mọi vật trong cuộc sống
từ cơ bản, bao quát nhất đến chi tiết, nâng cao.
L.Tônxtôi khẳng định: Một tác phẩm nghệ thuật kết quả của tình yêu.Tình yêu
con người, ước cháy bỏng 1 hội công bằng,bình đẳng bác ái luôn luôn
thôi thúc các nhà văn viết,vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ,hiến dâng bầu máu
nóng của mình cho nhân loại”. Nguyễn Du đã đem lòng thương cảm của mình để
khóc cho người con gái xa lạ Tiểu Thanh, khóc cho một lớp người “phong vận
oan”. Chính lẽ đó Nguyễn Du đã lưu dấu ấn của mình trong lòng bạn đọc để
rồi nở hoa thành những lẽ sống đẹp, nhân nghĩa.
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 16
Nguyễn Du dường như một tấm ng đồng cảm sâu sắc với số phận người phụ
nữ tài hoa bạc mệnh. Chính thế những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh được nhà
thơ đặc biệt quan tâm kể về cuộc đời họ trong những trang thơ của mình. Nhắc đến
đây thì chúng ta hay nhớ đến tác phẩm Truyện Kiều với nàng Kiều xinh đẹp nhưng
bạc mệnh. Thế nhưng nhà thơ Nguyễn Du còn bày tỏ sự thương cảm của một
người con gái hồng nhan bạc mệnh khác đó Tiều Thanh trong tác phẩm Độc
Tiểu Thanh Kí. Đồng thời qua đây ta còn có thể thấy được những tâm sự chất chứa
trong nỗi lòng của Nguyễn Du.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, chính vì thế ta đi phân tích lần lượt
theo kết cấu của thể thơ để thấy được số phận người con gái chết oan ức ấy đã
được Nguyễn Du cảm nhận như thế nào qua cảnh vật Tây Hồ. Đồng thời chúng ta
cũng hiểu được những tâm sự của nhà thơ muốn gửi đến độc giả.
Trước hết hai câu thơ đầu, cảnh Tây hồ hiện lên không đẹp một cách bình
thường mà nó mang đến sự oan khuất của người đã mất:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Cái cảnh Hồ Tây kia tưởng chừng cảnh đẹp nhưng lại không phải, hiện tại bây
giờ đã hóa hoang. Cái chứ “hoang” kia như thể hiện được hết những hoang
không bóng người không một âm thanh nơi đây. Cảnh tượng như khắc vào
trong lòng người đọc những âm u cùng cốc của cảnh vật. không biết rằng cảnh còn
đẹp nhưng cái chết của người con gái đẹp kia làm cho nhà thơ cảm thấy không
còn đẹp nữa hay là cảnh đẹp ngày xưa nay đã không còn đẹp như trước. Phải chăng
chính cái chết oan của người con gái kia làm cho không còn đẹp như trước nữa
phải chăng điều đó chỉ nhà thơ cảm nhận được thôi?. hiểu thế nào đi
chăng nữa thì nơi đây quả thật một sự âm u quá lớn. Người con gái Tiểu Thanh
khi còn sống đàn ca, họa thơ làm cho cảnh Tây Hồ vốn đẹp cũng đẹp hơn nên khi
nàng bị người vợ cả của chồng hãm hại mà chết thì cái chết ấy cùng với sự uất hận
làm cho cảnh Tây Hkhông còn được như trước nữa. Bên song mảnh giấy như
được nhân hóa mang một tâm trạng thổn thức không yên. Mảnh giấy tàn ấy mà vẫn
thể thổn thức được nữa sao hay đó chính là tâm trạng của người con gái đã mất.
không cam tâm với kết cục số phận mình nên thổn thức. Nhưng cũng một ý
nghĩa mảnh giấy ấy chính bài nhà thơ thể hiện sự đồng cảm của mình
viếng nàng đã khuất thôi. Tóm lại qua hai câu thơ đầu ta thấy được một cảnh
tượng thể hiện sự thương xót uất hận.
Đến hai câu thơ sau nhà thơ đi vào nói đến sự nghiệp văn chương của người con
gái hồng nhan bạc mệnh ấy. đây nhà thơ như tìm được một người đồng điệu
với tâm hồn văn chương của mình:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
(Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương. )
Hai câu thơ đầu như cái nền để nói đến hai câu sau, chính cái chết làm cho Hồ
Tây cảnh đẹp hóa hoang kia lại làm cho con người ấy dẫu bị chôn vùi trong
hàng ngàn lớp đất cũng vẫn hận. Hình ảnh “son phấn” kia để chỉ người con gái
Tiểu Thanh xinh đẹp. đây nhà thơ không cần nói đến sự xinh đẹp của nàng Tiểu
Thanh chỉ cần qua hình ảnh ấy ta cũng hiểu được ẩn ý của nhà thơ để thể hiện
người con gái xinh đẹp ấy. Tuy nàng đã bị chôn vùi xuống dưới lớp đất kia nhưng
hồn nàng cũng vẫn hận. Văn chương của nàng như vẫn còn vương trên cõi đời này.
Người con gái kia thì còn mệnh chứ văn chương kia mệnh hay không. Cái
mệnh của văn chương phụ thuộc vào cái mệnh của người sáng tác ra nó. Vậy người
sáng tác ra nó mất đi rồi nhưng văn chương kia đốt hãy còn vương trên cõi đời này.
Như vậy là cái mệnh văn chương kia còn dài hơn cái mệnh của người con gái.
Chính bởi tài sắc, chính bởi hồng nhan nhưng bạc mệnh ấy cho nên nàng Tiểu
Thanh chết đi để lại nỗi hờn kim cổ. Đó là một nỗi uất hận sâu sắc:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư. ”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang)
Nỗi hờn kim cổ ấy biết hỏi trời tại sao được nhưng trời cũng không trả lời được
cái án phong lưu ấy khách tự mang vào người mình thôi. đây Nguyễn Du thể
hiện quan điểm của bản thân mình về chữ tài chữ mệnh. Người con gái càng
xinh đẹp càng tài sắc trong cái hội ấy thì chỉ thể một mệnh bạc bẽo
thôi:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”
Nguyễn Du thấy được nàng người cùng hội cùng thuyền với mình về cái sự
phong nhã, cái sự nghiệp văn chương. Thế nhưng lại mắc phải cái oan ức lạ thường
mà người trung đại trọng nam khinh nữ làm nên.
Hai câu thơ cuối cất n với những tâm sự Nguyễn Du thể hiện cho chính
mình:“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
Nhà thơ khóc thương cho người con gái ấy còn không biết rằng khi nhà thơ mất đi
có ai khóc ông như ông khóc nàng Tiểu Thanh hay không. Ông cũng có những tính
cách phong nhã như nàng, cũng cái án văn chương ấy liệu rằng khi ông mất đi
rồi không biết ai đồng điệu với tâm hồn văn chương của ông khóc thương
cho ông hay không. câu hỏi ấy đã kết thúc bài thơ để câu trả lời cho người
đời sau trả lời hộ.
Như vậy qua bài thơ ta thấy được số phận của người con gái hồng nhan bạc mệnh
ấy. Đồng thời ta cũng thấy được những tâm sự của nhà thơ Nguyễn Du về sau này.
thực tế đã cho thấy người đời ngày nay vẫn ca tụng đến ông với sự tài hoa qua
truyện Kiều.
| 1/77

Preview text:


Dàn ý phân tích Đọc Tiểu Thanh kí Dàn ý số 1
1. Mở bài phân tích Đọc Tiểu Thanh kí
- Giới thiệu vài nét về Nguyễn Du:
+ Nguyễn Du (1765 - 1820) là đại thi hào của dân tộc Việt Nam với tài năng kiệt
xuất, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của dân tộc.
- Giới thiệu bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí:
+ Đọc Tiểu Thanh kí là một trong những tác phẩm tiêu biểu của thơ văn Nguyễn
Du, là tiếng nói đồng cảm với thân phận người phụ nữ bất hạnh xưa - nạn nhân của chế độ phong kiến.
2. Thân bài phân tích Đọc Tiểu Thanh kí
* Tìm hiểu khái quát về cuộc đời nàng Tiểu Thanh
- Tiểu Thanh là người con gái có thật, sống cách Nguyễn Du 300 năm trước ở đời
Minh (Trung Hoa), là người rất thông minh và nhiều tài nghệ.
- Tuy có tài sắc vẹn toàn nhưng phải chịu số phận làm lẽ cô đơn, bất hạnh, hẩm hiu.
- Nàng bị vợ cả ghen, đày ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ côi cút một mình.
- Trước khi lâm bệnh mất vì buồn rầu năm 18 tuổi, nàng có để lại một tập thơ sau
bị vợ cả đốt, hiện chỉ còn sót lại một số bài được tập hợp trong "phần dư".
=> Tiểu Thanh là người con gái tài sắc, bạc mệnh.
* Luận điểm 1: Đọc phần dư cảo, thương cảm cho Tiểu Thanh (hai câu đề)
"Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư"
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang)
- Tây Hồ hoa uyển (vườn hoa bên Tây Hồ) - thành khư (gò hoang) -> Hình ảnh thơ
đối lập giữa quá khứ và hiện tại
- “tẫn”: đến cùng, triệt để, hết
-> Nguyễn Du mượn sự thay đổi của cảnh sắc để nói lên được sự thay đổi của cuộc
sống: Hồ Tây là một cảnh đẹp xưa kia thì giờ đây trở thành một bãi gò hoang.
=> Đau xót, ngậm ngùi cho vẻ đẹp chỉ còn trong dĩ vãng.
"Độc điếu song tiền nhất chỉ thư"
(Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
- "độc điếu": một mình viếng - "thổn thức": trạng thái thương xót, đồng cảm
- "nhất chỉ thư": một tập sách - "mảnh giấy tàn": bài viếng nàng Tiểu Thanh của Nguyễn Du.
-> Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc một tập sách (di cảo của Tiểu Thanh)
-> Nhấn mạnh sự cô đơn lắng sâu trầm tư, sự xót thương với người xưa
=> Hai câu thơ thể hiện được sự thương xót của nhà thơ dành cho Tiểu Thanh,
người con gái tài sắc nhưng có một cuộc đời thật bạc bẽo. Người mất đi rồi chỉ còn
lại cảnh Hồ Tây nhưng nó cũng không còn đẹp như khi nàng còn sống nữa.
* Luận điểm 2: Số phận bi thương, uất hận của Tiểu Thanh (hai câu thực)
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
(Son phấn có thần chôn vẫn hận)
- "Son phấn": vật trang điểm của phụ nữ, tượng trưng cho vẻ đẹp, sắc đẹp của người phụ nữ
-> Sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Tiểu Thanh.
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
(Văn chương không mệnh đốt còn vương)
- "Văn chương": tượng trưng cho tài năng.
- "hận, vương": diễn tả cảm xúc
- “Chôn”, “đốt”: động từ cụ thể hóa sự ghen ghét, sự vùi dập phũ phàng của người
vợ cả đối với nàng Tiểu Thanh.
-> Triết lí về số phận con người: tài hoa bạc mệnh, tài mệnh tương đố, hồng nhan
đa truân… cái tài, cái đẹp thường bị vùi dập.
-> Thái độ của xã hội phong kiến không chấp nhận những con người tài sắc.
=> Gợi lại cuộc đời và số phận bi thương của Tiểu Thanh, ca ngợi, khẳng định tài
sắc của Tiểu Thanh đồng thời xót xa cho số phận bi thảm của nàng - cái nhìn nhân
đạo mới mẻ, tiến bộ.
* Luận điểm 3: Niềm suy tư và mối đồng cảm của tác giả với Tiểu Thanh (hai câu luận)
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
- “Cổ kim hận sự”: mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp ->
mối hận của những người tài hoa mà bạc mệnh.
- "Thiên nan vấn": khó mà hỏi trời được
-> Nỗi oan khuất của thân phận người phụ nữ tài hoa trong xã hội phong kiến đầy
bất công: người có sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài thường cô độc.
- "Kì oan": nỗi oan lạ lùng
- "Ngã": ta (chỉ bản thể cá nhân)
-> Nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã. Số phận cay đắng của những con người tài hoa trong xã hội xưa.
=> Nguyễn Du không chỉ thương xót cho nàng Tiểu Thanh mà còn bàn ra tới nỗi
hận của muôn người, muôn đời trong đó có bản thân nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự
cảm thông sâu sâu sắc đến độ “tri âm tri kỉ”.
* Luận điểm 4: Từ cảm thương cho người, tác giả xót thương cho chính mình (hai câu kết)
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hà hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)
- "Tam bách dư niên": Con số mang tính ước lệ, ý chỉ thời gian dài.
- "Tố Như": Tên chữ của Nguyễn Du
-> Tiếng khóc cho nàng Tiểu Thanh nay đã có tác giả thấu hiểu và giải oan cho
nàng, ông băn khoăn không biết hậu thế ai sẽ khóc ông.
=> Ý thơ chuyển đột ngột từ “thương người” sang “thương mình” với khát vọng
tìm được sự đồng cảm nơi hậu thế.
- Câu hỏi tu từ: "Người đời ai khóc Tố Như chăng" -> một câu hỏi nhức nhối, da
diết, thể hiện nỗi buồn thống thiết, ngậm ngùi cho sự cô độc của chính tác giả trong hiện tại.
-> Khao khát tìm gặp được tấm lòng tri kỉ giữa cuộc đời.
=> Tâm trạng hoài nghi, đau khổ, thương người, thương mình của nhà thơ. Tấm
lòng nhân đạo mênh mông vượt qua mọi không gian và thời gian.
3. Kết bài phân tích Đọc Tiểu Thanh kí
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:
● Nội dung: Thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của
người phụ nữ có tài văn chương trong xã hội phong kiến, xót xa cho những
giá trị tinh thần bị chà đạp - một phương diện quan trọng trong chủ nghĩa
nhân đạo của Nguyễn Du.
● Đặc sắc nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, từ ngữ thơ sâu sắc,
đầy triết lí, nghệ thuật đối, câu hỏi tu từ; hình ảnh thơ hàm súc, giàu giá trị biểu tượng. - Nêu cảm nhận của em. Dàn ý số 2 I. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du: Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân
đạo chủ nghĩa lớn của dân tộc. Sự nghiệp sáng tác của ông gồm những tác phẩm có
giá trị cả chữ Hán và chữ Nôm.
- Giới thiệu về Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí): Đọc Tiểu Thanh kí là một
trong số những sáng tác bằng chữ Hán tiêu biểu của Nguyễn Du, thể hiện cảm xúc,
suy tư của ông về số phận bất hạnh của người phụ nữ. Đồng thời, qua đó giúp chúng
ta có cảm nhận sâu sắc về tấm lòng nhân đạo của ông. II. Thân bài 1. Hai câu đề
- Hình ảnh thơ đối lập giữ quá khứ và hiện tại: Tây Hồ hoa uyển(vườn hoa bên Tây
Hồ) – thành khư (gò hoang)
- Động từ “tẫn”: đến cùng, triệt để, hết
→ Câu thơ gợi ra một nghịch cảnh giữa quá khứ và hiện tại: Vườn hoa bên Tây Hồ
nay đã thành bãi đất hoang rồi. Từ đó, gợi sự xót xa trước sự đổi thay, sự tàn phá của
thời gian đối với cái đẹp.
- Cách sử dụng từ ngữ: độc điếu (một mình viếng) – nhất chỉ thư (một tập sách).
→ Nguyễn Du như muốn nhấn mạnh sự cô đơn nhưng cũng nhấn mạnh cả sự tương
xứng trong cuộc gặp gỡ này. Một trạng thái cô đơn gặp một kiếp cô đơn bất hạnh
⇒ Hai câu thơ diễn tả tâm trạng của Nguyễn Du trước cảnh hoang tàn, đó cũng chính
là nỗi niềm xót xa, tiếc nuối cho số phận của nàng Tiểu Thanh. 2. Hai câu thực - Nghệ thuật hoán dụ:
• Son phấn: tượng trưng cho vẻ đẹp, sắc đẹp của người phụ nữ
• Văn chương: tượng trưng cho tài năng.
- Từ ngữ diễn tả cảm xúc: hận, vương
- “Chôn”, “đốt” là những động từ cụ thể hóa sự ghen ghét, sự vùi dập phũ phàng của
người vợ cả đối với nàng Tiểu Thanh ⇒ thái độ của xã hội phong kiến không chấp
nhận những con người tài sắc.
→ Triết lí về số phận con người trong xã hội phong kiến: tài hoa bạc mệnh, tài mệnh
tương đố, hồng nhan đa truân cái tài, cái đẹp thường bị vùi dập.
→ Hai câu thơ cực tả nỗi đau về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh đồng thời
cũng là tấm lòng trân trọng, ngợi ca nhan sắc và đề cao tài năng trí tuệ của Tiểu Thanh;
đồng thời có sức tố cáo mạnh mẽ. 3. Hai câu luận
- “Cổ kim hận sự”: mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp. Đó
chính là mối hận của những người tài hoa mà bạc mệnh.
- Thiên nan vấn: khó mà hỏi trời được.
→ Câu thơ mang tính khái quát cao. Nỗi hận kia không phải là nỗi hận của riêng nàng
Tiểu Thanh, của Nguyễn Du mà của tất cả những người tài hoa trong xã hội phong
kiến. Câu thơ thể hiện sự đau đớn phẫn uất cao độ trước một thực tế vô lí: người có
sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài thường cô độc.
- Kì oan: nỗi oan lạ lùng
- Ngã: ta (từ chỉ bản thể cá nhân táo bạo so với thời đại Nguyễn Du sống). Nguyễn Du
không đứng bên ngoài mà nhìn vào nữa mà giờ đây ông chủ động tìm sự tri âm với
nàng, với những người tài hoa bạc mệnh.
⇒ Nguyễn Du không chỉ thương xót cho nàng Tiểu Thanh mà còn bàn ra tới nỗi hận
của muôn người, muôn đời trong đó có bản thân nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự cảm
thông sâu sâu sắc đến độ “tri âm tri kỉ” 4. Hai câu kết
- Nghệ thuật: Câu hỏi tu từ. Nguyễn Du khóc nàng Tiểu Thanh và băn khoăn, khóc cho chính mình.
- “Khấp”: khóc. Tiếng khóc là dấu hiệu mãnh liệt nhất của tình cảm, cảm xúc thương
thân mình, thân người trào lên mãnh liệt không kìm nén được. Ông không viết đơn
thuần mà khóc cho Tiểu Thanh. Ông băn khoăn không biết hậu thế ai sẽ khóc ông.
→ Thể hiện nỗi cô đơn của nghệ sĩ lớn “Tiếng chim cô lẻ giữa trời thu khuya” (Xuân
Diệu). Ông thấy mình lạc lõng ở hiện tại và đã tìm thấy được một người tri kỉ ở quá
khứ nhưng vẫn mong ngóng một tấm lòng trong tương lai.
⇒ Tấm lòng nhân đạo mênh mông vượt qua mọi không gian và thời gian. III. Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản: Thể hiện cảm xúc, suy tư
của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài có sắc trong xã hội
phong kiến. Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.
Phân tích bài Độc tiểu Thanh Kí - Mẫu 1
Sê-khốp đã từng nói “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt
tuỷ” câu nói ấy làm ta bỗng nhớ đến một nhà thơ lớn của dân tộc, một danh nhân văn
hoá thế giới, một bậc thầy về ngôn ngữ và hơn cả là một người có quan điểm tư tưởng
nhân đạo tiến bộ nhất trong xã hội phong kiến xưa,… con người vĩ đại ấy không ai
khác ngoài đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Thơ của ông không chỉ hay mà còn sâu sắc
đi vào trái tim người đọc để rồi những áng văn kì bút ấy sống mãi với thời gian mà
chẳng bao giờ mất đi cái giá trị cao cả vốn có của nó vì vậy chẳng lẽ tự nhiên nhà thơ
Tố Hữu sau này có viết:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn tu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày”.
Và giờ đây ta hãy cùng khám phá tài hoa của ông qua thi phẩm “Độc Tiểu Thanh kí”
mà trong đó chính là cái nhìn đồng cảm đến tinh tế về những con người tài hoa bạc
mệnh, bị rẻ rúng trong xã hội phong kiến đang dần suy thoái cùng với đó là bức thông
điệp gửi gắm đến muôn đời sau để rồi cho ta thấy cái nhân đạo thấm nhuần trong ông
đẹp đẽ đến nhường nào!
Bài thơ được sáng tác vào một lần Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc được lấy cảm hứng
từ câu chuyện về cuộc đời bất hạnh của nàng Tiểu Thanh sống vào thời Minh (từ thế
kỉ XIV đến thế kỉ XVII). Nàng vốn là người tài sắc vẹn toàn nhưng rồi cái quy luật
phũ phàng của trời đất đâu có tha riêng cho một ai: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”!
Vẫn ở cái tuổi “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” nhưng nàng đã phải làm vợ lẽ khi
mới là một thiếu nữ và cuộc đời nàng cũng chìm trong bóng tối từ đây… Bị vợ cả
ghen ghét, đày đọa sống một mình tại đỉnh núi Côn Sơn không ai quan tâm kể cả bố
mẹ hay từ người phu quân của nàng để rồi sự cô đơn, uất ức đã làm nàng chết dần,
chết mòn theo thời gian và cũng để rồi người con gái ấy sống mãi ở tuổi xuân xanh…
Sau khi mất đi, những bức hoạ và những bài thơ chứa đựng tâm tư của nàng cũng bị
người vợ cả đốt sạch chỉ còn vương vấn, sót lại chút ít mà thôi. Và có lẽ nhan đề bài
thơ “Độc Tiểu Thanh kí” cũng bắt đầu từ đây, phải chăng sau khi đọc tập thơ ấy đã
khiến Nguyễn Du rung động rồi tạo thành nguồn cảm hứng tuôn trào trong ông?
Nguyễn Du từng viết trong “Truyện Kiều” rằng:
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Và đó cũng chính là tâm trạng của ông khi bước tới ngọn núi Côn Sơn đã lụi tàn qua năm tháng:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khuê
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”.
(Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Đó không chỉ là sự thay đổi nghiệt ngã của cảnh vật mà còn là của con người, từ một
vườn hoa đẹp, lộng lẫy, sức sống căng tràn bao nhiêu thì nay lại trở nên tàn tạ, hoang
phế, đìu hìu bấy nhiêu. Con người cũng vậy, thời gian cũng đã cướp đi biết bao nhiêu
thứ từ con người, phải chăng đó là sự mỏng manh, ngắn ngủi của cái đẹp, là sự xuất
chúng, hơn người của tài năng cũng tàn phai theo? Tiểu Thanh chẳng hề ngoại lệ,
vâng, nàng có tài, có sắc ai mà chẳng biết, ai mà chẳng hay nhưng rồi: “Trời xanh
quen thói má hồng đánh ghen” khiến cho bông hoa như nàng cũng phải lụi tàn trước
ngọn lửa ghen tuông bùng cháy dữ dội như muốn thiêu đốt trọn cái tài, cái sắc của
nàng. Làm vợ lẽ đã đành nhưng nàng chẳng có được sự tự do kể cả trong tình cảm của
mình. Mọi thứ từ, mọi việc làm, mọi cuộc gặp gỡ đều phải được người vợ cả đồng ý
thì thư mới được gửi đi, việc mới được làm, chồng mới được gặp,… Dường như nàng
có phu quân cũng như không vậy, ước chăng cũng một lần được nói ra tâm tư, cũng
một lần được nhung nhớ như người phụ nữ trong “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”.
Nguyễn du gợi nên nỗi xót xa, thương cảm cho cái đẹp bị trò đời trêu đùa đến nhẫn
tâm, đến khi bị tàn lụi, bị huỷ hoại thậm tệ là lìa xa trần thế mới thôi…
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
Khi tới nơi đây, héo tàn, trơ trụi đã đành nay còn thêm cả ảm đạm, đìu hiu không một
bóng người dù vậy Nguyễn Du vẫn trang trọng kính viếng bởi chăng trong họ là một
sợi dây đồng cảm đang kết nối với nhau, đó là tiếng nói đồng điệu của những con
người đa tài nhưng số phận chẳng được trọn vẹn như cái tài ấy. “Độc điếu”- tâm thế
cô đơn không chỉ riêng Tiểu Thanh mà còn là của Nguyễn Du. Nàng thì cô đơn giữa
chốn không người, cảnh vất thê lương hoang tàn còn ông thì cô đơn giữa dòng đời bởi
chẳng ai hiểu được ông, hiểu được cái nhân đạo cao quý, cái tư tưởng sâu sắc mà con
người cao cả hướng tới bấy lâu nay. Đọc di cảo của nàng lại càng khiến ông không
khỏi xót xa bởi cái phũ phàng của cuộc đời đặt ra để thử thách đời người và có lẽ,
chính ông cũng đã sớm chiêm nghiệm điều ấy:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Thấm thoát cũng đã hơn ba trăm năm, những gì về người con gái ấy chỉ còn là một tập
thơ với những trang giâý tàn mà Nguyễn Du đọc bên cửa sổ, dù có ít ỏi đi chăng nữa
cũng đủ cho hậu thế xót xa mà nhỏ lệ, nhỏ lệ trước cách mà trò đời đối xử với nàng,
cách mà nó làm nàng nhỏ bé, tàn tạ rồi ra đi mãi mãi đến đau lòng…
Cuộc đời nàng, số phận nàng luôn làm người đời suy tư, thổn thức ngay cả Nguyễn Du cũng vậy:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”.
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Son phấn làm gì có thần? Nhưng với Nguyễn Du thì có đấy. Văn chương thì làm gì có
mệnh (vô mệnh) nhưng trong thơ của Nguyễn Du hoàn toàn ngược lại. Dường như
ông đã khéo léo sử dụng hình ảnh “chi phấn” để ẩn dụ cho nhan sắc của Tiểu Thanh,
nhan sắc ấy không chỉ đẹp mà còn bất tử và trường tồn mãi mãi. Vẻ đẹp ấy có sức
sống kì diệu ngay cả khi bị chôn vùi dưới đất xấu thì nó vẫn làm người đời nhớ đến
mà tiếc thương và đây cũng là lần đầu tiên trong nền văn học trung đại Việt Nam,
dưới sự kìm hãm của xã hội phong kiến có một nhà thơ dám miêu tả vẻ đẹp hình thức
của người phụ nữ, ngay cả khi Nguyễn Dữ miêu tả Vũ Nương cũng chỉ khiêm tốn hoạ
nên vẻ đẹp tâm hồn của nàng. Dường như đó là tiếng nói bất bình của Nguyễn Du bởi
lẽ vẻ đẹp của người phụ nữ bị xã hội rẻ rúng, coi thường và đây cũng là một bước đi
mới trong nền văn học trung đại đương thời. Văn chương vốn “vô mệnh” nay lại thành
hữu mệnh, có lẽ đó là ẩn dụ cho tài năng của nay cũng phải “lụy” cái bạc mệnh của
con người. Nó cũng biết đau khổ, biết buồn vui, biết vương vấn,… và rồi bỗng chợt
nhận ra cái oan trái, ngang ngược mà ông trời sắp đặt cho nó. Có sắc, có tài rồi cũng để làm gì:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”.
Hai câu thực khép lại là lòng thương cảm sâu sắc về số phận bất hạnh tài hoa nhưng
bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh đồng thời mang niềm tin vào thuyết luân hồi đạo phật
cũng như là nguồn cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du. Ông nhận ra được những giá
trị tốt đẹp của con người qua đó ta thấy một tâm hồn đa cảm đến sâu sắc!
Hai câu luận vẫn là niềm thương cảm ấy nhưng giờ đây còn vang lên tiếng nói của tri
âm nghe mà nhói lòng người:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong lưu kì oan ngã tự cư”.
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Tài hoa nhưng bạc mệnh có lẽ đã trở thành “Cổ kim hận sự” , xưa thì có số phận của
nàng Tiểu Thanh và những người cùng cảnh ngộ, nay thì là những người như ông.
Nhưng rồi khi ngẩng đầu lên hỏi trời thì trời cũng chỉ biết lặng thinh không nói một
lời khiến cái hận càng thêm hận, thấm thía lại càng thêm thấm thía,.. khi trời không
đáp con người cũng chỉ biết bất lực, bế tắc, nó thể hiện một hiện thực bất công của xã
hội phong kiến nhiều hủ tục để rồi Thuý Kiều trong “Truyện Kiều” cũng phải thốt lên rằng:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.
Nguyễn Du đau đớn, căm giận trước cái đẹp, cái thiện đang dần bị thế lực hắc ám chà
đạp, những con người như Tú Bà, Mã Giám Sinh hay Sở Khanh được ông miêu tả
bằng tất cả sự căm phẫn. Tú bà thì:
“Thoắt trông nhợt nhạt màu da
Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”. Mã Giám Sinh thì:
“Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”. Sở Khanh lại là kẻ:
“Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng”.
Tại sao những kẻ như vậy lãi vẫn sống yên bình, ăn chơi trác táng mà khi ấy những
người như Tiểu Thanh hay Thuý Kiều, Đạm tiên lại phải chịu biết bao sóng gió cuộc
đời để rồi người thì ra đi mãi mãi, người thì chẳng bao giờ có được tình yêu của chính
mình,… Bản thân Nguyễn Du tự cho mình là người có tài và cùng hội với những con
người tài hoa bạc mệnh. Cái tài của ông dùng để cảm nhận cái đẹp, để thương con
người, để thể hiện vẻ đẹp sâu sắc của tâm hồn chứa đựng cảm hứng nhân đạo khác
hoàn toàn với Nguyễn Công Trứ mang nét cao ngạo, thể hiện cái tôi một cách ngông
cuồng. Cái phong lưu của con người đã trở thành một cái oán, cái án ấy khiến người ta
bị đày đọa, bị hắt hủi, bị hành hạ cho đến sức cùng lực kiệt thì mới thôi. Phải chăng
khi đặt mình cùng vào chiếc thuyền khiến cho tiếng nói tri âm, tri kỉ lại càng vắng
thêm sâu sắc thêm nhường nào…
Đau đớn trước cái ngang trái của cuộc đời và giờ đây Nguyễn Du lại tự thương cho
chính bản thân mình và đó vô tình trở thành một nét mới trong văn học trung đại- cảm hứng tự thương:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.
(Chẳng biết ba trăm năm nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
Hai câu kết mở ra là cả một thế giới nội tâm của Nguyễn Du, “tam bách dư liên hậu”-
con số 300 năm chỉ mang tính chất ước lệ tượng trưng nhưng đó lại là nỗi niềm cô đơn
của ông trong thời đại. Câu hỏi tu từ ở cuối bài bày tỏ niềm khao khát, mong muốn
tìm được sự thấu hiểu, thương cảm. Tiếng khóc của người đời là thứ mà Nguyễn Du
luôn tìm kiếm bởi đó là tiếng vang của sự tri âm, đồng cảm. Từ xót thương cho những
kiếp người tài hoa bạc mệnh và rồi ông cũng tự khóc cho chính mình, ông cũng là một
trong những số ít nhà thơ đưa tên chữ của mình vào trong thi phẩm, dường như đó là
cái tôi, cái cá nhân mà ông muốn khẳng định qua đó lại một lần nữa Nguyễn Du thể
hiện tấm lòng nhân đạo lớn lao của mình đó là sự tự thương. Khép lại bài thơ là tiếng
nói bất bình lần nữa của ông, bằng 2 câu thơ thất niêm phá tính quy phạm vốn có của
văn học trung đại để lên án mạnh mẽ những kẻ không chân trọng giá trị của con người
đặc biệt là những con người tài hoa.
Bài thơ đã ra đời cách đây mấy trăm năm nhưng giá trị nhân đạo mà nó để lại vẫn là
mãi mãi. “Độc Tiểu Thanh kí” thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận
bất hạnh của người phụ nữ có tài, có sắc nhưng bị xã hội phong kiến mục nát chà đạp.
Khóc cho họ và rồi Nguyễn Du cũng khóc cho chính mình, cho một tài năng mà xã
hội mục nát ấy chẳng thể nhận ra vì vậy Nguyễn Du cùng với “Độc Tiểu Thanh kí”
luôn sống mãi trong lòng hậu thế với những giá trị nhân đạo cao quý, đúng như Lâm
Ngũ Đường từng nói: “văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ”.
Phân tích Đọc Tiêu Thanh kí đạt điểm 9+ - Mẫu 2
Nguyễn Du là tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa cuối thế kỉ XVIII,
đầu thế kỉ XIX với “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời”.
Những người phụ nữ có tài có sắc nhưng đường đời truân chuyên bất hạnh là cảm
hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du. Và nàng Tiểu Thanh cũng là một kiếp
người tài hoa bạc mệnh như thế. Là người con gái tài sắc, vốn thông minh nên từ
nhỏ nàng Tiểu Thanh đã thông hiểu các môn nghệ thuật cầm kỳ thi họa. Năm 16
tuổi, nàng được gả làm vợ lẽ cho Phùng Sinh, một công tử nhà gia thế. Vợ cả tính
hay ghen lại cay độc, bắt nàng ra sống riêng trên Côn Sơn, gần Tây Hồ. Vì đau
buồn, nàng sinh bệnh rồi qua đời khi mới tròn mười tám xuân xanh. Những đau
khổ, muộn phiền được gửi gắm vào thơ nhưng phần lớn bị vợ cả đem đốt hết, may
mắn còn một số bài sót lại. Thương xót, đồng cảm với số phận của người con gái
tài sắc vẹn tròn mà số mệnh ngắn ngủi, Nguyễn Du viết ra bài thơ “Độc Tiểu
Thanh kí”. Bài thơ không chỉ thể hiện cảm xúc, suy tư sâu sắc của Nguyễn Du về
số phận bất hạnh của người phụ nữ mà còn thể hiện niềm xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà đạp.
Khi đọc những dòng thơ cuối cùng còn sót lại của nàng, Nguyễn Du đã thật sự thấu
hiểu và bày tỏ lòng thương cảm của mình qua bài thơ “Độc tiểu thanh kí” như là
lời xót thương của nàng trước nỗi đau cuộc đời, hai câu đầu là hai câu tả cảnh nhưng để kể việc:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
Bằng giác quan nghệ thuật, ta bắt gặp một vườn hoa với sắc hương và hình dáng
trong quá khứ. Cái đẹp ấy đã chi phối choáng ngợp đến tâm hồn ta. Cái đẹp ấy
tưởng chừng sẽ trường tồn vĩnh cửu với thời gian nhưng dần theo năm tháng cũng
lụi tàn dần, một sự lụi tàn đến ngỡ ngàng và chua xót. Vườn hoa bình yên, êm ả
ngày nào giờ đã trở thành một bãi hoang phế trơ trụi và tiêu điều. Từ “tẫn” được
Nguyễn Du sử dụng để miêu tả nhưng lại mang một hàm ý thể hiện sự thương tiếc,
có thể thấy thời gian đã tàn phá mọi thứ. Đứng trước sự nuối tiếc, thương xót pha
lẫn chút ngậm ngùi. Nguyễn Du mượn sự biến đổi của thiên nhiên mà ngụ ý sự
biến đổi khôn lường của cuộc sống, con người. Đó là sự ý thức về cái vô hạn của
trời đất và cái hữu hạn của con người. Nó gợi lên sự tàn lụi không thể nào tránh
khỏi cho một kiếp người, cho hồng nhan. Ước chăng cũng một lần được nói ra tâm
tư, cũng một lần được nhung nhớ như người phụ nữ trong “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấu
Thấy xanh xanh mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”
Nguyễn Du đã rất đau xót! Câu thơ không chỉ ý nghĩa cho sự mở đầu, giới thiệu sự
việc mà chính là cảm xúc của nhân vật trữ tình:
“Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”.
Một khung cửa sổ tương thông lòng người với vũ trụ, tương thông lòng người với
tình người. Bên những mảnh thơ tàn của một tài hoa bị vùi dập, Nguyễn Du cảm
nhận và thổn thức đau thương. Ông muốn níu giữ tất cả, níu kéo tất cả nhưng cuối
cùng chỉ còn lại sự tàn tạ. Sâu sắc của câu thơ nằm ở chỗ từ “độc” và từ “nhất” đều
mang ý nghĩa lại “một” lại cùng hiện hữu. “Độc” là một mà “nhất” cũng là một,
nhưng nếu “nhất chỉ thư” là số từ chỉ lượng một tập thơ thì “độc điếu” là trạng từ
chỉ tâm thế của nhà thơ một trạng thái cô độc một mình. Việc dùng cùng một nghĩa
qua hai từ khác nhau, Nguyễn Du như muốn nhấn mạnh sự cô đơn nhưng cũng
nhấn mạnh cả sự tương xứng trong cuộc gặp gỡ này. Một trạng thái cô đơn gặp
một kiếp cô đơn bất hạnh. Cái để gợi cho lòng người thi sĩ đau có nhiều mà tình thì
mênh mông, vô hạn, Nguyễn Du đã khóc Tiểu Thanh – khóc nàng qua một tập
sách nhỏ. Lòng Nguyễn Du mênh mông mà sâu lắng quá!
Nguyễn Du có cảm giác mảnh giấy tàn ấy vẫn còn vương vấn linh hồn của nàng,
còn phảng phất đến tận bây giờ. Ông xót xa cho thân phận bạc mệnh đó:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
Hai câu thơ gói trọn tiếng lòng xót xa của Nguyễn Du, chua xót đến tột độ khi nghĩ
đến người con gái bạc mệnh ấy. Trước phần di cảo của một tài năng, Nguyễn Du
cảm nhận được cả cái tài, cái tình Tiểu Thanh, “chi phấn” được hiểu là son phấn ẩn
dụ cho nhan sắc, thì “văn chương” chính là ẩn dụ cho tài năng của nàng. Đó đều là
những giá trị đáng quý, nhưng đau xót thay những giá trị tốt đẹp ấy đều bị dập vùi
dập, chà đạp bởi một xã hội tàn ác, xấu xa . Nghệ thuật đối được dùng rất chỉnh
giữa những hình ảnh “chi phấn hữu thần” với “văn chương vô mệnh”, “liên tử hậu”
với “lụy phần dư” dẫn đến sự song hành của hai cặp đối tượng: son phấn và văn
chương, sắc đẹp và tài năng. Ở Tiểu Thanh hội tụ tất cả những tinh túy ấy. Người
con gái tài sắc vẹn toàn nhưng lại phải chịu số phận bất hạnh, trái ngang. Những
nghiệt ngã đời nàng là nỗi sầu vạn kỉ. Dưới suối vàng, Tiểu Thanh chắc còn đau
đớn, u uất... Nỗi đau ai oán của nàng sâu sắc, mạnh mẽ hơn nhiều khi cả linh hồn
nàng cũng bị hủy diệt: “Văn chương không mệnh đốt còn vương”. Văn chương
vốn “vô mệnh” nay lại thành hữu mệnh, có lẽ đó là ẩn dụ cho tài năng của nấy
cũng phải “lụy” cái bạc mệnh của con người. Nó cũng biết đau khổ, biết buồn vui,
biết vương vấn,…và rồi bỗng chợt nhận ra cái oan trái, ngang ngược mà ông trời
sắp đặt cho nó. Có sắc, có tài rồi cũng để làm gì:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”
Hai câu thực khép lại là lòng thương cảm sâu sắc về số phận bất hạnh tài hoa
nhưng bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh đồng thời mang niềm tin vào thuyết luân hồi
đạo phật cũng như là nguồn cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du. Ông nhận ra
được những giá trị tốt đẹp của con người qua đó ta thấy một tâm hồn đa cảm đến sâu sắc!
Hai câu luận vẫn là niềm thương cảm ấy nhưng giờ đây còn vang lên tiếng nói của
tri âm nghe mà nhói lòng người, nhưng biết làm sao đây?
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
Hai câu thơ cất lên đầy sự tuyệt vọng, ai oán và u sầu nặng nề. Tài hoa nhưng bạc
mệnh có lẽ đã trở thành “Cổ kim hận sự”, xưa thì có số phận của nàng Tiểu Thanh
và những người cùng cảnh ngộ, nay thì là những người như ông. Nhưng rồi khi
ngẩng đầu lên hỏi trời thì trời cũng chỉ biết lặng thinh không nói một lời khiến cái
hận càng thêm hận, thấm thía lại càng thêm thấm thía,... khi trời không đáp con
người cũng chỉ biết bất lực, bế tắc, nó thể hiện một hiện thực bất công của xã hội
phong kiến nhiều hủ tục. Cái tài và sắc đẹp phải được trở lại đúng với giá trị của nó,
không ai có quyền phủ nhận. Nhưng hiện tại, sự thực hoàn toàn khác. Người tài tử
buộc phải chấp nhận cái án phong lưu mang nặng tình nhân thế. Từ xúc cảm xót
thương cho Tiểu Thanh đến tình thương dành cho những kiếp người tài hoa bạc
mệnh nói chung rồi nhìn lại thì tự thương mình, tự coi mình cũng cùng mang nỗi
oan lạ lùng, sự vận động của cảm xúc nhà thơ như từng lớp sóng lòng âm ỉ nhưng
thấm thía, từng lớp từng lớp dần dần cho thấy sự đồng cảm đã đạt đến mức tri ân,
chủ nghĩa nhân đạo đã biểu hiện ở mức cao nhất, để rồi Thuý Kiều trong “Truyện
Kiều” cũng phải thốt lên rằng:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Đứng trước số phận của nàng Tiểu Thanh Nguyễn Du trở lại lòng mình mà “Giật
mình mình lại thương mình xót xa” và đó vô tình trở thành một nét mới trong văn
học trung đại - cảm hứng tự thương. Hai câu thơ cuối như xoáy chặt vào lòng ta
một nỗi đau đớn, tuyệt vọng của một trang tài tử:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Hai câu thơ mở ra như cả thế giới nội tâm của Nguyễn Du, lời thơ như vừa tuyệt
vọng, vừa hy vọng, vừa cô đơn, vừa tìm kiếm. “tam bách dư niên hậu”- con số 300
năm chỉ mang tính chất ước lệ tượng trưng nhưng đó lại là nỗi niềm cô đơn của
ông trong thời đại Nguyễn Du tự đặt ra để kiếm tìm cho mình một người tri âm tri
kỷ như ông đã khóc cho Tiểu Thanh, như Thúy Kiều đã từng khóc cho Đạm Tiên.
Câu hỏi tu từ ở cuối bài bày tỏ niềm khao khát, mong muốn tìm được sự thấu hiểu,
thương cảm. Tiếng khóc của người đời là thứ mà Nguyễn Du luôn tìm kiếm bởi đó
là tiếng vang của sự tri âm, đồng cảm. Từ xót thương cho những kiếp người tài hoa
bạc mệnh và rồi ông cũng tự khóc cho chính mình, ông cũng là một trong những số
ít nhà thơ đưa tên chữ của mình vào trong thi phẩm, dường như đó là cái tôi, cái cá
nhân mà ông muốn khẳng định qua đó lại một lần nữa Nguyễn Du thể hiện tấm
lòng nhân đạo lớn lao của mình đó là sự tự thương. Khép lại bài thơ là tiếng nói bất
bình lần nữa của ông, bằng hai câu thơ thất niêm phá tính quy phạm vốn có của
văn học trung đại để lên án mạnh mẽ những kẻ không chân trọng giá trị của con
người đặc biệt là những con người tài hoa.
Khép lại bài thơ là tiếng nói bất bình lần nữa của ông, bằng hai câu thơ thất niêm
đã phá tính quy phạm vốn có của văn học trung đại để lên án mạnh mẽ những kẻ
không chân trọng giá trị của con người đặc biệt là những con người tài hoa. Tấm
lòng Nguyễn Du còn thấu đến ngàn đời. Nhưng có lẽ giờ đây, trang tài tử đã yên
lòng nhắm mắt bởi đời sau đã có bao tấm lòng gửi lời tri ân đến ông, như vần thơ
của Tố Hữu đầy thương cảm và trân trọng:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Hỡi Người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng Người!”
“Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo. Vì vậy đòi hỏi người sáng tạo phải có
phong cách nổi bật, tức là có cái gì rất riêng mới lạ trong phong cách của mình.”
Để làm nên thành công của tác phẩm “Đọc tiểu thanh ký” thì yếu tố nghệ thuật
nắm giữ một vai trò vô cùng quan trọng qua việc vận dụng thể thơ đường luật,
những hình ảnh đối lập đem lại hiệu quả nghệ thuật cao qua đó thể hiện sự thương
cảm sâu sắc mà tác giả dành cho Tiểu Thanh - một hồng nhan bạc mệnh, một tài
năng thi ca đoản mệnh, cho những kiếp hồng nhan đa truân, tài tử đa cùng, mà với
cảm hứng tự thương và sự tri âm sâu sắc, ông đã đặt vấn đề: quyền sống của người
nghệ sĩ, sự cần thiết phải tôn vinh, trân trọng những người làm nên các giá trị văn hóa tinh thần.
Nhà văn Bùi Hiển cho rằng: “Ở nước nào cũng thế thôi, sự cảm thông sẻ chia giữa
người đọc và người viết là trên hết”. Nhưng với một Nguyễn Du trong “Độc Tiểu
Thanh kí” ta còn thấy ở ông một nỗi niềm, một sự trăn trở, một niềm khát khao
được mọi người cảm thông với chính mình. Qua tác phẩm Nguyễn Du đã thể hiện
sự cảm thông sâu sắc với số phận số phận bất hạnh của người phụ nữ và cả những
kiếp người tài hoa bạc mệnh nhưng đó cũng là sự cảm thông mà ông dành cho
chính mình. Trải qua biết bao năm tháng cái tình của Nguyễn Du vẫn còn nguyên trong lòng bạn đọc.
Phân tích Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 3
Nguyễn Du được xem là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn
của dân tộc. Ông được mệnh danh là đại thi hào của văn học Việt Nam. Trong suốt
cuộc đời sáng tác của mình, ông đã để lại vô vàn những tác phẩm có giá trị ở cả
chữ Hán và chữ Nôm. Tác phẩm của ông luôn chan chứa tình yêu thương con
người, trân trọng những điều tốt đẹp bên trong con người.
“Độc Tiểu Thanh kí” là một trong số những sáng tác bằng chữ Hán tiêu biểu của
Nguyễn Du. Độc Tiểu Thanh kí phân tích Nó đã thể hiện được những cảm xúc, suy
tư của tác giả về số phận bất hạnh của người phụ nữ xã hội cũ. Đồng thời qua tác
phẩm, chúng ta có thể cảm nhận sâu sắc và trân trọng tấm lòng nhân đạo, yêu
thương con người của ông.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã khắc hoạ nên hoàn cảnh, bối cảnh sác tác:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.”
Ở đây, tác giả đã sử dụng hình ảnh thơ đối lập giữa quá khứ và hiện tại: “Tây Hồ
hoa uyển” (vườn hoa bên Tây Hồ) với “thành khư” (gò hoang). Cùng với đó, động
từ “tẫn” nhằm thể hiện sự triệt để đến cùng của sự vật. Từ đó, câu thơ đã gợi ra một
nghịch cảnh giữa quá khứ và hiện tại: Vườn hoa bên Tây Hồ xưa kia nay đã thành
bãi đất hoang, không có sự sống. Vì vậy lời thơ khơi gợi sự xót xa của nhà thơ
trước sự đổi thay, sự tàn phá của thời gian đối với cái đẹp.
Tác giả cũng rất tài tình khi sử dụng các từ chỉ sự đơn độc: “độc điếu” (một mình
viếng) và “nhất chỉ thư” (một tập sách). Với hai hình ảnh đó, tác giả như muốn
nhấn mạnh sự cô đơn tột cùng của con người. Đồng thời cũng nhấn mạnh cả sự
tương xứng trong cuộc gặp gỡ này. Đó là cuộc gặp gỡ của một người mang trạng
thái cô đơn với một kiếp bất hạnh, đơn độc.
Độc Tiểu Thanh kí phân tích Chỉ với hai câu thơ, tâm trạng của tác giả đã được thể
hiện một cách rõ ràng. Tác giả đã ngỡ ngàng trước cảnh tượng thiên nhiên hoang
vắng, tàn tạ và cũng vô cùng xót xa, tiếc nuối cho số phận éo le của nàng Tiểu Thanh.
Tiếp theo, tác giả miêu tả rõ nét số phận của nàng Tiểu Thanh thông qua hai câu thơ tả thực:
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.”
Đến đây, tác giả đã sử dụng nghệ thuật hoán dụ rất tài tình. Hình ảnh “chi phấn” là
tượng tượng trưng cho vẻ đẹp, sắc đẹp của người phụ nữ. Còn “văn chương” lại
tượng trưng cho tài năng, trí tuệ của con người. Việc sử dụng từ hoán dụ như vậy
đã gợi tả người con gái vừa có tài, vừa có sắc, hoàn hảo, rất đáng trân trọng.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các từ ngữ diễn tả cảm xúc như “hận”, “vương”
để thể hiện tình cảm của mình. Đó là sự tiếc nuối, xót xa cho tài năng và dung mạo
của người thiếu nữ bạc mệnh. Các từ “chôn”, “đốt” đều là những động từ cụ thể
hóa sự ghen ghét, sự vùi dập vô cùng phũ phàng của người vợ cả đối với nàng Tiểu
Thanh. Đây cũng là điển hình cho thái độ của xã hội phong kiến khi xưa. Ở đó, họ
không chấp nhận những con người tài sắc vẹn toàn như nàng, chỉ chực tìm cách vùi
dập, đè nén những số phận bất hạnh ấy.
Thông qua lời thơ, Nguyễn Du cũng bộc lộ triết lí của mình về số phận con người
trong xã hội phong kiến. Với ông, họ là những người tài hoa nhưng bạc mệnh, “tài
mệnh tương đố”, “hồng nhan đa truân”. Và khi có tài, có sắc, họ sẽ bị vùi dập không thương tiếc:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần (Truyện Kiều)
Qua hai câu thơ, Nguyễn Du đã cực tả nỗi đau về số phận bất hạnh của nàng Tiểu
Thanh tài sắc. Đồng thời cũng bộc lộ tấm lòng ca ngợi, trân trọng nhan sắc và đề
cao tài năng, trí tuệ của nàng Tiểu Thanh. Không những thế, nó còn có sức tố cáo
mạnh mẽ đối với xã hội phong kiến bấy giờ khi vùi kiếp người xuống dưới bùn đen.
Tiếp đó, tác giả suy ngẫm rộng ra về số phận con người, với cuộc đời:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.”
Cụm từ “cổ kim hận sự” nhằm diễn tả mối hận xưa và nay. Đó không chỉ là mối
hận nhất thời mà là mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp. Và cũng chính là mối
hận của những người tài hoa mà bạc mệnh đối với cuộc đời đầy rẫy những bất
công. Nỗi hận ấy thật sự là “thiên nan vấn”, khó mà có thể hỏi trời được. Câu thơ
này đã mang tính khái quát cao, biểu trưng cho cả xã hội. Nỗi hận kia không phải
là nỗi hận của riêng nàng Tiểu Thanh hay của tác giả Nguyễn Du mà còn là của tất
cả những con người tài hoa trong xã hội phong kiến cũ. Câu thơ đã thể hiện rõ nét
sự đau đớn và phẫn uất cao độ trước một thực tế vô lí của cuộc đời. Đó là người có
nhan sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài năng lại thường cô độc. Nỗi trái ngang ấy,
không biết phải làm sao được.
Nhấn mạnh thêm nỗi đau đớn của số phận Tiểu Thanh, tã giả sử dụng từ “kì oan”,
là nỗi oan lạ lùng, hiếm gặp. Kết hợp với đó, từ “ngã” nhẳm chỉ bản thể cá nhân.
Đây là cái khẳng định mình đầy táo bạo so với thời đại Nguyễn Du đang sống. Tác
giả đã không đứng bên ngoài mà nhìn vào nữa, mà giờ đây ông trở nên chủ động,
tự mình đi tìm sự tri âm với nàng, với những người tài hoa nhưng bạc mệnh. Qua
đó, ta thấy được tấm lòng trân trọng cái đẹp của nhà thơ. Ông không chỉ xót
thương riêng cho nàng Tiểu Thanh mà còn bàn ra tới nỗi hận của muôn người,
muôn đời. Và trong đó có chính bản thân nhà thơ. Qua đó, thể hiện sự cảm thông
của nhà thơ đối với nhân vật đã đến độ “tri âm tri kỉ”, thấu hiểu và tìm được điểm chung.
Sau cùng, tác giả sử dụng hai câu kết để khóc cho người, khó cho mình ở tương lai:
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
Đến đây, Nguyễn Du đã sử dụng câu hỏi tu từ một cách độc đáo. Nguyễn Du khóc
nàng Tiểu Thanh, đồng thời cũng băn khoăn và khóc thương cho chính mình. Ông
băn khoăn, trăn trở rồi hậu thế ai sẽ khóc thương ông, liệu có ai đồng cảm với ông
hay không? Điều này đã thể hiện nỗi cô đơn của nghệ sĩ lớn “Tiếng chim cô lẻ giữa
trời thu khuya” (Xuân Diệu). Ông cảm thấy mình lạc lõng vô cùng ở hiện tại và đã
tìm thấy được một người làm tri âm, tri kỉ ở quá khứ. Thế nhưng bản thân vẫn ước
mong, mong ngóng một tấm lòng thấu hiểu mình trong tương lai, như mình đã tìm
đến và thấu hiểu nàng Tiểu Thanh Vậy. Điều này đã cho thấy vượt qua mọi không
gian, thời gian, trái tim yêu thương và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyên du vẫn còn tồn tại mãi.
Khép lại bài thơ Độc Tiểu Thanh kí, ta vẫn không khỏi xót xa cho nàng Tiểu
Thanh tài giỏi nhưng bạc mệnh. Đồng thời thấy tấm lòng yêu thương, vị tha, thấu
cảm của Nguyễn Du với những con người bất hạnh trong xã hội cũ.
Phân tích Độc Tiểu Thanh Kí - Mẫu 4
Là một đại thi hào của dân tộc cũng là danh nhân văn hóa thế giới, Nguyễn Du đã
để lại cho đời sau một gia tài văn học đồ sộ bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Khi
sáng tác thơ văn, người ta thấy Nguyễn Du luôn day dứt một nỗi niềm thương cảm
dành cho những người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh trong xã hội đó là những nàng
Dương Qúy Phi, nàng Thúy Kiều và còn có cả nàng Tiểu Thanh trong bài thơ Độc Tiểu Thanh ký.
Ai đã từng đọc bài thơ Độc Tiểu Thanh ký đề biết đây chính là bài thơ viết về nàng
Tiểu Thanh – một người con gái tài sắc vẹn toàn sống vào thời Minh, Trung Quốc.
Tuy nhiên, xoay quanh tiêu đề của bài thơ này vẫn còn nhiều tranh cãi. Người thì
hiểu rằng: Nguyễn Du đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh nhưng cũng có người lại
hiểu rằng Nguyễn Du đọc câu truyện viết về nàng Tiểu Thanh. Nhưng dù hiểu theo
cách nào, nguồn cảm hứng để đại thi hào Nguyễn Du sáng tác nên bài thơ này cũng
từ cuộc đời đầy bi ai của nàng. Tiểu Thanh vốn dĩ có tài sắc, được gả làm vợ lẽ một
gia đình quyền quý khi mới chỉ 16 tuổi. Nhưng nàng lại phải sống cô quạnh trên
Cô Sơn cạnh Tây Hồ do vợ cả hay ghen. Vì đau buồn cảnh sống tù túng, Tiểu
Thanh sớm sinh bệnh và mất ở tuổi 18. Trong những tháng ngày ấy, Tiểu Thanh
gửi nỗi lòng của mình vào những vần thơ nhưng cũng bị vợ cả đốt gần hết, may
vẫn có những vần thơ được giữ lại đến ngày nay.
Nguyễn Du đứng trước bài thơ của nàng Tiểu Thanh mà nức nở:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Dịch: Vườn hoa cạnh Tây Hồ đã thành bãi hoang,
Ta chỉ viếng nàng qua bài ký đọc trước cửa sổ mà thôi”
Hai câu thơ mở đầu nghe buồn não ruột bởi Nguyễn Du thấy sự đối lập giữa quá
khứ và hiện tại. Tây Hồ khi còn nàng Tiểu Thanh xinh đẹp, trẻ trung là một vườn
hoa rực rỡ nhưng đến hiện tại chỉ còn là bãi hoang điêu tàn. Từ “tẫn” được tác giả
sử dụng thể hiện mọi thứ đã bị thay đổi hoàn toàn, không còn một dấu vết nào của
năm xưa. Sự thay đổi của thời gian quả thực khắc nghiệt: vườn hoa biến thành gò
hoang là chứng tích của thời gian, còn cuộc đời hẩm hiu, đau khổ của nàng Tiểu
Thanh cũng chỉ còn lại qua chứng tích là những trang giấy thơ văn mà thôi.
Nguyễn Du đứng trước quang cảnh của thực tại, khó tránh những tiếng thở dài não
ruột và liên tưởng đến thân phận của những người có tài văn chương. Sự lẻ loi, đơn
độc lên đến tột cùng khi chỉ trong 1 câu thơ có tới 2 từ gồm từ “độc” và từ “nhất” xuất hiện.
Tiếp đến hai câu thực, câu chuyện về nàng Tiểu Thanh vẫn là tiền đề khơi gợi cảm
xúc, lòng trắc ẩn của đại thi hào:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Bất cứ ai nghe câu chuyện về Tiểu Thanh cũng khó tránh khỏi sự tiếc thương cho
cuộc đời đầy bi ai. Trước khi cảm nhận cái chết đang gần kề, Tiểu Thanh có thêu
họa sĩ vẽ chân dung của mình nhưng nàng chỉ chọn được 1 bức duy nhất theo đúng
ý để treo lên. Tiểu Thanh cứ nhìn bức tranh mình xinh đẹp, kiều diễm với thần thái
tự tại mà khóc đến chết. Cuối cùng, chính bức tranh đó cũng bị người vợ cả đốt
cùng thơ văn của nàng. Bằng cách sử dụng hình ảnh gắn liền với hồng nhan “chi
phấn”, tác giả đã khéo léo nói về cuộc đời tài hoa bạc mệnh của người con gái ấy.
Không chỉ vậy, Nguyễn Du còn khơi gợi ra những bất công, ngang trái trong cuộc
sống đời thực, chẳng phải riêng của nàng Tiểu Thanh. Người tài hoa bị cái ác dập
vùi trong đau khổ đến mức nếu son phấn có thần chắc chắn có chết cũng vẫn hận,
còn văn chương dù không có số mệnh nhưng bị đốt bỏ cũng mãi vương vấn. Cái
tàn nhẫn của người đời đủ khiến những vật vô tri vô giác cũng phải oán thán trời xanh.
Khác với hai câu đề và hai câu thực có phần hướng ngoại, đến hai câu luận,
Nguyễn Du đã ngẫm về đời và ngẫm về mình:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
(Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Mặc dù bản dịch thơ khá chuẩn, nhưng từ “Mối hờn” không đảm bảo sức nặng như
từ cổ kim hận trong nguyên tác. Mối hờn ở đây không phải thù hận mà là sự tiếc
hận – sự tiếc hận cho những con người tài năng, những thế hệ tài năng nhưng lại
gặp phải nhiều ngang trái trong cuộc đời. Cảm thương cho những con người như
vậy, Nguyễn Du cũng tin rằng dường như có một thông lệ định sẵn cho những con
người tài hoa sẽ bạc mệnh như nàng Tiểu Thanh, như nàng Thúy Kiều… Mối hận
cổ kim là mối hận của người xưa và người nay, tức người thời Nguyễn Du, là
chính Nguyễn Du. Người xưa có thể là Nguyễn Du và những người như nàng.
Người nay có thể là những người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh cùng thời Nguyễn
Du và chính thế hệ tài năng như Nguyễn Du đã gặp nhiều ngang trái trong cuộc đời.
Đến đây, Nguyễn Du tự thấy mình có thể xếp vào cùng hội cùng thuyền với nàng
Tiểu Thanh qua câu thơ: Phong vận kì oan ngã tự cư. Lời oán trách không chỉ thể
hiện sự bất bình, sự đau khổ và bất lực của nhà thơ trước những bất công của xã
hội đã chà đạp lên giá trị văn chương, nghệ thuật thời phong kiến. Biết oán ai bây
giờ, chỉ biết oán trời, oán vận. Trời vốn vô tình với những con người tài hoa, hiện
tại là Nguyễn Du và trước đó 300 năm là nàng Tiểu Thanh còn về sau hậu thế cũng
sẽ có những con người phải chịu nỗi ấm ức này. Có lẽ chính bản thân Nguyễn Du
thời điểm này và cả về sau cũng không thể lý giải được những ngang trái mình gặp
trên đường đời. Những tâm sự của các thi sĩ đời xưa như: thời trai trẻ ta cũng là kẻ
có tài, mà vẫn phải chịu cảnh lang thang mười năm gió bụi đã trở nên quá phổ biến.
Câu hỏi về cuộc đời cứ mãi không có câu trả lời, va đập vào sự vô định vô hình tạo
nên nỗi đau thấm gan thấm ruột.
Sau cái chết của nàng Tiểu Thanh, đến 300 năm sau vẫn có Nguyễn Du ngồi bên
cửa sổ trước tập thơ, câu chuyện về nàng mà cảm thương, xót thương cho số phận
của người con gái ấy. Vậy, Nguyễn Du – người cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh cũng tự hỏi:
Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
(Không biết hơn ba trăm năm sau
Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)
Người xưa cho rằng, những người cùng cảnh ngộ sẽ có sự thấu hiểu và cảm thương
cho nhau sâu sắc hơn bất kỳ ai. Giống như Nguyễn Du cảm thương số phận nàng
Tiểu Thanh, Thúy Kiều cũng đã từng khóc than và tỏ lòng thành với nàng Đạm
Tiên. Những con người đồng khí sẽ thường gặp nhau dù có cách nhau nhiều thế kỉ,
họ cũng sẽ gặp nhau trong tâm tưởng, trong sự hoài niệm. Nguyễn Du dù cách Tiểu
Thanh tới 300 năm, nhưng trước cuộc đời, trước số phận của nàng Nguyễn Du
không tránh khỏi sự đồng cảm, lời khóc than. Và rồi, chính Nguyễn Du nghĩ đến
cuộc đời của mình và tự hỏi rằng: liệu hậu thế về sau, liệu 300 năm có lẻ nữa,
người đời có ai cảm thương cho số phận của ông như chính ông đã cảm thương cho
số phận của nàng Tiểu Thanh hay không. Cũng từ đây, ta thấy được một nỗi cô đơn,
nỗi cô độc giữa chính cuộc đời, chính thời đại chẳng thể tìm được người tri âm, tri
kỷ. Với mong muốn ấy, Tố Như khát khao hậu thế về sau có thể có người trở thành
tri âm của ông qua những tác phẩm ông để lại cho cuộc đời.
Độc Tiểu Thanh kí là bài thơ thể hiện nỗi lòng, sự cảm thông của đại thi hào
Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh tài hoa bạc mệnh. Cũng qua đó, Nguyễn Du cảm
thán cuộc đời, cảm thán cuộc đời mình dường như cũng giống nàng Tiểu Thanh.
Cũng như những bài thơ khác của ông, Độc Tiểu Thanh kí mang đầy giá trị nhân
đạo khi Nguyễn Du đã nhắc đến vấn đề cuộc sống của những con người bị cái ác,
bị xã hội vùi dập và đặc biệt là người phụ nữ trong thời đại xưa. Ông không chỉ thể
hiện sự xót thương mà còn cả sự trân trọng những gì họ để lại cho đời sau. Trước
tấm lòng của Tố Như, chẳng cần đợi đến 300 năm sau, Tố Hữu đã “tri âm” Nguyễn
Du qua những vần thơ da diết:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…
(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 5
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc là danh nhân văn hóa thế giới, là nhà thơ tiêu
biểu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông để lại cho đời số lượng lớn bài thơ
trong đó có những sáng tác đạt đến trình độ cổ điển và mẫu mực, Trong đó phải kể
đến bài thơ " Độc tiểu thanh kí", bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh người con gái tài hoa bạc mệnh.
Tương truyền Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc có tài và có sắc, sống khoảng
đầu thời Minh. Cô được biết đến là người con gái thông mình, nhiều tài nghệ thuật
như thi ca, âm nhạc. 16 tuổi cô về làm vợ lẽ cho một nhà quyền quý. Vì vợ cả hay
ghen bắt cô phải sống một mình trên Cô Sơn, cạnh Tây Hồ. Sống trong sự cô đơn,
buồn tủi, Tiêu Thanh sinh bệnh và từ giã cuộc đời ở năm 18 tuổi. Vì quá thương
thay cho thân phận người con gái tài hoa bạc mệnh nên Nguyễn Du đã viết nên bài
thơ này. Mở đầu bài thơ với hai câu đề đã như tiếng trút lòng của Tiểu Thanh
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
(Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Câu thơ không nhằm mục đích miêu tả cảnh đẹp Tây Hồ mà ngụ ý tác giả chỉ là
mượn không gian để nói lên suy nghĩ, cảm nhận về sự biến đổi trong cuộc sống.
Tây Hồ vốn được biết đến là cảnh đẹp có tiếng nhưng với cuộc đời của nàng Tiểu
Thanh thì cảnh đẹp nơi ấy "hóa gò hoang". Người nằm dưới lòng "gò hoang" kia là
nàng Tiểu Thanh bạc mệnh chỉ để lại trên trần thế "mảnh giấy tàn" là phần di sản của Tiểu Thanh.
Trong không gian điêu tàn ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ cô đơn qua từ ngữ
"độc điếu". Hai hình ảnh "gò hoang" và "mảnh giấy tàn" đã làm cho nhà thơ cảm
giác "thổn thức bên song". Hai câu đầu chỉ là lời giới thiệu thì sang hai cậu thực
nhà thơ đã làm sáng tỏ hơn cảm giác buồn thương ngậm ngùi trong hai câu đề
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Mượn hình ảnh "son phấn" và " văn chương" ngụ ý nhắc đến nàng Tiểu Thanh. Cả
cuộc đời nàng chỉ biết làm bạn với son phấn và văn chương để vơi đi những buồn
tủi, bất hạnh. Nhà thơ dùng từ "son phấn" để ẩn dụ khi nói về nhan sắc của nàng
Tiểu Thanh nhưng cái đẹp ấy lại bị vùi dập không thương tiếc.
Dù đã chết "chôn" nhưng linh hồn nàng vẫn chưa siêu thoát vẫn ôm một nỗi "hận"
trần thế. "Hận" vì sự ghen tuông vô lý của bà vợ cả đã đẩy nàng vào cái chết khi
tuổi vừa mới 18 đôi mươi, hận vì những trang văn vốn chẳng có tội tình gì cũng bị
đốt cháy nhưng như còn chút nuối tiếc " còn vương" nên vẫn còn lại một số bài. Từ
số phận của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã khái quát thành cái nhìn về con
người trong xã hội phong kiến trong hai câu luận tiếp theo:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Dường như nỗi oan ức của Tiểu Thanh không phải chỉ của riêng mỗi nàng mà là
cái án, cái kết thúc chung của những con người "tài hoa bạc mệnh" có từ thời "cổ"
chí "kim". Nhà thơ dùng từ "hận sự" như muốn nhắc đến một mối hận suốt đời
nhắm mắt cũng không thể quên. Có tài, có sắc nhưng lại không thể an yên, vui vẻ
với kiếp người. Khi đọc những vần thơ trên người đọc còn sẽ liên tưởng đến hình
ảnh nàng Kiều của Nguyễn Du. Đó cũng là một số phận sinh ra trong xã hội phong
kiến tài sắc chẳng kém ai vậy mà cuộc đời nàng lênh đênh, bạc mệnh quá. Nhà thơ
Nguyễn Du đã từng viết 2 câu thơ ngậm ngùi, xót xa:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Những oan khuất của nghìn đời ấy chỉ có trời mới hiểu "trời khôn hỏi" nhưng dẫu
có biết thì cũng không thể làm gì được. Đó như một cái án của nhiều nạn nhân,
nhiều con người trong cái xã hội lúc bấy giờ phải "tự mang". Hai câu thơ khóc
thương người nhưng dường như cũng để thương mình của Nguyễn Du đã thể hiện
được tầm vóc lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo và cách nhìn sâu sắc của ông. Khép
lại bài thơ với hai câu kết là những dòng suy tư, cảm nghĩ của chính nhà thơ về thời thế, thời cuộc:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)
Khóc cho Tiểu Thanh của ba trăm năm trước bằng sự đồng điệu về suy nghĩ, thấu
hiểu về cảm xúc nhưng nhà thơ đã tự vấn, hoài nghi và đặt câu hỏi cho chính mình.
Một câu hỏi chứa đựng nhiều xót xa, nếu như ba trăm năm sau những vần thơ của
Tiểu Thanh vẫn còn có Nguyễn Du thương cảm nhưng liệu ba trăm năm sau có còn "ai khóc Tố Như chăng".
Người đời khi ấy liệu có nhớ hay đã quên đến ông, câu hỏi như xoáy sâu vào suy
nghĩ của người đọc. Câu thơ như bộc lộ nỗi bi phẫn của nhà thơ trước thời cuộc để
rồi khóc thương người, nhà thơ tự khóc thương chính mình.
Nhưng đến ngày hôm nay, ai trong chúng ta đều biết đến, đều ghi nhớ đến Nguyễn
Du là một đại thi hào của dân tộc, một tượng đài bất từ của nền văn học Việt Nam
bởi những tác phẩm đồ sộ mang giá trị cao đã và đang được lưu truyền cho các thế hệ sau.
“Độc tiểu thanh ký” là một bài thơ để lại những thương cảm trong lòng người đọc
về số phận bất hạnh của những con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Đồng thời qua
đây, tác giả cũng đã phản ánh thực trạng xã hội phong kiến tàn ác đã đẩy con người
vào những bước đường cùng, chà đạp lên nhân phẩm và lãng quên những giá trị
mà họ đã để lại cho đời.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 6
Nguyễn Du là một cái tên mà nhắc đến thì ai cũng biết. Tên tuổi của ông thường
gắn liền với Truyện Kiều thế nhưng ông còn nhiều sáng tác khác nữa. Có thể nói
Nguyễn Du là một người có sự đồng cảm với những người phụ nữ đương thời.
Chính vì thế những bài thơ của ông thường khóc cho số phận của những con người
hồng nhan bạc mệnh. Ngoài Kiều ra thì chúng ta còn thấy Nguyễn Du khóc thương
cho nàng tiểu Thanh đời nhà Minh qua tác phẩm độc tiểu thanh ký. Qua bài thơ
Nguyễn Du thể hiện sự thương cảm cho những con người tài sắc nhưng bạc mệnh.
Đồng thời qua đó ông thể hiện sự day dứt trăn trở cho số phận những người có tài
trong đó có chính bản thân ông.
Cảnh Hồ Tây gắn liền với những với giai thoại về nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn
toàn, sống vào đầu đời nhà Minh. Vì hoàn cảnh éo le, nàng phải làm vợ lẽ một
thương gia giàu có ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Vợ cả ghen, bắt nàng ở trong
ngôi nhà xây biệt lập trên núi Cô Sơn. Nàng có làm một tập thơ ghi lại tâm trạng
đau khổ của mình. ít lâu sau, Tiểu Thanh buồn mà chết, giữa lúc tuổi vừa mười tám.
Nàng chết rồi, vợ cả vẫn ghen, đem đốt tập thơ của nàng, may còn sót một số bài
được người đời chép lại đặt tên là Phần dư (đốt còn sót lại) và thuật luôn câu
chuyện bạc phận của nàng.
Mở đầu bài thơ tác giả dựng lên một hình ảnh Hồ Tây đầy những u ám, nó không
đẹp phảng phất ngây ngất nữa mà nó mang một nỗi niềm oan ức của người con gái đa tài có nhan sắc kia:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. ”
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Nhắc đến Tây Hồ người ta thường nghĩ đến những cảnh đẹp thế nhưng ở đây
Nguyễn Du lại nói là gò hoang. Có thể nói ở đây ngày xưa đúng là một cảnh đẹp
thật đấy nhưng giờ đây thì không. Nó chỉ còn lại một gò hoang vu mà thôi. ở nơi
ấy nàng Tiểu Thanh đã mất đi và chính sự mất đi ấy đã làm cho cảnh vật nơi đây
âm u tràn trong những uất ức mà cô phải chịu. Nó không còn đẹp nữa giống như
người con gái ấy không còn nữa. Tây Hồ thành gò hoang cũng như cô ấy đã ra đi
và giờ đây chỉ còn là một nắm xương khô mà thôi. Hai chữ “thổn thức” như gợi lên
bao đau đớn buồn thương của người con gái ấy. Tiếng lòng Tiểu Thanh hay chính
là tiếng lòng của Nguyễn Du. Ở đây có một sự đồng điệu về nhân vật và tác giả.
Họ cùng chung một sự nghiệp văn chương cho nên trước sư ra đi của người tài giỏi
Nguyễn Du đồng điệu tâm hồn mình.
Đến hai câu thơ sau chúng ta lại thấy được những linh hồn của cô nàng tài sắc ấy
vẫn còn vấn vương trên cõi trần, vẫn ở đâu đó khiến cho nhà thơ cảm nhận được:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư:”
(Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Son phấn ở đây chỉ nhằm nói đến Tiểu Thanh, son phấn để chỉ người phụ nữ bởi
nó là một vật trang điểm khiến cho nhan sắc của những người phụ nữ thêm phần
lộng lẫy và xinh đẹp hơn. Tác giả như cảm nhận thấy được cái thần thái của người
con gái ấy vẫn còn đâu đây mặc dù bị chôn đi nhưng mà nỗi hận vẫn còn. Chính
nhà thơ dùng tâm hồn đồng điệu của mình để cảm nhận được điều đó. Và chính cái
chết ấy đã mang đi sự nghiệp văn chương của cô. Vốn dĩ nó còn được phát triển
nữa nhưng thật sự không thể được vì cái người làm ra nó vì xinh đẹp mà bị giết hại.
Có thể nói nhan sắc kia đã làm cho văn chương bị liên lụy. Thế nhưng những tác
phẩm văn chương của nàng tiểu Thanh ấy dù bị đốt đi nhưng hãy còn vương. Văn
chương đâu có mệnh có linh hồn vậy mà ở đây lại có. Tất cả để nói lên rằng linh hồn của tiểu Thanh.
Nhà thơ tiếp tục bày tỏ nỗi lòng mình với nàng Tiểu Thanh tài sắc trong hai câu
thơ tiếp. có thể nói rằng những câu thơ như càng ngày càng thấm đẫm sự thương
xót người xưa của nhà thơ. Từ đó ta thấy được nhà thơ đang như “thương người
như thể thương thân” vậy:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang. )”
Nỗi hận của nàng Tiểu Thanh là một nỗi hận kim cổ, câu thơ chứa đựng biết bao
nhiêu tuyệt vọng. Không những thế Nguyên Du đã nâng nỗi hận của Tiểu Thanh
thành nỗi hận của đời này truyền sang đời khác. Cái chết oan ức của Tiểu Thanh
không thể hết oan ức được. Phong vận ở câu thơ thứ sáu không có nghĩa là sự
phong lưu về vật chất mà là sự phong lưu về tinh thần, Nói cách khác là chỉ cái tâm,
cái tài của những kẻ tài hoa. Con người tài hoa là tinh túy của trời đất, vậy mà sao
số phận họ lại nhiều vất vả, truân chuyên đến vậy? đúng là:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”
Càng thương tiếc Tiểu Thanh bao nhiêu thì Nguyễn Du lại nghĩ đến bản thân mình bấy nhiêu:
“Bất tri tam bách dư niên hậu, .
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?)
Nhà thơ lo lắng cho bản thân mình trước sự trôi chảy của cuộc đời. Rồi mai này
Nguyễn Du cũng mất đi nhưng không biết rằng có ai khóc Tố Như không. Câu hỏi
cất lên mang đầy sự trăn trở về số phận mình. Ba trăm năm con số ấy là rất dài
nhưng đến ngày nay thì người ta đã nhớ đến Nguyễn Du rất nhiều rồi.
Qua đây ta thấy được sự thương cảm xót xa đồng điệu của những con người tài hoa
bạc mệnh với nhau. Nguyễn Du quả thật là một nhà văn của người phụ nữ, ông
không những có một tác phẩm về cuộc đời nàng Kiều mà ông còn thương cảm với
nàng Tiểu Thanh bên Trung Quốc. Tóm lại nhà thơ viết lên bài thơ này một mặc để
bày tỏ sự thương tiếc với người tài hoa nhưng bạc mệnh lại vừa thể hiện sự trăn trở
về số phận của bản thân mình.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 7
Độc Tiểu Thanh kí là một trong những bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Du in
trong Thanh Hiên thi tập. Có thể Nguyễn Du sáng tác bài này trước hoặc sau khi
được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc.
Thắng cảnh Tây Hồ gắn liền với giai thoại về nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn toàn,
sống vào đầu đời nhà Minh. Vì hoàn cảnh éo le, nàng phải làm vợ lẽ một thương
gia giàu có ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Vợ cả ghen, bắt nàng ở trong ngôi nhà
xây biệt lập trên núi Cô Sơn. Nàng có làm một tập thơ ghi lại tâm trạng đau khổ
của mình. ít lâu sau, Tiểu Thanh buồn mà chết, giữa lúc tuổi vừa mười tám. Nàng
chết rồi, vợ cả vẫn ghen, đem đốt tập thơ của nàng, may còn sót một số bài được
người đời chép lại đặt tên là Phần dư (đốt còn sót lại) và thuật luôn câu chuyện bạc phận của nàng.
Nguyễn Du đọc những bài thơ ấy, lòng dạt dào thương cảm cô gái tài hoa bạc
mệnh, đồng thời ông cũng bày tỏ nỗi băn khoăn, day dứt trước số phận bất hạnh
của bao con người tài hoa khác trong xã hội cũ, trong đó có cả bản thân ông. Phiên âm chữ Hán:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn;
Phong vận kì oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Dịch thơ Tiếng Việt:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Đến với Tiểu Thanh ba trăm năm sau ngày nàng mất, trong lòng nhà thơ Nguyễn
Du dậy lên cảm xúc xót xa trước cảnh đời tang thương dâu bể:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,)
Câu thơ có sức gợi liên tưởng rất lớn. Cảnh đẹp năm xưa đã thành phế tích, đã bị
hủy hoại chẳng còn lại gì. Trên gò hoang ấy chôn vùi nắm xương tàn của nàng
Tiểu Thanh xấu số. Nói đến cảnh đẹp Tây Hồ, chắc hẳn tác giả còn ngụ ý nói về
con người đã từng sống ở đây, tức Tiểu Thanh. Cuộc đời của người con gái tài sắc
này cũng chẳng còn lại gì ngoài những giai thoại về nàng. Cảnh ấy khiến tình này
nhân lên gấp bội. Trái tim của nhà thơ thổn thức trước những gì gợi lại một kiếp người bất hạnh:
Độc điếu song tiền nhất chi thư.
(Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.)
Tiểu Thanh đã bày tỏ tâm trạng của mình qua những bài thơ đó như thế nào?
Chắc chắn là nỗi buồn tủi cho thân phận, nỗi xót xa cho duyên kiếp dở dang và
thống thiết hơn cả là nỗi đau nhân tình không người chia sẻ. Tiếng lòng Tiểu
Thanh đồng điệu với tiếng lòng Nguyễn Du nên mới tạo ra được xúc động mãnh
liệt đến thế. Nhà thơ khóc thương Tiểu Thanh tài hoa bạc mệnh, đồng thời cũng là
khóc thương chính mình – kẻ cùng hội cùng thuyền trong giới phong vận.
Nguyễn Du cỏ cảm giác là dường như linh hồn Tiểu Thanh vẫn còn vương vấn đâu
đây. Nàng chết lúc mới mười tám tuổi trong cô đơn, héo hắt, đau khổ. Oan hồn của
nàng làm sao tiêu tan được?
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư:
(Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương.)
Ba trăm năm đã qua nhưng tất cả những gì gắn bó với nàng vẫn như còn đó. Chi
phấn (son phấn) nghĩa bóng chỉ phụ nữ; tức Tiểu Thanh. Son phấn là vật để trang
điểm, song nó cung tượng trưng cho sắc đẹp phụ nữ. Mà sắc đẹp thì có thần (thần
chữ Hán cũng có nghĩa như hồn) nó vẫn sống mãi với thời gian như Tây Thi,
Dương Quý Phi tên tuổi đời đời còn lưu lại. Nỗi hận của son phấn Cũng là nỗi hận
của Tiểu Thanh, của sắc đẹp, của cái Đẹp bị hãm hại, dập vùi. Nó có thể bị đày đọa,
bị chôn vùi, nhưng nó vẫn để thương để tiếc cho muôn đời.
Văn chương là cái tài của Tiểu Thanh nói riêng và cũng là vẻ đẹp tinh thần của
cuộc đời nói chung. Văn chương vô mệnh bởi nó đâu có sống chết như người? Ấy
vậy mà ở đây, nó như có linh hồn, cũng biết giận, biết thương, biết cố gắng chống
chọi lại bạo lực hủy diệt để tồn tại, để nói với người đời sau những điều tâm huyết.
Dụ nó có bị đốt, bị hủy, nhưng những gì còn sót lại vẫn khiến người đời thương
cảm, xót xa. Nhà thơ đã thay đổi số phận cho son phấn, văn chương, để chúng
được sống và gắn bó với Tiểu Thanh, thay nàng nói lên nỗi uất hận ngàn đời. Hai
câu thơ đầy ý vị ngậm ngùi, cay đắng, như một tiếng khóc thổn thức, nghẹn ngào. Đến hai câu luận:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kì oan ngã tự cư.
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang.)
Nhà thơ tiếp tục bày tỏ niềm thương cảm của lòng mình. Câu thơ: cổ kim hận sự
thiên nan vấn chứa đựng sự tuyệt vọng. Từ nỗi hận nhỏ là hận riêng cho số phận
Tiểu Thanh, Nguyễn Du nâng cao, mở rộng thành nỗi hận truyền kiếp từ xưa tới
nay của giới giai nhân tài tử. Tài hoa bạc mệnh, đó có phải là quy luật bất di bất
dịch của Tạo hóa ? Là định mệnh rõ ràng khắt khe của số phận? Nếu đúng như thế
thì nguyên nhân là do đâu? Trải mấy ngàn năm, điều đó đã tích tụ thành nỗi oán
hờn to lớn mà không biết hỏi ai. Nỗi oan lạ lùng của những kẻ tài sắc như Tiểu
Thanh cũng là nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh rõ ràng là vô lí, bất công,
nhưng khó mà hỏi trời vì trời cũng không sao giải thích được (thiên nan vấn). Do
đó mà càng thêm hờn, thêm hận.
Phong vận ở câu thơ thứ sáu không có nghĩa là sự phong lưu về vật chất mà là sự
phong lưu về tinh thần, Nói cách khác là chỉ cái tâm, cái tài của những kẻ tài hoa.
Con người tài hoa là tinh túy của trời đất, vậy mà sao số phận họ lại nhiều vất vả,
truân chuyên đến vậy? Nguyễn Du đã từng viết: Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Bởi thế nên phong lưu đã thành cái án chung thân mà khách (kẻ tài hoa) phải mang
nặng suốt đời. Oái oăm thay, biết là vậy mà bao thế hệ văn nhân tài tử vẫn tự mang
nó vào mình. Nguyễn Du đã nhập thân vào Tiểu Thanh để nói lên những điều bao
đời nay vẫn cứ mãi băn khoăn, dằn vặt.
Càng ngẫm nghĩ, nhà thơ càng thương tiếc Tiểu Thanh và càng thương thân phận
mình. Từ thương người, ông chuyển sang thương thân:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng)
Câu hỏi đậm sắc thái tu từ cho thấy Nguyễn Du vừa băn khoăn vừa mong đợi
người đời sau đồng cảm và thương cảm cho số phận của mình. Có thể hiểu ba trăm
năm là con số tượng trưng cho một khoảng thời gian rất dài. Ý Nguyễn Du muốn
bày tỏ là giờ đây, một mình ta khóc nàng, coi nỗi oan của nàng như của ta. Vậy sau
này liệu có còn ai mang nỗi oan như ta nhỏ lệ khóc ta chăng ? Câu thơ thể hiện tâm
trạng cô đơn của nhà thơ vì chưa tìm thấy người đồng cảm trong hiện tại nên đành
gửi hi vọng da diết ấy vào hậu thế. Hậu thế không chỉ khóc cho riêng Tố Như, mà
là khóc cho bao kiếp tài hoa tài tử khác.
Nhà thơ thấy giữa mình và Tiểu Thanh có những nét đồng bệnh tương liên. Tiểu
Thanh mất đi, ba trăm năm sau có Nguyễn Du thương xót cho số phận nàng. Liệu
sau khi Tố Như chết ba trăm năm, có ai nhớ tới ông mà khóc thương chặng?
Câu thơ như tiếng khóc xót xa cho thân phận, thương mình bơ vơ, cô độc, không
kẻ tri âm, tri kỷ; một mình ôm mối hận của kẻ tài hoa bạc mệnh giữa cõi đời.
Dường như nhà thơ, đang mang tâm trạng của nàng Kiều sau bao sóng gió cuộc
đời: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Mở đầu bài thơ là thương người, kết thúc bài thơ là thương thân. Tứ thơ không có
gì lạc điệu bởi đến đây, Tiểu Thanh và Nguyễn Du đã hòa làm một – một số kiếp
tài hoa mà đau thương trong muôn vàn số kiếp tài hoa đau thương trong xã hội phong kiến cũ.
Bài thơ cho thấy niềm thương cảm của Nguyễn Du đối với con người mênh mông
biết chừng nào ! Nó không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Nguyễn Du
không chỉ thương người đang sống mà thương cả người đã khuất mấy trăm năm.
Thương người, thương mình, đó là biểu hiện cao nhất của đạo làm người. Đời
người hữu hạn mà nỗi đau con người thì vô hạn. Trái tim đa cảm của nhà thơ rất
nhạy bén trước nỗi đau to lớn ấy. Giống như truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh kí là
đỉnh cao tư tưởng nhân văn của đại thi hào Nguyễn Du.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 8
Nguyễn Du tên là chữ Tố Như. hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (Nhà
săn bắn núi Hồng Sơn), sinh năm 1765 thời Lê mặt tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Thân sinh là cụ Hoàng Giáp Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, thủ tướng Lê triều.
Gia đình cụ Nguyễn Du là một gia đình Nho học lỗi lạc, cả nhà đều làm quan to
dưới triều Lê khiến thời ấy đã có câu ca dao ca ngợi:
Bao giờ ngàn Hống hết cây,
Sông Rum hết nước, họ này hết quan.
Gia đình Nguyễn Du còn là một gia đình văn học nổi tiếng. Cụ Nguyễn Nghiễm
từng gửi gắm tâm sự mình vào bài phú “Khổng Tử mộng Chu Công”. Thời bấy giờ
nước ta có 5 danh sĩ nổi tiếng mà gia đình họ Nguyễn đã có 2 người được nêu danh
(Nguyễn Du và Nguyễn Đạm).
Nguyễn Du là con bà trắc thất Trần Thị Tần, người huyện Đông Ngạn tỉnh Bắc
Ninh. Bà có 4 người con mà Nguyễn Du là con thứ ba. Năm 18, Nguyễn Du thi đỗ
Tam trường (Tú tài), và bắt đầu cuộc đời chìm nổi theo vận mệnh đất nước.
Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, kêu gọi tôi thần nhà Lê ra làm quan. Vua cũng
cho triệu Nguyễn Du. Không thể từ chối được, nên năm ấy ông ra làm Tri huyện
Phù Dực, tỉnh Thái Bình, sau lại thăng Tri Phủ. Thường Tín cùng tỉnh. Làm quan
được mấy năm thì ông cáo bệnh xin về.
Năm 1806, ông lại được triệu về Kinh với chức Đông Các học sĩ. Năm 1809, được
đưa làm Cai bạ tỉnh Quảng Bình (tức là Bố Chính). Năm 1813, ông được thăng cần
Chính điện học sĩ và được làm Chánh sứ sang cống Tàu đáp lễ sắc phong An Nam
Quốc vương. Thời gian này, Nguyễn Du viết Bắc hành tạp lục. Đi sứ về, ông được
thăng chức Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Năm 1820; ông vừa được lệnh đi sứ Tàu lần thứ
hai thì thọ bệnh rồi mất nhằm ngày mùng 10 tháng 8 năm Canh Thìn (Minh Mạng nguyên niên).
Bài thơ Độc Tiểu Thanh Kí là một bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán, được in trong
Thanh Hiên thi tập, thể hiện lòng nhân ái và sự đồng cảm của nhà thơ về nàng Tiểu
Thanh tài sắc nhưng phận bạc.
Nguyễn Du với Tiểu Thanh là hai người xa lạ. Vậy Tiểu Thanh là ai?
Tương truyền Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc có tài và có sắc, sống khoảng
đầu thời Minh. Vốn thông minh nên từ nhỏ cô đã thông hiểu nhiều môn nghệ thuật
như thi ca, âm nhạc. Năm 16 tuổi, cô làm vợ lẽ một nhà quyền quý. Vợ cả là người
hay ghen, bắt cô phải sống riêng trên Cô Sơn, cạnh Tây Hồ. Nỗi uất ức đau khổ
được cô gửi gắm vào thơ nhưng bài thơ đã bị người vợ cả đốt, may mắn có một số
bài thơ còn sót lại. Người ta cho khắc in số thơ đó, đặt tên là Phần dư (Bị đốt còn
sót lại). Sống trong tình cảnh đó, Tiểu Thanh sinh bệnh và từ giã cõi đời ở tuổi 18.
Nguyễn Du cảm thương người con gái tài sắc phận bạc ấy mà làm bài thơ này. Bài
thơ chữ Hán được dịch nghĩa theo văn xuôi là:
Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi. Chỉ viếng nàng qua một tập sách
đọc trước cửa sổ. Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết.
Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở. Mối hận cổ kim khó mà hỏi trời
được. Sống phong lưu, nhàn nhã cũng tự mang bản án vào mình. Ta tự thấy là
người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã. Không biết hơn
ba trăm năm sau, thiên hạ ai người khóc Tố Như?
Bài thơ khá hay nên có nhiều người dịch ra tiếng Việt. Giản Chi, Nguyễn Quảng
Tuân, Vũ Tam Tập dịch theo thể thơ, riêng Vũ Hoàng Chương thì diễn ra thơ lục
bát. Dù là hình thức nào, người dịch vẫn không làm chệch hướng nội dung của bài
thơ. Ở đây, chúng ta tìm hiểu, cảm nhận bài thơ theo bản dịch của Vũ Tam Tập.
Hai câu đề của bài thơ:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.
Đấy là hai câu thơ tức cảnh sinh tình dù bài thơ không được sáng tác tại chỗ (Tây
Hồ). Đây là cảnh trong tâm tưởng của nhà thơ. Mà đúng thế. Nhà riêng của một
nhà quyền quý chắc chắn là đẹp, cảnh Tây Hồ vốn đẹp nổi tiếng. Hiện thực là thế,
nhưng với đời của nàng Tiểu Thanh, với nhà thơ thì không thế. Cảnh đẹp ấy, trong
tâm tưởng của nhà thơ đã “hóa gò hoang”. Một đồi đất nhỏ thì có gì là đẹp! Mà đó
là nấm mồ vô chủ ai mà đến thăm (Truyện Kiều) thì người đang nằm dưới lòng đất
kia lại càng lạnh lẽo, càng cô đơn. Người đang nằm dưới lòng “gò hoang” kia,
nàng Tiểu Thanh bạc mệnh kia chỉ còn lại ở dương thế “mảnh giấy tàn” là phần di
cảo của Tiểu Thanh Kí. Chính hai chi tiết, hai hình ảnh “gò hoang” và “mảnh giấy
tàn” này là nguyên nhân khiến nhà thơ “thổn thức bên song". Cảm xúc của nhà thơ
về nàng Tiểu Thanh được diễn tả rõ hơn ở hai câu thực:
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương.
Hoán dụ “son phấn” để chỉ nàng Tiểu Thanh. Tiểu Thanh dù đã chết (chôn) nhưng
linh hồn chắc phải xót xa, căm giận người đã đốt những trang thơ của nàng. “Hận”
vì hai lẽ: ghen tuông mù quáng khiến nàng phải chết, và đốt những trang thơ vốn
chẳng có số phận {mệnh), và chúng vẫn không cháy hết như còn nuối tiếc (còn
vương) muốn giữ phần còn lại cho hậu thế.
Trên là những câu thơ tức cảnh sinh tình, cảm thương cho người tài sắc nhưng bạc
phận. Từ đó nhà thơ đã bàn rộng thêm ở hai câu luận:
Hình như nhà thơ muốn an ủi nàng Tiểu Thanh, tự nhủ với lòng mình rằng xưa nay
những người tài hoa nhưng bạc mệnh cũng đã có nhiều. Việc đó thì chỉ có trời mới
hiểu. Nhưng dù trời có hiểu vẫn chẳng thể nào can thiệp được sự ganh ghét của
người vợ cả, của người đời về lối sống phong lưu đài các, nhàn nhã của người có
tài. Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Ban đầu, các nhà văn xưa mượn thuyết tài mệnh tương đối này để miêu tả cuộc đời
của những phụ nữ có nhan sắc, hiền đức nhưng phải chịu nhiều nỗi oan khiên.
Nguyễn Dữ với chuyện Người con gái Nam Xương, Nguyễn Gia Thiều viết về
cung nữ trong Cung oán ngâm khúc, Đặng Trần Côn với người chinh phụ trong
Chinh phụ ngâm... Đấy là những mảnh đời riêng biệt.
Riêng với Nguyễn Du, nhà thơ lại quan tâm đặc biệt đến đời của những phụ nữ có
cả sắc lẫn tài “thi hoa lẫn... cung thương làu bậc ngũ âm...” (Kiều) khá tương đồng
với thân phận của những nhà nho thất sủng trong xã hội loạn lạc, suy thoái. Là
Dương Quý Phi, Tiểu Thanh, Người con gái gảy đàn ở Thăng Long trong thơ chữ
Hán; là Đạm Tiên, Thúy Kiều trong Truyện Kiều. Đây là những kẻ “tài tình chi
lắm cho trời đất ghen” mà nhà thơ cảm thông với họ đồng thời cũng ngụ ý ví với thân phận của mình.
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Ấy là dự cảm của nhà thơ về số phận của mình. Với Tiểu Thanh, người phụ nữ xa
lạ có phần đời bất hạnh khiến nhà thơ thương khóc như vậy dù nàng sống trước
nhà thơ ngoài mấy trăm năm, không biết ngoài ba trăm năm sau có ai thương cảm khóc nhà thơ chăng?
Biết được số phận của Tiểu Thanh, Nguyễn Du liên tưởng đến số phận của mình.
Đúng vậy, nhưng như trên đã viết, nhà thơ nghĩ đến thân phận của những nhà nho,
những người có tài, trong đó có ông. Đấy là mối đồng cảm “tình lại gặp tình”, như
Thúy Kiều trước mộ Đạm Tiên, “thấy người nằm đó biết sau thế nào?” Đó là sự
liên tưởng, mối ưu tư tự nhiên của những người có đời sống tinh thần thiên về tình cảm. Trước mộ Đạm Tiên.
Kiều rằng: “Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách còn là tinh anh”
Công chúng, thời nào cũng thế, rất công minh trong việc tìm tòi, chắt lọc “tinh
anh” của “đấng tài hoa”. Điều ấy chúng ta thây ở tục ngữ, những bài ca dao, những
tác phẩm văn chương có từ thuở xa xưa tới nay vẫn còn được truyền tụng. Ngay cả
Truyện Kiều, hay Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du đã qua hai trăm năm vẫn còn
được truyền tụng, và sẽ còn được truyền tụng lâu dài.
Phân tích Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 9
“Độc Tiểu Thanh ký” là một câu chuyện đời được kể bằng mấy câu thơ cô đọng
hàm súc của Nguyễn Du. Có thể coi đây là bài thơ bằng chữ Hán hay nhất của ông
in trong tập Thanh hiên thi tập. Bài thơ chính là tiếng lòng tiếc thương, xót xa cho
số phận của người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh.
Bài thơ độc Tiểu Thanh ký được lấy cảm hứng từ câu chuyện cảm động của người
con gái sống vào đầu đời nhà Minh. Nhưng vì gia cảnh nghèo khó, éo len nên nàng
được gả vào một gia đình giàu có, làm lẽ đến hết đời. Tuy nhiên vợ cả ghen tuông
nên đã cho nàng ở tách biệt trong ngôi nhà ở núi Cô Sơn. Trong những năm tháng
sống ở đó, bà đã có hàng trăm bài thơ thổ lộ nỗi niềm, tình cảnh cô đơn lẻ bóng của
mình. Ít lâu sau đó, nàng vì quá buồn bã mà chết trong lúc tuổi đời còn quá trẻ. Vợ
cả đã đốt đi hết những bài thơ nàng viết, tuy nhiên còn sót lại một số bài, mà sau
này người ta bảo chép lại và đặt tên là “Phần dư” để ghi chép lại cuộc đời đầy oan nghiệt của nàng.
Nguyễn Du khi bắt gặp những bài thơ ấy đã nảy sinh lòng trắc ẩn, xót thương cho
thân phận tài hoa bạc mệnh. Và qua nhân vật này, ông phản chiếu vào cuộc đời
mình, nhận ra cuộc đời có quá nhiều bất công, khổ ải.
Nguyễn Du đã mở đầu bài thơ bằng cách gợi ra không gian nơi nàng Tiểu Thanh từng sống:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Hai câu thơ có sức gợi, sức ám ảnh rất lớn, khiến người đọc tưởng tượng ra không
gian, khung cảnh rất xa xa – nơi người con gái bạc mệnh đã từng sống. Tây Hồ là
nơi cảnh đẹp hữu tình nhưng lại hóa gò hoang vắng, heo hút vì có người con gái
mãi mãi chôn vùi tuổi thanh xuân của mình ở đây.
Những tâm sự chồng chất ấy, nàng đã giãi bày qua những vần thơ đẫm nước mắt.
Hình ảnh người con gái có chồng cũng như không, một mình vò võ, “thổn thức”
bên song cửa sổ với những mảnh giấy tàn viết nên tâm sự đau lòng. Không còn gì
buồn và thê thảm hơn khi “có chồng hờ hững cũng như không”. Cuộc đời của
những người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa trong xã hội phong kiến dường như đều bị chà đạp như thế.
Nguyễn Du có cảm giác như mảnh giấy tàn ấy vẫn còn vương vấn linh hồn của
nàng, còn phảng phất cho đến tận bây giờ.
Ông xót xa cho thân phận bạc mệnh đó
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Hai câu thơ này đã toát lên sự xót xa, chua xót đến tột độ của Nguyễn Du khi nghĩ
đến người con gái mệnh bạc ấy. Đã 300 năm trôi qua nhưng hình ảnh của nàng vẫn
còn vương vấn, khiến người đòi về sau không khỏi xót thương. Tác giả dùng từ «
son phấn » để chỉ nhan sắc của người con gái dù có xinh đẹp bao nhiêu thì cũng bị
vùi dập, chà đạp không tiếc thương, cuối cùng đành ôm hận mà chết. Những trang
thơ mà nàng viết, bị người ta đốt cháy hết thì nó vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay.
Hai câu luận đã thể hiện được sự đồng cảm, xót xa cho thân phận tài hoa này :
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang
Hai câu thơ cất lên đầy sự tuyệt vọng, ai oán và u sầu nặng nề. Hỏi trời cao, trời
không thấu, trách kẻ bạc tình, người không hay. Nguyễn Du thốt lên một câu hỏi
đầy chua xót nhưng nhận về mình nhiều khổ đau. Những người phụ nữ tài hoa,
xinh đẹp từ xưa đến nay dường như đã mang trong mình cái « án » oan nghiệt,
không thể rũ bỏ được.Hay chính xã hội phong kiến đã đẩy họ vào bước đường
cùng nhiều chua cay như thế này.
Và ở hai câu kết, tác giả đã vận vào bản thân mình, vận sự bạc mệnh của người phụ nữ tài hoa ấy
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Một câu hỏi tu từ đầy ngậm ngùi và chua xót khi nghĩ đến cảnh mình sau 300 năm
nữa. Tiểu Thanh sau 300 năm vẫn khiến người đọc xót xa, day dứt, nhưng liệu rằng
mình có còn được như thế, hay hóa thành cát bụi.
Câu hỏi đậm giá trị nhân văn, ông muốn hỏi dò tâm ý của mọi người khi nghĩ đến
số phận của những người tài hoa sau một thời gian dài sẽ như thế nào. Từ số kiếp
tài hoa bạc mệnh của Tiểu Thanh, ông đã liên tưởng đến cuộc đời nhiều sóng gió
của bản thân mình. Câu thơ còn khiến cho người đọc phải nghĩ, phải day dứt và xót xa trăm nghìn lần.
Bài thơ “Độc tiểu thanh ký” của Nguyễn Du là một kiệt tác để lại trong lòng người
đọc nhiều nỗi niềm thương cảm về số phận bất hạnh của nhiều người trong xã hội,
lên án xã hội chà đạp lên nhân phẩm của họ.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 10
Thơ văn Nguyễn Du tựa như một kim tự tháp sừng sững giữa đất trời mênh mông.
Ba mặt của kim tự tháp ấy, mỗi mặt đều mang một vẻ đẹp kỳ lạ. Mặt chính diện
óng ánh sắc màu “Truyện Kiều” với “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Mặt
trái cấu trúc bằng một thứ vật liệu dân dã với “Thác lời trai phường Nón”, với
“Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu”. Và mặt phải của ngôi tháp là những lớp men
ngọc, những khối đá hoa cương, đã được tạo, được khắc bằng “Thanh Hiên thi tập”,
“Nam trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”. Nhân dân ta rất lấy làm tự hào về thi hào dân tộc Nguyễn Du.
Nếu “Truyện Kiều” là công trình nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du về nỗi đau,
niềm vui của những kiếp người thì thơ chữ Hán lại cho thấy một cách trực diện sự
khám phá tài tình của ông về cái thế giới sâu thẳm ẩn náu trong đáy tâm hồn nhà
thơ. Thi sĩ Xuân Diệu đã viết: “Chính thơ chữ Hán chứa đựng bóng hình, đời sống,
nét mặt, mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du”.
Từ những cảm nhận ấy, mỗi một chúng ta xúc động biết bao khi đọc bài thơ “Độc
Tiểu Thanh ký” của Tố Như. Tiểu Thanh là ai? Đó là một cô gái “Nổi danh tài sắc
một thì” sống vào đời Minh. Nàng lấy làm lẽ một thương gia họ Phùng. Vợ cả
đánh ghen, bắt nàng “biệt cư” trong một ngôi nhà trên núi Cô Sơn cạnh Tây Hồ.
Tiểu Thanh có một tập thơ nói lên cuộc đời khát khao hạnh phúc và đầy nước mắt
của mình. Tiểu Thanh đau khổ mà chết giữa lúc tuổi đời vừa mười tám xuân xanh.
Nàng chết rồi mà tập thơ của nàng vẫn bị vợ cả đêm đốt, may còn sót lại một số
trang, một số bài và được người đời chép lại gọi là phần dư cào. Thi hào Nguyễn
Du trên đường đi sứ qua Tây Hồ, đã đến viếng mộ Tiểu Thanh và đọc tập dư cảo
của nàng. Đọc hai câu trong phần đề ta cảm nhận rõ điều đó. Đúng là bài thơ “Độc
Tiểu thanh ký” nằm trong Bắc hành tạp lục”.
Từ lúc nàng Tiểu Thanh sống và chết đến lúc Nguyễn Du đi sứ (1813) qua Tây Hồ
đã hơn ba trăm năm. Đã có biết bao vật đổi sao dời, biển dâu, dâu biển. Thế mà
một vài bài thơ mỏng manh của nàng Tiểu Thanh vẫn làm cho một nhà thơ phương
Nam rơi lệ? Mở đầu bài thơ là cả một sự bùi ngùi thương cảm:
“Tây hồ hoa uyển tận thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
“Hoa uyển” và “khư” là hai khái niệm chuyển hóa đối lập. Cảnh xưa đẹp thế mà
nay đã hoang tàn, phế tích. Chữ “tận” nghĩa là hết, là kiệt cùng. Bao trùm lên cảnh
vật là một màu sắc tang thương, đau buồn. Nơi gò hoang ấy chỉ còn lại nấm mồ
người bạc mệnh và một mảnh giấy tàn (nhất chỉ thư). Một mình nhà thơ đứng lặng
trước cửa sổ đọc “mảnh giấy tàn” điếu người xấu số. Thương cuộc đời bể dâu cũng
là thương người, thương người bạc mệnh cũng là thương mình. Xót xa và thương
cảm. Đó là sự cảm thông của khách tài tử với giai nhân bạc mệnh, của người đang
sống đối với người đã khuất. Sau hơn ba trăm năm nàng Tiểu Thanh mất mà
“mảnh giấy tàn” của nàng vẫn còn làm cho Nguyễn Du thổn thức, rơi lệ!
Hai câu thơ trong phần thực như chứa đầy nỗi uất ức của Tố Như:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
“Chỉ phấn” là son phấn tượng trưng cho sắc đẹp của Tiểu Thanh. Văn chương là
hiện thân cho tài năng của nàng. Nguyễn Du hỏi đời và hỏi người nhưng mà là để
khẳng định: Son phấn có thần, sau khi chết người ta còn xót thương, tiếc nuối. Văn
chương còn có số mệnh gì mà người ta còn bận lòng về những bài thơ sót lại sau
khi bị đốt! Son phấn và văn chương như những chứng nhân về cuộc đời, về kiếp
người oan khổ, ly hận! Vì thế nên son phấn, sắc đẹp thì “có thần”, nó vẫn sống mãi
với thời gian và lòng người như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Quý Phi…. cũng
như hoa tàn nhưng hương hoa, linh hồn của hoa còn tỏa ngát đâu đây, sắc đẹp của
giai nhân vẫn sống mãi cùng tên tuổi họ: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Nỗi
hận và xót xa của “son phấn” chính là nỗi đau thương, nỗi hận của nàng Tiểu
Thanh: “Tuổi trẻ bị chôn vùi, sắc đẹp bị hãm hại! Văn chương là tài năng, là vẻ
đẹp tinh thần của Tiểu Thanh. Văn chương vốn vô mệnh vì nó vô tri, đâu có sống,
chết như Người. Ấy vậy mà “mảnh giấy tàn” của người bạc mệnh “vẫn trơ gan
cùng tuế nguyệt”, chống chọi lạc cùng cái ác, vươn lên mà tồn tại, làm nhức nhối
người đời, xưa và nay. Nguyễn Du nói về “son phấn” và “văn chương” là để khẳng
định ngợi ca tài sắc Tiểu Thanh, của mọi tài tử giai nhân trong cuộc đời bể dâu. Và
chính Nguyễn Du, với cảm quan người nghệ sĩ liên tài từ “mảnh giấy tàn” mà nói
lên nỗi uất hận ngàn đời của Tiểu Thanh, của những hồng nhan bạc mệnh!
Nghĩ về tài sắc giai nhân và cái đẹp trong cõi nhân gian, Nguyễn Du xót xa suy
ngẫm về lẽ đời và tình người trong mọi điều oan trái:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư”
Sự oán hận xưa và nay khó mà hỏi trời được. Đất dày trời cao “Oan này còn một
kêu trời nhưng xa” (“Truyện Kiều”). Nói hỏi trời vì không thể hỏi người. Và khi đã
“thiên nan vấn” tức là nỗi bế tắc, oan khổ đày rẫy mọi nơi, mọi chốn. Câu thơ như
một tiếng kêu thương rung động cõi đất, trời. Và nỗi oan phong vận kỳ dị kia, ta tự
mình lại buộc lấy mình. Phong nhã, phong lưu cùng với đào hoa là vẻ đẹp, là bản
sắc của con người. Trong cõi đời ta mấy ai được phong nhã hào hoa? Phong lưu là
niềm mơ ước của nhiều người. Sao Nguyễn Du lại gọi là “cái án phong lưu”?
Khách phong lưu đáng lẽ được hưởng cái nhàn nhã, thanh thản cuộc đời sao lại
phải mang cái án oái ăm vào mình? Đúng là nghịch lý, nghịch cảnh. “Nhất phiến
tài tình thiên cổ lụy!” . Đã bao đời nay, “cái án phong lưu ấy” đã đeo đẳng vô số
tao nhân mặc khách. Nguyễn Du đâu phải là kẻ “Khéo dư nước mắt khóc người
đời xưa” mà là đã nhập thân vào Tiểu Thanh để nói lên những điều day dứt, băn
khoăn bao đời nay. Khách tài tử phong lưu đã tri âm với giai nhân bạc mệnh là vậy.
Họ là tài tình, là cái đẹp, là khát vọng về cái đẹp, nên họ cảm thương nhau. Nguyễn
Du đã cảm thương Dương Quý Phi (Dương Phi cố lý), đã “thổn thức” Tiểu Thanh,
với cảm tâm của một khách tài tử. Thương nàng Tiểu Thanh bao nhiêu, ông càng
thương mình bấy nhiêu! “Độc Tiểu Thanh ký” là khúc bi ai thương người, cũng là
lời tự thương đau xót:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
Nguyễn Du là một “bậc tài tử trong đời. Tiểu Thanh là một khách hồng nhan.
Nguyễn Du tìm thấy giữa mình và người con gái ấy có những nét “đồng bệnh
tương liên”. Tài tử gian nan, hồng nhan bạc mệnh. Tiểu Thanh chết trong đau khổ,
lưu lại với “nhất chỉ thư”, một mảnh giấy tàn, thế mà hơn ba trăm năm sau còn có
Nguyễn Du Thương xót cho số phận nàng. Rồi nhà thơ tự khóc mình và cất tiếng
nói: Liệu sau khi ông mất, hơn ba trăm năm, trong thiên hạ còn có ai thương ông?
Hai câu kết này rất nổi tiếng. Ai đã từng đọc Nguyễn Du đều nhớ. Tôi vẫn rất thích
hai câu dịch của Xuân Diệu:
“Ba trăm năm nữa mơ màng
Có ai thiên hạ khóc chàng Tố Như?”
Câu thơ Chứa đầy tâm sự, tâm trạng. “Một tấm lòng vẫn giấu che, bộc lộ trong một
phút giây, chệch nhẹ bức mành, mà ta nhìn được cả một thế giới còn chưa nói”
(“Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán” – Xuân Diệu). Câu thơ như tiếng
khóc xót thương cho số phận mình. Ở nơi đất khách quê người, trong những tháng
ngày đi sứ. Tố Như càng cảm thấy mình bơ vơ, không kẻ tri âm tri kỷ, một mình
ôm mối hận của kẻ tài hoa bạc mệnh: “Người đời ai khóc Tố Như chăng?”.
Viết về Nguyễn Du, nhà thơ Tố Hữu có câu “Tiếng thơ ai động đất trời….”. Sau
khi Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử. Nguyễn Du cất tiếng nghẹn ngào:
“Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi?”
Ở trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký”, ông lại xót xa hỏi: “Son phấn có thần chôn
vẫn hận – Văn chương vô mệnh đốt còn vương?”. Bài thơ cho ta thấy niềm thương
cảm sâu xa của Tố Như đối với con người là vô cùng mênh mông. Đời người hữu
hạn, nỗi đau của con người – con người bạc mệnh là vô hạn. Đọc bài thơ “Độc
Tiểu Thanh ký”, chúng ta càng thấy rõ cái tâm của nhà thơ lớn dân tộc, càng vô
cùng thấm thía chất nhân văn trong thơ chữ Hán của Tố Như.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 11
Nhắc đến Nguyễn Du, ai trong chúng ta cũng nghĩ ngay đến “Truyện Kiều” bởi
đây là một tác phẩm kiệt xuất của thơ ca trung ca trung đại Việt Nam. Song, ngoài
“Truyện Kiều” Nguyễn Du cũng còn sáng tác nhiều bài thơ thể hiện sự đồng cảm,
thương xót đối với những thân phận hồng nhan nhưng bạc mệnh. Trong số các bài
thơ đó thì “Độc Tiểu Thanh kí” là bài thơ tiêu biểu hơn cả.
Bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” được gợi cảm hứng từ một câu chuyện có thật về một
cô gái sống vào đầu đời nhà Minh. Cô gái ấy tên là Tiểu Thanh, nàng có nhan sắc
vẹn toàn, cầm kì thi họa đều giỏi cả. Thế nhưng nhà nghèo cho nên nàng được gả
vào làm vợ lẽ một nhà giàu. Vì bị vợ cả ghen tuông, bắt nàng ra sống riêng ở Cô
Sơn, gần Tây Hồ. Trong những ngày tháng cô quạnh đó, nàng Tiểu Thanh đã viết
thơ để bày tỏ tình cảnh và nỗi lòng mình. Ít lâu sau, nàng vì quá muộn phiền mà
qua đời khi mới mười tám xuân xanh. Người vợ cả đã đem đốt hết những bài thơ
của nàng, tuy nhiên một số bài vẫn còn sót lại. Người ta vì thấy thơ hay nên chép
lại và đặt tựa là “Phần dư tập”.
Nguyễn Du khi đọc được những bài thơ của nàng Tiểu Thanh đã rất đồng cảm,
thương thay cho một thân phận tài hoa nhưng bạc mệnh. Thương cho nàng Tiểu
Thanh, tác giả cũng nghĩ đến chính bản thân mình, và từ đó ông cũng nhận ra cuộc
đời là đầy rẫy những bất công, khổ ải.
Ngay từ mở đầu bài thơ, không gian nơi nàng Tiểu Thanh từng sống đã gợi lên một nỗi buồn xa vắng:
Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Đọc lên hai câu thơ, người đọc hình dung đến một khung cảnh hoang vắng nào đó
của miền sơn cước. Ở đó, chỉ duy nhất có một người con gái lẻ loi ngồi bên lầu.
Tây Hồ cảnh tuy đẹp nhưng lại hóa gò hoang vắng, quạnh quẽ, đìu hiu. Một cô gái
tuổi còn xuân xanh mà phải chôn vùi ở một nơi heo hút thế này sao không buồn bã cho được.
Những nỗi lòng buồn hận ấy, nàng đã giãi bày qua những vần thơ bi ai, tha thiết.
Hình ảnh “thổn thức” bên song cửa sổ với những mảnh giấy tàn còn gợi nhắc về
câu chuyện nàng bị người vợ cả ghen tuông đem đốt hết những vần thơ ấy. Để bây
giờ chỉ còn lại những “mảnh giấy tàn” nhưng đủ sức làm cho người ta phải cảm
thấy thương tâm bởi những “thổn thức” đau đáu không biết giãi bày với một ai của
nàng Tiểu Thanh. Có lẽ, số phận của nàng cũng là số phận chung của rất nhiều cô
gái trong xã hội phong kiến ngày đó. Cuộc đời của những người tài giỏi, tài hoa
thường hay bị vùi dập và chà đạp đến thương tâm.
Những tâm tư đau khổ của nàng Tiểu Thanh dường như vẫn còn sức ám ảnh rất lớn,
cho nên Nguyễn Du mới có cảm giác như mảnh giấy tàn ấy vẫn còn vương vấn
linh hồn của người con gái bạc mệnh ấy:
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Tác giả dùng từ “son phấn” để chỉ sắc đẹp của người con gái. Thế nhưng cái đẹp,
cái tài ấy lại bị vùi dập không thương tiếc. Mảnh giấy tàn như vẫn còn vương vấn
những u buồn và uất hận bởi nàng phải chết khi còn quá trẻ. Chính vì phải chết khi
còn quá trẻ cho nên người đời không khỏi xót thương cho thân phận tài hoa bạc
mệnh của nàng. Không những thế, những trang thơ mà nàng viết để bày tỏ nỗi lòng
cũng bị người ta đốt cháy hết. Chỉ còn lại một phần những mảnh giấy tàn là còn
lưu lại đến ngày nay. Có thể thấy rằng, xã hội phong kiến không chỉ cướp đi tuổi
xanh của người con gái mà còn muốn vùi dập, bóp chết một tài năng.
Đến đây, nhà thơ Nguyễn Du không khỏi thương xót cho số phận nàng Tiểu Thanh:
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang
Một sự tuyệt vọng, bi ai oán và u sầu xoáy tận tâm can! Nỗi oan trái của người con
gái đem hỏi trời cao, trời cao không thấu, trách kẻ bạc tình, người nào có hay. Nỗi
oan trái ấy dường như đã trở thành cái “án” của những người tài hoa. Tài hoa
nhưng bạc mệnh. Hiểu rõ điều đó, Nguyễn Du thốt câu hỏi để rồi nhận ra thực tế
đầy chua xót. Đó là cái số phận sinh ra đã thế hay chính cái xã hội phong kiến đã
đẩy họ vào bước đường cùng oan trái như vậy? Câu trả lời có lẽ sẽ khiến người đọc
phải day dứt và ám ảnh mãi không thôi.
Và ở hai câu kết, từ sự bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh, tác giả đã vận vào số phận
của mình và để lại cho người đọc một câu hỏi chất vấn về số phận của những con người tài hoa:
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Một câu hỏi mà chứa đựng rất nhiều xót xa, ngậm ngùi. Ba trăm năm sau những
vần thơ của nàng Tiểu Thanh vẫn còn khiến người đời thương cảm. Thế nhưng liệu
rằng ba trăm năm sau có “ai khóc Tố Như chăng?”. Câu hỏi như xoáy vào tâm can
của người đọc. Người đời còn nhớ hay sẽ quên những số phận tài hoa bạc mệnh
thương tâm như thế này? Vào thời điểm đó, thực sự đây là một câu hỏi hãy còn để
ngỏ. Thực tế đã chứng minh cho đến ngày nay, đã qua ba thế kỉ mà chúng ta vẫn
còn nhớ và nhắc đến tài năng Nguyễn Du. Điều này đã cho thấy, dù là trải qua bao
nhiêu thời gian thì tài năng và những giá trị của những người kiệt xuất vẫn luôn
được trân trọng và cảm thông.
“Độc tiểu thanh ký” là một bài thơ để lại những thương cảm trong lòng người đọc
về số phận bất hạnh của những con người tài hoa nhưng bạc mệnh. Đồng thời qua
đây, tác giả cũng muốn nói lên thực trạng xã hội phong kiến tàn ác đã đẩy con
người vào những bước đường cùng, chà đạp lên nhân phẩm và hòng bóp chết
những tài năng của họ.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 12
Đề tài người phụ nữ ít được các nhà thơ trung đại đề cập đến, ấy vậy mà đại thi hào
Nguyễn Du lại viết về người phụ nữ với tất cả tấm lòng trân trọng, thương yêu.
Bên cạnh kiệt tác thơ Nôm "Truyện Kiều" viết về người phụ nữ trong xã hội phong
kiến, thì bài thơ "Đọc Tiểu Thanh kí" là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Hán viết về đề tài này.
Nguyễn Du sáng tác bài thơ trong một lần đi sứ sang Trung Quốc cho triều Nguyễn.
Bài thơ tên chữ Hán là "Đọc Tiểu Thanh kí" đã gợi ra nhiều cách hiểu. Có ý kiến
cho rằng đó là Nguyễn Du đọc tập truyện viết về cuộc đời nàng Tiểu Thanh, cảm
thương cho số phận người phụ nữ tài hoa bạc mệnh mà viết bài thơ này. Lại có ý
kiến khác cho là Nguyễn Du đã được đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh để lại và
ngưỡng mộ, xót thương cho cuộc đời nàng. Dù hiểu theo cách nào thì ta đều thấy
trên hết đó là tấm lòng thấm đẫm tình đời, tình người của nhà thơ.
Tiểu Thanh là một cô gái thông minh, xinh đẹp, có tài thơ phú, sống vào đầu thời
Minh ở Trung Quốc, cách Nguyễn Du 300 năm. Nàng bị gia đình ép gả làm vợ lẽ
cho một nhà quyền quý. Do vợ cả ghen ghét, đố kị nàng bị đẩy ra sống riêng ở Cô
Sơn, cạnh vườn hoa Tây Hồ. Hằng ngày nàng chỉ còn biết làm bạn với thơ, rồi lâm
bệnh và chết trong cô đơn khi mới 18 tuổi. Số thơ văn mà nàng để lại bị vợ cả đốt
gần hết, chỉ còn sót lại một số bài sau này người ta sưu tầm lại và gọi nó là "phần dư".
Cảm hứng xuyên suốt bài thơ là tấm lòng đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du với số
phận nàng Tiểu Thanh. Cũng từ sự đồng cảm sâu sắc đó, ông nhận ra những bất
công ngang trái của cuộc đời và thương người, thương mình nhiều hơn. Đến với
bài thơ, đầu tiên ta được nhà thơ dẫn dắt đến không gian đầy ấn tượng, nơi khi xưa
nàng Tiểu Thanh từng sống:
"Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư"
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Chỉ một chữ "tẫn" mà có sức gợi, sức ám ảnh rất lớn với người đọc. Phần dịch thơ
dịch chưa thoát hết ý nghĩa của chữ "tẫn" này. Nghĩa của nó là bị hủy diệt, bị tàn
phá, chứ đâu đơn giản là "hóa gò hoang". Chỉ một chữ "tẫn" gợi ra sự đối lập ghê
gớm giữa quá khứ và hiện tại. Quá khứ Tây Hồ là cảnh đẹp, non nước hữu tình thì
nay chỉ còn là một bãi hoang xơ xác, tiêu điều. Câu thơ nghe xót xa làm sao!
Người đọc có thể tưởng tượng khi xưa nàng Tiểu Thanh còn sống thì nơi đây là
thắng cảnh mê đắm lòng người, nay người đẹp không còn, cảnh đẹp cũng tiêu tan.
Đứng trước quang cảnh ấy, nhà thơ Nguyễn Du bỗng trào dâng niềm ngậm ngùi,
lại càng xót xa hơn khi đứng bên song cửa sổ với tập sách của nàng. "Độc điếu" chỉ
sự cô độc, lẻ bóng của nhà thơ khi đã vượt qua thời gian, không gian trở về quá
khứ để thổn thức khóc thương nàng Tiểu Thanh. Vạn vật đều đổi thay theo thời
gian, giữa cuộc đời dâu bể tên tuổi một người con gái tài sắc nhưng bất hạnh vào
đầu thời Minh có lẽ cũng dần bị lãng quên theo năm tháng. Câu thơ như tiếng thở
dài đầy chua xót của Nguyễn Du trước kiếp hồng nhan bạc mệnh.
Đến hai câu thực là những hình ảnh đầy tính biểu trưng:
"Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư"
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
Nói đến "son phấn" và "văn chương", ta liên tưởng ngay đến nhan sắc và tài năng
của nàng Tiểu Thanh. Nhan sắc không có tội tình gì nhưng vẫn bị ghen ghét, tài
năng không có tội cũng bị vùi dập không thương tiếc. Hai câu thơ toát lên sự
thương xót của nhà thơ cho tài năng và nhan sắc của nàng Tiểu Thanh. Nàng phải
chết khi tuổi còn quá trẻ, sáng tác của nàng bị vợ cả tiêu hủy gần hết chỉ còn "phần
dư". Dù sống cách nàng 300 năm, nhưng Nguyễn Du bằng tấm lòng thương cảm có
thể thấu hiểu những bất công mà nàng phải chịu. Câu thơ cũng thể hiện quan niệm
"tài mệnh tương đố" của Nguyễn Du. Trong sáng tác của ông, ta thường bắt gặp
những phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng lại gặp nhiều ngang trái, éo le như nàng Đạm
Tiên, nàng Kiều. Bởi vậy Nguyễn Du cũng đúc kết thành những câu thơ mang tính khái quát cao:
"Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung"
(Truyện Kiều - Nguyễn Du) Hay:
"Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?"
(Văn chiêu hồn - Nguyễn Du)
Điểm mới mẻ của bài thơ "Đọc Tiểu Thanh kí" là nhà thơ đã mang đến tiếng nói
nhân đạo độc đáo. Điều đó thể hiện ở hai câu 5 và 6 của bài thơ:
"Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư"
(Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Nguyễn Du tự coi mình cùng hội cùng thuyền với những người tài hoa bạc mệnh
và thốt lên đầy chua xót. Câu hỏi tại sao những con người tài hoa hay gặp nhiều
trắc trở, truân chuyên dường như không lời đáp, phải chăng những người tài hoa
luôn tự mang trong mình cái "án" bạc mệnh? Trong kiệt tác "Truyện Kiều", nhà
thơ từng thốt lên "Tài tình chi lắm cho trời đất ghen", rồi lên "Trời xanh quen thói
má hồng đánh ghen". Nếu được sống trong một xã hội khác, thì những người tài
sắc vẹn toàn như nàng Tiểu Thanh có lẽ đã không phải chịu nhiều bất công, không
bị vùi dập như vậy. Câu thơ thể hiện khát khao của nguyễn Du về những người có
tài có tình sẽ được trân trọng.
Khép lại bài thơ là tâm trạng đầy ngậm ngùi, chua xót của Nguyễn Du :
"Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)
Tiểu Thanh đã xa cách cuộc đời được 300 năm, nhưng vẫn còn có người thấu hiểu
và đồng cảm với nàng. Nhà thơ đã tự hỏi lòng mình, liệu sau 300 năm nữa có còn
ai hiểu được ông hay không? Một câu hỏi đầy sức ám ảnh như xoáy vào tâm can
người đọc khi nghĩ đến số phận của những người tài hoa sau một thời gian dài sẽ ra
sao? Khép lại bài thơ là niềm mong mỏi có được tri kỉ giữa cuộc đời này của đại
thi hào. Thực tế thì cho đến ngày nay, đã qua ba thế kỉ nhưng chúng ta vẫn luôn
nhớ đến tên tuổi Nguyễn Du cùng những kiệt tác của ông. Đó là minh chứng cho
thấy dù có qua bao thời gian thì tài năng và giá trị của những người tài hoa vẫn
luôn được trân trọng, yêu mến. Chính điều này làm nên giá trị nhân văn cao cả cho bài thơ.
Với tám câu thơ chữ Hán thất ngôn bát cú, ngôn từ trang trọng, tinh tế, Nguyễn Du
đã lên án, tố cáo mạnh mẽ sự bất công của xã hội phong kiến với những phụ nữ tài
sắc vẹn toàn. Bài thơ mang đến cho người đọc sự đồng cảm xót xa trước số phận
hồng nhan bạc mệnh của người phụ nữ. Từ đó, mỗi người chúng ta biết trân trọng,
yêu mến, có ý thức giữ gìn trước những giá trị tài năng, sáng tạo của người xưa và nay.
Phân tích bài Đọc Tiểu Thanh kí - Mẫu 13
Cái đẹp và cái tài từ rất lâu vẫn luôn là chuẩn mực sống và niềm khao khát của con
người trong xã hội. Tuy nhiên với Nguyễn Du, ông luôn có một nỗi thấu cảm và
thương xót cho những kiếp người hồng nhan bạc mệnh ở mọi thời đại. Điều này
được thể hiện rất rõ qua tác phẩm Độc Tiểu Thanh Kí viết về nàng Tiểu Thanh tài
sắc vẹn toàn nhưng lại có cuộc sống đau khổ và không trọn vẹn.
Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XVIII – nửa đầu thế
kỷ XIX. Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Ông
sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Gia đình là nơi
ảnh hưởng rất lớn đến phong cách sáng tác của Nguyễn Du.
Nguyễn Du có điều kiện tiếp nhận truyền thống văn hóa quý báu của quê hương,
gia đình và nhiều vùng văn hóa khác nhau thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật.
Ông sống trong thời đại xã hội phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và
khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.
Nguyễn Du đã trực tiếp sống, chứng kiến và trải qua một thời kỳ lịch sử đầy biến
động của dân tộc. Điều đó đã được ghi lại trong các sáng tác của ông, đặc biệt là
tấm lòng nhân đạo. Không chỉ nổi tiếng với “Truyện Kiều” mà ông còn là nhà thơ
sáng tác bằng chữ Hán điêu luyện với những tác phẩm nổi bật đặc sắc.
Khi phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, ta thấy đây là một trong những tác phẩm được
nhiều người biết đến của Nguyễn Du. Được lấy cảm hứng từ Phần dư (phần bị đốt
còn sót lại), Độc Tiểu Thanh Kí đã khắc họa rõ nét về cuộc đời của nàng Tiểu
Thanh có tài có sắc nhưng lại làm vợ lẽ người khác và sống một cuộc sống đau
buồn, đầy những nỗi uất ức. Bản thân cuộc đời Tiểu Thanh đã làm cho Nguyễn Du
nảy sinh mối đồng cảm vô hạn trước số phận nghiệt ngã và tiếng lòng ấy được bật lên thành lời thơ.
Thân phận của nàng Tiểu Thanh giỏi giang tài sắc nhưng lại có một số phận nhiều
khổ đau cùng với những suy ngẫm sâu sắc của Nguyễn Du là những nét chính khi
phân tích Độc Tiểu Thanh Kí. Để có thể phân tích Độc Tiểu Thanh Kí một cách
sâu sắc, người đọc cần đi theo mạch xúc cảm của toàn bài, theo trình tự của thể thơ
thất ngôn bát cú đường luật.
Cảm nhận hai câu đề khi phân tích “Độc Tiểu Thanh Kí”. Mở đầu bài thơ là tiếng
thở dài của tác giả với những biến thiên dâu bể của cuộc đời:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
“Hoa uyển” trong câu đầu là vườn hoa, là tượng trưng cho quá khứ và quãng thời
gian thanh xuân tươi đẹp. “Tẫn thành khư” là tất cả hóa thành bãi hoang tàn, là sự
biến hóa của thời gian trước dòng đời tấp nập. Khi phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, ta
thấy ở ngay câu đầu tiên, Nguyễn Du đã mượn hình ảnh của không gian nơi Tiểu
Thanh từng sống để nói lên cảm nhận của chính ông về những biến đổi của thời gian.
Tây Hồ là nơi cảnh đẹp hữu tình nhưng lại hóa gò hoang vắng, heo hút vì có một
người con gái đã mãi mãi chôn vùi tuổi thanh xuân của mình ở đây. Sự biến thiên
dâu bể của cuộc đời không sao có thể đoán định được, cảnh đẹp ngày xưa nay chỉ
còn là phế tích, chỉ còn lại dấu ấn về một thời đã qua. Cảnh cũ vẫn còn đây mà
người xưa giờ nơi nào. Tâm tư ấy khiến ta nhớ đến hai câu thơ của bà huyện Thanh Quan
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”
(Thăng Long thành hoài cổ – Bà huyện Thanh Quan)
Mọi chuyện ngỡ cứ như vừa xảy ra hôm qua. Đau xót thay mọi chuyện chỉ còn là
quá khứ. Cảnh cũ vẫn còn đây nhưng người xưa giờ nơi nào. Phân tích Độc Tiểu
Thanh Kí, người đọc dễ dàng nhận thấy từ “độc” có nghĩa duy nhất, đơn độc. Còn
cụm “Nhất chỉ thư” là một quyển sách, một tập giấy còn sót lại. Trong không gian
điêu tàn, Nguyễn Du xuất hiện với dáng vẻ thẩn thờ và đồng thời cũng thể hiện sự
lắng sâu trầm tư trong những nét cô đơn.
Một mình nhà thơ ngậm ngùi đọc những tập sách về cuộc đời nàng Tiểu Thanh tội
nghiệp. Một mình đối diện trước sự bất lực của nàng Tiểu Thanh về số phận của
chính mình. Phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, người đọc nhận ra sự tồn tại của con gái
tài sắc một thời chỉ được biết đến qua một tập sách, phần dư còn sót lại khiến ông
không thể không bật lên những nỗi xót thương cho nàng.
Xưa Tiểu Thanh luôn cô độc đến lúc mất, nay Nguyễn Du cũng viếng nàng một
mình bên khung cửa thể hiện sự thông hiểu sâu sắc của Nguyễn Du với nàng Tiểu
Thanh. Câu thơ là sự đồng cảm giữa hai tâm hồn cô đơn. Thời gian và không gian
không thể ngăn cách được tấm lòng “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
Hai câu tiếp theo đã làm sáng tỏ cho cảm giác buồn thương ngậm ngùi. Đó là sự
tiếc thương cho số phận bi kịch của nàng Tiểu Thanh. Sắc đẹp và tài năng đến thế
nhưng lại chết trong cô độc, điều đó khiến người đời cảm thấy xót xa.
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư”
(Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương)
“Văn chương” và “chi phấn” đều là những hình ảnh ẩn dụ gợi nhiều suy nghĩ. “Son
phấn hữu thần liên tử hậu” là son phấn có thần chắc phải xót xa về những việc sau
khi chết hay chính son phấn có thần sau khi chết khiến người ta vẫn còn thương
tiếc. “Văn chương vô mệnh lụy phần dư”- tập thơ của nàng Tiểu Thanh nói riêng
và văn chương nói chung, là văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở hay
văn chương không có số mệnh nhưng người ta vẫn bận lòng về những gì còn sót lại.
Người đọc nhận ra rằng tác giả có thể mất đi hay bị lãng quên nhưng sức sống của
tác phẩm vẫn còn mãi trong lòng độc giả. “Chi phấn – son phấn”, là tượng trưng
cho nhan sắc và dung mạo của người con gái. Hình ảnh “son phấn”, “văn chương”
được gắn với những từ ngữ chỉ cảm xúc, số phận của con người như “hận”, “vô
mệnh” tạo nên sự độc đáo trong bài thơ. Làm hiện rõ thái độ thương xót dù son
phấn hay văn chương nếu có hồn cũng sẽ vô cùng uất hận, tiếc thương cho nỗi uất
hận và khổ tâm của Tiểu Thanh.
Vì ghen tuông của người vợ cả, Tiểu Thanh phải sống một cuộc đời thương tâm,
sống cô lập và lấy văn chương nói lên nỗi lòng của chính mình để rồi ra đi ở cái độ
tuổi rực rỡ nhất của một người con gái. “Chi phấn” và “văn chương” đều giống
nhau ở hai điểm là đều có số phận thảm thương là bị vùi dập và đốt dở nhưng lại
mang sức sống trường tồn. Ở đây đồng thời cũng là hình ảnh tượng trưng cho nàng Tiểu Thanh.
Tuy nàng không còn nhưng nhan sắc và tài năng của nàng vẫn luôn được người đời
ca tụng và thương tiếc “Thác là thể phách còn tinh anh”. Từ số phận của Tiểu
Thanh, Nguyễn Du đã khái quát nên được cái nhìn tổng quan về những con người trong xã hội phong kiến:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang)
Câu thơ vang lên mang nhiều thanh trắc tạo cảm giác trầm lắng xuống mỗi câu thơ
như nỗi uất ức không thể thốt lên thành lời được. “Cổ kim hận sự” là những nỗi
hận từ xưa đến nay. Những nỗi hận không chỉ Tiểu Thanh mà còn là lời chung của
vô vàn những số phận tài hoa bạc mệnh khác.
“Thiên nan vấn” khó mà hỏi trời. Câu nói chung của những con người tài hoa ấy
khó để hỏi trời hay do chính trời cao cũng không có lời giải đáp. Lời uất hận của
Tiểu Thanh cũng chính là lời bộc bạch, tâm sự của nhà thơ. Phân tích Độc Tiểu
Thanh Kí, người đọc nhận thấy Nguyễn Du khóc cho Tiểu Thanh cũng chính là
khóc thương cho chính số phận cay đắng, đau khổ của chính mình.
Thương thay cho những tấm hồng nhan bị người đời ghẻ lạnh, những con người đã
hiểu rất rõ về giá trị của bản thân nhưng lại phải bất lực trước sự chông gai trên
đường đời. Câu thơ phản ánh cho người đọc thấy rõ sự khắc nghiệt của xã hội đối
với những người tài hoa và mong muốn khát khao hạnh phúc của họ. Như những
câu thơ đau đớn mà Nguyễn Du từng viết trong Truyện Kiều
“Lạ gì bỉ sắc thư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Câu thơ cũng chính là lời tâm sự của nhà thơ. Nguyễn Du tự cảm thấy mình là
người cùng hội cùng thuyền với nàng Tiểu Thanh. Khóc cho Tiểu Thanh cũng
chính là khóc cho số phận mình, cho số phận cay đắng của những người tài hoa
mệnh bạc. Khép lại bài thơ là những suy tư về thời thế, là câu hỏi cho những mệnh tài hoa:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
(Không biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
“Tam bách” là danh từ phiếm chỉ số nhiều, con số ước lệ về một quãng thời gian
rất dài. Ngược lại với “tam bách”, “hà nhân” lại là từ phiếm chỉ số ít. Ghép lại cả
hai câu thơ là một câu hỏi tu từ thể hiện nỗi xót xa, ngậm ngùi khi hỏi về tương lai.
Ba trăm năm trước những vần thơ của nàng Tiểu Thanh vẫn còn khiến người đời thương cảm.
Ông vẫn có thể khóc cho những dòng thơ về nàng Tiểu Thanh một cách chân thành
từ trái tim đồng điệu. Tiểu Thanh còn có ông tìm đến làm tri kỉ để giải đi nỗi oán
giận bằng giọt nước mắt thấu hiểu. Liệu rằng ba trăm sau sẽ có ai khóc cho những
dòng thơ về cuộc đời ông như hôm nay ông đã khóc cho Tiểu Thanh? Câu hỏi của
Nguyễn Du xoáy sâu vào tâm hồn của người đọc về sự lẻ loi trước dòng đời xô bồ, phũ phàng.
Cuộc đời của một con người tài hoa, “có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng trải
suốt nghìn đời” luôn đối mặt với sự lẻ loi. Ông luôn khao khát được kiếm cho
mình một tấm tri kỉ giữa dòng đời vạn biến. Như nhạc sĩ Vũ Thành An đã từng có
chung nỗi niềm cô đơn, thể hiện rõ sự xa lạ giữa xã hội, con người
“Triệu người quen có mấy người thân
Khi lìa đời có mấy người đưa”
Tác giả đã vận dụng thành công thể thơ thất ngôn bát cú kết hợp với việc sử dụng
chữ Hán trang trọng, giản dị. Phân tích Độc Tiểu Thanh Kí, ta thấy bài thơ đã thể
hiện rõ nét những cảm xúc cùng những suy tư trăn trở của Nguyễn Du về số phận
bất hạnh của người phụ nữ có tài năng văn chương trong xã hội phong kiến.
Không chỉ nói về số phận của nàng Tiểu Thanh mà ta còn bắt gặp nỗi niềm ấy
trong những sáng tác khác của Nguyễn Du. Đó còn là Thúy Kiều, Đạm Tiên, là cô
Cầm,.. Điểm chung giữa họ đều là những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng đều
rơi vào hoàn cảnh ngang trái. Nguyễn Du không ngợi ca tài sắc của họ mà còn cảm
thông sâu sắc cho những số phận bất hạnh ấy Điều đó cũng nói lên một phương
diện quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du là nỗi xót xa cho những
giá trị tinh thần bị chà đạp..
Độc Tiểu Thanh kí đã để lại trong lòng người đọc những thương xót về số phận
của nàng Tiểu Thanh có sắc đẹp lẫn tài năng nhưng bất hạnh. Đồng thời Nguyễn
Du cũng lên án về xã hội phong kiến tàn ác chà đạp lên những người tài và nỗi
thương xót sâu sắc của Nguyễn Du đối với số phận tài hoa bạc mệnh. Tiếng lòng
ấy của ông vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm mỗi người về sự đau xót bất
lực của con người trước trò đùa của con tạo xoay vần. Đến mãi đến ngày hôm nay,
vượt qua mọi quy luật băng hoại của thời gian, những trang viết của Nguyễn Du
vẫn làm rung động lòng người
“Tiếng thơ ai vọng đất trời
Nghe như non nước vọng vào nghìn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 14
Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, ông được xem là một cây đại thụ trong nền văn
học Việt Nam. Ông là nhà thơ chuyên hướng ngòi bút về cuộc đời và số phận của
con người "tài hoa, bạc mệnh" đặc biệt là những người phụ nữ như: nàng Thúy
Kiều trong Truyện Kiều, nàng Ca Nhi trong Long thành cầm giả ca, nàng Tiểu
Thanh trong độc Tiểu Thanh kí,... Những Tác phẩm thơ ca của ông đã được người
đời ví như một Kim Tự Tháp vĩ đại đứng sừng sừng giữa một vùng sa mạc khô cằn
rộng lớn. Những điều bí ẩn và kì diệu của công trình vĩ đại ấy đến giờ vẫn chưa được khám phá hết.
Bài thơ Độc Tiểu Thanh Kí là một bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán, được in trong
Thanh Hiên thi tập, thể hiện lòng nhân ái và sự đồng cảm của nhà thơ về nàng Tiểu
Thanh tài sắc nhưng phận bạc.
Tiểu Thanh - một cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng chỉ mới 16 tuổi nàng đã phải nếm
trải những sóng gió, bất hạnh của cuộc đời. Cuối cùng nàng cũng vùi chôn trong
nấm mồ khi đang độ xuân xanh tuổi trẻ. Phần tinh hoa để lại cho đời cũng tiêu tan
chỉ vì cái lòng ghen tuông ích kỷ, tàn ác của người vợ cả. Sự biến đổi đau thương
ấy của cuộc đời nàng như được hiện hữu trong cảnh vật:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chí thư.
Vườn hoa cạnh Tây Hồ khi xưa là một địa danh nổi tiếng với những cảnh đẹp ở
Trung Quốc. "hoa uyển" và " khư " là hai khái niệm đối lập nhau cùng với từ "tẫn"
như muốn nói đến cảnh đẹp Tây Hồ khi xưa đã biến mất, trở thành gò hoang lụi tàn.
Núi Cô Sơn cạnh Tây Hồ – nơi đã giam giữ nàng Tiểu Thanh khi xưa đẹp thế mà
giờ đã trở nên thanh vắng, lạnh lẽo. Chỉ còn lại tấm mồ của người con gái bạc
mệnh Tiểu Thanh và một tờ giấy tàn "nhất chỉ thư"- chính là tập sách duy nhất còn
sót của Tiểu Thanh - Tiểu Thanh ký.
Câu thơ chính là tiếng thở dài của tác giả trước lẽ "biến thiên dâu bể" của cuộc đời
và niềm thổn thức của một tấm lòng nhân đạo lớn: vạn vật đều phải thay đổi theo
thời gian, còn Tiểu Thanh cũng vậy, dần bị dòng thời gian vùi lấp trong quên lãng.
"độc điếu" - chỉ sự cô đơn, đơn độc khi Nguyễn Du một mình vượt qua cả không
gian, thời gian trở về quá khứ khóc thương cho số phận của nàng Tiểu Thanh thông qua "nhất chỉ thư".
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư.
"Son phấn", "văn chương" là những hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sắc đẹp và tài
năng của nàng Tiểu Thanh. Nguyễn Du đã mượn hình ảnh của hai vật này để nói
lên sự ganh ghét, đố kị của người vợ cả, người đời. Nhắc lại tấm bi kịch của cuộc
đời nàng – một cuộc đời đơn độc, lẻ loi. Nhà thơ đã thổi hồn vào son phấn để
chúng cất lên tiếng nói thương cảm, xót xa cho số phận bất hạnh, son phấn "có
thần" chắc chắn phải xót xa vì những việc sau khi chết.
Cũng Như những đóa hoa đã tàn nhưng hương hoa vẫn còn đọng lại, tỏa hương
đâu đó trong không gian, người đời sẽ mãi thương xót cho những phận nữ nhi "
hồng nhan bạc mệnh". Còn "văn chương"- chỉ là một vật vô tri, vô giác, không có
số mệnh mà cũng bị đốt dở bởi sự mỏng manh, chóng tàn của nó - "lụy phần
dư",ấy vậy nó như có linh hồn, cố gắng chống chọi lại sự vùi dập của số phận.
Dù có bị thiêu đốt, nhưng những gì còn sót lại đã khiến người đời cảm thấy sót xa.
Ông đã lên tiếng thương cảm cho số phận của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn
nhưng không được trân trọng trong xã hội xưa và đồng thời cũng thay họ nói lên
những nỗi uất hận ngàn đời.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư.
"Cổ kim hận'' là những nỗi oan khuất mà những kẻ tài hoa từ xưa đến nay vẫn phải
gánh chịu cay lắm, xót lắm, mà đành kêu trời chứ biết làm thế nào bây giờ? "Oan
này còn một kêu trời không xa." - Truyện Kiều. Luôn có những câu hỏi đặt ra
nhưng mãi không ai có câu trả lời, huống hồ gì đó là nỗi oan của những con người
tài sắc vẹn toàn như Tiểu Thanh, có hỏi trời trời không tỏ, có hỏi đất đất không hay.
Câu thơ như tiếng kêu thương rung động đất, trời. Ông tự xem mình là người cùng
một hội với Tiểu Thanh - những con người tài hoa bạc mệnh đã vướng phải cái án
"phong vận" kì lạ. Cuộc đời của Tiểu Thanh đã soi sáng tâm hồn của Nguyễn Du,
ông thấm thía nỗi đau của khách văn chương đa tài đa nạn. "ngã tự cư" – Nguyễn
Du với nỗi đau biết mình không tránh khỏi cái sự nghiệt ngã của người cùng hội
cùng thuyền giữa biển đời sóng gió. Đau đớn tận đáy lòng, ông không khỏi kêu lên
tiếng than của một trái tim đầy ắp nỗi sầu nhân thế
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Nguyễn Du là một bậc tài tử trong đời, Tiểu thanh lại là một khách hồng nhan.
Mặc dù cách nhau đến 300 năm nhưng ông vẫn cảm thấy giữa mình và người con
gái ấy có một nét tương đồng. "Tài tử gian nan, hồng nhan bạc mệnh.", Tiểu Thanh
ra đi để lại một " nhất chỉ thư", một mảnh giấy tàn thế mà 300 năm sau còn có
Nguyễn Du thương xót cho số phận nàng. Câu hỏi tu từ được Nguyễn Du sử dụng
với hàm ý như muốn đang thắc mắc rằng liệu 300 năm sau có ai còn nhớ đến ông
như khi ông nhớ đến nàng Tiểu Thanh.
Ông băn khoăn, mong đợi người đời sau cũng đồng cảm, thương cảm đến ông. Hai
câu thơ trên chính là tâm trạng cô đơn của ông ở nơi "đất khách quê người" trong
những tháng ngày đi sứ, ông càng cảm mình thấy bơ vơ, không một kẻ tri kỉ, một
mình ôm mối hận của kẻ tài hoa bạc mệnh: "Người đời ai khóc Tố Như chăng?".
Ngày 1/11/1965, trong dịp lễ kỉ niệm ngày sinh của Nguyễn Du, nhà thơ Tố Hữu
đã có dịp đi qua vùng quê của ông và đã viết lên dòng thơ:
"Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân
Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều..."
(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
"Đọc Tiểu Thanh ký" là bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú. Nó phản ánh rõ
ràng về một xã hội đầy rẫy sự bất công và tàn độc. Đồng thời, Nguyễn Du cũng đã
khéo léo mượn hình ảnh của nàng Tiểu Thanh để bày tỏ những nỗi niềm trong tận
đáy lòng của ông về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài văn chương trong xã
hội phong kiến vướng phải. Tất cả điều đó đã nói lên một phương diện quan trọng
trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: xót xa cho những giá trị tinh thần bị chà đạp.
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 15
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu”
Mấy trăm năm đã trôi qua nhưng có lẽ những vần thơ Nguyễn Du vẫn mãi trường
tồn trong lòng người đọc. Bởi lẽ nhà đại thi hào viết thơ “ như có máu nhỏ trên đầu
ngọn bút , nước mắt thấm qua trang giấy”. Thơ ông đề cập sâu sắc đến nỗi đau từ
cổ chí kim của con người nhất là người phụ nữ – những “kiếp hồng nhan” hay
những kẻ tài hoa mà bạc mệnh. Và “Độc Tiểu Thanh kí” là một trong những tác
phẩm tiêu biểu nhất cho tấm lòng thương người tiếc tài của đại thi hào Nguyễn Du.
Chính cái tâm sang ngời ấy đã khiến tác phẩm của ông sống mãi trong suốt trường
kì lịch sử hay còn bởi con mắt tinh tường trông 6 cõi như nhà văn, nhà triết học
Pháp Didorot nói: “Nghệ thuật là chỗ tìm ra cái phi thường trong cái bình thường
và cái bình thường trong cái phi thường”.
Giữa cuộc sống thường nhật đầy rẫy những bộn bề, lo toan, hiếm có ai thử sống
chậm lại để một lần cảm nhận về những điều phi thường trong vô vàn điều hết sức
bình thường ấy. “ Tìm ra điều phi thường trong cái bình thường” là một cách khám
phá, một cách nhìn sâu sắc mọi vấn đề. Nếu chỉ tìm hiểu về những thứ hào nhoáng,
hời hợt ở vẻ bề ngoài thì sẽ chẳng bao giờ ta có thể nhận ra được vẻ đẹp tiềm ẩn
bên trong thứ vật chất phù du ấy. Nhưng “ từ trong cái phi thường ta phải nhận ra
được những thứ bình thường”. Đây lại là một cách đánh giá bao quát , đơn giản
hóa vấn đề, phải có con mắt tinh tế lắm thì ta mới dễ dàng nhận ra vẻ đẹp bình dị,
rất đỗi thân quen của đối tượng cần nhắc đến. Nhận định của Dodirot đã đưa ra một
quan điểm hoàn toàn xác đáng : “ Người nghệ sĩ phải có cái nhìn linh hoạt, thấu
đáo, đa phương diện về một vấn đề hay đối tượng văn học”.
Mộng Liên Đường chủ nhân có nói: “Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi,
tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” Thật vậy , tấm lòng Nguyễn Du luôn canh cánh lo
cho con người,ông vui với niềm vui của con người, đau cùng nỗi đau con người,
phải khóc, phải cười, phải trăn trở với con người. Thơ ông trở nặng suy tư , đau
đáu một nỗi niềm : “ Nhân tình thế thái”. Lời thơ như tiếng tri âm, đồng cảm của
những kẻ cùng chung số phận đặc biệt là Tiểu Thanh trong tác phẩm “Độc Tiểu
Thanh kí” .Hai con người như hòa vào làm một để cất lên tiếng than đau đến đứt ruột.
Trong xã hội phong kiến đương thời, có biết bao nhiêu người phụ nữ phải sống
trong những nỗi đày đọa triền miên cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng Nguyễn Du
lại không viết về những người phụ nữ ấy mà chính cái tài “tìm ra điều phi thường
trong cái tầm thường” đã giúp ông vượt qua cả rào cản về mặt thời gian( cách xa
hơn 300 năm) và không gian địa lí trắc trở( Trung Quốc) để tới tri âm với nàng
Tiểu Thanh- người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì làm lẽ nên bị vợ cả ghen, đày
ra sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ.
Buồn rầu, nàng sinh bệnh chết và để lại tập thơ. Nhưng vợ cả vẫn ghen nên đốt tập
thơ,giờ chỉ còn lại một số bài thơ gọi là “phần dư”.
Câu thơ đầu tiên cất lên là lời than cho cái đẹp bị dập vùi, tàn phá phũ phàng:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư”
Cảm xúc trước sự đổi thay của cuộc đời là cảm xúc mang tính nhân văn khá phổ
biến trong thơ trung đại. Nguyễn Trãi thăm núi Dục Thúy mà cảm khái trước cảnh
“rêu phủ nét chữ người xưa”.Bà Huyện Thanh Quan ngậm ngùi trước cảnh “dấu
xưa xe ngựa” giờ chỉ còn là “ hồn thu thảo”, “ nền cũ lâu đài” gợi nhớ một triều đại
rực rỡ đã đi qua. Câu thơ của Nguyễn Du có gợi lên lẽ đời dâu bể nhưng mối
thương tâm của thi nhân lại đặt nơi cái đẹp bị tàn phá phũ phàng.Hình ảnh thơ đối
lập: cảnh đẹp >< gò hoang gợi nghịch cảnh éo le. Từ “tẫn” trong nguyên bản chữ
Hán “tẫn thành khư” gợi sự đổi thay mãnh liệt không còn dấu vết nào. Dường như
phải có một con mắt tinh tế lắm mới có thể nhận ra đống đổ nát nơi gò hoang xưa
đã từng là một địa danh rất đẹp. Thời gian tàn phá lên mọi cảnh vật , phủ mờ đi tất
cả. Đang trong dòng hoài niệm bỗng tác giả sực tỉnh và trở về thực tại, với nghịch
cảnh trớ trêu, nghịch cảnh giữa qúa khứ và hiện tại, giữa vẻ đẹp huy hoàng/sự hoang vu cô quạnh.
Nhớ đến Tây Hồ là nhớ đến nàng Tiểu Thanh- người con gái tài hoa bạc mệnh.
Nguyễn Du xót xa tiếc nuối, ai oán trước số phận nghiệt ngã của Tiểu Thanh .Cái
chết của nàng là bằng chứng xót xa cho một kiếp hồng nhan, từ đó càng nuối tiếc
trước cảnh và người đẹp đều chịu chung số phận. Nếu như trong Truyện Kiều,
Thúy Kiều tri ngộ với số phận Đạm Tiên qua lời kể của Vương Quan thì ở Độc
Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du thấu hiểu nỗi oan khiên của Tiểu Thanh qua “ mảnh
giấy tàn” trước song cửa sổ:
“Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
Cuộc tri ngộ giữa Thúy Kiều và Đạm Tiên còn có sự chứng kiến của chị em Kiều ,
còn viếng thăm của Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh chỉ qua một tập sách bị đốt
dở. Chữ “ độc” và chữ “nhất”trong câu thơ chữ Hán cũng là để nói một lòng đau
tìm gặp một hồn đau.Ông đã một mình đối diện với số đời của Tiểu Thanh. Đây
phải chăng là sự đồng cảm giữa “tài tử và giai nhân”,giữa “xưa và nay”.
Người con gái với số phận nghiệt ngã là thế nhưng với ngòi bút nhân đạo của mình,
ông đã khai phá được những vẻ đẹp tài năng và tâm hồn ẩn sâu bên trong con
người nàng. Đời Tiểu Thanh là điển hình của hai nỗi oan lớn: hồng nhan bạc phận,
tài mệnh tương đố.Người đẹp như nàng mà bất hạnh, chết yểu. Có tài thơ văn như
nàng mà bị dập vùi. Di cảo của Tiểu Thanh chính là di hận:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chương vộ mệnh lụy phần dư”.
Nguyễn Du nhắc đến cuộc đời Tiểu Thanh bằng những ẩn dụ tượng trưng quen
thuộc , son phấn là biểu tượng cho sắc đẹp, văn chương là ẩn dụ cho tài năng của
Tiểu Thanh .Hai vật thể vô tri vô giác được nhân cách hóa như có “thần”,có “ hồn”.
Chính nước mắt và máu của Tiểu Thanh đã tạo nên “cái thần”,”cái mệnh”của son
phấn, văn chương, hay “niềm cảm thông lạ lung của nhà đại thi hào dân tộc”(hoài
Thanh) đã tạo “thần”,cái “hồn” để nó để cho nó để nỗi hận còn vương đến muôn
đời ?Cảm xúc của Tố Như càng dồn nén thì câu thơ càng dẫn đến tính đa
nghĩa.Nếu hiểu văn chương là chủ thể tự hận thì dẫn đến cách cảm: son phấncó
thần, cũng phải xót xa về những việc làm sau khi chết, văn chương không có số
mệnh gì cũng bị đốt dở. Nếu hiểu “son phấn”, “văn chương” là đối tượng thương
cảm của người đời thì có cách hiểu: son phấn như có thần, sau khi chết người ta
còn thương tiếc, văn chương có số mệnh gì mà người ta phải bận lòng đến những
bài thơ còn sót lại. Tiểu Thanh đẹp , tài năng là thế,ai mới trông qua tưởng đó là
một người phụ nữ “phi thường”,hội tụ tất cả tài năng của quan niệm phong kiến,
nhưng họ cũng giống như những người phụ nữ khác đương thời,cũng phải chịu
một nỗi đau chung, rất “bình thường” cả về thể xác lẫn tinh thần.
Nhưng xét đến cùng nó cũng quy vào cảm hứng vĩnh hằng của Nguyễn Du trước
cái đẹp và tài năng. Ta đã từng bắt gặp nỗi niềm thương cảm của Nguyễn Du
thương cho “nghiệp chướng phấn son”, nhưng đồng thời ca ngợi một trang giai
nhân tuyệt sắc: “Non bồng xa xuống một cành xinh/ Sắc đẹp màu xuân nức sáu
thành” khi viếng ca nữ đất La Thành. Trong “Độc Tiểu Thanh kí”,cái đẹp có thể
tàn về than xác nhưng “chôn vẫn hận”.Cái mệnh của Tiểu Thanh thật ngắn ngủi
còn cái mệnh của văn chương thì “đốt còn vương”. Giọt nước mắt xót thương cho
số phận Tiểu Thanh đã kết tinh lại thành hạt châu trân trọng và ngợi ca cái đẹp.Nếu
đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, xã hội phủ nhận tài năng,trí tuệ của người phụ nữ
thì tác phẩm của Nguyễn Du lại càng được đánh giá cao bởi chiều sâu nhân đạo.
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Nguyễn Du đã từ cái hận của Tiểu Thanh mà nghĩ đến cái hận muôn đời, cái hận
nay cứ triền miên không bao giờ chấm dứt.Từ nỗi đau riêng của Tiểu Thành mà
quy thành nỗi đau từ cổ chí kim của bao kiếp người tài hoa. Nỗi oan của Tiểu
Thanh trong suy nghĩ ấy, có lẽ Nguyễn Du còn liên tưởng đến bao cuộc đời như
Khuất Nguyên, Đỗ Phủ – những người có tài mà ông hằng ngưỡng mộ – và bao
người tài hoa bạc mệnh khác nữa. Những oan khuất bế tắc của nghìn đời “khó hỏi
trời” (thiên nan vấn). Câu thơ đã giúp ta hình dung rõ cuộc sống của những nạn
nhân chế độ phong kiến, dồn nén thái độ bất bình uất ức của nhà thơ với thời cuộc,
đồng thời cũng thể hiện một sự bế tắc của Nguyễn Du. Do vậy nỗi hận trở nên quá
lớn khó mà hỏi trời được: “Thiên nan vấn”. Lời thơ như lời than, oán trách ông trời
vì lẽ đời nghiệt ngã, trái ngang đã đẩy bao kẻ phong lưu vào kiếp đời buôn ba, đau
khổ.Nhưng có hỏi trời thì cũng chẳng mong một lời giải đáp, vì thế càng hận, càng
nhức nhối.Nỗi đau của Tiểu thanh vốn dĩ rất riêng nhưng Nguyễn Du đã tinh tế
nhận ra nỗi đau rất bình thường, rất rộng lớn- đó là nỗi đau của cả một lớp người, một thế hệ:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn”
Bên cạnh nỗi hận là cái “án phong lưu”. Và đây lại là một nghịch cảnh chua xót;
khách phong lưu mà phải khổ, phải mang cái án oan lạ lùng vì nết phong nhã. Đến
câu thơ thứ sáu thì khách thể và chủ thể đã hòa vào làm một:
“Phong vận kì oan ngã tự cư”
Câu thơ dịch chữ “ngã” thành chữ “khách” đã không tô đậm được yếu tố chủ thể
nhập thân vào khách thể.Nguyễn Du tự cho mình là người cùng hội với Tiểu
Thanh.Đó là tình cảm chân thành đồng điệu của Nguyễn Du, cũng thể hiện tầm vóc
lớn lao của chủ nghĩa nhân đạo rất đẹp và rất sâu của ông. Không phải chỉ một lần
nhà thơ nói lên điều này. Ông đã từng hóa thân vào nàng Kiều để khóc thay nhân
vật, ông đã từng khẳng định một cách đầy ý thức “thuở nhỏ, ta tự cho là mình có
tài”. Cách trông người mà ngẫm đến ta ấy, trong thi văn cổ điển Việt Nam trước
ông có lẽ hiếm ai thể hiện sâu sắc như vậy. Tự đặt mình “đồng hội đồng thuyền”
với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã tự phơi bày lòng mình cùng nhân thế. Tâm sự
chung của những người mắc “kỳ oan” đã được bộc bạch trực tiếp mạnh mẽ trong
tiếng nói riêng tư khiến người đọc cũng không khỏi ngậm ngùi. Tâm sự ấy không
chỉ của riêng Nguyễn Du mà còn là nỗi niềm của các nhà thơ thời bấy giờ. Vậy là
từ giọt lệ thương người, khóc người, Nguyễn Du đã chuyển sang tự thương mình.
Hai câu thơ cuối khép lại bài thơ là niềm mong ước được tri âm của Nguyễn Du ở hậu thế:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”
Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du không hỏi quá khứ, hiện tại mà hỏi tương lai,
không hỏi trời, đất mà lại hỏi người đời.Hỏi ba trăm năm sau,thiên hạ có ai khác
Tố Như?Với Tiểu Thanh, ba trăm năm sau đã có một Nguyễn Du “thổn thức bên
song” với “mảnh gả giấy tàn”. Còn Nguyễn Du liệu có ai khóc, ai đau cho phận đời
trôi nổi. “Bất tri”-không biết được. Niềm tự thương kết tụ thành một lời thắc mắc
lơ lửng giữa không trung mà chẳng ai có thể giải đáp được vì thế tự đau đến cực
độ.Ông muốn tìm thấy sự tri âm ở mai hậu bởi lẽ khi con người ta cô đơn, lạc lõng
mới dễ trở nên yếu đuối,vô vọng. Nhà thơ khác khoải hoài vọng ở tương lai: đời
sau trong muôn một còn có kẻ “khóc người đời xưa”bởi thời đại Nguyễn Du khổ
đau,khát khao được giải tỏa nhưng vẫn bế tắc.Bế tắc nhưng vẫn không thôi hi
vọng.Vì vậy, nỗi niềm Tố Như gửi tới mai hậu không phải là sự tuyệt vọng mà là
niềm hi vọng được giải tỏa.
Tự thương mình là một nét mới mang tinh thần nhân bản của thời đại cuối thế kỉ
thứ XVIII-đầu thế kỉ XIX-thời đại con người chưa ý thức được về bản thân, về tài
năng, nỗi đau của chính mình.Sự tự thương mình là sự tự ý thức,là bằng nước mắt
mà thấm in bản ngã của mình để chống lại sự chi phối của quan niệm “phi ngã”, “vô ngã”.
Bài thơ mở đầu bằng khóc người , thương người nay kết thúc bằng khóc mình,
thương mình. Khóc người,thương người là sự mênh mang cao cả của trái tim nhân
đạo. Khóc mình, thương mình là sự sâu sắc của tư tưởng nhân văn. Độc Tiểu
Thanh kí đã hội nhập được cả hai điều đó.
Chỉ với tám câu thơ nhưng người đọc đã đủ cảm nhận được một tâm hồn tha thiết
yêu cuộc sống, yêu con người của đại thi hào Nguyễn Du. Không cần đến 300 năm
sau , hậu thế vẫn luôn nhớ đến ông, nhớ đến những vần thơ tràn đầy xúc cảm như
thứ ánh sáng lấp lánh nổi bật lên kho tàng văn thơ trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung:
“Hỡi Người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng Người.”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)
Nghệ thuật chân chính không nhất thiết là phải dùng những ngôn từ mĩ lệ , những
đề tài mới chưa ai khám phá mà“Nghệ thuật là chỗ tìm ra cái phi thường trong cái
bình thường và cái bình thường trong cái phi thường” . Muốn vậy kẻ làm thơ phải
có năng khiếu, có vốn văn hóa rộng rãi, lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp, hơn hết là một
cái tâm sáng ngời bởi lẽ “ thơ là tiếng lòng” ( Diệp Tiếp).
Qua tác phẩm văn chương, nhà thơ nhìn đời một cách cao đẹp, đầy giá trị nhân
văn.Nhờ việc hiểu rõ về những thứ “tầm thường” , “phi thường” thi sĩ có cách đánh
giá sâu sắc về cuộc đời. Từ cuộc đời Tiểu Thanh đầy rẫy những đau khổ bất công,
nhà thơ bày tỏ thái độ cảm thông, tiếc nuối , tiếc cho lẽ đời dâu bể:
“ Trải qua một cuộc bể dâu
Những gì trông thấy mà đau đớn lòng”.
Chính cái tài thấu muôn đời muôn kiếp ấy đã đưa tên tuổi Nguyễn Du trở thành
một nhà thơ hàng đầu của nền văn học viết. Ấy thế mới thấy rõ được quá trình lao
động sáng tạo nghệ thuật của thi sĩ gian nan biết chừng nào. Phải cảm ơn những
nhà văn, nhà thơ như thế , người đời mới có thể hiểu rõ về mọi vật trong cuộc sống
từ cơ bản, bao quát nhất đến chi tiết, nâng cao.
L.Tônxtôi khẳng định: Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu.Tình yêu
con người, ước mơ cháy bỏng vì 1 xã hội công bằng,bình đẳng bác ái luôn luôn
thôi thúc các nhà văn và viết,vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ,hiến dâng bầu máu
nóng của mình cho nhân loại”. Nguyễn Du đã đem lòng thương cảm của mình để
khóc cho người con gái xa lạ Tiểu Thanh, khóc cho một lớp người “phong vận kì
oan”. Chính vì lẽ đó mà Nguyễn Du đã lưu dấu ấn của mình trong lòng bạn đọc để
rồi nở hoa thành những lẽ sống đẹp, nhân nghĩa.
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí - Mẫu 16
Nguyễn Du dường như có một tấm lòng đồng cảm sâu sắc với số phận người phụ
nữ tài hoa bạc mệnh. Chính vì thế những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh được nhà
thơ đặc biệt quan tâm kể về cuộc đời họ trong những trang thơ của mình. Nhắc đến
đây thì chúng ta hay nhớ đến tác phẩm Truyện Kiều với nàng Kiều xinh đẹp nhưng
bạc mệnh. Thế nhưng nhà thơ Nguyễn Du còn bày tỏ sự thương cảm của một
người con gái hồng nhan bạc mệnh khác đó là Tiều Thanh trong tác phẩm Độc
Tiểu Thanh Kí. Đồng thời qua đây ta còn có thể thấy được những tâm sự chất chứa
trong nỗi lòng của Nguyễn Du.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, chính vì thế ta đi phân tích lần lượt
theo kết cấu của thể thơ để thấy được số phận người con gái chết oan ức ấy đã
được Nguyễn Du cảm nhận như thế nào qua cảnh vật Tây Hồ. Đồng thời chúng ta
cũng hiểu được những tâm sự của nhà thơ muốn gửi đến độc giả.
Trước hết là hai câu thơ đầu, cảnh Tây hồ hiện lên không đẹp một cách bình
thường mà nó mang đến sự oan khuất của người đã mất:
“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”
(Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang,
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)
Cái cảnh Hồ Tây kia tưởng chừng là cảnh đẹp nhưng lại không phải, hiện tại bây
giờ nó đã hóa gò hoang. Cái chứ “hoang” kia như thể hiện được hết những hoang
sơ không bóng người không một âm thanh nơi đây. Cảnh tượng như khắc vào
trong lòng người đọc những âm u cùng cốc của cảnh vật. không biết rằng cảnh còn
đẹp nhưng cái chết của người con gái đẹp kia làm cho nhà thơ cảm thấy nó không
còn đẹp nữa hay là cảnh đẹp ngày xưa nay đã không còn đẹp như trước. Phải chăng
chính cái chết oan của người con gái kia làm cho nó không còn đẹp như trước nữa
và phải chăng là điều đó chỉ có nhà thơ cảm nhận được thôi?. Dù hiểu thế nào đi
chăng nữa thì nơi đây quả thật có một sự âm u quá lớn. Người con gái Tiểu Thanh
khi còn sống đàn ca, họa thơ làm cho cảnh Tây Hồ vốn đẹp cũng đẹp hơn nên khi
nàng bị người vợ cả của chồng hãm hại mà chết thì cái chết ấy cùng với sự uất hận
làm cho cảnh Tây Hồ không còn được như trước nữa. Bên song mảnh giấy như
được nhân hóa mang một tâm trạng thổn thức không yên. Mảnh giấy tàn ấy mà vẫn
có thể thổn thức được nữa sao hay đó chính là tâm trạng của người con gái đã mất.
Cô không cam tâm với kết cục số phận mình nên thổn thức. Nhưng cũng có một ý
nghĩa là mảnh giấy ấy chính là bài ký mà nhà thơ thể hiện sự đồng cảm của mình
viếng nàng đã khuất mà thôi. Tóm lại qua hai câu thơ đầu ta thấy được một cảnh
tượng thể hiện sự thương xót uất hận.
Đến hai câu thơ sau nhà thơ đi vào nói đến sự nghiệp văn chương của người con
gái hồng nhan bạc mệnh ấy. Và ở đây nhà thơ như tìm được một người đồng điệu
với tâm hồn văn chương của mình:
“Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh lụy phần dư. ”
(Son phấn có hồn chôn vẫn hận,
Văn chương không mệnh đốt còn vương. )
Hai câu thơ đầu như là cái nền để nói đến hai câu sau, chính cái chết làm cho Hồ
Tây cảnh đẹp hóa gò hoang kia lại làm cho con người ấy dẫu bị chôn vùi trong
hàng ngàn lớp đất cũng vẫn hận. Hình ảnh “son phấn” kia để chỉ người con gái
Tiểu Thanh xinh đẹp. Ở đây nhà thơ không cần nói đến sự xinh đẹp của nàng Tiểu
Thanh mà chỉ cần qua hình ảnh ấy ta cũng hiểu được ẩn ý của nhà thơ để thể hiện
người con gái xinh đẹp ấy. Tuy nàng đã bị chôn vùi xuống dưới lớp đất kia nhưng
hồn nàng cũng vẫn hận. Văn chương của nàng như vẫn còn vương trên cõi đời này.
Người con gái kia thì còn có mệnh chứ văn chương kia có mệnh hay không. Cái
mệnh của văn chương phụ thuộc vào cái mệnh của người sáng tác ra nó. Vậy người
sáng tác ra nó mất đi rồi nhưng văn chương kia đốt hãy còn vương trên cõi đời này.
Như vậy là cái mệnh văn chương kia còn dài hơn cái mệnh của người con gái.
Chính bởi tài sắc, chính bởi hồng nhan nhưng bạc mệnh ấy cho nên nàng Tiểu
Thanh chết đi để lại nỗi hờn kim cổ. Đó là một nỗi uất hận sâu sắc:
“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư. ”
(Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách tự mang)
Nỗi hờn kim cổ ấy biết hỏi trời tại sao được nhưng trời cũng không trả lời được vì
cái án phong lưu ấy khách tự mang vào người mình thôi. Ở đây Nguyễn Du thể
hiện quan điểm của bản thân mình về chữ tài và chữ mệnh. Người con gái càng
xinh đẹp càng tài sắc trong cái xã hội cũ ấy thì chỉ có thể có một mệnh bạc bẽo mà thôi:
“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”
Nguyễn Du thấy được nàng là người cùng hội cùng thuyền với mình về cái sự
phong nhã, cái sự nghiệp văn chương. Thế nhưng lại mắc phải cái oan ức lạ thường
mà người trung đại trọng nam khinh nữ làm nên.
Hai câu thơ cuối cất lên với những tâm sự mà Nguyễn Du thể hiện cho chính
mình:“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?)
Nhà thơ khóc thương cho người con gái ấy còn không biết rằng khi nhà thơ mất đi
có ai khóc ông như ông khóc nàng Tiểu Thanh hay không. Ông cũng có những tính
cách phong nhã như nàng, cũng có cái án văn chương ấy liệu rằng khi ông mất đi
rồi không biết có ai đồng điệu với tâm hồn văn chương của ông mà khóc thương
cho ông hay không. Và câu hỏi ấy đã kết thúc bài thơ và để câu trả lời cho người đời sau trả lời hộ.
Như vậy qua bài thơ ta thấy được số phận của người con gái hồng nhan bạc mệnh
ấy. Đồng thời ta cũng thấy được những tâm sự của nhà thơ Nguyễn Du về sau này.
Và thực tế đã cho thấy người đời ngày nay vẫn ca tụng đến ông với sự tài hoa qua truyện Kiều.