Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Trao duyên của Nguyễn Du (3 Dàn ý + 19 Mẫu) | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Trao duyên của Nguyễn Du (3 Dàn ý + 19 Mẫu) | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

Chủ đề:
Môn:

Ngữ Văn 11 1.2 K tài liệu

Thông tin:
83 trang 1 năm trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Trao duyên của Nguyễn Du (3 Dàn ý + 19 Mẫu) | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích bài Trao duyên của Nguyễn Du (3 Dàn ý + 19 Mẫu) | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

137 69 lượt tải Tải xuống
Dàn ý phân tích bài Trao duyên ngắn gọn
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm đoạn trích: Tác giả Nguyễn Du - Đại thi hào dân tộc,
đoạn trích “Trao duyên” được trích trong tác phẩm “Truyện Kiều”
2. Thân bài
- Tâm trạng Thúy Kiều khi nhờ cậy, thuyết phục Thúy Vân: Kiều tuy chị nhưng lại
quỳ lạy, thưa gửi với em của mình, phần trái ngược với giáo phong kiến nhưng
lại đúng với hoàn cảnh éo le, trước khi nhờ cậy Kiều đã kính cẩn, trạng trọng coi Vân
như người ân nhân của mình
- Tâm trạng Thúy Kiều khi trao lại kỉ vật cho Thúy Vân: Những kỉ vật như chiếc vành,
bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền giờ đây trở thành của chung ba người, tuy
trao đi kỉ vật nhưng lòng Kiều vẫn giữ mãi ân tình, không quên được những kỉ niệm
với người yêu
- Tâm trạng Thúy Kiều khi nhớ về mối tình với Kim Trọng: Kiều quay về thực tại,
chẳng còn kỉ niệm tình yêu ngọt ngào nữa, giờ đây hiện thức dở dang, lỡ làng, tan
vỡ, bây giờ tình duyên của nàng đã mất, cuộc đời cũng sắp phải giao cho người khác,
số phận nàng “bạc như vôi”
3. Kết bài
Đánh giá: Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta không chỉ thấu hiểu được bi kịch tình yêu
số phận của Thúy Kiều còn thấy được đó hiện lên nhân cách cao đẹp của
nàng, một người con gái tài sắc vẹn toàn, giàu đức hy sinh và giàu lòng vị tha
Dàn ý chi tiết phân tích bài Trao duyên
I. Mở bài
Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều: Nguyễn Du là đại thi hào dân
tộc danh nhân văn hóa thế giới, Truyện Kiều được xem là kiệt tác của nền văn
học được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Giới thiệu đoạn trích Trao duyên: Vị trí, nội dung
II. Thân bài
1. Lời nhờ cậy và thuyết phục Thúy Vân của Thúy Kiều (12 câu thơ đầu)
a. Hai câu đầu: Lời nhờ cậy của Thúy Kiều
* Lời lẽ trao duyên
- Cậy: + một thanh trắc với âm điệu nặng nề, gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói
>< nhờ, mong (thanh bằng)
+ Cũng mang hàm nghĩa trông mong, giúp đỡ nhưng cậy còn mang thêm sắc thái
hàm ý về sự hi vọng tha thiết, sự gửi gắm đầy tin tưởng
- Chịu: Nài ép, bắt buộc, không thể không nhận >< nhận: mang tính tự nguyện
* Cử chỉ trao duyên
- Lạy, thưa:
Là thái độ kính cẩn, trang trọng với người bề trên hoặc với người mình hàm ơn.
Hành động của Kiều tạo ra sự trang nghiêm, thiêng liêng cho điều sắp nói ra
→ Qua cách nói thhin sthông minh, khéo léo ca Thúy Kiều
→ Stài tình trong cách sử dụng tngữ của Nguyn Du
b. Mười câu tiếp: Lí lẽ trao duyên của Kiều.
* 4 câu thơ tiếp: Kể về mối tình với chàng Kim
- Thành ngữ: “ Giữa đường đắt gánh tương tư”
- Hình ảnh: “Mối tơ thừa”
- Hành động: “ Quạt ước, chén thề”
Bằng những thành ngữ, những điển tích, những ngôn ngữ giàu hình ảnh đã vẽ nên
một mối tình nồng thắm nhưng mong manh, dang dở và đầy bất hạnh của Kim - Kiều
* 6 câu thơ sau: Những lí do khiến Kiều trao duyên cho em.
- Gia đình Kiều gặp biến cố lớn “sóng gió bất kì
- Kiều buộc phải chọn 1 trong 2 con đường “hiếu” “tình”, Kiều đành chọn hi
sinh tình.
→ Kiều đã gợi ra tình cảnh ngang trái, khó xử của mình để Vân thấu hiểu.
- “Ngày xuân em hãy còn dài”
→ Vân vn còn tr, còn ctương lai phía trước
- “Xót tình máu mủ thay lời nước non”
→ Kiu thuyết phc em bng tình cm rut tht.
- Thành ngữ “Thịt nát xương mòn” Ngậm cười chín suối”: nói về cái chết đầy
mãn nguyện của Kiều
Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận
lời
Cách lập luận hết sức chặt chẽ, thấu tình cho thấy Thúy Kiều người sắc sảo tinh
tế, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa.
- Nội dung: 12 câu thơ đu diễn biến tâm trạng phức tạp của Kiều trong lúc nói lời
trao duyên
- Nghệ thuật: Sử dụng các điển tích, điển cố, các thành ngữ dân gian, ngôn ngữ tinh tế,
chính xác giàu sức thuyết phục, lập luận chặt chẽ.
2. Kiều trao kỉ vật và dặn dò Vân (14 câu thơ tiếp theo)
a. Sáu câu đầu: Kiều trao kỉ vật
- Kỉ vật; Chiếc vành, bức tờ mây
→ Kỉ vật đơn sơ mà thiêng liêng, gợi quá khứ hạnh phúc.
- Từ “giữ - của chung của tin”
“Của chung” là của Kim, Kiều nay là cả của Vân nữa
“Của tin” là những vật gắn bó gợi tình yêu thiêng liêng của Kim Kiều: mảnh
hương, tiếng đàn
Thhin s ging trong tâm trng Thúy Kiu. Kiu ch th gửi gm mi
duyên dang dcho Vân chkhông thtrao hết tình yêu mn nng xưa kia gia nàng
và Kim Trng.
b. Tám câu thơ tiếp: Lời dặn dò của Kiều
* Kiều dự cảm về cái chết
- Hàng loạt các từ ngữ, hình ảnh gợi về cái chết: hiu hiu gió, hồn, nát thân bồ liễu, dạ
đài, người thác oan
→ Dự cảm không lành về tương lai, sự tuyệt vọng tột cùng. Kiu tưng ng ra cnh
nh chết oan, chết hn. Hn không sao siêu thoát đưc bi trong lòng đang nng li
thề ước vi Kim Trng
Ta thấy được sự đau đớn, đầy tuyệt vọng của Kiều, đồng thời thể hiện tấm lòng
thủy chung một lòng hướng về Kim trọng của Kiều
* Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân
- “Đền nghì trúc mai”: Đền ơn đáp nghĩa.
- “Rưới xin giọt nước”: Tẩy oan cho chị.
Ni bt rt, dn vt trong lòng Kiu. Lúc này, Kiu như càng nh, càng thương
Kim Trng hơn bao giờ hết.
Tóm lại: Ni dung: 14 câu thơ tiếp là một khi mâu thun ln trong tâm trng Thúy
Kiu: trao kỉ vật cho em mà lời gi trao cht cha bao đau đn, ging xé và chua chát.
- Nghthut: Cách sử dụng tng, hình nh giàu giá trbiu cm, đc thoi ni tâm.
3. Tám câu thơ cuối: Kiều trở về thực tại đau xót khi nhớ tới Kim Trọng
- Hình thức: Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
- Tâm trạng: Nàng ý thức về cái hiện hữu của mình: “trâm gãy gương tan”, “tơ
duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”
→ Hình ảnh gợi tả số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc bẽo, lênh đênh trôi nổi
- Nghệ thuật đối lập: quá khứ >< hiện tại
→ Khắc sâu nỗi đau của Kiều trong hiện tại.
- Các hành động
● Nhận mình là "người phụ bạc"
● Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu
● Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.
Kiều quên đi nỗi đau của mình nghĩ nhiều đến người khác, đó chính đức hy
sinh cao quý
Tiểu kết
- Nội dung: m trng đau đn đến cùng cc ca Thúy Kiu khi ng vnh yêu
của mình và Kim Trng.
- Nghthut: Sử dụng tngbiểu cảm, thành ng, câu cm thán, các đip từ.
III. Kết bài
● Khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
● Trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: Đây là trích đoạn hay và cảm động nhất
của Truyện Kiều, đem lại hiều xúc cảm nơi người đọc.
Phân tích Trao duyên hc sinh gii - Mẫu 1
Đại thi hào Nguyn Du là mt trong nhng cây bút sáng chói đóng góp cho dòng chy
văn hc nưc nhà nhng bưc chuyn mình vàng son. Trong thi kì văn hc trung đi,
Nguyn Du cùng vi nhng tác gikhác như HXuân Hương, Nguyn Trãi, Nguyn
Bỉnh Khiêm,... to thành nhng ng đài thơ ca ca văn hc Vit Nam. Tác phm
làm nên tên tui ca Nguyn Du tp truyn viết bng chNôm "Đon trưng tân
thanh" hay còn gi ngn gn bng cái tên "Truyn Kiu". Đon trích "Trao duyên"
một trong nhng đon tiêu biu trong tp truyn, thhin sự dằn vt, ni lòng đau đn
của nàng Kiu khi buc phi bán mình chuc cha, đành nhcô em Thúy Vân trnghĩa
cho chàng Kim Trng.
Truyn Kiu mt tác phm đưc coi như kit c văn chương ca nhân loi, đưc
viết i dng truyn k bằng thơ, ly ct truyn ca Thanh Tâm Tài Nhân ngưi
Trung Quc. Tác phm ca Thanh Tâm Tài Nhân không hđưc biết đến cho ti khi
Nguyn Du khai thác ct truyn bình thưng y thành tiếng kêu ai oán đến lòng,
một bn su ca não n của ngưi con gái hng nhan bc phn. Đon trích "Trao
duyên" tcâu 723 đến câu 756 trong phn "Gia biến lưu lc", tái hin li cuc trò
chuyn ca chem Thúy Vân Thúy Kiu. Gia đình gp hon nn, Thúy Kiu đành bán
mình chuộc cha, trong tình cnh đó, biết mình không thgitrn li ththy chung
với Kim Trng, nàng Kiu đành phi trao li tm chân tình cho Thúy Vân, nhem
làm tròn bn phn, gitrn li ha ca mình vi ngưi yêu.
Mở đầu câu chuyn bng li Thúy Kiu nhờ cậy ca mình vi em:
Cậy em em có chu lời
Ngi lên cho chị lạy ri sthưa
Ngay tđầu, Nguyn Du đã đcho Thúy Kiu vị trí phía i, trái ngưc vi cách
xưng "ch, em". T"cy" đt đầu câu gi ttình thế tiến thoái ng nan, chng
còn cách nào khác, li tht khó khăn đthnhờ vả. Vn dĩ, Thúy Kiu xét theo vai
vế chcủa Thúy Vân, skhông cn "thưa" hay "ly", nhưng trong hoàn cnh y,
nàng chp nhn đt mình vào vtrí ca ngưi đi nhờ vả, van xin, chỉ với mc đích gi
trn li ha của mình vi chàng Kim Trng. T "em" đưc nhc li hai ln, đi kèm
các đng tmạnh "ly", "thưa" "cy" mra mt ni lòng chua xót, báo hiu tương lai
mịt mù, tăm ti, phi nhvả, da dm, mưu cu lòng thương ca ngưi khác. Thúy
Vân tr thành b trên, "ngi lên" đ ch lạy, thưa đã mt ln na nhn mnh kiếp
ngưi trôi ni, bp bênh, llàng duyên phn ca nàng Kiu. Kiu tha thiết van lơi em,
đồng thi đt lên vai em sc nng ca stin ng, trông cy. Trong hoàn cnh ngt
nghèo đó, tình chem đưc mang ra để bấu víu, Vân trthành nim hi vng cui cùng
của Kiu khi nàng buc phi ri xa gia đình, tht hn vi ngưi yêu.
Thúy Kiu bt đu bày tỏ nỗi lòng mình vi em gái bng nhng li chua xót, đau đn:
Gia đưng đt gánh tương tư
Keo loan chp mi tơ tha mc em
Kể từ khi gp chàng Kim
Khi ngày qut ưc khi đêm chén th
Sự đâu sóng gió bt kì
Hiu tình khôn lhai bề vẹn hai.
Đến đây, ngưi đc bng hiu ra cái nhờ cậy ban đu ca Thúy Kiu thc ra là mt li
phó thác, buc Thúy Vân phi chp nhn. Vi thân phn chgái, chcả trong nhà,
Kiu cm thy mình phi trách nhim giúp đgia đình qua cơn hon nn. Nàng
chp nhn bán mình chuc cha, ch hiếu quên thân, chp nhn lduyên vi ngưi
thương chkhông thphlòng cha m. Ngưi con gái "đứt gánh tương tư" y chng
nỡ làm Kim Trng đau lòng, đng trưc ch tình ch hiếu, nàng ch còn cách
mong em gái Thúy Vân thgiúp mình tiếp tc mi duyên đt quãng. Hai tiếng
"mc em" ging như mt sphó thác trách nhim bng tm lòng tha thiết, âu su.
Kiu ththtâm sự với Vân về mối tình nng thm ca minh vi chàng Kim:
Kể từ khi gp chàng Kim
Khi ngày qut ưc, khi đêm chén th
Sự đâu sóng gió bt kì
Hiu tình khôn lhai bề vẹn hai.
Câu thơ thhin sđau khcủa Thúy Kiu khi nhlại nhng knim mùi mn còn
dang dgia mình Kim Trng. Đi vi nàng, mi tình vi Kim Trng nhng k
nim la đôi đp nht, nhưng đi vi Thúy Vân, đó là trách nhim, là nghĩa v. Vì thế,
Kiu không mun em phi bn lòng, băn khoăn, nàng chn cách tâm tình vi em t
nhng knim ca mình đem gái cm thy gn gũi, cm thông. Tbui gp gđến
hôm thnguyn đính ưc. hình nh "qut ưc", "chén th", nàng mun khng đnh
tình cm gia hai ngưi tình cm tht lòng, sâu sc. Trao duyên cho em lòng
đau như ct, vì bn thân nàng đâu hmun phi sinh ra nông ni y. Cùng vi stiếc
nui, Kiu chbiết tri lòng vnhng khó khăn bt cht p đến gia đình, buc nàng
vào tình thế bất đc dĩ. "Hiu tình khôn lhai bvn hai", mt câu nói va tnh
lòng mình, va là cái cớ của Kiu khi trao duyên cho Thúy Vân. Bn thân Kiu không
hề mun hai chem phi đi mt vi nhau trong tình thế khó x, nhưng chđã cha
mẹ bán mình, thì em cũng nên vì chgiúp chị ni tiếp duyên. Ngưi đc ng
như còn cm thy mt khao khát nhnhoi trong lòng Thúy Kiu, khao khát sng trn
vẹn, tình nghĩa, nhưng trtrêu thay, cuc đi bt hnh li không cho phép nàng thc
hin ưc mun nhnhoi y.
Không nhng thế, Kiu còn thhin s khéo léo, tinh tế khi la li đcập đến hoàn
cảnh ca Vân để cất li nhem:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mthay li nưc non
Chdù tht nát xương tan
Ngm cưi chín sui hãy còn thơm lây
Xét vtình, Thúy Kiu Thúy Vân hai chem đu đang đtui cp kê, Kiu đã
lấy cái cớ đó đnhờ cậy em ni tiếp mi duyên vi Kim Trng. Xét vlý, tình rut
máu mcũng mt lý do hp đThúy Vân trách nhim thc hin nhng mong
mun ddang ca ch. Đng thi, nàng Kiu cũng thhin schua xót, đng cay khi
nhc đến cái chết "Chdù tht nát xương tan / Ngm i chín sui hãy còn thơm lây".
ng như khi chn con đưng bán mình chuc cha, Kiu đã xác đnh vtương lai
mịt m, dcảm không lành vsố phn nghit ngã. Nếu không nhng chuyn tai
bay vgió, không nhng uẩn khúc gia đình thì lgiđây, Kiu đã đưc hnh
phúc vi tình yêu ca mình. Li nói không chthhin cái đn đau khi phi chia lìa
gia đình còn cha đng cnhng ti thân, bun ru khi không đưc bên ngưi
thương. Trong hoàn cnh y, nàng chỉ biết nhđến em, đsau này khi "tht nát xương
tan", nàng vn có thngm i nơi chín sui, nhìn em mình và ngưi yêu đưc hnh
phúc vn toàn, đưc thc hin trn vn li ha vi Kim Trng. Trao đi mi duyên
nàng hng khao khát, nâng niu là điu đau đn đến tt cùng, nhưng Kiu đã chp nhn
chn chhiếu đ cứu cha, chmột lòng mong em hãy đng ý giúp nàng ni tiếp mi
duyên tình đkhông phlòng Kim Trng.
Trao cho em nhng vt đính ưc, Kiu thth tâm tình vi em nhng li chân thành
nht:
Chiếc vành vi bc tmây
Duyên này thì gi, vt này ca chung.
Dù em nên vnên chng
Xót ngưi mnh bc t lòng chng quên.
Mất ngưi còn chút ca tin,
Phím đàn vi mnh hương nguyn ngày xưa.
Chiếc vành, bc tmây, phím đàn, mnh hương nguyn, nhng kvật ca mi tình
đầu thanh thun, ngây thơ. Nhìn nhng kvật y, lòng ngưi con gái sao tránh khi
bồi hi, nhnhung. Trong hoàn cnh y, khi Kim Trng đang xa, không hhay biết
tin tc gì, bn thân chun bị một cuc đi lưu lc, chng rõ tương lai đi đâu vđâu, s
xót xa, đau đn li dâng đến tn cùng. Nhng kỉ vật y tht khó lòng buông b, thế
câu "Duyên này thì gi, vt này ca chung" phn lkì, ngp ngng. Duyên đã
trao đi ri nhưng hin vt thì chng nlòng nào chi b, nên Kiu vn mun giđó
làm "ca chung", ca c hai chem. Câu nói mt chút con gái, mt chút ích k
nhưng cũng dhiu thôi, chng cô gái nào mun san stình yêu ca mình vi ai khác.
"Dù em nên vnên chng / Xót ngưi mnh bc t lòng chng quên", mt câu dn
của Thúy Kiu vi em gái, rng dù em thay chị kết duyên cùng Kim Trng, nhưng bn
thân ch ngưi yêu ca chàng, chmong đến ngày hnh phúc, em đng quên tm
lòng ch, sphn bc bo đưa đy chđến đưng cùng chtht tâm chng hmun
rời xa. ngưi cho rng, Kiu mt gái ích k, nhnhen, rành rành thân phn
nhvả còn đòi hi, yêu cu. Nhưng nhìn vmặt tình cm, sngp ngng, không
ràng tKiu cũng chbắt ngun ttình yêu chân thành, ttấm lòng ngưi con gái
lần đu biết yêu mà lại buc phi chia lìa. Chcòn vài kvật làm ca tin, làm hin vt
chng minh tình cm, chng ai cam tâm trao cho ngưi khác, kcả đó rut tht,
máu mủ.
Trao li kvật cho em nhưng tâm hn Kiu vn không thnguôi ngoai, tht tâm vn
chưa hquên đi Kim Trng:
Mai sau dù có bao gi
Đốt lò hương y, so tơ phím này,
Trông ra ngn clá cây
Thy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nng li th
Nát thân bliu, đn nghì trúc mai.
Dạ đài cách mt khut lời
i xin chén nưc cho ngưi thác oan.
Lời nói mang mt sđau lòng não n, Kiu tcoi mình k đon mnh, nhng câu
từ thhin Kiu đã một thế gii khác, không thtr về với cuc sng bình thưng,
không đưc đoàn tvới gia đình. Sng trong mt hi bt công, nơi con ngưi sn
sàng hãm hi nhau đng tin, Kiu không dám nghĩ đến vic mưu cu cho hnh
phúc cá nhân mà chdám mong đưc chng kiến hnh phúc ca em gái và ngưi yêu.
Sự bế tắc khđau trong lòng nàng cht cha trong tng câu nói. "Lò hương, ngn
cỏ cây, hiu hiu gió, hn, nát thân, cách mt khut li, ngưi thác oan", hàng lot
nhng tmang âm ng tch, chết chóc như mt vết ca vào lòng ngưi đc.
Ngưi con gái tui mi i tám đã nghĩ đến cái chết bi kch, cái chết oan khut, bế
tắc. Nhưng bn thân ngưi con gái y li chmong mi đưc thanh thn, có thgiũ b
hết tình duyên dương thế. Đau xót thay cho mt sphn tài sc vn toàn nhưng sm
rơi vào lam lũ, bi kch, chp nhn bán mình chuc cha nhưng vn nghĩ đến nghĩa tình,
thề hẹn.
Tâm s với em, Thúy Kiu cũng không quên gi li ti Kim Trng vi nhng dòng
tâm trng tha thiết:
Bây gitrâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gi ly tình quân
Tơ duyên ngn ngi có ngn y thôi!
Phn sao phn bc như vôi
Đã đành nưc chy, hoa trôi llàng
Ơi Kim lang! Hi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phchàng tđây.
Tâm svới Kim Trng nhưng thc cht, Kiu chđưc đc thoi vi chính mình,
ngưi nàng yêu đang phương xa, đâu hay biết tình thế ca nàng hin ti. Nàng ý
thc đưc sphn bc bẽo bằng nhng đin c "gương gãy", "trâm tan", nhng hình
nh gi schia lìa đôi la. Xét đến cùng, mc đích ca cuc trao duyên này là do mi
tình nng nghĩa vi Kim Trng chưa thkết thúc, nên trong nhng li cui gi đến
chàng, Kiu luôn mun nhc li những hoài nim tươi đp ca hai ngưi trưc khi
buc phi tmình ct đt mi duyên chng đưc bao lâu. "Muôn vàn ái ân" nay đã tr
thành quá kh, stht gichcòn "tơ duyên ngn ngi có ngn y thôi!".Cùng vi ni
tiếc nui v tình yêu, Kiu còn khóc thương cho sphn ca mình. Phn nnhi chân
yếu tay mm trong xã hi xưa đã bị rẻ rúng, giđây li còn "bc như vôi", "nưc chy,
hoa trôi llàng", sbất lc, phó mc sphn không tiếng nói, không quyn
tự quyết đnh . Tiếng gi lòng " Hỡi Kim Lang!" thay cho mt li than, tiếng khóc
tức i. Cách gi "lang" cách gi chng trong hi xưa, cho thy tình cm ca
Thúy Kiu cùng chân thành, thy chung, bt hoàn cnh nào thì li th
duyên la ca nàng đêm y vn vn nguyên. th, ngưi đc cm thy mt chút phi
trong câu nói ca Kiu, rng ti sao đã trao duyên vi em ri nhưng vn gi Kim
Trng "lang", chng, Phi chăng, trong dòng hi ng vnhng giây phút
cạnh nhau, Thúy Kiu đưc tm quên đi nhng đn đau nàng phi đi mt, nhưng
cảm giác ti li ca mình vi chàng Kim, chcòn nàng vi chàng, hai ngưi yêu nhau
say đm, là vchng. Câu gi bt ra va đthhin ưc nguyn đưc hnh phúc ca
Thúy Kiu, va thhin tm lòng nng tình nng nghĩa ca nàng, một nét đp tâm
hồn ca ngưi phụ nữ trong xã hi xưa.
Đon trích "Trao duyên" đã khái quát mt cách sâu sc nht nhng cung bc cm xúc
của Thúy Kiu khi buc phi ri xa ngưi yêu, đành trao duyên li nhcậy em gái
tiếp tc li ha vi Kim Trng. Mt người phnữ yêu hết mình, thy chung da diết,
lại khéo léo, sc so nhưng bc mnh, long đong. Bng bút pháp nghthut khai thác
tâm nhân vt, đ nhân vt t bc lcảm xúc qua hành đng, c ch, tác giđã
truyn đt ti ngưi đc nim thương xót cho bi kch tình yêu tan v của nàng Kiu.
Tâm trng nhân vt đưc đc tqua nhng chi tiết đt giá, ththơ lc bát uyn chuyn,
mềm mi ng nhng tngmạnh, gi sxót xa đã làm rung đng trái tim bn đc
với nhng ni nim ca nhân vt.
Qua "Trao duyên", Nguyn Du cũng gi gm stôn trng, nâng niu nhng con ngưi
đẹp, biết trng chhiếu, vn chtình, đng thi lên án xã hi bt công, bc bo đã
đẩy con ngưi vào ca i chia lìa, chia ct hnh phúc la đôi ca nhng ngưi xng
đáng đưc hưng hnh phúc.
Phân tích Trao duyên ngắn gọn - Mẫu 2
Nhắc đến Nguyễn Du - đại thi hào của dân tộc Việt Nam, người ta sẽ nhớ ngay đến
“Truyện Kiều” - kiệt tác văn chương của nhân loại. Những tác phẩm của Nguyễn Du
nói chung và thiên “Truyện Kiều” nói riêng đã đóng góp một phần quan trọng đối với
nền văn học, văn hóa nước nhà. Đoạn trích “Trao duyên” được trích trong tác phẩm từ
câu thơ 723 đến câu 756, nói về bối cảnh Thúy Kiều trao duyên lại cho Thúy Vân, nhờ
Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Đây là một trích đoạn đầy nghịch cảnh
éo le và bi kịch, gây sự xúc động mạnh trong lòng người đọc.
Trong đoạn trích, cái duyên đây chính mối duyên tình yêu giữa Thúy Kiều
Kim Trọng, thế nhưng vì hoàn cảnh gia đình rơi vào bi kịch, Thúy Kiều phải bán mình
chuộc cha em, không còn thể giữ mối duyên đó với chàng Kim được nữa. Thúy
Kiều đành đem duyên đó của mình trao lại cho em gái là Thúy Vân, ngưỡng mong em
sẽ chấp nhận và thay mình trả mối nghĩa tình cho chàng Kim. Mở đầu là câu thơ mang
nặng sự nhờ vả, trông cậy của Kiều dành cho Vân:
Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Từ “cậy” vừa thể hiện sự tin cậy lại vừa nhấn mạnh Vân là sự lựa chọn duy nhất, hợp
nhất trong hoàn cảnh đó của Kiều, kết hợp với hành động “lạy”, “thưa” dường như
Kiều đang trong trạng thái đau đớn, trong tình cảnh của kẻ mang ơn. Kiều tuy chị
nhưng lại quỳ lạy, thưa gửi với em của mình, phần trái ngược với giáo phong
kiến nhưng lại đúng với hoàn cảnh éo le, trước khi nhờ cậy Kiều đã kính cẩn, trạng
trọng coi Vân như người ân nhân của mình. Điều đó cũng dự báo việc nàng nhờ cậy là
việc rất quan trọng, khó khăn, chính vậy Kiều phải hết lòng giãi bày, tâm sự
thuyết phục Vân hiểu và chịu cho mình:
Giữa đường đứt gánh tương tư…
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Trong đoạn thơ, Kiều nhắc đến “mối tơ thừa” chính là mối tơ tình duyên của nàng với
chàng Kim, đối với Vân mối tình duyên đó chẳng ý nghĩa, chỉ thừa thãi bởi vốn
Thúy Vân Kim Trọng đâu tình cảm gì. Phải mang vào mình mối thừa ấy một
thiệt thòi của Vân, biết vậy nhưng Kiều cũng chỉ “mặc em”, bởi nàng cũng không
cách nào, không lựa chọn nào khác. Nàng còn kể về mối tình với chàng Kim để
mong em hiểu cho nỗi lòng, nghĩa tình sâu nặng giữa mình và Kim Trọng, nếu không
trả khó thể trọn vẹn, chỉ bởi sóng gió ập đến gia đình nay đành phải đứt gánh
giữa đường. Thúy Kiều rất thông minh khi những lẽ nàng thuyết phục Thúy Vân
vẹn tròn cả lẫn tình, nàng nhắc đến tình máu mủ ruột già mong em hãy bằng lòng
chấp nhận, chính điều đó đã khiến cho Thúy Vân không thể từ chối lời thỉnh cầu của
chị. Bước sang phân cảnh Kiều trao lại kỉ vật tình yêu với Kim Trọng cho Thúy Vân,
ta thấy được một tình yêu đẹp, chân thành mà sâu sắc giữa hai người:
Chiếc vành với bức tờ mây…
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Những kỉ vật như chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền giờ đây trở
thành của chung ba người, tuy trao đi kỉ vật nhưng lòng Kiều vẫn giữ mãi ân tình,
không quên được những kỉ niệm với người yêu, điều đó khiến nàng đau xót như mất
đi những phần quan trọng của cuộc sống.
“Mai sau dù có bao giờ…
Rưới xin giọt nước cho người thác oan”
Kiều nhiều lần nhắc đến cái chết trong những lời của mình, một phần muốn chắc chắn
rằng Thúy Vân đã nhận lời, nàng khi đã bán mình chuộc cha em cũng khó thể
biết được số phận trôi dạt về đâu, sống chết không rõ ra sao. Kiều dù chết đi vẫn mong
người lại hãy nhớ đến mình, mong muốn được sự đồng cảm của mọi người,
đến khi chết nàng vẫn nặng lời thề với Kim Trọng.
“Bây giờ trâm gãy bình tan
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Kiều quay về thực tại, chẳng còn kỉ niệm tình yêu ngọt ngào nữa, giờ đây là hiện thực
dở dang, lỡ làng, tan vỡ, bây giờ tình duyên của nàng đã mất, cuộc đời cũng sắp phải
giao cho người khác, số phận nàng “bạc như vôi”. Nàng gọi tên chàng Kim trong nỗi
thổn thức, xót xa như một lời từ biệt cuối cùng: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang”,
nàng đã phụ tấm lòng chàng Kim, nàng tuyệt vọng dưới sự đày đọa của hoàn cảnh
số phận.
Thông qua việc phân tích bài trao duyên, ta không chỉ thấu hiểu được bi kịch tình yêu
số phận của Thúy Kiều còn thấy được đó hiện lên nhân cách cao đẹp của
nàng, một người con gái tài sắc vẹn toàn, giàu đức hy sinh giàu lòng vị tha. Qua
nhân vật Thúy Kiều, nhà thơ Nguyễn Du cũng bày tỏ sự cảm thông, xót xa trước
những bất hạnh và hiện thực bất công của cuộc đời Kiều.
Phân tích Trao duyên - Mẫu 3
Duyên phận của trời cho, không được cưỡng cầu càng không nên ép buộc, nhờ
vả. Thế nhưng Thúy Kiều trong đoạn trích "Trao duyên" (Truyện Kiều) của Nguyễn
Du đã cho mình cái đặc quyền đi "nhờ", "cậy" duyên như vậy. Tác giả đã phân tích
thành công tâm trạng chua xót, đầy đớn đau của Thúy Kiều khi phải trao mối duyên
đầu với Kim Trọng cho em gái là Thúy Vân. Một nghịch cảnh trớ trêu, bất hạnh.
Đã gọi duyên thì đến rất tự nhiên, đi tìm cũng không được, duyên đến thì giữ,
duyên đi thì buông tay. Đó duyên phận của mỗi người, mỗi cuộc đời khi gặp gỡ
nhau. Trong tình yêu thì chữ ''duyên" này càng lớn lao quan trọng. Nhưng Thúy
Kiều trong đoạn trích "Trao duyên" đã phải mang chữ duyên của mình gửi nhờ một
người khác.
Nguyễn Du đã chua xót khi khắc họa tâm trạng của Thúy Kiều lúc này:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Chỉ với hai câu thơ nhưng biết bao chua xót và dằn vặt, biết bao nước mắt và đau đớn.
Từ "cậy" được đặt lên đầu câu diễn tả hoàn cảnh ngặt nghèo, khó thưa, khó gửi của
Thúy Kiều. Vốn Thúy Kiều chị, sẽ không chuyện "thưa", "lạy" Thúy Vân bất
cứ việc gì; nhưng trong hoàn cảnh này, nàng đã phải làm những việc tưởng chừng như
nghịch như vậy. Mối duyên với chàng Kim mối duyên trời cho, nhưng số phận
của Thúy Kiều giờ nổi trôi, bấp bênh, nàng không muốn phụ chàng, nên đã muốn cậy
nhờ em gái nối tiếp mối duyên dở dang ấy. Câu thơ như cứa vào lòng người đọc nỗi
chua xót cùng cực. Từ "cậy" điểm nhấn, sự thành công về mặt ngôn ngữ của
Nguyễn Du.
Thúy Kiều bắt đầu giãi bày nỗi lòng của mình bằng những câu thơ như dao cắt:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Đến đây thì người đọc đã thực sự hiểu hết ý nghĩa của từ 'cậy", không còn nhờ
nữa mang tính chất ép buộc, bắt buộc phải làm. Thúy Kiều hiểu được hoàn cảnh,
hiểu được nỗi đau của bản thân mình. Nàng đã hi sinh chữ tình vì chữ hiếu, quyết phụ
chàng Kim, chứ không thể phụ cha mẹ. Một người con gái yếu đuối, mỏng manh
nhưng rất mực hiếu thảo. "Gánh tương tư" đã đứt gánh, mối duyên đã vỡ, nhưng Kiều
không muốn chàng Kim đau lòng, nàng chỉ mong Thúy Vân thể nối lại mối duyên
này. Mặc "trao duyên" cho em gái nhưng lòng nàng đau như cắt. Những hẹn ước,
những mong chờ, những kỉ niệm cứ như xát muối vào trong trái tim người con gái
mỏng manh ấy.
Thúy Kiều đã rất khéo léo khi 'cậy" duyên em gái, đã đem chuyện máu mủ để ép Thúy
Vân nên Thúy Vân không thể từ chối được:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương tan
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Thúy Kiều Thúy Vân đều đang ến tuổi cập kề'' nhưng nàng lại nhắn nhủ với
Thúy Vân "ngày xuân em còn dài", thể gánh tiếp mối duyên với chàng Kim, với
người mà Kiều yêu thương. Một sự chua xót đến đau lòng khi Kiều nhắc đến cái chết,
một dự liệu chẳng lành hay là một cuộc đời sẽ chẳng bình an nàng sắp phải mang.
Thúy Vân có thể giúp đỡ thì dù mai này có chết Kiều vẫn "ngậm cười chín suối". Qua
đây chúng ta thấy được tấm lòng, sự lương thiện, sống và yêu hết lòng mình.
"Trao" đi mối duyên bản thân nâng niu, trân trọng điều đau đớn, chua xót mà
Kiều phải gánh chịu. Nhưng đây là con đường Kiều phải chọn để đi, vì không còn lựa
chọn nào khác nữa. Kiều mong em gái có thể giữ lấy mối duyên mà cô phải buông bỏ,
để không phụ tấm lòng của Kim Trọng.
Và dường như cái chết càng hiện nét trong những lời nói của Kiều:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đèn nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Sống trong hội nhiều bất công, những người đáng lẽ ra phải được hưởng một cuộc
sống hạnh phúc trọn vẹn lại phải lựa chọn con đường đi nhiều nước mắt. Cái chết
không phải kết thúc đối với Kiều, nàng còn mang nặng món nợ lớn với đời, với
Kim Trọng. Thúy Kiều chỉ thể bất lực với tình yêu của mình, mong Kim Trọng
thể hiểu được. Sự bế tắc đau khổ trong lòng Thúy Kiều dường như chồng chất
đè nén không thể thoát ra được. Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ có sát khí mạnh,
cứa vào lòng người đọc một nỗi đau tận trái tim. Thương cho gái yếu đuối, với trái
tim yêu chân thành nhưng lại rơi vào bế tắc cùng cực như vậy.
Đoạn trích "Trao duyên" thực sự khiến người đọc không kìm được cảm xúc khi nghĩ
đến thân phận nỗi đau người con gái hiếu thảo ấy phải gánh chịu. hội bất
công, lòng người bạc bẽo đã đẩy những phận người thấp cổ họng vào con đường
không lối. Thúy Kiều và mối tình đứt gánh ấy là minh chứng cho điều đó.
Phân tích Trao duyên - Mẫu 4
Bằng sự xót thương, đồng cảm cùng tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đại thi hào Nguyễn
Du đã xây dựng thành công nhân vật Thúy Kiều - hình tượng đại diện cho vẻ đẹp, số
phận đau khổ, bi đát của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Trích đoạn “Trao
duyên” từ câu 723 đến câu 756 của tác phẩm đã thể hiện điều này. Đây những
câu thơ có vị trí “bản lề”, đánh dấu sự mở đầu, bước ngoặt định mệnh của 15 năm lưu
lạc trong cuộc đời của Thúy Kiều.
Trước hết, Thúy Kiều đã thuyết phục Thúy Vân bằng những hành động, lời nói, cử chỉ
sâu sắc, tinh tế cùng do trao duyên hợp tình, hợp lí. người con gái thông minh,
nhạy bén, khi trao duyên cho em, Thúy Kiều đã những lời lẽ, hành động đặc biệt
khác thường:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”
Tác giả đã sử dụng hàng loạt từ ngữ miêu tả hành động để tái hiện không gian của sự
kiện “trao duyên”: “cậy” thể hiện sự nhờ vả, tin cậy, “chịu lời” mang sắc thái bị nài ép
chấp nhận, “mặc” mang ý nghĩa phó thác, phó mặc. Qua hệ thống ngôn từ tinh tế,
khéo léo, sắc sảo đó, chúng ta thể thấy được Kiều một người hết sức khôn khéo.
Hành động của nàng cũng thể hiện sự trang trọng: em - “ngồi lên”, chị - “lạy”, “thưa”.
Những từ ngữ trên đã tái hiện thành công không khí trang trọng của sự kiện “trao
duyên”, đồng thời Kiều cũng thấu hiểu rằng nàng người chịu ơn, mang ơn đối với
Thúy Vân. Để thuyết phục em, Kiều đã gợi lại tình yêu tươi đẹp của mình:
Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Tác giả đã điểm xuyết những kỉ niệm của mối tình Kim - Kiều khắc cốt ghi tâm qua
những hình ảnh ước lệ: “quạt ước”, “chén thề”. Nhưng đứng trước bi kịch tình yêu tan
vỡ “đứt gánh tương tư”, nàng đã thuyết phục em bằng những lẽ: “Hiếu tình khôn lẽ
hai bề vẹn hai?”. Vì bán mình chuộc cha, nàng đã phần nào làm tròn chữ hiếu với cha
mẹ, nhưng lại đánh mất mối tình cùng Kim Trọng. Không chỉ dùng câu chuyện tình
yêu để lay động em gái, nàng vin vào tuổi xuân của em và tình chị em máu mủ để trao
lại mối tình còn dang dở: “Ngày xuân em hãy còn dài/ Xót tình máu mủ, thay lời nước
non”. Như vậy, qua những câu thơ đầu tiên, chúng ta thể thấy được Kiều đã đưa ra
những lí lẽ thuyết phục, thấu tình đạt lí, thể hiện nàng là người con gái tinh tế, sắc sảo.
Sau khi lay động Thúy Vân bằng cả trí trái tim, Thúy Kiều trao kỉ vật cho em:
Chiếc Hoa, Bức Tờ Mây, Phím Đàn, Mảnh Hương Nguyền. Tác giả đã sử dụng những
hình ảnh tượng trưng, ước lệ về kỉ niệm tình yêu sâu nặng, thề ước thiêng liêng giữa
Kim Trọng Thúy Kiều. Chúng ta thể cảm nhận được, những kỉ vật ấy đã trở
thành sinh mệnh của tình yêu, sinh mệnh của sự sống trong trái tim Thúy Kiều:
“Duyên này thì giữ, vật này của chung”. “Của tin” là tín vật minh chứng cho tình yêu
giữa Kim Kiều, “của chung” của Kim Trọng - Thúy Vân - Thúy Kiều. Nói về
điều này, Hoài Thanh đã viết “Của chung là của ai. Bao nhiêu đau đớn trong hai tiếng
đơn sơ thế!”, “Đó là của chung, của chàng, của chị, hay còn là của em… Đó là của tin
để lại cho nhau. Hồn chị gửi cả trong ấy”. Với tâm trạng đầy tiếc nuối, xót xa, cách
Thúy Kiều trao kỉ vật cho em đầy sự nâng niu, trân trọng. Nàng chợt nhận ra trao đi kỉ
vật vĩnh biệt tình yêu. Biết bao nhiêu đau đớn, biết bao nhiêu xót xa thể hiện qua
hai từ “của tin”, “của chung”. Kiều như muốn níu giữ lại hương vị tình yêu trong niềm
tiếc nuối hạn. Cấu trúc câu thơ thể hiện sự mâu thuẫn giằng giữa trí tình
cảm: vừa níu giữ, vừa dứt khoát gửi trao mối tình dang dở: gửi trao những kỉ vật
thiêng liêng trao tình duyên cho em. Biết bao tiếc nuối, xót xa được thể hiện qua
tâm trạng của Thúy Kiều: kỉ vật gợi ức, ức gợi kỉ niệm, trao đi kỉ vật nhưng vẫn
không quên được mối tình sâu sắc đó.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Sau khi trao đi kỉ vật tình yêu hồi tưởng lại những ức tươi đẹp trong quá khứ,
Kiều đau đớn, xót xa quay trở về thực tại. Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
nội tâm. Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng một loạt từ ngữ, hình ảnh, điển tích với tần
suất dày đặc: “đốt hương”, “ngọn cỏ”, “lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn nặng lời thề”, “nát
thân bồ liễu”, “dạ đài”, “cách mặt khuất lời”, “người thác oan” để thể hiện sự tự ý
thức của Thúy Kiều về bi kịch tình yêu dang dở, tan vỡ bi kịch thân phận trái
ngang, lênh đênh trôi nổi. Kiều nói với Vân như nói với chính mình. Hàng loạt từ ngữ
gợi tả về cái chết được sử dụng để thể hiện dường như với nàng lúc này, viễn cảnh
tương lai thật mịt mờ, xa xăm. “Mai sau bao giờ” - câu thơ như một tiếng than,
lại như một câu hỏi xoáy vào tâm can, vừa thể hiện sắc thái lo lắng, vừa hi vọng,
nhưng hi vọng vừa lóe lên chợt hóa thành ảo vọng: “Đốt lò hương ấy, so tơ phím này”.
Những kỉ vật tình yêu hạnh phúc trong quá khứ trở thành nỗi đau khắc sâu vào tâm
trạng thực tại của mình. Kiều nhận ra tương lai thật mịt mù, mơ hồ, nàng tưởng tượng
ra cái chết trong tương lai, linh hồn cũng không siêu thoát được vẫn mang nặng lời
thề với Kim Trọng: “Rưới xin giọt nước cho người thác oan”. Kiều nghĩ đến viễn cảnh
tang thương khi mất đi tình yêu, bởi với ng, mất đi sự tự do mất đi tưởng, mất
đi tình yêu chính mất đi tri kỉ. Say đắm trong tình yêu, Kiều đã cột chặt sinh mệnh
của mình cùng mối tình tươi đẹp đó. Trong khoảnh khắc ấy, chúng ta có thể cảm nhận
được tận sâu nỗi đau trong trái tim của nàng. Tuy nhận ra bi kịch, tuyệt vọng đau
đớn, nhưng Kiều vẫn khao khát được trọn vẹn trong tình yêu ấy.
Càng đi sâu vào dòng độc thoại nội tâm, nàng Kiều càng chìm sâu vào bi kịch, nàng
không còn tỉnh táo nữa mà tâm sự với Kim Trọng trong nỗi tuyệt vọng:
“Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Nàng quay trở về thực tại ý thức sâu sắc về bi kịch số phận qua hàng loạt thành
ngữ: “trâm gãy gương tan” chỉ sự chia lìa, tan vỡ, “phận bạc như vôi” nhấn mạnh sự
bạc bẽo, bất hạnh, “nước chảy hoa trôi” thể hiện số phận long đong, chìm nổi. Trong
trích đoạn “Trao duyên”, chúng ta có thể thấy được diễn biến tâm lí phức tạp của nhân
vật. Thúy Kiều không chỉ đối thoại với Thúy Vân khi trao duyên, đối thoại với chính
mình khi hồi tưởng về quá khứ, ngẫm về số phận còn đối thoại với chàng Kim
trong sự thức tỉnh về bi kịch hiện tại: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân”. Đó không phải
là cái lạy của kẻ bề dưới đối với bề trên, càng không phải là cái vái lạy của kẻ chịu ơn,
cái lạy tạ lỗi nhưng cũng lời vĩnh biệt tức tưởi nghẹn ngào, thể hiện Thúy
Kiều hướng về Kim Trọng trong sự xót xa, cầu khẩn. Nàng tưởng tượng chàng Kim
đang ở trước mắt và bất giác chìm sâu vào tuyệt vọng:
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Hai câu cuối vỡ òa thảng thốt, Kiều đã không kìm nén được lòng mình mà thốt lên lời
than vãn bi ai. Các từ cảm thán “ôi”, “hỡi’ đã nhấn mạnh nàng gọi tên Kim Trọng hai
lần trong sự chua xót, bẽ bàng. Đặc biệt, từ “phụ” đã nhấn mạnh nhân cách cao đẹp
của Thúy Kiều. người mệnh bạc, bán mình chuộc cha để làm tròn chữ hiếu
nhưng Kiều tự nhận mình là kẻ “phụ bạc”. Nhịp thơ 3/ 3 và 2/2/2 như tiếng nấc nghẹn
ngào thể hiện sự đau đớn. Đoạn thơ đã làm nổi bật hơn nữa vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách
cùng tình yêu sâu nặng của Thúy Kiều.
Như vậy, qua đoạn trích “Trao duyên”, chúng ta thể thấy được tình yêu sâu nặng
cùng bi kịch của Thúy Kiều. Đối với nàng, tình hiếu luôn thống nhất chặt chẽ. Tất
cả đã được thể hiện thông qua nghệ thuật miêu tả tâm nhân vật sâu sắc, tinh tế của
đại thi hào Nguyễn Du.
Phân tích Trao duyên - Mẫu 5
Đoạn trích Truyện Kiều này có nhan đề "Trao duyên" gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu
756) được in trong sách giáo khoa môn Văn lớp 10. Đây một trong những đoạn thơ
mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông Vương Quan bị
bắt do kẻ vu oan, Thúy Kiều phải bán mình cho Giám Sinh để lấy tiền đút lót
cho quan lại cứu cha và em
Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Giám Sinh, Thuý Kiều nhờ cậy Thuý Vân
thay mình trả nghĩa, lấy Kim Trọng.
Nhan đề đoạn trích Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ ta thường gặp trong ca dao xưa. đọc
mới hiểu được, "Trao duyên", đây gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân
vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với
người yêu, đã nhờ cậy em Thúy Vân thay mình gắn với chàng Kim. Đoạn thơ
không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao
duyên thật sống động. "Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân" thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật khó nói, nhưng
"để lòng thị phụ tấm lòng với ai". Thương cha, nàng bán mình, thương người tình,
nàng đành cậy em:
"Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em"
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ "cậy", tuyệt vời chính xác.
Từ "cậy" hàm chứa niềm tin người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng là "lạy". Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp
chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng.
Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng một chi tiết đối với cái trí bình thường
của Thúy Vân không bao giờ biết được:
"Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai"
Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một hội. Hiếu tình hai giá trị
tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một hội bắt con người phải lựa chọn
những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều
đã cay đắng lựa chọn chữ "hiếu". chỉ ba điều tồn tại: "Đức tin, hi vọng tình
yêu, tình yêu đại hơn cả". Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta ng
thấm thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi
lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"
Hai chị em đều "xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" vậy nàng nói "ngày xuân em
hãy còn dài" đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng lo cho Kim
Trọng, mong sao cho chàng Kim hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật một gái đức hi
sinh lớn lao.
Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim:
"Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung"
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện
ra đó, cho nên Thúy Kiều trao "chiếc thoa với bức tờ mây" cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì, nàng trao duyên, trao cả những kỷ vật
tình yêu cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì
có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu
trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
Thúy Kiều trao duyên coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật còn
dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
"Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tờ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai."
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu "thịt nát ơng mòn" thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với "ngọn cỏ
cây", với "hiu hiu gió..." Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy
Vân mà than khóc với Kim Trọng:
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng."
Mỗi lời của nàng một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách
mình "phận bạc", "hoa trôi", những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết
thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi chính nàng đã "phụ
chàng". Chính tâm mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng
kêu thương thấu trời:
"Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Đoạn "Trao duyên" trong "Truyện Kiều" là một khúc "đoạn trường" trong thiên "Đoạn
trường tân thanh". Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện
của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động bằng nghệ thuật tuyệt vời,
ông đã dựng lại đoạn "Trao duyên" hết sức sâu sắc độc đáo. Tác giả đã đối lập hai
tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người của
phi thường. Trong sự kiện "sóng gió bất kì" này, Thúy Vân tư, hồn nhiên (cũng
đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn một kho mật trong công trình
nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du chúng ta chưa kịp bàn đây), còn Thúy Kiều
thì lại càng đau đớn hơn.
Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng thể
nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn "trao duyên",
chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh,
ý thức về tình yêu cuộc sống. Một nhân cách như vậy vừa chớm bước vào
đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên
Đường Chủ nhân khúc đoạn trường này như máu rỏ trên đầu ngọn bút của
Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi,
những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo?
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 6
Đoạn Trao duyên có một vị trí đặc biệt trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Về
phương diện cốt truyện, đoạn thơ đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời nhân vật
chính Thúy Kiều mở đầu cuộc đời lưu lạc, đau khổ. Về phương diện chủ đề, đoạn
thơ thể hiện sâu sắc chủ đề bi kịch tình yêu tan vỡ. Về phương diện nghệ thuật, đoạn
thơ chứng minh tài nghệ tuyệt vời của Nguyễn Du trong miêu tả nội tâm nhân vật.
Tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn Trao duyên diễn biến qua ba chặng như ba nấc
thang tâm lí. Mở đầu là những lời yêu cầu khẩn thiết của Kiều đối với Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Hai câu thơ cho thấy Kiều vừa khẩn khoản, vừa thiết tha vừa như đặt cả niềm tin và hi
vọng vào Vân. Trong bao từ biểu đạt sự nhờ vả: nhờ, mượn, phiền,... Nguyễn Du chọn
từ cậy. Phải chăng vì chỉ từ cậy mới hàm chứa nội dung thông báo nhờ và tin? Lại nữa
tại sao chịu lời mà không phải nhận lời, tại sao "chịu lời" trước rồi mới "thưa"
sau? Nếu Kiều trình bày sự việc trước thì chắc gì Vân đã chịu lời. Nói "nhận lời" là đã
có ý kiến của người nhận, là có sự tự nguyện của Vân. Nhưng Vân nào đã biết chuyện
tự nguyện hay không. Do vậy phải "chịu lời" đây việc Kiều chủ động nài
ép Vân, đưa Vân vào hoàn cảnh không nhận không được. Ở đây, Kiều hiểu hoàn cảnh
khó xử của mình càng hiểu hoàn cảnh khó xử của em gái. Cũng qua đây cho thấy
Nguyễn Du là thi sĩ thật "sâu sắc nước đời"
Thúy Kiều đã không quá dài lời về hoàn cảnh của mình. Những việc vừa xảy ra ai
chẳng rõ. Những bất hạnh của Kiều thì chỉ Vân mới là người thấu hiểu. Bởi chính Vân
người chứng kiến cả hai biến cố của đời Kiều "Khi gặp chàng Kim" khi "sóng
gió bất kì". Các mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy Kiều lúc này không phải giữa
hiếu tình. Giải quyết mâu thuẫn giữa hiếu và tình. Kiều đã làm xong, tuy khó khăn
nhưng dứt khoát và có phần thanh thản: "làm con trước phải đền ơn sinh thành" Vả lại,
nếu chuyện chữ hiếu thì Kiều đâu phải"cậy, "lạy", phải "thưa" với em gái của
mình; việc gả duyên với Vân là trách nhiệm và nghĩa vụ.
Mâu thuẫn chính được thể hiện qua đoạn trích mâu thuẫn giữa tình yêu lứa đôi
hạnh phúc btan vỡ. Sự dở dang, tan vỡ này được thể hiện qua một câu thơ mang sắc
thái thành ngữ: "Giữa đường đứt gánh tương tư". Hình ảnh ẩn dụ "giữa đường đứt
gánh" ta đã từng gặp trong ca dao. Thì ra, những đau khổ của Thúy Kiều nào xa lạ
với những số phận của người phụ nữ xưa. Tuy nhiên, bi kịch tình yêu tan vỡ của Kiều
vẫn là đau đớn hơn bất cứ thiên tình sử nào trong văn học trước đó.
Sau tám câu mở đầu Kiều nói với Vân về nỗi bất hạnh của mình, về sự thấu hiểu hoàn
cảnh khó xử của em, Kiều vẫn thuyết phục Vân thay nàng trả nghĩa cho Kim Trọng.
Kiều nói với Vân bằng những lời tâm sự biểu hiện qua các câu thơ mang phong cách
thành ngữ:"tình máu mủ". "lời nước non", "thịt nát xương mòn", "ngậm cười chín
suối" Những lời tâm sự tác dụng thuyết phục. Kiều ràng buộc Vân bằng tình máu
mủ lại khẩn cầu em cho mình chút vui, chút ơn chút thơm lây đức hi sinh cao đẹp
của em:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Vừa thuyết phục vừa ràng buộc , nhưng vẫn khẩn cầu. Kiều đã được mục đích nhờ
Vân thay mình trả nghĩa Kim Trọng.
Nhưng chính lúc này mục đích đạt được lúc bi kịch tình yêu của Kiều lên tới đỉnh
cao, Kiều biết Thúy Vân lấy Kim Trọng để trả nghĩa, do "xót tình máu mủ" chứ
không phải vì"lời nước non" cho nên Kiều chỉ thtrao duyên cho Vân, còn tình
yêu nàng đâu có dễ trao. Nàng tìm cách trở về với tình yêu bằng hai con đường: để lại
kỉ vật linh hồn bất tử.
Kiều đã trao lại cho Vân những kỉ vật. Nàng những mong bằng kỉ vật này nàng sẽ hiện
diện trong tình yêu. Những kỉ vật thiêng liêng và đẹp đẽ."Chiếc thoa với bức tờ mây",
"phím đàn với mảnh hương nguyền". Kỉ vật đẹp đẽ bởi gắn liền với những ngày
đẹp nhất của đời Kiều. Kỉ vật thiêng liêng bởi nó là riêng chỉ riêng cho Kiều và Kim
Trọng. Kiều không muốn trao cho người thứ ba, đó em mình. Bao xót xa trong
một từ "của chung". "Duyên này thì giữ, vật này của chung" Bao đớn đau trong một
từ"ngày xưa" :"Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa" Hiện thực đẹp đẽ, rực rỡ
vừa mới đây thôi nay đã trở thành quá vãng. Thời gian khách thế bị phá vỡ, nhường
chỗ cho thời gian của tâm trạng. Kỉ vật còn đó đối với tình yêu, Kiều không hiện
diện.
Kiều tìm đến con đường thứ hai, con đường trở về với tình yêu bằng linh hồn bất tử:
"Thấy hiu hiu gió thì hay chị về". Kiều những mong bằng trở về ấy nàng thể trả
nghĩa Kim Trọng, nàng sẽ nhận được sự trở về ấy nàng thể trả nghĩa Kim Trọng,
nàng sẽ nhận được sự đồng cảm của người thương "Rảy xin chén nước cho người thác
oan". Thế nhưng như người đã nói, nếu trong thiên tình sử xưa, giọt lệ Mị Nương
rơi xuống chén trà oan hồn Trương Chi được giải tỏa thì trong Đoạn trường tam
thanh, giọt lệ của chàng Kim không thể làm tan mối tình oan khuất của nàng Kiều.
Bởi sự trở về bằng linh hồn bất tử là sự trở về không có gặp gỡ.
Kết thúc đoạn thơ, yếu tố bi kịch không những không giảm còn được đẩy lên mức
cao hơn. Ấy lúc sự trở về bằng linh hồn, sự trở về siêu hình bất lực trước những
cảm nhận thực tế của người con gái họ Vương Kiều ý thức rất về cái hiện sinh cái
"bây giờ" :"trâm gãy bình tan" , "tơ duyên ngắn ngủi", "phận bạc như vôi", "nước
chảy hoa trôi"
Kiều ý thức về cái hiện hữu, cái bây giờ Kiều càng thương mình. Ai nỡ trách nàng
sau khi thương người, người, nàng đã tự thương mình. Nàng một chút mình
cũng không phải là vị kỉ vẫn là rất mực vì tha: "Vì người thì hoàn toàn không chút
bóng dáng của đau thương nhân. Chỉ khi mọi sự "đối với người" đều xong xuôi,
bây giờ mới nhìn lại tấm lòng mình, tình cảnh mình. Nỗi đau của nàng sâu nặng biết
bao
Tâm trạng bi kịch của Kiều càng sâu sắc khi trước sự chà đạp của số phận của nàng
vẫn không thôi khát vọng về một tình yêu thiết tha, vĩnh viễn: "Kể làm sao xiết muôn
vàn ái ân", "trăm nghìn gửi lạy tình quân". Sự hiện hữu của tình yêu làm Kiều quên đi
sự hiện hữu của người em gái. Đang từ đối thoại với Vân, Kiều trở về với độc thoại
nội tâm và rồi nàng như hướng tất cả về Kim Trọng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Trong một câu thơ tên Kim Trọng được gọi đến hai lần, kèm theo là những thán từ chỉ
sự đớn đau, tuyệt vọng "ôi", "hỡi" Câu thơ trên gắt nhịp 3/3 đọc lên như tiếng nấc, để
rồi đến câu thơ dưới nhịp thơ dài ra như một lời than.
Lời trao duyên kết thúc bằng một lời than, bằng tiếng kêu đớn đau, tuyệt vọng. Tuy
nhiên, tình yêu tan vỡ nhưng khát vọng tình yêu được khẳng định. Đó nét đẹp cao
quý của tâm hồn Kiều, giá trị nhân văn bền vững của Truyện Kiều. Đoạn thơ bi
kịch, đau thương nhưng không thê lương, đen tối, trái lại vẫn ngời lên ánh sáng niềm
tin vào tình yêu, vào con người
Đoạn thơ cho ta thấy "sức cảm thông lạ lùng" của đại thi hào dân tộc đối với những
khổ đau khát vọng tình yêu của con người. Qua Trao duyên ta còn thấy bút pháp
miêu tả nội tâm đặc sắc của tác giả Truyện Kiều.
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 7
Trong cơn gia biến, một mình Kiều đứng ra cáng đáng, thu xếp mọi việc. Băn khoăn
cân nhắc giữa hiếu tình. Kiều thấy cả hai đều rất nặng, nhưng rồi nàng quyết định
bán mình chuộc cha. Cha em được tha về, việc nhà đã tạm ổn, Kiều mới nghĩ đến
chuyện tình duyên. Trước hết, nàng nghĩ đến nỗi khổ của người yêu. Phận mình dù thế
nào cũng đành, nhưng nàng không đành lòng với tình cảm của chàng Kim. Phải làm
thế nào cho người yêu đỡ khổ. Suy nghĩ mãi, cuối cùng Kiều đành nhờ em gái là Thúy
Vân thay mình trnghĩa cho Kim Trọng.
Đoạn trích Trao duyên thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh nhân cách cao
đẹp của Thúy Kiều, đồng thời cho thấy khả năng miêu tả nội tâm nhân vật tài tình của
Nguyễn Du. Có thể chia đoạn trích làm hai phần:
Phần 1 (từ câu 1 đến câu 14): Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim
Trọng.
Phần 2 (từ câu 15 đến hết): Tâm trạng đau đớn của Kiều sau khi trao duyên.
Đoạn trích thực ra một lời thoại khá dài của nhân vật Thúy Kiều tính chất lời
thoại thay đổi theo diễn biến cảm xúc. phần 1, Kiều xưng chị, em ràng với
Thúy Vân. Đến phần 2, sau khi đã trao duyên, Kiều cảm thấy hạnh phúc của mình đến
đây chấm dứt nên tự xưng mình người mệnh bạc, người thác oan Kiều như
quên rằng đang nói với em, đột nhiên chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt.
Đó là lời đối thoại đau đớn với người yêu trong tâm tưởng.
Trước sự thực phũ phàng ngày mai nàng sẽ thuộc về tay kẻ khác, Kiều cảm thấy
như chính mình đã gây ra nỗi bất hạnh cho Kim Trọng. Nàng thương mình một nhưng
thương người yêu ời nên cắn ng chấp nhận số phận đen bạc: phận dầu, dầu vậy
cũng dầu, để nghĩ đến nỗi đau của Kim Trọng. Trong đêm gia biến: Một mình một
ngọn đèn khuya, áo đầm giọt lệ, tóc se mái sầu, Thúy Kiều sống với tâm trạng đầy
sóng gió.
Nàng tự trách mình khăng khít khiến người dở dang. Đúng ra cả hai chủ động yêu
nhau tự nguyện gắn với nhau. Kiều mặc cảm đó nàng luôn nghĩ đến
người khác, ngay cả trong lúc đau thương tột bậc. Đắn đo, suy tính trước sau, nàng
thấy chmột cách thể cứu vãn phần nào cho mối lương duyên của mình, đó
trao duyên cho em gái. Nghĩ làm, Kiều đã trao duyên cho Thúy Vân khi em
tư ấy vừa chợt tỉnh giấc xuân.
Ngỏ chuyện riêng với người khác, cho em gái mình thì cũng không phải
điều dễ dàng. Hơn nữa, đây không phải là tình yêu thoáng qua mà đã thể nguyền vàng
đá, kết giải đồng tâm. trở thành thiêng liêng, khó thể đổi thay. Nay nhờ Vân
thay thế mình Kiều sợ chưa chắc Vân đã nhận lời.
Kiều lâm vào tình thế khó xử: không nói không được mà nói ra thì e ngại. Bởi thế nên
nàng đắn đo trước sau, băn khoăn, ngập ngừng mãi rồi mới thốt ra được một câu khiến
người ngoài cuộc nghe cũng phải mủi lòng:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Lời vậy? Đó lời nhem thay chị nối duyên với chàng Kim. Đề nghị ấy thật bất
ngờ, bất ngờ ngay cả đối với Thúy Kiều bởi trước đó nàng chưa hề nghĩ đến. Suốt,
một đêm thức trắng, nàng đâu nghĩ ra điều này chỉ đau khổ, dày vò. Nhưng từ
lúc Thúy n thức giấc an ủi chị thì Kiều như vụt thấy một làn chớp sáng: "Đây
rồi! em gái này thể giúp mình trả món nợ tình". Đề nghị ấy cũng bất ngờ đối
với Thúy Vân bởi cùng quan trọng, ảnh hướng đến cả cuộc đời, nhận lời lấy
một người làm chồng đâu dễ dàng, đơn giản nnhận một món quà? Vậy dựa vào
đâu Thúy Kiều dám đưa ra ý kiến đột ngột ấy hầu như một mực ép Thúy Vân
phải nhận lời? Chỉ sở duy nhất tình thương. Chị thương em, tin rằng em sẽ
nghe lời. Chị cũng biết là em thương chị, không nỡ trái ý chị. Còn em, tuy chẳng hiểu
đầu đuôi câu chuyện ra sao nhưng lại thật tình thương chị riêng gánh chịu nỗi oan khổ
của cả gia đình, giờ lại đang đau xót mối duyên đứt. đoạn nên chưa kịp nghe
hết giãi bày, chắc cũng đã thấu hiểu hết lòng chị.
Nhiều người thắc mắc tại sao Thúy Kiều không dùng từ nhờ mà lại dùng từ cậy?
Không dùng từ nhận mà lại dùng từ chịu? Chính vì giữa các từ ấy có một sự khác biệt
khá tinh vi. Đặt nhờ vào chỗ cậy, không những âm điệu câu thơ nhẹ đi, không đọng ở
chữ thứ nhất của câu tnữa còn làm giảm đi cái quằn quại khó nói của Kiều,
giảm đi cái ý nghĩa nương tựa, gửi gắm của một tấm lòng đang trong cơn tuyệt vọng,
ý nghĩa tin tưởng vào tình cảm ruột thịt. Giữa chịu nhận thì dường như còn vấn
đề tự nguyện hay không tự nguyện nữa. Nhận lời nội dung tự nguyện, còn chịu lời
thì hình như ch một sự nài ép phải nhận không nhận không được. Trong tình
thế của Thúy Vân lúc bấy giờ thì chỉ có chịu lời chứ làm sao nhận lời được?
Câu thơ sáu chữ giản dị mà chứa đựng tất cả chiều sâu của một tình thế phức tạp, một
tâm trạng phức tạp. Điều đó càng làm cho nó có dáng dấp như một lời cầu nguyện.
Thúy Kiều năn nỉ Thúy Vân: Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa, nàng coi sự chịu lời
của Thúy Vân một hành động hi sinh. Đối với cử chhi sinh y thì phải thái độ
kính phục và biết ơn. Thúy Kiều lạy em là lạy sự hi sinh cao cả ấy.
Trong những giây phút đau đớn tột cùng, Thúy Kiều vẫn quên mình để nghĩ đến người
yêu. Nỗi buồn của nàng cần phải được san sẻ cho vơi bớt. Sau cái phút ban đầu khó
nói, giờ đây nàng bộc bạch với em gái về mối tình đẹp đẽ mà dang dở của mình.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Tâm sự về nỗi khó nghĩ, khó lựa chọn giữa tình và hiếu.
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Là người con có hiếu, Kiều đã tự nguyện bán mình để lấy ba trăm lạng cứu cha và em
khỏi vòng tội oan nghiệt. Chữ hiếu nàng đã đáp đền, còn chữ tình vẫn canh cánh
bên lòng như một món nợ nặng nề khó tả:
Nợ tình chưa trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Ý nghĩa này cho thấy Thúy Kiều đau khổ biết chừng nào cũng cao cả biết chừng
nào? Nàng van lơn em gái hãy Xót tình máu mủ thay lời nước non bằng lòng kết
duyên với chàng Kim. Nhắc tới chàng, Thúy Kiều càng sầu, càng tủi cho thân phận
mình, tưởng chừng như nỗi đau theo nước mắt tuôn rơi:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Tưởng tượng ra cái chết thê thảm cũng là biểu hiện của sự thương thân cao độ, nhưng
Kiều tự an ủi rằng vong hồn mình nơi chín suối hãy còn thơm lây với nghĩa cử của
Thúy Vân. Kiều bày tỏ những lời gan ruột như thế, hỏi Thúy Vân sao nỡ chối từ?
Ngôn ngữ của Kiều lúc đầu ngôn ngữ của trí. Tuy Kiều rất đa cảm nhưng với
chuyện trọng đại của cả một đời người thì nàng không thể dùng tình cảm đơn thuần
thuyết phục được em. Phải bình tĩnh dùng lí lẽ phân tích thiệt hơn, phải trái để em
hiểu mà bằng lòng giúp.
Trước lời nói lí, tình tha thiết của Kiều. Thúy Vân chỉ còn biết im lặng lắng
nghe như thế nghĩa chấp nhận. Đến đây, Thúy Kiều mới nhẹ lòng. Nàng lấy
kỉ vật tình yêu giữa mình và Kim Trọng ra trao cho em gái.
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Nếu như ở đoạn trên, Kiều kể mối tình của mình cho em nghe bằng giọng điệu cố lấy
vẻ bình tĩnh thì đến lúc trao lại kỉ vật cho em, nàng cảm thấy mình đã mất hết nên
không thể kìm nén được tình cảm thật nữa. Trái tim bắt đầu lên tiếng. Nàng nói: Chiếc
vành với bức tờ mây vẫn bằng giọng điệu cố giữ vẻ bình thản, nhưng đến câu: Duyên
này thì giữ, vật này của chung thì nghe như đã có tiếng nấc nghẹn ngào. Duyên này là
duyên giữa Thúy Vân với Kim Trọng, chứ phần nàng kể như hết. Duyên chị là đã trao
lại cho em, nhưng kỉ vật này xin em hãy coi có một phần của chị, nócủa chung. Rõ
ràng trí buộc nàng phải dứt tình với chàng Kim nhưng tình cảm của nàng thì không
thể.
điều đặc biệt nằm mấy chữ giữ của chung. Chữ giữ không nghĩa trao
hẳn chỉ đưa cho em giữ hộ; còn chữ của chung thì quá rõ, thể hiện tâm
tính bản năng là Kiều không đành lòng trao cả lại cho em. Những chữ đó thể hiện tình
yêu của Kiều với Kim Trọng là rất nồng nàn, sâu sắc. Tuy nhiên, Kiều vẫn trao duyên
cho em, chứng tỏ trong tình yêu và vì tình yêu, Kiều đã đặt hạnh phúc của người mình
yêu lên trên hết.
Mối tình đầu trong sáng, ngọt ngào nhường ấy, bỗng chốc bảo quên, quên làm sao
được? Xin gửi gắm lại chút tình trong kỉ vật này vậy! Giữa tột đỉnh đau thương, Kiều
vẫn cố an ủi. Sau đó, Kiều để mặc cho tình cảm tuôn tràn.
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 8
Tình yêu giữa Thúy Kiều Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải
về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều.
Của cải bị bọn sai nha vét sạch. Cha em trai Thúy Kiều bị bắt, bị đánh. Bọn quan
lại đòi đút t “có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Trước biến cố đau lòng đó, một
người giàu tình cảm, giàu đức hi sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải
bán mình lấy tiền cứu cha em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng? Thúy Kiều hết
sức đau khổ. Cuối cùng nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Đoạn
“Trao duyên” trong “Truyện Kiều” rất cảm động. lẽ đây cảnh tượng đau lòng
chưa từng thấy trong nền văn học nhân loại.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại chi tiết trao
duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật khó nói, nhưng
“để lòng thì phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình,
nàng đành cậy em:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa,
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc, em’’.
Trong đây từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác.
Từ “cậy” hàm chứa niềm tin người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp
chàng Kim trong buổi chiều thanh minh Chuyện thề nguyền hẹn ước với Kim Trọng.
Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng một chi tiết một người giản đơn như
Thúy Vân không bao giờ biết được: “Hữu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Qua lời Thúy
Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một hội, Hiếu - tình hai giá trị tinh thần không
thể đặt lên bàn cân được. Một hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không
thể lựa chọn được thì hội đấy một hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay đắng lựa
chọn chữ “hiếu”. chỉ ba điều tồn tại: “Đức tin, hi vọng tình yêu, tình yêu
đại hơn cả”. Nghe một bài trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm thía với nỗi
đau của nàng Kiều. Cho nên hi sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi
đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.
Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy nàng nói “ngày xuân em
hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng lo cho Kim
Trọng, mong sao cho chàng Kim hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật một gái đức hi
sinh lớn lao. Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỉ vật giữa nàng và chàng
Kim:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung".
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỉ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra
đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc vành với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì. Nàng trao duyên, trao kỉ vật cho em
nàng uất giận cuộc đời. Cái hội bắt con người phải chung cả cái không thể
chung được thì đáng nguyền rủa không Đây chính lời tố cáo vọng đến thấu trời
của Nguyễn Du đối với hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người. Thúy Kiều
trao duyên coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn ki vật còn dặn em hãy
thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím nàv.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai”.
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn bóng ma. Lời lẽ huyền hồ bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ
cây”, với “hiu hiu gió...”. Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt rành là Thúy
Vân mà than khóc với Kim Trọng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”.
Mỗi lời của nàng một lời vận vào. Trước nỗi đau t này, ng chỉ trách minh
“phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương lên hết thảy chúng
ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ chàng”. Chính
tâm lí mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu
trời:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” một khúc “đoạn trường” trong thiên
“Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động bằng nghệ thuật tuyệt
vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập
hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người
của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng
đừng vội chê trách Thúy Vân.
Nhân vật này còn một kho mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn
Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều thì đau đớn. Nguyễn Du đã dụng
công miêu tả tâm lí, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt
đến phép biện chứng của tâm hồn.
Chỉ qua đoạn “Trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều một gái
giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, ý thức về tình yêu cuộc sống. Một nhân cách
như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi
tan tác. Nói như Mộng Liên Đường chủ nhân: khúc đoạn trường này như máu rỏ
trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy.
Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo.
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 9
“Truyện Kiều” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du quả thực một kiệt tác văn
chương của nhân loại, tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn
dưới dạng các trích đoạn tiêu biểu. Một trong những đoạn trích tiêu biểu cho hoàn
cảnh éo le, dang dở tình duyên của Thúy Kiều chính “Trao duyên”. Tác giả đã rất
thành công trong việc khắc họa một cách chân thực, nét tâm trạng nhân vật Thúy
Kiều trong từng phân cảnh, để lại trong lòng người đọc những cảm nhận sâu sắc.
Nhan đề “Trao duyên” của đoạn trích phần nào gây ấn tượng với người đọc bởi sự lạ
lẫm, khác đời và khác người; duyên là duyên phận, là sự an bài và sắp đặt của ông trời,
sao thể đem ra nói trao đi đổi lại cho nhau dễ dàng như thế. Chính cái lạ lẫm của
nhan đề đã gợi ra những dự cảm về nghịch cảnh cũng như tính éo le trong đoạn trích
này. Sự nghịch chính nằm hành động trao duyên của Thúy Kiều, nàng muốn đem
duyên tình của mình với Kim Trọng trao lại cho Thúy Vân, nhờ em nối tiếp nhân
duyên trả nghĩa ân tình cho Kim Trọng.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Những từ ngữ như “cậy, chịu, ngồi n, lạy, thưa”, được tác giả sử dụng mang giá trị
gợi tả gợi cảm cực đắt. Thúy Kiều không đơn giản nhờ vả trông cậy vào
Thúy Vân, chỉ Vân mới giúp được Kiều trong hoàn cảnh này, nàng chấp nhận quỳ
lạy và thưa gửi với chính em của mình, chỉ mong em có thể chấp nhận lời đề nghị khó
khăn nhưng thiêng liêng này. Thúy Kiều trong hoàn cảnh éo le nhưng vẫn thể hiện
được sự khéo léo, tài tình và thông minh, coi em như ân nhân của mình bằng tất cả sự
kính trọng. Rồi nàng kể lại mối tình với chàng Kim, giãi bày do sao phải trao
“mối thừa” đó cho Thúy Vân, chính sóng gió ập đến bất ngờ với gia đình khiến
nàng đành từ bỏ chữ tình để làm tròn chữ hiếu. Nàng mong Vân sẽ tình nghĩa chị
em máu mủ, thấu hiểu hoàn cảnh gia đình cũng như tình nghĩa giữa nàng Kim
Trọng mà chấp nhận mang vào mình mối tơ thừa duyên tình của Kiều.
Lời nói của Kiều đã thấu đạt hết hết tình, Vân muốn từ chối cũng khó mặc
Kiều biết đó cũng điều thiệt thòi khó xử cho Vân. được sự chấp thuận của
Vân, Kiều dù chết cũng cảm thấy yên lòng và mãn nguyện, “Ngậm cười chín suối hãy
còn thơm lây”, cái chết cũng thể hiện sự cảm kích trước những thiệt thòi em phải
chịu thay mình. Sau khi đã nói lời trao duyên, đến lúc Kiều trao lại những kỉ vật nàng
Kim Trọng đã từng với nhau, đó chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh
hương nguyền
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung”
Đem những kỉ vật tình yêu thiêng liêng trao đi, Kiều như trao đi những thứ quan trọng
nhất của cuộc đời mình, bây giờ duyên nàng thể giữ nhưng kỉ vật đã thành của
chung. Nỗi buồn xót xa phải trao đi cho thấy nàng và Kim Trọng đã yêu nhau sâu đậm,
nồng nàn chung thủy một lòng. Mất đi tình yêu, trao đi kỉ vật, cuộc sống của Kiều
đã không còn đáng luyến tiếc hơn nữa, sống cũng như chết, nhưng nàng có chết
vẫn giữ trọn lời thề son sắt:
“Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”
Kiều đã tuyệt vọng hết sức, chẳng còn hy vọng nào cho tình yêu và số phận của mình,
rồi đây cuộc đời nàng sẽ đi vđâu, sống chết ra sao nàng không thể biết được, chỉ
mong có chết đi rồi người trên dương thế sẽ hiểu cho tấm lòng và đồng cảm với mình.
Giờ đây những kỉ niệm tình yêu ngọt ngào với chàng Kim lại trở thành những nhát
dao cứa sâu vào nỗi đau khổ của nàng:
“Bây giờ trâm gãy bình tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Tất cả tình duyên đã tan vỡ, dở dang, nàng Kiều vô cùng đau đớn khi phụ chàng Kim,
nàng gửi trăm nghìn cái lạy đến người “tình quân” mong chàng sau này sẽ hiểu cho
hoàn cảnh nỗi khổ của nàng, phận nàng “bạc như vôi”, tài sắc vẹn toàn nhưng số
phận lênh đênh, chìm nổi. Thành ngữ “nước chảy hoa trôi” cho thấy sự chấp nhận đầy
cam chịu của Kiều, nàng đã tự ý thức được số phận đầy bất hạnh của mình, nàng
không thể kháng cự lại mà đành tự thương xót cho chính mình.
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
Tình nghĩa sâu nặng coi nhau như vợ chồng nhưng giờ đây nàng chỉ còn có thể gọi tên
chàng Kim trong sự tuyệt vọng, tiếng gọi chan chứa nỗi niềm đắng cay xót xa,
chàng Kim nơi xa xôi kia chưa hề biết chuyện gì, nàng nơi quê nhà đã phải hoàn
cảnh mà phụ tấm lòng của chàng. Có trách cũng chỉ biết trách số nàng “hồng nhan bạc
phận” mất đi mối tình, mất đi cả tương lai hạnh phúc.
thể nói, trích đoạn “Trao duyên” một trong những trích đoạn hay gây xúc
động mạnh nhất trong “Truyện Kiều”, rất nhiều thành ngữ được sử dụng kết hợp với
những từ ngữ mang giá trị gợi cảm cao đã khắc họa tâm trạng Thúy Kiều trong lúc
trao duyên cùng nét. Người đọc cảm nhận được nỗi đau khổ của Kiều, tiếc
thương cho mối tình trời ban đồng thời cũng thương cảm với số phận bạc mệnh của
Kiều.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 10
Nguyễn Du nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu của văn học Việt Nam. Ông
đóng góp to lớn đối với văn học dân tộc, đặc biệt nhất kiệt tác Truyện Kiều. Đoạn
trích Trao duyên trong Truyện Kiều mở đầu cho chuỗi ngày bất hạnh, lưu lạc của cuộc
đời Thúy Kiều sau gia biến. Kiều nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người
yêu nên đã nhờ cậy em Thúy Vân thay mình gắn với chàng Kim. Mười hai câu
đầu đoạn trích thể hiện hoàn cảnh trao duyên, bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh
cùng nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều. Nàng đã mở lời bằng lời lẽ thỉnh cầu đối với
Vân:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Nguyễn Du một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, có thể dễ dàng thấy điều đó
khi trọng lượng câu thơ rơi vào bốn chữ “cậy”, “chịu”, “lạy”, “thưa”. “Cậy” “nhờ”
đều có nghĩa là nhờ vả, xin sự giúp đỡ của một ai đó, nhưng thay vì sử dụng từ “nhờ”,
Nguyễn Du đã khéo léo chọn từ “cậy”, bởi từ “cậy” này nghĩa nhờ với tất cả
sự hi vọng và tin tưởng, trông mong. Cũng như vậy, thay vì từ “nhận”, tác giả lại dùng
từ “chịu” bởi khác với từ “nhận” nói n sự tự nguyện thì từ “chịu” bao hàm ý nài
ép, bắt buộc, không thể từ chối. Đồng thời nó cũng thể hiện Kiều hiểu cho tình thế khó
xử và sự thiệt thòi của em khi phải nhận lời giúp mình.
Cách tác giả dùng từ rất chính xác, bởi lẽ đây chuyện rất quan trọng đối với Kiều,
nàng hi vọng Thúy Vân đồng ý, nên lời van nài cũng chút ép buộc. Lại thêm một
cử chỉ thiêng liêng là “lạy” sau đó mới “thưa” của Kiều thể hiện hoàn cảnh trao duyên
đặc biệt, khác thường. Vị thế của hai chị em Thuý Kiều đã thay đổi, đảo lộn, vẫn xưng
chị em, mà thực tình trong đó quan hệ giữa một người bề dưới với người bề
trên, giữa người ban ơn và một kẻ chịu ơn. Chị trở thành người cậy cục luỵ phiền, em
thành người ban ơn, gia ơn. Qua đó thể thấy được tình yêu sâu sắc, chân thành của
Thúy Kiều dành cho Kim Trọng. Để báo đáp ân tình cho chàng Kim, Kiều đã phải
nhún mình hạ mình, đến thế! Nhưng trong cái cử chỉ tội nghiệp kia, ta thấy tất cả sự
cao khiết của một tấm lòng, của sự thông minh, khéo léo, tế nhị ở Kiều. Sau đó, Thúy
Kiều bắt đầu giãi bày lí do cho những hành động trước đó.
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
“Gánh tương tư” quan niệm của người xưa về tình yêu nam nữ. không đơn giản
chỉ tình yêu còn chuyện nghĩa tình, mối duyên tiền định. Như vậy “Đứt
gánh tương tư” tức chuyện tình yêu dang dở, tan vỡ của Thúy Kiều Kim Trọng.
Mối tình Kim Kiều mới chớm nở nhưng không thể đơm hoa kết trái bởi sóng gió
đang ập đến. Kiều đau khổ, xót xa cho bi kịch tình yêu nhưng không thể làm khác
được, đành trao lại mối duyên này cho em. Nàng đã mượn điển tích “keo loan” để nói
lên ý định muốn nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. “Mối tơ thừa”
cách nói nhún mình của Thúy Kiều bởi nàng cảm thấy có lỗi, day dứt vô cùng khi đẩy
Vân vào thế bị động như mình ép duyên “mặc em” phải nhận. Mặc đã trao duyên
cho em, nhưng dường như mối tơ duyên vẫn đè nặng trong lòng Thúy Kiều. Những kỉ
niệm ngọt ngào như ùa về trong lòng, nàng tâm sự cùng em:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Câu thơ đã liệt ra những kỉ niệm của Thúy Kiều Kim Trọng, kỉ niệm cùng quạt
ước, cùng nâng chén rượu thề nguyền, cảnh tượng vô cùng lãng mạn, say mê. Câu thơ
ngắn gọn nhưng đọng, súc tích đã nói lên mối tình trong sáng, đẹp đẽ, sắt son như
vừa mới hôm qua của hai người. Nhưng sự cố bất ngờ, cha em mắc oan bị bắt,
Kiều phải bán thân mình mới cứu được họ, nhưng người nàng yêu, một lòng nàng,
lời thề nguyền mới hôm nào chưa kịp nguội. Cả một con tim đang chảy máu, đau đớn,
day dứt, quằn quại. Nhìn cảnh cha và em bị tra tấn, đòn roi, một người con có hiếu,
nàng đành hi sinh tình yêu để làm trọn phận con, để báo đáp công ơn sinh thành. Nàng
nói cho em hiểu nỗi đau của mình, mong em hiểu và chấp nhận nối duyên cùng chàng
Kim. Kiều đã cố gắng dùng mọi lí lẽ để thuyết phục em:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Kiều an ủi Vân bởi lí do Vân còn trẻ, tuổi xuân còn dài, đồng thời lay động ở Vân tình
cảm chị em máu mủ, ruột thịt, giúp đỡ nhau chuyện nên làm khiến Vân khó lòng
chối từ. Nàng thậm chí còn viện cả cái chết của mình ra để nói lên sự toại nguyện nếu
Vân nhận lời thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Lời thỉnh cầu của Kiều vừa chân
thành, vừa thuyết phục, vừa thiết tha, vừa ràng buộc, đưa Vân đến tình thế mặc nhiên
phải chấp nhận. Nàng Kiều của Nguyễn Du tỏ ra sắc sảo mặn cả trong bi kịch đau
đớn nhất của mình.
Song, nàng Kiều trong đoạn Trao duyên cũng như trong suốt Truyện Kiều không giản
đơn chỉ một con người hành động mục đích nào đó. Nàng Kiều của Nguyễn Du
còn luôn sống với những tâm tư, tình cảm thầm kín của mình. Nguyễn Du đã thâm
nhập vào nội tâm nhân vật, miêu tả nàng Kiều với tất cả trạng thái tình cảm phong phú,
phức tạp như một con người thật ngoài đời. Kiều khẩn thiết nhờ em thay mình trả
nghĩa cho Kim Trọng nhưng cũng không hề giấu giếm nỗi đau khôn cùng (Giữa
đường đứt gánh tương tư) của mình, không che giấu tình cảm sâu nặng của mình đối
với chàng Kim (Kế từ khi gặp chàng Kim. Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề).
Mượn cả cái chết để nói lên sự thanh thản của mình nếu như Vân nhận lời nối duyên
với chàng Kim. Ngoài ra, thể thơ lục bát cũng đã giúp cho Nguyễn Du dễ dàng khắc
họa tâm trạng dằn vặt, sự đớn đau khi phải hi sinh chữ tình để vẹn tròn chữ hiếu của
Thúy Kiều.
“Trao duyên” không chỉ cho chúng ta thấy được một cảnh đời đầy bi kịch, một số
phận nghiệt ngã đến lòng của Kiều còn cho thấy sự sắc sảo, khôn ngoan, giàu
đức hi sinh, luôn nghĩ cho người khác hơn cả bản thân mình của nàng. Nhờ sự trải
nghiệm cái nhìn sâu sắc cùng khả năng sử dụng từ điêu luyện của Nguyễn Du đã
khiến cho nội tâm của nhân vật như được khắc họa rõ nét nhất, từ nỗi đau đến tâm hồn
của Kiều như đang trải dài qua từng câu chữ khiến người đọc mãi không thể thôi xót
thương.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 11
Trong suốt chiều dài lịch sử văn học, có rất nhiều những thành tựu văn học rực rỡ thời
kì trung đại của những nhà tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Phạm Ngũ
Lão, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Đóng góp vào trong dòng chảy văn học ấy ta không thể
không nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du. Ông không những một nhân cách lớn
đồng thời còn là một nhà văn, nhà thơ vĩ đại. Những sáng tác của Nguyễn Du bao gồm
csáng tác bằng chữ Hán chữ Nôm nhưng tiêu biểu nhất tác phẩm Đoạn trường
tân thanh hay còn được biết nhiều n dưới tên Truyện Kiều. Đoạn trích Trao duyên
là một trong những đoạn trích tiêu biểu thể hiện được tài năng cũng như tư tưởng nhân
đạo của tác giả.
Truyện Kiều của Nguyễn Du được viết bằng chữ Nôm dựa trên cốt truyện sẵn của
Thanh Tâm Tài Nhân Kim Vân Kiều truyện. Thế nhưng, điều đáng nói bằng sự
sáng tạo của người nghệ sĩ, Nguyễn Du đã biến một cốt truyện bình thường trở thành
một kiệt tác. Nếu như Kim Vân Kiều truyện một câu chuyện “tình khổ” thì Truyện
Kiều của Nguyễn Du lại một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, nói lên
những điều trông thấy trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động. Đoạn trích nằm
câu thơ 723 đến câu 756, trong phần gia biến lưu lạc. Đây cũng chính mở đầu
cho nỗi đau khổ dằng dặc của Kiều trong suốt 15 năm lưu lạc. Sau khi tạm chia tay
Kiều, Kim Trọng trở về quê để chịu tang chú. Thế nhưng trong thời gian đó, gia đình
của Kiều biến, cha em bị bắt. người con hiếu, Thúy Kiều đã quyết định
bán mình để chuộc cha cũng thế nàng không thể giữ trọn lời thề thủy chung
với Kim Trọng. Kiều một mình chịu đựng nỗi đau:
Một mình nàng ngọn đèn khuya
Áo đầm giọt lệ, tóc se mái đầu.
Kiều ngổn ngang bao nỗi băn khoăn, trăn trở cuối cùng nàng quyết định nhờ em
mình là Thúy Vân chắp mối duyên với Kim Trọng mặc cùng đau khổ và dằn
vặt:
Hở môi ra cũng thẹn thùng
Để lòng lại phụ tấm lòng với ai.
Vượt lên trên tất cả, Kiều đã quyết định trao duyên cho em cùng muôn vàn đau khổ,
rơi vào mối mâu thuẫn: trí bắt buộc phải trao nhưng tình cảm lại không thể. Trao
duyên còn đứng trước nỗi đau của một bi kịch kép: tình yêu tan vỡ bi kịch của
một cuộc đời lầm than. Tất cả xảy ra khi Kiều còn đang độ tuổi rất trẻ vậy,
Nguyễn Du đã viết nên đoạn trích bằng tất cả niềm cảm thông, thấu hiểu thương
xót của mình. Thúy Kiều mở lời nhờ cậy em một cách vừa từ tốn, trang trọng nhưng
cũng vô cùng khéo léo, tinh tế và sắc sảo:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Từ “em” được nhắc đi nhắc lại hai lần, đi liền với từ “cậy”, “chịu” cử chỉ lạ:
“ngồi lên”, “lạy”, “thưa” khiến cho lời nhờ cậy trở nên tha thiết, đưa Thúy Vân đến
với không gian trang trọng, thiêng liêng của buổi trao duyên. Trong lời mình, Thúy
Kiều đã dùng chữ “cậy” thay cho chữ “nhờ” khiến cho lời lẽ trở nên tha thiết
sức nặng đồng thời thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của nàng dành cho em. Kiều muốn
Vân biết rằng em chính chỗ bấu víu, trông cậy duy nhất của chị. Đồng thời, Kiều
cũng hiểu rằng việc Vân nhận lời giúp mình cũng một sự san sẻ. Cũng chính vì thế,
thay bằng lối giao tiếp thông thường, Kiều quỳ xuống lạy em như lạy một ân nhân cứu
mạng của cuộc đời mình. Ngay từ những lời đầu tiên, với từng lời nói cử chỉ ta
thấy được tấm lòng tha thiết của Kiều nhưng cùng sắc sảo, mặn mà. Sau đó Kiều
đã tâm sự với Thúy Vân về mối tình của mình với Kim Trọng:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Kiều nói rõ cho em sự dang dở của mình trong mối tình với Kim Trọng. Câu thơ đã sử
dụng cách nói tượng trưng thể hiện sự đau khổ của Thúy Kiều về mối tình đầu dang
dở với chàng Kim. Kiều còn gọi mối tình của mình với Kim Trọng “mối thừa”
bởi nàng hiểu với mình, mối tình ấy tất cả thế nhưng đối với Thúy Vân thì đó lại
điều trói buộc, trái ngang. Kiều không muốn Thúy Vân phải bận lòng, băn khoăn quá
nhiều. Nàng cũng muốn tùy em xử trí: “mặc em”. Lời nói của Kiều tưởng như vô cùng
dứt khoát mạnh mẽ thế nhưng, bên trong đó một nỗi đau đến đứt ruột bởi mối
tình của Thúy Kiều với Kim Trọng là mối tình đầu sâu đậm không dễ nguôi ngoai.
Kiều đã kể lại cho em về buổi gặp gỡ, thề nguyền đính ước với chàng Kim. Thúy Kiều
gọi Kim Trọng một cách rất trân trọng cùng với sự nối tiếp của các hình ảnh: “quạt
ước”, “chén thề” gợi về những kỉ niệm giữa hai người. Qua đó Kiều muốn khẳng định
một cách chắc chắn với Thúy Vân rằng mối tình của mình với Kim Trọng mối tình
sâu sắc chứ không phải trăng gió vật vờ. Đồng thời khi hồi tưởng lại mối tình xưa,
Thúy Kiều thể hiện tình cảm tha thiết và đầy nuối tiếc tất cả hiện lên như vừa mới
hôm qua. Kiều còn nói với em về cảnh ngộ hiện tại của mình:
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Nàng muốn Vân hiểu những bất hạnh bất ngờ ập tới khiến cho Kiều cùng rối bời,
Kiều muốn em hiểu rằng mình đang làm tròn chữ hiếu mong em giúp mình làm
trọn chữ tình. Qua đó ta còn thấy một Thúy Kiều muốn sống khao khát sống trọn tình
vẹn nghĩa nhưng cuộc đời đầy đau khổ bất hạnh lại không cho phép nàng. Không
những thế, Kiều còn nói đến hoàn cảnh hiện tại của Vân để rồi cất lời nhờ em:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Kiều nhắc đến tình máu mủ để nói việc mình nhờ cậy em cũng là hợp với đạo lí. Kiều
cũng nói đến lời nước non để chứng minh rằng tình cảm của mình với Kim Trọng
tình cảm thiêng liêng rất xứng đáng với em. Kiều cũng nói với em những lời rất tội
nghiệp để thuyết phục hoàn toàn Thúy Vân:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
thế giới khác đi chăng nữa thì Kiều cũng cảm thấy mãn nguyện khi đã trao
duyên được cho em. Nhưng mặt khác, hai chữ “thơm lây” khiến cho Kiều trở thành
một người ngoài cuộc bởi hạnh phúc bây giờ đã trao lại cho Thúy Vân. Qua đây ta
cũng thấy được thân phận và số phận của Kiều khi thốt ra những lời như thế. Nếu như
không sóng gió bất ngờ xảy ra thì Kiều đã được hưởng những hạnh phúc ấy bởi
vậy, lời nói của Kiều có đó thật xót xa, hạnh phúc mới chớm nở thì đã tàn. Sau khi
mở lời nhờ cậy em, Kiều đã trao lại cho em những kỉ vật đính ước và tha thiết tâm sự
với em:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Thúy Kiều trao lại cho em những kỉ vật chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh
hương nguyền. Đó là những tín vật của tình yêu gợi lại mối tình đầu. Nhìn thấy những
kỉ vật Kiều như được sống lại với kỉ niệm tình yêu của mình. Trong hoàn cảnh hiện tại
khi Kim Trọng đang nơi xa thì những kỉ vật ấy chỗ bấu víu duy nhất của Thúy
Kiều nên không dễ dàng gì để trao lại cho em. Cũng vì thế mà Kiều thốt lên những lời
đầy lạ lùng: “Duyên này thì giữ vật này của chung”. Chính sự không rõ ràng trong hai
từ “của chung” ấy đã thể hiện sự lúng túng ngập ngừng của Thúy Kiều, cho thấy
tâm trạng của nàng khi trao lại kỉ vật cho em: lí trí mách bảo phải trao nhưng tình cảm
thì lại không thể. Trao lại kỉ vật cho em những tâm hồn Kiều không thể nguôi ngoai:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan.
Kiều tự nhận mình người mệnh bạc, coi mình như đã chết. Những hình ảnh trong
câu thơ gợi ra một Thúy Kiều đang trong một thế giới khác, không thể trở lại hòa
nhập với cuộc sống số phận của nàng cùng mong manh. Ngay cả khi thế giới
bên kia thì Kiều cũng không thể thanh thản còn nặng lòng với tình duyên, cuộc
sống nàng coi mình người thác oan, nỗi đau tức tưởi nhưng đồng thời cũng
cùng bất lực. Trong tận cùng đau khổ, Kiều hướng về Kim Trọng với những tâm sự
tha thiết:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Thúy Kiều tâm sự với chàng Kim nhưng Kim Trọng đang phương xa thực chất
đây những lời độc thoại, thể hiện sự tự ý thức sâu sắc của Thúy Kiều về nỗi đau
thân phận mình. “Gương gãy”, “trâm tan” những hình ảnh diễn tả một ch cảm
động xót xa về bi kịch của Thúy Kiều. Đằng sau đó ta thấy một Thúy Kiều nặng
tình nặng nghĩa với chàng Kim. Đi liền với nỗi đau về tình yêu còn nỗi đau về thân
phận bạc bẽo. Thành ngữ “bạc như vôi” như đó oán trách, đi liền với tâm
trạng gần như bất lực “Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng”. Kết thúc đoạn thơ, Thúy
Kiều cất lên tiếng gọi Kim Trọng tha thiết khiến cho lời than như một tiếng nấc được
thốt ra nghẹn ngào.
Trong lời than ấy, Kiều đã gọi Kim Trọng Kim lang, coi Kim Trọng giống như
chồng của mình. Điều này tưởng như phi bởi Kiều đã trao duyên cho em nhưng lại
rất bởi Kiều đã thể hiện tình cảm chân thật của mình quên đi tất cả mọi thứ
xung quanh. Nàng mắc phải một mặc cảm là mình đã phụ tình Kim Trọng. Người đau
khổ nhất lúc này đó chính Thúy Kiều nhưng nàng đã quên đi những đau khổ ấy để
chỉ nghĩ về Kim Trọng. Thúy Kiều không chỉ nặng tình mà còn nặng nghĩa. Những
câu thơ cuối là những câu cảm thán khiến cho đoạn thơ như những tiếng than đứt ruột.
Bi kịch, đau khổ cả tình yêu nồng nàn của Thúy Kiều được đẩy lên đến đỉnh điểm,
qua đó bộc lộ được những nét đẹp trong tâm hồn của nàng.
Đoạn trích Trao duyên đã khái quát lên bi kịch đau khổ của Thúy Kiều đó bi kịch
về tình yêu tan vỡ và bi kịch cuộc đời mỏng manh. Qua đó tác giả đã làm bật lên được
vẻ đẹp của Thúy Kiều: thủy chung da diết nhưng cũng sắc sảo mặn mà. Nguyễn Du đã
một lần nữa khẳng định được tài năng miêu tả tâm nhân vật cùng sống động,
chân thực phong phú. Nguyễn Du như hóa thân vào nhân vật để nhân vật tự thốt
lên từ tận đáy lòng. Qua đoạn trích, nội tâm nhân vật Thúy Kiều được khám pmột
cách toàn diện.
Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát kết hợp với ngôn ngữ uyển chuyển, mềm mại, tinh
tế để có thể miêu tả được những rung động, đau khổ trong lòng nhân vật. Đằng sau tất
cả những điều đó một tấm lòng nhân hậu, tinh thần nhân đạo con mắt nhìn thấu
sáu cõi của Nguyễn Du.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 12
Nhan đề đoạn trích Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ ta thường gặp trong ca dao xưa. đọc
mới hiểu được, “Trao duyên”, đây gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân
vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với
người yêu, đã nhờ cậy em Thúy Vân thay mình gắn với chàng Kim. Đoạn thơ
không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao
duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật khó nói, nhưng
“để lòng thị phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình,
nàng đành cậy em:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác.
Từ “cậy” hàm chứa niềm tin người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp
chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng.
Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng một chi tiết đối với cái trí bình thường
của Thúy Vân không bao giờ biết được:
“Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai”
Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một hội. Hiếu tình hai giá trị
tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một hội bắt con người phải lựa chọn
những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều
đã cay đắng lựa chọn chữ “hiếu”. chỉ ba điều tồn tại: “Đức tin, hi vọng tình
yêu, tình yêu đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng
thấm thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi
lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy nàng nói “ngày xuân em
hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng lo cho Kim
Trọng, mong sao cho chàng Kim hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật một gái đức hi
sinh lớn lao.
Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim:
“Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung”
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình u thì cứ hiển nhiên hiện
ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì, nàng trao duyên, trao cả những kỷ vật
tình yêu cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì
có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu
trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
Thúy Kiều trao duyên coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật còn
dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tờ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.”
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ
cây”, với “hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy
Vân mà than khóc với Kim Trọng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
Mỗi lời của nàng một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách
mình “phận bạc”, “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết
thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi chính nàng đã “phụ
chàng”. Chính tâm mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng
kêu thương thấu trời:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” một khúc “đoạn trường” trong thiên
“Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động bằng nghệ thuật
tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc độc đáo. Tác giả đã
đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường
con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân tư, hồn
nhiên (cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn một kho mật trong
công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du chúng ta chưa kịp bàn đây), còn
Thúy Kiều thì lại càng đau đớn hơn.
Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng thể
nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “trao duyên”,
chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh,
ý thức về tình yêu cuộc sống. Một nhân cách như vậy vừa chớm bước vào
đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên
Đường Chủ nhân khúc đoạn trường này như máu rỏ trên đầu ngọn bút của
Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi,
những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo?
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 13
Con người khi đứng trước sự lựa chọn của bên nghĩa bên tình thì rất khó lựa chọn.
Tuy nhiên thì công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả vậy cho nên nếu một người
con hiếu thảo yêu thương cha mẹ của mình thì dẫu cho tình yêu kia đẹp đến mấy
thì vẫn quyết định chọn chữ nghĩa để trả ơn bố mẹ. Kiều trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du đã chọn chữ "nghĩa" lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn đắp cho
tình cảm kia của mình. thế nàng quyết định trao duyên cho em gái Thúy Vân.
Đoạn trích trao duyên thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao
duyên của mình cho nàng Thúy Vân.
Duyên một thứ để cho con người ta gặp gỡ, để yêu nhau nếu phận thì sẽ
có thể bên nhau đến trọn đời. Và đặc biệt cái duyên cái nợ là do ông tơ bà nguyệt se tơ
kết tóc nối duyên. Thế nhưng đây Thúy Kiều đã như đoạt lấy cái quyền hành ấy
để nối duyên của mình cho em. Nàng có duyên với chàng Kim Trọng nhưng lại không
phận vì thế cho nên nàng muốn nối duyên cho em. Vì trong thâm tâm nàng đó như
một cái để nàng đền đáp những ân tình của chàng Kim chàng đã trao cho nàng.
Trao duyên đi lòng nàng không khỏi đau xót vì tình yêu duy nhất và đầu tiên của nàng
đã không thành. Phải chăng tình đầu là dang dở.
Với hai câu thơ đầu ta thấy được những hành động của Thúy kiều thật khác bình
thường. Nàng như đang hạ thấp bản thân mình đcầu xin em, trao duyên nhưng cũng
là cầu xin em giúp chị và chấp nhận:
"Cậy em em có chịu lời.
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa"
một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế
nhưng ở đây Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm
chân tình với Kim Trọng. Những từ "cậy", "ngồi lên", "lạy", "thưa" là những từ để chỉ
thái độ kính trọng của người dưới đối với người trên thế đây bị xáo trộn. Thúy
Kiều chị nhưng lại phải lạy em cậy nhờ. Cái "cậy" kia mang ý nghĩa ép buộc Thúy
Vân phải làm nhiều hơn là nhờ.
Nói là nhờ thì lại rất bình thường nhưng nói là cậy thì cái nhờ vả kia lại nặng hơn gấp
bội. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều.
Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng Kim.
Nàng cậy nhờ rồi nàng nói lên những lời tâm tình cảm của bản thân mình. Đó
những tâm sự tận sâu trong đáy lòng của nàng:
"Giữa gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"
Nàng như thể hiện được cái nỗi đau xót của bản thân mình khi tình duyên lỡ dở.
Chính vì chữ hiếu mà nàng hi sinh chữ tình phụ chàng Kim. Và có lẽ thế nàng vừa đau
xót cho thân mình vừa đau đớn cho cuộc tình dang dở. Chàng Kim ấy vẫn đang chịu
tang nơi quê nhà không hề hay biết những chuyện nơi đây. Nàng chỉ mong Vân có thể
nối duyên đắp những của mình vẫn còn dang dở. Chính thế Kiều mong
Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình chắp mối loan với chàng Kim Trọng. Sự
ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. cho chị em nữa nhưng phải
gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao thứ người ta không muốn nhận thì
chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy
Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được "Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai". Vốn
dĩ chữ tình và chữ hiếu không thể đặt lên bàn mà cân cho được.
Thúy Kiều vịn vào tình cảnh của gia đình hiện tại và thêm nữa là tình máu mủ ruột già.
Điều đó càng làm cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!"
ràng cả hai chị em cùng đến tuổi xuân xanh đang tràn đầy sức sống của tuổi thanh
xuân, tuổi biết yêu thương lấy một người nào đó. Vậy mà Kiều lại nói là tuổi xuân của
Thúy Vân còn dài trong khi mình thì nào khác đâu. Nói như thế để cho thấy Kiều
như đã xác định được con đường nàng sắp phải đặt chân đến, không yên bình như
những ngày tháng trước đây nữa sóng gió thể mang đi bất cứ lúc nào. Kiều
mong vân xót tình chị em máu mủ ruột già mà hãy chấp nhận lời thay chi làm trọn lời
hẹn thề với chàng Kim. Nếu được như thế thì ngay cả khi những sóng gió kia bủa vây
lấy nàng cướp nàng đi khỏi thế gian này. Mặc cho sang thế giới bên kia không còn
nguyên vẹn thì Kiều cũng cảm thấy thơm lây cái sự hi sinh của em gái cho mình.
Khi đã trao duyên xong nàng như cảm thấy được những tâm trạng đang bủa vây đến
nàng. Nàng đã hoàn thành xong cái đền đáp ơn nghĩa với Kim Trọng nhưng lòng lại
thấy buồn vừa trao đi, mất đi một tình yêu đầu êm đềm dịu ngọt. Hơn nữa tình yêu
ấy mới bắt đầu:
"Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa"
Chiếc vành với tờ mây kia chính những kỉ vật tình yêu của hai người. Họ đã cùng
nhau thề nguyền sống chết, họ đã với nhau những ngày tháng hạnh phúc những
niềm vui tràn ngập vậy giờ đây cái hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu hi
sinh chữ tình. Nàng chỉ mong mai này khi chàng Kim và em của nàng thành duyên
vợ chồng rồi thì mong họ hãy nhớ đến nàng. Những kỉ vật tình yêu của nàng với
chàng Kim chỉ mong tham lam giữ thành của chung của ba người. Dẫu đã trao cho
Thúy Vân những kỉ vật ấy nhưng nàng vẫn luyến tiếc mong rằng sẽ của
chung. Nguyễn Du không đặt những kỉ vật ấy vào trong cùng một câu thơ lại chia
ra thành mấy câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn
của nàng Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái
mình. Nàng như cố níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình
phải đưa cho Vân những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào đền đáp tấm ân
tình của chàng Kim Trọng được. thể nói qua những câu thơ trên tâm trạng của
Thúy Kiều được hiện thật sự rất nét. Đó chính tâm trạng mong muốn trở lại
những ngày tháng trước đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy.
Kiều đau đớn như nghĩ đến cái chết, lẽ nàng tưởng tượng ra cảnh mai này Kim
Vân sống hạnh phúc mà nàng phải chứng kiến cảnh yêu thương của họ thì nàng
sống không bằng chết. Hay từ khi xác định bán thân nàng đã quyết định chọn cái chết
để kết thúc cuộc đời này. Tuy vậy nàng vẫn mong rằng:
"Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan"
Sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật
sự đau oan khuất cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau nếu
thấy hiu hiu gió thì thể cảm nhận nàng đang về. Cơn gió kia thể hiện sự vương
vấn cõi trần này của nàng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều nát thân liễu
yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong Kim
Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan Thúy Kiều. thể nói cuộc sống
của con người ai chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự
cảm thấy rất đau khổ không thể nào thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ
đến. Kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con đường ng
sắp đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.
Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư của nàng Thúy kiều. Tình đầu là thứ tình
cảm thiêng liêng đẹp đẽ nhất, duyên phận vốn trớ trêu với con người. Chính vì thế chữ
tình kia không trọn cho phận má đào. không muốn chàng Kim đợi chờ mình mà
mong rằng Thúy Vân em sẽ giúp cho anh một cuộc sống hạnh phúc. Dẫu biết
vậy nhưng nàng không khỏi đau khổ khi trao duyên.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 14
Đại thi hào Nguyễn Du là một trong những cây bút sáng chói đóng góp cho dòng chảy
văn học nước nhà những bước chuyển mình vàng son. Trong thời kì văn học trung đại,
Nguyễn Du cùng với những tác giả khác như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm,... tạo thành những tượng đài thơ ca của văn học Việt Nam. Tác phẩm
làm nên tên tuổi của Nguyễn Du tập truyện viết bằng chữ Nôm "Đoạn trường tân
thanh" hay còn gọi ngắn gọn bằng cái n "Truyện Kiều". Đoạn trích "Trao duyên"
một trong những đoạn tiêu biểu trong tập truyện, thể hiện sự dằn vặt, nỗi lòng đau đớn
của nàng Kiều khi buộc phải bán mình chuộc cha, đành nhờ cô em Thúy Vân trả nghĩa
cho chàng Kim Trọng.
Truyện Kiều một tác phẩm được coi như kiệt tác văn chương của nhân loại, được
viết dưới dạng truyện kể bằng thơ, lấy cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân người
Trung Quốc. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không hề được biết đến cho tới khi
Nguyễn Du khai thác cốt truyện bình thường ấy thành tiếng kêu ai oán đến lòng,
một bản sầu ca não nề của người con gái hồng nhan bạc phận. Đoạn trích "Trao
duyên" từ câu 723 đến câu 756 trong phần "Gia biến lưu lạc", tái hiện lại cuộc trò
chuyện của chị em Thúy Vân Thúy Kiều. Gia đình gặp hoạn nạn, Thúy Kiều đành bán
mình chuộc cha, trong nh cảnh đó, biết mình không thể giữ trọn lời thề thủy chung
với Kim Trọng, nàng Kiều đành phải trao lại tấm chân tình cho Thúy Vân, nhờ em
làm tròn bổn phận, giữ trọn lời hứa của mình với người yêu.
Mở đầu câu chuyện bằng lời Thúy Kiều nhờ cậy của mình với em:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Ngay từ đầu, Nguyễn Du đã để cho Thúy Kiều vị trí phía dưới, trái ngược với cách
xưng "chị, em". Từ "cậy" đặt đầu câu gợi tả tình thế tiến thoái lưỡng nan, chẳng
còn cách nào khác, lại thật khó khăn để thể nhờ vả. Vốn dĩ, Thúy Kiều xét theo vai
vế chị của Thúy Vân, sẽ không cần "thưa" hay "lạy", nhưng trong hoàn cảnh ấy,
nàng chấp nhận đặt mình vào vị trí của người đi nhờ vả, van xin, chỉ với mục đích giữ
trọn lời hứa của mình với chàng Kim Trọng. Từ "em" được nhắc lại hai lần, đi kèm
các động từ mạnh "lạy", "thưa" "cậy" mở ra một nỗi lòng chua xót, báo hiệu tương lai
mịt mù, tăm tối, phải nhờ vả, dựa dẫm, mưu cầu lòng thương của người khác. Thúy
Vân trở thành bề trên, "ngồi lên" để chị lạy, thưa đã một lần nữa nhấn mạnh kiếp
người trôi nổi, bấp bênh, lỡ làng duyên phận của nàng Kiều. Kiều tha thiết van em,
đồng thời đặt lên vai em sức nặng của sự tin tưởng, trông cậy. Trong hoàn cảnh ngặt
nghèo đó, tình chị em được mang ra để bấu víu, Vân trở thành niềm hy vọng cuối
cùng của Kiều khi nàng buộc phải rời xa gia đình, thất hẹn với người yêu.
Thúy Kiều bắt đầu bày tỏ nỗi lòng mình với em gái bằng những lời chua xót, đau đớn:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Đến đây, người đọc bỗng hiểu ra cái nhờ cậy ban đầu của Thúy Kiều thực ra là một lời
phó thác, buộc Thúy Vân phải chấp nhận. Với thân phận chị gái, chị cả trong nhà,
Kiều cảm thấy mình phải trách nhiệm giúp đỡ gia đình qua cơn hoạn nạn. Nàng
chấp nhận bán mình chuộc cha, chữ hiếu quên thân, chấp nhận lỡ duyên với người
thương chứ không thể phụ lòng cha mẹ. Người con gái "đứt gánh tương tư" ấy chẳng
nỡ làm Kim Trọng đau lòng, đứng trước chữ tình chữ hiếu, nàng chỉ còn cách
mong em gái Thúy Vân thể giúp mình tiếp tục mối duyên đứt quãng. Hai tiếng
"mặc em" giống như một sự phó thác trách nhiệm bằng tấm lòng tha thiết, âu sầu.
Kiều thủ thỉ tâm sự với Vân về mối tình nồng thắm của minh với chàng Kim:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Câu thơ thể hiện sự đau khổ của Thúy Kiều khi nhớ lại những kỉ niệm mùi mẫn còn
dang dở giữa mình Kim Trọng. Đối với nàng, mối tình với Kim Trọng những kỉ
niệm lứa đôi đẹp nhất, nhưng đối với Thúy Vân, đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Vì thế,
Kiều không muốn em phải bận lòng, băn khoăn, nàng chọn cách tâm tình với em từ
những kỉ niệm của mình để em gái cảm thấy gần gũi, cảm thông. Từ buổi gặp gỡ đến
hôm thề nguyện đính ước. hình ảnh "quạt ước", "chén thề", nàng muốn khẳng định
tình cảm giữa hai người tình cảm thật lòng, sâu sắc. Trao duyên cho em lòng
đau như cắt, vì bản thân nàng đâu hề muốn phải sinh ra nông nỗi ấy. Cùng với sự tiếc
nuối, Kiều chỉ biết trải lòng về những khó khăn bất chợt ập đến gia đình, buộc nàng
vào tình thế bất đắc dĩ. "Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai", một câu nói vừa tự nhủ
lòng mình, vừa là cái cớ của Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân. Bản thân Kiều không
hề muốn hai chị em phải đối mặt với nhau trong tình thế khó xử, nhưng chị đã cha
mẹ bán mình, thì em cũng nên vì chị giúp chị nối tiếp tơ duyên. Người đọc dường
như còn cảm thấy một khao khát nhỏ nhoi trong lòng Thúy Kiều, khao khát sống trọn
vẹn, tình nghĩa, nhưng trớ trêu thay, cuộc đời bất hạnh lại không cho phép nàng thực
hiện ước muốn nhỏ nhoi ấy.
Không những thế, Kiều còn thể hiện sự khéo léo, tinh tế khi lựa lời đề cập đến hoàn
cảnh của Vân để cất lời nhờ em:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương tan
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Xét về tình, Thúy Kiều Thúy Vân hai chị em đều đang độ tuổi cập kê, Kiều đã
lấy cái cớ đó để nhờ cậy em nối tiếp mối duyên với Kim Trọng. Xét về lý, tình ruột
máu mủ cũng là một do hợp để Thúy Vân có trách nhiệm thực hiện những mong
muốn dở dang của chị. Đồng thời, nàng Kiều cũng thể hiện sự chua xót, đắng cay khi
nhắc đến cái chết "Chị dù thịt nát xương tan / Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây".
Dường như khi chọn con đường bán mình chuộc cha, Kiều đã xác định về tương lai
mịt mờ, dự cảm không lành về số phận nghiệt ngã. Nếu không những chuyện tai
bay vạ gió, không những uẩn khúc gia đình thì lẽ giờ đây, Kiều đã được hạnh
phúc với tình yêu của mình. Lời nói không chỉ thể hiện cái đớn đau khi phải chia lìa
gia đình còn chứa đựng cả những tủi thân, buồn rầu khi không được bên người
thương. Trong hoàn cảnh ấy, nàng chỉ biết nhờ đến em, để sau này khi "thịt nát xương
tan", nàng vẫn thể ngậm cười nơi chín suối, nhìn em mình và người yêu được hạnh
phúc vẹn toàn, được thực hiện trọn vẹn lời hứa với Kim Trọng. Trao đi mối duyên
nàng hằng khao khát, nâng niu là điều đau đớn đến tột cùng, nhưng Kiều đã chấp nhận
chọn chữ hiếu để cứu cha, chỉ một lòng mong em hãy đồng ý giúp nàng nối tiếp mối
duyên tình để không phụ lòng Kim Trọng.
Trao cho em những vật đính ước, Kiều thủ thỉ tâm tình với em những lời chân thành
nhất:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền, những kỉ vật của mối tình
đầu thanh thuần, ngây thơ. Nhìn những kỉ vật ấy, lòng người con gái sao tránh khỏi
bồi hồi, nhớ nhung. Trong hoàn cảnh ấy, khi Kim Trọng đang xa, không hề hay biết
tin tức gì, bản thân chuẩn bị một cuộc đời lưu lạc, chẳng rõ tương lai đi đâu về đâu, sự
xót xa, đau đớn lại dâng đến tận cùng. Những kỉ vật ấy thật khó lòng buông bỏ, vì thế
câu "Duyên này thì giữ, vật này của chung" phần lạ kì, ngập ngừng. Duyên đã
trao đi rồi nhưng hiện vật thì chẳng nỡ lòng nào chối bỏ, nên Kiều vẫn muốn giữ đó
làm "của chung", của cả hai chị em. Câu nói một chút con gái, một chút ích kỉ
nhưng cũng dễ hiểu thôi, chẳng cô gái nào muốn san sẻ tình yêu của mình với ai khác.
"Dù em nên vợ nên chồng / Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên", một câu dặn dò
của Thúy Kiều với em gái, rằng dù em thay chị kết duyên cùng Kim Trọng, nhưng bản
thân chị người yêu của chàng, chỉ mong đến ngày hạnh phúc, em đừng quên tấm
lòng chị, số phận bạc bẽo đưa đẩy chị đến đường cùng chứ thật tâm chẳng hề muốn
rời xa. người cho rằng, Kiều một gái ích kỉ, nhỏ nhen, rành rành thân phận
nhờ vả còn đòi hỏi, yêu cầu. Nhưng nhìn về mặt tình cảm, sự ngập ngừng, không
ràng từ Kiều cũng chỉ bắt nguồn từ tình yêu chân thành, từ tấm lòng người con gái
lần đầu biết yêu lại buộc phải chia lìa. Chỉ còn vài kỉ vật làm của tin, làm hiện vật
chứng minh tình cảm, chẳng ai cam tâm trao cho người khác, kể cả đó ruột thịt,
máu mủ.
Trao lại kỷ vật cho em nhưng tâm hồn Kiều vẫn không thể nguôi ngoai, thật tâm vẫn
chưa hề quên đi Kim Trọng:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan.
Lời nói mang một sự đau lòng não nề, Kiều tự coi mình kẻ đoản mệnh, những câu
từ thể hiện Kiều đã một thế giới khác, không thể trở về với cuộc sống bình thường,
không được đoàn tụ với gia đình. Sống trong một hội bất công, nơi con người sẵn
sàng hãm hại nhau đồng tiền, Kiều không dám nghĩ đến việc mưu cầu cho hạnh
phúc cá nhân mà chỉ dám mong được chứng kiến hạnh phúc của em gái và người yêu.
Sự bế tắc khổ đau trong lòng nàng chất chứa trong từng câu nói. "Lò hương, ngọn
cỏ cây, hiu hiu gió, hồn, nát thân, cách mặt khuất lời, người thác oan", hàng loạt
những từ mang âm hưởng tịch, chết chóc như một vết cứa vào lòng người đọc.
Người con gái tuổi mới mười tám đã nghĩ đến cái chết bi kịch, cái chết oan khuất, bế
tắc. Nhưng bản thân người con gái ấy lại chỉ mong mỏi được thanh thản, có thể giũ bỏ
hết tình duyên dương thế. Đau xót thay cho một số phận tài sắc vẹn toàn nhưng sớm
rơi vào lam lũ, bi kịch, chấp nhận bán mình chuộc cha nhưng vẫn nghĩ đến nghĩa tình,
thề hẹn.
Tâm sự với em, Thúy Kiều cũng không quên gửi lời tới Kim Trọng với những dòng
tâm trạng tha thiết:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Tâm sự với Kim Trọng nhưng thực chất, Kiều chỉ được độc thoại với chính mình,
người nàng yêu đang phương xa, đâu hay biết tình thế của nàng hiện tại. Nàng ý
thức được số phận bạc bẽo bằng những điển c"gương gãy", "trâm tan", những hình
ảnh gợi sự chia lìa đôi lứa. Xét đến cùng, mục đích của cuộc trao duyên này là do mối
tình nặng nghĩa với Kim Trọng chưa thể kết thúc, nên trong những lời cuối gửi đến
chàng, Kiều luôn muốn nhắc lại những hoài niệm tươi đẹp của hai người trước khi
buộc phải tự mình cắt đứt mối duyên chẳng được bao lâu. "Muôn vàn ái ân" nay đã trở
thành quá khứ, sự thật giờ chỉ còn "tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!".Cùng với nỗi
tiếc nuối về tình yêu, Kiều còn khóc thương cho số phận của mình. Phận nữ nhi chân
yếu tay mềm trong xã hội xưa đã bị rẻ rúng, giờ đây lại còn "bạc như vôi", "nước chảy,
hoa trôi lỡ làng", sự bất lực, phó mặc số phận không tiếng nói, không quyền
tự quyết định . Tiếng gọi lòng " Hỡi Kim Lang!" thay cho một lời than, tiếng khóc
tức tưởi. Cách gọi "lang" cách gọi chồng trong hội xưa, cho thấy tình cảm của
Thúy Kiều cùng chân thành, thủy chung, bất hoàn cảnh nào thì lời thề
duyên lứa của nàng đêm ấy vẫn vẹn nguyên. Có thể, người đọc cảm thấy một chút phi
trong câu nói của Kiều, rằng tại sao đã trao duyên với em rồi nhưng vẫn gọi Kim
Trọng "lang", chồng, Phải chăng, trong dòng hồi tưởng về những giây phút
cạnh nhau, Thúy Kiều được tạm quên đi những đớn đau nàng phải đối mặt, nhưng
cảm giác tội lỗi của mình với chàng Kim, chỉ còn nàng với chàng, hai người yêu nhau
say đắm, là vợ chồng. Câu gọi bật ra vừa để thể hiện ước nguyện được hạnh phúc của
Thúy Kiều, vừa thể hiện tấm lòng nặng tình nặng nghĩa của nàng, một nét đẹp tâm
hồn của người phụ nữ trong xã hội xưa.
Đoạn trích "Trao duyên" đã khái quát một cách sâu sắc nhất những cung bậc cảm xúc
của Thúy Kiều khi buộc phải rời xa người yêu, đành trao duyên lại nhờ cậy em gái
tiếp tục lời hứa với Kim Trọng. Một người phụ nữ yêu hết nh, thủy chung da diết,
lại khéo léo, sắc sảo nhưng bạc mệnh, long đong. Bằng bút pháp nghệ thuật khai thác
tâm nhân vật, để nhân vật tự bộc lộ cảm xúc qua hành động, cử chỉ, c giả đã
truyền đạt tới người đọc niềm thương xót cho bi kịch tình u tan vcủa nàng Kiều.
Tâm trạng nhân vật được đặc tả qua những chi tiết đắt giá, thể thơ lục bát uyển chuyển,
mềm mại cùng những từ ngữ mạnh, gợi sự xót xa đã làm rung động trái tim bạn đọc
với những nỗi niềm của nhân vật.
Qua "Trao duyên", Nguyễn Du cũng gửi gắm sự tôn trọng, nâng niu những con người
đẹp, biết trọng chữ hiếu, vẹn chữ tình, đồng thời lên án hội bất công, bạc bẽo đã
đẩy con người vào cửa ải chia lìa, chia cắt hạnh phúc lứa đôi của những người xứng
đáng được hưởng hạnh phúc.
Qua hành động, cử chỉ, tác giả đã truyền đạt tới người đọc niềm thương xót cho bi
kịch tình yêu tan vỡ của nàng Kiều. Tâm trạng nhân vật được đặc tả qua những chi tiết
đắt giá, thể thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại cùng những từ ngữ mạnh, gợi sự xót xa
đã làm rung động trái tim bạn đọc với những nỗi niềm của nhân vật.
Qua "Trao duyên", Nguyễn Du cũng gửi gắm sự tôn trọng, nâng niu những con người
đẹp, biết trọng chữ hiếu, vẹn chữ tình, đồng thời lên án hội bất công, bạc bẽo đã
đẩy con người vào cửa ải chia lìa, chia cắt hạnh phúc lứa đôi của những người xứng
đáng được hưởng hạnh phúc.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 15
Trao duyên - một hành động “trả nghĩa chàng Kim” của Thúy Kiều thể hiện một nét
đẹp trong đạo sống của người xưa, “tình” thường gắn liền với “nghĩa”. Đó một đặc
điểm quan trọng trong quan niệm truyền thống về tình yêu. Đó cái nhìn hiện thực
của Nguyễn Du về con người.
Nhưng bên cạnh đó, ta còn thấy một nàng Kiều thiết tha với tình yêu, thiết tha với
cuộc sống riêng tư. Điều đó được thể hiện qua nỗi đau đớn của nàng vì tình yêu tan vỡ.
Chiều sâu sự chân thành trong tình cảm của nàng Kiều được bộc lộ sâu sắc khi
nàng đối diện với kỉ vật, kỉ niệm tình yêu. Mối tình Kim - Kiều là mối tình đẹp vượt lễ
giáo phong kiến. Mối tình của đôi tài tử - giai nhân ấy đã có những kỉ niệm trong sáng,
đẹp đẽ, sâu nặng thiết tha. Kỉ niệm chính hiện thân của tình yêu. Kỉ vật gắn với kỉ
niệm, một dạng vật chất hoá của kỉ niệm. Cho nên, rải rác suốt trong đoạn Trao
duyên, Thuý Kiều đã nhắc tới, đã sống đau đớn với những kỉ vật kỉ niệm ấy.
Trước hết, kỉ niệm được Kiều nhắc đến một cách tế nhị khi nói với Thuý vân về mối
tình của mình:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Ngôn ngữ khách quan, chữ “khi” lặp lại như âm của cái đã qua, lời lẽ vẻ thanh
thản. Nhưng cái thiết tha, cái chiều sâu của tình cảm lại nằm kỉ niệm “gặp chàng
Kim”. Đó là kỉ niệm của phút giây gặp gỡ ban đầu mà “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”.
Cả một vùng trong sáng của ức hiện về. Nhưng lúc này Kiều còn đủ trí để kìm
nén, để không bị kỉ niệm cuốn vào tâm tưởng. Nhưng đến câu: “Khi ngày quạt ước,
khi đêm chén thề” thì kỉ niệm của ngày trao quạt cho nhau để hẹn ước, đêm dưới trăng
uống rượu nguyện thề thuỷ chung tự nói lên sự sâu nặng của một mối tình: trong
sáng mà mãnh liệt, thiết tha. Mối tình vàng đá ấy tưởng cầm nắm trong tay bỗng chốc
bị xã hội dập vùi tan vỡ. Tình yêu vẫn tiếp tục hiện về với kỉ vật:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Khi trao kỉ vật cho Thuý Vân, nỗi mất mát hiện hữu quá rõ. Cầm đến kỉ vật, kỉ niệm
tình yêu sống dậy đối lập với hiện thực phũ phàng, Thuý Kiều không còn đủ trí để
kìm nén được nữa, giọng nói của nàng run lên: “Duyên này thì giữ, vật này của
chung”, nghe như tiếng nấc nghẹn ngào trong đó. Hoài Thanh đã cảm thông nỗi
đau đớn của nàng Kiều hai từ “của chung” “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng
đơn sơ ấy”. Đau đớn vì duyên thì trao cho em mà tình yêu thì không trao được. Kỉ vật
với Thuý Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thuý Kiều nó lại là tình yêu.
Trao duyên cho em, con người đạo Thuý Kiều mách bảo cần phải trao kỉ vật. Vả
lại, khi tình yêu tan vỡ, giữ kỉ vật chỉ thêm đau nhưng Thuý Kiều không chỉ con
người của đạo còn con người của tình riêng. Thuý Vân giữ kỉ vật trong khi
chính Kiều mới là người giữ kỉ niệm của tình yêu. Cuộc chia lìa giữa kỉ niệm và kỉ vật
cuộc chia lìa giữa linh hồn thể xác. Đau đớn dồn vào hai chữ “của chung
như thế. Nguyễn Du như hoá thân để cảm thông, chia sẻ đến tận cùng nỗi đau với
nhân vật của mình, từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc, mới mẻ. Càng lúc, nỗi đau
đớn càng lớn, kỉ vật, kỉ niệm tình yêu cứ chập chờn:
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
“Ngày xưa”, “phím đàn”, “mảnh hương nguyền”,… một đôi lứa thiếu niên bên
nhau, nàng đánh đàn cho chàng nghe trong khói hương trầm thơm ngát. Bao nhiêu thi
vị của mối tình đầu giờ chỉ còn là vô vọng.
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
Hồn còn mang nặng lời thề …
“Lò hương”, “phím đàn”, “lời thề” những kỉ niệm sâu nặng, thiết tha đối lập với
hiện thực phũ phàng, tương lai mù mịt khiến Thuý Kiều rơi vào trạng thái đau đớn tột
độ. Nguyễn Du thật tinh tế, sâu sắc khi biểu đạt nội tâm con người đối diện với kỉ vật,
kỉ niệm tình yêu trong hoàn cảnh trao duyên. Thân phận đau khổ nhưng nhân cách
sáng ngời. Nàng ứng xử theo văn hoá của thời trung đại nhưng không thôi nghĩ về
thân phận tình yêu riêng tư. Điều đó khiến ng Kiều “người” hơn, gần chúng ta
hơn, sống động và chân thực hơn.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 16
Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, một vị danh nhân văn hóa thế giới, tài năng của ông
được khẳng định qua nhiều tác phẩm văn học xuất sắc. Trong đó nổi bật được biết
đến nhiều nhất là Truyện Kiều, một truyện thơ được xếp vào hàng kiệt tác của nền văn
học trung đại cũng như toàn nền văn học của Việt Nam. Truyện Kiều là một tác phẩm
văn học tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân ta từ hàng trăm năm nay,
từ Truyện Kiều lại phát sinh ra vịnh Kiều, bói Kiều, tranh Kiều, lẩy Kiều,… nguồn
cảm hứng cho hàng loạt các loại hình sân khấu, âm nhạc, hội họa,… thậm chí còn
vươn xa ra ngoài thế giới với hơn 20 bản dịch của các quốc gia khác nhau. thể nói
rằng khó có thể có tác phẩm nào trong nền văn học Việt Nam có thể vượt qua cái bóng
của Truyện Kiều. Đoạn trích Trao duyên một đoạn trích đặc sắc khá tiêu biểu
cho cuốn truyện thơ này, kể về nỗi bất hạnh đớn đau đầu tiên trong cuộc đời 15 năm
sóng gió lưu lạc của Thúy Kiều, cô gái tài hoa nhưng mệnh bạc.
Sở dĩ có cảnh trao duyên bởi trước đó khi gia đình gặp biến cố, cha và em của Kiều bị
bắt bớ đánh đập cùng man, phải một món tiền lớn để chuộc thì mới thoát
tội chết. Kiều vốn là con cả thế nên phải gánh trách nhiệm này, cách duy nhất Kiều có
thể nghĩ đến ấy bán thân làm vợ lẽ cho người ta để kiếm tiền. Thế nhưng đau đớn
thay, Kiều lại chót thề nguyền đính ước với chàng Kim Trọng, hứa đợi chàng trở về,
nay ra nông nỗi này lòng Kiều cùng rối rắm. Thế rồi, sau bao nhiêu trằn trọc suy
nghĩ, chữ hiếu vẫn đặt lên trên chữ tình, Kiều đành có lỗi với tình cảm của chàng Kim,
để trọn hiếu với phụ mẫu. Nhưng Kiều vẫn muốn vẹn toàn đôi bên, nên đã nhờ em
Thúy Vân nối tiếp tình duyên với Kim Trọng coi như là trả hết nghĩa cho chàng. Đoạn
trích Trao duyên trích từ câu 723-756, thuộc phần Gia biến và lưu lạc.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Trước khi kể lại câu chuyện tình yêu của mình với Kim Trọng, trước khi chính thức
cậy nhờ Thúy Vân Kiều đã có một lời dạo đầu, lời dạo đầu ấy đã đặt Thúy Vân vào vị
trí khó xử, nàng bị đưa vào thế không thể từ chối. Lời mở đầu của Kiều đã được nàng
hết sức cân nhắc, cẩn trọng đến từng từ sao cho phù hợp, có thể nói từng câu từng chữ
đều rất tinh tế, khiến người nghe phải chịu vào thế Thúy Vân thì lại càng không
ngoại lệ. Kiều dùng từ “cậy” không dùng từ “nhờ” bởi vốn từ ấy ngoài nghĩa nhờ
vả, thì còn mang sắc thái gửi gắm, tin tưởng, tin cậy, thêm vào đó còn mang theo sự
trông mong hy vọng tha thiết từ Kiều.
Một từ khác Kiều tiếp tục dùng ấy từ “chịu lời”, ấy thế làm một việc đó
không tự nguyện, miễn cưỡng chấp nhận, chứng tỏ Kiều rất hiểu cho tình thế nỗi
lòng của Thúy Vân khi nghe những lời mình sắp nói. Phải nói rằng việc phải lấy
Kim Trọng một sự thiệt thòi lớn cho Thúy Vân, bởi thứ nhất Vân phải chịu sự sắp
đặt lấy một người mình chưa chắc đã yêu, người đó lại cả đời đuổi theo bóng của
chị mình, đó chính là bi kịch của cuộc đời nàng. Kiều cũng biết điều ấy, nhưng vì trọn
nghĩa cũng trọn hiếu dẫu biết em gái sẽ khó xử nhưng nàng vẫn buộc phải làm,
xem như đó cũng là một phần trách nhiệm mà Thúy Vân phải gánh vác sau biến cố gia
đình.
Sự áy náy, sự bất đắc khiến Kiều phải dùng từ “lạy-thưa” với Thúy Vân, dẫu nghe
vào vẻ rất phi lý, bởi Kiều phận chị lẽ nào lạy em? Nhưng sắp trong trường hợp
Kiều phải nhờ Vân một chuyện hệ trọng thì nó lại rất hợp lý, bởi mối quan hệ chị - em
giờ đây đã chuyển thành mối quan hệ người chịu ơn và ân nhân của mình, đó là sự tôn
trọng của Kiều dành cho những Thúy Vân sẽ làm cho mình. như thế Thúy
Vân lại càng khó thể từ chối trước những điều mà Kiều nhờ vả, dẫu biết thật éo
le và khó chấp nhận.
“Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Để giải thích cho lời nhờ vả của mình cũng như lẽ nàng phải trao duyên, Kiều
đã giãi bày những mâu thuẫn bản thân đang phải đối mặt. Trước hết nàng đã hẹn
thề với Kim Trọng, vật làm chứng “quạt ước” hẹn trăm năm, đã uống cạn “chén
thề” lòng thủy chung. Thúy Kiều từng rất nhiều lần thề nguyền chắc chắn với Kim
Trọng, hơn thế nữa trong hội phong kiến, lời thề nặng tựa ngàn cân, vậy giờ
đây Kiều buộc phải bội ước, trái lại lời thề với Kim Trọng. Đó là một điều ghê gớm và
được xem là bất nghĩa.
Thế nhưng không phải lòng Kiều muốn vậy chữ hiếu Kiều buộc phải đi vào
bước đường bất nghĩa, xuất phát từ nguyên nhân khách quan, “Sự đâu sóng gió bất
kỳ”, đó một biến cố rất lớn, xảy đến đến đột ngột khiến Kiều không kịp trở tay.
Kiều bị đặt vào mối mâu thuẫn “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?”, cuối cùng bên
hiếu vẫn trên hết, tuân thủ theo nguyên tắc đạo phong kiến, Kiều đã quyết định
hy sinh bản thân để chuộc cha. Nhưng Kiều lại rơi vào mâu thuẫn khác, phụ lòng
người yêu, phụ đi mối tình đầu sâu nặng, Kiều rất đau khổ, áy náy dằn vặt vì tình yêu
dang dở “Giữa đường đứt gánh”, hết sức xót xa, tội nghiệp.
Trước những tình cảnh khốn khổ và những mâu thuẫn chồng chéo, Kiều đã giải quyết
mâu thuẫn ấy bằng cách “Keo loan chắp mối thừa mặc em”. Chỉ bằng đúng từ “tơ
thừa” đã thể hiện nỗi đớn đau khổ sở của Kiều trong việc dứt tình, trao duyên cho em
gái, cũng lòng thương xót, tội nghiệp cho Thúy Vân phải hứng mới duyên thừa,
một mối duyên chắp không thể từ chối. Kiều “mặc em”, buộc Thúy Vân vào
khốn cảnh, dẫu biết rằng “Ngày xuân em hãy còn dài”, biết rằng cơ hội hạnh phúc của
Thúy Vân đang còn rộng mở, phơi phới. Nhưng Kiều biết rằng Thúy Vân sẽ không
thể từ chối “Xót tình máu mủ” em sẽ “thay lời nước non”, thay Kiều trả nghĩa cho
Kim Trọng. Thúy Kiều tin chắc rằng Vân sẽ đồng ý, nên tiếp tục giãi bày tâm trạng
của mình “Chị thịt nát xương mòn/Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”, Kiều
dự cảm không lành về tương lai, nhưng chuyện gì xảy ra thì Kiều vẫn có thể
yên tâm, bằng lòng vì đã được an ủi bằng việc vẹn toàn chữ hiếu, lẫn chữ tình.
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”
Thúy Kiều trao duyên, cũng trao từng kỷ vật lại cho Thúy Vân, gọi tên từng thứ một
“chiếc vành”, “bức tờ mây, “phím đàn với mảnh hương nguyền”, tất cả đều những
kỷ niệm bên nhau của Kim-Kiều. Lúc này đây Kiều trao lại hết cho Vân, trao kỷ vật
cũng trao duyên cho Thúy Vân, cùng lúc đó trong Kiều cũng xuất hiện sự mâu
thuẫn giữa trí tình cảm. Nàng trao hết kỷ vật, để dứt tình, mong muốn Vân
cuộc sống gia đình êm đềm hạnh phúc, bên cạnh đó lòng nàng cũng xuất hiện
những giằng xé. Duyên trao em những kỷ vật thì lại là của chung, nàng muốn đồng sở
hữu chúng, cũng mong muốn rằng vợ chồng Kim Trọng mãi nhớ đến mình, với Thúy
Vân tình máu mủ, với Kim Trọng tình yêu. ràng Thúy Kiều cũng có lòng ích
kỷ lòng mềm yếu, điều ấy chứng minh tình cảm của nàng với Kim Trọng rất sâu
nặng, hẳn trong lúc trao duyên nàng đã phải đau đớn tột cùng trong tâm can.
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.”
Kiều trao duyên xong thì lại dặn Thúy Vân chuyện mai sau, mỗi khi đốt hương
đánh đàn thì Thúy Kiều sẽ về, lúc ấy Thúy Vân hãy nhỏ giọt nước làm phép để giải
oan cho mình. Lần nữa lại sự mâu thuẫn giữa trí tình cảm, một bên mong
Thúy Vân và Kim Trọng sẽ có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và êm đềm, một bên lại
mong rằng mình được sum họp trong những giây phút hạnh phúc bên cạnh Kim
Vân. Như vậy, Thúy Kiều hiện lên trong đoạn trích không chỉ một tấm gương đạo
đơn thuần, còn một con người trần thế sống động tình cảm yêu thương,
đau đớn.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Trở lạị với hiện thực, Thúy Kiều thức tỉnh chỉ để đớn đau, sau những cố gắng níu kéo
không khả thi, nàng buộc phải quay về đối mặt và chấp nhận nghịch cảnh, tình yêu tan
vỡ không thể hàn gắn, bản thân nàng phải gả cho người xa lạ làm vợ lẽ, cuộc đời mịt
trôi dạt chẳng biết về nơi nao. Kiều thức tỉnh trước nỗi đau thân phận bẽ bàng
“phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi”, gợi ra nỗi đau cùng cực của Thúy Kiều.
Kiều đã đối thoại với Kim Trọng trong tâm tưởng, lời gọi như khóc, như than, nghe
não nề, đứt ruột, câu thơ kết là lời tự trách, lời thú tội phụ bạc tình yêu với Kim Trọng.
Nếu trên góc nhìn của người đọc thì Kiều không hề có lỗi, bởi sự phản bội của Kiều là
do khách quan, đồng thời nàng đã nhờ Thúy Vân trả nợ duyên cho mình, thế nhưng
nếu Kim Trọng, thì Kiều hoàn toàn lỗi, nợ lại mối tình với chàng, không cách
nào trả được. Nhận thấy được tình cảm Kiều dành cho Kim Trọng rất sâu nặng, vẻ đẹp
của lòng vị tha và đức hy sinh cao cả.
Qua đoạn trích "trao duyên", Nguyễn Du đã thể hiện lòng thông cảm, xót thương với
bi kịch tình yêu, với thân phận bất hạnh của Thúy Kiều, điển hình của một kiếp hồng
nhan bạc mệnh trong hội phong kiến, đồng thời trân trọng ngợi ca nhân cách cao
đẹp của Thúy Kiều. Trong đoạn trích bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật xuất
sắc, tác giả đã miêu tả một cách tinh tế tâm trạng của nhân vật trong cảnh trao duyên,
bằng cách sử dụng nhiều hình thái ngôn ngữ, đối thoại, độc thoại, nửa trực tiếp.
Phân tích đoạn trích Trao duyên - Mẫu 17
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du không còn là tác phẩm xa lạ đối với các thế hệ bạn đọc.
“Trao duyên” là một trong những đoạn trích tiêu biểu của thiên kiệt tác này. Nhận xét
về “Trao duyên”, Tản Đà từng viết: “Trong cả quyển Kiều, văn tả tình không mấy
đoạn dài hơn như vậy. Đoạn này thật lâm ly, mà như thế mới biết hết tình sự”.
“Trao duyên” đoạn thơ bắt đầu từ câu 723 đến câu 756 của “Truyện Kiều”. Đoạn
trích đã khắc họa những tâm trạng đớn đau, giằng của Thúy Kiều khi nhờ Thúy
Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng để làm trọn chữ “tình”. Ngay từ nhan đề,
đoạn trích đã gây nên sự cho bạn đọc. Chúng ta thường trao lại cho người khác
vàng bạc, châu báu hay những thứ vật chất dễ nhìn thấy, dễ cầm nắm chứ mấy ai lại
trao cho người khác thứ khó xác định, khó hình dung như trao duyên? “Duyên” là thứ
con người khó thể giải một cách thỏa đáng rất khó để định hình. Vậy
Thúy Kiều lại hành động trao duyên, phải chăng điều khó nói, uẩn khúc
đây?
Phải từ bỏ tình yêu của mình điều không ai mong muốn nhưng trong trường hợp
này, Thúy Kiều không thể làm khác. Nàng buộc phải hi sinh tình cảm, hạnh phúc
riêng tư của bản thân để chuộc cha và em trai. Đêm cuối cùng ở nhà trước khi theo Mã
Giám Sinh ra đi, Thúy Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
“Cậy” “nhờ” hai từ đồng nghĩa nhưng tại sao trong trường hợp này, Thúy Kiều
lại nhờ từ “cậy”? Ngoài ý nghĩa nhờ vả, mong muốn người khác giúp đỡ mình thì từ
“cậy” còn hàm chứa cả lòng tin tưởng, sự hi vọng vào người được nhờ vả của chủ thể.
Thúy Kiều và Thúy Vân là hai chị em ruột, vì thế nàng Kiều đã dốc hết lòng tin để gửi
gắm mối duyên tình. Thanh trắc từ “cậy” khiến âm hưởng câu thơ trở nên nặng nề
hơn, đồng thời cũng thể hiện mức độ quan trọng của việc nhờ vả. Người được nhờ
thể nhận lời hoặc từ chối giúp đỡ nhưng trong trường hợp này, Thúy Kiều đã đặt Thúy
Vân vào hoàn cảnh mà nàng chỉ có thể “chịu lời”.
“Chịu lời” một sự chấp nhận bắt buộc, không còn sự lựa chọn nào khác. Biết mình
đã khiến Thúy Vân rơi vào hoàn cảnh khó xử lẽ sẽ khiến Thúy Vân phải chịu
nhiều thiệt thòi nên nàng đã dùng lễ nghi trang trọng để bày tỏ nỗi lòng của mình với
em. “Lạy”, “thưa” những lễ nghi trang trọng thường dùng đối với các bậc bề trên
trong hội phong kiến, đồng thời hành động ấy cũng được dành cho những bậc ân
nhân, những người có ơn đối với mình. Trong trường hợp này, Thúy Vân là người
Thúy Kiều sẽ mang ơn suốt cả cuộc đời nên hành động mời em gái “ngồi lên” để mình
“lạy”, “thưa” cũng điều dễ hiểu. Chuyện tình yêu của nàng đang tốt đẹp thì bỗng
nhiên tai ương xảy đến:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
“Gánh tương tư” bị “đứt” giữa đường thật đột ngột, đây điều Thúy Kiều không
ngờ tới. Hình ảnh “gánh tương tư” chính ẩn dụ cho mối tình thắm thiết đó. Chỉ còn
đêm nay là đêm cuối cùng ở nhà bởi ngày mai nàng đã trở thành vợ lẽ của người khác,
tình yêu với Kim Trọng chỉ còn trong ức chứ không thể nào tiếp tục được nữa.
Nhưng Thúy Kiều không phải kẻ bạc tình, bạc nghĩa, nàng đã nhờ cậy Thúy Vân
“chắp mối thừa”. Tình yêu ấy đối với Thúy Kiều thể một tình yêu đẹp nhưng
đối với Thúy Vân thì đó thể “tơ thừa” nàng không hề tình cảm với Kim
Trọng cũng như không liên quan đến mối tình Kim - Kiều.
Vậy giờ đây, nàng phải thay chị kết duyên với một người mình không hề yêu,
hoàn cảnh ấy thật khó xử. Dân gian câu “Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên”, duyên
thứ con người không nên ép buộc nhưng Thúy Vân người Thúy Kiều tin tưởng
nhất, ngoài Thúy Vân ra thì không ai thể giúp nàng chuyện này. Chỉ Thúy Vân
mới thể thay Kiều kết duyên cùng chàng Kim cũng chỉ Thúy Vân mới khiến
nàng yên tâm gửi gắm mối duyên tình. Thúy Kiều để “mặc em” quyết định nhưng
thực chất phó thác, ép buộc Thúy n phải đồng ý giúp đỡ. Nàng muốn Thúy Vân
hãy dùng thứ keo gắn chắc được chế từ máu của loài chim loan để nối tiếp mối duyên
với Kim Trọng. Không chỉ bằng lời nói, lễ nghi trang trọng mà Thúy Kiều còn kể cho
Vân nghe chi tiết chuyện tình yêu của mình để thuyết phục em:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình hai lẽ khôn bề vẹn hai”
Những đôi trai gái yêu nhau thường hay tặng nhau chiếc quạt chiếc quạt có hai mặt
giấy hoặc lụa được dán áp sát vào nhau tượng trưng cho sự gắn kết, hòa hợp, Thúy
Kiều Kim Trong cũng như vậy. Thúy Kiều đã tặng Kim Trọng chiếc quạt trong
đêm thề nguyền, ước hẹn. Điệp từ “khi” được lặp lại ba lần đã cho thấy tình cảm của
họ thật khăng khít, sâu nặng. “Quạt ước”, “chén thề” gợi nhắc nàng nhớ đến đêm thề
nguyền thiêng liêng ấy:
“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi”
Lời thề “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” đến nay đã không thể thực hiện bởi
“sóng gió bất kì”. Trong hoàn cảnh éo le như vậy, giữa chữ “hiếu” và chữ “tình”, nàng
bắt buộc chỉ được chọn một. với sự hiếu thảo của một người con, nàng đã chọn
chữ “hiếu” còn chữ “tình” nàng trông cậy Thúy Vân nhận lời giúp mình. Trong xã hội
phong kiến, mấy ai làm trọn vẹn được cả “tình” cả “hiếu” Thúy Kiều cũng vậy,
nàng thật vị tha khi luôn nghĩ cho người khác mà quên đi bản thân mình. Sự lựa chọn
chữ “hiếu” của nàng cũng điều hợp tình hợp bởi cha mẹ đã dành cả cuộc đời để
chăm lo cho mỗi chúng ta, công ơn ấy chúng ta không thể nào đền đáp hết. Nàng thực
sự “người thục nữ đủ đường hiếu nghĩa” (Chu Mạnh Trinh). Tha thiết mong muốn
Thúy Vân chấp nhận lời khẩn cầu của mình, Thúy Kiều đã dùng những lí lẽ xác đáng:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
So sánh với Thúy Kiều thì những ngày xuân của Thúy Vân vẫn còn dài, Thúy Vân
hoàn toàn có thể giúp được việc mà Thúy Kiều nhờ vả. Hơn nữa, Thúy Kiều còn nhắc
tới cả “tình máu mủ”, tình chị em ruột thịt thì làm sao Vân thtừ chối. một thế
giới khác, Kiều vẫn vui vẻ, mãn nguyện em đã “chắp mối thừa” giúp mình. Tâm
trạng ấy đã được Nguyễn Du thể hiện qua thành ngữ thịt nát xương mòn”, “ngậm
cười chín suối”. nàng chốn âm phủ, cửu tuyền thì cũng được “thơm lây” với
hạnh phúc của Thúy Vân Kim Trọng. Nhắc đến cái chết của chính mình, Thúy
Kiều đau đớn biết nhường nào. không muốn thì nàng cũng trao lại những kỉ vật
tình yêu của mình để em gìn giữ, trân trọng mối tơ duyên đó:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”.
Người ta thường nói mối tình đầu là mối tình đẹp nhất nhưng cũng là mối tình gây cho
ta nhiều đau khổ nhất, điều ấy quả không sai. Mối tình đầu với Kim Trọng đẹp đẽ,
thắm thiết thế bây giờ lỡ dở, làm sao Thúy Kiều không khỏi xót xa, dằn vặt?
Chiếc vòng xuyến đeo tay tờ giấy ghi lời thề ước của hai người giờ đây đã trở
thành kỉ vật chung của cả Thúy Kiều, Kim Trọng Thúy Vân. Đó vốn những kỉ
vật gắn với những kỉ niệm riêng của chuyện tình Kim - Kiều nhưng hoàn cảnh
trớ trêu trở thành “của chung”. Nỗi đau đớn của nàng dường như đã bật thành
tiếng nấc nghẹn ngào. Nàng đâu muốn trao duyên lại cho một người khác, nàng đâu
muốn phụ bạc chàng Kim nhưng hoàn cảnh nghiệt ngã đã buộc nàng phải làm như vậy.
Mảnh trầm hương đốt trong buổi thnguyền những giây phút Kiều gảy đàn bên
Kim Trọng giờ đây đã trở thành quá khứ - một quá khứ gợi bao nỗi xót xa, tiếc nuối.
Lí trí và tình cảm đã có sự mâu thuẫn khi nàng muốn giữ lại chữ “duyên” cho bản thân
mình làm của riêng. Nàng đã hi sinh tình cảm nhân vì gia đình, nàng đã trao duyên
lại cho Thúy Vân để mong Kim Trọng được hạnh phúc vậy thì một chút “duyên” nàng
xin được giữ lại cũng điều dễ thấu hiểu. Lại thêm một lần nữa, Thúy Kiều nghĩ về
cái chết. Phải chăng nàng đã dự đoán được số phận nổi trôi, định, hẩm hiu của
mình? Nàng hình dung ra viễn cảnh Thúy Vân Kim Trọng “nên vợ nên chồng”,
chung sống hạnh phúc còn mình “người mệnh bạc”, số phận bạc bẽo, không may
mắn.
Tuy kỉ vật đã trao nhưng dường như Thúy Kiều không thoát khỏi được sự ám ảnh về
cái chết, nàng vẫn chưa thể yên lòng:
“Mai sau bao giờ,Đốt hương ấy, so phím này.Trông ra ngọn cỏ gió
cây,Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.Hồn còn mang nặng lời thề,Nát thân bồ liễu đền
nghì trúc mai.Dạ đài cách mặt, khuất lời,Rảy xin chén nước cho người thác oan”.
Kiều nhắc em mai sau đốt hương hay đánh đàn thì hãy nhớ đến mình, lúc ấy
nàng mong Vân hãy “trông ra ngọn cỏ cây” để thấy được linh hồn oan khuất của
mình. Lời nhắn nhủ ấy tức tưởi đau xót biết bao. Nàng đã mường tượng ra thảm
cảnh của mình nhưng ngay cả khi trở thành một linh hồn thì nàng vẫn mang theo lời
thề nguyền cùng Kim Trọng.
Đó lời thề “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” cho dù Thúy Kiều phải
“nát thân bồ liễu” cũng mong trả được nghĩa cho chàng Kim, tấm thân nữ nhi yếu
đuối, mỏng manh không còn sống trên cõi đời thì nàng vẫn muốn mình giữ trọn lời thề
của tình yêu đôi lứa. Do trần gian cõi âm phủ “cách mặt”, “khuất lời” nên Thúy
Kiều cũng chỉ xin em “rảy” giọt nước cho linh hồn oan khuất, đáng thương của mình.
Thông thường, người ta thường “rảy” cả một chén nước nhưng nàng chỉ xin một giọt
nước ít ỏi để rửa oan. Tình yêu tan vỡ, Thúy Kiều đau đớn tự độc thoại với chính
mình:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.
Hơn ai hết, nàng ý thức rất rõ về thực tại của mình. “Trâm gãy gương tan” là biểu hiện
cho sự tan vỡ của tình yêu. Mọi việc xảy đến bất ngờ, đột ngột quá nên “muôn vàn ái
ân” với Kim Trọng làm sao nàng thể kể xiết. Ân tình với chàng Kim càng lớn thì
nàng cảm thấy lỗi bởi đã phụ lòng chàng. duyên chỉ ngắn ngủi ngần ấy, số
phận thì bạc bẽo như vôi, tình yêu thì dở dang, lỡ làng đã khiến Thúy Kiều những
dằn vặt, giằng trong nội tâm. Nàng chỉ thể gửi đến người yêu của mình trăm
nghìn cái lạy. Đó cái lạy từ biệt nhưng cũng cái lạy tạ lỗi với người “tình quân”
nàng đã tự coi mình kẻ phụ bạc đã phá đi lời thề nguyền trước đây. Nàng Kiều
đâu lỗi trong chuyện này, trách thì hãy trách hội đồng tiền đầy rẫy những
bất công, đẩy con người rơi vào bi bịch. Tiếng gọi “Kim lang” vang lên hai lần nghe
mới tha thiết làm sao. Nàng người nặng tình nghĩa đã nhận hết lỗi lầm về mình
luôn mong cho người mình yêu được hạnh phúc. Đức hi sinh của nàng thật đáng quý!
Sau khi phân tích bài Trao duyên, chúng ta có thể thấy được nghệ thuật miêu tả m lí
nhân vật đạt đến đỉnh cao của Nguyễn Du. Ông đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ,
những thành ngữ dân gian cùng sự kết hợp ngôn ngữ bác học trang trọng và ngôn ngữ
dân gian để diễn tả những tâm trạng đau khổ, xót xa của Thúy Kiều khi trao duyên lại
cho Thúy Vân. Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại được sử dụng một cách linh
hoạt. Bên cạnh đó, thể thơ lục bát uyển chuyển, nhịp nhàng cũng góp một phần không
nhỏ vào sự thành công của đoạn trích. “Trao duyên” đã thể hiện tấm lòng nhân đạo,
thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của nhà thơ đối với số phận những người phụ nữ. Chẳng
vậy mà ông đã viết:
“Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi
Những là oan khổ lưu li
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân”.
Phân tích Trao Duyên - Mẫu 18
Truyện Kiều đỉnh cao trong đời thơ Nguyễn Du cũng đỉnh cao của văn học Việt
Nam, tác phẩm để lại những giá trị sâu sắc về cả nội dung nghệ thuật. Cuộc đời
nàng Kiều trải qua biết bao truân chuyên, biến cố, phải trải qua biết bao khoảnh khắc
đau lòng mà có lẽ đau lòng nhất chính là khoảnh khắc trao duyên cho em. Toàn bộ suy
nghĩ tâm trạng của nàng được tái hiện chân thực, đầy đủ qua đoạn trích: Trao duyên.
Trao duyên được trích trong phần gia biến và lưu lạc, sau khi gia đình gặp cơn tai biến,
Kiều phải bán mình cho Giám Sinh với giá vàng ngoài bốn trăm để lo cho cha
em thoát nạn. Đêm cuối cùng trước khi phải đi cùng Mã Giám Sinh, Thúy Kiều đã trò
chuyện với em là Thúy Vân vào trao duyên mình cho em với Kim Trọng.
Để thuyết phục em đồng ý thay mình trả nghĩa cho chàng Kim, Thúy Kiều nhờ cậy hết
sức chân thành: Cậy em em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Thúy Kiều đã
sử dụng ngôn từ hết sức tinh tế, hết sức cẩn trọng để đạt được hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra, nàng cũng rất hiểu cho tình thế của Thúy Vân, đây câu chuyện rất đột
ngột với Thúy Vân, đó chuyện không phải dễ dàng thể chấp nhận. cậy chứ
không phải bất từ ngữ nào khác, cậy gửi gắm sự tin tưởng, sự trông mong tha thiết của
Kiều với em. Chịu lời nhận làm một việc với thái độ miễn cưỡng, nàng hiểu cho tình
cảm của Thúy Vân khi phải nghe những điều mình chuẩn bị giãi bày. Cặp từ lạy, thưa
thoạt nhìn có vẻ phi lí trong lễ giáo phong kiến vì chị làm sao có thể lạy, thưa với em.
Nhưng lại hợp trong thế người cậy nhờ kẻ được nhờ cậy. Cách dùng từ
của Kiều đã đặt Thúy Vân vào tình thế khó thể từ chối trước những điều éo le,
nghịch cảnh sắp nói.
Để thuyết phục em, Kiều đã đưa ra lí lẽ về tình thế éo le của bản thân: “Kể từ khi gặp
chàng Kim/ Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề/ Sự đâu sóng gió bất kì/ Hiếu tình
khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Nhắc lại chuyện tình cảm của mình Kim Trọng hẳn lòng
Kiều cũng nhói đau, hàng loạt hình ảnh thể hiện hình ảnh tình yêu đôi lứa được nói
đến: quạt ước tặng quạt để ngỏ ý hẹn ước trăm năm, chén thề - uống rượu thề
nguyền trung thủy. Những lời hẹn thề sắt son, những tưởng cả hai sẽ được hưởng hạnh
phúc mãi mãi nào ngờ gia đình gặp biến cố khiến tình duyên lỡ dở. Hai câu thơ sau đã
chỉ nguyên nhân khiến Thúy Kiều phải bội ước. Gia đình gặp biến cố lớn, là chị cả
trong gia đình, Thúy Kiều lúc này bị đặt giữa mâu thuẫn: chuyện gia đình chuyện
tình cảm, chọn chữ hiếu thì nàng bội nghĩa tình, lời hẹn thề với Kim Trọng, nhưng nếu
trọn chữ tình thì lại trở thành kẻ đại bất hiếu. cuối cùng ng đã quyết định: “Làm
con trước phải đền ơn sinh thành”.
Trong đau đớn, dằn vặt nàng vẫn hết sức bản lĩnh, bình tĩnh để đưa ra cách giải quyết
phù hợp nhất: “Keo loan chắp mối thừa mặc em”. Keo loan được làm từ máu của
con chim loan, dùng keo loan để chắp cho mối duyên của em Kim Trọng. Hai
chữ “tơ thừa” như nhấn mạnh vào nỗi đau đớn của Thúy Kiều nhưng đồng thời cho
thấy sự tội nghiệp của nàng Vân. Biết bao đau đớn, biết bao tủi hơn trong chuyện tình
duyên này. Kiều luôn tỏ ra là người rất am hiểu tâm lí và tình thế của Thúy Vân, nếu ở
trên mặc em, gần như giao phó, thì câu thơ dưới lại như một lời mong mỏi, tha
thiết: “Ngày xuân em hãy còn dài/ Xót tình máu mủ thay lời ớc non”. Thúy Kiều
mong Vân tình chị em ruột thịt em thể trả nghĩa cho Kim Trọng thay mình,
nếu vậy: “Chị thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”. Trong
nàng bao giờ cũng vậy, luôn dự cảm không lành cho tương lai của chính mình.
Đồng thời với lập luận như vậy kiến Vân không nỡ từ chối lời đề nghcủa mình. Bằng
lối lập luận chặt chẽ, sắc sảo vừa cho thấy sự thông minh của Thúy Kiều, vừa thực
hiện được mục đích khiến Vân trả nghĩa cho Kim Trong cho nàng.
Sau lời nhờ cậy em, Thúy Kiều bắt đầu trao kỉ vật cho Thúy Vân dặn chuyện
tương lai. Từng kỉ vật khi xưa của nàng Kim Trọng đều được nâng niu, giữ gìn,
mỗi kỉ vật gắn liền với một niềm hạnh phúc cả cuộc đời này nàng sẽ không bao
giờ quên. Là chiếc vành mà Kim Trọng đã trao cho Thúy Kiều, là bức tờ mây thư từ
với những lời yêu thương họ dành cho nhau. Nhưng đó đâu phải đã hết họ còn
chung những kỉ niệm “phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa” giờ đây Thúy
Kiều trao lại hết cho em, nàng trao kỉ vật cũng đồng nghĩa với việc trao duyên. Nhưng
khi nàng trao kỉ vật vẫn sự mâu thuẫn, giằng giữa trí tình cảm: trí thì
nàng muốn trao hết cho em, nhưng tình cảm dường như không muốn: “Duyên này thì
giữ, vật này của chung”, nàng vừa muốn trao, vừa muốn giữ, giữ lại một chút đó
cho bản thân. Tâm lí này cũng thật dễ hiểu, bởi trong tình yêu nhu cầu sở hữu rất cao,
mấy ai có đủ dũng khí để trao duyên, vậy mà, Kiều đã phải làm, nên hành động muốn
giữ lại một chút của chung cho mình hoàn toàn dễ hiểu hợp quy luật tâm lí.
Đồng thời nàng cũng mong họ có cuộc sống êm đềm, hạnh phúc nhưng lại cũng muốn
họ không bao giờ quên mình: “Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”. Thúy Kiều
ràng sự ích kỉ, mềm yếu nhưng chính trong đó lại thấy tình cảm nàng dành cho
Kim Trọng rất sâu nặng trong giây phút trao duyên này nàng rất đau đớn, mất mát,
hụt hẫng.
Trao kỉ vật đau đớn, xót xa bao nhiêu thì những lời dặn chuyện mai sau càng quặn
thắt bấy nhiêu: “Mai sau bao giờ/ Đốt hương ấy so phím này”. Sau này,
mỗi khi đốt hương, đánh đàn, linh hồn của nàng sẽ trở về, khi đó nàng chỉ mong Thúy
Vân hãy rưới giọt nước để giải oan cho chị “rưới xin giọt nước cho người thác oan”.
Ta thấy rằng bất cứ đâu trong Kiều cũng luôn mang khao khát hạnh phúc, sum họp:
Hồn còn mang nặng lời thề/ Nát thân bồ liễu, đền ghì trúc mai. nàng có bị vùi dập
thịt nát xương mòn nhưng lòng vẫn nặng lời thề với Kim Trọng. Bởi vậy khi Kim
Trọng Thúy Vân được hưởng hạnh phúc thì Thúy Kiều cũng sẽ trở về để chung
hưởng hạnh phúc ấy. Mâu thuẫn này đã cho thấy sự tiếc nuối đau khổ của nàng
Kiều đồng thời cho thấy tình cảm sâu nặng nàng dành cho Kim Trọng.
Tám câu thơ cuối, nàng Kiều trở về với thực tại đau đớn, xót xa: tình yêu dang dở, tan
vỡ, mãi mãi không thể hàn gắn. “Bây giờ trâm gãy gương tan/ duyên ngắn ngủi
ngần ấy thôi”, thành ngữ “trâm gãy gương tan” sự tan vỡ trong tình yêu cũng sự
tan nát trong cõi lòng Thúy Kiều. Nàng thức tỉnh nỗi đau thân phận: “Phận sao phận
bạc như vôi/ Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng/ Ôi Kim lang, hỡi Kim lang/ Thôi
thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Hai từ ôi, hỡi trong u thơ sáu chữ đã cho thấy lời
gọi tha thiết, khắc khoải nỗi đau đến tột cùng của Kiều. Câu kết lời nhận tội, tự
trách của Thúy Kiều “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.
Bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc, sự phối hợp linh hoạt các hình thức ngôn
ngữ đã diễn đạt tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều khi trao duyên cho em. Đoạn trích
cho thấy bi kịch tình yêu và bi kịch thân phận của người phụ nữ hồng nhan, bạc mệnh
trong xã hội phong kiến. Đồng thời trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của Thúy Kiều.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 19
“Truyện Kiều” không chỉ là một kiệt tác đại của nền văn học Việt Nam còn của
toàn thế giới. Trong đó, đoạn trích nổi tiếng “Trao duyênđã thhiện cái nhìn hiện
thực nhân đạo của Nguyễn Du về con người, đặc biệt là đối với số phận của khách
hồng nhan, số phận của Thúy Kiều. Ngoài ra, “Trao duyên” còn tâm sự, tiếng
khóc đau thương được bật ra từ một hoàn cảnh éo le “tình chị duyên em”.
“Trao duyên” câu chuyện đặc biệt đằng sau một hoàn cảnh đặc biệt. Sau đêm thề
nguyền với Thúy Kiều, Kim Trọng phải về hộ tang chú Liêu Dương. Ngay lúc đó,
gia đình Kiều bị thằng bán vu oan, Vương Ông và Vương Quan bị hành hạ, gia sản
bị cướp hết. Kiều đứng trước cảnh gia biến phải bán mình chuộc cha. Đêm trước ngày
phải theo Giám Sinh, Kiều cậy Thúy Vân tiếp nối mối duyên dang dở của mình
với chàng Kim. Mở đầu đoạn trích là hình ảnh Kiều mở lời nhờ cậy Vân thay mình trả
nghĩa cho Kim Trọng:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Ta thấy cách sử dụng ngôn ngữ, ở đây là sử dụng động từ đã đạt tới những thành công
nhất định. Từ “cậy” với thanh trắc âm điệu nặng nề gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói,
trái hẳn với “nhờ”. Cậy mang hàm ý hi vọng tha thiết, ý tựa nương, gửi gắm,
van nài, tin tưởng nơi quan hệ ruột thịt. Từ “chịu” thhiện nài ép, bắt buộc, không
nhận không được. Hai động từ “lạy”, “thưa” trong câu thứ hai đã thái độ kính cẩn,
trang trọng với người bề trên hoặc với người mình hàm ơn. Thúy Kiều trong vế ở trên,
chị của Thúy Vân nhưng trong cuộc “trao duyên” hoàn toàn nhận về sự thua thiệt.
Chữ hiếu đè nặng lên vai bổn phận “làm con trước phải đền ơn sinh thành” đã trở
thành niềm lo lắng khôn nguôi của nàng Kiều lúc này. Những câu thơ tiếp theo lời
trình bày đầy thuyết phục:
“Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”
Rơi o cảnh ngộ éo le, tình yêu vừa chớm nở nay phải cam chịu cảnh dở dang, đứt
quãng “đứt gánh tương tư” bởi tai họa ập đến gia đình “sóng gió bất kì”. Từng nấc
thang tâm trạng từng lời giằng xé, từng ai oán thương tâm. Bên tình bên hiếu đang
chờ đợi sự lựa chọn của nàng. Không thể từ bỏ cha già, em thơ, Kiều chỉ còn cách bán
mình cứu cả gia đình qua cơn sóng gió. Hiểu sự thiệt thòi của Thúy Vân, Kiều tha
thiết van nài, trông mong mối quan hệ thâm tình ruột thịt để trả nghĩa cho chàng
Kim. Niềm vui hẹn ước, thề nguyền xưa kia giờ chỉ còn biết nghĩ tình máu mủ thay
thế. Để rồi đằng sau lời lẽ đầy trí của một người con hiếu thảo kia dự cảm không
lành ở tương lai:
“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Từ bỏ tình duyên với Kim Trọng, nàng chẳng khác nào từ bỏ đi cuộc sống của mình.
Nàng nghĩ đến cái chết của chính mình, tự nhận thức về bi kịch tình yêu đang hiện
hữu. càng đau đớn hơn khi các kỉ vật tình yêu vẫn còn nguyên vẹn, vẫn ấm áp hơi
người, Kiều trao kỉ vật và dặn dò ở nơi em:
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Hoài Thanh từng viết: “Của chung của ai? Bao nhiêu đau đớn trong hai tiếng đơn
sơ!”. ràng, trong Thúy Kiều dường như đó không nỡ, đó lưu luyến. Đã
nhờ Thúy Vân thay mình tiếp nối tình yêu với Kim Trọng những kỷ vật xưa kia vẫn là
“của chung”. Nàng không từ bỏ được chúng cũng như không từ bỏ được tình yêu sâu
kín trong tận đáy lòng. Có cái đó uất nghẹn âm vang trong câu thơ bởi sự giằng xé,
phân đôi xót xa giữa cái riêng với cái chung, giữa hạnh phúc với bất hạnh, giữa mất và
còn, giữa tương lai và hiện tại. Kiều nhận về mình tất cả những xót xa, những đau đớn
của một đời người bạc mệnh bởi đây cũng số phận nàng phải vương mang: “lời
rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Mạch tự sự của thơ tiếp tục diễn ra để thể hiện một
bi kịch tình yêu:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan”
Kiều tưởng tượng về cảnh ngộ của mình trong tương lai qua hình ảnh nhuốm màu
tang tóc. Những “lò hương”, “ngọn cỏ cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”,
“đền nghì trúc mai”, “dạ đài”, “giọt nước”, “người thác oan”…. gợi ra cuộc sống cõi
âm lạnh lẽo. Hơn thế nữa, nhịp thơ chậm rãi, nghẹn ngào, tức tưởi như tiếng khóc não
nùng cố nén lại để không bật thành lời. Kiều đang tưởng tượng đau đớn đến tột bực
bởi trong lòng còn mang nặng tình cảm với chàng Kim. Cuối cùng, sau những giờ
phút gửi gắm tình duyên lúc Kiều đối diện với thực tại lời nhắn gửi cho “người
yêu cũ”:
“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể sao cho xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Đang đối thoại với Thúy Vân, Kiều quay sang độc thoại với chính mình. Ý thức hiện
tại đầy xót xa qua hai tiếng “bây giờ”. “Bây giờ” ấy thế nào? Là “trâm gãy gương tan”,
“kể sao cho xiết muôn vàn ái ân”, “trăm nghìn gửi lạy tình quân”, “tơ duyên
ngắn ngủi”… Còn đau đớn hơn, còn xót xa hơn! Sự trôi nổi của số phận đứt
đoạn của tình duyên đã khiến nàng gần như rơi vào cơn mê sảng. Nàng nhận hết tất cả
thiệt thòi, nhận mình là người phụ bạc để gửi lại cái tạ tình tha thiết và chấp nhận đoạn
trường riêng mang: “Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Kiều lúc này như buông
xuôi tất cả, nàng mặc cho sự xô đẩy tình của số phận, sự dày của con tạo để bật
ra tiếng gọi, tiếng khóc, tiếng thét đau đớn, nghẹn ngào:
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Tiếng gọi Kim Lang được lặp đi lặp lại vừa thiết tha trân trọng nhưng cũng đầy đau
đớn tuyệt vọng. Câu thơ ngắt theo nhịp 3/3 như một tiếng nấc để rồi câu sau nhịp
thơ trải ra như một lời than trách chính mình. Thúy Kiều đã quên đi nỗi đau của mình
mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý mà Nguyễn Du đã ban
tặng cho nàng.
Về nghệ thuật, đoạn trích đã miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật, ở đây chính
là Thúy Kiều. Qua đó, chúng ta cảm nhận được tình yêu, được trách nhiệm, được sự hi
sinh, được kiếp số bạc mệnh của nàng. Vừa một người con hiếu thảo, một người
yêu thủy chung, Kiều đã thực sự lấy đi biết bao nước mắt, biết bao sự đồng cảm, xót
xa. Bên cạnh đó, đoạn trích đã sử dụng thành công ngôn ngữ kết hợp giữa tự sự và trữ
tình và đặc biệt là ngôn ngữ độc thoại nội tâm sinh động. Việc sáng tạo các thành ngữ
dân gian, sự giao thoa giữa bình dân bác học đã khiến cho ngòi bút Nguyễn Du
được hậu thế ca ngợi đời đời.
Tóm lại, đoạn trích “Trao duyên” đã khắc họa nên bức tranh cảm động về số phận
nàng Kiều, về sự giằng đau đớn giữa chữ hiếu chữ tình, giữa trí tình cảm.
Qua đó, chúng ta càng thêm hội để nhìn nhận tài năng của Nguyễn Du, để nhìn
nhận giá trị của “Truyện Kiều”, để hiểu vì sao người đời gọi đây là một hòn ngọc quý
cơ hồ không thể thay đổi, thêm bớt một tí gì, như một tiếng đàn lạ gần như không một
lần nào lỡ nhịp ngang cung.
| 1/83

Preview text:


Dàn ý phân tích bài Trao duyên ngắn gọn 1. Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích: Tác giả Nguyễn Du - Đại thi hào dân tộc,
đoạn trích “Trao duyên” được trích trong tác phẩm “Truyện Kiều” 2. Thân bài
- Tâm trạng Thúy Kiều khi nhờ cậy, thuyết phục Thúy Vân: Kiều tuy là chị nhưng lại
quỳ lạy, thưa gửi với em của mình, có phần trái ngược với giáo lý phong kiến nhưng
lại đúng với hoàn cảnh éo le, trước khi nhờ cậy Kiều đã kính cẩn, trạng trọng coi Vân
như người ân nhân của mình
- Tâm trạng Thúy Kiều khi trao lại kỉ vật cho Thúy Vân: Những kỉ vật như chiếc vành,
bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền giờ đây trở thành của chung ba người, tuy
trao đi kỉ vật nhưng lòng Kiều vẫn giữ mãi ân tình, không quên được những kỉ niệm với người yêu
- Tâm trạng Thúy Kiều khi nhớ về mối tình với Kim Trọng: Kiều quay về thực tại,
chẳng còn kỉ niệm tình yêu ngọt ngào nữa, giờ đây là hiện thức dở dang, lỡ làng, tan
vỡ, bây giờ tình duyên của nàng đã mất, cuộc đời cũng sắp phải giao cho người khác,
số phận nàng “bạc như vôi” 3. Kết bài
Đánh giá: Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta không chỉ thấu hiểu được bi kịch tình yêu
và số phận của Thúy Kiều mà còn thấy được ở đó hiện lên nhân cách cao đẹp của
nàng, một người con gái tài sắc vẹn toàn, giàu đức hy sinh và giàu lòng vị tha
Dàn ý chi tiết phân tích bài Trao duyên I. Mở bài
● Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều: Nguyễn Du là đại thi hào dân
tộc danh nhân văn hóa thế giới, Truyện Kiều được xem là kiệt tác của nền văn
học được dịch ra nhiều thứ tiếng.
● Giới thiệu đoạn trích Trao duyên: Vị trí, nội dung II. Thân bài
1. Lời nhờ cậy và thuyết phục Thúy Vân của Thúy Kiều (12 câu thơ đầu)
a. Hai câu đầu: Lời nhờ cậy của Thúy Kiều * Lời lẽ trao duyên
- Cậy: + Là một thanh trắc với âm điệu nặng nề, gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói
>< nhờ, mong (thanh bằng)
+ Cũng mang hàm nghĩa là trông mong, giúp đỡ nhưng cậy còn mang thêm sắc thái
hàm ý về sự hi vọng tha thiết, sự gửi gắm đầy tin tưởng
- Chịu: Nài ép, bắt buộc, không thể không nhận >< nhận: mang tính tự nguyện * Cử chỉ trao duyên - Lạy, thưa:
● Là thái độ kính cẩn, trang trọng với người bề trên hoặc với người mình hàm ơn.
● Hành động của Kiều tạo ra sự trang nghiêm, thiêng liêng cho điều sắp nói ra
→ Qua cách nói thể hiện sự thông minh, khéo léo của Thúy Kiều
→ Sự tài tình trong cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du
b. Mười câu tiếp: Lí lẽ trao duyên của Kiều.
* 4 câu thơ tiếp: Kể về mối tình với chàng Kim
- Thành ngữ: “ Giữa đường đắt gánh tương tư”
- Hình ảnh: “Mối tơ thừa”
- Hành động: “ Quạt ước, chén thề”
→ Bằng những thành ngữ, những điển tích, những ngôn ngữ giàu hình ảnh đã vẽ nên
một mối tình nồng thắm nhưng mong manh, dang dở và đầy bất hạnh của Kim - Kiều
* 6 câu thơ sau: Những lí do khiến Kiều trao duyên cho em.
- Gia đình Kiều gặp biến cố lớn “sóng gió bất kì”
- Kiều buộc phải chọn 1 trong 2 con đường là “hiếu” và “tình”, Kiều đành chọn hi sinh tình.
→ Kiều đã gợi ra tình cảnh ngang trái, khó xử của mình để Vân thấu hiểu.
- “Ngày xuân em hãy còn dài”
→ Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước
- “Xót tình máu mủ thay lời nước non”
→ Kiều thuyết phục em bằng tình cảm ruột thịt.
- Thành ngữ “Thịt nát xương mòn” và “ Ngậm cười chín suối”: nói về cái chết đầy mãn nguyện của Kiều
→ Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời
⇒ Cách lập luận hết sức chặt chẽ, thấu tình cho thấy Thúy Kiều là người sắc sảo tinh
tế, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa.
- Nội dung: 12 câu thơ đầu là diễn biến tâm trạng phức tạp của Kiều trong lúc nói lời trao duyên
- Nghệ thuật: Sử dụng các điển tích, điển cố, các thành ngữ dân gian, ngôn ngữ tinh tế,
chính xác giàu sức thuyết phục, lập luận chặt chẽ.
2. Kiều trao kỉ vật và dặn dò Vân (14 câu thơ tiếp theo)
a. Sáu câu đầu: Kiều trao kỉ vật
- Kỉ vật; Chiếc vành, bức tờ mây
→ Kỉ vật đơn sơ mà thiêng liêng, gợi quá khứ hạnh phúc.
- Từ “giữ - của chung – của tin”
● “Của chung” là của Kim, Kiều nay là cả của Vân nữa
● “Của tin” là những vật gắn bó gợi tình yêu thiêng liêng của Kim – Kiều: mảnh hương, tiếng đàn
→ Thể hiện sự giằng xé trong tâm trạng Thúy Kiều. Kiều chỉ có thể gửi gắm mối
duyên dang dở cho Vân chứ không thể trao hết tình yêu mặn nồng xưa kia giữa nàng và Kim Trọng.
b. Tám câu thơ tiếp: Lời dặn dò của Kiều
* Kiều dự cảm về cái chết
- Hàng loạt các từ ngữ, hình ảnh gợi về cái chết: hiu hiu gió, hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, người thác oan
→ Dự cảm không lành về tương lai, sự tuyệt vọng tột cùng. Kiều tưởng tượng ra cảnh
mình chết oan, chết hận. Hồn không sao siêu thoát được bởi trong lòng đang nặng lời
thề ước với Kim Trọng
→ Ta thấy được sự đau đớn, đầy tuyệt vọng của Kiều, đồng thời thể hiện tấm lòng
thủy chung một lòng hướng về Kim trọng của Kiều
* Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân
- “Đền nghì trúc mai”: Đền ơn đáp nghĩa.
- “Rưới xin giọt nước”: Tẩy oan cho chị.
→ Nỗi bứt rứt, dằn vặt trong lòng Kiều. Lúc này, Kiều như càng nhớ, càng thương
Kim Trọng hơn bao giờ hết.
Tóm lại: Nội dung: 14 câu thơ tiếp là một khối mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy
Kiều: trao kỉ vật cho em mà lời gửi trao chất chứa bao đau đớn, giằng xé và chua chát.
- Nghệ thuật: Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị biểu cảm, độc thoại nội tâm.
3. Tám câu thơ cuối: Kiều trở về thực tại đau xót khi nhớ tới Kim Trọng
- Hình thức: Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
- Tâm trạng: Nàng ý thức rõ về cái hiện hữu của mình: “trâm gãy gương tan”, “tơ
duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”
→ Hình ảnh gợi tả số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc bẽo, lênh đênh trôi nổi
- Nghệ thuật đối lập: quá khứ >< hiện tại
→ Khắc sâu nỗi đau của Kiều trong hiện tại. - Các hành động
● Nhận mình là "người phụ bạc"
● Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu
● Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.
→ Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý ♦ Tiểu kết
- Nội dung: Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hường về tình yêu của mình và Kim Trọng.
- Nghệ thuật: Sử dụng từ ngữ biểu cảm, thành ngữ, câu cảm thán, các điệp từ. III. Kết bài
● Khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
● Trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân: Đây là trích đoạn hay và cảm động nhất
của Truyện Kiều, đem lại hiều xúc cảm nơi người đọc.
Phân tích Trao duyên học sinh giỏi - Mẫu 1
Đại thi hào Nguyễn Du là một trong những cây bút sáng chói đóng góp cho dòng chảy
văn học nước nhà những bước chuyển mình vàng son. Trong thời kì văn học trung đại,
Nguyễn Du cùng với những tác giả khác như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm,... tạo thành những tượng đài thơ ca của văn học Việt Nam. Tác phẩm
làm nên tên tuổi của Nguyễn Du là tập truyện viết bằng chữ Nôm "Đoạn trường tân
thanh" hay còn gọi ngắn gọn bằng cái tên "Truyện Kiều". Đoạn trích "Trao duyên" là
một trong những đoạn tiêu biểu trong tập truyện, thể hiện sự dằn vặt, nỗi lòng đau đớn
của nàng Kiều khi buộc phải bán mình chuộc cha, đành nhờ cô em Thúy Vân trả nghĩa cho chàng Kim Trọng.
Truyện Kiều là một tác phẩm được coi như kiệt tác văn chương của nhân loại, được
viết dưới dạng truyện kể bằng thơ, lấy cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân người
Trung Quốc. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không hề được biết đến cho tới khi
Nguyễn Du khai thác cốt truyện bình thường ấy thành tiếng kêu ai oán đến xé lòng,
một bản sầu ca não nề của người con gái hồng nhan bạc phận. Đoạn trích "Trao
duyên" từ câu 723 đến câu 756 trong phần "Gia biến và lưu lạc", tái hiện lại cuộc trò
chuyện của chị em Thúy Vân Thúy Kiều. Gia đình gặp hoạn nạn, Thúy Kiều đành bán
mình chuộc cha, trong tình cảnh đó, biết mình không thể giữ trọn lời thề thủy chung
với Kim Trọng, nàng Kiều đành phải trao lại tấm chân tình cho Thúy Vân, nhờ em
làm tròn bổn phận, giữ trọn lời hứa của mình với người yêu.
Mở đầu câu chuyện bằng lời Thúy Kiều nhờ cậy của mình với em:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Ngay từ đầu, Nguyễn Du đã để cho Thúy Kiều ở vị trí phía dưới, trái ngược với cách
xưng hô "chị, em". Từ "cậy" đặt ở đầu câu gợi tả tình thế tiến thoái lưỡng nan, chẳng
còn cách nào khác, lại thật khó khăn để có thể nhờ vả. Vốn dĩ, Thúy Kiều xét theo vai
vế là chị của Thúy Vân, sẽ không cần "thưa" hay "lạy", nhưng trong hoàn cảnh ấy,
nàng chấp nhận đặt mình vào vị trí của người đi nhờ vả, van xin, chỉ với mục đích giữ
trọn lời hứa của mình với chàng Kim Trọng. Từ "em" được nhắc lại hai lần, đi kèm
các động từ mạnh "lạy", "thưa" "cậy" mở ra một nỗi lòng chua xót, báo hiệu tương lai
mịt mù, tăm tối, phải nhờ vả, dựa dẫm, mưu cầu lòng thương của người khác. Thúy
Vân trở thành bề trên, "ngồi lên" để chị lạy, thưa đã một lần nữa nhấn mạnh kiếp
người trôi nổi, bấp bênh, lỡ làng duyên phận của nàng Kiều. Kiều tha thiết van lơi em,
đồng thời đặt lên vai em sức nặng của sự tin tưởng, trông cậy. Trong hoàn cảnh ngặt
nghèo đó, tình chị em được mang ra để bấu víu, Vân trở thành niềm hi vọng cuối cùng
của Kiều khi nàng buộc phải rời xa gia đình, thất hẹn với người yêu.
Thúy Kiều bắt đầu bày tỏ nỗi lòng mình với em gái bằng những lời chua xót, đau đớn:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Đến đây, người đọc bỗng hiểu ra cái nhờ cậy ban đầu của Thúy Kiều thực ra là một lời
phó thác, buộc Thúy Vân phải chấp nhận. Với thân phận là chị gái, chị cả trong nhà,
Kiều cảm thấy mình phải có trách nhiệm giúp đỡ gia đình qua cơn hoạn nạn. Nàng
chấp nhận bán mình chuộc cha, vì chữ hiếu quên thân, chấp nhận lỡ duyên với người
thương chứ không thể phụ lòng cha mẹ. Người con gái "đứt gánh tương tư" ấy chẳng
nỡ làm Kim Trọng đau lòng, đứng trước chữ tình và chữ hiếu, nàng chỉ còn cách
mong em gái Thúy Vân có thể giúp mình tiếp tục mối duyên đứt quãng. Hai tiếng
"mặc em" giống như một sự phó thác trách nhiệm bằng tấm lòng tha thiết, âu sầu.
Kiều thủ thỉ tâm sự với Vân về mối tình nồng thắm của minh với chàng Kim:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Câu thơ thể hiện sự đau khổ của Thúy Kiều khi nhớ lại những kỉ niệm mùi mẫn còn
dang dở giữa mình và Kim Trọng. Đối với nàng, mối tình với Kim Trọng là những kỉ
niệm lứa đôi đẹp nhất, nhưng đối với Thúy Vân, đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Vì thế,
Kiều không muốn em phải bận lòng, băn khoăn, nàng chọn cách tâm tình với em từ
những kỉ niệm của mình để em gái cảm thấy gần gũi, cảm thông. Từ buổi gặp gỡ đến
hôm thề nguyện đính ước. hình ảnh "quạt ước", "chén thề", nàng muốn khẳng định
tình cảm giữa hai người là tình cảm thật lòng, sâu sắc. Trao duyên cho em mà lòng
đau như cắt, vì bản thân nàng đâu hề muốn phải sinh ra nông nỗi ấy. Cùng với sự tiếc
nuối, Kiều chỉ biết trải lòng về những khó khăn bất chợt ập đến gia đình, buộc nàng
vào tình thế bất đắc dĩ. "Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai", một câu nói vừa tự nhủ
lòng mình, vừa là cái cớ của Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân. Bản thân Kiều không
hề muốn hai chị em phải đối mặt với nhau trong tình thế khó xử, nhưng chị đã vì cha
mẹ bán mình, thì em cũng nên vì chị mà giúp chị nối tiếp tơ duyên. Người đọc dường
như còn cảm thấy một khao khát nhỏ nhoi trong lòng Thúy Kiều, khao khát sống trọn
vẹn, tình nghĩa, nhưng trớ trêu thay, cuộc đời bất hạnh lại không cho phép nàng thực
hiện ước muốn nhỏ nhoi ấy.
Không những thế, Kiều còn thể hiện sự khéo léo, tinh tế khi lựa lời đề cập đến hoàn
cảnh của Vân để cất lời nhờ em:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương tan
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Xét về tình, Thúy Kiều và Thúy Vân là hai chị em đều đang độ tuổi cập kê, Kiều đã
lấy cái cớ đó để nhờ cậy em nối tiếp mối duyên với Kim Trọng. Xét về lý, tình ruột rà
máu mủ cũng là một lý do hợp lý để Thúy Vân có trách nhiệm thực hiện những mong
muốn dở dang của chị. Đồng thời, nàng Kiều cũng thể hiện sự chua xót, đắng cay khi
nhắc đến cái chết "Chị dù thịt nát xương tan / Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây".
Dường như khi chọn con đường bán mình chuộc cha, Kiều đã xác định về tương lai
mịt mờ, dự cảm không lành về số phận nghiệt ngã. Nếu không có những chuyện tai
bay vạ gió, không có những uẩn khúc gia đình thì có lẽ giờ đây, Kiều đã được hạnh
phúc với tình yêu của mình. Lời nói không chỉ thể hiện cái đớn đau khi phải chia lìa
gia đình mà còn chứa đựng cả những tủi thân, buồn rầu khi không được ở bên người
thương. Trong hoàn cảnh ấy, nàng chỉ biết nhờ đến em, để sau này khi "thịt nát xương
tan", nàng vẫn có thể ngậm cười nơi chín suối, nhìn em mình và người yêu được hạnh
phúc vẹn toàn, được thực hiện trọn vẹn lời hứa với Kim Trọng. Trao đi mối duyên mà
nàng hằng khao khát, nâng niu là điều đau đớn đến tột cùng, nhưng Kiều đã chấp nhận
chọn chữ hiếu để cứu cha, chỉ một lòng mong em hãy đồng ý giúp nàng nối tiếp mối
duyên tình để không phụ lòng Kim Trọng.
Trao cho em những vật đính ước, Kiều thủ thỉ tâm tình với em những lời chân thành nhất:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền, những kỉ vật của mối tình
đầu thanh thuần, ngây thơ. Nhìn những kỉ vật ấy, lòng người con gái sao tránh khỏi
bồi hồi, nhớ nhung. Trong hoàn cảnh ấy, khi Kim Trọng đang ở xa, không hề hay biết
tin tức gì, bản thân chuẩn bị một cuộc đời lưu lạc, chẳng rõ tương lai đi đâu về đâu, sự
xót xa, đau đớn lại dâng đến tận cùng. Những kỉ vật ấy thật khó lòng buông bỏ, vì thế
mà câu "Duyên này thì giữ, vật này của chung" có phần lạ kì, ngập ngừng. Duyên đã
trao đi rồi nhưng hiện vật thì chẳng nỡ lòng nào chối bỏ, nên Kiều vẫn muốn giữ đó
làm "của chung", của cả hai chị em. Câu nói có một chút con gái, một chút ích kỉ
nhưng cũng dễ hiểu thôi, chẳng cô gái nào muốn san sẻ tình yêu của mình với ai khác.
"Dù em nên vợ nên chồng / Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên", một câu dặn dò
của Thúy Kiều với em gái, rằng dù em thay chị kết duyên cùng Kim Trọng, nhưng bản
thân chị là người yêu của chàng, chỉ mong đến ngày hạnh phúc, em đừng quên tấm
lòng chị, số phận bạc bẽo đưa đẩy chị đến đường cùng chứ thật tâm chẳng hề muốn
rời xa. Có người cho rằng, Kiều là một cô gái ích kỉ, nhỏ nhen, rành rành thân phận
nhờ vả mà còn đòi hỏi, yêu cầu. Nhưng nhìn về mặt tình cảm, sự ngập ngừng, không
rõ ràng từ Kiều cũng chỉ bắt nguồn từ tình yêu chân thành, từ tấm lòng người con gái
lần đầu biết yêu mà lại buộc phải chia lìa. Chỉ còn vài kỉ vật làm của tin, làm hiện vật
chứng minh tình cảm, chẳng ai cam tâm trao cho người khác, kể cả đó là ruột thịt, máu mủ.
Trao lại kỉ vật cho em nhưng tâm hồn Kiều vẫn không thể nguôi ngoai, thật tâm vẫn
chưa hề quên đi Kim Trọng:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan.
Lời nói mang một sự đau lòng não nề, Kiều tự coi mình là kẻ đoản mệnh, những câu
từ thể hiện Kiều đã ở một thế giới khác, không thể trở về với cuộc sống bình thường,
không được đoàn tụ với gia đình. Sống trong một xã hội bất công, nơi con người sẵn
sàng hãm hại nhau vì đồng tiền, Kiều không dám nghĩ đến việc mưu cầu cho hạnh
phúc cá nhân mà chỉ dám mong được chứng kiến hạnh phúc của em gái và người yêu.
Sự bế tắc và khổ đau trong lòng nàng chất chứa trong từng câu nói. "Lò hương, ngọn
cỏ lá cây, hiu hiu gió, hồn, nát thân, cách mặt khuất lời, người thác oan", hàng loạt
những từ mang âm hưởng cô tịch, chết chóc như một vết cứa vào lòng người đọc.
Người con gái tuổi mới mười tám đã nghĩ đến cái chết bi kịch, cái chết oan khuất, bế
tắc. Nhưng bản thân người con gái ấy lại chỉ mong mỏi được thanh thản, có thể giũ bỏ
hết tình duyên dương thế. Đau xót thay cho một số phận tài sắc vẹn toàn nhưng sớm
rơi vào lam lũ, bi kịch, chấp nhận bán mình chuộc cha nhưng vẫn nghĩ đến nghĩa tình, thề hẹn.
Tâm sự với em, Thúy Kiều cũng không quên gửi lời tới Kim Trọng với những dòng tâm trạng tha thiết:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Tâm sự với Kim Trọng nhưng thực chất, Kiều chỉ được độc thoại với chính mình, vì
người nàng yêu đang ở phương xa, đâu hay biết gì tình thế của nàng hiện tại. Nàng ý
thức được số phận bạc bẽo bằng những điển cố "gương gãy", "trâm tan", những hình
ảnh gợi sự chia lìa đôi lứa. Xét đến cùng, mục đích của cuộc trao duyên này là do mối
tình nặng nghĩa với Kim Trọng chưa thể kết thúc, nên trong những lời cuối gửi đến
chàng, Kiều luôn muốn nhắc lại những hoài niệm tươi đẹp của hai người trước khi
buộc phải tự mình cắt đứt mối duyên chẳng được bao lâu. "Muôn vàn ái ân" nay đã trở
thành quá khứ, sự thật giờ chỉ còn "tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!".Cùng với nỗi
tiếc nuối về tình yêu, Kiều còn khóc thương cho số phận của mình. Phận nữ nhi chân
yếu tay mềm trong xã hội xưa đã bị rẻ rúng, giờ đây lại còn "bạc như vôi", "nước chảy,
hoa trôi lỡ làng", sự bất lực, phó mặc số phận vì không có tiếng nói, không có quyền
tự quyết định . Tiếng gọi xé lòng " Hỡi Kim Lang!" thay cho một lời than, tiếng khóc
tức tưởi. Cách gọi "lang" là cách gọi chồng trong xã hội xưa, cho thấy tình cảm của
Thúy Kiều vô cùng chân thành, thủy chung, dù có bất kì hoàn cảnh nào thì lời thề
duyên lứa của nàng đêm ấy vẫn vẹn nguyên. Có thể, người đọc cảm thấy một chút phi
lý trong câu nói của Kiều, rằng tại sao đã trao duyên với em rồi nhưng vẫn gọi Kim
Trọng là "lang", là chồng, Phải chăng, trong dòng hồi tưởng về những giây phút ở
cạnh nhau, Thúy Kiều được tạm quên đi những đớn đau nàng phải đối mặt, nhưng
cảm giác tội lỗi của mình với chàng Kim, chỉ còn nàng với chàng, hai người yêu nhau
say đắm, là vợ chồng. Câu gọi bật ra vừa để thể hiện ước nguyện được hạnh phúc của
Thúy Kiều, vừa thể hiện tấm lòng nặng tình nặng nghĩa của nàng, một nét đẹp tâm
hồn của người phụ nữ trong xã hội xưa.
Đoạn trích "Trao duyên" đã khái quát một cách sâu sắc nhất những cung bậc cảm xúc
của Thúy Kiều khi buộc phải rời xa người yêu, đành trao duyên lại nhờ cậy em gái
tiếp tục lời hứa với Kim Trọng. Một người phụ nữ yêu hết mình, thủy chung da diết,
lại khéo léo, sắc sảo nhưng bạc mệnh, long đong. Bằng bút pháp nghệ thuật khai thác
tâm lý nhân vật, để nhân vật tự bộc lộ cảm xúc qua hành động, cử chỉ, tác giả đã
truyền đạt tới người đọc niềm thương xót cho bi kịch tình yêu tan vỡ của nàng Kiều.
Tâm trạng nhân vật được đặc tả qua những chi tiết đắt giá, thể thơ lục bát uyển chuyển,
mềm mại cùng những từ ngữ mạnh, gợi sự xót xa đã làm rung động trái tim bạn đọc
với những nỗi niềm của nhân vật.
Qua "Trao duyên", Nguyễn Du cũng gửi gắm sự tôn trọng, nâng niu những con người
đẹp, biết trọng chữ hiếu, vẹn chữ tình, đồng thời lên án xã hội bất công, bạc bẽo đã
đẩy con người vào cửa ải chia lìa, chia cắt hạnh phúc lứa đôi của những người xứng
đáng được hưởng hạnh phúc.
Phân tích Trao duyên ngắn gọn - Mẫu 2
Nhắc đến Nguyễn Du - đại thi hào của dân tộc Việt Nam, người ta sẽ nhớ ngay đến
“Truyện Kiều” - kiệt tác văn chương của nhân loại. Những tác phẩm của Nguyễn Du
nói chung và thiên “Truyện Kiều” nói riêng đã đóng góp một phần quan trọng đối với
nền văn học, văn hóa nước nhà. Đoạn trích “Trao duyên” được trích trong tác phẩm từ
câu thơ 723 đến câu 756, nói về bối cảnh Thúy Kiều trao duyên lại cho Thúy Vân, nhờ
Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Đây là một trích đoạn đầy nghịch cảnh
éo le và bi kịch, gây sự xúc động mạnh trong lòng người đọc.
Trong đoạn trích, cái duyên ở đây chính là mối duyên tình yêu giữa Thúy Kiều và
Kim Trọng, thế nhưng vì hoàn cảnh gia đình rơi vào bi kịch, Thúy Kiều phải bán mình
chuộc cha và em, không còn có thể giữ mối duyên đó với chàng Kim được nữa. Thúy
Kiều đành đem duyên đó của mình trao lại cho em gái là Thúy Vân, ngưỡng mong em
sẽ chấp nhận và thay mình trả mối nghĩa tình cho chàng Kim. Mở đầu là câu thơ mang
nặng sự nhờ vả, trông cậy của Kiều dành cho Vân:
Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Từ “cậy” vừa thể hiện sự tin cậy lại vừa nhấn mạnh Vân là sự lựa chọn duy nhất, hợp
lý nhất trong hoàn cảnh đó của Kiều, kết hợp với hành động “lạy”, “thưa” dường như
Kiều đang trong trạng thái đau đớn, trong tình cảnh của kẻ mang ơn. Kiều tuy là chị
nhưng lại quỳ lạy, thưa gửi với em của mình, có phần trái ngược với giáo lý phong
kiến nhưng lại đúng với hoàn cảnh éo le, trước khi nhờ cậy Kiều đã kính cẩn, trạng
trọng coi Vân như người ân nhân của mình. Điều đó cũng dự báo việc nàng nhờ cậy là
việc rất quan trọng, khó khăn, chính vì vậy Kiều phải hết lòng giãi bày, tâm sự và
thuyết phục Vân hiểu và chịu cho mình:
Giữa đường đứt gánh tương tư…
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Trong đoạn thơ, Kiều nhắc đến “mối tơ thừa” chính là mối tơ tình duyên của nàng với
chàng Kim, đối với Vân mối tình duyên đó chẳng có ý nghĩa, chỉ là thừa thãi bởi vốn
Thúy Vân và Kim Trọng đâu có tình cảm gì. Phải mang vào mình mối thừa ấy là một
thiệt thòi của Vân, biết vậy nhưng Kiều cũng chỉ “mặc em”, bởi nàng cũng không có
cách nào, không có lựa chọn nào khác. Nàng còn kể về mối tình với chàng Kim để
mong em hiểu cho nỗi lòng, nghĩa tình sâu nặng giữa mình và Kim Trọng, nếu không
trả khó có thể trọn vẹn, chỉ bởi sóng gió ập đến gia đình mà nay đành phải đứt gánh
giữa đường. Thúy Kiều rất thông minh khi những lí lẽ nàng thuyết phục Thúy Vân
vẹn tròn cả lý lẫn tình, nàng nhắc đến tình máu mủ ruột già mong em hãy bằng lòng
chấp nhận, chính điều đó đã khiến cho Thúy Vân không thể từ chối lời thỉnh cầu của
chị. Bước sang phân cảnh Kiều trao lại kỉ vật tình yêu với Kim Trọng cho Thúy Vân,
ta thấy được một tình yêu đẹp, chân thành mà sâu sắc giữa hai người:
Chiếc vành với bức tờ mây…
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Những kỉ vật như chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền giờ đây trở
thành của chung ba người, tuy trao đi kỉ vật nhưng lòng Kiều vẫn giữ mãi ân tình,
không quên được những kỉ niệm với người yêu, điều đó khiến nàng đau xót như mất
đi những phần quan trọng của cuộc sống.
“Mai sau dù có bao giờ…
Rưới xin giọt nước cho người thác oan”
Kiều nhiều lần nhắc đến cái chết trong những lời của mình, một phần muốn chắc chắn
rằng Thúy Vân đã nhận lời, nàng khi đã bán mình chuộc cha và em cũng khó có thể
biết được số phận trôi dạt về đâu, sống chết không rõ ra sao. Kiều dù chết đi vẫn mong
người ở lại hãy nhớ đến mình, mong muốn có được sự đồng cảm của mọi người, và
đến khi chết nàng vẫn nặng lời thề với Kim Trọng.
“Bây giờ trâm gãy bình tan…
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Kiều quay về thực tại, chẳng còn kỉ niệm tình yêu ngọt ngào nữa, giờ đây là hiện thực
dở dang, lỡ làng, tan vỡ, bây giờ tình duyên của nàng đã mất, cuộc đời cũng sắp phải
giao cho người khác, số phận nàng “bạc như vôi”. Nàng gọi tên chàng Kim trong nỗi
thổn thức, xót xa và như một lời từ biệt cuối cùng: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang”,
nàng đã phụ tấm lòng chàng Kim, nàng tuyệt vọng dưới sự đày đọa của hoàn cảnh và số phận.
Thông qua việc phân tích bài trao duyên, ta không chỉ thấu hiểu được bi kịch tình yêu
và số phận của Thúy Kiều mà còn thấy được ở đó hiện lên nhân cách cao đẹp của
nàng, một người con gái tài sắc vẹn toàn, giàu đức hy sinh và giàu lòng vị tha. Qua
nhân vật Thúy Kiều, nhà thơ Nguyễn Du cũng bày tỏ sự cảm thông, xót xa trước
những bất hạnh và hiện thực bất công của cuộc đời Kiều.
Phân tích Trao duyên - Mẫu 3
Duyên phận là của trời cho, không được cưỡng cầu và càng không nên ép buộc, nhờ
vả. Thế nhưng Thúy Kiều trong đoạn trích "Trao duyên" (Truyện Kiều) của Nguyễn
Du đã cho mình cái đặc quyền đi "nhờ", "cậy" duyên như vậy. Tác giả đã phân tích
thành công tâm trạng chua xót, đầy đớn đau của Thúy Kiều khi phải trao mối duyên
đầu với Kim Trọng cho em gái là Thúy Vân. Một nghịch cảnh trớ trêu, bất hạnh.
Đã gọi là duyên thì đến rất tự nhiên, đi tìm cũng không được, duyên đến thì giữ,
duyên đi thì buông tay. Đó là duyên phận của mỗi người, mỗi cuộc đời khi gặp gỡ
nhau. Trong tình yêu thì chữ ' duyên" này càng lớn lao và quan trọng. Nhưng Thúy
Kiều trong đoạn trích "Trao duyên" đã phải mang chữ duyên của mình gửi nhờ một người khác.
Nguyễn Du đã chua xót khi khắc họa tâm trạng của Thúy Kiều lúc này:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Chỉ với hai câu thơ nhưng biết bao chua xót và dằn vặt, biết bao nước mắt và đau đớn.
Từ "cậy" được đặt lên đầu câu diễn tả hoàn cảnh ngặt nghèo, khó thưa, khó gửi của
Thúy Kiều. Vốn dĩ Thúy Kiều là chị, sẽ không có chuyện "thưa", "lạy" Thúy Vân bất
cứ việc gì; nhưng trong hoàn cảnh này, nàng đã phải làm những việc tưởng chừng như
nghịch lý như vậy. Mối duyên với chàng Kim là mối duyên trời cho, nhưng số phận
của Thúy Kiều giờ nổi trôi, bấp bênh, nàng không muốn phụ chàng, nên đã muốn cậy
nhờ em gái nối tiếp mối duyên dở dang ấy. Câu thơ như cứa vào lòng người đọc nỗi
chua xót cùng cực. Từ "cậy" là điểm nhấn, là sự thành công về mặt ngôn ngữ của Nguyễn Du.
Thúy Kiều bắt đầu giãi bày nỗi lòng của mình bằng những câu thơ như dao cắt:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Đến đây thì người đọc đã thực sự hiểu hết ý nghĩa của từ 'cậy", nó không còn là nhờ
nữa mà mang tính chất ép buộc, bắt buộc phải làm. Thúy Kiều hiểu được hoàn cảnh,
hiểu được nỗi đau của bản thân mình. Nàng đã hi sinh chữ tình vì chữ hiếu, quyết phụ
chàng Kim, chứ không thể phụ cha mẹ. Một người con gái yếu đuối, mỏng manh
nhưng rất mực hiếu thảo. "Gánh tương tư" đã đứt gánh, mối duyên đã vỡ, nhưng Kiều
không muốn chàng Kim đau lòng, nàng chỉ mong Thúy Vân có thể nối lại mối duyên
này. Mặc dù "trao duyên" cho em gái nhưng lòng nàng đau như cắt. Những hẹn ước,
những mong chờ, những kỉ niệm cứ như xát muối vào trong trái tim người con gái mỏng manh ấy.
Thúy Kiều đã rất khéo léo khi 'cậy" duyên em gái, đã đem chuyện máu mủ để ép Thúy
Vân nên Thúy Vân không thể từ chối được:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương tan
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Thúy Kiều và Thúy Vân đều đang "đến tuổi cập kề'' nhưng nàng lại nhắn nhủ với
Thúy Vân "ngày xuân em còn dài", có thể gánh tiếp mối duyên với chàng Kim, với
người mà Kiều yêu thương. Một sự chua xót đến đau lòng khi Kiều nhắc đến cái chết,
một dự liệu chẳng lành hay là một cuộc đời sẽ chẳng bình an mà nàng sắp phải mang.
Thúy Vân có thể giúp đỡ thì dù mai này có chết Kiều vẫn "ngậm cười chín suối". Qua
đây chúng ta thấy được tấm lòng, sự lương thiện, sống và yêu hết lòng mình.
"Trao" đi mối duyên mà bản thân nâng niu, trân trọng là điều đau đớn, chua xót mà
Kiều phải gánh chịu. Nhưng đây là con đường Kiều phải chọn để đi, vì không còn lựa
chọn nào khác nữa. Kiều mong em gái có thể giữ lấy mối duyên mà cô phải buông bỏ,
để không phụ tấm lòng của Kim Trọng.
Và dường như cái chết càng hiện rõ nét trong những lời nói của Kiều:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đèn nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Sống trong xã hội nhiều bất công, những người đáng lẽ ra phải được hưởng một cuộc
sống hạnh phúc trọn vẹn lại phải lựa chọn con đường đi nhiều nước mắt. Cái chết
không phải là kết thúc đối với Kiều, vì nàng còn mang nặng món nợ lớn với đời, với
Kim Trọng. Thúy Kiều chỉ có thể bất lực với tình yêu của mình, mong Kim Trọng có
thể hiểu được. Sự bế tắc và đau khổ trong lòng Thúy Kiều dường như chồng chất và
đè nén không thể thoát ra được. Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ có sát khí mạnh,
cứa vào lòng người đọc một nỗi đau tận trái tim. Thương cho cô gái yếu đuối, với trái
tim yêu chân thành nhưng lại rơi vào bế tắc cùng cực như vậy.
Đoạn trích "Trao duyên" thực sự khiến người đọc không kìm được cảm xúc khi nghĩ
đến thân phận và nỗi đau mà người con gái hiếu thảo ấy phải gánh chịu. Xã hội bất
công, lòng người bạc bẽo đã đẩy những phận người thấp cổ bé họng vào con đường
không lối. Thúy Kiều và mối tình đứt gánh ấy là minh chứng cho điều đó.
Phân tích Trao duyên - Mẫu 4
Bằng sự xót thương, đồng cảm cùng tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đại thi hào Nguyễn
Du đã xây dựng thành công nhân vật Thúy Kiều - hình tượng đại diện cho vẻ đẹp, số
phận đau khổ, bi đát của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Trích đoạn “Trao
duyên” từ câu 723 đến câu 756 của tác phẩm đã thể hiện rõ điều này. Đây là những
câu thơ có vị trí “bản lề”, đánh dấu sự mở đầu, bước ngoặt định mệnh của 15 năm lưu
lạc trong cuộc đời của Thúy Kiều.
Trước hết, Thúy Kiều đã thuyết phục Thúy Vân bằng những hành động, lời nói, cử chỉ
sâu sắc, tinh tế cùng lí do trao duyên hợp tình, hợp lí. Là người con gái thông minh,
nhạy bén, khi trao duyên cho em, Thúy Kiều đã có những lời lẽ, hành động đặc biệt khác thường:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.”
Tác giả đã sử dụng hàng loạt từ ngữ miêu tả hành động để tái hiện không gian của sự
kiện “trao duyên”: “cậy” thể hiện sự nhờ vả, tin cậy, “chịu lời” mang sắc thái bị nài ép
mà chấp nhận, “mặc” mang ý nghĩa phó thác, phó mặc. Qua hệ thống ngôn từ tinh tế,
khéo léo, sắc sảo đó, chúng ta có thể thấy được Kiều là một người hết sức khôn khéo.
Hành động của nàng cũng thể hiện sự trang trọng: em - “ngồi lên”, chị - “lạy”, “thưa”.
Những từ ngữ trên đã tái hiện thành công không khí trang trọng của sự kiện “trao
duyên”, đồng thời Kiều cũng thấu hiểu rằng nàng là người chịu ơn, mang ơn đối với
Thúy Vân. Để thuyết phục em, Kiều đã gợi lại tình yêu tươi đẹp của mình:
Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Tác giả đã điểm xuyết những kỉ niệm của mối tình Kim - Kiều khắc cốt ghi tâm qua
những hình ảnh ước lệ: “quạt ước”, “chén thề”. Nhưng đứng trước bi kịch tình yêu tan
vỡ “đứt gánh tương tư”, nàng đã thuyết phục em bằng những lí lẽ: “Hiếu tình khôn lẽ
hai bề vẹn hai?”. Vì bán mình chuộc cha, nàng đã phần nào làm tròn chữ hiếu với cha
mẹ, nhưng lại đánh mất mối tình cùng Kim Trọng. Không chỉ dùng câu chuyện tình
yêu để lay động em gái, nàng vin vào tuổi xuân của em và tình chị em máu mủ để trao
lại mối tình còn dang dở: “Ngày xuân em hãy còn dài/ Xót tình máu mủ, thay lời nước
non”. Như vậy, qua những câu thơ đầu tiên, chúng ta có thể thấy được Kiều đã đưa ra
những lí lẽ thuyết phục, thấu tình đạt lí, thể hiện nàng là người con gái tinh tế, sắc sảo.
Sau khi lay động Thúy Vân bằng cả lí trí và trái tim, Thúy Kiều trao kỉ vật cho em:
Chiếc Hoa, Bức Tờ Mây, Phím Đàn, Mảnh Hương Nguyền. Tác giả đã sử dụng những
hình ảnh tượng trưng, ước lệ về kỉ niệm tình yêu sâu nặng, thề ước thiêng liêng giữa
Kim Trọng và Thúy Kiều. Chúng ta có thể cảm nhận được, những kỉ vật ấy đã trở
thành sinh mệnh của tình yêu, sinh mệnh của sự sống trong trái tim Thúy Kiều:
“Duyên này thì giữ, vật này của chung”. “Của tin” là tín vật minh chứng cho tình yêu
giữa Kim và Kiều, “của chung” là của Kim Trọng - Thúy Vân - Thúy Kiều. Nói về
điều này, Hoài Thanh đã viết “Của chung là của ai. Bao nhiêu đau đớn trong hai tiếng
đơn sơ thế!”, “Đó là của chung, của chàng, của chị, hay còn là của em… Đó là của tin
để lại cho nhau. Hồn chị gửi cả trong ấy”. Với tâm trạng đầy tiếc nuối, xót xa, cách
Thúy Kiều trao kỉ vật cho em đầy sự nâng niu, trân trọng. Nàng chợt nhận ra trao đi kỉ
vật là vĩnh biệt tình yêu. Biết bao nhiêu đau đớn, biết bao nhiêu xót xa thể hiện qua
hai từ “của tin”, “của chung”. Kiều như muốn níu giữ lại hương vị tình yêu trong niềm
tiếc nuối vô hạn. Cấu trúc câu thơ thể hiện sự mâu thuẫn giằng xé giữa lí trí và tình
cảm: vừa níu giữ, vừa dứt khoát gửi trao mối tình dang dở: gửi trao những kỉ vật
thiêng liêng và trao tình duyên cho em. Biết bao tiếc nuối, xót xa được thể hiện qua
tâm trạng của Thúy Kiều: kỉ vật gợi kí ức, kí ức gợi kỉ niệm, trao đi kỉ vật nhưng vẫn
không quên được mối tình sâu sắc đó.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Sau khi trao đi kỉ vật tình yêu và hồi tưởng lại những kí ức tươi đẹp trong quá khứ,
Kiều đau đớn, xót xa quay trở về thực tại. Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
nội tâm. Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng một loạt từ ngữ, hình ảnh, điển tích với tần
suất dày đặc: “đốt hương”, “ngọn cỏ”, “lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn nặng lời thề”, “nát
thân bồ liễu”, “dạ đài”, “cách mặt khuất lời”, “người thác oan” để thể hiện sự tự ý
thức của Thúy Kiều về bi kịch tình yêu dang dở, tan vỡ và bi kịch thân phận trái
ngang, lênh đênh trôi nổi. Kiều nói với Vân như nói với chính mình. Hàng loạt từ ngữ
gợi tả về cái chết được sử dụng để thể hiện dường như với nàng lúc này, viễn cảnh
tương lai thật mịt mờ, xa xăm. “Mai sau dù có bao giờ” - câu thơ như một tiếng than,
lại như một câu hỏi xoáy vào tâm can, vừa thể hiện sắc thái lo lắng, vừa hi vọng,
nhưng hi vọng vừa lóe lên chợt hóa thành ảo vọng: “Đốt lò hương ấy, so tơ phím này”.
Những kỉ vật tình yêu hạnh phúc trong quá khứ trở thành nỗi đau khắc sâu vào tâm
trạng thực tại của mình. Kiều nhận ra tương lai thật mịt mù, mơ hồ, nàng tưởng tượng
ra cái chết trong tương lai, linh hồn cũng không siêu thoát được vì vẫn mang nặng lời
thề với Kim Trọng: “Rưới xin giọt nước cho người thác oan”. Kiều nghĩ đến viễn cảnh
tang thương khi mất đi tình yêu, bởi với nàng, mất đi sự tự do là mất đi lí tưởng, mất
đi tình yêu chính là mất đi tri kỉ. Say đắm trong tình yêu, Kiều đã cột chặt sinh mệnh
của mình cùng mối tình tươi đẹp đó. Trong khoảnh khắc ấy, chúng ta có thể cảm nhận
được tận sâu nỗi đau trong trái tim của nàng. Tuy nhận ra bi kịch, tuyệt vọng và đau
đớn, nhưng Kiều vẫn khao khát được trọn vẹn trong tình yêu ấy.
Càng đi sâu vào dòng độc thoại nội tâm, nàng Kiều càng chìm sâu vào bi kịch, nàng
không còn tỉnh táo nữa mà tâm sự với Kim Trọng trong nỗi tuyệt vọng:
“Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Nàng quay trở về thực tại và ý thức sâu sắc về bi kịch số phận qua hàng loạt thành
ngữ: “trâm gãy gương tan” chỉ sự chia lìa, tan vỡ, “phận bạc như vôi” nhấn mạnh sự
bạc bẽo, bất hạnh, “nước chảy hoa trôi” thể hiện số phận long đong, chìm nổi. Trong
trích đoạn “Trao duyên”, chúng ta có thể thấy được diễn biến tâm lí phức tạp của nhân
vật. Thúy Kiều không chỉ đối thoại với Thúy Vân khi trao duyên, đối thoại với chính
mình khi hồi tưởng về quá khứ, ngẫm về số phận mà còn đối thoại với chàng Kim
trong sự thức tỉnh về bi kịch hiện tại: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân”. Đó không phải
là cái lạy của kẻ bề dưới đối với bề trên, càng không phải là cái vái lạy của kẻ chịu ơn,
mà là cái lạy tạ lỗi nhưng cũng là lời vĩnh biệt tức tưởi nghẹn ngào, thể hiện Thúy
Kiều hướng về Kim Trọng trong sự xót xa, cầu khẩn. Nàng tưởng tượng chàng Kim
đang ở trước mắt và bất giác chìm sâu vào tuyệt vọng:
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Hai câu cuối vỡ òa thảng thốt, Kiều đã không kìm nén được lòng mình mà thốt lên lời
than vãn bi ai. Các từ cảm thán “ôi”, “hỡi’ đã nhấn mạnh nàng gọi tên Kim Trọng hai
lần trong sự chua xót, bẽ bàng. Đặc biệt, từ “phụ” đã nhấn mạnh nhân cách cao đẹp
của Thúy Kiều. Dù là người mệnh bạc, bán mình chuộc cha để làm tròn chữ hiếu
nhưng Kiều tự nhận mình là kẻ “phụ bạc”. Nhịp thơ 3/ 3 và 2/2/2 như tiếng nấc nghẹn
ngào thể hiện sự đau đớn. Đoạn thơ đã làm nổi bật hơn nữa vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách
cùng tình yêu sâu nặng của Thúy Kiều.
Như vậy, qua đoạn trích “Trao duyên”, chúng ta có thể thấy được tình yêu sâu nặng
cùng bi kịch của Thúy Kiều. Đối với nàng, tình và hiếu luôn thống nhất chặt chẽ. Tất
cả đã được thể hiện thông qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế của đại thi hào Nguyễn Du.
Phân tích Trao duyên - Mẫu 5
Đoạn trích Truyện Kiều này có nhan đề "Trao duyên" gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu
756) được in trong sách giáo khoa môn Văn lớp 10. Đây là một trong những đoạn thơ
mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị
bắt do có kẻ vu oan, Thúy Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót
cho quan lại cứu cha và em
Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Mã Giám Sinh, Thuý Kiều nhờ cậy Thuý Vân
thay mình trả nghĩa, lấy Kim Trọng.
Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc
mới hiểu được, "Trao duyên", ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân
vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với
người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ
không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao
duyên thật sống động. "Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân" thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng
"để lòng thị phụ tấm lòng với ai". Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em:
"Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em"
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ "cậy", tuyệt vời chính xác.
Từ "cậy" hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng là "lạy". Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp
chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng.
Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình thường
của Thúy Vân không bao giờ biết được:
"Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai"
Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu – tình là hai giá trị
tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn
những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều
đã cay đắng lựa chọn chữ "hiếu". Mà chỉ có ba điều tồn tại: "Đức tin, hi vọng và tình
yêu, tình yêu vĩ đại hơn cả". Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng
thấm thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi
lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"
Hai chị em đều "xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" vậy mà nàng nói "ngày xuân em
hãy còn dài" đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim
Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn lao.
Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim:
"Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung"
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện
ra đó, cho nên Thúy Kiều trao "chiếc thoa với bức tờ mây" cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì, nàng trao duyên, trao cả những kỷ vật
tình yêu cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì
có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu
trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật và còn
dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
"Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tờ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai."
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu "thịt nát xương mòn" thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với "ngọn cỏ lá
cây", với "hiu hiu gió..." Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy
Vân mà than khóc với Kim Trọng:
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng."
Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách
mình là "phận bạc", là "hoa trôi", những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết
thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã "phụ
chàng". Chính tâm lý mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời:
"Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Đoạn "Trao duyên" trong "Truyện Kiều" là một khúc "đoạn trường" trong thiên "Đoạn
trường tân thanh". Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện
của Thanh Tâm Tài Nhân là một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt vời,
ông đã dựng lại đoạn "Trao duyên" hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập hai
tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người của
phi thường. Trong sự kiện "sóng gió bất kì" này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng
đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình
nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều
thì lại càng đau đớn hơn.
Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể
nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn "trao duyên",
chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh,
có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào
đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên
Đường Chủ nhân là khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của
Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi,
những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo?
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 6
Đoạn Trao duyên có một vị trí đặc biệt trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Về
phương diện cốt truyện, đoạn thơ đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời nhân vật
chính – Thúy Kiều mở đầu cuộc đời lưu lạc, đau khổ. Về phương diện chủ đề, đoạn
thơ thể hiện sâu sắc chủ đề bi kịch tình yêu tan vỡ. Về phương diện nghệ thuật, đoạn
thơ chứng minh tài nghệ tuyệt vời của Nguyễn Du trong miêu tả nội tâm nhân vật.
Tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn Trao duyên diễn biến qua ba chặng như ba nấc
thang tâm lí. Mở đầu là những lời yêu cầu khẩn thiết của Kiều đối với Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Hai câu thơ cho thấy Kiều vừa khẩn khoản, vừa thiết tha vừa như đặt cả niềm tin và hi
vọng vào Vân. Trong bao từ biểu đạt sự nhờ vả: nhờ, mượn, phiền,... Nguyễn Du chọn
từ cậy. Phải chăng vì chỉ từ cậy mới hàm chứa nội dung thông báo nhờ và tin? Lại nữa
tại sao là chịu lời mà không phải là nhận lời, tại sao "chịu lời" trước rồi mới "thưa"
sau? Nếu Kiều trình bày sự việc trước thì chắc gì Vân đã chịu lời. Nói "nhận lời" là đã
có ý kiến của người nhận, là có sự tự nguyện của Vân. Nhưng Vân nào đã biết chuyện
gì mà tự nguyện hay không. Do vậy phải "chịu lời" vì đây là việc Kiều chủ động nài
ép Vân, đưa Vân vào hoàn cảnh không nhận không được. Ở đây, Kiều hiểu hoàn cảnh
khó xử của mình và càng hiểu hoàn cảnh khó xử của em gái. Cũng qua đây cho thấy
Nguyễn Du là thi sĩ thật "sâu sắc nước đời"
Thúy Kiều đã không quá dài lời về hoàn cảnh của mình. Những việc vừa xảy ra ai
chẳng rõ. Những bất hạnh của Kiều thì chỉ Vân mới là người thấu hiểu. Bởi chính Vân
là người chứng kiến cả hai biến cố của đời Kiều "Khi gặp chàng Kim" và khi "sóng
gió bất kì". Các mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy Kiều lúc này không phải là giữa
hiếu và tình. Giải quyết mâu thuẫn giữa hiếu và tình. Kiều đã làm xong, tuy khó khăn
nhưng dứt khoát và có phần thanh thản: "làm con trước phải đền ơn sinh thành" Vả lại,
nếu là chuyện chữ hiếu thì Kiều đâu phải"cậy, "lạy", phải "thưa" với cô em gái của
mình; việc gả duyên với Vân là trách nhiệm và nghĩa vụ.
Mâu thuẫn chính được thể hiện qua đoạn trích là mâu thuẫn giữa tình yêu lứa đôi và
hạnh phúc bị tan vỡ. Sự dở dang, tan vỡ này được thể hiện qua một câu thơ mang sắc
thái thành ngữ: "Giữa đường đứt gánh tương tư". Hình ảnh ẩn dụ "giữa đường đứt
gánh" ta đã từng gặp trong ca dao. Thì ra, những đau khổ của Thúy Kiều nào có xa lạ
với những số phận của người phụ nữ xưa. Tuy nhiên, bi kịch tình yêu tan vỡ của Kiều
vẫn là đau đớn hơn bất cứ thiên tình sử nào trong văn học trước đó.
Sau tám câu mở đầu Kiều nói với Vân về nỗi bất hạnh của mình, về sự thấu hiểu hoàn
cảnh khó xử của em, Kiều vẫn thuyết phục Vân thay nàng trả nghĩa cho Kim Trọng.
Kiều nói với Vân bằng những lời tâm sự biểu hiện qua các câu thơ mang phong cách
thành ngữ:"tình máu mủ". "lời nước non", "thịt nát xương mòn", "ngậm cười chín
suối" Những lời tâm sự có tác dụng thuyết phục. Kiều ràng buộc Vân bằng tình máu
mủ lại khẩn cầu em cho mình chút vui, chút ơn chút thơm lây vì đức hi sinh cao đẹp của em:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Vừa thuyết phục vừa ràng buộc , nhưng vẫn khẩn cầu. Kiều đã được mục đích nhờ
Vân thay mình trả nghĩa Kim Trọng.
Nhưng chính lúc này mục đích đạt được là lúc bi kịch tình yêu của Kiều lên tới đỉnh
cao, Kiều biết Thúy Vân lấy Kim Trọng là để trả nghĩa, là do "xót tình máu mủ" chứ
không phải là vì"lời nước non" cho nên Kiều chỉ có thể trao duyên cho Vân, còn tình
yêu nàng đâu có dễ trao. Nàng tìm cách trở về với tình yêu bằng hai con đường: để lại
kỉ vật linh hồn bất tử.
Kiều đã trao lại cho Vân những kỉ vật. Nàng những mong bằng kỉ vật này nàng sẽ hiện
diện trong tình yêu. Những kỉ vật thiêng liêng và đẹp đẽ."Chiếc thoa với bức tờ mây",
"phím đàn với mảnh hương nguyền". Kỉ vật đẹp đẽ bởi nó gắn liền với những ngày
đẹp nhất của đời Kiều. Kỉ vật thiêng liêng bởi nó là riêng – chỉ riêng cho Kiều và Kim
Trọng. Kiều không muốn trao cho người thứ ba, dù đó là em mình. Bao xót xa trong
một từ "của chung". "Duyên này thì giữ, vật này của chung" Bao đớn đau trong một
từ"ngày xưa" :"Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa" Hiện thực đẹp đẽ, rực rỡ
vừa mới đây thôi nay đã trở thành quá vãng. Thời gian khách thế bị phá vỡ, nhường
chỗ cho thời gian của tâm trạng. Kỉ vật còn đó mà đối với tình yêu, Kiều không hiện diện.
Kiều tìm đến con đường thứ hai, con đường trở về với tình yêu bằng linh hồn bất tử:
"Thấy hiu hiu gió thì hay chị về". Kiều những mong bằng sư trở về ấy nàng có thể trả
nghĩa Kim Trọng, nàng sẽ nhận được sự trở về ấy nàng có thể trả nghĩa Kim Trọng,
nàng sẽ nhận được sự đồng cảm của người thương "Rảy xin chén nước cho người thác
oan". Thế nhưng như có người đã nói, nếu trong thiên tình sử xưa, giọt lệ Mị Nương
rơi xuống chén trà và oan hồn Trương Chi được giải tỏa thì trong Đoạn trường tam
thanh, giọt lệ của chàng Kim không thể làm tan mối tình oan khuất của nàng Kiều.
Bởi sự trở về bằng linh hồn bất tử là sự trở về không có gặp gỡ.
Kết thúc đoạn thơ, yếu tố bi kịch không những không giảm mà còn được đẩy lên mức
cao hơn. Ấy là lúc sự trở về bằng linh hồn, sự trở về siêu hình bất lực trước những
cảm nhận thực tế của người con gái họ Vương Kiều ý thức rất rõ về cái hiện sinh cái
"bây giờ" :"trâm gãy bình tan" , "tơ duyên ngắn ngủi", "phận bạc như vôi", "nước chảy hoa trôi"
Kiều ý thức về cái hiện hữu, cái bây giờ và Kiều càng thương mình. Ai nỡ trách nàng
sau khi thương người, vì người, nàng đã tự thương mình. Nàng có một chút vì mình
cũng không phải là vị kỉ mà vẫn là rất mực vì tha: "Vì người thì hoàn toàn không chút
bóng dáng của đau thương cá nhân. Chỉ khi mọi sự "đối với người" đều xong xuôi,
bây giờ mới nhìn lại tấm lòng mình, tình cảnh mình. Nỗi đau của nàng sâu nặng biết bao
Tâm trạng bi kịch của Kiều càng sâu sắc khi trước sự chà đạp của số phận của nàng
vẫn không thôi khát vọng về một tình yêu thiết tha, vĩnh viễn: "Kể làm sao xiết muôn
vàn ái ân", "trăm nghìn gửi lạy tình quân". Sự hiện hữu của tình yêu làm Kiều quên đi
sự hiện hữu của người em gái. Đang từ đối thoại với Vân, Kiều trở về với độc thoại
nội tâm và rồi nàng như hướng tất cả về Kim Trọng.
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Trong một câu thơ tên Kim Trọng được gọi đến hai lần, kèm theo là những thán từ chỉ
sự đớn đau, tuyệt vọng "ôi", "hỡi" Câu thơ trên gắt nhịp 3/3 đọc lên như tiếng nấc, để
rồi đến câu thơ dưới nhịp thơ dài ra như một lời than.
Lời trao duyên kết thúc bằng một lời than, bằng tiếng kêu đớn đau, tuyệt vọng. Tuy
nhiên, tình yêu tan vỡ nhưng khát vọng tình yêu được khẳng định. Đó là nét đẹp cao
quý của tâm hồn Kiều, là giá trị nhân văn bền vững của Truyện Kiều. Đoạn thơ có bi
kịch, đau thương nhưng không thê lương, đen tối, trái lại vẫn ngời lên ánh sáng niềm
tin vào tình yêu, vào con người
Đoạn thơ cho ta thấy "sức cảm thông lạ lùng" của đại thi hào dân tộc đối với những
khổ đau và khát vọng tình yêu của con người. Qua Trao duyên ta còn thấy bút pháp
miêu tả nội tâm đặc sắc của tác giả Truyện Kiều.
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 7
Trong cơn gia biến, một mình Kiều đứng ra cáng đáng, thu xếp mọi việc. Băn khoăn
cân nhắc giữa hiếu và tình. Kiều thấy cả hai đều rất nặng, nhưng rồi nàng quyết định
bán mình chuộc cha. Cha và em được tha về, việc nhà đã tạm ổn, Kiều mới nghĩ đến
chuyện tình duyên. Trước hết, nàng nghĩ đến nỗi khổ của người yêu. Phận mình dù thế
nào cũng đành, nhưng nàng không đành lòng với tình cảm của chàng Kim. Phải làm
thế nào cho người yêu đỡ khổ. Suy nghĩ mãi, cuối cùng Kiều đành nhờ em gái là Thúy
Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
Đoạn trích Trao duyên thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và nhân cách cao
đẹp của Thúy Kiều, đồng thời cho thấy khả năng miêu tả nội tâm nhân vật tài tình của
Nguyễn Du. Có thể chia đoạn trích làm hai phần:
Phần 1 (từ câu 1 đến câu 14): Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
Phần 2 (từ câu 15 đến hết): Tâm trạng đau đớn của Kiều sau khi trao duyên.
Đoạn trích thực ra là một lời thoại khá dài của nhân vật Thúy Kiều và tính chất lời
thoại thay đổi theo diễn biến cảm xúc. Ở phần 1, Kiều xưng hô chị, em rõ ràng với
Thúy Vân. Đến phần 2, sau khi đã trao duyên, Kiều cảm thấy hạnh phúc của mình đến
đây là chấm dứt nên tự xưng mình là người mệnh bạc, người thác oan và Kiều như
quên rằng đang nói với em, đột nhiên chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt.
Đó là lời đối thoại đau đớn với người yêu trong tâm tưởng.
Trước sự thực phũ phàng là ngày mai nàng sẽ thuộc về tay kẻ khác, Kiều cảm thấy
như chính mình đã gây ra nỗi bất hạnh cho Kim Trọng. Nàng thương mình một nhưng
thương người yêu mười nên cắn răng chấp nhận số phận đen bạc: phận dầu, dầu vậy
cũng dầu, để nghĩ đến nỗi đau của Kim Trọng. Trong đêm gia biến: Một mình một
ngọn đèn khuya, áo đầm giọt lệ, tóc se mái sầu, Thúy Kiều sống với tâm trạng đầy sóng gió.
Nàng tự trách mình khăng khít khiến người dở dang. Đúng ra là cả hai chủ động yêu
nhau và tự nguyện gắn bó với nhau. Kiều có mặc cảm đó là vì nàng luôn nghĩ đến
người khác, ngay cả trong lúc đau thương tột bậc. Đắn đo, suy tính trước sau, nàng
thấy chỉ có một cách có thể cứu vãn phần nào cho mối lương duyên của mình, đó là
trao duyên cho em gái. Nghĩ là làm, Kiều đã trao duyên cho Thúy Vân khi cô em vô
tư ấy vừa chợt tỉnh giấc xuân.
Ngỏ chuyện riêng tư với người khác, cho dù là em gái mình thì cũng không phải là
điều dễ dàng. Hơn nữa, đây không phải là tình yêu thoáng qua mà đã thể nguyền vàng
đá, kết giải đồng tâm. Nó trở thành thiêng liêng, khó có thể đổi thay. Nay nhờ Vân
thay thế mình Kiều sợ chưa chắc Vân đã nhận lời.
Kiều lâm vào tình thế khó xử: không nói không được mà nói ra thì e ngại. Bởi thế nên
nàng đắn đo trước sau, băn khoăn, ngập ngừng mãi rồi mới thốt ra được một câu khiến
người ngoài cuộc nghe cũng phải mủi lòng:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Lời gì vậy? Đó là lời nhờ em thay chị nối duyên với chàng Kim. Đề nghị ấy thật bất
ngờ, bất ngờ ngay cả đối với Thúy Kiều bởi trước đó nàng chưa hề nghĩ đến. Suốt,
một đêm thức trắng, nàng đâu có nghĩ ra điều này mà chỉ đau khổ, dày vò. Nhưng từ
lúc Thúy Vân thức giấc và an ủi chị thì Kiều như vụt thấy một làn chớp sáng: "Đây
rồi! Cô em gái này có thể giúp mình trả món nợ tình". Đề nghị ấy cũng bất ngờ đối
với Thúy Vân bởi nó vô cùng quan trọng, ảnh hướng đến cả cuộc đời, nhận lời lấy
một người làm chồng đâu có dễ dàng, đơn giản như nhận một món quà? Vậy dựa vào
đâu mà Thúy Kiều dám đưa ra ý kiến đột ngột ấy và hầu như một mực ép Thúy Vân
phải nhận lời? Chỉ có cơ sở duy nhất là tình thương. Chị thương em, tin rằng em sẽ
nghe lời. Chị cũng biết là em thương chị, không nỡ trái ý chị. Còn em, tuy chẳng hiểu
đầu đuôi câu chuyện ra sao nhưng lại thật tình thương chị riêng gánh chịu nỗi oan khổ
của cả gia đình, giờ lại đang đau xót vì mối tơ duyên đứt. đoạn nên dù chưa kịp nghe
hết giãi bày, chắc cũng đã thấu hiểu hết lòng chị.
Nhiều người thắc mắc tại sao Thúy Kiều không dùng từ nhờ mà lại dùng từ cậy?
Không dùng từ nhận mà lại dùng từ chịu? Chính vì giữa các từ ấy có một sự khác biệt
khá tinh vi. Đặt nhờ vào chỗ cậy, không những âm điệu câu thơ nhẹ đi, không đọng ở
chữ thứ nhất của câu thơ nữa mà còn làm giảm đi cái quằn quại khó nói của Kiều,
giảm đi cái ý nghĩa nương tựa, gửi gắm của một tấm lòng đang trong cơn tuyệt vọng,
ý nghĩa tin tưởng vào tình cảm ruột thịt. Giữa chịu và nhận thì dường như còn có vấn
đề tự nguyện hay không tự nguyện nữa. Nhận lời có nội dung tự nguyện, còn chịu lời
thì hình như chỉ có một sự nài ép phải nhận và không nhận không được. Trong tình
thế của Thúy Vân lúc bấy giờ thì chỉ có chịu lời chứ làm sao nhận lời được?
Câu thơ sáu chữ giản dị mà chứa đựng tất cả chiều sâu của một tình thế phức tạp, một
tâm trạng phức tạp. Điều đó càng làm cho nó có dáng dấp như một lời cầu nguyện.
Thúy Kiều năn nỉ Thúy Vân: Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa, vì nàng coi sự chịu lời
của Thúy Vân là một hành động hi sinh. Đối với cử chỉ hi sinh ấy thì phải có thái độ
kính phục và biết ơn. Thúy Kiều lạy em là lạy sự hi sinh cao cả ấy.
Trong những giây phút đau đớn tột cùng, Thúy Kiều vẫn quên mình để nghĩ đến người
yêu. Nỗi buồn của nàng cần phải được san sẻ cho vơi bớt. Sau cái phút ban đầu khó
nói, giờ đây nàng bộc bạch với em gái về mối tình đẹp đẽ mà dang dở của mình.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Tâm sự về nỗi khó nghĩ, khó lựa chọn giữa tình và hiếu.
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Là người con có hiếu, Kiều đã tự nguyện bán mình để lấy ba trăm lạng cứu cha và em
khỏi vòng tội tù oan nghiệt. Chữ hiếu nàng đã đáp đền, còn chữ tình vẫn canh cánh
bên lòng như một món nợ nặng nề khó tả:
Nợ tình chưa trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Ý nghĩa này cho thấy Thúy Kiều đau khổ biết chừng nào và cũng cao cả biết chừng
nào? Nàng van lơn em gái hãy Xót tình máu mủ thay lời nước non mà bằng lòng kết
duyên với chàng Kim. Nhắc tới chàng, Thúy Kiều càng sầu, càng tủi cho thân phận
mình, tưởng chừng như nỗi đau theo nước mắt tuôn rơi:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Tưởng tượng ra cái chết thê thảm cũng là biểu hiện của sự thương thân cao độ, nhưng
Kiều tự an ủi rằng vong hồn mình nơi chín suối hãy còn thơm lây với nghĩa cử của
Thúy Vân. Kiều bày tỏ những lời gan ruột như thế, hỏi Thúy Vân sao nỡ chối từ?
Ngôn ngữ của Kiều lúc đầu là ngôn ngữ của lí trí. Tuy Kiều rất đa cảm nhưng với
chuyện trọng đại của cả một đời người thì nàng không thể dùng tình cảm đơn thuần
mà thuyết phục được em. Phải bình tĩnh dùng lí lẽ phân tích thiệt hơn, phải trái để em
hiểu mà bằng lòng giúp.
Trước lời nói có lí, có tình tha thiết của Kiều. Thúy Vân chỉ còn biết im lặng lắng
nghe và như thế có nghĩa là chấp nhận. Đến đây, Thúy Kiều mới nhẹ lòng. Nàng lấy
kỉ vật tình yêu giữa mình và Kim Trọng ra trao cho em gái.
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Nếu như ở đoạn trên, Kiều kể mối tình của mình cho em nghe bằng giọng điệu cố lấy
vẻ bình tĩnh thì đến lúc trao lại kỉ vật cho em, nàng cảm thấy mình đã mất hết nên
không thể kìm nén được tình cảm thật nữa. Trái tim bắt đầu lên tiếng. Nàng nói: Chiếc
vành với bức tờ mây vẫn bằng giọng điệu cố giữ vẻ bình thản, nhưng đến câu: Duyên
này thì giữ, vật này của chung thì nghe như đã có tiếng nấc nghẹn ngào. Duyên này là
duyên giữa Thúy Vân với Kim Trọng, chứ phần nàng kể như hết. Duyên chị là đã trao
lại cho em, nhưng kỉ vật này xin em hãy coi có một phần của chị, nó là của chung. Rõ
ràng lí trí buộc nàng phải dứt tình với chàng Kim nhưng tình cảm của nàng thì không thể.
Có điều đặc biệt nằm ở mấy chữ giữ và của chung. Chữ giữ không có nghĩa là trao
hẳn mà chỉ đưa cho em giữ hộ; còn chữ của chung thì quá rõ, nó thể hiện tâm lí có
tính bản năng là Kiều không đành lòng trao cả lại cho em. Những chữ đó thể hiện tình
yêu của Kiều với Kim Trọng là rất nồng nàn, sâu sắc. Tuy nhiên, Kiều vẫn trao duyên
cho em, chứng tỏ trong tình yêu và vì tình yêu, Kiều đã đặt hạnh phúc của người mình yêu lên trên hết.
Mối tình đầu trong sáng, ngọt ngào nhường ấy, bỗng chốc bảo quên, quên làm sao
được? Xin gửi gắm lại chút tình trong kỉ vật này vậy! Giữa tột đỉnh đau thương, Kiều
vẫn cố an ủi. Sau đó, Kiều để mặc cho tình cảm tuôn tràn.
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 8
Tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải
về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều.
Của cải bị bọn sai nha vét sạch. Cha và em trai Thúy Kiều bị bắt, bị đánh. Bọn quan
lại đòi đút lót “có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Trước biến cố đau lòng đó, một
người giàu tình cảm, giàu đức hi sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải
bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng? Thúy Kiều hết
sức đau khổ. Cuối cùng nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Đoạn
“Trao duyên” trong “Truyện Kiều” rất cảm động. Có lẽ đây là cảnh tượng đau lòng
chưa từng thấy trong nền văn học nhân loại.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại chi tiết trao
duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng
“để lòng thì phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa,
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc, em’’.
Trong đây từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác.
Từ “cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng là “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp
chàng Kim trong buổi chiều thanh minh Chuyện thề nguyền hẹn ước với Kim Trọng.
Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà một người giản đơn như
Thúy Vân không bao giờ biết được: “Hữu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Qua lời Thúy
Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội, Hiếu - tình là hai giá trị tinh thần không
thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không
thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay đắng lựa
chọn chữ “hiếu”. Mà chỉ có ba điều tồn tại: “Đức tin, hi vọng và tình yêu, tình yêu vĩ
đại hơn cả”. Nghe một bài trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm thía với nỗi
đau của nàng Kiều. Cho nên hi sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi
đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.
Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ngày xuân em
hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim
Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi
sinh lớn lao. Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỉ vật giữa nàng và chàng Kim:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung".
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỉ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra
đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc vành với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì. Nàng trao duyên, trao kỉ vật cho em
mà nàng uất giận cuộc đời. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể
chung được thì có đáng nguyền rủa không Đây chính là lời tố cáo vọng đến thấu trời
của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người. Thúy Kiều
trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn ki vật và còn dặn em hãy
thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím nàv.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai”.
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá
cây”, với “hiu hiu gió...”. Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt rành là Thúy
Vân mà than khóc với Kim Trọng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”.
Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau xót này, nàng chỉ trách minh là
“phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương lên hết thảy chúng
ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ chàng”. Chính
tâm lí mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên
“Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt
vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập
hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người
của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên (cũng
đừng vội chê trách Thúy Vân.
Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn
Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy Kiều thì đau đớn. Nguyễn Du đã dụng
công miêu tả tâm lí, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt
đến phép biện chứng của tâm hồn.
Chỉ qua đoạn “Trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái
giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách
như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi
tan tác. Nói như Mộng Liên Đường chủ nhân: khúc đoạn trường này như có máu rỏ
trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy.
Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo.
Phân tích bài Trao duyên - Mẫu 9
“Truyện Kiều” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du quả thực là một kiệt tác văn
chương của nhân loại, tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn
dưới dạng các trích đoạn tiêu biểu. Một trong những đoạn trích tiêu biểu cho hoàn
cảnh éo le, dang dở tình duyên của Thúy Kiều chính là “Trao duyên”. Tác giả đã rất
thành công trong việc khắc họa một cách chân thực, rõ nét tâm trạng nhân vật Thúy
Kiều trong từng phân cảnh, để lại trong lòng người đọc những cảm nhận sâu sắc.
Nhan đề “Trao duyên” của đoạn trích phần nào gây ấn tượng với người đọc bởi sự lạ
lẫm, khác đời và khác người; duyên là duyên phận, là sự an bài và sắp đặt của ông trời,
sao có thể đem ra nói trao đi đổi lại cho nhau dễ dàng như thế. Chính cái lạ lẫm của
nhan đề đã gợi ra những dự cảm về nghịch cảnh cũng như tính éo le trong đoạn trích
này. Sự nghịch lý chính nằm ở hành động trao duyên của Thúy Kiều, nàng muốn đem
duyên tình của mình với Kim Trọng trao lại cho Thúy Vân, nhờ em nối tiếp nhân
duyên trả nghĩa ân tình cho Kim Trọng.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Những từ ngữ như “cậy, chịu, ngồi lên, lạy, thưa”, được tác giả sử dụng mang giá trị
gợi tả và gợi cảm cực đắt. Thúy Kiều không đơn giản là nhờ vả mà là trông cậy vào
Thúy Vân, chỉ có Vân mới giúp được Kiều trong hoàn cảnh này, nàng chấp nhận quỳ
lạy và thưa gửi với chính em của mình, chỉ mong em có thể chấp nhận lời đề nghị khó
khăn nhưng thiêng liêng này. Thúy Kiều trong hoàn cảnh éo le nhưng vẫn thể hiện
được sự khéo léo, tài tình và thông minh, coi em như ân nhân của mình bằng tất cả sự
kính trọng. Rồi nàng kể lại mối tình với chàng Kim, giãi bày lý do vì sao phải trao
“mối tơ thừa” đó cho Thúy Vân, chính vì sóng gió ập đến bất ngờ với gia đình khiến
nàng đành từ bỏ chữ tình để làm tròn chữ hiếu. Nàng mong Vân sẽ vì tình nghĩa chị
em máu mủ, thấu hiểu hoàn cảnh gia đình cũng như tình nghĩa giữa nàng và Kim
Trọng mà chấp nhận mang vào mình mối tơ thừa duyên tình của Kiều.
Lời nói của Kiều đã thấu đạt hết lý hết tình, Vân có muốn từ chối cũng khó mặc dù
Kiều biết đó cũng là điều thiệt thòi và khó xử cho Vân. Có được sự chấp thuận của
Vân, Kiều dù chết cũng cảm thấy yên lòng và mãn nguyện, “Ngậm cười chín suối hãy
còn thơm lây”, cái chết cũng thể hiện sự cảm kích trước những thiệt thòi mà em phải
chịu thay mình. Sau khi đã nói lời trao duyên, đến lúc Kiều trao lại những kỉ vật nàng
và Kim Trọng đã từng có với nhau, đó là chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung”
Đem những kỉ vật tình yêu thiêng liêng trao đi, Kiều như trao đi những thứ quan trọng
nhất của cuộc đời mình, bây giờ duyên nàng có thể giữ nhưng kỉ vật đã thành của
chung. Nỗi buồn xót xa phải trao đi cho thấy nàng và Kim Trọng đã yêu nhau sâu đậm,
nồng nàn và chung thủy một lòng. Mất đi tình yêu, trao đi kỉ vật, cuộc sống của Kiều
đã không còn gì đáng luyến tiếc hơn nữa, sống cũng như chết, nhưng nàng dù có chết
vẫn giữ trọn lời thề son sắt:
“Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”
Kiều đã tuyệt vọng hết sức, chẳng còn hy vọng nào cho tình yêu và số phận của mình,
rồi đây cuộc đời nàng sẽ đi về đâu, sống chết ra sao nàng không thể biết được, chỉ
mong có chết đi rồi người trên dương thế sẽ hiểu cho tấm lòng và đồng cảm với mình.
Giờ đây những kỉ niệm tình yêu ngọt ngào với chàng Kim lại trở thành những nhát
dao cứa sâu vào nỗi đau khổ của nàng:
“Bây giờ trâm gãy bình tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”
Tất cả tình duyên đã tan vỡ, dở dang, nàng Kiều vô cùng đau đớn khi phụ chàng Kim,
nàng gửi trăm nghìn cái lạy đến người “tình quân” mong chàng sau này sẽ hiểu cho
hoàn cảnh và nỗi khổ của nàng, phận nàng “bạc như vôi”, tài sắc vẹn toàn nhưng số
phận lênh đênh, chìm nổi. Thành ngữ “nước chảy hoa trôi” cho thấy sự chấp nhận đầy
cam chịu của Kiều, nàng đã tự ý thức được số phận đầy bất hạnh của mình, nàng
không thể kháng cự lại mà đành tự thương xót cho chính mình.
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
Tình nghĩa sâu nặng coi nhau như vợ chồng nhưng giờ đây nàng chỉ còn có thể gọi tên
chàng Kim trong sự tuyệt vọng, tiếng gọi chan chứa nỗi niềm đắng cay và xót xa,
chàng Kim nơi xa xôi kia chưa hề biết chuyện gì, nàng nơi quê nhà đã phải vì hoàn
cảnh mà phụ tấm lòng của chàng. Có trách cũng chỉ biết trách số nàng “hồng nhan bạc
phận” mất đi mối tình, mất đi cả tương lai hạnh phúc.
Có thể nói, trích đoạn “Trao duyên” là một trong những trích đoạn hay và gây xúc
động mạnh nhất trong “Truyện Kiều”, rất nhiều thành ngữ được sử dụng kết hợp với
những từ ngữ mang giá trị gợi cảm cao đã khắc họa tâm trạng Thúy Kiều trong lúc
trao duyên vô cùng rõ nét. Người đọc cảm nhận được nỗi đau khổ của Kiều, tiếc
thương cho mối tình trời ban đồng thời cũng thương cảm với số phận bạc mệnh của Kiều.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 10
Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu của văn học Việt Nam. Ông có
đóng góp to lớn đối với văn học dân tộc, đặc biệt nhất là kiệt tác Truyện Kiều. Đoạn
trích Trao duyên trong Truyện Kiều mở đầu cho chuỗi ngày bất hạnh, lưu lạc của cuộc
đời Thúy Kiều sau gia biến. Kiều nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người
yêu nên đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Mười hai câu
đầu đoạn trích thể hiện hoàn cảnh trao duyên, bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh
cùng nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều. Nàng đã mở lời bằng lời lẽ thỉnh cầu đối với Vân:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Nguyễn Du là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, có thể dễ dàng thấy điều đó
khi trọng lượng câu thơ rơi vào bốn chữ “cậy”, “chịu”, “lạy”, “thưa”. “Cậy” và “nhờ”
đều có nghĩa là nhờ vả, xin sự giúp đỡ của một ai đó, nhưng thay vì sử dụng từ “nhờ”,
Nguyễn Du đã khéo léo chọn từ “cậy”, bởi vì từ “cậy” này có nghĩa là nhờ với tất cả
sự hi vọng và tin tưởng, trông mong. Cũng như vậy, thay vì từ “nhận”, tác giả lại dùng
từ “chịu” bởi vì khác với từ “nhận” nói lên sự tự nguyện thì từ “chịu” bao hàm ý nài
ép, bắt buộc, không thể từ chối. Đồng thời nó cũng thể hiện Kiều hiểu cho tình thế khó
xử và sự thiệt thòi của em khi phải nhận lời giúp mình.
Cách tác giả dùng từ rất chính xác, bởi lẽ đây là chuyện rất quan trọng đối với Kiều,
nàng hi vọng Thúy Vân đồng ý, nên lời van nài cũng có chút ép buộc. Lại thêm một
cử chỉ thiêng liêng là “lạy” sau đó mới “thưa” của Kiều thể hiện hoàn cảnh trao duyên
đặc biệt, khác thường. Vị thế của hai chị em Thuý Kiều đã thay đổi, đảo lộn, vẫn xưng
hô là chị em, mà thực tình trong đó là quan hệ giữa một người bề dưới với người bề
trên, giữa người ban ơn và một kẻ chịu ơn. Chị trở thành người cậy cục luỵ phiền, em
thành người ban ơn, gia ơn. Qua đó có thể thấy được tình yêu sâu sắc, chân thành của
Thúy Kiều dành cho Kim Trọng. Để báo đáp ân tình cho chàng Kim, Kiều đã phải
nhún mình hạ mình, đến thế! Nhưng trong cái cử chỉ tội nghiệp kia, ta thấy tất cả sự
cao khiết của một tấm lòng, của sự thông minh, khéo léo, tế nhị ở Kiều. Sau đó, Thúy
Kiều bắt đầu giãi bày lí do cho những hành động trước đó.
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
“Gánh tương tư” là quan niệm của người xưa về tình yêu nam nữ. Nó không đơn giản
chỉ là tình yêu mà còn là chuyện nghĩa tình, là mối duyên tiền định. Như vậy “Đứt
gánh tương tư” tức là chuyện tình yêu dang dở, tan vỡ của Thúy Kiều và Kim Trọng.
Mối tình Kim – Kiều mới chớm nở nhưng không thể đơm hoa kết trái bởi sóng gió
đang ập đến. Kiều đau khổ, xót xa cho bi kịch tình yêu nhưng không thể làm khác
được, đành trao lại mối duyên này cho em. Nàng đã mượn điển tích “keo loan” để nói
lên ý định muốn nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. “Mối tơ thừa” là
cách nói nhún mình của Thúy Kiều bởi nàng cảm thấy có lỗi, day dứt vô cùng khi đẩy
Vân vào thế bị động như mình ép duyên “mặc em” phải nhận. Mặc dù đã trao duyên
cho em, nhưng dường như mối tơ duyên vẫn đè nặng trong lòng Thúy Kiều. Những kỉ
niệm ngọt ngào như ùa về trong lòng, nàng tâm sự cùng em:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Câu thơ đã liệt kê ra những kỉ niệm của Thúy Kiều và Kim Trọng, kỉ niệm cùng quạt
ước, cùng nâng chén rượu thề nguyền, cảnh tượng vô cùng lãng mạn, say mê. Câu thơ
ngắn gọn nhưng cô đọng, súc tích đã nói lên mối tình trong sáng, đẹp đẽ, sắt son như
vừa mới hôm qua của hai người. Nhưng vì sự cố bất ngờ, cha và em mắc oan bị bắt,
Kiều phải bán thân mình mới cứu được họ, nhưng người nàng yêu, một lòng vì nàng,
lời thề nguyền mới hôm nào chưa kịp nguội. Cả một con tim đang chảy máu, đau đớn,
day dứt, quằn quại. Nhìn cảnh cha và em bị tra tấn, đòn roi, là một người con có hiếu,
nàng đành hi sinh tình yêu để làm trọn phận con, để báo đáp công ơn sinh thành. Nàng
nói cho em hiểu nỗi đau của mình, mong em hiểu và chấp nhận nối duyên cùng chàng
Kim. Kiều đã cố gắng dùng mọi lí lẽ để thuyết phục em:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Kiều an ủi Vân bởi lí do Vân còn trẻ, tuổi xuân còn dài, đồng thời lay động ở Vân tình
cảm chị em máu mủ, ruột thịt, giúp đỡ nhau là chuyện nên làm khiến Vân khó lòng
chối từ. Nàng thậm chí còn viện cả cái chết của mình ra để nói lên sự toại nguyện nếu
Vân nhận lời thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Lời thỉnh cầu của Kiều vừa chân
thành, vừa thuyết phục, vừa thiết tha, vừa ràng buộc, đưa Vân đến tình thế mặc nhiên
phải chấp nhận. Nàng Kiều của Nguyễn Du tỏ ra sắc sảo mặn mà cả trong bi kịch đau đớn nhất của mình.
Song, nàng Kiều trong đoạn Trao duyên cũng như trong suốt Truyện Kiều không giản
đơn chỉ là một con người hành động vì mục đích nào đó. Nàng Kiều của Nguyễn Du
còn luôn sống với những tâm tư, tình cảm thầm kín của mình. Nguyễn Du đã thâm
nhập vào nội tâm nhân vật, miêu tả nàng Kiều với tất cả trạng thái tình cảm phong phú,
phức tạp như một con người thật ở ngoài đời. Kiều khẩn thiết nhờ em thay mình trả
nghĩa cho Kim Trọng nhưng cũng không hề giấu giếm nỗi đau khôn cùng (Giữa
đường đứt gánh tương tư) của mình, không che giấu tình cảm sâu nặng của mình đối
với chàng Kim (Kế từ khi gặp chàng Kim. Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề).
Mượn cả cái chết để nói lên sự thanh thản của mình nếu như Vân nhận lời nối duyên
với chàng Kim. Ngoài ra, thể thơ lục bát cũng đã giúp cho Nguyễn Du dễ dàng khắc
họa tâm trạng dằn vặt, sự đớn đau khi phải hi sinh chữ tình để vẹn tròn chữ hiếu của Thúy Kiều.
“Trao duyên” không chỉ cho chúng ta thấy được một cảnh đời đầy bi kịch, một số
phận nghiệt ngã đến xé lòng của Kiều mà còn cho thấy sự sắc sảo, khôn ngoan, giàu
đức hi sinh, luôn nghĩ cho người khác hơn cả bản thân mình của nàng. Nhờ sự trải
nghiệm và cái nhìn sâu sắc cùng khả năng sử dụng từ điêu luyện của Nguyễn Du đã
khiến cho nội tâm của nhân vật như được khắc họa rõ nét nhất, từ nỗi đau đến tâm hồn
của Kiều như đang trải dài qua từng câu chữ khiến người đọc mãi không thể thôi xót thương.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 11
Trong suốt chiều dài lịch sử văn học, có rất nhiều những thành tựu văn học rực rỡ thời
kì trung đại của những nhà tác giả lớn như: Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Phạm Ngũ
Lão, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Đóng góp vào trong dòng chảy văn học ấy ta không thể
không nhắc đến đại thi hào Nguyễn Du. Ông không những là một nhân cách lớn mà
đồng thời còn là một nhà văn, nhà thơ vĩ đại. Những sáng tác của Nguyễn Du bao gồm
cả sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm nhưng tiêu biểu nhất là tác phẩm Đoạn trường
tân thanh hay còn được biết nhiều hơn dưới tên Truyện Kiều. Đoạn trích Trao duyên
là một trong những đoạn trích tiêu biểu thể hiện được tài năng cũng như tư tưởng nhân đạo của tác giả.
Truyện Kiều của Nguyễn Du được viết bằng chữ Nôm dựa trên cốt truyện có sẵn của
Thanh Tâm Tài Nhân là Kim Vân Kiều truyện. Thế nhưng, điều đáng nói là bằng sự
sáng tạo của người nghệ sĩ, Nguyễn Du đã biến một cốt truyện bình thường trở thành
một kiệt tác. Nếu như Kim Vân Kiều truyện là một câu chuyện “tình khổ” thì Truyện
Kiều của Nguyễn Du lại là một khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, nói lên
những điều trông thấy trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động. Đoạn trích nằm ở
câu thơ 723 đến câu 756, trong phần gia biến và lưu lạc. Đây cũng chính là mở đầu
cho nỗi đau khổ dằng dặc của Kiều trong suốt 15 năm lưu lạc. Sau khi tạm chia tay
Kiều, Kim Trọng trở về quê để chịu tang chú. Thế nhưng trong thời gian đó, gia đình
của Kiều có biến, cha và em bị bắt. Là người con có hiếu, Thúy Kiều đã quyết định
bán mình để chuộc cha và cũng vì thế mà nàng không thể giữ trọn lời thề thủy chung
với Kim Trọng. Kiều một mình chịu đựng nỗi đau:
Một mình nàng ngọn đèn khuya
Áo đầm giọt lệ, tóc se mái đầu.
Kiều ngổn ngang bao nỗi băn khoăn, trăn trở và cuối cùng nàng quyết định nhờ em
mình là Thúy Vân chắp mối tơ duyên với Kim Trọng mặc dù vô cùng đau khổ và dằn vặt:
Hở môi ra cũng thẹn thùng
Để lòng lại phụ tấm lòng với ai.
Vượt lên trên tất cả, Kiều đã quyết định trao duyên cho em cùng muôn vàn đau khổ,
rơi vào mối mâu thuẫn: lí trí bắt buộc phải trao nhưng tình cảm lại không thể. Trao
duyên còn là đứng trước nỗi đau của một bi kịch kép: tình yêu tan vỡ và bi kịch của
một cuộc đời lầm than. Tất cả xảy ra khi Kiều còn đang ở độ tuổi rất trẻ vì vậy,
Nguyễn Du đã viết nên đoạn trích bằng tất cả niềm cảm thông, thấu hiểu và thương
xót của mình. Thúy Kiều mở lời nhờ cậy em một cách vừa từ tốn, trang trọng nhưng
cũng vô cùng khéo léo, tinh tế và sắc sảo:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Từ “em” được nhắc đi nhắc lại hai lần, đi liền với từ “cậy”, “chịu” và cử chỉ kì lạ:
“ngồi lên”, “lạy”, “thưa” khiến cho lời nhờ cậy trở nên tha thiết, đưa Thúy Vân đến
với không gian trang trọng, thiêng liêng của buổi trao duyên. Trong lời mình, Thúy
Kiều đã dùng chữ “cậy” thay cho chữ “nhờ” khiến cho lời lẽ trở nên tha thiết và có
sức nặng đồng thời thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của nàng dành cho em. Kiều muốn
Vân biết rằng em chính là chỗ bấu víu, trông cậy duy nhất của chị. Đồng thời, Kiều
cũng hiểu rằng việc Vân nhận lời giúp mình cũng là một sự san sẻ. Cũng chính vì thế,
thay bằng lối giao tiếp thông thường, Kiều quỳ xuống lạy em như lạy một ân nhân cứu
mạng của cuộc đời mình. Ngay từ những lời đầu tiên, với từng lời nói và cử chỉ ta
thấy được tấm lòng tha thiết của Kiều nhưng vô cùng sắc sảo, mặn mà. Sau đó Kiều
đã tâm sự với Thúy Vân về mối tình của mình với Kim Trọng:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Kiều nói rõ cho em sự dang dở của mình trong mối tình với Kim Trọng. Câu thơ đã sử
dụng cách nói tượng trưng thể hiện sự đau khổ của Thúy Kiều về mối tình đầu dang
dở với chàng Kim. Kiều còn gọi mối tình của mình với Kim Trọng là “mối tơ thừa”
bởi nàng hiểu với mình, mối tình ấy là tất cả thế nhưng đối với Thúy Vân thì đó lại là
điều trói buộc, trái ngang. Kiều không muốn Thúy Vân phải bận lòng, băn khoăn quá
nhiều. Nàng cũng muốn tùy em xử trí: “mặc em”. Lời nói của Kiều tưởng như vô cùng
dứt khoát và mạnh mẽ thế nhưng, bên trong đó là một nỗi đau đến đứt ruột bởi mối
tình của Thúy Kiều với Kim Trọng là mối tình đầu sâu đậm không dễ nguôi ngoai.
Kiều đã kể lại cho em về buổi gặp gỡ, thề nguyền đính ước với chàng Kim. Thúy Kiều
gọi Kim Trọng một cách rất trân trọng cùng với sự nối tiếp của các hình ảnh: “quạt
ước”, “chén thề” gợi về những kỉ niệm giữa hai người. Qua đó Kiều muốn khẳng định
một cách chắc chắn với Thúy Vân rằng mối tình của mình với Kim Trọng là mối tình
sâu sắc chứ không phải trăng gió vật vờ. Đồng thời khi hồi tưởng lại mối tình xưa,
Thúy Kiều thể hiện tình cảm tha thiết và đầy nuối tiếc mà tất cả hiện lên như vừa mới
hôm qua. Kiều còn nói với em về cảnh ngộ hiện tại của mình:
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Nàng muốn Vân hiểu những bất hạnh bất ngờ ập tới khiến cho Kiều vô cùng rối bời,
Kiều muốn em hiểu rằng mình đang làm tròn chữ hiếu và mong em giúp mình làm
trọn chữ tình. Qua đó ta còn thấy một Thúy Kiều muốn sống khao khát sống trọn tình
vẹn nghĩa nhưng cuộc đời đầy đau khổ bất hạnh lại không cho phép nàng. Không
những thế, Kiều còn nói đến hoàn cảnh hiện tại của Vân để rồi cất lời nhờ em:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Kiều nhắc đến tình máu mủ để nói việc mình nhờ cậy em cũng là hợp với đạo lí. Kiều
cũng nói đến lời nước non để chứng minh rằng tình cảm của mình với Kim Trọng là
tình cảm thiêng liêng rất xứng đáng với em. Kiều cũng nói với em những lời rất tội
nghiệp để thuyết phục hoàn toàn Thúy Vân:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Dù có ở thế giới khác đi chăng nữa thì Kiều cũng cảm thấy mãn nguyện khi đã trao
duyên được cho em. Nhưng mặt khác, hai chữ “thơm lây” khiến cho Kiều trở thành
một người ngoài cuộc bởi hạnh phúc bây giờ đã trao lại cho Thúy Vân. Qua đây ta
cũng thấy được thân phận và số phận của Kiều khi thốt ra những lời như thế. Nếu như
không có sóng gió bất ngờ xảy ra thì Kiều đã được hưởng những hạnh phúc ấy và bởi
vậy, lời nói của Kiều có gì đó thật xót xa, hạnh phúc mới chớm nở thì đã tàn. Sau khi
mở lời nhờ cậy em, Kiều đã trao lại cho em những kỉ vật đính ước và tha thiết tâm sự với em:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Thúy Kiều trao lại cho em những kỉ vật là chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh
hương nguyền. Đó là những tín vật của tình yêu gợi lại mối tình đầu. Nhìn thấy những
kỉ vật Kiều như được sống lại với kỉ niệm tình yêu của mình. Trong hoàn cảnh hiện tại
khi Kim Trọng đang ở nơi xa thì những kỉ vật ấy là chỗ bấu víu duy nhất của Thúy
Kiều nên không dễ dàng gì để trao lại cho em. Cũng vì thế mà Kiều thốt lên những lời
đầy lạ lùng: “Duyên này thì giữ vật này của chung”. Chính sự không rõ ràng trong hai
từ “của chung” ấy đã thể hiện sự lúng túng và ngập ngừng của Thúy Kiều, cho thấy
tâm trạng của nàng khi trao lại kỉ vật cho em: lí trí mách bảo phải trao nhưng tình cảm
thì lại không thể. Trao lại kỉ vật cho em những tâm hồn Kiều không thể nguôi ngoai:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan.
Kiều tự nhận mình là người mệnh bạc, coi mình như đã chết. Những hình ảnh trong
câu thơ gợi ra một Thúy Kiều đang ở trong một thế giới khác, không thể trở lại hòa
nhập với cuộc sống và số phận của nàng vô cùng mong manh. Ngay cả khi ở thế giới
bên kia thì Kiều cũng không thể thanh thản mà còn nặng lòng với tình duyên, cuộc
sống và nàng coi mình là người thác oan, nỗi đau tức tưởi nhưng đồng thời cũng vô
cùng bất lực. Trong tận cùng đau khổ, Kiều hướng về Kim Trọng với những tâm sự tha thiết:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Thúy Kiều tâm sự với chàng Kim nhưng Kim Trọng đang ở phương xa và thực chất
đây là những lời độc thoại, thể hiện sự tự ý thức sâu sắc của Thúy Kiều về nỗi đau
thân phận mình. “Gương gãy”, “trâm tan” là những hình ảnh diễn tả một cách cảm
động và xót xa về bi kịch của Thúy Kiều. Đằng sau đó ta thấy một Thúy Kiều nặng
tình nặng nghĩa với chàng Kim. Đi liền với nỗi đau về tình yêu còn là nỗi đau về thân
phận bạc bẽo. Thành ngữ “bạc như vôi” như có gì đó oán trách, đi liền với nó là tâm
trạng gần như bất lực “Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng”. Kết thúc đoạn thơ, Thúy
Kiều cất lên tiếng gọi Kim Trọng tha thiết khiến cho lời than như một tiếng nấc được thốt ra nghẹn ngào.
Trong lời than ấy, Kiều đã gọi Kim Trọng là Kim lang, coi Kim Trọng giống như
chồng của mình. Điều này tưởng như phi lí bởi Kiều đã trao duyên cho em nhưng lại
rất có lí bởi Kiều đã thể hiện tình cảm chân thật của mình mà quên đi tất cả mọi thứ
xung quanh. Nàng mắc phải một mặc cảm là mình đã phụ tình Kim Trọng. Người đau
khổ nhất lúc này đó chính là Thúy Kiều nhưng nàng đã quên đi những đau khổ ấy để
chỉ nghĩ về Kim Trọng. Thúy Kiều không chỉ nặng tình mà còn nặng nghĩa. Những
câu thơ cuối là những câu cảm thán khiến cho đoạn thơ như những tiếng than đứt ruột.
Bi kịch, đau khổ và cả tình yêu nồng nàn của Thúy Kiều được đẩy lên đến đỉnh điểm,
qua đó bộc lộ được những nét đẹp trong tâm hồn của nàng.
Đoạn trích Trao duyên đã khái quát lên bi kịch đau khổ của Thúy Kiều đó là bi kịch
về tình yêu tan vỡ và bi kịch cuộc đời mỏng manh. Qua đó tác giả đã làm bật lên được
vẻ đẹp của Thúy Kiều: thủy chung da diết nhưng cũng sắc sảo mặn mà. Nguyễn Du đã
một lần nữa khẳng định được tài năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng sống động,
chân thực và phong phú. Nguyễn Du như hóa thân vào nhân vật để nhân vật tự thốt
lên từ tận đáy lòng. Qua đoạn trích, nội tâm nhân vật Thúy Kiều được khám phá một cách toàn diện.
Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát kết hợp với ngôn ngữ uyển chuyển, mềm mại, tinh
tế để có thể miêu tả được những rung động, đau khổ trong lòng nhân vật. Đằng sau tất
cả những điều đó là một tấm lòng nhân hậu, tinh thần nhân đạo và con mắt nhìn thấu sáu cõi của Nguyễn Du.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 12
Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao
duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc
mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác,
nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân
vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với
người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ
không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy Kiều.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao
duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng
“để lòng thị phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác.
Từ “cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng là “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp
chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng.
Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình thường
của Thúy Vân không bao giờ biết được:
“Hiếu tình khôn dễ hai bề vẹn hai”
Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu – tình là hai giá trị
tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn
những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều
đã cay đắng lựa chọn chữ “hiếu”. Mà chỉ có ba điều tồn tại: “Đức tin, hi vọng và tình
yêu, tình yêu vĩ đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng
thấm thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi
lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ngày xuân em
hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim
Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn lao.
Biết là em thuận lòng, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim:
“Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung”
Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện
ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì, nàng trao duyên, trao cả những kỷ vật
tình yêu cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì
có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu
trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật và còn
dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tờ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.”
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá
cây”, với “hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy
Vân mà than khóc với Kim Trọng:
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách
mình là “phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết
thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ
chàng”. Chính tâm lý mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên
“Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật
tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã
đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và
con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn
nhiên (cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong
công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn
Thúy Kiều thì lại càng đau đớn hơn.
Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể
nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “trao duyên”,
chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh,
có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào
đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên
Đường Chủ nhân là khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của
Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi,
những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo?
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 13
Con người khi đứng trước sự lựa chọn của bên nghĩa bên tình thì rất khó lựa chọn.
Tuy nhiên thì công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả vậy cho nên nếu là một người
con hiếu thảo yêu thương cha mẹ của mình thì dẫu cho tình yêu kia có đẹp đến mấy
thì vẫn quyết định chọn chữ nghĩa để trả ơn bố mẹ. Kiều trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du đã chọn chữ "nghĩa" lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn bù đắp cho
tình cảm kia của mình. Vì thế nàng quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân.
Đoạn trích trao duyên thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao
duyên của mình cho nàng Thúy Vân.
Duyên là một thứ để cho con người ta gặp gỡ, để mà yêu nhau và nếu có phận thì sẽ
có thể bên nhau đến trọn đời. Và đặc biệt cái duyên cái nợ là do ông tơ bà nguyệt se tơ
kết tóc nối duyên. Thế nhưng ở đây Thúy Kiều đã như đoạt lấy cái quyền hành ấy mà
để nối duyên của mình cho em. Nàng có duyên với chàng Kim Trọng nhưng lại không
có phận vì thế cho nên nàng muốn nối duyên cho em. Vì trong thâm tâm nàng đó như
một cái để nàng đền đáp những ân tình của chàng Kim mà chàng đã trao cho nàng.
Trao duyên đi lòng nàng không khỏi đau xót vì tình yêu duy nhất và đầu tiên của nàng
đã không thành. Phải chăng tình đầu là dang dở.
Với hai câu thơ đầu ta thấy được những hành động của Thúy kiều thật khác bình
thường. Nàng như đang hạ thấp bản thân mình để cầu xin em, trao duyên nhưng cũng
là cầu xin em giúp chị và chấp nhận:
"Cậy em em có chịu lời.
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa"
Là một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế
nhưng ở đây Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm
chân tình với Kim Trọng. Những từ "cậy", "ngồi lên", "lạy", "thưa" là những từ để chỉ
thái độ kính trọng của người dưới đối với người trên thế mà ở đây bị xáo trộn. Thúy
Kiều là chị nhưng lại phải lạy em cậy nhờ. Cái "cậy" kia mang ý nghĩa ép buộc Thúy
Vân phải làm nhiều hơn là nhờ.
Nói là nhờ thì lại rất bình thường nhưng nói là cậy thì cái nhờ vả kia lại nặng hơn gấp
bội. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều.
Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng Kim.
Nàng cậy nhờ rồi nàng nói lên những lời tâm tư tình cảm của bản thân mình. Đó là
những tâm sự tận sâu trong đáy lòng của nàng:
"Giữa gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"
Nàng như thể hiện được cái nỗi đau xót của bản thân mình khi tình duyên lỡ dở.
Chính vì chữ hiếu mà nàng hi sinh chữ tình phụ chàng Kim. Và có lẽ thế nàng vừa đau
xót cho thân mình vừa đau đớn cho cuộc tình dang dở. Chàng Kim ấy vẫn đang chịu
tang nơi quê nhà không hề hay biết những chuyện nơi đây. Nàng chỉ mong Vân có thể
nối duyên bù đắp những gì của mình vẫn còn dang dở. Chính vì thế mà Kiều mong
Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình mà chắp mối tơ loan với chàng Kim Trọng. Sự
ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. Dù cho là chị em nữa nhưng phải
gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao và thứ mà người ta không muốn nhận thì
chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy
Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được "Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai". Vốn
dĩ chữ tình và chữ hiếu không thể đặt lên bàn mà cân cho được.
Thúy Kiều vịn vào tình cảnh của gia đình hiện tại và thêm nữa là tình máu mủ ruột già.
Điều đó càng làm cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!"
Rõ ràng cả hai chị em cùng đến tuổi xuân xanh đang tràn đầy sức sống của tuổi thanh
xuân, tuổi biết yêu thương lấy một người nào đó. Vậy mà Kiều lại nói là tuổi xuân của
Thúy Vân còn dài trong khi mình thì nào có khác đâu. Nói như thế để cho thấy Kiều
như đã xác định được con đường mà nàng sắp phải đặt chân đến, không yên bình như
những ngày tháng trước đây nữa mà sóng gió có thể mang cô đi bất cứ lúc nào. Kiều
mong vân xót tình chị em máu mủ ruột già mà hãy chấp nhận lời thay chi làm trọn lời
hẹn thề với chàng Kim. Nếu được như thế thì ngay cả khi những sóng gió kia bủa vây
lấy nàng cướp nàng đi khỏi thế gian này. Mặc cho sang thế giới bên kia không còn
nguyên vẹn thì Kiều cũng cảm thấy thơm lây cái sự hi sinh của em gái cho mình.
Khi đã trao duyên xong nàng như cảm thấy được những tâm trạng đang bủa vây đến
nàng. Nàng đã hoàn thành xong cái đền đáp ơn nghĩa với Kim Trọng nhưng lòng lại
thấy buồn vì vừa trao đi, mất đi một tình yêu đầu êm đềm dịu ngọt. Hơn nữa tình yêu ấy mới bắt đầu:
"Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa"
Chiếc vành với tờ mây kia chính là những kỉ vật tình yêu của hai người. Họ đã cùng
nhau thề nguyền sống chết, họ đã có với nhau những ngày tháng hạnh phúc những
niềm vui tràn ngập vậy mà giờ đây cái xã hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu mà hi
sinh chữ tình. Nàng chỉ mong mai này khi chàng Kim và em của nàng có thành duyên
vợ chồng rồi thì mong họ hãy nhớ đến nàng. Những kỉ vật tình yêu của nàng với
chàng Kim chỉ mong tham lam giữ thành của chung của ba người. Dẫu đã trao cho
Thúy Vân những kỉ vật ấy nhưng nàng vẫn luyến tiếc và mong rằng nó sẽ là của
chung. Nguyễn Du không đặt những kỉ vật ấy vào trong cùng một câu thơ mà lại chia
ra thành mấy câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn
của nàng Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái
mình. Nàng như cố níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình
phải đưa cho Vân những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào mà đền đáp tấm ân
tình của chàng Kim Trọng được. Có thể nói qua những câu thơ trên tâm trạng của
Thúy Kiều được hiện thật sự rất rõ nét. Đó chính là tâm trạng mong muốn trở lại
những ngày tháng trước đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy.
Kiều đau đớn như nghĩ đến cái chết, có lẽ là nàng tưởng tượng ra cảnh mai này Kim
và Vân sống hạnh phúc mà nàng phải chứng kiến cảnh yêu thương của họ thì nàng
sống không bằng chết. Hay từ khi xác định bán thân nàng đã quyết định chọn cái chết
để kết thúc cuộc đời này. Tuy vậy nàng vẫn mong rằng:
"Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan"
Sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật
sự đau oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau nếu
thấy hiu hiu gió thì có thể cảm nhận là nàng đang về. Cơn gió kia thể hiện sự vương
vấn cõi trần này của nàng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều có nát thân liễu
yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong Kim và
Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan là Thúy Kiều. Có thể nói cuộc sống
của con người ai mà chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự
cảm thấy rất đau khổ không thể nào có thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ
đến. Kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con đường mà nàng
sắp đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.
Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư của nàng Thúy kiều. Tình đầu là thứ tình
cảm thiêng liêng đẹp đẽ nhất, duyên phận vốn trớ trêu với con người. Chính vì thế chữ
tình kia không trọn cho phận má đào. Cô không muốn chàng Kim đợi chờ mình mà
mong rằng Thúy Vân em cô sẽ giúp cho anh có một cuộc sống hạnh phúc. Dẫu biết
vậy nhưng nàng không khỏi đau khổ khi trao duyên.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 14
Đại thi hào Nguyễn Du là một trong những cây bút sáng chói đóng góp cho dòng chảy
văn học nước nhà những bước chuyển mình vàng son. Trong thời kì văn học trung đại,
Nguyễn Du cùng với những tác giả khác như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn
Bỉnh Khiêm,... tạo thành những tượng đài thơ ca của văn học Việt Nam. Tác phẩm
làm nên tên tuổi của Nguyễn Du là tập truyện viết bằng chữ Nôm "Đoạn trường tân
thanh" hay còn gọi ngắn gọn bằng cái tên "Truyện Kiều". Đoạn trích "Trao duyên" là
một trong những đoạn tiêu biểu trong tập truyện, thể hiện sự dằn vặt, nỗi lòng đau đớn
của nàng Kiều khi buộc phải bán mình chuộc cha, đành nhờ cô em Thúy Vân trả nghĩa cho chàng Kim Trọng.
Truyện Kiều là một tác phẩm được coi như kiệt tác văn chương của nhân loại, được
viết dưới dạng truyện kể bằng thơ, lấy cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân người
Trung Quốc. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không hề được biết đến cho tới khi
Nguyễn Du khai thác cốt truyện bình thường ấy thành tiếng kêu ai oán đến xé lòng,
một bản sầu ca não nề của người con gái hồng nhan bạc phận. Đoạn trích "Trao
duyên" từ câu 723 đến câu 756 trong phần "Gia biến và lưu lạc", tái hiện lại cuộc trò
chuyện của chị em Thúy Vân Thúy Kiều. Gia đình gặp hoạn nạn, Thúy Kiều đành bán
mình chuộc cha, trong tình cảnh đó, biết mình không thể giữ trọn lời thề thủy chung
với Kim Trọng, nàng Kiều đành phải trao lại tấm chân tình cho Thúy Vân, nhờ em
làm tròn bổn phận, giữ trọn lời hứa của mình với người yêu.
Mở đầu câu chuyện bằng lời Thúy Kiều nhờ cậy của mình với em:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Ngay từ đầu, Nguyễn Du đã để cho Thúy Kiều ở vị trí phía dưới, trái ngược với cách
xưng hô "chị, em". Từ "cậy" đặt ở đầu câu gợi tả tình thế tiến thoái lưỡng nan, chẳng
còn cách nào khác, lại thật khó khăn để có thể nhờ vả. Vốn dĩ, Thúy Kiều xét theo vai
vế là chị của Thúy Vân, sẽ không cần "thưa" hay "lạy", nhưng trong hoàn cảnh ấy,
nàng chấp nhận đặt mình vào vị trí của người đi nhờ vả, van xin, chỉ với mục đích giữ
trọn lời hứa của mình với chàng Kim Trọng. Từ "em" được nhắc lại hai lần, đi kèm
các động từ mạnh "lạy", "thưa" "cậy" mở ra một nỗi lòng chua xót, báo hiệu tương lai
mịt mù, tăm tối, phải nhờ vả, dựa dẫm, mưu cầu lòng thương của người khác. Thúy
Vân trở thành bề trên, "ngồi lên" để chị lạy, thưa đã một lần nữa nhấn mạnh kiếp
người trôi nổi, bấp bênh, lỡ làng duyên phận của nàng Kiều. Kiều tha thiết van em,
đồng thời đặt lên vai em sức nặng của sự tin tưởng, trông cậy. Trong hoàn cảnh ngặt
nghèo đó, tình chị em được mang ra để bấu víu, Vân trở thành niềm hy vọng cuối
cùng của Kiều khi nàng buộc phải rời xa gia đình, thất hẹn với người yêu.
Thúy Kiều bắt đầu bày tỏ nỗi lòng mình với em gái bằng những lời chua xót, đau đớn:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Đến đây, người đọc bỗng hiểu ra cái nhờ cậy ban đầu của Thúy Kiều thực ra là một lời
phó thác, buộc Thúy Vân phải chấp nhận. Với thân phận là chị gái, chị cả trong nhà,
Kiều cảm thấy mình phải có trách nhiệm giúp đỡ gia đình qua cơn hoạn nạn. Nàng
chấp nhận bán mình chuộc cha, vì chữ hiếu quên thân, chấp nhận lỡ duyên với người
thương chứ không thể phụ lòng cha mẹ. Người con gái "đứt gánh tương tư" ấy chẳng
nỡ làm Kim Trọng đau lòng, đứng trước chữ tình và chữ hiếu, nàng chỉ còn cách
mong em gái Thúy Vân có thể giúp mình tiếp tục mối duyên đứt quãng. Hai tiếng
"mặc em" giống như một sự phó thác trách nhiệm bằng tấm lòng tha thiết, âu sầu.
Kiều thủ thỉ tâm sự với Vân về mối tình nồng thắm của minh với chàng Kim:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Câu thơ thể hiện sự đau khổ của Thúy Kiều khi nhớ lại những kỉ niệm mùi mẫn còn
dang dở giữa mình và Kim Trọng. Đối với nàng, mối tình với Kim Trọng là những kỉ
niệm lứa đôi đẹp nhất, nhưng đối với Thúy Vân, đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Vì thế,
Kiều không muốn em phải bận lòng, băn khoăn, nàng chọn cách tâm tình với em từ
những kỉ niệm của mình để em gái cảm thấy gần gũi, cảm thông. Từ buổi gặp gỡ đến
hôm thề nguyện đính ước. hình ảnh "quạt ước", "chén thề", nàng muốn khẳng định
tình cảm giữa hai người là tình cảm thật lòng, sâu sắc. Trao duyên cho em mà lòng
đau như cắt, vì bản thân nàng đâu hề muốn phải sinh ra nông nỗi ấy. Cùng với sự tiếc
nuối, Kiều chỉ biết trải lòng về những khó khăn bất chợt ập đến gia đình, buộc nàng
vào tình thế bất đắc dĩ. "Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai", một câu nói vừa tự nhủ
lòng mình, vừa là cái cớ của Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân. Bản thân Kiều không
hề muốn hai chị em phải đối mặt với nhau trong tình thế khó xử, nhưng chị đã vì cha
mẹ bán mình, thì em cũng nên vì chị mà giúp chị nối tiếp tơ duyên. Người đọc dường
như còn cảm thấy một khao khát nhỏ nhoi trong lòng Thúy Kiều, khao khát sống trọn
vẹn, tình nghĩa, nhưng trớ trêu thay, cuộc đời bất hạnh lại không cho phép nàng thực
hiện ước muốn nhỏ nhoi ấy.
Không những thế, Kiều còn thể hiện sự khéo léo, tinh tế khi lựa lời đề cập đến hoàn
cảnh của Vân để cất lời nhờ em:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương tan
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Xét về tình, Thúy Kiều và Thúy Vân là hai chị em đều đang độ tuổi cập kê, Kiều đã
lấy cái cớ đó để nhờ cậy em nối tiếp mối duyên với Kim Trọng. Xét về lý, tình ruột rà
máu mủ cũng là một lý do hợp lý để Thúy Vân có trách nhiệm thực hiện những mong
muốn dở dang của chị. Đồng thời, nàng Kiều cũng thể hiện sự chua xót, đắng cay khi
nhắc đến cái chết "Chị dù thịt nát xương tan / Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây".
Dường như khi chọn con đường bán mình chuộc cha, Kiều đã xác định về tương lai
mịt mờ, dự cảm không lành về số phận nghiệt ngã. Nếu không có những chuyện tai
bay vạ gió, không có những uẩn khúc gia đình thì có lẽ giờ đây, Kiều đã được hạnh
phúc với tình yêu của mình. Lời nói không chỉ thể hiện cái đớn đau khi phải chia lìa
gia đình mà còn chứa đựng cả những tủi thân, buồn rầu khi không được ở bên người
thương. Trong hoàn cảnh ấy, nàng chỉ biết nhờ đến em, để sau này khi "thịt nát xương
tan", nàng vẫn có thể ngậm cười nơi chín suối, nhìn em mình và người yêu được hạnh
phúc vẹn toàn, được thực hiện trọn vẹn lời hứa với Kim Trọng. Trao đi mối duyên mà
nàng hằng khao khát, nâng niu là điều đau đớn đến tột cùng, nhưng Kiều đã chấp nhận
chọn chữ hiếu để cứu cha, chỉ một lòng mong em hãy đồng ý giúp nàng nối tiếp mối
duyên tình để không phụ lòng Kim Trọng.
Trao cho em những vật đính ước, Kiều thủ thỉ tâm tình với em những lời chân thành nhất:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền, những kỉ vật của mối tình
đầu thanh thuần, ngây thơ. Nhìn những kỉ vật ấy, lòng người con gái sao tránh khỏi
bồi hồi, nhớ nhung. Trong hoàn cảnh ấy, khi Kim Trọng đang ở xa, không hề hay biết
tin tức gì, bản thân chuẩn bị một cuộc đời lưu lạc, chẳng rõ tương lai đi đâu về đâu, sự
xót xa, đau đớn lại dâng đến tận cùng. Những kỉ vật ấy thật khó lòng buông bỏ, vì thế
mà câu "Duyên này thì giữ, vật này của chung" có phần lạ kì, ngập ngừng. Duyên đã
trao đi rồi nhưng hiện vật thì chẳng nỡ lòng nào chối bỏ, nên Kiều vẫn muốn giữ đó
làm "của chung", của cả hai chị em. Câu nói có một chút con gái, một chút ích kỉ
nhưng cũng dễ hiểu thôi, chẳng cô gái nào muốn san sẻ tình yêu của mình với ai khác.
"Dù em nên vợ nên chồng / Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên", một câu dặn dò
của Thúy Kiều với em gái, rằng dù em thay chị kết duyên cùng Kim Trọng, nhưng bản
thân chị là người yêu của chàng, chỉ mong đến ngày hạnh phúc, em đừng quên tấm
lòng chị, số phận bạc bẽo đưa đẩy chị đến đường cùng chứ thật tâm chẳng hề muốn
rời xa. Có người cho rằng, Kiều là một cô gái ích kỉ, nhỏ nhen, rành rành thân phận
nhờ vả mà còn đòi hỏi, yêu cầu. Nhưng nhìn về mặt tình cảm, sự ngập ngừng, không
rõ ràng từ Kiều cũng chỉ bắt nguồn từ tình yêu chân thành, từ tấm lòng người con gái
lần đầu biết yêu mà lại buộc phải chia lìa. Chỉ còn vài kỉ vật làm của tin, làm hiện vật
chứng minh tình cảm, chẳng ai cam tâm trao cho người khác, kể cả đó là ruột thịt, máu mủ.
Trao lại kỷ vật cho em nhưng tâm hồn Kiều vẫn không thể nguôi ngoai, thật tâm vẫn
chưa hề quên đi Kim Trọng:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan.
Lời nói mang một sự đau lòng não nề, Kiều tự coi mình là kẻ đoản mệnh, những câu
từ thể hiện Kiều đã ở một thế giới khác, không thể trở về với cuộc sống bình thường,
không được đoàn tụ với gia đình. Sống trong một xã hội bất công, nơi con người sẵn
sàng hãm hại nhau vì đồng tiền, Kiều không dám nghĩ đến việc mưu cầu cho hạnh
phúc cá nhân mà chỉ dám mong được chứng kiến hạnh phúc của em gái và người yêu.
Sự bế tắc và khổ đau trong lòng nàng chất chứa trong từng câu nói. "Lò hương, ngọn
cỏ lá cây, hiu hiu gió, hồn, nát thân, cách mặt khuất lời, người thác oan", hàng loạt
những từ mang âm hưởng cô tịch, chết chóc như một vết cứa vào lòng người đọc.
Người con gái tuổi mới mười tám đã nghĩ đến cái chết bi kịch, cái chết oan khuất, bế
tắc. Nhưng bản thân người con gái ấy lại chỉ mong mỏi được thanh thản, có thể giũ bỏ
hết tình duyên dương thế. Đau xót thay cho một số phận tài sắc vẹn toàn nhưng sớm
rơi vào lam lũ, bi kịch, chấp nhận bán mình chuộc cha nhưng vẫn nghĩ đến nghĩa tình, thề hẹn.
Tâm sự với em, Thúy Kiều cũng không quên gửi lời tới Kim Trọng với những dòng tâm trạng tha thiết:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
Tâm sự với Kim Trọng nhưng thực chất, Kiều chỉ được độc thoại với chính mình, vì
người nàng yêu đang ở phương xa, đâu hay biết gì tình thế của nàng hiện tại. Nàng ý
thức được số phận bạc bẽo bằng những điển cố "gương gãy", "trâm tan", những hình
ảnh gợi sự chia lìa đôi lứa. Xét đến cùng, mục đích của cuộc trao duyên này là do mối
tình nặng nghĩa với Kim Trọng chưa thể kết thúc, nên trong những lời cuối gửi đến
chàng, Kiều luôn muốn nhắc lại những hoài niệm tươi đẹp của hai người trước khi
buộc phải tự mình cắt đứt mối duyên chẳng được bao lâu. "Muôn vàn ái ân" nay đã trở
thành quá khứ, sự thật giờ chỉ còn "tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!".Cùng với nỗi
tiếc nuối về tình yêu, Kiều còn khóc thương cho số phận của mình. Phận nữ nhi chân
yếu tay mềm trong xã hội xưa đã bị rẻ rúng, giờ đây lại còn "bạc như vôi", "nước chảy,
hoa trôi lỡ làng", sự bất lực, phó mặc số phận vì không có tiếng nói, không có quyền
tự quyết định . Tiếng gọi xé lòng " Hỡi Kim Lang!" thay cho một lời than, tiếng khóc
tức tưởi. Cách gọi "lang" là cách gọi chồng trong xã hội xưa, cho thấy tình cảm của
Thúy Kiều vô cùng chân thành, thủy chung, dù có bất kì hoàn cảnh nào thì lời thề
duyên lứa của nàng đêm ấy vẫn vẹn nguyên. Có thể, người đọc cảm thấy một chút phi
lý trong câu nói của Kiều, rằng tại sao đã trao duyên với em rồi nhưng vẫn gọi Kim
Trọng là "lang", là chồng, Phải chăng, trong dòng hồi tưởng về những giây phút ở
cạnh nhau, Thúy Kiều được tạm quên đi những đớn đau nàng phải đối mặt, nhưng
cảm giác tội lỗi của mình với chàng Kim, chỉ còn nàng với chàng, hai người yêu nhau
say đắm, là vợ chồng. Câu gọi bật ra vừa để thể hiện ước nguyện được hạnh phúc của
Thúy Kiều, vừa thể hiện tấm lòng nặng tình nặng nghĩa của nàng, một nét đẹp tâm
hồn của người phụ nữ trong xã hội xưa.
Đoạn trích "Trao duyên" đã khái quát một cách sâu sắc nhất những cung bậc cảm xúc
của Thúy Kiều khi buộc phải rời xa người yêu, đành trao duyên lại nhờ cậy em gái
tiếp tục lời hứa với Kim Trọng. Một người phụ nữ yêu hết mình, thủy chung da diết,
lại khéo léo, sắc sảo nhưng bạc mệnh, long đong. Bằng bút pháp nghệ thuật khai thác
tâm lý nhân vật, để nhân vật tự bộc lộ cảm xúc qua hành động, cử chỉ, tác giả đã
truyền đạt tới người đọc niềm thương xót cho bi kịch tình yêu tan vỡ của nàng Kiều.
Tâm trạng nhân vật được đặc tả qua những chi tiết đắt giá, thể thơ lục bát uyển chuyển,
mềm mại cùng những từ ngữ mạnh, gợi sự xót xa đã làm rung động trái tim bạn đọc
với những nỗi niềm của nhân vật.
Qua "Trao duyên", Nguyễn Du cũng gửi gắm sự tôn trọng, nâng niu những con người
đẹp, biết trọng chữ hiếu, vẹn chữ tình, đồng thời lên án xã hội bất công, bạc bẽo đã
đẩy con người vào cửa ải chia lìa, chia cắt hạnh phúc lứa đôi của những người xứng
đáng được hưởng hạnh phúc.
Qua hành động, cử chỉ, tác giả đã truyền đạt tới người đọc niềm thương xót cho bi
kịch tình yêu tan vỡ của nàng Kiều. Tâm trạng nhân vật được đặc tả qua những chi tiết
đắt giá, thể thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại cùng những từ ngữ mạnh, gợi sự xót xa
đã làm rung động trái tim bạn đọc với những nỗi niềm của nhân vật.
Qua "Trao duyên", Nguyễn Du cũng gửi gắm sự tôn trọng, nâng niu những con người
đẹp, biết trọng chữ hiếu, vẹn chữ tình, đồng thời lên án xã hội bất công, bạc bẽo đã
đẩy con người vào cửa ải chia lìa, chia cắt hạnh phúc lứa đôi của những người xứng
đáng được hưởng hạnh phúc.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 15
Trao duyên - một hành động “trả nghĩa chàng Kim” của Thúy Kiều thể hiện một nét
đẹp trong đạo sống của người xưa, “tình” thường gắn liền với “nghĩa”. Đó là một đặc
điểm quan trọng trong quan niệm truyền thống về tình yêu. Đó là cái nhìn hiện thực
của Nguyễn Du về con người.
Nhưng bên cạnh đó, ta còn thấy một nàng Kiều thiết tha với tình yêu, thiết tha với
cuộc sống riêng tư. Điều đó được thể hiện qua nỗi đau đớn của nàng vì tình yêu tan vỡ.
Chiều sâu và sự chân thành trong tình cảm của nàng Kiều được bộc lộ sâu sắc khi
nàng đối diện với kỉ vật, kỉ niệm tình yêu. Mối tình Kim - Kiều là mối tình đẹp vượt lễ
giáo phong kiến. Mối tình của đôi tài tử - giai nhân ấy đã có những kỉ niệm trong sáng,
đẹp đẽ, sâu nặng thiết tha. Kỉ niệm chính là hiện thân của tình yêu. Kỉ vật gắn với kỉ
niệm, là một dạng vật chất hoá của kỉ niệm. Cho nên, rải rác suốt trong đoạn Trao
duyên, Thuý Kiều đã nhắc tới, đã sống và đau đớn với những kỉ vật và kỉ niệm ấy.
Trước hết, kỉ niệm được Kiều nhắc đến một cách tế nhị khi nói với Thuý vân về mối tình của mình:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Ngôn ngữ khách quan, chữ “khi” lặp lại như dư âm của cái đã qua, lời lẽ có vẻ thanh
thản. Nhưng cái thiết tha, cái chiều sâu của tình cảm lại nằm ở kỉ niệm “gặp chàng
Kim”. Đó là kỉ niệm của phút giây gặp gỡ ban đầu mà “nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”.
Cả một vùng trong sáng của kí ức hiện về. Nhưng lúc này Kiều còn đủ lí trí để kìm
nén, để không bị kỉ niệm cuốn vào tâm tưởng. Nhưng đến câu: “Khi ngày quạt ước,
khi đêm chén thề” thì kỉ niệm của ngày trao quạt cho nhau để hẹn ước, đêm dưới trăng
uống rượu nguyện thề thuỷ chung tự nó nói lên sự sâu nặng của một mối tình: trong
sáng mà mãnh liệt, thiết tha. Mối tình vàng đá ấy tưởng cầm nắm trong tay bỗng chốc
bị xã hội dập vùi tan vỡ. Tình yêu vẫn tiếp tục hiện về với kỉ vật:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Khi trao kỉ vật cho Thuý Vân, nỗi mất mát hiện hữu quá rõ. Cầm đến kỉ vật, kỉ niệm
tình yêu sống dậy đối lập với hiện thực phũ phàng, Thuý Kiều không còn đủ lí trí để
kìm nén được nữa, giọng nói của nàng run lên: “Duyên này thì giữ, vật này của
chung”, nghe như có tiếng nấc nghẹn ngào trong đó. Hoài Thanh đã cảm thông nỗi
đau đớn của nàng Kiều ở hai từ “của chung” – “Bao nhiêu đau đớn dồn vào hai tiếng
đơn sơ ấy”. Đau đớn vì duyên thì trao cho em mà tình yêu thì không trao được. Kỉ vật
với Thuý Vân chỉ đơn giản là vật làm tin nhưng với Thuý Kiều nó lại là tình yêu.
Trao duyên cho em, con người đạo lí ở Thuý Kiều mách bảo cần phải trao kỉ vật. Vả
lại, khi tình yêu tan vỡ, giữ kỉ vật chỉ thêm đau nhưng Thuý Kiều không chỉ là con
người của đạo lí mà còn là con người của tình riêng. Thuý Vân giữ kỉ vật trong khi
chính Kiều mới là người giữ kỉ niệm của tình yêu. Cuộc chia lìa giữa kỉ niệm và kỉ vật
là cuộc chia lìa giữa linh hồn và thể xác. Đau đớn dồn vào hai chữ “của chung” là vì
như thế. Nguyễn Du như hoá thân để cảm thông, chia sẻ đến tận cùng nỗi đau với
nhân vật của mình, từ đó cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc, mới mẻ. Càng lúc, nỗi đau
đớn càng lớn, kỉ vật, kỉ niệm tình yêu cứ chập chờn:
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
“Ngày xưa”, “phím đàn”, “mảnh hương nguyền”,… có một đôi lứa thiếu niên bên
nhau, nàng đánh đàn cho chàng nghe trong khói hương trầm thơm ngát. Bao nhiêu thi
vị của mối tình đầu giờ chỉ còn là vô vọng.
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này…
Hồn còn mang nặng lời thề …
“Lò hương”, “phím đàn”, “lời thề” là những kỉ niệm sâu nặng, thiết tha đối lập với
hiện thực phũ phàng, tương lai mù mịt khiến Thuý Kiều rơi vào trạng thái đau đớn tột
độ. Nguyễn Du thật tinh tế, sâu sắc khi biểu đạt nội tâm con người đối diện với kỉ vật,
kỉ niệm tình yêu trong hoàn cảnh trao duyên. Thân phận đau khổ nhưng nhân cách
sáng ngời. Nàng ứng xử theo văn hoá của thời trung đại nhưng không thôi nghĩ về
thân phận và tình yêu riêng tư. Điều đó khiến nàng Kiều “người” hơn, gần chúng ta
hơn, sống động và chân thực hơn.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 16
Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, một vị danh nhân văn hóa thế giới, tài năng của ông
được khẳng định qua nhiều tác phẩm văn học xuất sắc. Trong đó nổi bật và được biết
đến nhiều nhất là Truyện Kiều, một truyện thơ được xếp vào hàng kiệt tác của nền văn
học trung đại cũng như toàn nền văn học của Việt Nam. Truyện Kiều là một tác phẩm
văn học có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân ta từ hàng trăm năm nay,
từ Truyện Kiều lại phát sinh ra vịnh Kiều, bói Kiều, tranh Kiều, lẩy Kiều,… là nguồn
cảm hứng cho hàng loạt các loại hình sân khấu, âm nhạc, hội họa,… thậm chí nó còn
vươn xa ra ngoài thế giới với hơn 20 bản dịch của các quốc gia khác nhau. Có thể nói
rằng khó có thể có tác phẩm nào trong nền văn học Việt Nam có thể vượt qua cái bóng
của Truyện Kiều. Đoạn trích Trao duyên là một đoạn trích đặc sắc và khá tiêu biểu
cho cuốn truyện thơ này, kể về nỗi bất hạnh đớn đau đầu tiên trong cuộc đời 15 năm
sóng gió lưu lạc của Thúy Kiều, cô gái tài hoa nhưng mệnh bạc.
Sở dĩ có cảnh trao duyên bởi trước đó khi gia đình gặp biến cố, cha và em của Kiều bị
bắt bớ và đánh đập vô cùng dã man, phải có một món tiền lớn để chuộc thì mới thoát
tội chết. Kiều vốn là con cả thế nên phải gánh trách nhiệm này, cách duy nhất Kiều có
thể nghĩ đến ấy là bán thân làm vợ lẽ cho người ta để kiếm tiền. Thế nhưng đau đớn
thay, Kiều lại chót thề nguyền đính ước với chàng Kim Trọng, hứa đợi chàng trở về,
nay ra nông nỗi này lòng Kiều vô cùng rối rắm. Thế rồi, sau bao nhiêu trằn trọc suy
nghĩ, chữ hiếu vẫn đặt lên trên chữ tình, Kiều đành có lỗi với tình cảm của chàng Kim,
để trọn hiếu với phụ mẫu. Nhưng Kiều vẫn muốn vẹn toàn đôi bên, nên đã nhờ em là
Thúy Vân nối tiếp tình duyên với Kim Trọng coi như là trả hết nghĩa cho chàng. Đoạn
trích Trao duyên trích từ câu 723-756, thuộc phần Gia biến và lưu lạc.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Trước khi kể lại câu chuyện tình yêu của mình với Kim Trọng, trước khi chính thức
cậy nhờ Thúy Vân Kiều đã có một lời dạo đầu, lời dạo đầu ấy đã đặt Thúy Vân vào vị
trí khó xử, nàng bị đưa vào thế không thể từ chối. Lời mở đầu của Kiều đã được nàng
hết sức cân nhắc, cẩn trọng đến từng từ sao cho phù hợp, có thể nói từng câu từng chữ
đều rất tinh tế, khiến người nghe phải chịu vào thế và Thúy Vân thì lại càng không
ngoại lệ. Kiều dùng từ “cậy” mà không dùng từ “nhờ” bởi vốn từ ấy ngoài nghĩa nhờ
vả, thì còn mang sắc thái gửi gắm, tin tưởng, tin cậy, thêm vào đó còn mang theo sự
trông mong hy vọng tha thiết từ Kiều.
Một từ khác Kiều tiếp tục dùng ấy là từ “chịu lời”, ấy là tư thế làm một việc gì đó
không tự nguyện, miễn cưỡng chấp nhận, chứng tỏ Kiều rất hiểu cho tình thế và nỗi
lòng của Thúy Vân khi nghe những lời mà mình sắp nói. Phải nói rằng việc phải lấy
Kim Trọng là một sự thiệt thòi lớn cho Thúy Vân, bởi thứ nhất Vân phải chịu sự sắp
đặt lấy một người mình chưa chắc đã yêu, mà người đó lại cả đời đuổi theo bóng của
chị mình, đó chính là bi kịch của cuộc đời nàng. Kiều cũng biết điều ấy, nhưng vì trọn
nghĩa và cũng vì trọn hiếu dẫu biết em gái sẽ khó xử nhưng nàng vẫn buộc phải làm,
xem như đó cũng là một phần trách nhiệm mà Thúy Vân phải gánh vác sau biến cố gia đình.
Sự áy náy, sự bất đắc dĩ khiến Kiều phải dùng từ “lạy-thưa” với Thúy Vân, dẫu nghe
vào có vẻ rất phi lý, bởi Kiều phận chị lẽ nào lạy em? Nhưng sắp trong trường hợp
Kiều phải nhờ Vân một chuyện hệ trọng thì nó lại rất hợp lý, bởi mối quan hệ chị - em
giờ đây đã chuyển thành mối quan hệ người chịu ơn và ân nhân của mình, đó là sự tôn
trọng của Kiều dành cho những gì mà Thúy Vân sẽ làm cho mình. Và như thế Thúy
Vân lại càng khó có thể từ chối trước những điều mà Kiều nhờ vả, dẫu biết nó thật éo le và khó chấp nhận.
“Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Để giải thích cho lời nhờ vả của mình cũng như lý lẽ mà nàng phải trao duyên, Kiều
đã giãi bày những mâu thuẫn mà bản thân đang phải đối mặt. Trước hết nàng đã hẹn
thề với Kim Trọng, có vật làm chứng là “quạt ước” hẹn trăm năm, đã uống cạn “chén
thề” lòng thủy chung. Thúy Kiều từng rất nhiều lần thề nguyền chắc chắn với Kim
Trọng, hơn thế nữa trong xã hội phong kiến, lời thề nặng tựa ngàn cân, vậy mà giờ
đây Kiều buộc phải bội ước, trái lại lời thề với Kim Trọng. Đó là một điều ghê gớm và
được xem là bất nghĩa.
Thế nhưng không phải lòng Kiều muốn vậy mà vì chữ hiếu Kiều buộc phải đi vào
bước đường bất nghĩa, xuất phát từ nguyên nhân khách quan, “Sự đâu sóng gió bất
kỳ”, đó là một biến cố rất lớn, xảy đến đến đột ngột khiến Kiều không kịp trở tay.
Kiều bị đặt vào mối mâu thuẫn “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?”, cuối cùng bên
hiếu vẫn là trên hết, tuân thủ theo nguyên tắc đạo lý phong kiến, Kiều đã quyết định
hy sinh bản thân để chuộc cha. Nhưng Kiều lại rơi vào mâu thuẫn khác, phụ lòng
người yêu, phụ đi mối tình đầu sâu nặng, Kiều rất đau khổ, áy náy dằn vặt vì tình yêu
dang dở “Giữa đường đứt gánh”, hết sức xót xa, tội nghiệp.
Trước những tình cảnh khốn khổ và những mâu thuẫn chồng chéo, Kiều đã giải quyết
mâu thuẫn ấy bằng cách “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Chỉ bằng đúng từ “tơ
thừa” đã thể hiện nỗi đớn đau khổ sở của Kiều trong việc dứt tình, trao duyên cho em
gái, cũng là lòng thương xót, tội nghiệp cho Thúy Vân vì phải hứng mới duyên thừa,
một mối duyên chắp vá mà không thể từ chối. Kiều “mặc em”, buộc Thúy Vân vào
khốn cảnh, dẫu biết rằng “Ngày xuân em hãy còn dài”, biết rằng cơ hội hạnh phúc của
Thúy Vân đang còn rộng mở, phơi phới. Nhưng Kiều biết rằng Thúy Vân sẽ không
thể từ chối vì “Xót tình máu mủ” em sẽ “thay lời nước non”, thay Kiều trả nghĩa cho
Kim Trọng. Thúy Kiều tin chắc rằng Vân sẽ đồng ý, nên tiếp tục giãi bày tâm trạng
của mình “Chị dù thịt nát xương mòn/Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”, Kiều
có dự cảm không lành về tương lai, nhưng dù có chuyện gì xảy ra thì Kiều vẫn có thể
yên tâm, bằng lòng vì đã được an ủi bằng việc vẹn toàn chữ hiếu, lẫn chữ tình.
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”
Thúy Kiều trao duyên, cũng trao từng kỷ vật lại cho Thúy Vân, gọi tên từng thứ một
“chiếc vành”, “bức tờ mây, “phím đàn với mảnh hương nguyền”, tất cả đều là những
kỷ niệm bên nhau của Kim-Kiều. Lúc này đây Kiều trao lại hết cho Vân, trao kỷ vật
cũng là trao duyên cho Thúy Vân, cùng lúc đó ở trong Kiều cũng xuất hiện sự mâu
thuẫn giữa lý trí và tình cảm. Nàng trao hết kỷ vật, để dứt tình, mong muốn Vân có
cuộc sống gia đình êm đềm và hạnh phúc, bên cạnh đó lòng nàng cũng xuất hiện
những giằng xé. Duyên trao em những kỷ vật thì lại là của chung, nàng muốn đồng sở
hữu chúng, cũng mong muốn rằng vợ chồng Kim Trọng mãi nhớ đến mình, với Thúy
Vân là tình máu mủ, với Kim Trọng là tình yêu. Rõ ràng Thúy Kiều cũng có lòng ích
kỷ và lòng mềm yếu, điều ấy chứng minh tình cảm của nàng với Kim Trọng rất sâu
nặng, hẳn trong lúc trao duyên nàng đã phải đau đớn tột cùng trong tâm can.
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.”
Kiều trao duyên xong thì lại dặn dò Thúy Vân chuyện mai sau, mỗi khi đốt hương
đánh đàn thì Thúy Kiều sẽ về, lúc ấy Thúy Vân hãy nhỏ giọt nước làm phép để giải
oan cho mình. Lần nữa lại có sự mâu thuẫn giữa lý trí và tình cảm, một bên mong
Thúy Vân và Kim Trọng sẽ có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và êm đềm, một bên lại
mong rằng mình được sum họp trong những giây phút hạnh phúc bên cạnh Kim và
Vân. Như vậy, Thúy Kiều hiện lên trong đoạn trích không chỉ là một tấm gương đạo
lý đơn thuần, mà còn là một con người trần thế sống động có tình cảm yêu thương, đau đớn.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Trở lạị với hiện thực, Thúy Kiều thức tỉnh chỉ để đớn đau, sau những cố gắng níu kéo
không khả thi, nàng buộc phải quay về đối mặt và chấp nhận nghịch cảnh, tình yêu tan
vỡ không thể hàn gắn, bản thân nàng phải gả cho người xa lạ làm vợ lẽ, cuộc đời mịt
mù trôi dạt chẳng biết về nơi nao. Kiều thức tỉnh trước nỗi đau thân phận bẽ bàng
“phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi”, gợi ra nỗi đau cùng cực của Thúy Kiều.
Kiều đã đối thoại với Kim Trọng trong tâm tưởng, lời gọi như khóc, như than, nghe
não nề, đứt ruột, câu thơ kết là lời tự trách, lời thú tội phụ bạc tình yêu với Kim Trọng.
Nếu trên góc nhìn của người đọc thì Kiều không hề có lỗi, bởi sự phản bội của Kiều là
do khách quan, đồng thời nàng đã nhờ Thúy Vân trả nợ duyên cho mình, thế nhưng
nếu là Kim Trọng, thì Kiều hoàn toàn có lỗi, nợ lại mối tình với chàng, không cách
nào trả được. Nhận thấy được tình cảm Kiều dành cho Kim Trọng rất sâu nặng, vẻ đẹp
của lòng vị tha và đức hy sinh cao cả.
Qua đoạn trích "trao duyên", Nguyễn Du đã thể hiện lòng thông cảm, xót thương với
bi kịch tình yêu, với thân phận bất hạnh của Thúy Kiều, điển hình của một kiếp hồng
nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến, đồng thời trân trọng ngợi ca nhân cách cao
đẹp của Thúy Kiều. Trong đoạn trích bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật xuất
sắc, tác giả đã miêu tả một cách tinh tế tâm trạng của nhân vật trong cảnh trao duyên,
bằng cách sử dụng nhiều hình thái ngôn ngữ, đối thoại, độc thoại, nửa trực tiếp.
Phân tích đoạn trích Trao duyên - Mẫu 17
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du không còn là tác phẩm xa lạ đối với các thế hệ bạn đọc.
“Trao duyên” là một trong những đoạn trích tiêu biểu của thiên kiệt tác này. Nhận xét
về “Trao duyên”, Tản Đà từng viết: “Trong cả quyển Kiều, văn tả tình không mấy
đoạn dài hơn như vậy. Đoạn này thật lâm ly, mà như thế mới biết hết tình sự”.
“Trao duyên” là đoạn thơ bắt đầu từ câu 723 đến câu 756 của “Truyện Kiều”. Đoạn
trích đã khắc họa những tâm trạng đớn đau, giằng xé của Thúy Kiều khi nhờ Thúy
Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng để làm trọn chữ “tình”. Ngay từ nhan đề,
đoạn trích đã gây nên sự tò mò cho bạn đọc. Chúng ta thường trao lại cho người khác
vàng bạc, châu báu hay những thứ vật chất dễ nhìn thấy, dễ cầm nắm chứ mấy ai lại
trao cho người khác thứ khó xác định, khó hình dung như trao duyên? “Duyên” là thứ
con người khó có thể lí giải một cách thỏa đáng và nó rất khó để định hình. Vậy mà
Thúy Kiều lại có hành động trao duyên, phải chăng có điều gì khó nói, uẩn khúc ở đây?
Phải từ bỏ tình yêu của mình là điều không ai mong muốn nhưng trong trường hợp
này, Thúy Kiều không thể làm khác. Nàng buộc phải hi sinh tình cảm, hạnh phúc
riêng tư của bản thân để chuộc cha và em trai. Đêm cuối cùng ở nhà trước khi theo Mã
Giám Sinh ra đi, Thúy Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
“Cậy” và “nhờ” là hai từ đồng nghĩa nhưng tại sao trong trường hợp này, Thúy Kiều
lại nhờ từ “cậy”? Ngoài ý nghĩa nhờ vả, mong muốn người khác giúp đỡ mình thì từ
“cậy” còn hàm chứa cả lòng tin tưởng, sự hi vọng vào người được nhờ vả của chủ thể.
Thúy Kiều và Thúy Vân là hai chị em ruột, vì thế nàng Kiều đã dốc hết lòng tin để gửi
gắm mối duyên tình. Thanh trắc ở từ “cậy” khiến âm hưởng câu thơ trở nên nặng nề
hơn, đồng thời cũng thể hiện mức độ quan trọng của việc nhờ vả. Người được nhờ có
thể nhận lời hoặc từ chối giúp đỡ nhưng trong trường hợp này, Thúy Kiều đã đặt Thúy
Vân vào hoàn cảnh mà nàng chỉ có thể “chịu lời”.
“Chịu lời” là một sự chấp nhận bắt buộc, không còn sự lựa chọn nào khác. Biết mình
đã khiến Thúy Vân rơi vào hoàn cảnh khó xử và có lẽ sẽ khiến Thúy Vân phải chịu
nhiều thiệt thòi nên nàng đã dùng lễ nghi trang trọng để bày tỏ nỗi lòng của mình với
em. “Lạy”, “thưa” là những lễ nghi trang trọng thường dùng đối với các bậc bề trên
trong xã hội phong kiến, đồng thời hành động ấy cũng được dành cho những bậc ân
nhân, những người có ơn đối với mình. Trong trường hợp này, Thúy Vân là người mà
Thúy Kiều sẽ mang ơn suốt cả cuộc đời nên hành động mời em gái “ngồi lên” để mình
“lạy”, “thưa” cũng là điều dễ hiểu. Chuyện tình yêu của nàng đang tốt đẹp thì bỗng
nhiên tai ương xảy đến:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
“Gánh tương tư” bị “đứt” giữa đường thật đột ngột, đây là điều mà Thúy Kiều không
ngờ tới. Hình ảnh “gánh tương tư” chính là ẩn dụ cho mối tình thắm thiết đó. Chỉ còn
đêm nay là đêm cuối cùng ở nhà bởi ngày mai nàng đã trở thành vợ lẽ của người khác,
tình yêu với Kim Trọng chỉ còn trong kí ức chứ không thể nào tiếp tục được nữa.
Nhưng Thúy Kiều không phải là kẻ bạc tình, bạc nghĩa, nàng đã nhờ cậy Thúy Vân
“chắp mối tơ thừa”. Tình yêu ấy đối với Thúy Kiều có thể là một tình yêu đẹp nhưng
đối với Thúy Vân thì đó có thể là “tơ thừa” vì nàng không hề có tình cảm với Kim
Trọng cũng như không liên quan đến mối tình Kim - Kiều.
Vậy mà giờ đây, nàng phải thay chị kết duyên với một người mà mình không hề yêu,
hoàn cảnh ấy thật khó xử. Dân gian có câu “Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên”, duyên là
thứ con người không nên ép buộc nhưng Thúy Vân là người mà Thúy Kiều tin tưởng
nhất, ngoài Thúy Vân ra thì không ai có thể giúp nàng chuyện này. Chỉ có Thúy Vân
mới có thể thay Kiều kết duyên cùng chàng Kim và cũng chỉ có Thúy Vân mới khiến
nàng yên tâm gửi gắm mối duyên tình. Thúy Kiều để “mặc em” quyết định nhưng
thực chất là phó thác, ép buộc Thúy Vân phải đồng ý giúp đỡ. Nàng muốn Thúy Vân
hãy dùng thứ keo gắn chắc được chế từ máu của loài chim loan để nối tiếp mối duyên
với Kim Trọng. Không chỉ bằng lời nói, lễ nghi trang trọng mà Thúy Kiều còn kể cho
Vân nghe chi tiết chuyện tình yêu của mình để thuyết phục em:
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình hai lẽ khôn bề vẹn hai”
Những đôi trai gái yêu nhau thường hay tặng nhau chiếc quạt vì chiếc quạt có hai mặt
giấy hoặc lụa được dán áp sát vào nhau tượng trưng cho sự gắn kết, hòa hợp, Thúy
Kiều và Kim Trong cũng như vậy. Thúy Kiều đã tặng Kim Trọng chiếc quạt trong
đêm thề nguyền, ước hẹn. Điệp từ “khi” được lặp lại ba lần đã cho thấy tình cảm của
họ thật khăng khít, sâu nặng. “Quạt ước”, “chén thề” gợi nhắc nàng nhớ đến đêm thề nguyền thiêng liêng ấy:
“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi”
Lời thề “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” đến nay đã không thể thực hiện bởi
“sóng gió bất kì”. Trong hoàn cảnh éo le như vậy, giữa chữ “hiếu” và chữ “tình”, nàng
bắt buộc chỉ được chọn một. Và với sự hiếu thảo của một người con, nàng đã chọn
chữ “hiếu” còn chữ “tình” nàng trông cậy Thúy Vân nhận lời giúp mình. Trong xã hội
phong kiến, có mấy ai làm trọn vẹn được cả “tình” cả “hiếu” và Thúy Kiều cũng vậy,
nàng thật vị tha khi luôn nghĩ cho người khác mà quên đi bản thân mình. Sự lựa chọn
chữ “hiếu” của nàng cũng là điều hợp tình hợp lí bởi cha mẹ đã dành cả cuộc đời để
chăm lo cho mỗi chúng ta, công ơn ấy chúng ta không thể nào đền đáp hết. Nàng thực
sự là “người thục nữ đủ đường hiếu nghĩa” (Chu Mạnh Trinh). Tha thiết mong muốn
Thúy Vân chấp nhận lời khẩn cầu của mình, Thúy Kiều đã dùng những lí lẽ xác đáng:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
So sánh với Thúy Kiều thì những ngày xuân của Thúy Vân vẫn còn dài, Thúy Vân
hoàn toàn có thể giúp được việc mà Thúy Kiều nhờ vả. Hơn nữa, Thúy Kiều còn nhắc
tới cả “tình máu mủ”, tình chị em ruột thịt thì làm sao Vân có thể từ chối. Ở một thế
giới khác, Kiều vẫn vui vẻ, mãn nguyện vì em đã “chắp mối tơ thừa” giúp mình. Tâm
trạng ấy đã được Nguyễn Du thể hiện qua thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm
cười chín suối”. Dù nàng ở chốn âm phủ, cửu tuyền thì cũng được “thơm lây” với
hạnh phúc của Thúy Vân và Kim Trọng. Nhắc đến cái chết của chính mình, Thúy
Kiều đau đớn biết nhường nào. Dù không muốn thì nàng cũng trao lại những kỉ vật
tình yêu của mình để em gìn giữ, trân trọng mối tơ duyên đó:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”.
Người ta thường nói mối tình đầu là mối tình đẹp nhất nhưng cũng là mối tình gây cho
ta nhiều đau khổ nhất, điều ấy quả không sai. Mối tình đầu với Kim Trọng đẹp đẽ,
thắm thiết là thế mà bây giờ lỡ dở, làm sao Thúy Kiều không khỏi xót xa, dằn vặt?
Chiếc vòng xuyến đeo tay và tờ giấy ghi lời thề ước của hai người giờ đây đã trở
thành kỉ vật chung của cả Thúy Kiều, Kim Trọng và Thúy Vân. Đó vốn là những kỉ
vật gắn với những kỉ niệm riêng tư của chuyện tình Kim - Kiều nhưng vì hoàn cảnh
trớ trêu mà nó trở thành “của chung”. Nỗi đau đớn của nàng dường như đã bật thành
tiếng nấc nghẹn ngào. Nàng đâu muốn trao duyên lại cho một người khác, nàng đâu
muốn phụ bạc chàng Kim nhưng hoàn cảnh nghiệt ngã đã buộc nàng phải làm như vậy.
Mảnh trầm hương đốt trong buổi thề nguyền và những giây phút Kiều gảy đàn bên
Kim Trọng giờ đây đã trở thành quá khứ - một quá khứ gợi bao nỗi xót xa, tiếc nuối.
Lí trí và tình cảm đã có sự mâu thuẫn khi nàng muốn giữ lại chữ “duyên” cho bản thân
mình làm của riêng. Nàng đã hi sinh tình cảm cá nhân vì gia đình, nàng đã trao duyên
lại cho Thúy Vân để mong Kim Trọng được hạnh phúc vậy thì một chút “duyên” nàng
xin được giữ lại cũng là điều dễ thấu hiểu. Lại thêm một lần nữa, Thúy Kiều nghĩ về
cái chết. Phải chăng nàng đã dự đoán được số phận nổi trôi, vô định, hẩm hiu của
mình? Nàng hình dung ra viễn cảnh Thúy Vân và Kim Trọng “nên vợ nên chồng”,
chung sống hạnh phúc còn mình là “người mệnh bạc”, số phận bạc bẽo, không may mắn.
Tuy kỉ vật đã trao nhưng dường như Thúy Kiều không thoát khỏi được sự ám ảnh về
cái chết, nàng vẫn chưa thể yên lòng:
“Mai sau dù có bao giờ,Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.Trông ra ngọn cỏ gió
cây,Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.Hồn còn mang nặng lời thề,Nát thân bồ liễu đền
nghì trúc mai.Dạ đài cách mặt, khuất lời,Rảy xin chén nước cho người thác oan”.
Kiều nhắc em mai sau có đốt lò hương hay đánh đàn thì hãy nhớ đến mình, lúc ấy
nàng mong Vân hãy “trông ra ngọn cỏ lá cây” để thấy được linh hồn oan khuất của
mình. Lời nhắn nhủ ấy tức tưởi và đau xót biết bao. Nàng đã mường tượng ra thảm
cảnh của mình nhưng ngay cả khi trở thành một linh hồn thì nàng vẫn mang theo lời
thề nguyền cùng Kim Trọng.
Đó là lời thề “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” mà cho dù Thúy Kiều có phải
“nát thân bồ liễu” cũng mong trả được nghĩa cho chàng Kim, dù tấm thân nữ nhi yếu
đuối, mỏng manh không còn sống trên cõi đời thì nàng vẫn muốn mình giữ trọn lời thề
của tình yêu đôi lứa. Do trần gian và cõi âm phủ “cách mặt”, “khuất lời” nên Thúy
Kiều cũng chỉ xin em “rảy” giọt nước cho linh hồn oan khuất, đáng thương của mình.
Thông thường, người ta thường “rảy” cả một chén nước nhưng nàng chỉ xin một giọt
nước ít ỏi để rửa oan. Tình yêu tan vỡ, Thúy Kiều đau đớn tự độc thoại với chính mình:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng
Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.
Hơn ai hết, nàng ý thức rất rõ về thực tại của mình. “Trâm gãy gương tan” là biểu hiện
cho sự tan vỡ của tình yêu. Mọi việc xảy đến bất ngờ, đột ngột quá nên “muôn vàn ái
ân” với Kim Trọng làm sao nàng có thể kể xiết. Ân tình với chàng Kim càng lớn thì
nàng cảm thấy có lỗi bởi đã phụ lòng chàng. Tơ duyên chỉ ngắn ngủi có ngần ấy, số
phận thì bạc bẽo như vôi, tình yêu thì dở dang, lỡ làng đã khiến Thúy Kiều có những
dằn vặt, giằng xé trong nội tâm. Nàng chỉ có thể gửi đến người yêu của mình trăm
nghìn cái lạy. Đó là cái lạy từ biệt nhưng cũng là cái lạy tạ lỗi với người “tình quân”
vì nàng đã tự coi mình là kẻ phụ bạc đã phá đi lời thề nguyền trước đây. Nàng Kiều
đâu có lỗi gì trong chuyện này, có trách thì hãy trách xã hội đồng tiền đầy rẫy những
bất công, đẩy con người rơi vào bi bịch. Tiếng gọi “Kim lang” vang lên hai lần nghe
mới tha thiết làm sao. Nàng là người nặng tình nghĩa đã nhận hết lỗi lầm về mình và
luôn mong cho người mình yêu được hạnh phúc. Đức hi sinh của nàng thật đáng quý!
Sau khi phân tích bài Trao duyên, chúng ta có thể thấy được nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật đạt đến đỉnh cao của Nguyễn Du. Ông đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ,
những thành ngữ dân gian cùng sự kết hợp ngôn ngữ bác học trang trọng và ngôn ngữ
dân gian để diễn tả những tâm trạng đau khổ, xót xa của Thúy Kiều khi trao duyên lại
cho Thúy Vân. Ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại được sử dụng một cách linh
hoạt. Bên cạnh đó, thể thơ lục bát uyển chuyển, nhịp nhàng cũng góp một phần không
nhỏ vào sự thành công của đoạn trích. “Trao duyên” đã thể hiện tấm lòng nhân đạo,
thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của nhà thơ đối với số phận những người phụ nữ. Chẳng vậy mà ông đã viết:
“Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi
Những là oan khổ lưu li
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân”.
Phân tích Trao Duyên - Mẫu 18
Truyện Kiều đỉnh cao trong đời thơ Nguyễn Du cũng là đỉnh cao của văn học Việt
Nam, tác phẩm để lại những giá trị sâu sắc về cả nội dung và nghệ thuật. Cuộc đời
nàng Kiều trải qua biết bao truân chuyên, biến cố, phải trải qua biết bao khoảnh khắc
đau lòng mà có lẽ đau lòng nhất chính là khoảnh khắc trao duyên cho em. Toàn bộ suy
nghĩ tâm trạng của nàng được tái hiện chân thực, đầy đủ qua đoạn trích: Trao duyên.
Trao duyên được trích trong phần gia biến và lưu lạc, sau khi gia đình gặp cơn tai biến,
Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh với giá vàng ngoài bốn trăm để lo cho cha và
em thoát nạn. Đêm cuối cùng trước khi phải đi cùng Mã Giám Sinh, Thúy Kiều đã trò
chuyện với em là Thúy Vân vào trao duyên mình cho em với Kim Trọng.
Để thuyết phục em đồng ý thay mình trả nghĩa cho chàng Kim, Thúy Kiều nhờ cậy hết
sức chân thành: Cậy em em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Thúy Kiều đã
sử dụng ngôn từ hết sức tinh tế, hết sức cẩn trọng để đạt được hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra, nàng cũng rất hiểu cho tình thế của Thúy Vân, đây là câu chuyện rất đột
ngột với Thúy Vân, đó là chuyện không phải dễ dàng có thể chấp nhận. Là cậy chứ
không phải bất từ ngữ nào khác, cậy gửi gắm sự tin tưởng, sự trông mong tha thiết của
Kiều với em. Chịu lời – nhận làm một việc với thái độ miễn cưỡng, nàng hiểu cho tình
cảm của Thúy Vân khi phải nghe những điều mình chuẩn bị giãi bày. Cặp từ lạy, thưa
thoạt nhìn có vẻ phi lí trong lễ giáo phong kiến vì chị làm sao có thể lạy, thưa với em.
Nhưng nó lại là hợp lý trong tư thế người cậy nhờ và kẻ được nhờ cậy. Cách dùng từ
của Kiều đã đặt Thúy Vân vào tình thế khó có thể từ chối trước những điều éo le, nghịch cảnh sắp nói.
Để thuyết phục em, Kiều đã đưa ra lí lẽ về tình thế éo le của bản thân: “Kể từ khi gặp
chàng Kim/ Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề/ Sự đâu sóng gió bất kì/ Hiếu tình
khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Nhắc lại chuyện tình cảm của mình và Kim Trọng hẳn lòng
Kiều cũng nhói đau, hàng loạt hình ảnh thể hiện hình ảnh tình yêu đôi lứa được nói
đến: quạt ước – tặng quạt để ngỏ ý hẹn ước trăm năm, chén thề - uống rượu thề
nguyền trung thủy. Những lời hẹn thề sắt son, những tưởng cả hai sẽ được hưởng hạnh
phúc mãi mãi nào ngờ gia đình gặp biến cố khiến tình duyên lỡ dở. Hai câu thơ sau đã
chỉ rõ nguyên nhân khiến Thúy Kiều phải bội ước. Gia đình gặp biến cố lớn, là chị cả
trong gia đình, Thúy Kiều lúc này bị đặt giữa mâu thuẫn: chuyện gia đình và chuyện
tình cảm, chọn chữ hiếu thì nàng bội nghĩa tình, lời hẹn thề với Kim Trọng, nhưng nếu
trọn chữ tình thì lại trở thành kẻ đại bất hiếu. Và cuối cùng nàng đã quyết định: “Làm
con trước phải đền ơn sinh thành”.
Trong đau đớn, dằn vặt nàng vẫn hết sức bản lĩnh, bình tĩnh để đưa ra cách giải quyết
phù hợp nhất: “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Keo loan được làm từ máu của
con chim loan, dùng keo loan để chắp vá cho mối duyên của em và Kim Trọng. Hai
chữ “tơ thừa” như nhấn mạnh vào nỗi đau đớn của Thúy Kiều nhưng đồng thời cho
thấy sự tội nghiệp của nàng Vân. Biết bao đau đớn, biết bao tủi hơn trong chuyện tình
duyên này. Kiều luôn tỏ ra là người rất am hiểu tâm lí và tình thế của Thúy Vân, nếu ở
trên là mặc em, gần như giao phó, thì câu thơ dưới lại như một lời mong mỏi, tha
thiết: “Ngày xuân em hãy còn dài/ Xót tình máu mủ thay lời nước non”. Thúy Kiều
mong Vân vì tình chị em ruột thịt mà em có thể trả nghĩa cho Kim Trọng thay mình,
nếu vậy: “Chị dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”. Trong
nàng bao giờ cũng vậy, luôn có dự cảm không lành cho tương lai của chính mình.
Đồng thời với lập luận như vậy kiến Vân không nỡ từ chối lời đề nghị của mình. Bằng
lối lập luận chặt chẽ, sắc sảo vừa cho thấy sự thông minh của Thúy Kiều, vừa thực
hiện được mục đích khiến Vân trả nghĩa cho Kim Trong cho nàng.
Sau lời nhờ cậy em, Thúy Kiều bắt đầu trao kỉ vật cho Thúy Vân và dặn dò chuyện
tương lai. Từng kỉ vật khi xưa của nàng và Kim Trọng đều được nâng niu, giữ gìn,
mỗi kỉ vật gắn liền với một niềm hạnh phúc mà cả cuộc đời này nàng sẽ không bao
giờ quên. Là chiếc vành mà Kim Trọng đã trao cho Thúy Kiều, là bức tờ mây – thư từ
với những lời yêu thương họ dành cho nhau. Nhưng đó đâu phải đã hết họ còn có
chung những kỉ niệm “phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa” và giờ đây Thúy
Kiều trao lại hết cho em, nàng trao kỉ vật cũng đồng nghĩa với việc trao duyên. Nhưng
khi nàng trao kỉ vật vẫn có sự mâu thuẫn, giằng xé giữa lí trí và tình cảm: lí trí thì
nàng muốn trao hết cho em, nhưng tình cảm dường như không muốn: “Duyên này thì
giữ, vật này của chung”, nàng vừa muốn trao, vừa muốn giữ, giữ lại một chút gì đó
cho bản thân. Tâm lí này cũng thật dễ hiểu, bởi trong tình yêu nhu cầu sở hữu rất cao,
mấy ai có đủ dũng khí để trao duyên, vậy mà, Kiều đã phải làm, nên hành động muốn
giữ lại một chút của chung cho mình là hoàn toàn dễ hiểu và hợp quy luật tâm lí.
Đồng thời nàng cũng mong họ có cuộc sống êm đềm, hạnh phúc nhưng lại cũng muốn
họ không bao giờ quên mình: “Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”. Thúy Kiều
rõ ràng có sự ích kỉ, mềm yếu nhưng chính trong đó lại thấy tình cảm nàng dành cho
Kim Trọng rất sâu nặng và trong giây phút trao duyên này nàng rất đau đớn, mất mát, hụt hẫng.
Trao kỉ vật đau đớn, xót xa bao nhiêu thì những lời dặn dò chuyện mai sau càng quặn
thắt bấy nhiêu: “Mai sau dù có bao giờ/ Đốt lò hương ấy so tơ phím này”. Sau này,
mỗi khi đốt hương, đánh đàn, linh hồn của nàng sẽ trở về, khi đó nàng chỉ mong Thúy
Vân hãy rưới giọt nước để giải oan cho chị “rưới xin giọt nước cho người thác oan”.
Ta thấy rằng ở bất cứ đâu trong Kiều cũng luôn mang khao khát hạnh phúc, sum họp:
Hồn còn mang nặng lời thề/ Nát thân bồ liễu, đền ghì trúc mai. Dù nàng có bị vùi dập
thịt nát xương mòn nhưng lòng vẫn nặng lời thề với Kim Trọng. Bởi vậy khi Kim
Trọng và Thúy Vân được hưởng hạnh phúc thì Thúy Kiều cũng sẽ trở về để chung
hưởng hạnh phúc ấy. Mâu thuẫn này đã cho thấy sự tiếc nuối và đau khổ của nàng
Kiều đồng thời cho thấy tình cảm sâu nặng nàng dành cho Kim Trọng.
Tám câu thơ cuối, nàng Kiều trở về với thực tại đau đớn, xót xa: tình yêu dang dở, tan
vỡ, mãi mãi không thể hàn gắn. “Bây giờ trâm gãy gương tan/ Tơ duyên ngắn ngủi có
ngần ấy thôi”, thành ngữ “trâm gãy gương tan” là sự tan vỡ trong tình yêu cũng là sự
tan nát trong cõi lòng Thúy Kiều. Nàng thức tỉnh nỗi đau thân phận: “Phận sao phận
bạc như vôi/ Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng/ Ôi Kim lang, hỡi Kim lang/ Thôi
thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Hai từ ôi, hỡi trong câu thơ sáu chữ đã cho thấy lời
gọi tha thiết, khắc khoải và nỗi đau đến tột cùng của Kiều. Câu kết là lời nhận tội, tự
trách của Thúy Kiều “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.
Bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc, sự phối hợp linh hoạt các hình thức ngôn
ngữ đã diễn đạt tâm trạng, cảm xúc của Thúy Kiều khi trao duyên cho em. Đoạn trích
cho thấy bi kịch tình yêu và bi kịch thân phận của người phụ nữ hồng nhan, bạc mệnh
trong xã hội phong kiến. Đồng thời trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của Thúy Kiều.
Phân tích bài thơ Trao duyên - Mẫu 19
“Truyện Kiều” không chỉ là một kiệt tác vĩ đại của nền văn học Việt Nam mà còn của
toàn thế giới. Trong đó, đoạn trích nổi tiếng “Trao duyên” đã thể hiện cái nhìn hiện
thực và nhân đạo của Nguyễn Du về con người, đặc biệt là đối với số phận của khách
hồng nhan, số phận của Thúy Kiều. Ngoài ra, “Trao duyên” còn là tâm sự, là tiếng
khóc đau thương được bật ra từ một hoàn cảnh éo le “tình chị duyên em”.
“Trao duyên” là câu chuyện đặc biệt đằng sau một hoàn cảnh đặc biệt. Sau đêm thề
nguyền với Thúy Kiều, Kim Trọng phải về hộ tang chú ở Liêu Dương. Ngay lúc đó,
gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan, Vương Ông và Vương Quan bị hành hạ, gia sản
bị cướp hết. Kiều đứng trước cảnh gia biến phải bán mình chuộc cha. Đêm trước ngày
phải theo Mã Giám Sinh, Kiều cậy Thúy Vân tiếp nối mối duyên dang dở của mình
với chàng Kim. Mở đầu đoạn trích là hình ảnh Kiều mở lời nhờ cậy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Ta thấy cách sử dụng ngôn ngữ, ở đây là sử dụng động từ đã đạt tới những thành công
nhất định. Từ “cậy” với thanh trắc âm điệu nặng nề gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói,
nó trái hẳn với “nhờ”. Cậy mang hàm ý hi vọng tha thiết, có ý tựa nương, gửi gắm,
van nài, tin tưởng nơi quan hệ ruột thịt. Từ “chịu” thể hiện nài ép, bắt buộc, không
nhận không được. Hai động từ “lạy”, “thưa” trong câu thứ hai đã thái độ kính cẩn,
trang trọng với người bề trên hoặc với người mình hàm ơn. Thúy Kiều trong vế ở trên,
là chị của Thúy Vân nhưng trong cuộc “trao duyên” hoàn toàn nhận về sự thua thiệt.
Chữ hiếu đè nặng lên vai và bổn phận “làm con trước phải đền ơn sinh thành” đã trở
thành niềm lo lắng khôn nguôi của nàng Kiều lúc này. Những câu thơ tiếp theo là lời
trình bày đầy thuyết phục:
“Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non”
Rơi vào cảnh ngộ éo le, tình yêu vừa chớm nở nay phải cam chịu cảnh dở dang, đứt
quãng “đứt gánh tương tư” bởi tai họa ập đến gia đình “sóng gió bất kì”. Từng nấc
thang tâm trạng là từng lời giằng xé, từng ai oán thương tâm. Bên tình bên hiếu đang
chờ đợi sự lựa chọn của nàng. Không thể từ bỏ cha già, em thơ, Kiều chỉ còn cách bán
mình cứu cả gia đình qua cơn sóng gió. Hiểu rõ sự thiệt thòi của Thúy Vân, Kiều tha
thiết van nài, trông mong ở mối quan hệ thâm tình ruột thịt để trả nghĩa cho chàng
Kim. Niềm vui hẹn ước, thề nguyền xưa kia giờ chỉ còn biết nghĩ tình máu mủ thay
thế. Để rồi đằng sau lời lẽ đầy lí trí của một người con hiếu thảo kia là dự cảm không lành ở tương lai:
“Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Từ bỏ tình duyên với Kim Trọng, nàng chẳng khác nào từ bỏ đi cuộc sống của mình.
Nàng nghĩ đến cái chết của chính mình, tự nhận thức về bi kịch tình yêu đang hiện
hữu. Và càng đau đớn hơn khi các kỉ vật tình yêu vẫn còn nguyên vẹn, vẫn ấm áp hơi
người, Kiều trao kỉ vật và dặn dò ở nơi em:
Chiếc vành với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Hoài Thanh từng viết: “Của chung là của ai? Bao nhiêu đau đớn trong hai tiếng đơn
sơ!”. Rõ ràng, trong Thúy Kiều dường như có gì đó không nỡ, có gì đó lưu luyến. Đã
nhờ Thúy Vân thay mình tiếp nối tình yêu với Kim Trọng những kỷ vật xưa kia vẫn là
“của chung”. Nàng không từ bỏ được chúng cũng như không từ bỏ được tình yêu sâu
kín trong tận đáy lòng. Có cái gì đó uất nghẹn âm vang trong câu thơ bởi sự giằng xé,
phân đôi xót xa giữa cái riêng với cái chung, giữa hạnh phúc với bất hạnh, giữa mất và
còn, giữa tương lai và hiện tại. Kiều nhận về mình tất cả những xót xa, những đau đớn
của một đời người bạc mệnh bởi đây cũng là số phận mà nàng phải vương mang: “lời
rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Mạch tự sự của thơ tiếp tục diễn ra để thể hiện một bi kịch tình yêu:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan”
Kiều tưởng tượng về cảnh ngộ của mình trong tương lai qua hình ảnh nhuốm màu
tang tóc. Những “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”,
“đền nghì trúc mai”, “dạ đài”, “giọt nước”, “người thác oan”…. gợi ra cuộc sống cõi
âm lạnh lẽo. Hơn thế nữa, nhịp thơ chậm rãi, nghẹn ngào, tức tưởi như tiếng khóc não
nùng cố nén lại để không bật thành lời. Kiều đang tưởng tượng đau đớn đến tột bực
bởi trong lòng còn mang nặng tình cảm với chàng Kim. Cuối cùng, sau những giờ
phút gửi gắm tình duyên là lúc Kiều đối diện với thực tại và lời nhắn gửi cho “người yêu cũ”:
“Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể sao cho xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”
Đang đối thoại với Thúy Vân, Kiều quay sang độc thoại với chính mình. Ý thức hiện
tại đầy xót xa qua hai tiếng “bây giờ”. “Bây giờ” ấy thế nào? Là “trâm gãy gương tan”,
là “kể sao cho xiết muôn vàn ái ân”, là “trăm nghìn gửi lạy tình quân”, là “tơ duyên
ngắn ngủi”… Còn gì đau đớn hơn, còn gì xót xa hơn! Sự trôi nổi của số phận và đứt
đoạn của tình duyên đã khiến nàng gần như rơi vào cơn mê sảng. Nàng nhận hết tất cả
thiệt thòi, nhận mình là người phụ bạc để gửi lại cái tạ tình tha thiết và chấp nhận đoạn
trường riêng mang: “Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Kiều lúc này như buông
xuôi tất cả, nàng mặc cho sự xô đẩy vô tình của số phận, sự dày vò của con tạo để bật
ra tiếng gọi, tiếng khóc, tiếng thét đau đớn, nghẹn ngào:
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Tiếng gọi Kim Lang được lặp đi lặp lại vừa thiết tha trân trọng nhưng cũng đầy đau
đớn tuyệt vọng. Câu thơ ngắt theo nhịp 3/3 như một tiếng nấc để rồi ở câu sau nhịp
thơ trải ra như một lời than trách chính mình. Thúy Kiều đã quên đi nỗi đau của mình
mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý mà Nguyễn Du đã ban tặng cho nàng.
Về nghệ thuật, đoạn trích đã miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật, ở đây chính
là Thúy Kiều. Qua đó, chúng ta cảm nhận được tình yêu, được trách nhiệm, được sự hi
sinh, được kiếp số bạc mệnh của nàng. Vừa là một người con hiếu thảo, một người
yêu thủy chung, Kiều đã thực sự lấy đi biết bao nước mắt, biết bao sự đồng cảm, xót
xa. Bên cạnh đó, đoạn trích đã sử dụng thành công ngôn ngữ kết hợp giữa tự sự và trữ
tình và đặc biệt là ngôn ngữ độc thoại nội tâm sinh động. Việc sáng tạo các thành ngữ
dân gian, sự giao thoa giữa bình dân và bác học đã khiến cho ngòi bút Nguyễn Du
được hậu thế ca ngợi đời đời.
Tóm lại, đoạn trích “Trao duyên” đã khắc họa nên bức tranh cảm động về số phận
nàng Kiều, về sự giằng xé đau đớn giữa chữ hiếu và chữ tình, giữa lí trí và tình cảm.
Qua đó, chúng ta càng có thêm cơ hội để nhìn nhận tài năng của Nguyễn Du, để nhìn
nhận giá trị của “Truyện Kiều”, để hiểu vì sao người đời gọi đây là một hòn ngọc quý
cơ hồ không thể thay đổi, thêm bớt một tí gì, như một tiếng đàn lạ gần như không một
lần nào lỡ nhịp ngang cung.