Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

Chủ đề:
Môn:

Ngữ Văn 11 1.2 K tài liệu

Thông tin:
82 trang 1 năm trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên | Cánh diều

Văn mẫu lớp 11: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên | Cánh diều được trình bày khoa học, chi tiết qua đó giúp các bạn có thể tham khảo để nâng cao trình học văn học của mình với những bài văn mẫu hay và sáng tạo. Các bạn xem và tải về ở bên dưới.

102 51 lượt tải Tải xuống
Dàn ý tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên
Dàn ý số 1
a) Mở bài
- Giới thiệu sơ lược về tác giả, đoạn trích
Nguyễn Du một ngôi sao sáng trên nền trời thơ ca Việt Nam, ông còn bậc thầy
trong cả việc miêu tả nội tâm nhân vật.
Đoạn trích Trao duyên một trong những đoạn thơ ý nghĩa cùng đặc biệt
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
- Khái quát tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích: Đoạn trích tiếng lòng đau xót
tái, tâm trạng giằng đầy đau khổ của Thúy Kiều khi phải chia lìa hạnh phúc của
mình.
b) Thân bài
* Luận điểm 1: Tâm trạng Kiều khi mở lời trao duyên
"Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
....
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
- Kiều nhờ cậy Vân, lời nhờ cậy có sắc thái khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa).
-> Lời xưng hô của Kiều vừa như trông cậy, vừa như nài ép, phù hợp để nói về vấn đề
tế nhị “tình chị duyên em”.
- Nhắc nhở mối tình của mình với chàng Kim:
● “Giữa đường đứt gánh tương tư”
● “Mối tơ thừa”
● “Quạt ước, chén thề”
-> Mối tình nồng thắm nhưng mong manh, dang dở và đầy bất hạnh của Kim - Kiều.
- Kiều giãi bày lí do đi đến quyết định trao duyên cho Vân
+ Gia đình Kiều gặp biến cố lớn “sóng gió bất kì”. Kiều buộc phải chọn một trong hai
con đường là “hiếu” và “tình” -> Kiều đành chọn hi sinh tình để giữ trọn hiếu.
=> Kiều đã gợi ra tình cảnh ngang trái, khó xử của mình để Vân thấu hiểu.
+ “Ngày xuân em hãy còn dài”
-> Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước.
+ “Xót tình máu mủ thay lời nước non”
-> Kiều thuyết phục em bằng tình cảm ruột thịt.
+ “Thịt nát xương mòn”, Ngậm cười chín suối” : Kiều viện đến cả cái chết để thể
hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời.
=> Kiều người sắc sảo tinh tế, đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình
nghĩa.
* Luận điểm 2: Tâm trạng Kiều khi trao kỉ vật và dặn dò em
- "Chiếc vành, bức tờ mây"
-> Kỉ vật đơn sơ mà thiêng liêng, gợi quá khứ hạnh phúc.
- Từ “giữ - của chung - của tin”
● “Của chung” : của Kim, Kiều nay là cả của Vân nữa.
● “Của tin” : những vật gắn bó gợi tình yêu thiêng liêng của Kim Kiều (mảnh hương,
tiếng đàn)
-> Thể hiện sự giằng trong tâm trạng Thúy Kiều. Kiều chỉ thể gửi gắm mối
duyên dang dở cho Vân chứ không thể trao hết tình yêu mặn nồng xưa kia giữa nàng
và Kim Trọng.
- Kiều dự cảm về cái chết:
+ hiu hiu gió, hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, người thác oan
-> Dự cảm không lành về tương lai, sự tuyệt vọng tột cùng. Kiu ng ng ra cnh
nh chết oan, chết hn. Hn không sao siêu thoát đưc bi trong lòng đang nng li
thề ước vi Kim Trng.
=> Sự đau đớn, đầy tuyệt vọng, tấm lòng thủy chung một lòng hướng về Kim Trọng
của Kiều.
- Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân
● “Đền nghì trúc mai”: Đền ơn đáp nghĩa.
● “Rưới xin giọt nước”: Tẩy oan cho chị.
-> Nỗi bứt rứt, dằn vặt trong lòng Kiều, Kiều như càng nhớ, càng thương Kim Trọng
hơn bao giờ hết.
=> Thúy Kiu trao kvật cho em mà lời gi trao cht cha bao đau đn, ging xé
chua chát.
* Luận điểm 3: Tâm trạng của Kiều khi nghĩ về Kim Trọng
- Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
- “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa
trôi lỡ làng”
-> Nàng ý thức về cái hiện hữu của mình, số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc bẽo,
lênh đênh trôi nổi.
- Hành động:
● Nhận mình là "người phụ bạc"
● Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu
● Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.
-> Kiều quên đi nỗi đau của mình nghĩ nhiều đến người khác, đó chính đức hy
sinh cao quý.
=> Tâm trng đau đn đến cùng cc ca Thúy Kiu khi hướng vnh yêu ca mình
Kim Trng.
c) Kết bài
● Khái quát tâm trạng của Kiều trong đoạn trích.
● Cảm nhận của em.
Dàn ý số 2
1. Mở bài:
· Giới thiệu vài nét đặc sắc nhất về tác giả, tác phẩm và vị trí của đoạn tích.
· Dẫn dắt đặt vấn đề (theo yêu cầu đề ra).
2. Thân bài:
- Đoạn 1: Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
(“Cậy em em có chịu lời…phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”)
· Kiều nhờ cậy Vân, lời nhờ cậy sắc thái khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa). Lời
xưng của Kiều vừa như trông cậy, vừa như nài ép, phù hợp để nói về vấn đề tế nhị
“tình chị duyên em”.
· Nhắc nhở mối tình của mình với chàng Kim: thắm thiết nhưng mong manh, nhanh
tan vỡ.
Cách i của Kiều thể hiện sự thông minh khôn khéo, qua đó thể hiện tài năng bậc
thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du.
+ Kiều trao duyên cho em. Chú ý cách trao duyên trao lời tha thiết, tâm huyết; trao
kỉ vật lại dùng dằng nửa trao, nửa níu để thấy tâm trạng của Kiều trong thời khắc
đoạn trường này: Kiều đang mâu thuẫn giữa hành động lời nói, trí tình cảm.
Kiều trao duyên chứ không muốn trao tình.
- Đoạn 2: Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên
(Mai sau dù có bao giờ...thiếp đã phụ chàng từ đây)
· Dự cảm về cái chết cứ trở đi, trở lại trong tâm hồn Kiều ; trong lời độc thoại nội tâm
đầy đau đớn,Kiều hướng về người yêu với tất cả tình yêu thương và mong nhớ.
· Từ chỗ nói với em Kiều chuyển sang nói với mình, nói với người yêu ; từ giọng đau
đớn chuyển thành tiếng khóc, khóc cho mình, khóc cho mối tình đầu trong sáng, đẹp
đẽ vừa mới chớm nở đã tan vỡ.
=> Với nghệ thuật miêu tả tinh tế diễn biến nội tâm nhân vật ngôn ngữ độc thoại
sinh động, đoạn trích Trao duyên đã ánh lên vẻ đẹp nhân cách Thúy Kiều thể hiện qua
nỗi đau đớn khi tình yêu tan vỡ sự hy sinh đến quên mình hạnh phúc của người
thân.
3. Kết bài:
· Tài năng xuất sắc của Nguyễn Du trong việc khám phá thể hiện quy luật nội tâm
sâu sắc của con người.
· Đoạn trích thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh nhân cách cao đẹp của
Thúy Kiều, qua đó thấy được cái nhìn hiện thực và nhân đạo của Nguyễn Du.
Dàn ý số 3
1. Mbài
“Truyn Kiu” mt kit tác n hc ca Đi thi hào Nguyn Du đlại cho nn văn
học Vit Nam. Mt trong nhng đon trích ni bt lt tnét ni tâm nhân vt Thúy
Kiu chính là đon trích “Trao duyên.”
2. Thân bài
a. 12 câu thơ đầu
“Cy em, em có chu li,
….……………………….
Ngm cưi chín sui hãy còn thơm lây.”
“Cy em” là câu mđầu khi Kiu mun nói chuyn vi em dù Kiu là ch, thhin s
tôn trng, tin tưng đi vi em.
Mối tình ca Thúy Kiu Kim Trng hn Vân đã biết, Kiu yêu Trng tlần gp
đầu tiên, hai ngưi đã hn ưc s nên vthành chng. Sóng gió p ti gia đình
Kiu, nàng không thkhoanh tay đng nhìn cha và em trai bvu oan mà chu thit.
Trong lòng Kiu băn khoăn, trăn tr. Bên chhiếu vi cha m, bên mi tình sau
nặng khc ct ghi tâm vi chàng Kim, tht khó đnàng đôi đưng vn đôi.
Sau bao suy tư, cui cùng, Kiu quyết định trao li mi duyên tình sâu nng ca mình
cho Vân. Vân còn tr, li xinh đp, rt xng đôi va la vi chàng Kim, nếu Vân thay
Kiu nhn mi duyên này Kiu syên lòng mà báo hiếu cho cha m. nơi xa xôi hay
phi chu bt ckhó khăn gì, Kiu cũng cam lòng.
12 câu thơ không chdin tnhng ging trong lòng Kiu còn thhin
nét ràng nàng mt ngưi con hiếu tho, mt thiếu ntrng tình cm, yêu thương
sâu nng. Tuy phi trao li mi lương duyên ca mình cho ngưi em Thúy n
nhưng Kiều không hkêu ca hay oán trách ai bt cđiu gì.
b. 16 câu tiếp
“Chiếc thoa vi bc tmây
….…………………………..
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Sau khi thưa chuyn vi Thúy Vân, Kiu trao li kvật ca mình vi Kim Trng cho
em, nhn nh em nên vthành chng thì hãy thương xót cho ngưi chbạc
mệnh.
Kiu ng tưng đến lúc Vân chàng Kim nên vnên chng, đến cõi không
nàng chmt mnh hn oan vt vtheo ngn gió hiu hiu trên ngn ccây nhưng
vẫn mang nng li th, nàng đinh ninh mình sẽ mt hn oan trong cõi chết dn
em rưi cho git nưc làm phép ty oan.
c. 6 câu thơ cuối
“Trăm nghìn gi ly tình quân
….……………………………..
Thôi thôi thiếp đã phchàng tđây!”
Sau khi trao duyên cho Thúy Vân, Kiu âm thm nhn nhđến Kim Trng: nàng đã
phtình chàng tđây. Đó không chlà câu nói đau xót khi phi chia tay ngưi yêu khi
tình cm vn còn mn nng sâu sc còn suy vcuc sng tăm ti phía trưc
đang chđón Kiu.
Tơ duyên ca Kiu và Kim chngn ngi có tng y, xin gi lại chàng mi duyên này
cho ngưi em là Thúy Vân.
Kiu đã phi tht lên: “Thôi thôi thiếp đã phchàng tđây!” đây va li xin li
Kiu gi đến Kim, va là li oán trách vì phn mình sao bc bo.
Kiu không chsuy nghĩ vvic cu cha em, trao li mi duyên ca mình cho
Vân còn suy nghĩ cho ngưi mình hết lòng yêu thương. Mt gái nhvn
sống bình an nay phi suy tư rt nhiu, không chthế,cuc sng trôi ni phía trưc ca
nàng cũng khiến ngưi ta vô cùng đau xót vkiếp hng nhan bc phn.
Din biến tâm ca Kiu đi qua nhiu cm xúc khác nhau, tnghĩ cách cu cha
em, trao li mi duyên ca mình, đến vic nghĩ cho ngưi mình yêu thương đến
cuc sng bp bênh ca nàng sau này khiến ngưi ta không khi đau xót.
d. Tng kết
Về nội dung: đon trích làm ni bt suy đa chiu cũng như tâm trng ca Thúy
Kiu khi trao li mi lương duyên cho ngưi em.
Về nghthut: ththơ lc bát truyn thng ca dân tc, các câu cm thán.
3. Kết bài
Đon trích giúp ta hiu hơn vnhân vt Thúy Kiu cũng như hiu hơn vgiá trnhân
đạo trong tác phm ni tiếng ca Đi thi hào Nguyn Du.
Din biến tâm trng Thúy Kiu trong Trao duyên - Mẫu 1
Một trong nhng thành công tiêu biu ca Nguyn Du trong Truyn Kiu ngh
thut miêu ni tâm nhân vt. Điu đó đưc thhin trong đon trích Trao duyên.
Chbằng tng ngôn tbiu đt, Nguyn Du đã khc ha thành công dòng tâm trng
của Thúy Kiu trong ni đau xót ddang duyên phn ca mình. Nhng chuyn biến
tâm ca Kiu trong tng li nói, hành đng được Nguyn Du thhin đy tinh tế,
gợi nhng đng cm vi nhân vt trong lòng ngưi đc.
Mở đầu đon trích, tâm trng bun ti, xót xa ca Kiu khi mlời cy nhem gái
chp mi duyên cho mình:
"Cy em, em có chu li,
Ngi lên cho chị lạy ri sthưa.”
Lời Kiu ct lên va chân tình li va tha thiết. Hai tiếng "cy em" cht cha c sự
khn cu tin cy. Ngoài Vân ra Kiu chng thnhai đưc, bi chVân hiu
Kiu, chVân là ngưi phù hp nht đthay Kiu chp vá duyên mình. Hành đng
"lạy", "thưa" ngbi lthưng bc làm chsao thnào "ly em", nhưng
đặt trong tình hung li rt hp lý. Bi vi Kiu lúc này, Vân mt ân nhân, mt
ngưi th giúp Kiu. Nhng hành đng th hin trong tng li nói y như báo
trưc cho Vân mt sự hệ trng mà Kiu sp nói ra đng thi cũng cho thy nhng tâm
su kín ca nàng. Kiu hiu rng vi em, nhvả chuyn này nào ddàng gì, nàng
hẳn cũng đã rt day dt, nghĩ suy rt nhiu mi ng lời nhem như vy:
"Gia đưng đt gánh tương tư
Keo loan chp mi tơ tha mc em
Kể từ khi gp chàng Kim
Khi ngày qut ưc khi đêm chén th
Sự đâu sóng gió bt k
Hiếu tình khôn lhai bề vẹn hai"
Bằng li lchân tình, Kiu giãi bày vi em vsự tình lúc này. Giđây, tình yêu ca
Kiu Kim bt gánh" gia đưng, đành cy nhem "chp mi tha" cho ch.
ngưi sâu sc hiu truyn, Kiu hiu đưc s thit thòi khó x của Vân,
nhưng không còn cách nào khác đành phó mc em chp mi duyên tình dang dcùng
Kim Trng. Va nh em, nàng va m scùng em nhng knim đp đbên chàng
Kim. Đó nhng tháng ngày Kiu đưc ng hnh phúc, vui vy trn vn. Đip t
"khi" cùng nhng hình nh "qut ưc", "chén th" như tái hin li khong thi gian
hạnh phúc trong tâm trí Kiu, đng thi din tnỗi nh nhung tha thiết tiếc nui
của Kiu ngay lúc y. Cuc sng, ai cũng khát khao hnh phúc, Kiu không nm
ngoài ly. Đcó đưc hnh phúc không phi là điu ddàng, hnh phúc có đưc mà
đành ngm ngùi ri bcàng tiếc nui trăm b. "Sóng gió bất kỳ" xy đến, gp cơn gia
biến, Kiu la chn nào khác đâu ngoài bán thân mình chuc cha cho vn đo làm
con, cho tròn ch" Hiếu". Nhưng trn ch "Hiếu" ri kiu cũng không thphch
"Tình" vi chàng Kim, nên vic cy nhVân ca Kiu điu hp lẽ. Tuy vy,
trí dn đưng lòng nàng không đng, trong mi tiếng thơ đu thy đưc nhng
tiếc nui ca Kiu vmối tình dang d. Dn lòng mình đthuyết phc em, Kiu đưa
ra nhng li ltht thu tình đt lý, mà hn khi Vân nghe cũng không thnào chi t
nguyn vng ca chị:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mthay li nưc non
Chdù tht nát xương mòn
Ngm cưi chín sui hãy còn thơm lây"
Với Kiu, tui xuân giđây ng như không còn na, bán mình, nàng đành chp
nhn mt đi thanh xuân ngn ngi. Còn vi Vân thì khác, Vân vn còn tui xuân, sc
xuân, vn còn thi gian đtìm hiu yêu thương Kim Trng, Kiu mong em hãy
tình máu mthay phn chchăm sóc, san scùng Kim. Nếu đưc vy thì du cho
chết đi kiu vn vui, đưc an lòng nơi chín sui "ngm i chín sui y còn
thơm lây".
Lời Kiu tht ra như đm git lthương tâm, va xót xa, bi ai li va day dt, tiếc
nui. Phi yêu Kim Trng đến nhưng nào, chung thy vi Kim Trng đến ra sao thì
Kiu mi đau đn đến như vy. Đành rng cy nhem, nhưng li cy nhtrong
tiếc nui, trong ni đn đau khôn cùng khi phi buông bmối tình không trn vn,
trao cho ngưi khác cái hnh phúc mình vn cht chiu, gìn gibấy lâu. Va dt
lời cy nh, Kiu trao li nhng kvật nh yêu ca mình cho em trong ni luyến tiếc
khôn nguôi:
"Chiếc vành vi bc tmây
Duyên này thì gi, vt này ca chung
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương y, so tơ phím này.
Trông ra ngn clá cây,
Thy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nng li thề,
Nát thân bliu, đn nghì trúc mai"
Tay mun trao mà lòng chng đng, bi bao nhiêu kvật by nhiêu knim, by
nhiêu ân tình ca Kiu Kim trng dành cho nhau. Trao cho em chiếc vành vi bc
tờ mây trong tiếc nui, duyên thì mong em gi, chắp nối nhưng vt "ca chung".
Bởi thế nào đi chăng na thì trong Kiu vn chung thy mt mi tình st son
cùng chàng Kim thôi, không ththay đi đưc điu đó. Trong ni đau đn
tột cùng, Kiu ngm ngùi nghĩ đến cái chết. Nhưng du chn sui vàng lnh lo,
lòng Kiu vn s không quên li thson st, thy chung. Ni đau lên đến tn cùng,
nàng nói vi em như nói vi chính lòng mình, vi ngưi thương nơi xa xôi. Li
Kiu thiết tha, mang ni xót xa, tuyt vng, mang ni phn ut, đn đau, mang c
nhng luyến tiếc, nhthương và ctrăm ngàn nhng ngn ngang:
"Trăm nghìn gi ly tình quân,
Tơ duyên ngn ngi có ngn y thôi
Phn sao phn bc như vôi!
Đã đành nưc chy hoa trôi llàng
Ôi Kim Lang! hi Kim Lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phchàng tđây."
Yêu Kim Trng bao nhiêu thì Kiu li càng trách cbản thân mình phbạc chàng
Kim by nhiêu. Mt ngưi trân trng thy chung như Kiu luôn mang trong mình
mặc cm ti li. Hành đng "trăm nghìn gi ly" như li tlỗi Kiu gi đến Kim
đã phchàng, đã khiến cho mi duyên trnên " ngn ngi", llàng, không
trn vn. Trong ni xót xa, Kiu trách móc phn mình bc bo, trái ngang. Tiếng gi
Kim Lang trong nghn ngào:
“Ôi Kim Lang! hi Kim Lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phchàng tđây."
Trong tiếng gi "Kim Lang" là cả nỗi nhthương cht cha, ni đau ging xé tâm can
và nhng yêu thương tha thiết. Du cho thế nào đi na, Kiu vn trân trng chàng
Kim, gi Kim Trng bng hai tiếng " Kim Lang" thy chân thành.
"Thôi thôi thiếp đã phụ chàng tđây"
Cho đến cui cùng, Kiu vn nghĩ đến hnh phúc ca ngưi mình thương. Đến cui
cùng, Kiu vn tnhn li vmình, trách chính mình đã phụ bạc.
Đon trích Trao duyên tuy chlà mt phn nhtrong tác phm dài 3254 câu thơ lc
bát ca Truyn Kiu nhưng góp phn không nhtrong vic to nên thành công cho tác
phm. Ni đau ging xé ca Thúy Kiu khi lâm vào bi kch tình yêu đưc lt ttht
chân thc. đó, ta thy đưc sự mạnh m, dt khóa ca mt ni con gái hết mc
lý trí và cũng thy đưc sự yếu đui nhưng rt mc chân thành ca mt ngưi phụ nữ
thy chung, giàu tình cm.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 2
Truyện Kiều một kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho nền văn
học Việt Nam. Tác phẩm mang nhiều gtrị nhân đạo khiến độc giả phải suy ngẫm.
Một trong những đoạn trích nổi bật lột tả nét nội tâm nhân vật Thúy Kiều chính
đoạn trích “Trao duyên.”
Khi gia đình gặp nạn, để giải cứu cho cha và em trai, Thúy Kiều buộc phải trao lại mối
duyên của mình cho Thúy Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Thúy Kiều chị, tuy nhiên khi nhờ vả, muốn nói chuyện với em mình, nàng dùng sự
kính trọng, nhã nhặn đối với em.
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
“Cậy, lạy, thưa” những từ người vai dưới nói chuyện với người vai trên.
Những từ ngữ này thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của Kiều dành cho người em gái
mình nhờ vả. mình vai trên nhưng Kiều không dùng sự ra lệnh đối với em. Tuy
trong lòng nhiều suy nghĩ, trăn trở nhưng vẫn bình tĩnh xử lí, sắp xếp, thu vén
chuyện của mình.
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?"
Kiều trình bày với em về hoàn cảnh của mình, về mối tình dang dở của mình với
chàng Kim mong em hãy thấu hiểu cho nỗi khổ của mình mà chấp nhận mối
thừa của chị. Hai người đã có những hẹn thề gắn bó dài lâu nhưng nay Kiều không giữ
lời hứa đó. Bởi lẽ, nàng không thể hoàn thành cả “chữ hiếulẫn “chữ tình”; nên “chữ
tình” này, xin gửi lại để Vân thay chị thực hiện. Từng lời nói của Kiều nỗi đau khổ,
day dứt mà nàng đang phải trải qua. Nào ai muốn nhìn thấy cha em trai bị oan
trong tù? Nào ai muốn rời bỏ người mình yêu thương khi tình cảm rất mặn nồng? Ta
càng thêm thương xót cho nàng Kiều bạc mệnh.
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vân còn trẻ, đang trong độ tuổi xuân thì, chàng Kim lại tài tử hiếm có, nếu Vân
thay Kiều đến với Kim Trọng thì ng Kiều sẽ yên tâm mà ra đi sao đi chăng
nữa Vân với Kiều cũng cùng chung giọt máu. Để cảm kích sự đồng ý của Vân, dù cho
Kiều ‘thịt nát xương mòn” nơi đất khách quê người nàng cũng yên tâm ra đi,
không còn suy tư trăn trở.
Đoạn thơ gây ám ảnh người đọc bởi làm hiện ra trước mắt chúng ta một bức tranh
như thực về nàng Kiều trọng tình, trọng nghĩa, ta phần nào hiểu thêm, đồng cảm,
thương xót cho số phận một cô gái “hồng nhan bạc mệnh.”
Những câu thơ tiếp theo lời dặn của Kiều với Vân sau khi trao em mối duyên
của mình:
"Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!"
Sau khi Vân đồng ý nhận mối duyên của mình, Kiều mang trao lại em những kỉ vật
của mình với chàng Kim. Kiểu sẽ thực sự ghi nhớ ơn nghĩa nếu Vân Kim Trọng
nên duyên vợ chồng. Thật đau đớn xót xa khi người mình yêu nên duyên cùng
chính em gái mình, ấy thế mà, với Kiều, đấy lại một ơn nghĩa Vân làm cho
khiến cô ghi nhớ mãi.
Tuy rằng, Kiều sẽ phải ra đi, nhưng còn sống hay khi không còn trên đời nữa,
vẫn luôn hướng về nhà, về nơi cha mẹ, các em chàng Kim. Người con gái
ấy đã nghĩ đến trường hợp xấu nhất khi chỉ còn là “linh hồn mang nặng lời thề” trở
về nhà, dặn Vân hãy rảy xin cho chén nước để linh hồn được siêu thoát. Đến
đây, nỗi xót xa của nàng Kiều dường như bị đẩy lên một cao trào mới. Những suy
ngổn ngang đè nặng lên vai một gái vốn cuộc sống thanh bình. Duyên gãy, phải
đi xa gia đình, bán thân thành một người rẻ mạt làm Kiều không tránh nỗi chua xót.
“Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Câu nói thốt lên trong sự cay đắng, nghiệt ngã của số phận. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp
giữa hai người giờ đây chỉ còn ức. Từng kỉ niệm ấy Kiều sẽ mãi lưu giữ bên
mình. Đó cũng sự hụt hẫng, tiếc nuối về một thời yêu nhau say đắm của hai người.
Đến đây, người đọc không khỏi tiếc nuối: tiếc nuối cho số phận của Kiều, tiếc nuối
cho mối duyên của hai người cũng như tiếc nuối về kỉ niệm họ đã từng với
nhau.
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Những việc Kiều làm khiến người khác phải thương xót. Tuy nhiên, với nàng, đó lại
những lỗi lầm nàng gây ra cho người nàng thương yêu. Nàng gửi đến chàng Kim
trăm nghìn cái lạy để mong chàng tha thứ mình đã không giữ đúng lời hứa cùng
chàng nên duyên vợ chồng. duyên của hai người lẽ chỉ đến được đây thôi, từ
nay Vân sẽ thay Kiều yêu thương, chăm sóc cho chàng. “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim
Lang!” câu nói Kiều thốt ra như một lời xin lỗi, tiễn biệt mà nàng gửi đến Kim Trọng.
Từ nay, Kiều phải đi về nơi khác, phải phụ tình cảm mà Kim dành cho mình từ đây.
thể Kim Trọng sẽ thất vọng, sẽ đau khổ khi nàng ra đi nhưng nàng không thể làm
khác được.
Từng câu thơ sự đau khổ, bất hạnh của nàng Kiều, nhưng chính những điều này
khiến ta nể phục, yêu thương cô Kiều vì cô không chỉ là người sống tình nghĩa mà còn
người suy nghĩ sâu sắc, luôn quan tâm, lo lắng cho người khác trước khi lo cho
bản thân mình.
Điểm nổi bật làm nên thành công vang dội của tác phẩm đó chính thể thơ lục bát
dân gian của dân tộc. Đoạn trích sử dụng những câu cảm thán đã khắc họa thành công
tâm trạng, nỗi lòng của Thúy Kiều khi trao mối duyên của mình cho Thúy Vân.
Đoạn trích nói riêng tác phẩm nói chung đã góp một phần không nhỏ vào việc làm
đa dạng nền văn hóa dân tộc. Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn trích “Trao duyên”
cùng tác phẩm Truyện Kiều vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của để lại nhiều ấn
tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 3
Tai biến ập đến, Thúy Kiều đã đi theo con đường quen thuộc của những con người
hiếu thảo: "Để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành. "Khi mâu
thuẫn giữa hiếu tình đã được giải quyết, Thúy Kiều lại rơi vào một bi kịch khác,
đau đớn nhức nhối hơn. Đoạn trích Trao duyên đã khắc họa sâu sắc bi kịch đó của
Thúy Kiều đồng thời cũng khiến chúng ta trân trọng hơn vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách
của nàng.
Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Giám Sinh, Thúy Kiều một mình đối diện
với chính mình, với ngọn đèn in bóng đau khổ đã cạn dần với chiếc khăn thấm lệ đã
đẫm nước mắt: "Dẫu chong trắng địa, lệ tràn thấm khăn". Điều gì đã khiến nàng "ngồi
nhẫn tàn canh". Trong tâm trạng "bàn hoàn" đến vậy? Chỉ đến khi Thúy Vân "ghé đến
ân cần hỏi han" Kiều mới thổ lộ tâm sự sâu kín của nàng. Người con gái tài sắc ấy
không chỉ có lòng hiếu thảo với cha mẹ mà trong tình yêu, nàng là con người thiết tha,
sâu nặng, vị tha đến quên mình. Đó chính vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Thúy
Kiều. Số phận nàng ngày mai không biết sẽ ra sao nơi đất khách quê người, nhưng
hiện tại trong giờ phút này, Kiều một lòng một dạ hướng về người yêu. Điều này được
thể hiện rõ qua lời khẩn cầu thiết tha đối với Thúy Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Cái sâu sắc nước đời của Tố Như thể hiện việc lựa chọn từ ngữ diễn tả tâm trạng
nhân vật. Trong những từ biểu đạt sự nhờ vả: nhờ, mượn, phiền,... Nguyễn Du chọn từ
cậy, chỉ từ này mới hàm chứa hai nội dung: nhờ tin. "Chịu lời" chứ không phải
nhân lời nhận lời sự tự nguyện của Vân. Song việc Kiều sắp nhờ cậy em gái
một sự nài nỉ, bắt buộc, không nhận không được, đưa cả chính nàng Vân vào
hoàn cảnh khó xử. Đó là việc Vân thay Kiều trả "nghĩa" cho Kim Trọng: xót tình máu
mủ thay lời nước non". Trong quan niệm của người trung đại tình thường gắn với
nghĩa. Cả ba người trong cuộc đều coi việc trả nghĩa này là hợp lí. Nhưng cho dù đó
trách nhiệm nghĩa vụ của Vân: "Keo loan chắp mối thừa mặc em". Thúy Kiều
vẫn đưa ra những lẽ để thuyết phục em gái. Chính những lẽ ấy càng thể hiện
tình yêu sâu nặng Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, càng khẳng định vẻ đẹp tâm hồn,
nhân cách của nàng. Nói với em, thuyết phục em Kiều như sống lại những ức
tình yêu với Kim Trọng: "Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề"; trao kỉ vật tình yêu
cho Vân: chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền,... mà những mong
thông qua đó, nàng có thể hiện diện trong tình yêu, trong nỗi niềm với Kim Trọng.
Song càng nặng tình với chàng Kim bao nhiêu, Kiều càng rơi vào bi kịch khổ đau bấy
nhiêu. Đó trước hết bi kịch của tình yêu lứa đôi đang đẹp đẽ, hạnh phúc bỗng chốc
tan vỡ, chia lìa. Sự dở dang, tan vỡ này được thể hiện qua một câu thơ mang sắc thái
thành ngữ: "Giữa đường đứt gánh tương tư". Hình ảnh ẩn dụ này ta đã bắt gặp trong
ca dao, hóa ra, những đau khổ của Kiều nào xa lạ với những số phận của người
phụ nữ xưa. Tuy nhiên bi kịch tình yêu tan vỡ nàng vẫn đau đớn nhức nhối hơn
bất cứ thiên tình sử nào trước đó. Một phần bởi Thúy Kiều chỉ thể trao duyên
cho Vân chứ không thể trao tình yêu cho em gái. Nàng đã trao lại cho Vân những kỉ
vật tình yêu đẹp đẽ thiêng liêng. Trong mối quan hệ chàng Kim, bao giờ Nguyễn
Du cũng dành cho người chị chữ "tình", và cô em chữ "duyên".
Khi ăn ở lúc ra vào,
Càng âu duyên mới, càng dào tình xưa
Kiều mong muốn thông qua những kỉ vật, nàng thể hiện diện trở về trong tình yêu,
trong tâm thức của Kim Trọng: "Mất người còn chút của tin", nhưng nghĩa đâu
khi "chút của tin" còn người đã mất, con đường trở về với tình yêu bằng linh hồn
bất tử: "Thấy hiu hiu gió thi hay chị về". Nhưng nàng ý thức được rằng đó cái chết
oan nghiệt: "Rảy xin chén nước cho người thác oan". Trong thiên tình sử xưa, giọt lệ
Mị Nương rơi xuống chén trà và oan hồn Trương Chi được giải tỏa, còn trong Truyện
Kiều giọt lệ của chàng Kim không thể làm tan mối tình oan khuất của nàng Kiều. Bởi
sự trở về bằng linh hồn bất tử sự trở về không gặp gỡ, luôn luôn bị chia cắt bởi
hai cõi âm dương: "Dạ đài cách mặt khuất lời "Sau này, trong màn "Tái hồi Kim
Trọng "sự gặp mặt của Kim - Kiều cũng không còn sự gặp lại của tình yêu, "sự
đời đã tắt lửa lòng" "đem tình cầm sắt đổi ra cầm kì".
Thông qua việc khám phá vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách Thúy Kiều cũng như bi kịch của
nàng trong đoạn trích: "Trao duyên", người đọc nhận ra "sức cảm thông lạ lùng" của
nhà đại thi hào dân tộc đối với những khổ đau và khát vọng tình yêu của con người.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 4
Tình yêu đầu bao giờ cũng là tình yêu trong sáng và đẹp đẽ nhất. Thế nhưng, với Thuý
Kiều, tình yêu ấy lại chứa chan bao đau khổ, xót thương cùng. Mối tình đầu đẹp
như mơ của nàng với Kim Trọng đã buộc phải chia cắt vì biến cố bất ngờ của gia đình.
Để vẹn tròn hai bên hiếu, tình nàng đã quyết định trao lại mối duyên ấy cho Thuý Vân
em gái mình để Vân thay nàng trả nghĩa cho Kim Trọng. Tất cả điều đó được thể
hiện qua đoạn trích Trao duyên cùng đặc sắc. Đoạn trích đã cho thấy được sự dằn
vặt, đau đớn khôn nguôi của Kiều khi phải trao đi mối duyên sâu đậm của mình.
Đoạn trích Trao duyên trích đoạn từ câu 723 đến câu 756 thuộc tác phẩm Truyện
Kiều của nhà văn Nguyễn Du. Sau đêm thề nguyền cùng chàng Kim Trọng, gia đình
Kiều xảy ra gia biến, gia sản bị tịch thu còn cha và em trai thì bị bắt. Trước biến cố bất
ngờ Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy bốn trăm lạng vàng, đút lót quan lại
để cứu cha và em. Khi đó, Kim Trọng đang ở Liễu Dương chịu tang chú nên không hề
biết chuyện xảy đến với gia đình Kiều. Vào tối đêm trước ngày ra đi, Kiều đã nhờ
Thuý Vân em gái mình lại trả nghĩa cho chàng Kim. Bao nhiêu đau đớn giằng
xé trong tâm can Kiều được đẩy lên cao trào trong trích đoạn này.
Đêm trước ngày ra đi, Kiều một mình lặng lẽ trong bóng tối. Nàng đau xót cho mình,
đau xót cho cả mối tình dang dở với chàng Kim. Nàng luôn tự trách bản thân lỗi
với chàng, nàng là nguyên nhân gây ra nỗi bất hạnh cho chàng:
“Công trình kể biết mấy mươi
Vì ta khăng khít cho người dở dang!
Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa”
Kiều mang trong mình đầy những mặc cảm tội lỗi rằng chuyện tình cảm hai
người tự nguyện đến với nhau cùng nhau thề nguyền. Dưới bóng đèn mờ ảo, nàng
khóc thương cho phận mình, duyên tình mình. Tâm trạng Kiều đầy dằn vặt, đầy rối
bời đan xen. Nàng nghĩ lại mọi chuyện nghĩ rằng chỉ còn một cách cứu vãn, chỉ
một phần mối duyên của mình, đó trao lại cho Thuý Vân. Vân sẽ giúp nàng kết
duyên cùng Kim Trọng, hai người là chị em, Thuý Vân cũng sẽ như nàng mà thôi.
Khi Thuý Vân nhìn thấy vẻ mặt dột của Kiều, Vân đã gặng hỏi Kiều câu chuyện
Kiều đã đáp rằng:
“Lòng đương thổn thức đầy
Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong
Hở môi ra cũng thẹn thùng
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai.”
Kiều mở lời trong thẹn thùng, e ngại bởi đây chuyện tình của riêng nàng, đâu phải
ai cũng thể hiểu, cũng thể nghe. Bởi vậy muốn ngỏ lời với Vân chuyện hệ trọng
đó thật khó biết bao! Vậy nên Kiều đã cùng thận trọng, lựa chọn những từ ngữ thật
cẩn thận, ngập ngừng nói với em gái rằng:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Câu nói bật ra khiến người đọc cảm nhận được ngay sự e dè, thận trọng cũng như mức
độ quan trọng của câu chuyện Kiều muốn tỏ bày cùng em. Nàng lựa chọn từng câu từ
chính xác với một tâm trạng cùng đắn đo khi nhờ cậy em mình. Một từ “cậy” thôi,
người đọc thấy đó âm điệu nặng nề, một sự nhờ vả nhưng đầy hoang mang, dằn
vặt khi Kiểu mở lời. rồi tiếp theo những hành động của Kiều càng khiến người ta
phải ngạc nhiên hơn nữa “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Những hành động tôn
kính hết mực, vốn chỉ dành cho những bậc bề trên thì nay Thuý Kiều lại dùng với
Thuý Vân em gái của mình. Bởi thứ Kiều muốn nhờ vả em mình quá đỗi quan
trọng với nàng còn vì trong tâm ng đang tràn đầy những nỗi đau đớn, xót xa cho
mối tình của mình. Hai từ “cậy, chịu” của Kiều, người đọc chỉ nghe thôi ma sao cũng
thấy xót xa, thấy đau đớn thay cho nàng. Chắc hẳn, phải tuyệt vọng lắm, Kiều mới
thốt lên được những tiếng nhờ cậy đau xót nhường ấy. Lời nhờ cậy ấy không chỉ
một lời nói suông còn chứa trong đó một thái độ nài ép, ép buộc Thuý Vân phải
nhận lời.
Kiều đã rất khéo léo, thông minh khi đặt vấn đề với Vân trong câu chuyện của mình.
Những lời nói của nàng không chỉ khiến Vân cảm nhận được tầm quan trọng của việc
nàng định nhờ vả còn thể thấy được nỗi đau sự tuyệt vọng của Kiều trong
từng câu nói đó.
Sau lời ban đầu khó nói, Kiều bộc bạch nỗi lòng của mình với em về mối tình đẹp đẽ
của mình với chàng Kim:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Từng lời từng lời từng kỉ niệm về mối tình đầu trong sáng, vẹn nguyên của nàng.
Những lời hẹn ước, thề nguyền dưới trăng vẫn còn đầy, thế ng đành lòng phải
“đứt gánh”. Câu thơ nghe như lời tự tình thổn thức, lời tâm sự của Kiều về nỗi lòng
khó chọn lựa giữa hiếu và tình:
“Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
trong tình thế khó xử đó, nàng đã quyết định chọn lựa chữ hiếu, bán mình lấy bốn
trăm lạng vàng cứu cha và em. Thế nhưng, canh cánh trong lòng nàng là nỗi niềm tình
yêu với chàng Kim món nợ tình khó lòng trả hết. Có thể thấy, từng câu từng chữ đều
những nỗi đau khổ khôn cùng của Kiều. Vậy nên, nàng van lơn em gái, hãy tình
cảm máu mủ thay mình kết duyên, trả nợ nghĩa cho chàng Kim thay nàng. Nếu
được như thế, nàng có chết đi bằng cách thê thảm nhất cũng sẽ vui lòng.
Những câu chữ trong lẽ trao duyên của Kiều hết sức chặt chẽ, hết sức thông minh.
Nhưng ẩn chứa trong đó là sự dằn vặt cũng như xót xa cho mối tình đầu của mình.
Nói hết lẽ trao duyên cho Thuý Vân hiểu, nàng lại lặng lẽ trao cho em hết những kỉ
vật tình yêu của mình:
“Chiếc vành vi bc tmây
Duyên này thì giữ vật này ca chung
em nên vnên chng
t ngưi mnh bc t lòng chng quên
Mất ngưi còn chút ca tin
Phím đàn vi mnh hương nguyn ngày xưa"
Nếu như trên, Kiều bình tĩnh phân tích cho Vân nghe mọi chuyện, mọi sự dằn vặt,
đau xót nàng cất giữ trong lòng cho riêng mình, thì đoạn này, Kiều không thể kìm
nén được nữa. Những câu thơ nghe như tiếng nấc nghẹn của nàng, khi đưa cho em gái
từng kỉ vật. Nàng trao hết đi, trao “duyên này” đi, tác thành cho mối duyên giữa Vân
Kim Trọng, thế nhưng, những kỉ vật này, hãy coi “của chung”, của cả ba
người. Những dòng thơ tuôn trào nỗi lòng Kiều trong giằng xé, bởi nàng vừa muốn
trao đi mối duyên của mình lại vừa tiếc nuối nó, không đành. Càng nói, Kiều càng đau
xót cho số phận mình, tự nhận mình một kẻ “bạc mệnh”. Thế nên nàng mới dự cảm
được tương lai của mình đầy mịt mù, chỉ thấy cái chết là rõ ràng nhất.
"Mai sau dù có bao gi
Đốt lò hương y so tơ phím này
Trông ra ngn cỏ lá cây
Thy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nng li th
t thân bliu đn nghì trúc mai
Dạ đài cách mt khut lời
i xin git nưc cho ngưi thác oan"
Trong khi Vân chàng Kim được nên duyên vợ chồng, Kiều tưởng tượng mình chỉ
còn một mảnh hồn vất vưởng nơi trần thế, “hiu hiu” trong gió. Thế nhưng “nát
thân bồ liễu” thì linh hồn nàng vẫn mang nặng lời thề sắt son cùng Kim Trọng, vĩnh
viễn không bao giờ quên. Thật là mâu thuẫn, thật là đan xen. Bởi Kiều đã nói nếu Vân
chịu nhận lời giúp nàng thì nàng “thịt nát xương mòn” cũng sẽ “ngậm cười chín suối”.
Ấy vậy giờ đây, khi trả được món nợ tình duyên, nàng cũng không hề thanh thản
còn xót xa, nặng nề hơn trước nữa. Phải chăng đó bởi trước đó, nàng lo cho
người quên đi mình, giờ đây khi lo chu toàn chuyện của người, nàng mới nhận ra
sự bạc bẽo của phận mình. Tương lai mờ mịt, oan trái, còn tinh thần nàng thì như nửa
tỉnh nửa mê. Những câu nói của nàng như lời của một linh hồn phảng phất từ thế giới
bên kia vọng lại.
thể thấy, trong lời nói của Kiều sự giằng xé, sự tiếc nuối khôn nguôi khi phải
trao đi mối duyên tình đậm sâu của mình. chứa chán trong đó, còn nỗi đau xót,
xót xa cho số phận bạc bẽo của mình, cho tương lai mù mịt, không lối thoát.
Trong sự cao trào của nỗi đau xót, Kiều thốt lên những lời gan ruột đau đớn cho mối
duyên tình dở dang của mình, cho số phận của mình:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Giờ đây, trong thực tại nỗi nhớ về Kim Trọng, Kiều chỉ thấy những đổ vỡ, những tang
thương “trâm gãy, bình tàn”. Thế nhưng, còn thể m được gì, “phận” đã “bạc như
vôi” thì đành phải chấp nhận, đành để mối tình ấy, trái tim ấy “lỡ lãng”. Kiều biết
nàng đã phụ chàng, nàng đã làm chàng phải thất vọng. Vậy nhưng giờ đây, nàng chỉ
còn biết tạ tội với tình lang của mình trông chua xót bất lực. Cuối cùng, không thể
chịu đựng nổi, nàng đã thốt lên trong sự nghẹn ngào và đau đớn quằn quại:
“Ôi Kim lang! Hời Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
Tiếng nấc nghẹn ấy của Kiều sự bộc lộ toàn bộ tâm trạng đau đớn lúc đó của nàng,
tới mức gần như mê sảng. Nỗi đau chia cắt cứ nhân n nhân lên gấp bội, lên tới tột
đỉnh.
Đoạn kết khép lại trong nỗi đau thương quằn quại con người nàng. Nhưng không phải
bản thân nàng người nàng yêu, tình lang của mình. Tâm hồn nàng
chứa chan sự vị tha, nhân hậu bờ, nàng muốn cho người được hạnh phúc còn mình
thì sẵn sàng cam chịu sự hi sinh.
Đoạn trích Trao duyên đã lột tả chân thực tâm trạng của Thuý Kiều khi buộc lòng phải
trao đi mối duyên nồng đậm với Kim Trọng. Ngòi bút của Nguyễn Du đã sắc sảo
trong việc sử dụng ngôn ngữ để lột tả hoàn toàn từng rung động trong tâm hồn Kiều,
để từ đó, ta thấy được sự đau đớn, giằng xé, nghẹn ngào trong con người Kiều một
cách chân thực nhất.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 5
Đoạn trích “Trao duyên” một vị trí đặc biệt trong kiệt tác “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du. Về phương diện kết cấu, đoạn thơ đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc
đời nhân vật chính Thúy Kiều: mở đầu cuộc đời lưu lạc, đau khổ. Về phương diện chủ
đề, đoạn thơ thể hiện sâu sắc chủ đề bi kịch tình yêu tan vỡ. Vphương diện nghệ
thuật, đoạn thơ chứng minh tài nghệ tuyệt vời của Nguyễn Du trong miêu tả nội tâm
nhân vật.
Tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên diễn biến qua ba chặng như ba
nấc thang tâm lí. Mở đầu là những lời yêu cầu khẩn thiết của Kiều đối với Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
Hai câu thơ cho thấy Kiều vừa khẩn khoản, vừa thiết tha, vừa như đặt cả niềm tin
hi vọng vào Vân. Trong bao từ biểu đạt sự nhờ vả: nhờ, mượn, phiền,…Nguyễn Du đã
chọn từ “cậy”. Phải chăng chỉ từ “cậy” mới hàm chứa nội dung thông báo nhờ
tin? Lại nữa, tại sao “chịu lời” không phải nhận lời”, tại sao “chịu lời” trước
rồi mới “thưa” sau? Nếu Kiều trình bày sự việc trước thì chắc Vân đã chịu lời. Nói
“nhận lời” đã ý kiến của người nhận, sự tự nguyện của Vân. Nhưng Vân
nào đã biết chuyện tự nguyện hay không tự nguyện. Do vậy phải “chịu lời”,
đây việc Kiều chủ động nài ép Vân, đưa Vân vào hoàn cảnh không nhận không
được. đây Kiều hiểu hoàn cảnh khó xử của mình càng hiểu hoàn cảnh khó xử
của cô em gái. Cũng qua đây có thể thấy Nguyễn Du là thi sĩ thật “sâu sắc nước đời”.
Thúy Kiều đã không quá dài lời về hoàn cảnh của mình. Những việc vừa xảy ra ai
chẳng rõ. Nhưng bất hạnh của Kiều thì chỉ Vân mới là người thấu hiểu. Bởi chính Vân
người chứng kiến cả hai biến cố của đời Kiều: Khi gặp chàng Kim” khi sóng
gió bất kì”. Các mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy Kiều lúc này không phải giữa
hiếu tình. Giải quyết mâu thuẫn giữa hiếu và tình, Kiều đã làm xong, tuy khó khăn
nhưng dứt khoát phần thanh thản: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Vả
lại, nếu chuyện chữ hiếu thì Kiều đâu phải “cậy”, phải “lạy”, phải “thưa” với cô em
gái của mình; việc gá duyên, với Vân là trách nhiệm và nghĩa vụ.
Mâu thuẫn chính được thể hiện qua đoạn trích “mâu thuẫn giữa tình yêu lứa đôi
hạnh phúc bị tan vỡ”. Sự dở dang, tan vỡ này được thể hiện qua một câu thơ mang sắc
thái thành ngữ: “Giữa đường đứt gánh tương tư”. Hình ảnh n dụ “giữa đường đứt
gánh” ta đã từng gặp trong ca dao. Thì ra, những đau khổ của Thúy Kiều nào xa lạ
với những số phận của người phụ nữ xưa. Tuy nhiên, bi kịch tình yêu tan vỡ của
Kiều vẫn là đau đớn hơn bất cứ thiên tình sử nào trong văn học trước đó.
Sau tám câu mở đầu Kiều nói với Vân về nỗi bất hạnh của mình, về sự thấu hiểu hoàn
cảnh khó xử của em, Kiều tiếp tục thuyết phục Vân thay nàng trả nghĩa cho Kim
Trọng. Kiều nói với Vân bằng những lời tâm sự biểu hiện qua các câu thơ mang
phong cách thành ngữ: “tình máu mủ”, “lời nước non”, “thịt nát xương mòn”, “ngậm
cười chín suối”. Những lời tâm sự tác dụng thuyết phục. Kiều ràng buộc Vân bằng
tình máu mủ, lại khẩn cầu em cho mình chút vui, chút ơn, chút thơm lây vì đức hi sinh
cao đẹp của em:
“Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vừa thuyết phục vừa ràng buộc, ràng buộc nhưng vẫn khẩn cầu, Kiều đã đạt được
mục đích: nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Nhưng chính lúc mục đích
đạt được là lúc bi kịch tình yêu của Kiều lên tới đỉnh cao. Kiều biết Thúy Vân lấy Kim
Trọng để trả nghĩa, do “xót tình máu mủ” chứ không phải “lời nước non” cho
nên Kiều chỉ thể trao duyên cho Vân, còn tình yêu, nàng đâu dễ trao. Với tình
yêu, Kiều “người mệnh bạc”. Nàng tìm cách trở về với tình yêu bằng hai con
đường: để lại kỉ vật, linh hồn bất tử.
Kiều đã trao lại Vân những kỉ vật. Nàng những mong, bằng kỉ vật, nàng sẽ hiện diện
trong tình yêu. Những kỉ vật thiêng liêng đẹp đẽ: “Chiếc thoa với bức tờ mây”,
“phím đàn với mảnh hương nguyền”. Kỉ vật đẹp đẽ bởi gắn liền với những ngày
đẹp nhất của đời Kiều. Kỉ vật thiêng liêng bởi nó là riêng chỉ riêng cho Kiều và Kim
Trọng. Kiều không muốn trao cho người thứ ba, đó em mình. Bao xót xa trong
một từ “của chung”: “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Bao đớn đau trong một
từ “ngày xưa”: “Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”.
Hiện thực đẹp đẽ, rực rỡ vừa mới đây thôi đã trở thành quá vãng. Thời gian khách thể
bị phá vỡ, nhường chỗ cho thời gian của tâm trạng. Kỉ vật còn đó đối với tình yêu,
Kiều không hiện diện. nghĩa đâu khi “chút của tin” còn người thì đã mất.
Con đường trở về bằng kỉ vật đã không giúp được Kiều.
Kiều tìm đến con đường thứ hai, con đường trở về với tình yêu bằng linh hồn bất tử:
“Thấy hiu hiu gthì hay chị về”. Kiều những mong bằng sự trở về ấy nàng thể trả
nghĩa Kim Trọng, nàng sẽ nhận được sự đồng cảm của người thương “Rưới xin giọt
nước cho người thác oan”. Thế nhưng, như người đã nói, nếu trong thiên tình sử
xưa, giọt lệ Mị Nương rơi xuống chén trà oan hồn Trương Chi được giải tỏa thì
trong “Đoạn trường tân thanh”, giọt lệ của chàng Kim không thể m tan mối tình oan
khuất của nàng Kiều. Bởi sự trở về bằng linh hồn bất tử là sự trở về không có gặp gỡ.
Kết thúc đoạn thơ, yếu tố bi kịch không những không giảm còn được đẩy lên mức
cao hơn. Ấy lúc sự trở về bằng linh hồn, sự trở về siêu hình bất lực trước những
cảm nhận thực tế của người con gái họ Vương. Kiều ý thức rất về cái hiện sinh, cái
“bây giờ”: “Trâm gãy gương tan”, “Tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước
chảy hoa trôi”.
Kiều ý thức về cái hiện hữu, cái “bây giờ” Kiều càng thương mình. Ai nỡ trách
nàng sau khi thương người, người, nàng đã tự thương mình. Nàng một chút
mình cũng không phải vị kỉ vẫn rất mực vị tha. “Vì người” thì hoàn toàn
không chút bóng dáng của đau thương nhân. Chỉ khi mọi sự “đối với người” đều
xong xuôi, bây giờ mới nhìn lại tấm lòng mình, tình cảnh mình. Nỗi đau của nàng sâu
nặng biết bao” (Lê Trí Viễn).
Tâm trạng bi kịch của Kiều càng sâu sắc khi trước sự chà đạp của số phận nàng vẫn
không thôi khát vọng về một tình yêu thiết tha, vĩnh viễn: “Kể làm sao xiết muôn vàn
ái ân”, “Trăm nghìn gửi lạy tình quân”. Sự hiện hữu của tình yêu làm Kiều quên đi sự
hiện hữu của người em gái. Đang từ đối thoại với Vân, Kiều trở về độc thoại nội tâm
và rồi nàng như hướng tất cả về Kim Trọng:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Trong một câu thơ, tên Kim Trọng được gọi đến hai lần, kèm theo những thán từ
chỉ sự đớn đau, tuyệt vọng “ôi”, “hỡi”. Câu thơ trên ngắt nhịp 3/3 đọc lên như tiếng
nấc, để rồi đến câu thơ dưới nhịp thơ dài ra như một lời than. Lời trao duyên kết thúc
bằng một lời thân, bằng tiếng kêu đớn đau, tuyệt vọng. Tuy nhiên, tình yêu tan vỡ
nhưng khát vọng tình yêu được khẳng định. Đó nét đẹp cao quý của tâm hồn Kiều,
giá trị nhân văn bền vững của “Truyện Kiều”. Đoạn thơ bi kịch, đau thương
nhưng không thê lương, đen tối, trái lại vẫn ngời lên ánh sáng niềm tin vào tình yêu,
vào con người.
Đoạn thơ miêu tả một cơn khủng hoảng, một trận sóng gió tơi bời trong lòng người
con gái tội nghiệp Thúy Kiều. Nàng đau khổ, quằn quại đâu phải bản thân mình ?
Tất cả trái tim yêu thương nàng dành cho người yêu… Tấm lòng vị tha ấy cao đẹp biết
chừng nào! Thương người đằm thắm sâu xa, mong muốn cho người được hạnh phúc,
còn mình thì chấp nhận thiệt thòi, cam chịu hi sinh, tấm lòng ấy đã gây xúc động thật
sự trong lòng người đọc. Đó cũng nét sáng ngời trong phẩm giá của Thúy Kiều,
khiến cho hàng sông mãi với thời gian. Đoạn thơ đồng thời cho ta thấy “sức cảm
thông lạ lùng” (Hoài Thanh) của nhà đại thi hào dân tộc đối với những khổ đau
khát vọng tình yêu của con người. Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta còn thấy bút pháp
miêu tả nội tâm đặc sắc của đại thi hào.
Bài văn mẫu 6
Nguyễn Du một ngôi sao sáng trên nền trời thơ ca Việt Nam, ông còn bậc thầy
trong cả việc miêu tả nội tâm nhân vật. Nguyễn Du đã viết truyện Kiều bằng cả niềm
say mê của mình, ông còn hóa thân trên từng nhân vật để cảm thấu nỗi khổ tâm tư của
con người. Chính thế cho nên trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật,đoạn Trao
Duyên là một trong những đoạn trích miêu tả rõ nhất về diễn biến tâm trạng thúy Kiều.
Đoạn trích tiếng lòng đau xót tái của Thúy Kiều khi phải chia lìa hạnh phúc
của mình. Nàng trao duyên cho em nhờ em trả nghĩa cho Kim Trọng hộ mình.
Đoạn trích đã miêu tả một cách đầy đủ sống động nhất về diễn biến tâm ngổn
ngang trong lòng Kiều. Bằng tài năng miêu tả của mình, Nguyễn Du đã làm dấy lên
trang thơ về một hình ảnh Kiều đa sầu đa cảm.
Mở đầu đoạn thơ, chúng ta đã thấy rõ lời nói dịu dàng ân cần của Thúy Kiều với Thúy
Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi đây cho chị lạy rồi sẽ thưa
Nàng không nhờ vân “cậy lời”. Trong lời nói của Kiều không chỉ sự nhờ cậy
còn cả sự nài ép van xin. Từng lời nói đó khiến cho chúng ta cảm thấy Kiều
một người khôn khéo.
Nhưng đằng sau đó ta còn nhận ra được cả sự mong ngóng hi vọng của Kiều.
Tuy nhiên cái hay trong miêu tả nội tâm nhân vật không chdừng lại đó, Kiều
không chỉ nhờ cậy Vân mà còn “lạy” rồi “thưa”, đó là nghịch lý. Việc mà Kiêu sắp nói
ra chắc việc lớn quan trọng. Kiều đẩy Vân vào tình thế khó xử cho nên Vân vẫn
nhận lời. Tâm lí nhân vật được miêu tả đặc sắc cho thấy tâm tư sâu kín của nàng.
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
"đứt gánh tương tư”- chỉ với câu này chúng ta đã thể cảm nhận được cuộc đời đầy
bi kịch éo le của nàng. Cuộc tình của Kim Trọng với nàng còn đẹp đẽ vậy thế
nhưng giờ đây sắp phải chia lìa nhau. Sự đau đớn xót xa đó cho thấy Kiều bắt đầu
hồi tưởng lại những tháng ngày nàng hạnh phúc bên Kim Trọng.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Những kỉ niệm về sự hẹn ước lúc bên nhau Thúy kiều không thể nào quên được.
Những ngày hạnh phúc đến thật nhanh nhưng cũng đi thật nhanh ta không thể ngờ
tới được. Kiều chưa kịp hưởng trọn thì đã tuột khỏi tầm tay
lẽ những kỷ niệm về Kim Trọng sẽ không bao giờ nhạt phai trong Kiều. Những
ngày tháng vui vẻ, hạnh phúc ấy đến thật nhanh đi cũng thật nhanh. Kiều chưa kịp
hưởng trọn nó thì hạnh phúc đã vụt khỏi tay nàng.
Bài văn mẫu 7
Thường thì nam nữ yêu nhau thì trao duyên cho nhau nhưng Thúy kiều trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du lại tự trao duyên mình cho em gái. đây hình thức trao duyên
khác với nam nữ trao duyên với nhau. thể nói qua đoạn trích Trao duyên ta thể
thấy được hình ảnh của Thúy Kiều khi buộc phải trao duyên tình của mình cho Thúy
Vân.
Trước hết, khi nhờ cậy Thúy Vân, hình ảnh Thúy Kiều hiện lên với dáng vẻ lạy van,
nhờ vả:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Những từ ngữ như “cậy”, “lạy”, “thưa” cho thấy Thúy Kiều đang quỳ xuống trước
mặt Thúy Vân để cầu xin, để nhờ vả Vân thay mình nối duyên với chàng Kim Trọng.
Hành động ấy, lời nói ấy như những lời nhờ vả tha thiết mà cũng như khiến cho người
bị nhờ vả phải khó xử, không muốn nhận cũng phải nhận. bình thường phận làm
chị sao lại quỳ dưới chân em lạy như thế. Với hình ảnh như thế, người đọc không
thể không xót thương cho nàng Kiều, nàng quỳ đó lạy em nhưng trong lòng chỉ
hướng tới mục đích là nhờ em trả tình trả nghĩa cho Kim Trọng thay mình.
Không chỉ xuất hiện với hình ảnh khúm lúm, lạy thưa Thúy Kiều còn xuất hiện với
hình ảnh tiều tụy, đau khổ:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Nàng như ngồi thẫn thờ giãi bày nỗi lòng mình cho em gái hiểu. Kể từ khi nàng gặp
chàng Kim hai người đã mến nhau thề nguyện đủ điều. ởng rằng mối tình ấy sẽ
đơm hoa kết trái, tưởng chừng Kim Trọng sẽ trở thành một người bao bọc che chở cho
Kiều cả đời thế nhưng sóng gió bỗng ập đến gia đình Kiều buộc Kiều phải chọn một
trong hai chữ tình hiếu. Vốn một người con hiếu thảo nàng không thể để cha
chịu oan ức trong trốn lao , nàng đành phải bán mình chuộc cha. Thế nên giờ đây
mang tiếng phụ bạc tình Kim, chỉ mong Vân thể thay mình nối duyên với chàng.
Dù có chết đi thì nàng cũng cam lòng. Qua từng câu thơ người đọc có thể tưởng tượng
được hình ảnh của Thúy Kiều hiện lên với đôi mắt sâu thẳm nói chuyện quá khứ, nói
chuyện hiện tại và nói đến cả tương lai.
Nói đoạn nàng trao những kỉ vật tình yêu cho em gái mình với bộ dạng lưu luyến,
không muốn đưa mà buộc phải đưa:
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai
Nàng mong Thúy Vân xót chị chấp nhận mối duyên với Kim Trọng nhưng cũng
mong Thúy Vân coi những kỉ vật này của ba người. Nàng thẫn thờ hình dung đến
cái chết của mình, mai sau hai người thành vợ chồng thì cũng hãy nhớ đến
người chị này. Người dù có chết thì hồn vẫn giữ nguyên lời thề xưa.
Cuối cùng nàng gọi tên chàng Kim, nàng lạy chàng với tất cả tình yêu lời xin lỗi
chân thành:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim Lang! hỡi Kim Lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây.
Hình ảnh Thúy Kiều hiện lên thật đáng thương, người con gái xinh đẹp tài sắc thế,
nàng một mối tình trong sáng đẹp đẽ thế, vậy nàng bỗng dưng trở thành kẻ
phụ tình. Thường thì người ta phụ tình người ta đâu buồn thế đây Thúy Kiều
phụ tình lại buồn, lại đau đến thế. Rõ ràng xã hội bất công kia đã đày đọa, dập vùi tình
yêu của người con gái.
thể nói nhà thơ Nguyễn Du đã xây dựng thành công hình ảnh Thúy Kiều trong
đoạn trích Trao duyên. Không trực tiếp nói đến điệu bộ của nàng một cách chi tiết
nhưng qua những câu thơ nặng trĩu tâm trạng ta cũng phần nào thấy được hình ảnh
của Thúy Kiều khi quyết định trao duyên cho Thúy Vân.
Bài văn mẫu 8
Kiều là một gái xinh đẹp mặn sắc sảo thế nhưng chính cái hội đen tối phong
kiến kia đã làm cho Kiều cuộc đời gian truân sóng gió. thể nói nhà thơ Nguyễn
Du thông cảm sâu sắc với số phận ấy lắm thì mới thể kể chi tiết về cuộc đời của
người con gái xinh đẹp tài năng ấy được.
Trước khi Kiều trở thành món hàng của phường buôn thịt bán người. Kiều đã nhớ đến
người yêu của mình Kim Trọng nhờ Thúy Vân đền đáp nghĩa tình với chàng
Kim thay mình. Đoạn trích Trao duyên đã thể hiện tâm trạng của Kiều khi quyết định
trao duyên cho em.
Duyên một thứ trời xe, trời định, những người yêu nhau ắt hẳn được xe duyên. Thế
đây Kiều tự thay trời trao duyên của bản thân mình cho em thì thể được
không? Mà duyên thì là yêu nhau mới có huống chi Thúy Vân cùng chàng Kim có yêu
nhau đâu. Mặt khác trong sâu thẳm trái tim của Kiều thì việc trao duyên kia không hề
dễ, phải trao đi người mình yêu thương thì làm sao thể vui được. Tuy nhiên thì
đây Kiều vẫn phải tước quyền của ông Nguyệt, bỏ qua những cảm xúc của
bản thân mình để quyết định trao duyên cho em.
Trước hết mười bốn câu thơ đầu nói lên việc Thúy Kiều quyết định trao duyên cho
em mình là Thúy Vân.
Thứ nhất Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình. Nỗi bất hạnh ấy chỉ Thúy
Vân mới thay thế được Kiều cũng chỉ Thúy Vân mới giúp Kiều an tâm về chuyện
chàng Kim được:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Tác giả dùng từ thật hay khi nói đến việc trao duyên của nàng Kiều cho Thúy Vân. Là
một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế nhưng ở
đây Kiều trao duyên hay chính đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm chân
tình với Kim Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” đó chính là thái độ của
người dưới dành cho người trên nhưng đây thì lại chị dành cho em. Dùng ngôn
ngữ như thế tác giả ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành
khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng Kim.
Trước sự cậy nhờ ấy để thêm phần thuyết phục Vân đồng ý thì Kiều đã tâm sự với em
về những nỗi vương sầu muộn đang bủa giăng trong lòng nàng. chỉ Thúy
Vân mới có thể giúp đỡ Kiều chứ không có ai khác cả:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”
Nàng ngậm ngùi rằng nàng đã trót thề nguyền cùng người con trai tên Kim Trọng
ấy giờ đây tình yêu vừa mới chớm đến lại đứt gánh tương giữa đường. Còn tại
sao đứt gánh thì lẽ Vân cũng hiểu. Chính thế Kiều mong Vân chấp nhận sự
cậy nhờ của mình chắp mối loan với chàng Kim Trọng. Sự ngậm ngùi ấy được
phát ra từ những câu thơ trên. thể nói để cất lên những tiếng cậy nhờ kia thì quả
thật Kiều cũng đau đớn lắm. cho chị em nữa nhưng phải gượng ép trao đi thứ
mình không muốn trao thứ người ta không muốn nhận thì chẳng khác nào mất
đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết Thúy Kiều cậy nhờ mình
chứ nào đâu hiểu hết được “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
Tiếp đến Kiều thể hiện hoàn cảnh của bản thân mình cuộc sống của Vân để làm
cho lời cậy nhờ kia nặng hơn khiến cho Thúy Vân muốn từ chối cũng không thể
nào từ chối được:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!”
Khi cậy nhờ em xong thi Kiều lại quay về cảm giác một mình cái sự một mình ấy
đã khiến cho nàng nghĩ đến những chuyện trước đây, tâm trạng của nàng bắt đầu được
bộc lộ ràng hơn. Thứ nhất Kiều mong muốn trong tuyệt vọng quay về với người
yêu của mình:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Chiếc vành với tờ mây kia chính những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng
nhau thề nguyền sống chết, họ đã với nhau những ngày tháng hạnh phúc những
niềm vui tràn ngập vậy giờ đây cái hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu hi
sinh chữ tình. Thôi thì nàng quyết định giữ cái duyên còn vật kia thì thành của chung.
Mai này khi Vân Kim Trọng nên duyên vợ chồng thì cũng mong hãy nhớ đến
Kiều. Rồi là phím đàn với mảnh hương thề nguyền ngày nào cũng là những kỉ vật tình
yêu của Kiều Kim Trọng. Thế nhưng Nguyễn Du không để những kỉ vật ấy cùng
một câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng
Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng
như cố níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho
Vân những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào đền đáp tấm ân tình của
chàng Kim Trọng được. thể nói qua những câu thơ trên tâm trạng của Thúy Kiều
được thể hiện thật sự rất nét. Đó chính tâm trạng mong muốn trở lại những ngày
tháng trước đây, đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy.
Những tưởng Thúy Kiều trao duyên xong sẽ cảm thấy thanh thản phần nào những trái
lại giây phút kết thúc sự trao duyên ấy lại giây phút Kiều đau nhất. lẽ trong sâu
thẳm trái tim Kiều một khi đã trao duyên thì tức không phải của mình nữa. Tình yêu
bấy lâu nay bỗng chốc không phải của mình nữa. Kiều đau như chết lặng đi trong
sự đau đớn đang giày xé con tim mình:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan”
Kiều nghĩ đến cái chết Kiều ngẫm rằng kể cả khi nàng chết đi thì những lời thề kia
cũng không thể nào quên được. sự bất công của xã hội sự mất đi tình yêu của
Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật sự đau oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần
không thể siêu thoát. Mai sau khi Vân Trọng nên duyên thì cũng đừng quên Kiều. Nếu
thấy hiu hiu gió thì thể cảm nhận nàng đang về. Nàng mượn cơn gió kia để đưa
hồn mình về thăm Vân Trọng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều nát thân
liễu yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong Kim
và Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan Thúy Kiều. Có thể i cuộc sống
của con người ai chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự
cảm thấy rất đau khổ không thể nào thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ
đến. Kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con đường nàng
sắp đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.
Như vậy qua bài thơ ta thấy được tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên cho em gái
mình. Cái hội phong kiến kia đã khiến cho chữ tình chữ hiếu bị đặt lên bàn cân
buộc người con gái hiếu thảo kia phải lựa chọn. Mà vốn dĩ chữ hiếu và chữ tình không
thể nào đem ra cân được. Chữ hiếu làm tròn thì chữ tình kia lại đành thất hẹn, làm trái
lời thề. Chính bởi lẽ ấy mà Kiều cảm thấy rất đau đớn thậm chí cô đã nghĩ đến cái chết.
Bài văn mẫu 9
Nguyễn Du Đại thi hào của dân tộc với rất nhiều tác phẩm văn chương để đời.
Trong đó phải kể đến Truyện Kiều được coi kiệt tác văn học. Trong đó, đoạn trích
Trao Duyên Truyện Kiều đoạn trích hay, đắt giá. Đoạn trích tiếng lòng đau t
tái, tâm trạng đau khổ giày của Thúy Kiều khi chìa lìa hạnh phúc. Bằng bút
pháp miêu tả nội tâm sâu sắc Nguyễn Du đã tái hiện được đầy đủ tâm trạng giằng
xé của Thúy Kiều khi vì chữ Tình mà dỡ lở cuộc đời.
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”.
Trong không gian đêm khuya tĩnh mịch, Thúy Kiều gọi Thúy Vân vào để nhờ cậy em.
Nàng biết rằng, việc nhờ em chuyện này là vô cùng khó khăn nên tác giả phải sử dụng
từ “Cậy” để cho thấy sự chân thành của Nàng. Đặc biệt “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ
thưa”, Thúy Kiều đã đưa Thúy Vân lên một tầm cao mới mong muốn, lạy lục em
chuyện mình nhờ vả. Điều này cho thấy, Thúy Kiều người hiểu chuyện thế nào.
Trong tình huống này, lẽ nàng cũng hiểu chỉ một mình Thúy Vân mới thể
giúp được nàng vì vậy nàng đem hết tâm gan, ruột gan ra để nhờ Thúy Vân.
Giữa đường đứt mối tương tư.
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ.
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài.
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn.
Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây.”
Trong lần tâm sự này, Thúy Kiều kể về mối tình của nàng với Kim Trọng. Mối tình
vừa chớm nở đã lụi tàn. Tình cảm đang mặn nồng đành phải chia xa. nguyên nhân
sâu xa chính do biến cố gia đình. Giữa chữ Tình Hiếu, làm sao trọn vẹn cả hai?
Không nỗi đau nào đau hơn khi Thúy Kiều đành phải buông bỏ chữ Tình chữ
Hiếu. Kiều mong sao Thúy Vân cũng thể hiểu cho nỗi lòng của nàng, đồng ý để
nàng se xuyên với Kim Trọng “tình chị duyên em”. Để rồi, nếu nàng chết cũng
mỉm cười nơi chín suối. Điều này cho thấy, nàng còn đem cả cái chết ra để thuyết
phục em. lẽ chỉ khi bị đẩy vào bước đường cùng, con người ta mới phải tìm cái
chết để “ép” nhau. Càng phân tích càng thấy sự tổn thương, giày bế tắc của
Thúy Kiều.
Sau khi Thúy Vân đã nhận lời, Thúy Kiều bắt đầu trao em những kỉ vật tình yêu:
Chiếc trâm với bức tờ mây.
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng.
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin.
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Phân tích tâm trạng thúy kiều trong đoạn trích trao duyên Trao kỷ vật cho em mà lòng
nào nặng trĩu. Từng câu chữ, từng lời nói như đá nặng trong tim. Những kỉ vật mới
hôm nào của riêng đôi ta giờ đây đã thành của chung. Mối tình mới ngày nào còn
đang đẹp vậy giờ đã dang dở. Nhưng nàng vẫn một lòng se duyên cho em để trọn
nghĩa tình. sau này em nên vợ chồng cũng xin đừng quên người chị bạc
mệnh này. Có lẽ, Thúy Kiều càng nói càng xót xa cho thân phận Hồng nhan bạc mệnh
của mình. Tình yêu đã trong tay vậy giờ lại bẽ bàng thế này. Chỉ nghĩ đến lúc
khi Thúy Vân Kim Trọng bên nhau nàng chỉ oan hồn phất phơ mới đau xót làm
sao.
Mai sau dù có bao giờ.
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây.
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Dường như Thúy Kiều đã nhìn thấy tương lai của mình. lẽ cuộc đời nàng sau này
đen tối không còn lối thoát. lẽ chẳng sớm thì muộn nàng cũng quạnh nếu
chết đi cũng chỉ là oan hồn cô đơn mà thôi. Nếu ở những câu thơ trong trao kỉ vật thì ở
câu thơ này tâm trạng xót xa, đau đớn, bẽ bàng càng được thể hiện ra. Đoạn thơ nhắc
đến những kỉ niệm tình yêu day dứt. Day dứt không trọn vẹn khiến trong tưởng
tượng thôi cũng xót xa cùng. Thúy Kiều chỉ muốn nhắc Thúy Vân xin đừng quên
nàng, nếu lỡ âm dương cách biệt thì cũng hãy nhớ đến chị : “Thấy hiu hiu gió thì hay
chị về”.
Hồn còn mang nặng lời thề.
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời.
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Chỉ tưởng tượng thôi cũng đã thấy xót xa. Nếu đoạn trên mong ước cho Thúy Vân
nhận lời se duyên với Kim Trọng thì đoạn sau lại nỗi lòng xót xa của Thúy Kiều.
Dường như, sau khi lo cho em và cha mxong, Thúy Kiều mới bắt đầu nghĩ đến cuộc
đời mình. Thế hết! Hồng nhan bạc mệnh, trâm vỡ bình tân. Hi sinh chữ Tình để
chữ Hiếu bán thân chuộc cha, lo cho em gái một tấm chồng như ý suốt đời. Khi
mọi việc đã lo xong thì giờ đây nàng mới nghĩ đến mình, mới nghĩ đến mối tình chớm
nở đã tàn, mối tình khắc cốt ghi tâm với bao lời thề ước. Vậy giờ cũng không thể
đến với nhau. lẽ, ngay cả khi Thúy Kiều chết đi nàng vẫn nhớ đến những lời thề
năm xưa. Chỉ mong, nếu nàng có chết cũng xin được giọt nước cho người thác oan.
Những lời tâm sự của Kiều dường như rơi vào nửa tỉnh nửa mê. Lúc đầu nàng nhờ cậy,
lạy lục em, khi em đồng ý nàng mới như bừng tỉnh nghĩ cho cuộc đời mình. Nàng mới
càng nhớ da diết đến Kim Trọng, càng tiếc thương cho mối tình trong sáng, ngọt ngào
vừa mới đây thôi:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang.
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây.
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng
Nàng thốt lên Ôi Kim Lang, hỡi Kim lang nghĩa nàng đã coi Kim Trọng phu
quân tình lang của mình. Nhưng từ nay, chữ Hiếu nên xin phụ Tình. Sau khi thốt
ra nỗi ng nhớ nhung của mình cũng lúc trái tim nàng đã nguội lạnh, tâm hồn đã
chết, cả người băng giá. Mất đi Kim Trọng cũng như mất đi một nửa cuộc đời. Nàng
đã xác định cuộc đời phía trước là bể dâu, nước đẩy thuyền trôi không thể cưỡng cầu.
Chỉ một đoạn trích Trao Duyên ngắn nhưng Nguyễn Du đã lột tả chi tiết sâu sắc
tâm trạng đau đớn của Thúy Kiều. Một bên Hiếu một bên Tình nàng phải lựa chọn
sao cho thỏa đáng, nàng phải hi sinh hạnh phúc nhân gia đình. Một người con
gái mới lớn, chưa trải sự đời, chưa biết sóng gió bên ngoài ra sao phải chấp nhận
bán thân vào lầu xanh cho thấy sự hi sinh của nàng lớn thế nào. cũng cho thấy
nàng bế tắc thế nào. Những hình ảnh sử dụng trong đoạn trích vừa ma mị, vừa ảo,
hiện tại quá khứ đan xen khiến cho tâm trạng của Kiều càng rối bời, nửa nửa tỉnh,
nửa nhớ thương nửa đau đớn.
Đoạn Trao Duyên trong Truyện Kiều chính một khúc Đoạn Trường bậc nhất trong
cuộc đời Thúy Kiều. Đây chính đoạn trường đầu tiên nàng bước vào để rồi kéo dài
triền miên những ngày tháng dại, đau khổ và bế tắc. Nguyễn Du đã tái hiện thành
công những ngổn ngang đau đớn của Kiều khi hi sinh tình yêu của mình để mang lại
hạnh phúc cho gia đình. Tưởng rằng, đây là hành động của Thúy Kiều nhưng
lại có giá trị nhân văn sâu sắc thể hiện tình yêu một lòng một dạ, chân thành với
Kim Trọng.
Bài văn mẫu 10
Trao Duyên một trong những đoạn thơ ý nghĩa cùng đặc biệt trong Truyện
Kiều của nhà thơ Nguyễn Du. Đoạn thơ khắc họa được nét nhất tấn bi kịch của
cuộc đời Thúy Kiều. Khi chữ Hiếu nàng phải quên đi chữ Tình quên đi hạnh
phúc của đời mình đành dang dở. Bằng bút pháp miêu tả nội tâm tài tình Nguyễn Du
đã cho chúng ta thấy được tâm trạng giằng xé đầy đau khổ của Thúy Kiều.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”.
Trong không gian tĩnh mịch đêm khuya vắng. Thúy Kiều gọi Thúy Vân đến khẩn thiết
cậy nhờ em. Nàng biết rằng điều mình nói ra đây thật sự rất khó khăn nên mới phải sử
dụng từ “cậy em”. Sau đó rồi đưa Thúy Vân lên một tầm cao hơn đó ngồi lên trên
để chị “lạy rồi sẽ thưa”. Chỉ hai câu thơ đầu thôi mà chúng ta đã thấy được Thúy Kiều
người hiểu chuyện như thế nào khi lường trước được việc mình cậy nhờ em sẽ thật
sự khó khăn nên muốn đưa em vào thế không thể chối từ.
Trong niềm đau đớn của bản thân, Thúy Kiều cố gắng phân bày với em việc tại sao
mới có lý do cậy nhờ ngày hôm nay:
"Giữa đường đứt mối tương tư.
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ.
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài.
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn.
Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây.”
Nàng kể về mối tình nồng thắm của mình với Kim Trọng vừa mới chớm nở nay đã
phải lụi tàn vì hoàn cảnh gia đình. Không còn nỗi đau khổ nào hơn khi vì chữ Hiếu mà
phải dứt bỏ chữ Tình với chàng Kim. thế Thúy Kiều cũng mong Thúy Vân thấu
hiểu cho nỗi khổ của mình nhận lời chắp nối duyên với Kim Trọng. Nếu Thúy
Vân nhận lời làm việc đó thì chết Thúy Kiều cũng vẫn biết ơn em. “Ngậm cười
chín suối vẫn còn thơm lây”. Nàng đã lấy cả cái chết ra để thuyết phục em gái nhận lời
cậy nhờ của mình.
Sau khi Thúy Vân đã nhận lời giúp chị Thúy Kiều bắt đầu trao cho em những kỷ vật
tình yêu. Lúc y tâm trạng đau khổ giằng của nàng được tác giả Nguyễn Du khắc
họa rất rõ nét.
Chiếc trâm với bức tờ mây.
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng.
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin.
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Trong giờ phút trao duyên mọi kỷ niệm lại sống dậy mãnh liệt trong tâm trí Thúy Kiều.
Ngỡ như tình yêu chỉ mới hôm qua đây khi nàng vừa gặp Kim Trọng vừa trao nhau
những lời thề nguyền ước hẹn. Trao duyên nhưng kỷ vật đấy được xem của chung.
Và sau này khi em có nên vợ nên chồng với chàng Kim cũng đừng quên chị. Càng nói
Thúy Kiều càng xót xa cho thân phận hồng nhan bạc mệnh của mình. Khi mà có được
tình yêu trong tay rồi biến cố gia đình lại bị tuột mất. Nàng chới với không biết
bám víu vào đâu nên tưởng tượng đến lúc Thúy Vân Kim Trọng bên nhau lúc
đấy nàng chỉ như một oan hồn vật vờ trong gió vương vấn trên phím đàn mảnh
hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ.
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây.
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Nếu như đoạn thơ đầu Thúy Kiều nói chỉ cần Thúy Vân nhận lời trao duyên thì
mình nơi chín suối cũng ngậm cười thơm lây. Thì đến đoạn thơ này khi nhắc đến
những kỷ niệm tình yêu với chàng Kim nàng càng day dứt. Nàng day dứt tình yêu
không trọn vẹn. Thúy Kiều cảm thấy nỗi xót xa hạn chỉ tưởng tượng thôi
cũng khiến người ta cảm thấy thương cảm. Đúng là “trâm gãy bình tan” tơ duyên ngắn
ngủi vừa nở đã tàn. Thúy Kiều chỉ xin em thế nào nếu âm dương cách biệt
hãy cho chị xin giọt nước cho người thác oan.
Hồn còn mang nặng lời thề.
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời.
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Với Thúy Kiều chết nàng cũng không bao giờ quên được tình yêu với Kim
Trọng. Nên “thác xuống” nàng vẫn đau đáu với tình yêu chưa trọn vẹn. Nàng đã
phải thốt lên:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang.
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây.
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng
Thúy Kiều đã phải thốt lên “ôi Kim Lang” nghĩa là nàng đã coi chàng Kim Trọng như
phu quân của mình tình lang trong mộng. Nhưng từ nay cũng chỉ chữ Hiếu
phải phụ chàng từ đây.
Đoạn thơ kết thúc với tâm trạng đau khổ cùng cực của Thúy Kiều. Ta thấy Nguyễn Du
thật sự rất tài tình khi đã lột tả chân thực được nỗi niềm của Thúy Kiều trong đoạn
trích Trao Duyên. Ở đó có cả sự mạnh mẽ của quân tử cũng có sự yếu đuối của nữ nhi
thường tình khi phải rời xa tình yêu khắc cốt ghi tâm của mình. Một tâm trạng giằng
xé đau khổ mà không phải ngòi bút nào cũng có thể lột tả được.
Bài văn mẫu 11
Mười năm lưu lạc của Thúy Kiều một tấn bi kịch triền miên chất chứa bao nỗi đau
đớn, thảm sầu. Mối tình đầu đẹp đẽ, trong sáng giữa nàng với Kim Trọng đã sớm bị
sóng gió cuộc đời làm cho tan vỡ. Sau khi bán mình chuộc cha để báo đền chữ hiếu,
Kiều đã âm thầm khóc thương cho lời nguyền vàng đá với chàng Kim. Nàng đành cậy
Thúy Vân thay mình gắn với chàng. Trao duyên nỗi đau đớn, nỗi đau đầu đời
của người con gái tài sắc - Thúy Kiều.
Trong đêm gia biến: Một mình nàng ngọn đèn khuya, Áo đẫm giọt lệ tóc se mái sầu.
Nàng sống với tâm trạng đầy sóng gió mặc cảm. Trước sự thực pphàng ngày
mai nàng sẽ thuộc về tay kẻ khác, Kiều cảm thấy như chính minh thủ phạm gây ra
nỗi bất hạnh cho Kim Trọng. Nàng thương mình một nhưng thương người yêu mười
nên cắn răng cam chịu số phận đen bạc của mình: Phận dầu, dầu vậy cũng dầu để nghĩ
đến nỗi đau của Kim Trọng:
Công trình kẻ biết mấy mươi
Vì ta khăng khít cho người dở dang!
Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa
Thúy Kiều mang nặng mặc cảm người lỗi. Nàng tự trách mình khăng khít, khiến
cho người dở dang. Đúng ra cả hai chủ động tìm đến nhau, yêu nhau tự nguyện
gắn với nhau. Kiều mặc cảm đó nàng luôn nghĩ đến người khác, ngay cả
trong lúc đau thương tột bậc.
Một mình một bóng, đối diện với tâm trạng rối bời, tan nát, Kiều chỉ biết âm thầm
khóc than cho gia cảnh, cho duyên phận. Đắn đo, suy tính trước sau, nàng thấy chỉ
một cách thể cứu vãn phần nào cho mối lương duyên của mình, đó trao duyên
cho em gái. Kiều đã trao duyên cho Thúy Vân khi em ấy vừa chợt tỉnh
giấc xuân.
Thấy Kiều khóc lóc ê, Thúy Vân gạn hỏi nguyên do cũng lờ mờ đoán biết chị
mình đang mắc mối tình chi đây. Kiều trao duyên cho em trong lòng băn khoăn,
bối rối:
Rằng: lòng đương thổn thức đầy
Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong
Hở môi ra cũng thẹn thùng
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai.
Nàng thẹn thùng khó nói vì còn vướng mối tơ duyên với chàng Kim - mối tình mà chỉ
hai người biết với nhau. Ngỏ chuyện riêng với người khác, cho em mình đi
nữa cũng không phải là điều dễ dàng. Hơn nữa, đây không phải là tình yêu thoáng qua
mà đã thề nguyền vàng đá, kết giải đồng tám; nó trở thành thiêng liêng, khó có thế đổi
thay. Nay nhờ Vân thay thế mình, Kiều sợ chắc gì Vân đã nhận lời.
Kiều lâm vào tình thế khó xử; không nói không được mà nói ra thì e ngại. Bởi thế nên
nàng đắn trước đó sau, băn khoăn, ngập ngừng mãi rồi mới thốt ra được một câu khiến
người ngoài cuộc nghe cũng phải mủi lòng.
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lèn cho chị lạy rồi sẽ thưa
Lời vậy? Đó lời nhờ Vân thay chị nối tình với chàng Kim. Đnghị ấy thật bất
ngờ ngay cả đối với Thúy Kiều bởi trước đó nàng chưa hề nghĩ đến. Cả một đêm thức
trắng, nàng đâu có nghĩ ra điều này. Nàng chỉ có đau khổ, giày vò. Nhưng từ lúc Thúy
Vân thức giấc tỏ ra thương chị, nàng như vụt thấy một làn chớp sáng: Đây rồi,
em gái này thế' giúp mình trả món nợ tình. Đề nghị ây cũng bất ngờ đối với Thúy
Vân bởi quan trọng quá, ảnh hưởng đến cả cuộc đời. Nhận lời lấy một người
đâu dễ dàng, đơn giản như nhận một món quà? Vậy dựa vào đâu Thúy Kiều
dám đề ra ý kiến ấy hầu như ép Thúy Vân phải nhận lời? Chỉ sở duy nhất
đúng đắn tình thương. Chị thương em. tin rằng em sẽ nghe lời. Chị cũng biết em
thương chị, không lỡ trái ý chị. Còn em, tuy chẳng hiểu đầu đuôi ra sao nhưng lại thật
tình thương chị riêng gánh chịu nỗi oan khổ của cả gia đình, lại đang đau xót vì môi tơ
duyên đứt đoạn nên dù chưa kịp nghe hết lời giãi bày, chắc cũng đã thấu hiểu lòng chị.
Người ta hỏi: Tại sao Thúy Kiều không dùng từ nhờ lại dùng từ cậy? Không dùng
từ nhận lại dùng từ chịu? Chính giữa các từ ấy một sự sai biệt khá tinh vi.
Đặt nhờ vào chỗ cậy, không những thanh điệu câu thơ sẽ nhẹ đi, âm thanh không dọng
chữ thư nhất của câu thơ nữa còn giảm đi cái quằn quại khó nói của Kiều, cái ý
nghĩa hi vọng thiết tha của một lời trối trăng, ý nghĩa nương tựa, gửi gắm của một tấm
lòng tuyệt vọng, ý nghĩa tin tưởng vào tình cảm ruột thịt. Giữa chiu nhận thì dường
như còn vấn đề tự nguyện hay không tự nguyện nữa. Nhận lời lẽ nội dung tự
nguyện: còn chịu lời thì hình như chỉ có một sự nài ép phải nhận vì không nhận không
được. Trong tình thế của Thúy Vân lúc bấy giờ, chỉ chịu lời chứ làm sao nhận lời
được?
Câu thơ sáu chữ giản dị mà chứa đựng tất cả chiều sâu của một tình thế phức tạp. Điều
đó càng làm cho nó có dáng dấp như một lời cầu nguyện.
Kiều yêu cầu Thúy Vân: Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa nàng coi sự chịu lời của
Thúy Vân một hành động hi sinh. Đối với cử chỉ hi sinh ấy thì chỉ kính phục
biết ơn. Thúy Kiều lạy em là lạy sự hi sinh cao cả ấy.
Trong những giây phút đau đớn, tội nghiệp này, Kiều vẫn quên mình để suy nghĩ đến
người yêu. Nỗi buồn của nàng cần phải được san sẻ cho vơi bớt.
Sau cái phút ban đầu khó nói, giờ đây nàng bộc bạch với em gái về mối tình đẹp đẽ
mà dang dở của mình:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Tâm sự về nỗi khó nghĩ, khó lựa chọn giữa tình và hiếu:
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Là người con có hiếu, Kiều đã bán mình để lấy ba trăm lạng cứu cha và em khỏi vòng
tội tù oan nghiệt. Chữ hiếu nàng đã đáp đền, còn chữ tình vẫn canh cánh bên lòng như
một món nợ nặng nề khó trả:
Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan
Ý nghĩa này cho thấy Thúy Kiều đau khổ biết chừng nào cũng cao cả biết chừng
nào! Nàng van lơn em gái hãy xót tình máu mủ thay lời nước non bằng lòng kết
duyên với chàng Kim. Nhắc tới chàng, Thúy Kiều càng sầu, càng tủi cho thân phận.
Tưởng chừng như nỗi đau theo nước mắt tuôn rơi:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Tưởng tượng ra cái chết thê thảm cũng là biểu hiện của sự thương thân, nhưng Kiều tự
an ủi rằng vong hồn mình nơi chín suối hãy còn thơm lây với cái đạo đức thơm tho
của em. Kiều nói với em những lời gan ruột như thế, hỏi Thúy Vân sao nỡ chối từ?
Ngôn ngữ của Kiều đoạn này ngôn ngữ của trí. Tuy Kiều gái rất giàu tình
cảm nhưng đối với chuyên trọng đại của cả một đời người này, nàng không thể dùng
tình cảm của mình thuyết phục được em. Phải bình tĩnh dùng lẽ, phân tích
thiệt hơn, phải trái để em hiểu mà bằng lòng giúp.
Trước lời nói lí, tình thiết tha của Thúy Kiều, Thúy Vân chỉ còn biết im lặng
lắng nghe và như thế có nghĩa là nàng chấp nhận. Đến đây Thúy Kiều mới nhẹ lòng và
nàng lấy kỷ vật tình yêu giữa mình với Kim Trọng ra trao cho em gái:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Nếu như đoạn trên, Kiều kể mối tình cho em nghe bằng giọng điệu cố lấy vẻ bình
tĩnh thì đến lúc này, trao lại kỷ vật cho em, nàng cảm thấy đã mất hết nên không thể
kìm nén được tình cảm của mình nữa, trái tim đa cảm bắt đầu lên tiếng. Nàng nói:
Chiếc vành với bức tờ mây vẫn bằng tiết tấu của mấy câu thơ trên, nhưng đến câu:
Duyên này thì giữ vật này của chung nghe như đã có tiếng nấc nghẹn ngào ở trong đó.
Duyên này duyên giữa Thúy Vân với Kim Trọng, phần nàng đã hết. Duyên chị đã
trao lại cho em, những kỷ vật này xin em hãy coi có một phần của chị, nó là của chung.
ràng trí buộc nàng phải dứt tình với chàng Kim nhưng tình cảm của nàng thì
không thể.
Mối tình đầu thơm, tho, ngọt ngào nhường ấy, bỗng chốc bảo quên, quên làm sao
được? Gửi lại trong chút kỷ vật này vậy. Giữa lúc tột đỉnh đau thương, Kiều vẫn cố
tìm lấy một chút an ủi. Sau đó, Kiều để mặc cho tình cảm tuôn tràn. Nàng nói với em
bằng tiếng nói khác của lòng mình. Ngôn ngnàng không còn i. mạch lạc, khúc
chiết của trí nữa mà thuần của tình cảm, của cả ảo giác. Càng nói càng xót xa cho
duyên phận bất hạnh của mình. Nàng nói mình mệnh bạc, tình mình mất đi bao
nhiêu nỗi niềm ngày xưa nay chỉ còn có phím đàn với mảnh hương nguyền:
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Động đến tương lai chắc chắn mịt, nàng đâu còn giữ được sự yên ổn trong lòng
phút giây trước đó. Nngười lội nước hụt chân rớt xuống vực sâu, Kiều chới với
không biết bám víu vào đâu. Kiều tưởng tượng đến lúc Vân và chàng Kim nên vợ nên
chồng, đến cõi không nàng chỉ một mảnh hồn oan vật vờ theo ngọn gió hiu
hiu trên ngọn cỏ cây nhưng vẫn vướng chặt với tiếng trên phím đàn mùi
hương của mảnh trầm ngày xưa vẫn còn mang nặng lời thề, lời nguyền nát thân bồ
liễu đền nghì trúc mai cho người. Nàng đinh ninh mình sẽ một hồn oan trong cõi
chết và dặn em rưới cho giọt nước làm phép tẩy oan.
Có mâu thuẫn không?
Trên kia Thúy Kiều đã chẳng nói nếu được Vân giúp cho thì thịt nát xương mòn
nàng vẫn ngậm cười chín suối gì? Nghĩa trả được món nợ tình, nàng sẽ hết giày
đã lo cho người yêu chu tất. Thế chỉ trong giây lát tưởng tượng, .nàng đã trở
lại với bao nỗi xót xa còn nặng nề hơn trước. Chút yên lòng đã bay đâu mất!
Đúng mâu thuẫn nhưng không phải trước sau hoàn toàn chỉ một vấn đề.
Trước, nàng đau khổ người; nay lo cho người đã xong, nàng mới nghĩ đến mình
thấy mình mệnh bạc, thấy mình sẽ mất tất cả. Nàng không chỉ chới với trong tương lai
mịt mù, oan nghiệt. Nàng không còn ở trạng thái tỉnh táo bình thường mà như nửa tỉnh
nửa mê, nửa phần người sống, nửa phần hồn ma. tuy vẫn đối thoại với Vân
nhưng lời nàng phảng phất như lời từ cõi bên kia vọng về.
Đoạn thơ cùng chợt đổi giọng. Hình ảnh âm điệu như chập chờn bay hết nét thật,
cái đó thật ảo: thời điểm không xác định (mai sau, bao giờ), không khí linh
thiêng (đốt hương, so phím của người xưa để lại) hình ảnh phất phơ, ma mị
(ngọn cỏ cây, hiu hiu gió...) Tất cả đều nói lên rằng Kiều tiếp tục khổ đau và càng
khổ đau gấp bội.
Theo đà nửa tỉnh nửa mê, đang nói chuyện với Vân, Kiều bỗng nói một mình, nói với
mình về sự dở dang duyên phận. Đúng là cảnh trâm gãy bình tan, duyên ngắn ngủi.
Đúng là phận bạc như vôi đành phải chấp nhận cảnh nước chảy hoa trôi lỡ làng mà
trái tim như tan ra từng mảnh. Nàng đành chịu tội với chàng Kim, đành gửi chàng
muôn nghìn cái lạy. Đau đớn quằn quại đến mức Kiều phải nấc lên:
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây
Tiếng nấc nghẹn ngào ấy khẳng định một lần nữa mặc cảm tội của Kiều. Nghĩa
nàng phủ nhận tất cả những đã nói với Vân, những đã làm cho chàng Kim, phủ
nhận nỗi yên tâm của mình trong khoảnh khắc trên kia. Nghĩa là nàng tuy có đau thêm
cho mình nhưng vẫn một mực đau cho người, người. Nỗi đau không đơn giản mà
tăng lên gấp bội. Nàng gọi tên chàng Kim như trong cơn sảng. Nỗi đau đã lên đến
tột đỉnh, quá sức chịu đựng của thể xác:
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá đồng.
Đoạn thơ một cơn khủng hoảng, một trận sóng gió tơi bời trong lòng con người tội
nghiệp Thúy Kiều. Nàng đau khổ, quằn quại đâu phải bản thân mình? Tất cả trái
tim yêu thương nàng dành cho người u. Tâm hồn vị tha ấy cao đẹp biết chừng nào!
Thương người đằm thắm sâu xa, muốn cho người được hạnh phúc, còn mình thì chấp
nhận thiệt thòi, cam chịu hi sinh, tấm lòng ấy đã gây xúc động mạnh trong lòng người
đọc. Đó cũng là nét sáng ngời trong phẩm giá của Thúy Kiều.
Bài văn mẫu 12
Tình yêu giữa Thúy Kiều Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải
về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều.
Của cải bị bọn sai nha vét sạch. Cha em trai Thúy Kiều bị bắt, bị đánh. Bọn quan
lại đòi đút lót ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Trước biến cố đau lòng đó, một
người giàu tình cảm, giàu đức hi sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải
bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng?. Thúy Kiều hết
sức đau khổ. Cuối cùng nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Đoạn
trao duyên” trong Truyện Kiều” rất cảm động. lẽ đây cảnh tượng đau lòng
chưa từng thấy trong nền văn học nhân loại.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao
duyên thật sống động. Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. n ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật khó i, nhưng
để lòng thì phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình,
nàng đành cậy em:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “ cậy”, tuyệt vời chính xác.
Từ “ cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng là “ lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện Thúy Vân cũng đã chứng kiến . Chuyện
gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện thề nguyền hẹn ước với Kim
Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng một chi tiết đối với cái trí bình
thường của Thúy Vân không bao giờ biết được:
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Qua lời Thúy Kiều , Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu Tình là hai giá trị tinh
thần không thể đặt lên bàn cân được . Một hội bắt con người phải lựa chọn những
giá trị không thể lựa chọn được thì hội ấy một hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay
đắng lựa chọn chữ hiếu”. chỉ ba điều tồn tại: Đức tin, Hi vọng Tình yêu,
Tình yêu vĩ đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm
thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hi sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi
lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Hai chị em đều xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy nàng nói ngày xuân
em hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào ! Lời lẽ thiêng liêng của nàng lo cho
Kim Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật một gái đức hi
sinh lớn lao.
Biết em thuận lòng ( con người trời sinh ra để hưởng hạnh phúc đó,trong giờ phút
này cũng dễ thuận lòng lắm. Với lại chị nói cảm động quá. anh Kim Trọng em đã
nhất kiến rồi, cũng dễ thương lắm), nàng trao cho em những kỉ vật giữa nàng và chàng
Kim:
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ , vật này của chung
Tình cảm dẫu sao vẫn còn là trừu tượng, chữ kỉ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện
ra đó, cho nên Thúy Kiều trao chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì. Nàng trao duyên,trao kỉ vật cho em mà
nàng chửi đời. Cái hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì
có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu
trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
Thúy Kiều trao duyên coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỉ vật còn
dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với ngọn cỏ
cây”, với “ hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu , nàng quên rằng trước mặt mình
Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Mỗi lời của nàng một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách
mình phận bạc”, ‘hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết
thảy chúng ta . Đối với Kim Trọng ,nàng còn mặc cảm tội lỗi chính nàng đã phụ
chàng”. Chính tâm mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết chất trong tiếng
kêu thương thấu trời:
Ôi Kim Lang ! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Đoạn trao duyên” trong Truyện Kiều” một khúc đoạn trường” trong thiên
Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời , Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động bằng nghệ thuật tuyệt
vời , ông đã dựng lại đoạn “ trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập
hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người
của phi thường. trong sự kiện sóng gió bất kì” này, Thúy Vân , hồn nhiên
( cũng đừng vội chê trách Thúy Vân . Nhân vật này còn một kho mật trong công
trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du chúng ta chưa kịp n đây), n Thúy
Kiều thì lại càng đau đớn hơn. Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lí, sự vận động
nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn.
Chỉ qua đoạn trao duyên , chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu
tình cảm, giàu đức hi sinh , ý thức về tình yêu cuộc sống. Một nhân cách như
vậy vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan
tác.Nói như Mộng Liên Đường Chủ nhân khúc đoạn trường này như máu rỏ trên
đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn
hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo.
Bài văn mẫu 13
Tình yêu trong văn học trung đại Việt Nam dường như ít được đề cập đến. Trong các
mối tình trung đại, nổi bật nhất phải kể đến mối tình giữa Thúy Kiều Kim Trọng.
Đó mối tình đẹp bậc nhất nhưng cũng bi kịch bậc nhất của văn học trung đại nói
riêng và văn học Việt Nam nói chung. Cuộc đời Kiều là một chuỗi ngày bi kịch nhưng
bi kịch đau đớn nhất, tác động mạnh mẽ nhất đến cuộc đời Kiều là bi kịch tình yêu của
nàng và Kim Trọng.
Khi quyết định bán mình chuộc cha, Kiều đã mạnh mẽ bao nhiêu thì đến khi đối diện
với tình yêu của bản thân nàng lại càng đau đớn bất lực bấy nhiêu. Chấp nhận gả
cho Giám Sinh, tương lai mịt nhưng những điều đó không làm nàng bận lòng.
Trong những giây phút này, Kiều chỉ nghĩ đến Kim Trọng. nàng đã bất ngờ đưa ra
một quyết định cho mối tình này trao duyên cho Thúy n. Tâm trạng Kiều khi ấy
đầy những đau đớn giằng xé ấy được thể hiện rõ nét trong đoạn trích “Trao duyên”.
Trước khi phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên,
ta cần nắm được vị trí của trích đoạn này trong tác phẩm. Truyện Kiều của Nguyễn Du
được cấu tạo theo kết cấu quen thuộc Hội ngộ Lưu lạc Đoàn viên. Trong đó, đoạn
trích Trao duyên đóng vai trò bản lề kết thúc chuỗi ngày hạnh phúc mở đầu cho
chuỗi ngày bi kịch.
Sau đêm Kiều Kim Trọng thề nguyền, Kim Trọng phải trở về Liêu Dương hộ tang
chú. Gia đình Kiều lại bị thằng bán vu oan giáng họa. Kiều quyết định bán mình
chuộc cha. Chữ hiếu đã xong những vẫn còn chữ tình. Đêm trước khi theo Giám
Sinh, Kiều vẫn canh cánh món nợ ân tình với Kim Trọng. Thúy Vân tỉnh giấc đến bên
ân cần hỏi han và Kiều nảy ra ý định trao duyên, trao lại mối tình đầu dang dở cho em,
nhờ em thay mình trả nghĩa cho chàng Kim. Đây là một nghịch cảnh éo le, một bi kịch
đầy nước mắt của cuộc đời Kiều.
Diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên được thể hiện rất
qua đoạn mở đầu lời cầu khẩn của Kiều đối với Vân. Tâm trạng nào lúc này thật
khó nói. Bởi trao duyên tình của mình cho người khác thật đau đớn càng khó xử
hơn khi nàng ý thức được việc này sẽ ảnh hưởng hệ trọng đến cuộc đời của Thúy Vân.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Ở hai câu thơ này, tác giả đã tạo ra một tình huống, một không khí đặc biệt. Những lời
nói, hành động của Kiều trở nên trang trọng khác thường. Nguyễn Du sử dụng từ
cậy” không dùng “nhờ”, dùng “chịu” không dùng nhận. Bởi từ cậy ngoài
nét nghĩa “nhờ” còn mang thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối. Mặt khác, từ “cậy” mang
thanh trắc tạo được âm điệu nặng nề gợi được sự quằn quại trong tâm hồn Kiều lúc
này. Chị nhờ em với tất cả lòng tin của chị. Dùng “chịu” không dùng “nhận”, bởi
“nhận” phần nào tự nguyện còn “chịu” phần bắt buộc. Kiều dường như đã đưa
Vân vào hoàn cảnh không thể chối từ. “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Ba động từ nối tiếp nhau ngồi lạy thưa gợi nhiều suy nghĩ. Tại sao Kiều lại phải
lạy Vân? Tại sao lại phải lạy rồi mới thưa? “Lạy”, “thưa” vốn là những từ thể hiện thái
độ trân trọng, trang nghiêm kính cẩn thường dùng để chcho người btrên hoặc
người mình chịu ơn. Ta thấy sự thay đổi vị thế giữa Kiều Vân, giữa họ không
còn được đặt trong quan hệ chị em đang trong quan hệ người ban ơn kẻ chịu
ơn. Kiều ý thức được sự việc nàng nói ra đây sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời của
Vân. vậy, lạy đây lạy cái đức hi sinh của Vân. Kiều đã hạ mình hết mực với
một thái độ trang trọng, nghiêm túc.
Giữa đường đứt gánh tương tư
eo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Khi phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, ta thấy
tình yêu dang dở của Kiều Kim Trọng được trình bày ngắn gọn qua thành ngữ
“giữa đường đứt gánh”. Đồng thời sự kết hợp “giữa đường đứt gánh” và “tương tư” đã
cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng khiến như hình khối càng khắc sâu
thêm nỗi đau nơi tâm hồn Kiều. thế mà “mặc em” y em định liệu nhưng cũng chỉ
duy nhất em người thể quyết định thôi. Câu thơ tuy không phải lời trao
duyên chính thức nhưng đã phần nào ràng buộc.
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Kiều điểm qua những sự kiện quan trọng trong cuộc đời mình. Đó khi nàng gặp
chàng Kim sóng gió bất kỳ xảy ra. Hai sự kiện sức ảnh hưởng lớn đến Kiều
đồng thời hai sự kiện này cũng được Vân chứng kiến. Những kỉ niệm với Kim Trọng
được liệt ngắn gọn nhưng cũng đủ cho ta thấy được cái tình khắng khít gắn của
họ. thể thấy, diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, đặc
biệt qua những câu thơ này vô cùng xúc động.
Điệp từ “khi” như nhấn mạnh về quãng thời gian tươi đẹp ấy. Nhưng hạnh phúc chưa
được bao lâu thì “sóng gió bất kỳ”. Tâm trạng của Kiều lúc này không phải mâu
thuẫn giữa hiếu tình. Bởi nàng sớm đã lựa chọn chữ hiếu. Nếu bốn câu trên tính
chất thông báo nhưng lời trao duyên vẫn chưa trực tiếp thì đến bốn câu sau Kiều đã
trực tiếp đưa ra lý lẽ để thuyết phục em nhận lời.
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Khi phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, ta nhận
thấy ngày xuân đây không chỉ mang ý nghĩa tuổi trẻ đó còn những tháng
ngày vui vẻ hạnh phúc ấm êm. Kiều cũng hy vọng ngày dài tháng rộng cùng Kim
Trọng sẽ mang lại hạnh phúc cho Vân khi em “chắp mối thừa”. Tuổi trẻ của em
do đầu tiên được nàng viện dẫn. Tình máu mthiêng liêng mới do quan trọng
nhất để thuyết phục Vân nhận lời.
Bên cạnh đó, Kiều còn viện dẫn cái chết của mình. Viện dẫn cái chết không nhằm
mục đích đẩy Vân vào tình thế khó xử mà để thể hiện sự toại nguyện, biết ơn của Kiều
đối với Vân nếu em đồng ý. Lời thỉnh cầu của Kiều chủ yếu thiên về mặt tình cảm.
Kiều luôn đặt mình trong vị thế của người chịu ơn nên lời lẽ của nàng cũng thế
trở nên khẩn khoản tha thiết. Tâm trạng của nàng lúc này chỉ hướng về việc thuyết
phục em nhận lời, tiếng nói của trí bỏ qua trái tim đang quặn thắt. Đến đây, diễn
biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên đã được đẩy lên cao độ,
cho thấy biết bao giằng xé trong tâm hồn nàng Kiều.
Trong quá trình phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao
duyên, ta thấy sau khi tìm lẽ thuyết phục em, Kiều không để cho Vân hội nói
nàng lập tức hành động trao kỷ vật cho Vân. Gọi kỷ vật bởi lẽ những vật y
chứa đựng biết bao kỷ niệm ngọt ngào của cuộc tình mới chớm.
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung”
Duyên này chính mối tình giữa nàng Kim Trọng. Mối tình này nàng chỉ nhờ Vân
“giữ”, không hoàn toàn trao hẳn cho Vân. Trao kỷ vật chính sự cụ thể hóa cho trao
duyên. Trao kỷ vật cho Vân nhưng lại nói với em đây “của chung”, biết bao đau
đớn trong hai từ “của chung” ấy. Của chung ấy là của ai? Nếu trước kia đó là của Kim
Kiều thì giờ một sự đổi ngôi Kim Vân, nhưng còn dường như Kim Kiều
Vân. Khi Vân đồng ý nhận lời nhận kỷ vật lúc bi kịch trong lòng Kiều bắt đầu
trào dâng không sao kìm nén. Tâm trạng, sự đau của Kiều được soi chiếu sự đối lập,
mâu thuẫn còn mất, hợp tan trong cõi âm dương cách trở. Sau khi trao duyên, Kiều
tự nhận mình là người mệnh bạc.
“Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”
Bởi lẽ, mất đi tình yêu, mất đi hy vọng cuộc đời nàng giờ đây không còn ý nghĩa. Đau
đớn hơn, Kiều lại người chính tay dập tắt mối tình mới nhóm ấy. Điệp khúc “mệnh
bạc” này đã gắn chặt với cuộc đời Kiều. Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều
trong đoạn trích Trao duyên, ta nhận ra những chuỗi ngày bi kịch của tương lai cũng
không đau xót bằng cõi lòng nàng đã nát tan ở hiện tại.
“Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương huyền ngày xưa”
Từ “của chung” giờ đã chuyển thành “của tin”. Kỷ vật trao thì đã thành của chung,
nhưng kỷ niệm tình cảm ấy không thể trao trọn nên vẫn của tin của chỉ Kiều
Kim. Một lần nữa gợi nhắc lại kỷ niệm “phím đàn”, “mảnh hương huyền”, nhưng bao
kỷ niệm giờ chỉ còn tồn tại trong ức, trong quá khứ xa xăm. Nàng hướng tầm nhìn
đến tương lai nhưng tương lai lại càng tuyệt vọng bế tắc.
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan”
Từ kỷ niệm ngọt ngào của quá khứ, Kiều đã đưa suy nghĩ đến tương lai. Nhưng thế
giới tương lai mà Kiều hình dung là một cuộc sống cõi âm mù mịt, tăm tối. Thúy Kiu
trăn trvà tiếc nui mi tình đu trong trng vi nhng hn thchưa ththực hin
đưc và nghĩ mình là ngưi chết oan, cho nên ngôn ngi như nửa tnh, na mê: hiu
hiu, hương khói, ngn c, lá cây…mà thc s tâm trng đn đau dn vt khôn
nguôi.
Vẫn đang nói vi n, đang dn dò tâm tình cùng em, nhưng hình như càng nói,
Kiu càng dn quên smặt ca em. ng chi mt mình, vi mình, thm thì
thành tiếng vtương lai mù mịt, thê thm ca chính mình. Đang sng mà ng li nói
đến cái chết cho thấy ni đau ca Kiu dn lên đến đnh đim. Những câu thơ trên khi
phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, ta thấy
đã tác dụng giúp thhin tình cm bn cht, thy chung mãnh lit ca Kiu đi
với Kim Trng.
Diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên từ lời tâm sự với
Thúy Vân, Kiều chuyển dần sang lời độc thoại với chính bản thân mình. Bất lực, uất
ức, nghẹn ngào bắt đầu trào dâng bật thành lời thơ. Tiếng thơ cũng chính là tiếng lòng
nàng.
“Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
Hiện tại quá khứ bỗng trở thành hai khoảng thời gian lạ lẫm. Quá khứ hạnh phúc
ngọt ngào bao nhiêu thì hiện giờ đây ngay lúc này nàng chỉ thấy đau đớn đắng cay.
Quá khứ được nhắc đến nhưng chỉ qua gợi nhắc “muôn vàn ái ân”. Quá khứ hạnh
phúc không thể đong đếm nhưng ngắn ngủi giữa chừng đứt gánh đầy bàng hoàng.
Ngỡ như mọi chuyện chỉ mới vừa xảy ra. Đối lập với quá khứ là hiện tại. đó là hiện tại
của “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “hoa trôi lỡ
làng” gợi sự chia ly muôn vàn xót xa. Ái ân hạnh phúc ngày xưa nay còn đâu.
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Kiều ý thức được thực tại bẽ bàng, buồn thay cho thân phận mình. Nhưng nàng lại
nhận tất cả mọi chuyện về mình, mọi lỗi lầm về mình. Cách sử dụng thán từ kết hợp
với điệp từ “Kim lang” cho thấy một tiếng gọi đau đớn, níu kéo trong tuyệt vọng.
Trong thời khắc đau đớn của tâm hồn, Kiều vẫn hướng tất cả về phía Kim Trọng. Kiều
rơi vào bi kịch đau xót của tình yêu nhưng vẫn mang vẻ đẹp cao thượng của sự hi sinh.
Cuộc trao duyên từ biệt trở thành cuộc tử biệt sinh ly.
những dòng thơ này chính mt khi mâu thun ln trong tâm trng Thúy Kiu.
Kiều trao kvật cho em mà lời gi trao cht cha bao đau đn, ging xé chua chát.
Trái tim bắt đầu thổn thức và lên tiếng. Nguyễn Du đã vận dụng thành công phép biện
chứng của tâm hồn diễn tả tinh tế từng bước chuyển biến tâm trạng của Kiều. Cách sử
dụng từ ngữ kết hợp với hình ảnh giàu giá trị biểu cảm đã diễn tả nét tâm trạng bi
kịch giằng của Kiều. Còn đau đớn hơn khi chính tay mình dập tắt mối tình đầu
tươi đẹp. Qua đó, người đọc đồng cảm và thấu hiểu hơn với Kiều.
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” một khúc “đoạn trường” bậc nhất trong
thiên “Đoạn trường tân thanh” của cuộc đời Kiều. Với con mắt tinh đời “trông thấu
sáu cõi nhân gian”, Nguyễn Du đã tái hiện lại cuộc trao duyên với biết bao cảm xúc
ngổn ngang ấy. Qua đó, ta càng thêm hiểu hơn cho Thúy Kiều hiểu hơn cho quyết
định trao duyên những tưởng đầy ấy nhưng lại thấm đượm một tình yêu chân
thành mà nàng dành cho Kim Trọng.
Bài văn mẫu 14
Con người khi đứng trước sự lựa chọn của bên nghĩa bên tình thì rất khó lựa chọn.
Tuy nhiên thì công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả vậy cho nên nếu một người
con hiếu thảo yêu thương cha mẹ của mình thì dẫu cho tình yêu kia đẹp đến mấy
thì vẫn quyết định chọn chữ nghĩa để trả ơn bố mẹ. kiều trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du đã chọn chữ “nghĩa” lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn đắp cho
tình cảm kia của mình. thế nàng quyết định trao duyên cho em gái Thúy Vân.
Đoạn trích trao duyên thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao
duyên của mình cho nàng Thúy Vân.
Duyên một thứ để cho con người ta gặp gỡ, để yêu nhau nếu phận thì sẽ
có thể bên nhau đến trọn đời. Và đặc biệt cái duyên cái nợ là do ông tơ bà nguyệt se tơ
kết tóc nối duyên. Thế nhưng đây Thúy Kiều đã như đoạt lấy cái quyền hành ấy
để nối duyên của mình cho em. Nàng có duyên với chàng Kim Trọng nhưng lại không
phận thế cho nên nàng muốn nối duyên cho em. trong thâm tâm nàng đó như
một cái để nàng đền đáp những ân tình của chàng Kim chàng đã trao cho nàng.
Trao duyên đi lòng nàng không khỏi đau xót vì tình yêu duy nhất và đầu tiên của nàng
đã không thành. Phải chăng tình đầu là dang dở.
Với hai câu thơ đầu ta thấy được những hành động của Thúy kiều thật khác bình
thường. Nàng như đang hạ thấp bản thân mình để cầu xin em, trao duyên nhưng cũng
là cầu xin em giúp chị và chấp nhận:
“Cậy em em có chịu lời.
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế
nhưng ở đây Kiều trao duyên hay chính đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm
chân tình với Kim Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” những từ để
chỉ thái độ kính trọng của người dưới đối với người trên thế đây bị xáo trộn.
Thúy Kiều chị nhưng lại phải lạy em cậy nhờ. Cái “cậy” kia mang ý nghĩa ép buộc
Thúy Vân phải làm nhiều hơn nhờ. Nói nhờ thì lại rất bình thường nhưng nói
cậy thì cái nhờ vả kia lại nặng hơn gấp bội. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn
nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình
để đền đáp tình cảm cho chàng Kim. Nàng cậy nhờ rồi nàng nói lên những lời tâm
tình cảm của bản thân mình. Đó là những tâm sự tận sâu trong đáy lòng của nàng:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai. ”
Nàng như thể hiện được cái nỗi đau xót của bản thân mình khi tình duyên lỡ dở.
Chính vì chữ hiếu mà nàng hi sinh chữ tình phụ chàng Kim. Và có lẽ thế nàng vừa đau
xót cho thân mình vừa đau đớn cho cuộc tình dang dở. Chàng Kim ấy vẫn đang chịu
tang nơi quê nhà không hề hay biết những chuyện nơi đây. Nàng chỉ mong Vân có thể
nối duyên đắp những của mình vẫn còn dang dở. Chính thế Kiều mong
Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình chắp mối loan với chàng Kim Trọng. Sự
ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. Dù cho chị em nữa nhưng phải
gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao thứ người ta không muốn nhận thì
chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy
Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
Vốn chữ tình chữ hiếu không thể đặt lên bàn cân cho được. Thúy Kiều vịn
vào tình cảnh của gia đình hiện tại và thêm nữa tình máu mủ ruột già. Điều đó càng
làm cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!”
ràng cả hai chị em cùng đến tuổi xuân xanh đang tràn đầy sức sống của tuổi thanh
xuân, tuổi biết yêu thương lấy một người nào đó. Vậy mà Kiều lại nói là tuổi xuân của
Thúy Vân còn dài trong khi mình thì nào khác đâu. Nói như thế để cho thấy Kiều
như đã xác định được con đường nàng sắp phải đặt chân đến, không yên bình như
những ngày tháng trước đây nữa sóng gió thể mang đi bất cứ lúc nào. Kiều
mong vân xót tình chị em máu mủ ruột già mà hãy chấp nhận lời thay chi làm trọn lời
hẹn thề với chàng Kim. Nếu được như thế thì ngay cả khi những sóng gió kia bủa vây
lấy nàng cướp nàng đi khỏi thế gian này. Mặc cho sang thế giới bên kia không còn
nguyên vẹn thì Kiều cũng cảm thấy thơm lây cái sự hi sinh của em gái cho mình. Khi
đã trao duyên xong nàng như cảm thấy được những tâm trạng đang bủa vây đến nàng.
Nàng đã hoàn thành xong cái đền đáp ơn nghĩa với Kim Trọng nhưng lòng lại thấy
buồn vừa trao đi, mất đi một tình yêu đầu êm đềm dịu ngọt. Hơn nữa tình yêu ấy
mới bắt đầu:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Chiếc vành với tờ mây kia chính những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng
nhau thề nguyền sống chết, họ đã với nhau những ngày tháng hạnh phúc những
niềm vui tràn ngập vậy giờ đây cái hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu hi
sinh chữ tình. Nàng chỉ mong mai này khi chàng Kim và em của nàng thành duyên
vợ chồng rồi thì mong họ y nhớ đến nàng. Những kỉ vật tình yêu của nàng với
chàng Kim chỉ mong tham lam giữ thành của chung của ba người. Dẫu đã trao cho
Thúy Vân những kỉ vật ấy nhưng nàng vẫn luyến tiếc mong rằng sẽ của
chung. Nguyễn Du không đặt những kỉ vật ấy vào trong cùng một câu thơ lại chia
ra thành mấy câu thơ.
lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng Kiều khi
phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng như cố
níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho Vân
những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào đền đáp tấm ân tình của chàng
Kim trọng được. Có thể nói qua những câu thơ trên tâm trạng của thúy Kiều được hiện
thật sự rất nét. Đó chính tâm trạng mong muốn trở lại những ngày tháng trước
đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy. Kiều đau đớn như nghĩ đến cái
chết, lẽ nàng tưởng tượng ra cảnh mai này Kim vân sống hạnh phúc nàng
phải chứng kiến cảnh yêu thương của họ thì nàng sống không bằng chết. Hay từ khi
xác định bán thân nàng đã quyết định chọn cái chết để kết thúc cuộc đời này. Tuy vậy
nàng vẫn mong rằng:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan”
Sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật
sự đau oan khuất cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau nếu
thấy hiu hiu gió thì thể cảm nhận nàng đang về. Cơn gió kia thể hiện sự vương
vấn cõi trần này của nàng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều nát thân liễu
yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong kim
Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan Thúy Kiều. thể nói cuộc sống
của con người ai chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự
cảm thấy rất đau khổ không thể nào thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ
đến. kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con đường mà nàng sắp
đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.
Như vậy qua đây ta thấy được những tâm của nàng Thúy kiều. Tình đầu thứ tình
cảm thiêng liêng đẹp đẽ nhất, duyên phận vốn trớ trêu với con người. Chính vì thế chữ
tình kia không trọn cho phận đào. không muốn chàng Kim đợi chờ mình
mong rằng Thúy Vân em sẽ giúp cho anh một cuộc sống hạnh phúc. Dẫu biết
vậy nhưng nàng không khỏi đau khổ khi trao duyên.
Bài văn mẫu 15
Tên thực của Truyện Kiều Đoạn trường tân thanh, nghĩa tiếng kêu đứt ruột.
Thực ra trong đó vàn tiếng kêu thương. Trao duyên lẽ tiếng kêu đứt
ruột đầu tiên khởi đầu một chuỗi dài đau thương chất chồng lên cuộc đời truân chuyên
của một người con gái tài sắc. Thuý Kiều đứt ruột trao duyên. Và Nguyễn Du cũng đã
viết nên cảnh Trao duyên bằng những lời thơ tan nát can tràng.
Nỗi oan khiến bỗng đâu ập xuống gia đình, giáng hoạ lên đầu mọi người, không trừ
một ai. Nhưng dường như Kiều muốn một mình, hứng chịu tất cả. Tự nguyện bán
mình chuộc cha, đêm trước nàng đã trải qua một cuộc giằng xé âm thầm giữa một bên
là mối tình đầu biết bao hứa hẹn và một bên là bổn phận làm con đối với ơn sinh thành.
Cuối cùng nàng đã nghĩ những dằn vặt day dứt đã hết sau khi đã quyết chọn một con
đường. Nào ngờ, đó mới chỉ khởi đầu, dạo đầu. Hôm-trước, chữ Tình chữ
Hiếu, nó có phần chóng vánh. Còn hôm nay, là giằng xé giữa chữ Tình và chữ Duyên,
nó mới thực sự bi kịch, vĩnh viễn đau thương.
Nỗi đau đớn đứt ruột trong tâm trạng Kiều hôm nay sự tiếp tục của đêm trước. Bởi,
đã xác định vì chữ Hiếu thì còn phải làm hốt phần việc còn lại là trao duyên cho người
khác. Hôm qua sự chọn lựa trong nhận thức, hôm nay mới chính thức mất mát
trong tình cảm. Giá Kiều không phải người tận tình, tận m; giá nàng hời hợt đơn
giản hơn một chút thôi, chắc nàng không lâm vào bi kịch, không rơi vào đau đớn đến
thế. Đằng này Duyên thì. đã trao mà Tình càng thêm nặng.
Thậm chí, chính lúc mất Kim Trọng này lại thấy yêu, thấy gắn với chàng Kim hơn
bao giờ hết. thế, mỗi lời nàng nói, mỗi việc nàng làm trong cái lúc trao duyên này
đều như đứt từng khúc ruột. Chẳng biết Nguyễn Du đã hoá thành người trong cuộc sâu
sắc như thế nào mà thể thấu, được mọi lẽ nhường ấy. Thi hào môi thấy tường tận
Tình Hiếu chỉ đầu mối, cái phần bên trên, còn bề sâu, cái phần nhức buốt
nhất chính Tình Duyên. Cảnh Trao duyên, giằng xét của bi kịch ấy.Đọc trích
đoạn Trao duyên, ta đều dễ dàng nhận thấy tự nó hình thành ba phần.
Phần đầu, gồm 12 câu: Thuý Kiều lựa lời thuyết phục Thuý Vân thay mình nối duyên
với Kim Trọng; phần tiếp theo gồm 14 câu: Kiều trao kỉ vật lại cho Vân. Phần cuối,
gồm 8 câu: Kiều tạ từ với Kim Trọng - con người tuy không hiện diện nhưng luôn
sống trong tình yêu nỗi đau của Kiều. Ban đầu, nàng Kiều còn bình tĩnh, càng về
cuối càng tâm lí, càng về cuối càng chìm vào nỗi đau đớn tột bậc để rồi cuộc trao
duyên từ biệt cứ muốn biến thành cuộc tử biệt sinh li.Trao duyên được mđầu bằng
hai câu thơ mà khi nói về vẻ đẹp của ngôn ngữ.
Truyện Kiều ít ai không nói đến. giản đơn như những lời nói thông thường
chân xác như mọi câu thơ hàm súc nhất.
Cậy em em có chịu lời.
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Đúng trọng lượng của câu thơ rơi vào bốn chữ “cậy”, “chịu”, “lạy” “thưa”; Người
ta không thể thay các chữ kia bằng bất cứ chữ nào khác. Tôi muốn nói thêm rằng: 4
chữ ấy mang đậm cái bi kịch của nàng Kiều. Với bốn chữ kia, vị thế của hai chị em
Thuý Kiều đã thay đổi, đảo lộn. vẫn xưng chị em, thực tình trong đó quan
hệ giữa một ân nhân một kẻ chịu ơn. Bốn chữ ấy đều lời của kẻ dưới đang nói
khó với người trên. Chị thành kẻ lép vế phải cậy cục lụy phiền, em thành người ban
ơn.
Để báo đáp ân tình trong muôn một cho chàng Kim, Kiều đã phải nhún mình hạ mình,
đến thế! Nhưng, trong cái cử chỉ tội nghiệp kia, ta thấy tất cả sự cao khiết của một tấm
lòng, một phẩm cách. Rồi nàng kể, nàng giãi bày thật nhanh, thật ràng ngành ngọn
cho Vân hiểu sao mình phải lựa chọn cách này. Trong lời lẽ phần khôn ngoan
của Thuý Kiều cứ thấy lộ ra cái vẻ lo âu. Dường như Kiều phải gắng thuyết phục hết
lời, tận tình để cho em mình không thể thoái thác. Nàng đã viện đến cả cái chết
để lời cậy nhờ nặng như lời uỷ thác:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Nhưng ngẫm xem, Kiều đâu phải dùng cái chết như, một nghệ thuật thuyết phục!
Trong suốt đoạn trao duyên này cả trước đó nữa, nàng luôn nghĩ đến cái chết như
một kết cục u ám. Trong hoàn cảnh này, đời đã đến thế này, còn gì để tha thiết nữa
đâu, nghĩa hết cả rồi, người ta đâu còn muốn sống nữa! Càng yêu đời lại càng
không muốn sống.Đoạn Trao duyên phải là một cuộc chuyện trò, nhưng rồi lại diễn ra
như một màn độc thoại. Thuý Vân hầu như không lên tiếng. Nàng im lặng chịu lời. Và
thế Kiều phải làm nốt cái phần việc cuối cùng khó khăn nhất: trao lại kỉ vật cho
Vân. Hôm qua nghĩ đến việc hi sinh mối tình, Kiều đã nghĩ đến việc mất Kim Trọng.
vừa rồi trong lúc lựa lời thuyết phục em gái, cảm giác mất mát ấy đến gần hơn.
Nhưng lẽ phải lúc này đây mới thực sự choáng ngợp tâm hồn nàng. Còn giữ kỉ
vật, ít nhiều người ta vẫn cái ảo giác người yêu vẫn còn của mình, vẫn trong
mình. Chỉ đến khi tự tay cầm kỉ vật trao đi, người ta mới thật rơi vào hẫng hụt. Bắt
đầu từ giây phút này đây, cùng với kỉ vật này đây, chàng Kim sẽ vĩnh viễn thuộc về
người khác!. Câu thơ như một nỗi nghẹn ngào:
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Quả là, hai chữ “của chung” chất chứa bao đau xót. Kỉ vật tình yêu chỉ thiêng liêng
khi nó là tín vật, là nhân chứng thầm kín của riêng hai người thôi, Còn bây giờ, từ bây
giờ, nó đã thành của “chung”! Nhưng câu thơ còn giấu trong nhịp điệu của nó một nỗi
đau sâu kín của nàng Kiều. Hai chữ “này” như dằn lòng, như day dở. trí đã quyết
định trao duyên, trao kỉ vật. Song tình cảm vẫn cố trì hoãn, níu giữ. thế cái
động thái trao kia cứ dùng dằng. Kỉ vật a khỏi tay người như cũng vật không yên.
Cố dằn lòng không thể cầm lòng! Người giản đơn thể nghĩ con người trung đại
không phức tạp đến thế. Nhưng cho dù thời nào thì bản chất tình yêu vẫn không thể
chia sẻ! Trái tim yêu thời nào lẽ cũng đau như vậy thôi. Trao kỉ vật cho Thuý Vân
và dặn dò em, nhưng có lẽ qua Thuý Vân, Kiều muốn dặn dò Kim Trọng.
Lời nàng lâm li, tức tưởi. Nỗi đau trong lòng cứ quặn lên mãi. Kiều nhìn khắp lượt
những đồ vật thân yêu, những chứng nhân lặng lẽ. trong những giây phút nồng nàn
hạnh phúc của mình với Kim Trọng: “Chiếc thoa với bức tờ mây”, “phím đàn với
mảnh hương nguyền”, “Lò hương ấy, phím này” v.v... hình dung, chỉ ngày mai
thôi , chúng sẽ lại chứng kiến những phút giây nồng nàn như thế của Kim Trọng với
một người khác, cho người ấy em gái mình đi chăng nữa... cũng không thể
chịu nổi. Nguyễn Du lẽ đã hiểu thấu những tâm khuất lấp mà chân thực cùng
ấy, cho nên đã viết những câu thật lắng đọng:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Có lẽ nhà thơ Cao đã lý khi cho rằng cái câu “Mai sau...” nghệ thuật không đau
lại chính câu thơ khó viết. Đã đành Kiều đang hình dung về mai sau, một cái
mai sau rồi sẽ đến. Nhưng sao lại hai cái tiếng “dù có” như một giả định về một
việc khi xảy ra như vậy? Hai chữ “dù có” như bỗng nhói lên trong cái âm điệu xuôi
chiều của câu thơ. cho thấy lòng nàng không dễ nguôi yên, nàng không muốn
cái cảnh “bao giờ” trớ trêu ấy xảy ra. Tấm tình ấy đâu đã chịu tắt lửa lòng! Kiều hình
dung mình sẽ chết quá tội quá! (chứ không còn chung chung “ngậm cười chín
suối” như ở phần trên!) Mối tình sâu nặng với Kim Trọng nàng vẫn cứ mang theo như
khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
sự thiết tha ấy oan hồn của nàng còn trở về dương thế! Thậm chí nàng còn hình
dung mồn một mình sẽ về trong gió trong cây cỏ thế nào. Hai chữ “hiu hiu” nghe
gai người. Người ta như thấy trong đó cả sự hiển linh. Hai tiếng “hiu hiu” chấp
chới giữa hai thế giới thực tại vô, chập chờn giữa hai cõi thế: cối âm cõi
dương! Kiều hi sinh tất cả, cho tất cả. Về dương thế, nàng chỉ xin cho mình một
chén nước thôi. Một chút nhớ thương của người sống? Một chút tình cũ? Hay một
chút duyên thừa? Chỉ một chén nước thôi, một chút thế thôi nàng đã thấy được an
ủi, cảm thông nhiều lắm:
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan,
Kiều hình dung mình chết. Kiều còn thấy mình “thác oan”! Hai chữ “thác
oan” có biết bao tình là hận!Những việc cần làm thì đã làm rồi. Sợi dây níu buộc đã
cắt lìa rồi. Nhìn vào lòng mình, đời mình, bây giờ Kiều mới thấy mất mát để lại
trong lòng cả một nỗi trống hoang, hụt hẫng. Nàng quên đi em Vân trước mặt, quay
vào với nỗi đau trong lòng. Giờ đây với nàng, chỉ còn nỗi đau kia là hiện hữu, nỗi đau
đang choán ngập cả lòng nàng. Quên mất thực tại để chỉ chìm sâu vào trong lòng, đấy
lúc bi kịch đang dâng lên trầm trọng. Kiều như phân trần, thanh minh, tạ lỗi với
chàng Kim. Mong muốn ở chàng một sự cảm thông, thấu hiểu:
Bây giờ trâm gãy, bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
Nghĩ về quá khứ muôn vàn ái ân đau. Nghĩ đến “bây giờ” một thực tại quá phũ
phàng trâm gãy bình tan đau. Nghĩ đến “mai sau... dạ đài khuất mặt khuất lời”
càng bội phần đau đớn. Tâm Kiều bị vây khốn, bị dìm ngập giữa bao đau thương,.
Muôn vàn ái ân đã hoá thành muôn vàn đớn đau! Ngán ngẩm cho số kiếp đen bạc của
mình, nàng cất lên cái tiếng than thân. thăm thẳm của người đàn bà. Nàng sa vào mặc
cảm phũ phàng. Mở đầu thì lạy em gái, bây giờ thì phải lạy cả người yêu. Nàng cứ
thấy mình là kẻ bội tình và những mong được lượng thứ:
Trăm nghĩa gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã dành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ta như nghe trong đó tiếng vọng của những câu thơ mà Nguyễn Du đã bao lần kêu lên
đây thống khổ cho những thân phận đàn tài sắc:- Đau đớn thay phận đàn - Chém
cha cái số hoa đào. cuối cùng như lên, câu thơ không nói đến nước mắt,
nhưng chúng ta biết lời Kiều đang vỡ ra trong nước mắt, nức nở cay cực:
Ôi Kim Lang! hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Vậy đấy, lời trao duyên đứt ruột đã hoá thành lời trăng trối! Hình như cái tố chất đặc
thù của người nghệ chính sự cảm thông. Khả năng cảm thông sâu sắc khiến cho
người nghệ đã hóa thân thành người trong cuộc, nhập thân thành người trong cuộc
đến từng thoáng rợn hồ nhất của xúc cảm để nói lên những tiếng nói sâu xa kín
khuất nhất của cõi lòng. Nguyễn Du đã làm được điều đó. Nguyễn Du đã hoá thành
Thuý Kiều. Đến nỗi Thuý Kiều trao duyên ngỡ như chính Nguyễn Du đang đứt
ruột trao duyên.
Bài văn mẫu 16
thể nói Nguyễn Du bậc thầy trong nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm nhân vật.
Tài năng ấy của ông được thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm "Truyện Kiều", tiêu
biểu nhất đoạn trích "Trao duyên". Đoạn trích này đã thể hiện những tâm trạng,
cung bậc cảm xúc của Thúy Kiều khi cậy nhờ Thúy Vân "chắp mối thừa" với Kim
Trọng.
Tình yêu của Thúy Kiều Kim Trọng đang giai đoạn đẹp nhất thì bỗng phải chia
lìa Kiều n mình cứu cha em. Hai người đã một cuộc thề nguyền đầy thiêng
liêng lãng mạn nhưng trong hoàn cảnh gia đình gặp gia biến, phận làm con Kiều
lựa chọn chữ hiếu để báo đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Không thể
tiếp tục mối duyên với chàng Kim "phong tài mạo tót vời", nàng cùng đau
đớn. cuối cùng nàng đã quyết định trao duyên lại cho người em gái để giúp
mình trả tình nghĩa với Kim Trọng:
"Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em".
Những câu thơ trên đã giúp bạn đọc thấy được Thúy Kiều trân trọng mối tình ấy như
thế nào. Nàng không dùng các từ như "nhem", "xin em", "mong em",...mà lại dùng
từ "cậy em" cùng các hành động trang trọng như "lạy", "thưa" thhiện mong muốn
cậy nhờ Thúy Vân giúp đỡ. Thúy Vân quyền đồng ý hoặc từ chối lời thỉnh cầu của
người chị gái nhưng trước những lời lẽ thuyết phục như van nài thì Thúy Vân chỉ
thể "chịu lời".
Thúy Kiều vai bề trên nhưng lại có những lời nói hành động của một người chịu
ơn bởi đối với nàng, Thúy Vân chính người làm ơn. Chính Thúy Vân sẽ giúp nàng
giữ trọn lời thề trăm năm bên nhau với chàng Kim cũng chỉ duy nhất mới
giúp đỡ được Thúy Kiều. Thúy Kiều để mặc cho người em gái đưa ra quyết định
nhưng thực tâm nàng tha thiết Vân sẽ nhận lời. Hiểu được nỗi lòng khó xử của Thúy
Vân khi phải "chắp mối thừa", Thúy Kiều đã bày tỏ hết nỗi lòng của mình về mối
tình "giữa đường đứt gánh":
"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề"
Thúy Kiều cũng bồi hồi, xúc động khi nhớ về những kỉ niệm với người yêu kể
những điều ấy cho em gái nghe. Mối tình Kim - Kiều một mối tình say đắm, lãng
mạn. Họ đã ước hẹn chuyện trăm năm gắn kết, thề nguyền thủy chung. Chiếc quạt họ
dành tặng cho nhau chén rượu họ cùng nhau uống đã thể hiện điều ấy. Nếu thằng
bán không vu oan cho gia đình Kiều, tai ương không xảy đến thì lẽ Thúy Kiều
và Kim Trọng sẽ đôi lứa xứng đôi vô cùng hạnh phúc.
Nàng trao lại mối tình duyên cho Thúy Vân trong lòng ngổn ngang những tâm
trạng, cảm xúc. Trao lại thứ đó thuộc về vật chất thì còn dễ hình dung, đong đếm
nhưng Thúy Kiều lại trao duyên, mấy ai định hình được thứ tình cảm này? Thúy
Kiều mong em sẽ thông cảm cho mình nhận lời bởi "ngày xuân em hãy còn dài",
hơn nữa mối quan hệ giữa hai người mối quan hệ ruột thịt, cùng chung huyết thông
nên Thúy Vân sẽ nể tình mà giúp đỡ. Nếu được như vậy thì cho dù Thúy Kiều có "thịt
nát xương mòn" cũng thỏa lòng vui vẻ. Những kỉ vật của tình yêu như chiếc vòng đeo
tay tờ giấy ghi lời thề nguyền của hai người Thúy Kiều đều đem trao lại để Thúy
Vân giữ:
"Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung"
Từ giờ phút này trở đi, đó những kỉ vật thuộc quyền sở hữu của cả ba người: Thúy
Kiều - Kim Trọng - Thúy Vân. Trao lại những kỉ vật tình yêu người mình yêu cho
người khác có mấy ai không cảm thấy buồn bã, đau xót? Cái duyên của mình với Kim
Trọng Thúy Kiều xin được giữ lại tình cảm nàng dành cho chàng Kim rất sâu đậm.
Tuy phần ích kỉ nhưng hành động của nàng nhận được sự đồng cảm nơi bạn đọc.
Họ đã thề nguyền, đính ước nhưng Thúy Kiều bán mình cứu cha em nên trở
thành kẻ thất hứa. Những ức đẹp đẽ về cuộc thề nguyền thiêng liêng những giây
phút hạnh phúc Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe sẽ không còn nữa.
Nàng vui mừng khi Kim Trọng Thúy Vân "nên vợ nên chồng" nhưng nàng cũng
đau khổ vì người ở bên cạnh chàng Kim lại không phải là mình. Nàng đau đớn đến tột
cùng khi tự nhận mình là "người mệnh bạc" và nghĩ mình như một người đã chết:
"Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai;
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan."
Cho Thúy Kiều "thịt nát xương mòn" thì cũng mong rằng Thúy Vân Kim
Trọng không quên mình. Nàng còn chỉ cho Thúy Vân biết dấu hiệu để nhận ra khi
mình trở về: "Thấy hiu hiu gió thì hay chị về". Một con người nặng tình nặng nghĩa
như Thúy Kiều không thể lãng quên lời thề của mình với chàng Kim nhanh như vậy
được. Ngay cả khi một linh hồn chốn cửu tuyền thì nàng vẫn "mang nặng lời thề".
Đó lời thề thủy chung son sắt trọn đời bên nhau cùng Kim Trọng. Lời thề thủy
chung ấy nàng sẽ khắc cốt ghi tâm cả cuộc đời không quên.
Thế giới cõi âm thế giới trần gian "cách mặt khuất lời" nên Thúy Kiều chỉ xin
Thúy Vân "rưới xin giọt nước" cho linh hồn oan khuất của mình. Thúy Kiều đang còn
sống tâm trí thì nghĩ về cái chết - cái chết oan khuất của một con người mệnh bạc.
Nàng Kim Trọng đã với nhau "muôn vàn ái ân". Họ đã với nhau những kỉ
niệm đẹp, những giây phút mặn nồng của tình yêu đôi lứa. "Bây giờ trâm gãy gương
tan", tình yêu của hai người không thể được kết thúc tốt đẹp nên Thúy Kiều
cùng chua xót. Nàng cất tiếng than trách số phận:
"Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
duyên giữa hai người chỉ ngắn ngủi ngần ấy, Thúy Kiều mong chàng Kim hãy
hiểu cho hoàn cảnh của bản thân mình. Thuý Kiều thương xót cho cuộc đời mình,
thương xót cho những đã với người yêu đẹp đẽ thế giờ đây trách mình
phận "bạc như vôi", "nước chảy hoa trôi" không đền đáp được khối ân tình của chàng.
Nàng gọi Kim Trọng tình quân - một cách gọi gần gũi, thân thuộc chứa đựng bao
tình cảm, ân nghĩa. Thúy Kiều đang đối thoại với Thúy Vân bỗng chuyển sang độc
thoại và nói những lời tha thiết gửi tới Kim Trọng:
"Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây".
Nàng gọi Kim Trọng "Kim lang" xưng "chàng" - "thiếp" đong đầy tình cảm
đôi lứa. Trong thâm tâm, Kiều đã coi Kim Trọng như người chồng, người phu quân
của mình. Nàng gửi chàng Kim "trăm nghìn" cái lạy tạ lỗi. Nàng luôn sống trong tâm
trạng dằn vặt vì cho rằng chính mình đã phụ tấm lòng của Kim Trọng. Lời thú nhận ấy
thật day dứt làm sao! Nàng đau đáu mặc cảm lỗi với chàng Kim mình kẻ ph
bạc.
Xuyên suốt đoạn trích "Trao duyên" những nỗi niềm giằng trong nội tâm của
nhân vật Thúy Kiều. Nỗi đau phải trao lại mối duyên tình của mình khiến nàng như
"đứt từng khúc ruột". Nguyễn Du quả một nhà thơ tài tình trong nghệ thuật khắc
họa tâm nhân vật. Đó do sao bạn đọc trong nước thế giới luôn nhớ tới
"Truyện Kiều".
Bài văn mẫu 17
Truyện Kiều một kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho nền văn
học Việt Nam. Tác phẩm mang nhiều giá trị nhân đạo khiến độc giả phải suy ngẫm.
Một trong những đoạn trích nổi bật lột tả nét nội tâm nhân vật Thúy Kiều chính
đoạn trích “Trao duyên.”
Khi gia đình gặp nạn, để giải cứu cho cha và em trai, Thúy Kiều buộc phải trao lại mối
duyên của mình cho Thúy Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
............
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Thúy Kiều chị, tuy nhiên khi nhờ vả, muốn nói chuyện với em mình, nàng dùng sự
kính trọng, nhã nhặn đối với em.
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
“Cậy, lạy, thưa” những từ người vai dưới nói chuyện với người vai trên.
Những từ ngữ này thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của Kiều dành cho người em gái
mình nhờ vả. mình vai trên nhưng Kiều không dùng sự ra lệnh đối với em. Tuy
trong lòng nhiều suy nghĩ, trăn trở nhưng vẫn bình tĩnh xử lí, sắp xếp, thu vén
chuyện của mình.
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?"
Kiều trình bày với em về hoàn cảnh của mình, về mối tình dang dở của mình với
chàng Kim mong em hãy thấu hiểu cho nỗi khổ của mình mà chấp nhận mối
thừa của chị. Hai người đã có những hẹn thề gắn bó dài lâu nhưng nay Kiều không giữ
lời hứa đó. Bởi lẽ, nàng không thể hoàn thành cả “chữ hiếu” lẫn “chữ tình”; nên “chữ
tình” này, xin gửi lại để Vân thay chị thực hiện. Từng lời nói của Kiều nỗi đau khổ,
day dứt mà nàng đang phải trải qua. Nào ai muốn nhìn thấy cha em trai bị oan
trong tù? Nào ai muốn rời bỏ người mình yêu thương khi tình cảm rất mặn nồng? Ta
càng thêm thương xót cho nàng Kiều bạc mệnh.
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vân còn trẻ, đang trong độ tuổi xuân thì, chàng Kim lại tài tử hiếm có, nếu Vân
thay Kiều đến với Kim Trọng thì ng Kiều sẽ yên tâm mà ra đi sao đi chăng
nữa Vân với Kiều cũng cùng chung giọt máu. Để cảm kích sự đồng ý của Vân, dù cho
Kiều ‘thịt nát xương mòn” nơi đất khách quê người nàng cũng yên tâm mà ra đi,
không còn suy tư trăn trở.
Đoạn thơ gây ám ảnh người đọc bởi làm hiện ra trước mắt chúng ta một bức tranh
như thực về nàng Kiều trọng tình, trọng nghĩa, ta phần nào hiểu thêm, đồng cảm,
thương xót cho số phận một cô gái “hồng nhan bạc mệnh.”
Những câu thơ tiếp theo lời dặn của Kiều với Vân sau khi trao em mối duyên
của mình:
"Chiếc thoa với bức tờ mây
..........
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!"
Sau khi Vân đồng ý nhận mối duyên của mình, Kiều mang trao lại em những kỉ vật
của mình với chàng Kim. Kiểu sẽ thực sự ghi nhớ ơn nghĩa nếu Vân Kim Trọng
nên duyên vợ chồng. Thật đau đớn xót xa khi người mình yêu nên duyên cùng
chính em gái mình, ấy thế mà, với Kiều, đấy lại một ơn nghĩa Vân làm cho
khiến cô ghi nhớ mãi.
Tuy rằng, Kiều sẽ phải ra đi, nhưng còn sống hay khi không còn trên đời nữa,
vẫn luôn hướng về nhà, về nơi cha mẹ, các em chàng Kim. Người con gái
ấy đã nghĩ đến trường hợp xấu nhất khi chỉ còn là “linh hồn mang nặng lời thề” trở
về nhà, dặn Vân hãy rảy xin cho chén nước để linh hồn được siêu thoát. Đến
đây, nỗi xót xa của nàng Kiều dường như bị đẩy lên một cao trào mới. Những suy
ngổn ngang đè nặng lên vai một gái vốn cuộc sống thanh bình. Duyên gãy, phải
đi xa gia đình, bán thân thành một người rẻ mạt làm Kiều không tránh nỗi chua xót.
“Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Câu nói thốt lên trong sự cay đắng, nghiệt ngã của số phận. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp
giữa hai người giờ đây chỉ còn ức. Từng kỉ niệm ấy Kiều sẽ mãi lưu giữ bên
mình. Đó cũng sự hụt hẫng, tiếc nuối về một thời yêu nhau say đắm của hai người.
Đến đây, người đọc không khỏi tiếc nuối: tiếc nuối cho số phận của Kiều, tiếc nuối
cho mối duyên của hai người cũng như tiếc nuối về kỉ niệm họ đã từng với
nhau.
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Những việc Kiều làm khiến người khác phải thương xót. Tuy nhiên, với nàng, đó lại
những lỗi lầm nàng gây ra cho người nàng thương u. Nàng gửi đến chàng Kim
trăm nghìn cái lạy để mong chàng tha thứ mình đã không giữ đúng lời hứa cùng
chàng nên duyên vợ chồng. duyên của hai người lẽ chỉ đến được đây thôi, từ
nay Vân sẽ thay Kiều yêu thương, chăm sóc cho chàng. “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim
Lang!” câu nói Kiều thốt ra như một lời xin lỗi, tiễn biệt mà nàng gửi đến Kim Trọng.
Từ nay, Kiều phải đi về nơi khác, phải phụ tình cảm mà Kim dành cho mình từ đây.
thể Kim Trọng sẽ thất vọng, sẽ đau khổ khi nàng ra đi nhưng nàng không thể làm
khác được.
Từng câu thơ sự đau khổ, bất hạnh của nàng Kiều, nhưng chính những điều này
khiến ta nể phục, yêu thương cô Kiều vì cô không chỉ là người sống tình nghĩa mà còn
người suy nghĩ sâu sắc, luôn quan tâm, lo lắng cho người khác trước khi lo cho
bản thân mình.
Điểm nổi bật làm nên thành công vang dội của tác phẩm đó chính thể thơ lục bát
dân gian của dân tộc. Đoạn trích sử dụng những câu cảm thán đã khắc họa thành công
tâm trạng, nỗi lòng của Thúy Kiều khi trao mối duyên của mình cho Thúy Vân.
Đoạn trích nói riêng tác phẩm nói chung đã góp một phần không nhỏ vào việc làm
đa dạng nền văn hóa dân tộc. Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn trích “Trao duyên”
cùng tác phẩm Truyện Kiều vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của để lại nhiều ấn
tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Bài văn mẫu 18
Nguyễn Du là nhà văn tài năng với lối phổ thơ sử dụng ngôn từ tinh tế, đặc sắc gây ấn
tượng sâu sắc cho người đọc. Nổi bật nhất trong các tác phẩm để đời của ông cho đến
ngày nay không thể không nhắc đến tác phẩm Truyện Kiều với câu chuyện dài về
cuộc đời thâm trầm, đầy đau khổ của Thúy Kiều được phổ thành thể thơ lục bát. Nàng
không chỉ số phận nghiệt ngã, tủi nhục đau đớn hơn mối tình dang dở với
Kim Trọng được tác giả khắc họa rõ nét qua đoạn trích Trao duyên.
Thúy Kiều vốn từ trước đã một mối tình đầu quá đỗi trong sáng hạnh phúc với
chàng thư sinh Kim Trọng phong thái nho nhã, cốt cách thanh cao. Hai người đã âm
thầm trao lời hẹn ước cùng kỷ vật định tình với lời thnguyện mãi chung thủy với
nhau.
Thế nhưng biến cố gia đình nàng đành “lỗi hẹn trăm năm” với Kim Trọng, để
rồi phải chấp nhận cay đắng cùng lời khẩn thiết trao duyên lại cho em gái Thúy Vân:
Cậy em, em có chịu lời,
............
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Thúy Kiều vốn vai chị nhưng nàng lại mở lời nhờ cậy em gái Thúy Vân với lời lẽ
khác thường bằng những từ ngữ kính cẩn “cậy”, “chịu lời”, “lạy rồi sẽ thưa”. Đó như
lời như vừa nhờ vả, vừa van nài của Kiều nàng khẩn cầu vì không muốn Thúy Vân
từ chối.
Kiều phân trần với Thúy Vân về mối tình sâu đậm “ngày quạt ước”,”đêm chén thề”
nhưng dang dở, “đứt gánh tương tư” giữa nàng và chàng Kim bằng những t
Bởi “sóng gió bất kỳ” của gia đình đã khiến nàng không thể tiếp tục chấp nối mối tình
xưa với Kim Trọng. Thế nhưng, nàng vẫn luôn nghĩ đến tình thâm ruột thịt, Xót tình
máu mủ, thay lời nước non”. Thế nên nàng mới đau đớn quyết định trao duyên cho em
gái và đã có dự định trước cho cái chết của chính mình.
Do đó, Thúy Kiều đành toàn vẹn đôi đường để em gái người mình yêu được hạnh
phúc. Có như vậy, Kiều dù “dù thịt nát xương mòn” thì nàng vẫn cảm thấy được an ủi
và có thể “Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.
Từng câu thơ khẩn cầu trao duyên của Kiều tuy chỉ được Nguyễn Du đặc tả bằng
những câu thơ lục bát. Thế nhưng lại khiến người nghe đau xót thấu tận tâm can
cho tình cảnh của Kiều.
thể thấy, nàng đã mâu thuẫn, day dứt đau đớn như thế nào khi quyết định
nhường lại mối duyên tình sâu đậm, đẹp đẽ của mình cho em gái. Nàng trao lại kỷ vật
định tình “Chiếc thoa với bức tờ mây” nhưng vẫn “nửa giữ-nửa níu” với câu nói
“Duyên này thì giữ, vật này của chung”, cho thấy Kiều tuy trao duyên cho em nhưng
lòng đau như cắt, không nđành đoạn chấm dứt mối tình khắc cốt ghi tâm với Kim
Trọng, nàng muốn trao duyên nhưng lại không muốn trao tình.
Trong lòng nàng lúc này là bao nhiêu ngổn ngang, mâu thuẫn, nửa muốn làm “nhưng”
cũng nửa không đành. Bởi đâu người con gái nào muốn trao hạnh phúc riêng mình
cho người khác, cho đó là em gái ruột thịt, đâu ai muốn người mình yêu lại kề cận,
yêu thương người con gái khác. Vậy mà, Kiều đành phải chữ “Hiếu” “đứt từng
đoạn ruột” nhường lại tình yêu cho Thúy Vân.
Suy cho cùng, đó cũng giải pháp tốt nhất Kiều thể làm được khi dự đoán
trước rằng mình sẽ chết. Nếu như Kiều đã không thể một tình yêu trọn vẹn với
chàng trai tốt như Kim Trọng, thì hãy để cho gái được thừa hưởng tình yêu hạnh
phúc ấy.
Như vậy “nơi chính suối” ân tình của Kiều vẫn được ghi nhớ, vẫn được những
người còn sống “Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”, nàng cũng cảm thấy vui
lây cho em gái và người yêu.
Thúy Kiều một mặt trao duyên cho Thúy Vân, mặt khác nàng đã dự đoán được thần
chết sắp sửa đưa nàng đi. Thế nên, Kiều vừa khẩn cầu đtrao duyên cho em, nhưng
cũng vừa trăn trối trước cho số phận đoản mệnh của mình:
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Từng câu thơ được Nguyễn Du đặc tả về việc Kiều dự đoán trước cái chết của mình
nghe sao thê lương và bi thảm quá! Nàng tự nhận mình là “người thác oan”
Thật vậy bởi một người con gái “liễu yếu đào tơ”, “công dung ngôn hạnh”, hiền đức
như Kiều, lại có thêm mối tình sâu sắc cùng Kim Trọng như chưa hạnh phúc được bao
lâu lại phải chữ “Hiếu“trâm gãy bình tan”, tấm thân trong trắng bị “thói quan
quyền, phường danh lợi” chà đạp không thương tiếc.
Nàng xót thương cho mình “Nát thân bồ liễu”, nên mới quyết trao duyên em để thay
tình chị “đền nghì trúc mai” trả nghĩa ân tình, nợ ái ân cho Kim Trọng. Để sau này khi
nàng chết đi, “Dạ đài cách mặt, khuất lời” không thể kề bên, không thể tiếp nối duyên
tình với chàng được nữa.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Sau khi Kiều trao tín vật định tình gửi gắm duyên tình cho Thúy Vân thì nàng lại
chuyển từ động thái nói với em gái sang độc thoại nội tâm với chính mình. thể
thấy, nàng đã đau khổ tột cùng đến mức không thể nói nên lời nữa.
Những dày trong tâm can nàng lúc này chính sự chấp nhận, nàng chỉ còn thể
“đành” để “nước chảy hoa trôi lỡ làng”, xót thương cho bản thân mình cùng sự nhung
nhớ người thương da diết với lời tự trách “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!/ Thôi thôi
thiếp đã phụ chàng từ đây!”.
Bằng những từ ngữ tinh tế nhưng sức tạo hình mạnh mẽ, Nguyễn Du đã khiến
người đọc dường như đồng cảm không thể không xót xa cho hoàn cảnh éo le đẫm
nước mắt cho cuộc đời nàng Kiều đáng thương. thể thấy, đoạn trích Trao duyên đã
lột tả được “cơn sóng dữ dội” trong tâm can Thúy Kiều khi quyết “nhường” thâm tình
sâu đậm cho em gái.
| 1/82

Preview text:


Dàn ý tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên Dàn ý số 1 a) Mở bài
- Giới thiệu sơ lược về tác giả, đoạn trích
● Nguyễn Du là một ngôi sao sáng trên nền trời thơ ca Việt Nam, ông còn là bậc thầy
trong cả việc miêu tả nội tâm nhân vật.
● Đoạn trích Trao duyên là một trong những đoạn thơ có ý nghĩa vô cùng đặc biệt
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
- Khái quát tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích: Đoạn trích là tiếng lòng đau xót và
tê tái, tâm trạng giằng xé đầy đau khổ của Thúy Kiều khi phải chia lìa hạnh phúc của mình. b) Thân bài
* Luận điểm 1: Tâm trạng Kiều khi mở lời trao duyên
"Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa ....
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
- Kiều nhờ cậy Vân, lời nhờ cậy có sắc thái khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa).
-> Lời xưng hô của Kiều vừa như trông cậy, vừa như nài ép, phù hợp để nói về vấn đề
tế nhị “tình chị duyên em”.
- Nhắc nhở mối tình của mình với chàng Kim:
● “Giữa đường đứt gánh tương tư” ● “Mối tơ thừa”
● “Quạt ước, chén thề”
-> Mối tình nồng thắm nhưng mong manh, dang dở và đầy bất hạnh của Kim - Kiều.
- Kiều giãi bày lí do đi đến quyết định trao duyên cho Vân
+ Gia đình Kiều gặp biến cố lớn “sóng gió bất kì”. Kiều buộc phải chọn một trong hai
con đường là “hiếu” và “tình” -> Kiều đành chọn hi sinh tình để giữ trọn hiếu.
=> Kiều đã gợi ra tình cảnh ngang trái, khó xử của mình để Vân thấu hiểu.
+ “Ngày xuân em hãy còn dài”
-> Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước.
+ “Xót tình máu mủ thay lời nước non”
-> Kiều thuyết phục em bằng tình cảm ruột thịt.
+ “Thịt nát xương mòn”, “ Ngậm cười chín suối” : Kiều viện đến cả cái chết để thể
hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời.
=> Kiều là người sắc sảo tinh tế, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa.
* Luận điểm 2: Tâm trạng Kiều khi trao kỉ vật và dặn dò em
- "Chiếc vành, bức tờ mây"
-> Kỉ vật đơn sơ mà thiêng liêng, gợi quá khứ hạnh phúc.
- Từ “giữ - của chung - của tin”
● “Của chung” : của Kim, Kiều nay là cả của Vân nữa.
● “Của tin” : những vật gắn bó gợi tình yêu thiêng liêng của Kim – Kiều (mảnh hương, tiếng đàn)
-> Thể hiện sự giằng xé trong tâm trạng Thúy Kiều. Kiều chỉ có thể gửi gắm mối
duyên dang dở cho Vân chứ không thể trao hết tình yêu mặn nồng xưa kia giữa nàng và Kim Trọng.
- Kiều dự cảm về cái chết:
+ hiu hiu gió, hồn, nát thân bồ liễu, dạ đài, người thác oan
-> Dự cảm không lành về tương lai, sự tuyệt vọng tột cùng. Kiều tưởng tượng ra cảnh
mình chết oan, chết hận. Hồn không sao siêu thoát được bởi trong lòng đang nặng lời
thề ước với Kim Trọng.
=> Sự đau đớn, đầy tuyệt vọng, tấm lòng thủy chung một lòng hướng về Kim Trọng của Kiều.
- Thúy Kiều dặn dò Thúy Vân
● “Đền nghì trúc mai”: Đền ơn đáp nghĩa.
● “Rưới xin giọt nước”: Tẩy oan cho chị.
-> Nỗi bứt rứt, dằn vặt trong lòng Kiều, Kiều như càng nhớ, càng thương Kim Trọng hơn bao giờ hết.
=> Thúy Kiều trao kỉ vật cho em mà lời gửi trao chất chứa bao đau đớn, giằng xé và chua chát.
* Luận điểm 3: Tâm trạng của Kiều khi nghĩ về Kim Trọng
- Lời thơ chuyển từ đối thoại sang độc thoại
- “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”
-> Nàng ý thức rõ về cái hiện hữu của mình, số phận đầy đau khổ, dở dang, bạc bẽo, lênh đênh trôi nổi. - Hành động:
● Nhận mình là "người phụ bạc"
● Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt khác với cái lạy nhờ cậy lúc đầu
● Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.
-> Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý.
=> Tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Thúy Kiều khi hướng về tình yêu của mình và Kim Trọng. c) Kết bài
● Khái quát tâm trạng của Kiều trong đoạn trích. ● Cảm nhận của em. Dàn ý số 2 1. Mở bài:
· Giới thiệu vài nét đặc sắc nhất về tác giả, tác phẩm và vị trí của đoạn tích.
· Dẫn dắt đặt vấn đề (theo yêu cầu đề ra). 2. Thân bài:
- Đoạn 1: Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
(“Cậy em em có chịu lời…phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”)
· Kiều nhờ cậy Vân, lời nhờ cậy có sắc thái khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa). Lời
xưng hô của Kiều vừa như trông cậy, vừa như nài ép, phù hợp để nói về vấn đề tế nhị “tình chị duyên em”.
· Nhắc nhở mối tình của mình với chàng Kim: thắm thiết nhưng mong manh, nhanh tan vỡ.
Cách nói của Kiều thể hiện sự thông minh khôn khéo, qua đó thể hiện tài năng bậc
thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du.
+ Kiều trao duyên cho em. Chú ý cách trao duyên – trao lời tha thiết, tâm huyết; trao
kỉ vật lại dùng dằng nửa trao, nửa níu – để thấy tâm trạng của Kiều trong thời khắc
đoạn trường này: Kiều đang mâu thuẫn giữa hành động và lời nói, lí trí và tình cảm.
Kiều trao duyên chứ không muốn trao tình.
- Đoạn 2: Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên
(Mai sau dù có bao giờ...thiếp đã phụ chàng từ đây)
· Dự cảm về cái chết cứ trở đi, trở lại trong tâm hồn Kiều ; trong lời độc thoại nội tâm
đầy đau đớn,Kiều hướng về người yêu với tất cả tình yêu thương và mong nhớ.
· Từ chỗ nói với em Kiều chuyển sang nói với mình, nói với người yêu ; từ giọng đau
đớn chuyển thành tiếng khóc, khóc cho mình, khóc cho mối tình đầu trong sáng, đẹp
đẽ vừa mới chớm nở đã tan vỡ.
=> Với nghệ thuật miêu tả tinh tế diễn biến nội tâm nhân vật và ngôn ngữ độc thoại
sinh động, đoạn trích Trao duyên đã ánh lên vẻ đẹp nhân cách Thúy Kiều thể hiện qua
nỗi đau đớn khi tình yêu tan vỡ và sự hy sinh đến quên mình vì hạnh phúc của người thân. 3. Kết bài:
· Tài năng xuất sắc của Nguyễn Du trong việc khám phá và thể hiện quy luật nội tâm
sâu sắc của con người.
· Đoạn trích thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và nhân cách cao đẹp của
Thúy Kiều, qua đó thấy được cái nhìn hiện thực và nhân đạo của Nguyễn Du. Dàn ý số 3 1. Mở bài
“Truyện Kiều” là một kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho nền văn
học Việt Nam. Một trong những đoạn trích nổi bật lột tả rõ nét nội tâm nhân vật Thúy
Kiều chính là đoạn trích “Trao duyên.” 2. Thân bài a. 12 câu thơ đầu
“Cậy em, em có chịu lời,
….……………………….
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
“Cậy em” là câu mở đầu khi Kiều muốn nói chuyện với em dù Kiều là chị, thể hiện sự
tôn trọng, tin tưởng đối với em.
Mối tình của Thúy Kiều và Kim Trọng hẳn Vân đã biết, Kiều yêu Trọng từ lần gặp
đầu tiên, hai người đã có hẹn ước sẽ nên vợ thành chồng. Sóng gió ập tới gia đình
Kiều, nàng không thể khoanh tay đứng nhìn cha và em trai bị vu oan mà chịu thiệt.
Trong lòng Kiều băn khoăn, trăn trở. Bên là chữ hiếu với cha mẹ, bên là mối tình sau
nặng khắc cốt ghi tâm với chàng Kim, thật khó để nàng đôi đường vẹn đôi.
Sau bao suy tư, cuối cùng, Kiều quyết định trao lại mối duyên tình sâu nặng của mình
cho Vân. Vân còn trẻ, lại xinh đẹp, rất xứng đôi vừa lứa với chàng Kim, nếu Vân thay
Kiều nhận mối duyên này Kiều sẽ yên lòng mà báo hiếu cho cha mẹ. Ở nơi xa xôi hay
phải chịu bất cứ khó khăn gì, Kiều cũng cam lòng.
→ 12 câu thơ không chỉ diễn tả những giằng xé trong lòng Kiều mà còn thể hiện rõ
nét ràng nàng là một người con hiếu thảo, một thiếu nữ trọng tình cảm, yêu thương
sâu nặng. Tuy phải trao lại mối lương duyên của mình cho người em là Thúy Vân
nhưng Kiều không hề kêu ca hay oán trách ai bất cứ điều gì. b. 16 câu tiếp
“Chiếc thoa với bức tờ mây
….…………………………..
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Sau khi thưa chuyện với Thúy Vân, Kiều trao lại kỉ vật của mình với Kim Trọng cho
em, nhắn nhủ em dù có nên vợ thành chồng thì hãy thương xót cho người chị bạc mệnh.
Kiều tưởng tượng đến lúc Vân và chàng Kim nên vợ nên chồng, đến cõi hư không mà
nàng chỉ là một mảnh hồn oan vật vờ theo ngọn gió hiu hiu trên ngọn cỏ lá cây nhưng
vẫn mang nặng lời thề, nàng đinh ninh mình sẽ là một hồn oan trong cõi chết và dặn
em rưới cho giọt nước làm phép tẩy oan. c. 6 câu thơ cuối
“Trăm nghìn gửi lạy tình quân
….……………………………..
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Sau khi trao duyên cho Thúy Vân, Kiều âm thầm nhắn nhủ đến Kim Trọng: nàng đã
phụ tình chàng từ đây. Đó không chỉ là câu nói đau xót khi phải chia tay người yêu khi
tình cảm vẫn còn mặn nồng sâu sắc mà còn là suy tư về cuộc sống tăm tối phía trước đang chờ đón Kiều.
Tơ duyên của Kiều và Kim chỉ ngắn ngủi có từng ấy, xin gửi lại chàng mối duyên này
cho người em là Thúy Vân.
Kiều đã phải thốt lên: “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!” đây vừa là lời xin lỗi
Kiều gửi đến Kim, vừa là lời oán trách vì phận mình sao bạc bẽo.
→ Kiều không chỉ suy nghĩ về việc cứu cha và em, trao lại mối duyên của mình cho
Vân mà còn suy nghĩ cho người mình hết lòng yêu thương. Một cô gái nhỏ bé vốn
sống bình an nay phải suy tư rất nhiều, không chỉ thế,cuộc sống trôi nổi phía trước của
nàng cũng khiến người ta vô cùng đau xót về kiếp hồng nhan bạc phận.
Diễn biến tâm lí của Kiều đi qua nhiều cảm xúc khác nhau, từ nghĩ cách cứu cha và
em, trao lại mối duyên của mình, đến việc nghĩ cho người mình yêu thương và đến
cuộc sống bấp bênh của nàng sau này khiến người ta không khỏi đau xót. d. Tổng kết
Về nội dung: đoạn trích làm nổi bật suy tư đa chiều cũng như tâm trạng của Thúy
Kiều khi trao lại mối lương duyên cho người em.
Về nghệ thuật: thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc, các câu cảm thán. 3. Kết bài
Đoạn trích giúp ta hiểu hơn về nhân vật Thúy Kiều cũng như hiểu hơn về giá trị nhân
đạo trong tác phẩm nổi tiếng của Đại thi hào Nguyễn Du.
Diễn biến tâm trạng Thúy Kiều trong Trao duyên - Mẫu 1
Một trong những thành công tiêu biểu của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là nghệ
thuật miêu nội tâm nhân vật. Điều đó được thể hiện rõ trong đoạn trích Trao duyên.
Chỉ bằng tầng ngôn từ biểu đạt, Nguyễn Du đã khắc họa thành công dòng tâm trạng
của Thúy Kiều trong nỗi đau xót dở dang duyên phận của mình. Những chuyển biến
tâm lý của Kiều trong từng lời nói, hành động được Nguyễn Du thể hiện đầy tinh tế,
gợi những đồng cảm với nhân vật trong lòng người đọc.
Mở đầu đoạn trích, là tâm trạng buồn tủi, xót xa của Kiều khi mở lời cậy nhờ em gái
chắp mối duyên cho mình:
"Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
Lời Kiều cất lên vừa chân tình lại vừa tha thiết. Hai tiếng "cậy em" chất chứa cả sự
khẩn cầu và tin cậy. Ngoài Vân ra Kiều chẳng thể nhờ ai được, bởi chỉ có Vân là hiểu
Kiều, chỉ có Vân là người phù hợp nhất để thay Kiều chắp vá duyên mình. Hành động
"lạy", "thưa" ngỡ là vô lý bởi lẽ thường là bậc làm chị sao có thể nào "lạy em", nhưng
đặt trong tình huống lại rất hợp lý. Bởi với Kiều lúc này, Vân là một ân nhân, một
người có thể giúp Kiều. Những hành động thể hiện trong từng lời nói ấy như báo
trước cho Vân một sự hệ trọng mà Kiều sắp nói ra đồng thời cũng cho thấy những tâm
tư sầu kín của nàng. Kiểu hiểu rằng với em, nhờ vả chuyện này nào dễ dàng gì, nàng
hẳn cũng đã rất day dứt, nghĩ suy rất nhiều mới ngỏ lời nhờ em như vậy:
"Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai"
Bằng lời lẽ chân tình, Kiều giãi bày với em về sự tình lúc này. Giờ đây, tình yêu của
Kiều và Kim bị "đứt gánh" giữa đường, đành cậy nhờ em "chắp mối tơ thừa" cho chị.
Là người sâu sắc và hiểu truyện, Kiều hiểu được sự thiệt thòi và khó xử của Vân,
nhưng không còn cách nào khác đành phó mặc em chắp mối duyên tình dang dở cùng
Kim Trọng. Vừa nhờ em, nàng vừa tâm sự cùng em những kỉ niệm đẹp đẽ bên chàng
Kim. Đó là những tháng ngày Kiều được hưởng hạnh phúc, vui vầy trọn vẹn. Điệp từ
"khi" cùng những hình ảnh "quạt ước", "chén thề" như tái hiện lại khoảng thời gian
hạnh phúc trong tâm trí Kiều, đồng thời diễn tả nỗi nhớ nhung tha thiết và tiếc nuối
của Kiều ngay lúc ấy. Cuộc sống, ai cũng khát khao hạnh phúc, Kiều không nằm
ngoài lẽ ấy. Để có được hạnh phúc không phải là điều dễ dàng, hạnh phúc có được mà
đành ngậm ngùi rời bỏ càng tiếc nuối trăm bề. "Sóng gió bất kỳ" xảy đến, gặp cơn gia
biến, Kiều có lựa chọn nào khác đâu ngoài bán thân mình chuộc cha cho vẹn đạo làm
con, cho tròn chữ " Hiếu". Nhưng trọn chữ "Hiếu" rồi kiều cũng không thể phụ chữ
"Tình" với chàng Kim, nên việc cậy nhờ Vân của Kiều là điều hợp lẽ. Tuy vậy, dù lý
trí dẫn đường mà lòng nàng không đặng, trong mỗi tiếng thơ là đều thấy được những
tiếc nuối của Kiều về mối tình dang dở. Dặn lòng mình để thuyết phục em, Kiều đưa
ra những lời lẽ thật thấu tình đạt lý, mà hẳn khi Vân nghe cũng không thể nào chối từ nguyện vọng của chị:
"Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây"
Với Kiều, tuổi xuân giờ đây dường như không còn nữa, bán mình, nàng đành chấp
nhận mất đi thanh xuân ngắn ngủi. Còn với Vân thì khác, Vân vẫn còn tuổi xuân, sắc
xuân, vẫn còn thời gian để tìm hiểu và yêu thương Kim Trọng, Kiều mong em hãy vì
tình máu mủ mà thay phần chị chăm sóc, san sẻ cùng Kim. Nếu được vậy thì dẫu cho
có chết đi kiều vẫn vui, được an lòng nơi chín suối "ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây".
Lời Kiều thốt ra như đẫm giọt lệ thương tâm, vừa xót xa, bi ai lại vừa day dứt, tiếc
nuối. Phải yêu Kim Trọng đến nhường nào, chung thủy với Kim Trọng đến ra sao thì
Kiều mới đau đớn đến như vậy. Đành rằng là cậy nhờ em, nhưng là lời cậy nhờ trong
tiếc nuối, trong nỗi đớn đau khôn cùng khi phải buông bỏ mối tình không trọn vẹn,
trao cho người khác cái hạnh phúc mà mình vốn chắt chiu, gìn giữ bấy lâu. Vừa dứt
lời cậy nhờ, Kiều trao lại những kỉ vật tình yêu của mình cho em trong nỗi luyến tiếc khôn nguôi:
"Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai"
Tay muốn trao mà lòng chẳng đặng, bởi bao nhiêu kỉ vật là bấy nhiêu kỉ niệm, bấy
nhiêu ân tình của Kiều và Kim trọng dành cho nhau. Trao cho em chiếc vành với bức
tờ mây trong tiếc nuối, duyên thì mong em giữ, chắp nối nhưng vật là "của chung".
Bởi dù có thế nào đi chăng nữa thì trong Kiều vẫn chung thủy một mối tình sắt son
cùng chàng Kim mà thôi, không gì có thể thay đổi được điều đó. Trong nỗi đau đớn
tột cùng, Kiều ngậm ngùi nghĩ đến cái chết. Nhưng dẫu có ở chốn suối vàng lạnh lẽo,
lòng Kiều vẫn sẽ không quên lời thề son sắt, thủy chung. Nỗi đau lên đến tận cùng,
nàng nói với em mà như nói với chính lòng mình, với người thương nơi xa xôi. Lời
Kiều thiết tha, mang nỗi xót xa, tuyệt vọng, mang nỗi phẫn uất, đớn đau, mang cả
những luyến tiếc, nhớ thương và cả trăm ngàn những ngổn ngang:
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim Lang! hỡi Kim Lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây."
Yêu Kim Trọng bao nhiêu thì Kiều lại càng trách cứ bản thân mình phụ bạc chàng
Kim bấy nhiêu. Một người trân trọng và thủy chung như Kiều luôn mang trong mình
mặc cảm tội lỗi. Hành động "trăm nghìn gửi lạy" như lời tạ lỗi mà Kiều gửi đến Kim
vì đã phụ chàng, vì đã khiến cho mối tơ duyên trở nên " ngắn ngủi", lỡ làng, không
trọn vẹn. Trong nỗi xót xa, Kiều trách móc phận mình bạc bẽo, trái ngang. Tiếng gọi Kim Lang trong nghẹn ngào:
“Ôi Kim Lang! hỡi Kim Lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây."
Trong tiếng gọi "Kim Lang" là cả nỗi nhớ thương chất chứa, nỗi đau giằng xé tâm can
và những yêu thương tha thiết. Dẫu cho thế nào đi nữa, Kiều vẫn trân trọng chàng
Kim, gọi Kim Trọng bằng hai tiếng " Kim Lang" thầy chân thành.
"Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây"
Cho đến cuối cùng, Kiều vẫn nghĩ đến hạnh phúc của người mình thương. Đến cuối
cùng, Kiều vẫn tự nhận lỗi về mình, trách chính mình đã phụ bạc.
Đoạn trích Trao duyên tuy chỉ là một phần nhỏ trong tác phẩm dài 3254 câu thơ lục
bát của Truyện Kiều nhưng góp phần không nhỏ trong việc tạo nên thành công cho tác
phẩm. Nỗi đau giằng xé của Thúy Kiều khi lâm vào bi kịch tình yêu được lột tả thật
chân thực. Ở đó, ta thấy được sự mạnh mẽ, dứt khóa cửa một người con gái hết mực
lý trí và cũng thấy được sự yếu đuối nhưng rất mực chân thành của một người phụ nữ
thủy chung, giàu tình cảm.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 2
Truyện Kiều là một kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho nền văn
học Việt Nam. Tác phẩm mang nhiều giá trị nhân đạo khiến độc giả phải suy ngẫm.
Một trong những đoạn trích nổi bật lột tả rõ nét nội tâm nhân vật Thúy Kiều chính là
đoạn trích “Trao duyên.”
Khi gia đình gặp nạn, để giải cứu cho cha và em trai, Thúy Kiều buộc phải trao lại mối
duyên của mình cho Thúy Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Thúy Kiều là chị, tuy nhiên khi nhờ vả, muốn nói chuyện với em mình, nàng dùng sự
kính trọng, nhã nhặn đối với em.
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
“Cậy, lạy, thưa” là những từ mà người ở vai dưới nói chuyện với người vai trên.
Những từ ngữ này thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của Kiều dành cho người em gái mà
mình nhờ vả. Dù mình ở vai trên nhưng Kiều không dùng sự ra lệnh đối với em. Tuy
trong lòng cô nhiều suy nghĩ, trăn trở nhưng vẫn bình tĩnh xử lí, sắp xếp, thu vén chuyện của mình.
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?"
Kiều trình bày với em về hoàn cảnh của mình, về mối tình dang dở của mình với
chàng Kim và mong em hãy thấu hiểu cho nỗi khổ của mình mà chấp nhận mối tơ
thừa của chị. Hai người đã có những hẹn thề gắn bó dài lâu nhưng nay Kiều không giữ
lời hứa đó. Bởi lẽ, nàng không thể hoàn thành cả “chữ hiếu” lẫn “chữ tình”; nên “chữ
tình” này, xin gửi lại để Vân thay chị thực hiện. Từng lời nói của Kiều là nỗi đau khổ,
day dứt mà nàng đang phải trải qua. Nào ai muốn nhìn thấy cha và em trai bị oan
trong tù? Nào ai muốn rời bỏ người mình yêu thương khi tình cảm rất mặn nồng? Ta
càng thêm thương xót cho nàng Kiều bạc mệnh.
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vân còn trẻ, đang trong độ tuổi xuân thì, chàng Kim lại là tài tử hiếm có, nếu Vân
thay Kiều đến với Kim Trọng thì nàng Kiều sẽ yên tâm mà ra đi vì dù sao đi chăng
nữa Vân với Kiều cũng cùng chung giọt máu. Để cảm kích sự đồng ý của Vân, dù cho
Kiều có ‘thịt nát xương mòn” nơi đất khách quê người nàng cũng yên tâm mà ra đi,
không còn suy tư trăn trở.
Đoạn thơ gây ám ảnh người đọc bởi nó làm hiện ra trước mắt chúng ta một bức tranh
như thực về nàng Kiều trọng tình, trọng nghĩa, ta phần nào hiểu thêm, đồng cảm,
thương xót cho số phận một cô gái “hồng nhan bạc mệnh.”
Những câu thơ tiếp theo là lời dặn dò của Kiều với Vân sau khi trao em mối duyên của mình:
"Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!"
Sau khi Vân đồng ý nhận mối duyên của mình, Kiều mang trao lại em những kỉ vật
của mình với chàng Kim. Kiểu sẽ thực sự ghi nhớ ơn nghĩa nếu Vân và Kim Trọng
nên duyên vợ chồng. Thật đau đớn và xót xa khi người mình yêu nên duyên cùng
chính em gái mình, ấy thế mà, với Kiều, đấy lại là một ơn nghĩa mà Vân làm cho cô khiến cô ghi nhớ mãi.
Tuy rằng, Kiều sẽ phải ra đi, nhưng dù còn sống hay khi không còn trên đời nữa, cô
vẫn luôn hướng về nhà, về nơi có cha mẹ, có các em và có chàng Kim. Người con gái
ấy đã nghĩ đến trường hợp xấu nhất khi cô chỉ còn là “linh hồn mang nặng lời thề” trở
về nhà, cô dặn Vân hãy rảy xin cho cô chén nước để linh hồn cô được siêu thoát. Đến
đây, nỗi xót xa của nàng Kiều dường như bị đẩy lên một cao trào mới. Những suy tư
ngổn ngang đè nặng lên vai một cô gái vốn có cuộc sống thanh bình. Duyên gãy, phải
đi xa gia đình, bán thân thành một người rẻ mạt làm Kiều không tránh nỗi chua xót.
“Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Câu nói thốt lên trong sự cay đắng, nghiệt ngã của số phận. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp
giữa hai người giờ đây chỉ còn là kí ức. Từng kỉ niệm ấy Kiều sẽ mãi lưu giữ bên
mình. Đó cũng là sự hụt hẫng, tiếc nuối về một thời yêu nhau say đắm của hai người.
Đến đây, người đọc không khỏi tiếc nuối: tiếc nuối cho số phận của Kiều, tiếc nuối
cho mối duyên của hai người cũng như tiếc nuối về kỉ niệm mà họ đã từng có với nhau.
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Những việc Kiều làm khiến người khác phải thương xót. Tuy nhiên, với nàng, đó lại
là những lỗi lầm nàng gây ra cho người nàng thương yêu. Nàng gửi đến chàng Kim
trăm nghìn cái lạy để mong chàng tha thứ vì mình đã không giữ đúng lời hứa cùng
chàng nên duyên vợ chồng. Tơ duyên của hai người có lẽ chỉ đến được đây thôi, từ
nay Vân sẽ thay Kiều yêu thương, chăm sóc cho chàng. “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim
Lang!” câu nói Kiều thốt ra như một lời xin lỗi, tiễn biệt mà nàng gửi đến Kim Trọng.
Từ nay, Kiều phải đi về nơi khác, phải phụ tình cảm mà Kim dành cho mình từ đây.
Có thể Kim Trọng sẽ thất vọng, sẽ đau khổ khi nàng ra đi nhưng nàng không thể làm khác được.
Từng câu thơ là sự đau khổ, bất hạnh của nàng Kiều, nhưng chính những điều này
khiến ta nể phục, yêu thương cô Kiều vì cô không chỉ là người sống tình nghĩa mà còn
là người có suy nghĩ sâu sắc, luôn quan tâm, lo lắng cho người khác trước khi lo cho bản thân mình.
Điểm nổi bật làm nên thành công vang dội của tác phẩm đó chính là thể thơ lục bát
dân gian của dân tộc. Đoạn trích sử dụng những câu cảm thán đã khắc họa thành công
tâm trạng, nỗi lòng của Thúy Kiều khi trao mối duyên của mình cho Thúy Vân.
Đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung đã góp một phần không nhỏ vào việc làm
đa dạng nền văn hóa dân tộc. Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn trích “Trao duyên”
cùng tác phẩm Truyện Kiều vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của nó và để lại nhiều ấn
tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 3
Tai biến ập đến, Thúy Kiều đã đi theo con đường quen thuộc của những con người
hiếu thảo: "Để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành. "Khi mâu
thuẫn giữa hiếu và tình đã được giải quyết, Thúy Kiều lại rơi vào một bi kịch khác,
đau đớn và nhức nhối hơn. Đoạn trích Trao duyên đã khắc họa sâu sắc bi kịch đó của
Thúy Kiều đồng thời cũng khiến chúng ta trân trọng hơn vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của nàng.
Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Mã Giám Sinh, Thúy Kiều một mình đối diện
với chính mình, với ngọn đèn in bóng đau khổ đã cạn dần với chiếc khăn thấm lệ đã
đẫm nước mắt: "Dẫu chong trắng địa, lệ tràn thấm khăn". Điều gì đã khiến nàng "ngồi
nhẫn tàn canh". Trong tâm trạng "bàn hoàn" đến vậy? Chỉ đến khi Thúy Vân "ghé đến
ân cần hỏi han" Kiều mới thổ lộ tâm sự sâu kín của nàng. Người con gái tài sắc ấy
không chỉ có lòng hiếu thảo với cha mẹ mà trong tình yêu, nàng là con người thiết tha,
sâu nặng, vị tha đến quên mình. Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Thúy
Kiều. Số phận nàng ngày mai không biết sẽ ra sao nơi đất khách quê người, nhưng
hiện tại trong giờ phút này, Kiều một lòng một dạ hướng về người yêu. Điều này được
thể hiện rõ qua lời khẩn cầu thiết tha đối với Thúy Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Cái sâu sắc nước đời của Tố Như thể hiện ở việc lựa chọn từ ngữ diễn tả tâm trạng
nhân vật. Trong những từ biểu đạt sự nhờ vả: nhờ, mượn, phiền,... Nguyễn Du chọn từ
cậy, vì chỉ từ này mới hàm chứa hai nội dung: nhờ và tin. "Chịu lời" chứ không phải
nhân lời vì nhận lời là sự tự nguyện của Vân. Song việc Kiều sắp nhờ cậy em gái là
một sự nài nỉ, bắt buộc, không nhận không được, là đưa cả chính nàng và Vân vào
hoàn cảnh khó xử. Đó là việc Vân thay Kiều trả "nghĩa" cho Kim Trọng: xót tình máu
mủ thay lời nước non". Trong quan niệm của người trung đại tình thường gắn với
nghĩa. Cả ba người trong cuộc đều coi việc trả nghĩa này là hợp lí. Nhưng cho dù đó là
trách nhiệm và nghĩa vụ của Vân: "Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em". Thúy Kiều
vẫn đưa ra những lí lẽ để thuyết phục em gái. Chính những lí lẽ ấy càng thể hiện rõ
tình yêu sâu nặng Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, càng khẳng định vẻ đẹp tâm hồn,
nhân cách của nàng. Nói với em, thuyết phục em mà Kiều như sống lại những kí ức
tình yêu với Kim Trọng: "Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề"; trao kỉ vật tình yêu
cho Vân: chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền,... mà những mong
thông qua đó, nàng có thể hiện diện trong tình yêu, trong nỗi niềm với Kim Trọng.
Song càng nặng tình với chàng Kim bao nhiêu, Kiều càng rơi vào bi kịch khổ đau bấy
nhiêu. Đó trước hết là bi kịch của tình yêu lứa đôi đang đẹp đẽ, hạnh phúc bỗng chốc
tan vỡ, chia lìa. Sự dở dang, tan vỡ này được thể hiện qua một câu thơ mang sắc thái
thành ngữ: "Giữa đường đứt gánh tương tư". Hình ảnh ẩn dụ này ta đã bắt gặp trong
ca dao, hóa ra, những đau khổ của Kiều nào có xa lạ gì với những số phận của người
phụ nữ xưa. Tuy nhiên bi kịch tình yêu tan vỡ ở nàng vẫn đau đớn và nhức nhối hơn
bất cứ thiên tình sử nào trước đó. Một phần là bởi Thúy Kiều chỉ có thể trao duyên
cho Vân chứ không thể trao tình yêu cho em gái. Nàng đã trao lại cho Vân những kỉ
vật tình yêu đẹp đẽ và thiêng liêng. Trong mối quan hệ chàng Kim, bao giờ Nguyễn
Du cũng dành cho người chị chữ "tình", và cô em chữ "duyên".
Khi ăn ở lúc ra vào,
Càng âu duyên mới, càng dào tình xưa
Kiều mong muốn thông qua những kỉ vật, nàng có thể hiện diện trở về trong tình yêu,
trong tâm thức của Kim Trọng: "Mất người còn chút của tin", nhưng có nghĩa gì đâu
khi "chút của tin" còn mà người đã mất, con đường trở về với tình yêu bằng linh hồn
bất tử: "Thấy hiu hiu gió thi hay chị về". Nhưng nàng ý thức được rằng đó là cái chết
oan nghiệt: "Rảy xin chén nước cho người thác oan". Trong thiên tình sử xưa, giọt lệ
Mị Nương rơi xuống chén trà và oan hồn Trương Chi được giải tỏa, còn trong Truyện
Kiều giọt lệ của chàng Kim không thể làm tan mối tình oan khuất của nàng Kiều. Bởi
sự trở về bằng linh hồn bất tử là sự trở về không có gặp gỡ, luôn luôn bị chia cắt bởi
hai cõi âm dương: "Dạ đài cách mặt khuất lời "Sau này, trong màn "Tái hồi Kim
Trọng "sự gặp mặt của Kim - Kiều cũng không còn là sự gặp lại của tình yêu, vì "sự
đời đã tắt lửa lòng" "đem tình cầm sắt đổi ra cầm kì".
Thông qua việc khám phá vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách Thúy Kiều cũng như bi kịch của
nàng trong đoạn trích: "Trao duyên", người đọc nhận ra "sức cảm thông lạ lùng" của
nhà đại thi hào dân tộc đối với những khổ đau và khát vọng tình yêu của con người.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 4
Tình yêu đầu bao giờ cũng là tình yêu trong sáng và đẹp đẽ nhất. Thế nhưng, với Thuý
Kiều, tình yêu ấy lại chứa chan bao đau khổ, xót thương vô cùng. Mối tình đầu đẹp
như mơ của nàng với Kim Trọng đã buộc phải chia cắt vì biến cố bất ngờ của gia đình.
Để vẹn tròn hai bên hiếu, tình nàng đã quyết định trao lại mối duyên ấy cho Thuý Vân
– em gái mình để Vân thay nàng trả nghĩa cho Kim Trọng. Tất cả điều đó được thể
hiện qua đoạn trích Trao duyên vô cùng đặc sắc. Đoạn trích đã cho thấy được sự dằn
vặt, đau đớn khôn nguôi của Kiều khi phải trao đi mối duyên sâu đậm của mình.
Đoạn trích Trao duyên là trích đoạn từ câu 723 đến câu 756 thuộc tác phẩm Truyện
Kiều của nhà văn Nguyễn Du. Sau đêm thề nguyền cùng chàng Kim Trọng, gia đình
Kiều xảy ra gia biến, gia sản bị tịch thu còn cha và em trai thì bị bắt. Trước biến cố bất
ngờ Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy bốn trăm lạng vàng, đút lót quan lại
để cứu cha và em. Khi đó, Kim Trọng đang ở Liễu Dương chịu tang chú nên không hề
biết chuyện xảy đến với gia đình Kiều. Vào tối đêm trước ngày ra đi, Kiều đã nhờ
Thuý Vân – em gái mình ở lại trả nghĩa cho chàng Kim. Bao nhiêu đau đớn và giằng
xé trong tâm can Kiều được đẩy lên cao trào trong trích đoạn này.
Đêm trước ngày ra đi, Kiều một mình lặng lẽ trong bóng tối. Nàng đau xót cho mình,
đau xót cho cả mối tình dang dở với chàng Kim. Nàng luôn tự trách bản thân có lỗi
với chàng, nàng là nguyên nhân gây ra nỗi bất hạnh cho chàng:
“Công trình kể biết mấy mươi
Vì ta khăng khít cho người dở dang!
Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa”
Kiều mang trong mình đầy những mặc cảm tội lỗi dù rằng chuyện tình cảm là hai
người tự nguyện đến với nhau và cùng nhau thề nguyền. Dưới bóng đèn mờ ảo, nàng
khóc thương cho phận mình, duyên tình mình. Tâm trạng Kiều đầy dằn vặt, đầy rối
bời đan xen. Nàng nghĩ lại mọi chuyện và nghĩ rằng chỉ còn một cách cứu vãn, dù chỉ
là một phần mối duyên của mình, đó là trao lại cho Thuý Vân. Vân sẽ giúp nàng kết
duyên cùng Kim Trọng, hai người là chị em, Thuý Vân cũng sẽ như nàng mà thôi.
Khi Thuý Vân nhìn thấy vẻ mặt ủ dột của Kiều, Vân đã gặng hỏi Kiều câu chuyện và Kiều đã đáp rằng:
“Lòng đương thổn thức đầy
Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong
Hở môi ra cũng thẹn thùng
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai.”
Kiều mở lời trong thẹn thùng, e ngại bởi đây là chuyện tình của riêng nàng, đâu phải
ai cũng có thể hiểu, cũng có thể nghe. Bởi vậy muốn ngỏ lời với Vân chuyện hệ trọng
đó thật khó biết bao! Vậy nên Kiều đã vô cùng thận trọng, lựa chọn những từ ngữ thật
cẩn thận, ngập ngừng nói với em gái rằng:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Câu nói bật ra khiến người đọc cảm nhận được ngay sự e dè, thận trọng cũng như mức
độ quan trọng của câu chuyện Kiều muốn tỏ bày cùng em. Nàng lựa chọn từng câu từ
chính xác với một tâm trạng vô cùng đắn đo khi nhờ cậy em mình. Một từ “cậy” thôi,
người đọc thấy ở đó là âm điệu nặng nề, một sự nhờ vả nhưng đầy hoang mang, dằn
vặt khi Kiểu mở lời. Và rồi tiếp theo những hành động của Kiều càng khiến người ta
phải ngạc nhiên hơn nữa “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Những hành động tôn
kính hết mực, vốn chỉ dành cho những bậc bề trên thì nay Thuý Kiều lại dùng nó với
Thuý Vân – em gái của mình. Bởi thứ mà Kiều muốn nhờ vả em mình quá đỗi quan
trọng với nàng và còn vì trong tâm nàng đang tràn đầy những nỗi đau đớn, xót xa cho
mối tình của mình. Hai từ “cậy, chịu” của Kiều, người đọc chỉ nghe thôi ma sao cũng
thấy xót xa, thấy đau đớn thay cho nàng. Chắc hẳn, phải tuyệt vọng lắm, Kiều mới
thốt lên được những tiếng nhờ cậy đau xót nhường ấy. Lời nhờ cậy ấy không chỉ là
một lời nói suông mà còn chứa trong đó một thái độ nài ép, ép buộc Thuý Vân phải nhận lời.
Kiều đã rất khéo léo, thông minh khi đặt vấn đề với Vân trong câu chuyện của mình.
Những lời nói của nàng không chỉ khiến Vân cảm nhận được tầm quan trọng của việc
nàng định nhờ vả mà còn có thể thấy được nỗi đau và sự tuyệt vọng của Kiều trong từng câu nói đó.
Sau lời ban đầu khó nói, Kiều bộc bạch nỗi lòng của mình với em về mối tình đẹp đẽ của mình với chàng Kim:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Từng lời từng lời là từng kỉ niệm về mối tình đầu trong sáng, vẹn nguyên của nàng.
Những lời hẹn ước, thề nguyền dưới trăng vẫn còn đầy, thế mà nàng đành lòng phải
“đứt gánh”. Câu thơ nghe như lời tự tình thổn thức, lời tâm sự của Kiều về nỗi lòng
khó chọn lựa giữa hiếu và tình:
“Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Ở trong tình thế khó xử đó, nàng đã quyết định chọn lựa chữ hiếu, bán mình lấy bốn
trăm lạng vàng cứu cha và em. Thế nhưng, canh cánh trong lòng nàng là nỗi niềm tình
yêu với chàng Kim – món nợ tình khó lòng trả hết. Có thể thấy, từng câu từng chữ đều
là những nỗi đau khổ khôn cùng của Kiều. Vậy nên, nàng van lơn em gái, hãy vì tình
cảm máu mủ mà thay mình kết duyên, trả nợ nghĩa cho chàng Kim thay nàng. Nếu
được như thế, nàng có chết đi bằng cách thê thảm nhất cũng sẽ vui lòng.
Những câu chữ trong lý lẽ trao duyên của Kiều hết sức chặt chẽ, hết sức thông minh.
Nhưng ẩn chứa trong đó là sự dằn vặt cũng như xót xa cho mối tình đầu của mình.
Nói hết lý lẽ trao duyên cho Thuý Vân hiểu, nàng lại lặng lẽ trao cho em hết những kỉ vật tình yêu của mình:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa"
Nếu như ở trên, Kiều bình tĩnh phân tích cho Vân nghe mọi chuyện, mọi sự dằn vặt,
đau xót nàng cất giữ trong lòng cho riêng mình, thì ở đoạn này, Kiều không thể kìm
nén được nữa. Những câu thơ nghe như tiếng nấc nghẹn của nàng, khi đưa cho em gái
từng kỉ vật. Nàng trao hết đi, trao “duyên này” đi, tác thành cho mối duyên giữa Vân
và Kim Trọng, thế nhưng, những kỉ vật này, hãy coi nó là “của chung”, của cả ba
người. Những dòng thơ tuôn trào là nỗi lòng Kiều trong giằng xé, bởi nàng vừa muốn
trao đi mối duyên của mình lại vừa tiếc nuối nó, không đành. Càng nói, Kiều càng đau
xót cho số phận mình, tự nhận mình là một kẻ “bạc mệnh”. Thế nên nàng mới dự cảm
được tương lai của mình đầy mịt mù, chỉ thấy cái chết là rõ ràng nhất.
"Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan"
Trong khi Vân và chàng Kim được nên duyên vợ chồng, Kiều tưởng tượng mình chỉ
còn là một mảnh hồn vất vưởng nơi trần thế, “hiu hiu” trong gió. Thế nhưng dù “nát
thân bồ liễu” thì linh hồn nàng vẫn mang nặng lời thề sắt son cùng Kim Trọng, vĩnh
viễn không bao giờ quên. Thật là mâu thuẫn, thật là đan xen. Bởi Kiều đã nói nếu Vân
chịu nhận lời giúp nàng thì nàng “thịt nát xương mòn” cũng sẽ “ngậm cười chín suối”.
Ấy vậy mà giờ đây, khi trả được món nợ tình duyên, nàng cũng không hề thanh thản
mà còn xót xa, nặng nề hơn trước nữa. Phải chăng đó là bởi trước đó, nàng lo cho
người mà quên đi mình, giờ đây khi lo chu toàn chuyện của người, nàng mới nhận ra
sự bạc bẽo của phận mình. Tương lai mờ mịt, oan trái, còn tinh thần nàng thì như nửa
tỉnh nửa mê. Những câu nói của nàng như lời của một linh hồn phảng phất từ thế giới bên kia vọng lại.
Có thể thấy, trong lời nói của Kiều là sự giằng xé, sự tiếc nuối khôn nguôi khi phải
trao đi mối duyên tình đậm sâu của mình. Và chứa chán trong đó, còn là nỗi đau xót,
xót xa cho số phận bạc bẽo của mình, cho tương lai mù mịt, không lối thoát.
Trong sự cao trào của nỗi đau xót, Kiều thốt lên những lời gan ruột đau đớn cho mối
duyên tình dở dang của mình, cho số phận của mình:
“Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Giờ đây, trong thực tại nỗi nhớ về Kim Trọng, Kiều chỉ thấy những đổ vỡ, những tang
thương “trâm gãy, bình tàn”. Thế nhưng, còn có thể làm được gì, “phận” đã “bạc như
vôi” thì đành phải chấp nhận, đành để mối tình ấy, trái tim ấy “lỡ lãng”. Kiều biết
nàng đã phụ chàng, nàng đã làm chàng phải thất vọng. Vậy nhưng giờ đây, nàng chỉ
còn biết tạ tội với tình lang của mình trông chua xót và bất lực. Cuối cùng, không thể
chịu đựng nổi, nàng đã thốt lên trong sự nghẹn ngào và đau đớn quằn quại:
“Ôi Kim lang! Hời Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”
Tiếng nấc nghẹn ấy của Kiều là sự bộc lộ toàn bộ tâm trạng đau đớn lúc đó của nàng,
tới mức gần như mê sảng. Nỗi đau chia cắt cứ nhân lên nhân lên gấp bội, lên tới tột đỉnh.
Đoạn kết khép lại trong nỗi đau thương quằn quại con người nàng. Nhưng không phải
là vì bản thân nàng mà là vì người nàng yêu, vì tình lang của mình. Tâm hồn nàng
chứa chan sự vị tha, nhân hậu vô bờ, nàng muốn cho người được hạnh phúc còn mình
thì sẵn sàng cam chịu sự hi sinh.
Đoạn trích Trao duyên đã lột tả chân thực tâm trạng của Thuý Kiều khi buộc lòng phải
trao đi mối duyên nồng đậm với Kim Trọng. Ngòi bút của Nguyễn Du đã sắc sảo
trong việc sử dụng ngôn ngữ để lột tả hoàn toàn từng rung động trong tâm hồn Kiều,
để từ đó, ta thấy được sự đau đớn, giằng xé, nghẹn ngào trong con người Kiều một cách chân thực nhất.
Tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên - Mẫu 5
Đoạn trích “Trao duyên” có một vị trí đặc biệt trong kiệt tác “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du. Về phương diện kết cấu, đoạn thơ đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc
đời nhân vật chính Thúy Kiều: mở đầu cuộc đời lưu lạc, đau khổ. Về phương diện chủ
đề, đoạn thơ thể hiện sâu sắc chủ đề bi kịch tình yêu tan vỡ. Về phương diện nghệ
thuật, đoạn thơ chứng minh tài nghệ tuyệt vời của Nguyễn Du trong miêu tả nội tâm nhân vật.
Tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên diễn biến qua ba chặng như ba
nấc thang tâm lí. Mở đầu là những lời yêu cầu khẩn thiết của Kiều đối với Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
Hai câu thơ cho thấy Kiều vừa khẩn khoản, vừa thiết tha, vừa như đặt cả niềm tin và
hi vọng vào Vân. Trong bao từ biểu đạt sự nhờ vả: nhờ, mượn, phiền,…Nguyễn Du đã
chọn từ “cậy”. Phải chăng vì chỉ từ “cậy” mới hàm chứa nội dung thông báo nhờ và
tin? Lại nữa, tại sao là “chịu lời” mà không phải là “nhận lời”, tại sao “chịu lời” trước
rồi mới “thưa” sau? Nếu Kiều trình bày sự việc trước thì chắc gì Vân đã chịu lời. Nói
“nhận lời” là đã có ý kiến của người nhận, là có sự tự nguyện của Vân. Nhưng Vân
nào đã biết chuyện gì mà tự nguyện hay không tự nguyện. Do vậy phải là “chịu lời”,
vì đây là việc Kiều chủ động nài ép Vân, đưa Vân vào hoàn cảnh không nhận không
được. Ở đây Kiều hiểu hoàn cảnh khó xử của mình và càng hiểu hoàn cảnh khó xử
của cô em gái. Cũng qua đây có thể thấy Nguyễn Du là thi sĩ thật “sâu sắc nước đời”.
Thúy Kiều đã không quá dài lời về hoàn cảnh của mình. Những việc vừa xảy ra ai
chẳng rõ. Nhưng bất hạnh của Kiều thì chỉ Vân mới là người thấu hiểu. Bởi chính Vân
là người chứng kiến cả hai biến cố của đời Kiều: “Khi gặp chàng Kim” và khi “sóng
gió bất kì”. Các mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy Kiều lúc này không phải là giữa
hiếu và tình. Giải quyết mâu thuẫn giữa hiếu và tình, Kiều đã làm xong, tuy khó khăn
nhưng dứt khoát và có phần thanh thản: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Vả
lại, nếu là chuyện chữ hiếu thì Kiều đâu phải “cậy”, phải “lạy”, phải “thưa” với cô em
gái của mình; việc gá duyên, với Vân là trách nhiệm và nghĩa vụ.
Mâu thuẫn chính được thể hiện qua đoạn trích là “mâu thuẫn giữa tình yêu lứa đôi và
hạnh phúc bị tan vỡ”. Sự dở dang, tan vỡ này được thể hiện qua một câu thơ mang sắc
thái thành ngữ: “Giữa đường đứt gánh tương tư”. Hình ảnh ẩn dụ “giữa đường đứt
gánh” ta đã từng gặp trong ca dao. Thì ra, những đau khổ của Thúy Kiều nào có xa lạ
gì với những số phận của người phụ nữ xưa. Tuy nhiên, bi kịch tình yêu tan vỡ của
Kiều vẫn là đau đớn hơn bất cứ thiên tình sử nào trong văn học trước đó.
Sau tám câu mở đầu Kiều nói với Vân về nỗi bất hạnh của mình, về sự thấu hiểu hoàn
cảnh khó xử của em, Kiều tiếp tục thuyết phục Vân thay nàng trả nghĩa cho Kim
Trọng. Kiều nói với Vân bằng những lời tâm sự biểu hiện qua các câu thơ mang
phong cách thành ngữ: “tình máu mủ”, “lời nước non”, “thịt nát xương mòn”, “ngậm
cười chín suối”. Những lời tâm sự có tác dụng thuyết phục. Kiều ràng buộc Vân bằng
tình máu mủ, lại khẩn cầu em cho mình chút vui, chút ơn, chút thơm lây vì đức hi sinh cao đẹp của em:
“Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vừa thuyết phục vừa ràng buộc, ràng buộc nhưng vẫn khẩn cầu, Kiều đã đạt được
mục đích: nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Nhưng chính lúc mục đích
đạt được là lúc bi kịch tình yêu của Kiều lên tới đỉnh cao. Kiều biết Thúy Vân lấy Kim
Trọng là để trả nghĩa, là do “xót tình máu mủ” chứ không phải vì “lời nước non” cho
nên Kiều chỉ có thể trao duyên cho Vân, còn tình yêu, nàng đâu có dễ trao. Với tình
yêu, Kiều là “người mệnh bạc”. Nàng tìm cách trở về với tình yêu bằng hai con
đường: để lại kỉ vật, linh hồn bất tử.
Kiều đã trao lại Vân những kỉ vật. Nàng những mong, bằng kỉ vật, nàng sẽ hiện diện
trong tình yêu. Những kỉ vật thiêng liêng và đẹp đẽ: “Chiếc thoa với bức tờ mây”,
“phím đàn với mảnh hương nguyền”. Kỉ vật đẹp đẽ bởi nó gắn liền với những ngày
đẹp nhất của đời Kiều. Kỉ vật thiêng liêng bởi nó là riêng – chỉ riêng cho Kiều và Kim
Trọng. Kiều không muốn trao cho người thứ ba, dù đó là em mình. Bao xót xa trong
một từ “của chung”: “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Bao đớn đau trong một
từ “ngày xưa”: “Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”.
Hiện thực đẹp đẽ, rực rỡ vừa mới đây thôi đã trở thành quá vãng. Thời gian khách thể
bị phá vỡ, nhường chỗ cho thời gian của tâm trạng. Kỉ vật còn đó mà đối với tình yêu,
Kiều không hiện diện. Có nghĩa gì đâu khi “chút của tin” còn mà người thì đã mất.
Con đường trở về bằng kỉ vật đã không giúp được Kiều.
Kiều tìm đến con đường thứ hai, con đường trở về với tình yêu bằng linh hồn bất tử:
“Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”. Kiều những mong bằng sự trở về ấy nàng có thể trả
nghĩa Kim Trọng, nàng sẽ nhận được sự đồng cảm của người thương “Rưới xin giọt
nước cho người thác oan”. Thế nhưng, như có người đã nói, nếu trong thiên tình sử
xưa, giọt lệ Mị Nương rơi xuống chén trà và oan hồn Trương Chi được giải tỏa thì
trong “Đoạn trường tân thanh”, giọt lệ của chàng Kim không thể làm tan mối tình oan
khuất của nàng Kiều. Bởi sự trở về bằng linh hồn bất tử là sự trở về không có gặp gỡ.
Kết thúc đoạn thơ, yếu tố bi kịch không những không giảm mà còn được đẩy lên mức
cao hơn. Ấy là lúc sự trở về bằng linh hồn, sự trở về siêu hình bất lực trước những
cảm nhận thực tế của người con gái họ Vương. Kiều ý thức rất rõ về cái hiện sinh, cái
“bây giờ”: “Trâm gãy gương tan”, “Tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “nước chảy hoa trôi”.
Kiều ý thức về cái hiện hữu, cái “bây giờ” và Kiều càng thương mình. Ai nỡ trách
nàng sau khi thương người, vì người, nàng đã tự thương mình. Nàng có một chút vì
mình cũng không phải là vị kỉ mà vẫn là rất mực vị tha. “Vì người” thì hoàn toàn
không chút bóng dáng của đau thương cá nhân. Chỉ khi mọi sự “đối với người” đều
xong xuôi, bây giờ mới nhìn lại tấm lòng mình, tình cảnh mình. Nỗi đau của nàng sâu
nặng biết bao” (Lê Trí Viễn).
Tâm trạng bi kịch của Kiều càng sâu sắc khi trước sự chà đạp của số phận nàng vẫn
không thôi khát vọng về một tình yêu thiết tha, vĩnh viễn: “Kể làm sao xiết muôn vàn
ái ân”, “Trăm nghìn gửi lạy tình quân”. Sự hiện hữu của tình yêu làm Kiều quên đi sự
hiện hữu của người em gái. Đang từ đối thoại với Vân, Kiều trở về độc thoại nội tâm
và rồi nàng như hướng tất cả về Kim Trọng:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Trong một câu thơ, tên Kim Trọng được gọi đến hai lần, kèm theo là những thán từ
chỉ sự đớn đau, tuyệt vọng “ôi”, “hỡi”. Câu thơ trên ngắt nhịp 3/3 đọc lên như tiếng
nấc, để rồi đến câu thơ dưới nhịp thơ dài ra như một lời than. Lời trao duyên kết thúc
bằng một lời thân, bằng tiếng kêu đớn đau, tuyệt vọng. Tuy nhiên, tình yêu tan vỡ
nhưng khát vọng tình yêu được khẳng định. Đó là nét đẹp cao quý của tâm hồn Kiều,
là giá trị nhân văn bền vững của “Truyện Kiều”. Đoạn thơ có bi kịch, đau thương
nhưng không thê lương, đen tối, trái lại vẫn ngời lên ánh sáng niềm tin vào tình yêu, vào con người.
Đoạn thơ miêu tả một cơn khủng hoảng, một trận sóng gió tơi bời trong lòng người
con gái tội nghiệp Thúy Kiều. Nàng đau khổ, quằn quại đâu phải vì bản thân mình ?
Tất cả trái tim yêu thương nàng dành cho người yêu… Tấm lòng vị tha ấy cao đẹp biết
chừng nào! Thương người đằm thắm sâu xa, mong muốn cho người được hạnh phúc,
còn mình thì chấp nhận thiệt thòi, cam chịu hi sinh, tấm lòng ấy đã gây xúc động thật
sự trong lòng người đọc. Đó cũng là nét sáng ngời trong phẩm giá của Thúy Kiều,
khiến cho hàng sông mãi với thời gian. Đoạn thơ đồng thời cho ta thấy “sức cảm
thông lạ lùng” (Hoài Thanh) của nhà đại thi hào dân tộc đối với những khổ đau và
khát vọng tình yêu của con người. Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta còn thấy bút pháp
miêu tả nội tâm đặc sắc của đại thi hào. Bài văn mẫu 6
Nguyễn Du là một ngôi sao sáng trên nền trời thơ ca Việt Nam, ông còn là bậc thầy
trong cả việc miêu tả nội tâm nhân vật. Nguyễn Du đã viết truyện Kiều bằng cả niềm
say mê của mình, ông còn hóa thân trên từng nhân vật để cảm thấu nỗi khổ tâm tư của
con người. Chính vì thế cho nên trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật,đoạn Trao
Duyên là một trong những đoạn trích miêu tả rõ nhất về diễn biến tâm trạng thúy Kiều.
Đoạn trích là tiếng lòng đau xót và tê tái của Thúy Kiều khi phải chia lìa hạnh phúc
của mình. Nàng trao duyên cho em và nhờ em trả nghĩa cho Kim Trọng hộ mình.
Đoạn trích đã miêu tả một cách đầy đủ và sống động nhất về diễn biến tâm lí ngổn
ngang trong lòng Kiều. Bằng tài năng miêu tả của mình, Nguyễn Du đã làm dấy lên
trang thơ về một hình ảnh Kiều đa sầu đa cảm.
Mở đầu đoạn thơ, chúng ta đã thấy rõ lời nói dịu dàng ân cần của Thúy Kiều với Thúy Vân:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi đây cho chị lạy rồi sẽ thưa
Nàng không nhờ vân mà “cậy lời”. Trong lời nói của Kiều không chỉ có sự nhờ cậy
mà còn có cả sự nài ép van xin. Từng lời nói đó khiến cho chúng ta cảm thấy Kiều là một người khôn khéo.
Nhưng ở đằng sau đó ta còn nhận ra được cả sự mong ngóng và hi vọng của Kiều.
Tuy nhiên cái hay ở trong miêu tả nội tâm nhân vật không chỉ dừng lại ở đó, Kiều
không chỉ nhờ cậy Vân mà còn “lạy” rồi “thưa”, đó là nghịch lý. Việc mà Kiêu sắp nói
ra chắc là việc lớn quan trọng. Kiều đẩy Vân vào tình thế khó xử cho nên Vân vẫn
nhận lời. Tâm lí nhân vật được miêu tả đặc sắc cho thấy tâm tư sâu kín của nàng.
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
"đứt gánh tương tư”- chỉ với câu này chúng ta đã có thể cảm nhận được cuộc đời đầy
bi kịch và éo le của nàng. Cuộc tình của Kim Trọng với nàng còn đẹp đẽ là vậy thế
nhưng giờ đây sắp phải chia lìa nhau. Sự đau đớn và xót xa đó cho thấy Kiều bắt đầu
hồi tưởng lại những tháng ngày nàng hạnh phúc bên Kim Trọng.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Những kỉ niệm về sự hẹn ước và lúc ở bên nhau Thúy kiều không thể nào quên được.
Những ngày hạnh phúc đến thật nhanh nhưng cũng đi thật nhanh mà ta không thể ngờ
tới được. Kiều chưa kịp hưởng trọn thì đã tuột khỏi tầm tay
Có lẽ những kỷ niệm về Kim Trọng sẽ không bao giờ nhạt phai trong Kiều. Những
ngày tháng vui vẻ, hạnh phúc ấy đến thật nhanh mà đi cũng thật nhanh. Kiều chưa kịp
hưởng trọn nó thì hạnh phúc đã vụt khỏi tay nàng. Bài văn mẫu 7
Thường thì nam nữ yêu nhau thì trao duyên cho nhau nhưng Thúy kiều trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du lại tự trao duyên mình cho em gái. Ở đây hình thức trao duyên
khác với nam nữ trao duyên với nhau. Có thể nói qua đoạn trích Trao duyên ta có thể
thấy được hình ảnh của Thúy Kiều khi buộc phải trao duyên tình của mình cho Thúy Vân.
Trước hết, khi nhờ cậy Thúy Vân, hình ảnh Thúy Kiều hiện lên với dáng vẻ lạy van, nhờ vả:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Những từ ngữ như “cậy”, “lạy”, “thưa” cho thấy Thúy Kiều đang quỳ xuống trước
mặt Thúy Vân để cầu xin, để nhờ vả Vân thay mình nối duyên với chàng Kim Trọng.
Hành động ấy, lời nói ấy như những lời nhờ vả tha thiết mà cũng như khiến cho người
bị nhờ vả phải khó xử, không muốn nhận cũng phải nhận. Vì bình thường phận làm
chị sao lại quỳ dưới chân em mà lạy như thế. Với hình ảnh như thế, người đọc không
thể không xót thương cho nàng Kiều, nàng quỳ ở đó lạy em nhưng trong lòng chỉ
hướng tới mục đích là nhờ em trả tình trả nghĩa cho Kim Trọng thay mình.
Không chỉ xuất hiện với hình ảnh khúm lúm, lạy thưa Thúy Kiều còn xuất hiện với
hình ảnh tiều tụy, đau khổ:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Nàng như ngồi thẫn thờ giãi bày nỗi lòng mình cho em gái hiểu. Kể từ khi nàng gặp
chàng Kim hai người đã mến nhau và thề nguyện đủ điều. Tưởng rằng mối tình ấy sẽ
đơm hoa kết trái, tưởng chừng Kim Trọng sẽ trở thành một người bao bọc che chở cho
Kiều cả đời thế nhưng sóng gió bỗng ập đến gia đình Kiều buộc Kiều phải chọn một
trong hai chữ tình và hiếu. Vốn là một người con hiếu thảo nàng không thể để cha
chịu oan ức trong trốn lao tù, nàng đành phải bán mình chuộc cha. Thế nên giờ đây
mang tiếng phụ bạc tình Kim, chỉ mong Vân có thể thay mình nối duyên với chàng.
Dù có chết đi thì nàng cũng cam lòng. Qua từng câu thơ người đọc có thể tưởng tượng
được hình ảnh của Thúy Kiều hiện lên với đôi mắt sâu thẳm nói chuyện quá khứ, nói
chuyện hiện tại và nói đến cả tương lai.
Nói đoạn nàng trao những kỉ vật tình yêu cho em gái mình với bộ dạng lưu luyến,
không muốn đưa mà buộc phải đưa:
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai
Nàng mong Thúy Vân xót chị mà chấp nhận mối duyên với Kim Trọng nhưng cũng
mong Thúy Vân coi những kỉ vật này là của ba người. Nàng thẫn thờ hình dung đến
cái chết của mình, mai sau dù hai người có thành vợ chồng thì cũng hãy nhớ đến
người chị này. Người dù có chết thì hồn vẫn giữ nguyên lời thề xưa.
Cuối cùng nàng gọi tên chàng Kim, nàng lạy chàng với tất cả tình yêu và lời xin lỗi chân thành:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi!
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Ôi Kim Lang! hỡi Kim Lang!
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây.
Hình ảnh Thúy Kiều hiện lên thật đáng thương, người con gái xinh đẹp tài sắc là thế,
nàng có một mối tình trong sáng đẹp đẽ là thế, vậy mà nàng bỗng dưng trở thành kẻ
phụ tình. Thường thì người ta phụ tình người ta đâu có buồn thế mà ở đây Thúy Kiều
phụ tình lại buồn, lại đau đến thế. Rõ ràng xã hội bất công kia đã đày đọa, dập vùi tình yêu của người con gái.
Có thể nói nhà thơ Nguyễn Du đã xây dựng thành công hình ảnh Thúy Kiều trong
đoạn trích Trao duyên. Không trực tiếp nói đến điệu bộ của nàng một cách chi tiết
nhưng qua những câu thơ nặng trĩu tâm trạng ta cũng phần nào thấy được hình ảnh
của Thúy Kiều khi quyết định trao duyên cho Thúy Vân. Bài văn mẫu 8
Kiều là một cô gái xinh đẹp mặn mà sắc sảo thế nhưng chính cái xã hội đen tối phong
kiến kia đã làm cho Kiều có cuộc đời gian truân sóng gió. Có thể nói nhà thơ Nguyễn
Du thông cảm sâu sắc với số phận ấy lắm thì mới có thể kể chi tiết về cuộc đời của
người con gái xinh đẹp tài năng ấy được.
Trước khi Kiều trở thành món hàng của phường buôn thịt bán người. Kiều đã nhớ đến
người yêu của mình là Kim Trọng và nhờ Thúy Vân đền đáp nghĩa tình với chàng
Kim thay mình. Đoạn trích Trao duyên đã thể hiện tâm trạng của Kiều khi quyết định trao duyên cho em.
Duyên là một thứ trời xe, trời định, những người yêu nhau ắt hẳn được xe duyên. Thế
mà ở đây Kiều tự thay trời trao duyên của bản thân mình cho em thì có thể được
không? Mà duyên thì là yêu nhau mới có huống chi Thúy Vân cùng chàng Kim có yêu
nhau đâu. Mặt khác trong sâu thẳm trái tim của Kiều thì việc trao duyên kia không hề
dễ, phải trao đi người mà mình yêu thương thì làm sao có thể vui được. Tuy nhiên thì
ở đây Kiều vẫn phải tước quyền của ông Tơ bà Nguyệt, bỏ qua những cảm xúc của
bản thân mình để quyết định trao duyên cho em.
Trước hết là mười bốn câu thơ đầu nói lên việc Thúy Kiều quyết định trao duyên cho em mình là Thúy Vân.
Thứ nhất là Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình. Nỗi bất hạnh ấy chỉ có Thúy
Vân mới thay thế được Kiều cũng chỉ có Thúy Vân mới giúp Kiều an tâm về chuyện chàng Kim được:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Tác giả dùng từ thật hay khi nói đến việc trao duyên của nàng Kiều cho Thúy Vân. Là
một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế nhưng ở
đây Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm chân
tình với Kim Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” đó chính là thái độ của
người dưới dành cho người trên nhưng ở đây thì lại là chị dành cho em. Dùng ngôn
ngữ như thế tác giả có ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành
khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng Kim.
Trước sự cậy nhờ ấy để thêm phần thuyết phục Vân đồng ý thì Kiều đã tâm sự với em
về những nỗi tơ vương sầu muộn đang bủa giăng trong lòng nàng. Và chỉ có Thúy
Vân mới có thể giúp đỡ Kiều chứ không có ai khác cả:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”
Nàng ngậm ngùi mà rằng nàng đã trót thề nguyền cùng người con trai tên Kim Trọng
ấy mà giờ đây tình yêu vừa mới chớm đến lại đứt gánh tương tư giữa đường. Còn tại
sao đứt gánh thì có lẽ Vân cũng hiểu. Chính vì thế mà Kiều mong Vân chấp nhận sự
cậy nhờ của mình mà chắp mối tơ loan với chàng Kim Trọng. Sự ngậm ngùi ấy được
phát ra từ những câu thơ trên. Có thể nói để cất lên những tiếng cậy nhờ kia thì quả
thật Kiều cũng đau đớn lắm. Dù cho là chị em nữa nhưng phải gượng ép trao đi thứ
mình không muốn trao và thứ mà người ta không muốn nhận thì chẳng khác nào mất
đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy Kiều cậy nhờ mình
chứ nào đâu hiểu hết được “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
Tiếp đến Kiều thể hiện hoàn cảnh của bản thân mình và cuộc sống của Vân để làm
cho lời cậy nhờ kia nặng hơn khiến cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!”
Khi cậy nhờ em xong thi Kiều lại quay về cảm giác một mình và cái sự một mình ấy
đã khiến cho nàng nghĩ đến những chuyện trước đây, tâm trạng của nàng bắt đầu được
bộc lộ rõ ràng hơn. Thứ nhất là Kiều mong muốn trong tuyệt vọng quay về với người yêu của mình:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Chiếc vành với tờ mây kia chính là những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng
nhau thề nguyền sống chết, họ đã có với nhau những ngày tháng hạnh phúc những
niềm vui tràn ngập vậy mà giờ đây cái xã hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu mà hi
sinh chữ tình. Thôi thì nàng quyết định giữ cái duyên còn vật kia thì thành của chung.
Mai này khi Vân và Kim Trọng có nên duyên vợ chồng thì cũng mong hãy nhớ đến
Kiều. Rồi là phím đàn với mảnh hương thề nguyền ngày nào cũng là những kỉ vật tình
yêu của Kiều và Kim Trọng. Thế nhưng Nguyễn Du không để những kỉ vật ấy cùng
một câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng
Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng
như cố níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho
Vân những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào mà đền đáp tấm ân tình của
chàng Kim Trọng được. Có thể nói qua những câu thơ trên tâm trạng của Thúy Kiều
được thể hiện thật sự rất rõ nét. Đó chính là tâm trạng mong muốn trở lại những ngày
tháng trước đây, đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy.
Những tưởng Thúy Kiều trao duyên xong sẽ cảm thấy thanh thản phần nào những trái
lại giây phút kết thúc sự trao duyên ấy lại là giây phút Kiều đau nhất. Có lẽ trong sâu
thẳm trái tim Kiều một khi đã trao duyên thì tức không phải của mình nữa. Tình yêu
bấy lâu nay bỗng chốc không phải là của mình nữa. Kiều đau như chết lặng đi trong
sự đau đớn đang giày xé con tim mình:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan”
Kiều nghĩ đến cái chết và Kiều ngẫm rằng kể cả khi nàng chết đi thì những lời thề kia
cũng không thể nào quên được. Và sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của
Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật sự đau oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần
không thể siêu thoát. Mai sau khi Vân Trọng nên duyên thì cũng đừng quên Kiều. Nếu
thấy hiu hiu gió thì có thể cảm nhận là nàng đang về. Nàng mượn cơn gió kia để đưa
hồn mình về thăm Vân Trọng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều có nát thân
liễu yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong Kim
và Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan là Thúy Kiều. Có thể nói cuộc sống
của con người ai mà chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự
cảm thấy rất đau khổ không thể nào có thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ
đến. Kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con đường mà nàng
sắp đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.
Như vậy qua bài thơ ta thấy được tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên cho em gái
mình. Cái xã hội phong kiến kia đã khiến cho chữ tình chữ hiếu bị đặt lên bàn cân và
buộc người con gái hiếu thảo kia phải lựa chọn. Mà vốn dĩ chữ hiếu và chữ tình không
thể nào đem ra cân được. Chữ hiếu làm tròn thì chữ tình kia lại đành thất hẹn, làm trái
lời thề. Chính bởi lẽ ấy mà Kiều cảm thấy rất đau đớn thậm chí cô đã nghĩ đến cái chết. Bài văn mẫu 9
Nguyễn Du là Đại thi hào của dân tộc với rất nhiều tác phẩm văn chương để đời.
Trong đó phải kể đến Truyện Kiều được coi là kiệt tác văn học. Trong đó, đoạn trích
Trao Duyên – Truyện Kiều là đoạn trích hay, đắt giá. Đoạn trích là tiếng lòng đau xót
và tê tái, tâm trạng đau khổ giày xé của Thúy Kiều khi chìa lìa hạnh phúc. Bằng bút
pháp miêu tả nội tâm sâu sắc mà Nguyễn Du đã tái hiện được đầy đủ tâm trạng giằng
xé của Thúy Kiều khi vì chữ Tình mà dỡ lở cuộc đời.
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”.
Trong không gian đêm khuya tĩnh mịch, Thúy Kiều gọi Thúy Vân vào để nhờ cậy em.
Nàng biết rằng, việc nhờ em chuyện này là vô cùng khó khăn nên tác giả phải sử dụng
từ “Cậy” để cho thấy sự chân thành của Nàng. Đặc biệt “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ
thưa”, Thúy Kiều đã đưa Thúy Vân lên một tầm cao mới và mong muốn, lạy lục em
chuyện mình nhờ vả. Điều này cho thấy, Thúy Kiều là người hiểu chuyện thế nào.
Trong tình huống này, có lẽ nàng cũng hiểu chỉ có một mình Thúy Vân mới có thể
giúp được nàng vì vậy nàng đem hết tâm gan, ruột gan ra để nhờ Thúy Vân.
Giữa đường đứt mối tương tư.
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ.
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài.
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn.
Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây.”
Trong lần tâm sự này, Thúy Kiều kể về mối tình của nàng với Kim Trọng. Mối tình
vừa chớm nở đã lụi tàn. Tình cảm đang mặn nồng đành phải chia xa. Mà nguyên nhân
sâu xa chính là do biến cố gia đình. Giữa chữ Tình và Hiếu, làm sao trọn vẹn cả hai?
Không có nỗi đau nào đau hơn khi Thúy Kiều đành phải buông bỏ chữ Tình vì chữ
Hiếu. Kiều mong sao Thúy Vân cũng có thể hiểu cho nỗi lòng của nàng, đồng ý để
nàng se xuyên với Kim Trọng “tình chị duyên em”. Để rồi, nếu nàng có chết cũng
mỉm cười nơi chín suối. Điều này cho thấy, nàng còn đem cả cái chết ra để thuyết
phục em. Có lẽ chỉ khi bị đẩy vào bước đường cùng, con người ta mới phải tìm cái
chết để “ép” nhau. Càng phân tích càng thấy sự tổn thương, giày xé và bế tắc của Thúy Kiều.
Sau khi Thúy Vân đã nhận lời, Thúy Kiều bắt đầu trao em những kỉ vật tình yêu:
Chiếc trâm với bức tờ mây.
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng.
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin.
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Phân tích tâm trạng thúy kiều trong đoạn trích trao duyên Trao kỷ vật cho em mà lòng
nào nặng trĩu. Từng câu chữ, từng lời nói như đá nặng trong tim. Những kỉ vật mới
hôm nào của riêng đôi ta giờ đây đã thành của chung. Mối tình mới ngày nào còn
đang đẹp vậy mà giờ đã dang dở. Nhưng nàng vẫn một lòng se duyên cho em để trọn
nghĩa tình. Và dù sau này em có nên vợ chồng cũng xin đừng quên người chị bạc
mệnh này. Có lẽ, Thúy Kiều càng nói càng xót xa cho thân phận Hồng nhan bạc mệnh
của mình. Tình yêu đã ở trong tay vậy mà giờ lại bẽ bàng thế này. Chỉ nghĩ đến lúc
khi Thúy Vân và Kim Trọng bên nhau nàng chỉ là oan hồn phất phơ mới đau xót làm sao.
Mai sau dù có bao giờ.
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây.
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Dường như Thúy Kiều đã nhìn thấy tương lai của mình. Có lẽ cuộc đời nàng sau này
đen tối và không còn lối thoát. Có lẽ chẳng sớm thì muộn nàng cũng cô quạnh và nếu
chết đi cũng chỉ là oan hồn cô đơn mà thôi. Nếu ở những câu thơ trong trao kỉ vật thì ở
câu thơ này tâm trạng xót xa, đau đớn, bẽ bàng càng được thể hiện ra. Đoạn thơ nhắc
đến những kỉ niệm tình yêu mà day dứt. Day dứt vì không trọn vẹn khiến trong tưởng
tượng thôi cũng xót xa vô cùng. Thúy Kiều chỉ muốn nhắc Thúy Vân xin đừng quên
nàng, nếu lỡ âm dương cách biệt thì cũng hãy nhớ đến chị : “Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”.
Hồn còn mang nặng lời thề.
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời.
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Chỉ tưởng tượng thôi cũng đã thấy xót xa. Nếu đoạn trên là mong ước cho Thúy Vân
nhận lời se duyên với Kim Trọng thì đoạn sau lại là nỗi lòng xót xa của Thúy Kiều.
Dường như, sau khi lo cho em và cha mẹ xong, Thúy Kiều mới bắt đầu nghĩ đến cuộc
đời mình. Thế là hết! Hồng nhan bạc mệnh, trâm vỡ bình tân. Hi sinh chữ Tình để vì
chữ Hiếu bán thân chuộc cha, lo cho em gái có một tấm chồng như ý suốt đời. Khi
mọi việc đã lo xong thì giờ đây nàng mới nghĩ đến mình, mới nghĩ đến mối tình chớm
nở đã tàn, mối tình khắc cốt ghi tâm với bao lời thề ước. Vậy mà giờ cũng không thể
đến với nhau. Có lẽ, ngay cả khi Thúy Kiều chết đi nàng vẫn nhớ đến những lời thề
năm xưa. Chỉ mong, nếu nàng có chết cũng xin được giọt nước cho người thác oan.
Những lời tâm sự của Kiều dường như rơi vào nửa tỉnh nửa mê. Lúc đầu nàng nhờ cậy,
lạy lục em, khi em đồng ý nàng mới như bừng tỉnh nghĩ cho cuộc đời mình. Nàng mới
càng nhớ da diết đến Kim Trọng, càng tiếc thương cho mối tình trong sáng, ngọt ngào vừa mới đây thôi:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang.
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây.
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng
Nàng thốt lên Ôi Kim Lang, hỡi Kim lang nghĩa là nàng đã coi Kim Trọng là phu
quân là tình lang của mình. Nhưng từ nay, vì chữ Hiếu nên xin phụ Tình. Sau khi thốt
ra nỗi lòng nhớ nhung của mình cũng là lúc trái tim nàng đã nguội lạnh, tâm hồn đã
chết, cả người băng giá. Mất đi Kim Trọng cũng như mất đi một nửa cuộc đời. Nàng
đã xác định cuộc đời phía trước là bể dâu, nước đẩy thuyền trôi không thể cưỡng cầu.
Chỉ một đoạn trích Trao Duyên ngắn nhưng Nguyễn Du đã lột tả chi tiết và sâu sắc
tâm trạng đau đớn của Thúy Kiều. Một bên Hiếu – một bên Tình nàng phải lựa chọn
sao cho thỏa đáng, nàng phải hi sinh hạnh phúc cá nhân vì gia đình. Một người con
gái mới lớn, chưa trải sự đời, chưa biết sóng gió bên ngoài ra sao mà phải chấp nhận
bán thân vào lầu xanh cho thấy sự hi sinh của nàng lớn thế nào. Và cũng cho thấy
nàng bế tắc thế nào. Những hình ảnh sử dụng trong đoạn trích vừa ma mị, vừa hư ảo,
hiện tại quá khứ đan xen khiến cho tâm trạng của Kiều càng rối bời, nửa mê nửa tỉnh,
nửa nhớ thương nửa đau đớn.
Đoạn Trao Duyên trong Truyện Kiều chính là một khúc Đoạn Trường bậc nhất trong
cuộc đời Thúy Kiều. Đây chính là đoạn trường đầu tiên nàng bước vào để rồi kéo dài
triền miên những ngày tháng tê dại, đau khổ và bế tắc. Nguyễn Du đã tái hiện thành
công những ngổn ngang đau đớn của Kiều khi hi sinh tình yêu của mình để mang lại
hạnh phúc cho gia đình. Tưởng rằng, đây là hành động vô lý của Thúy Kiều nhưng nó
lại có giá trị nhân văn sâu sắc và thể hiện tình yêu một lòng một dạ, chân thành với Kim Trọng. Bài văn mẫu 10
Trao Duyên là một trong những đoạn thơ có ý nghĩa vô cùng đặc biệt trong Truyện
Kiều của nhà thơ Nguyễn Du. Đoạn thơ khắc họa được rõ nét nhất tấn bi kịch của
cuộc đời Thúy Kiều. Khi vì chữ Hiếu mà nàng phải quên đi chữ Tình quên đi hạnh
phúc của đời mình đành dang dở. Bằng bút pháp miêu tả nội tâm tài tình Nguyễn Du
đã cho chúng ta thấy được tâm trạng giằng xé đầy đau khổ của Thúy Kiều.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”.
Trong không gian tĩnh mịch đêm khuya vắng. Thúy Kiều gọi Thúy Vân đến khẩn thiết
cậy nhờ em. Nàng biết rằng điều mình nói ra đây thật sự rất khó khăn nên mới phải sử
dụng từ “cậy em”. Sau đó rồi đưa Thúy Vân lên một tầm cao hơn đó là ngồi lên trên
để chị “lạy rồi sẽ thưa”. Chỉ hai câu thơ đầu thôi mà chúng ta đã thấy được Thúy Kiều
là người hiểu chuyện như thế nào khi lường trước được việc mình cậy nhờ em sẽ thật
sự khó khăn nên muốn đưa em vào thế không thể chối từ.
Trong niềm đau đớn của bản thân, Thúy Kiều cố gắng phân bày với em việc tại sao
mới có lý do cậy nhờ ngày hôm nay:
"Giữa đường đứt mối tương tư.
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ.
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài.
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn.
Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây.”
Nàng kể về mối tình nồng thắm của mình với Kim Trọng vừa mới chớm nở nay đã
phải lụi tàn vì hoàn cảnh gia đình. Không còn nỗi đau khổ nào hơn khi vì chữ Hiếu mà
phải dứt bỏ chữ Tình với chàng Kim. Vì thế Thúy Kiều cũng mong Thúy Vân thấu
hiểu cho nỗi khổ của mình mà nhận lời chắp nối tơ duyên với Kim Trọng. Nếu Thúy
Vân nhận lời làm việc đó thì dù có chết Thúy Kiều cũng vẫn biết ơn em. “Ngậm cười
chín suối vẫn còn thơm lây”. Nàng đã lấy cả cái chết ra để thuyết phục em gái nhận lời cậy nhờ của mình.
Sau khi Thúy Vân đã nhận lời giúp chị Thúy Kiều bắt đầu trao cho em những kỷ vật
tình yêu. Lúc này tâm trạng đau khổ giằng xé của nàng được tác giả Nguyễn Du khắc họa rất rõ nét.
Chiếc trâm với bức tờ mây.
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng.
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người còn chút của tin.
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Trong giờ phút trao duyên mọi kỷ niệm lại sống dậy mãnh liệt trong tâm trí Thúy Kiều.
Ngỡ như tình yêu chỉ mới hôm qua đây khi nàng vừa gặp Kim Trọng vừa trao nhau
những lời thề nguyền ước hẹn. Trao duyên nhưng kỷ vật đấy được xem là của chung.
Và sau này khi em có nên vợ nên chồng với chàng Kim cũng đừng quên chị. Càng nói
Thúy Kiều càng xót xa cho thân phận hồng nhan bạc mệnh của mình. Khi mà có được
tình yêu trong tay rồi mà vì biến cố gia đình lại bị tuột mất. Nàng chới với không biết
bám víu vào đâu nên tưởng tượng đến lúc Thúy Vân và Kim Trọng bên nhau mà lúc
đấy nàng chỉ như một oan hồn vật vờ trong gió vương vấn trên phím đàn và mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ.
Đốt lò hương ấy so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây.
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Nếu như ở đoạn thơ đầu Thúy Kiều nói chỉ cần Thúy Vân nhận lời trao duyên thì
mình ở nơi chín suối cũng ngậm cười thơm lây. Thì đến đoạn thơ này khi nhắc đến
những kỷ niệm tình yêu với chàng Kim nàng càng day dứt. Nàng day dứt vì tình yêu
không trọn vẹn. Thúy Kiều cảm thấy nỗi xót xa vô hạn dù chỉ là tưởng tượng thôi
cũng khiến người ta cảm thấy thương cảm. Đúng là “trâm gãy bình tan” tơ duyên ngắn
ngủi vừa nở đã tàn. Thúy Kiều chỉ xin em dù có thế nào nếu có âm dương cách biệt
hãy cho chị xin giọt nước cho người thác oan.
Hồn còn mang nặng lời thề.
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời.
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Với Thúy Kiều dù có chết nàng cũng không bao giờ quên được tình yêu với Kim
Trọng. Nên dù “thác xuống” nàng vẫn đau đáu với tình yêu chưa trọn vẹn. Nàng đã phải thốt lên:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang.
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây.
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng
Thúy Kiều đã phải thốt lên “ôi Kim Lang” nghĩa là nàng đã coi chàng Kim Trọng như
phu quân của mình là tình lang trong mộng. Nhưng từ nay cũng chỉ vì chữ Hiếu mà
phải phụ chàng từ đây.
Đoạn thơ kết thúc với tâm trạng đau khổ cùng cực của Thúy Kiều. Ta thấy Nguyễn Du
thật sự rất tài tình khi đã lột tả chân thực được nỗi niềm của Thúy Kiều trong đoạn
trích Trao Duyên. Ở đó có cả sự mạnh mẽ của quân tử cũng có sự yếu đuối của nữ nhi
thường tình khi phải rời xa tình yêu khắc cốt ghi tâm của mình. Một tâm trạng giằng
xé đau khổ mà không phải ngòi bút nào cũng có thể lột tả được. Bài văn mẫu 11
Mười năm lưu lạc của Thúy Kiều là một tấn bi kịch triền miên chất chứa bao nỗi đau
đớn, thảm sầu. Mối tình đầu đẹp đẽ, trong sáng giữa nàng với Kim Trọng đã sớm bị
sóng gió cuộc đời làm cho tan vỡ. Sau khi bán mình chuộc cha để báo đền chữ hiếu,
Kiều đã âm thầm khóc thương cho lời nguyền vàng đá với chàng Kim. Nàng đành cậy
Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng. Trao duyên là nỗi đau đớn, nỗi đau đầu đời
của người con gái tài sắc - Thúy Kiều.
Trong đêm gia biến: Một mình nàng ngọn đèn khuya, Áo đẫm giọt lệ tóc se mái sầu.
Nàng sống với tâm trạng đầy sóng gió và mặc cảm. Trước sự thực phũ phàng là ngày
mai nàng sẽ thuộc về tay kẻ khác, Kiều cảm thấy như chính minh là thủ phạm gây ra
nỗi bất hạnh cho Kim Trọng. Nàng thương mình một nhưng thương người yêu mười
nên cắn răng cam chịu số phận đen bạc của mình: Phận dầu, dầu vậy cũng dầu để nghĩ
đến nỗi đau của Kim Trọng:
Công trình kẻ biết mấy mươi
Vì ta khăng khít cho người dở dang!
Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa
Thúy Kiều mang nặng mặc cảm là người có lỗi. Nàng tự trách mình khăng khít, khiến
cho người dở dang. Đúng ra là cả hai chủ động tìm đến nhau, yêu nhau và tự nguyện
gắn bó với nhau. Kiều có mặc cảm đó là vì nàng luôn nghĩ đến người khác, ngay cả
trong lúc đau thương tột bậc.
Một mình một bóng, đối diện với tâm trạng rối bời, tan nát, Kiều chỉ biết âm thầm
khóc than cho gia cảnh, cho duyên phận. Đắn đo, suy tính trước sau, nàng thấy chỉ
một cách có thể cứu vãn phần nào cho mối lương duyên của mình, đó là trao duyên
cho em gái. Và Kiều đã trao duyên cho Thúy Vân khi cô em vô tư ấy vừa chợt tỉnh giấc xuân.
Thấy Kiều khóc lóc ủ ê, Thúy Vân gạn hỏi nguyên do và cũng lờ mờ đoán biết chị
mình đang mắc mối tình chi đây. Kiều trao duyên cho em mà trong lòng băn khoăn, bối rối:
Rằng: lòng đương thổn thức đầy
Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong
Hở môi ra cũng thẹn thùng
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai.
Nàng thẹn thùng khó nói vì còn vướng mối tơ duyên với chàng Kim - mối tình mà chỉ
hai người biết với nhau. Ngỏ chuyện riêng tư với người khác, cho dù là em mình đi
nữa cũng không phải là điều dễ dàng. Hơn nữa, đây không phải là tình yêu thoáng qua
mà đã thề nguyền vàng đá, kết giải đồng tám; nó trở thành thiêng liêng, khó có thế đổi
thay. Nay nhờ Vân thay thế mình, Kiều sợ chắc gì Vân đã nhận lời.
Kiều lâm vào tình thế khó xử; không nói không được mà nói ra thì e ngại. Bởi thế nên
nàng đắn trước đó sau, băn khoăn, ngập ngừng mãi rồi mới thốt ra được một câu khiến
người ngoài cuộc nghe cũng phải mủi lòng.
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lèn cho chị lạy rồi sẽ thưa
Lời gì vậy? Đó là lời nhờ Vân thay chị nối tình với chàng Kim. Đề nghị ấy thật bất
ngờ ngay cả đối với Thúy Kiều bởi trước đó nàng chưa hề nghĩ đến. Cả một đêm thức
trắng, nàng đâu có nghĩ ra điều này. Nàng chỉ có đau khổ, giày vò. Nhưng từ lúc Thúy
Vân thức giấc và tỏ ra thương chị, nàng như vụt thấy một làn chớp sáng: Đây rồi, cô
em gái này có thế' giúp mình trả món nợ tình. Đề nghị ây cũng bất ngờ đối với Thúy
Vân bởi nó quan trọng quá, nó ảnh hưởng đến cả cuộc đời. Nhận lời lấy một người
đâu có dễ dàng, đơn giản như nhận một món quà? Vậy dựa vào đâu mà Thúy Kiều
dám đề ra ý kiến ấy và hầu như ép Thúy Vân phải nhận lời? Chỉ có cơ sở duy nhất
đúng đắn là tình thương. Chị thương em. tin rằng em sẽ nghe lời. Chị cũng biết em
thương chị, không lỡ trái ý chị. Còn em, tuy chẳng hiểu đầu đuôi ra sao nhưng lại thật
tình thương chị riêng gánh chịu nỗi oan khổ của cả gia đình, lại đang đau xót vì môi tơ
duyên đứt đoạn nên dù chưa kịp nghe hết lời giãi bày, chắc cũng đã thấu hiểu lòng chị.
Người ta hỏi: Tại sao Thúy Kiều không dùng từ nhờ mà lại dùng từ cậy? Không dùng
từ nhận mà lại dùng từ chịu? Chính vì giữa các từ ấy có một sự sai biệt khá tinh vi.
Đặt nhờ vào chỗ cậy, không những thanh điệu câu thơ sẽ nhẹ đi, âm thanh không dọng
ở chữ thư nhất của câu thơ nữa mà còn giảm đi cái quằn quại khó nói của Kiều, cái ý
nghĩa hi vọng thiết tha của một lời trối trăng, ý nghĩa nương tựa, gửi gắm của một tấm
lòng tuyệt vọng, ý nghĩa tin tưởng vào tình cảm ruột thịt. Giữa chiu và nhận thì dường
như còn có vấn đề tự nguyện hay không tự nguyện nữa. Nhận lời có lẽ có nội dung tự
nguyện: còn chịu lời thì hình như chỉ có một sự nài ép phải nhận vì không nhận không
được. Trong tình thế của Thúy Vân lúc bấy giờ, chỉ có chịu lời chứ làm sao nhận lời được?
Câu thơ sáu chữ giản dị mà chứa đựng tất cả chiều sâu của một tình thế phức tạp. Điều
đó càng làm cho nó có dáng dấp như một lời cầu nguyện.
Kiều yêu cầu Thúy Vân: Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa vì nàng coi sự chịu lời của
Thúy Vân là một hành động hi sinh. Đối với cử chỉ hi sinh ấy thì chỉ có kính phục và
biết ơn. Thúy Kiều lạy em là lạy sự hi sinh cao cả ấy.
Trong những giây phút đau đớn, tội nghiệp này, Kiều vẫn quên mình để suy nghĩ đến
người yêu. Nỗi buồn của nàng cần phải được san sẻ cho vơi bớt.
Sau cái phút ban đầu khó nói, giờ đây nàng bộc bạch với em gái về mối tình đẹp đẽ mà dang dở của mình:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Tâm sự về nỗi khó nghĩ, khó lựa chọn giữa tình và hiếu:
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Là người con có hiếu, Kiều đã bán mình để lấy ba trăm lạng cứu cha và em khỏi vòng
tội tù oan nghiệt. Chữ hiếu nàng đã đáp đền, còn chữ tình vẫn canh cánh bên lòng như
một món nợ nặng nề khó trả:
Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan
Ý nghĩa này cho thấy Thúy Kiều đau khổ biết chừng nào và cũng cao cả biết chừng
nào! Nàng van lơn em gái hãy xót tình máu mủ thay lời nước non mà bằng lòng kết
duyên với chàng Kim. Nhắc tới chàng, Thúy Kiều càng sầu, càng tủi cho thân phận.
Tưởng chừng như nỗi đau theo nước mắt tuôn rơi:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Tưởng tượng ra cái chết thê thảm cũng là biểu hiện của sự thương thân, nhưng Kiều tự
an ủi rằng vong hồn mình nơi chín suối hãy còn thơm lây với cái đạo đức thơm tho
của em. Kiều nói với em những lời gan ruột như thế, hỏi Thúy Vân sao nỡ chối từ?
Ngôn ngữ của Kiều ở đoạn này là ngôn ngữ của lí trí. Tuy Kiều là cô gái rất giàu tình
cảm nhưng đối với chuyên trọng đại của cả một đời người này, nàng không thể dùng
tình cảm của mình mà thuyết phục được em. Phải bình tĩnh mà dùng lí lẽ, phân tích
thiệt hơn, phải trái để em hiểu mà bằng lòng giúp.
Trước lời nói có lí, có tình thiết tha của Thúy Kiều, Thúy Vân chỉ còn biết im lặng
lắng nghe và như thế có nghĩa là nàng chấp nhận. Đến đây Thúy Kiều mới nhẹ lòng và
nàng lấy kỷ vật tình yêu giữa mình với Kim Trọng ra trao cho em gái:
Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Nếu như ở đoạn trên, Kiều kể mối tình cho em nghe bằng giọng điệu cố lấy vẻ bình
tĩnh thì đến lúc này, trao lại kỷ vật cho em, nàng cảm thấy đã mất hết nên không thể
kìm nén được tình cảm của mình nữa, trái tim đa cảm bắt đầu lên tiếng. Nàng nói:
Chiếc vành với bức tờ mây vẫn bằng tiết tấu của mấy câu thơ trên, nhưng đến câu:
Duyên này thì giữ vật này của chung nghe như đã có tiếng nấc nghẹn ngào ở trong đó.
Duyên này là duyên giữa Thúy Vân với Kim Trọng, phần nàng đã hết. Duyên chị đã
trao lại cho em, những kỷ vật này xin em hãy coi có một phần của chị, nó là của chung.
Rò ràng lí trí buộc nàng phải dứt tình với chàng Kim nhưng tình cảm của nàng thì không thể.
Mối tình đầu thơm, tho, ngọt ngào nhường ấy, bỗng chốc bảo quên, quên làm sao
được? Gửi lại trong chút kỷ vật này vậy. Giữa lúc tột đỉnh đau thương, Kiều vẫn cố
tìm lấy một chút an ủi. Sau đó, Kiều để mặc cho tình cảm tuôn tràn. Nàng nói với em
bằng tiếng nói khác của lòng mình. Ngôn ngữ nàng không còn cái. mạch lạc, khúc
chiết của lí trí nữa mà thuần là của tình cảm, của cả ảo giác. Càng nói càng xót xa cho
duyên phận bất hạnh của mình. Nàng nói rõ mình mệnh bạc, tình mình mất đi và bao
nhiêu nỗi niềm ngày xưa nay chỉ còn có phím đàn với mảnh hương nguyền:
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin giọt nước cho người thác oan.
Động đến tương lai chắc chắn mù mịt, nàng đâu còn giữ được sự yên ổn trong lòng
phút giây trước đó. Như người lội nước hụt chân rớt xuống vực sâu, Kiều chới với
không biết bám víu vào đâu. Kiều tưởng tượng đến lúc Vân và chàng Kim nên vợ nên
chồng, đến cõi hư không mà nàng chỉ là một mảnh hồn oan vật vờ theo ngọn gió hiu
hiu trên ngọn cỏ lá cây nhưng vẫn vướng chặt với tiếng tơ trên phím đàn và mùi
hương của mảnh trầm ngày xưa và vẫn còn mang nặng lời thề, lời nguyền nát thân bồ
liễu đền nghì trúc mai cho người. Nàng đinh ninh mình sẽ là một hồn oan trong cõi
chết và dặn em rưới cho giọt nước làm phép tẩy oan. Có mâu thuẫn không?
Trên kia Thúy Kiều đã chẳng nói là nếu được Vân giúp cho thì dù thịt nát xương mòn
nàng vẫn ngậm cười chín suối là gì? Nghĩa là trả được món nợ tình, nàng sẽ hết giày
vò vì đã lo cho người yêu chu tất. Thế mà chỉ trong giây lát tưởng tượng, .nàng đã trở
lại với bao nỗi xót xa còn nặng nề hơn trước. Chút yên lòng đã bay đâu mất!
Đúng là có mâu thuẫn nhưng không phải trước sau hoàn toàn chỉ có một vấn đề.
Trước, nàng đau khổ vì người; nay lo cho người đã xong, nàng mới nghĩ đến mình và
thấy mình mệnh bạc, thấy mình sẽ mất tất cả. Nàng không chỉ chới với trong tương lai
mịt mù, oan nghiệt. Nàng không còn ở trạng thái tỉnh táo bình thường mà như nửa tỉnh
nửa mê, nửa phần là người sống, nửa phần là hồn ma. Và tuy vẫn đối thoại với Vân
nhưng lời nàng phảng phất như lời từ cõi bên kia vọng về.
Đoạn thơ cùng chợt đổi giọng. Hình ảnh âm điệu như chập chờn bay hết nét thật, có
cái gì đó thật hư ảo: thời điểm không xác định (mai sau, bao giờ), không khí linh
thiêng (đốt lò hương, so tơ phím của người xưa để lại) hình ảnh phất phơ, ma mị
(ngọn cỏ lá cây, hiu hiu gió...) Tất cả đều nói lên rằng Kiều tiếp tục khổ đau và càng khổ đau gấp bội.
Theo đà nửa tỉnh nửa mê, đang nói chuyện với Vân, Kiều bỗng nói một mình, nói với
mình về sự dở dang duyên phận. Đúng là cảnh trâm gãy bình tan, tơ duyên ngắn ngủi.
Đúng là phận bạc như vôi và đành phải chấp nhận cảnh nước chảy hoa trôi lỡ làng mà
trái tim như tan ra từng mảnh. Nàng đành chịu tội với chàng Kim, đành gửi chàng
muôn nghìn cái lạy. Đau đớn quằn quại đến mức Kiều phải nấc lên:
Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây
Tiếng nấc nghẹn ngào ấy khẳng định một lần nữa mặc cảm có tội của Kiều. Nghĩa là
nàng phủ nhận tất cả những gì đã nói với Vân, những gì đã làm cho chàng Kim, phủ
nhận nỗi yên tâm của mình trong khoảnh khắc trên kia. Nghĩa là nàng tuy có đau thêm
cho mình nhưng vẫn một mực đau cho người, vì người. Nỗi đau không đơn giản mà
tăng lên gấp bội. Nàng gọi tên chàng Kim như trong cơn mê sảng. Nỗi đau đã lên đến
tột đỉnh, quá sức chịu đựng của thể xác:
Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngắt, đôi tay giá đồng.
Đoạn thơ là một cơn khủng hoảng, một trận sóng gió tơi bời trong lòng con người tội
nghiệp Thúy Kiều. Nàng đau khổ, quằn quại đâu phải vì bản thân mình? Tất cả trái
tim yêu thương nàng dành cho người yêu. Tâm hồn vị tha ấy cao đẹp biết chừng nào!
Thương người đằm thắm sâu xa, muốn cho người được hạnh phúc, còn mình thì chấp
nhận thiệt thòi, cam chịu hi sinh, tấm lòng ấy đã gây xúc động mạnh trong lòng người
đọc. Đó cũng là nét sáng ngời trong phẩm giá của Thúy Kiều. Bài văn mẫu 12
Tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải
về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều.
Của cải bị bọn sai nha vét sạch. Cha và em trai Thúy Kiều bị bắt, bị đánh. Bọn quan
lại đòi đút lót “ có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Trước biến cố đau lòng đó, một
người giàu tình cảm, giàu đức hi sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải
bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng?. Thúy Kiều hết
sức đau khổ. Cuối cùng nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Đoạn
“ trao duyên” trong “ Truyện Kiều” rất cảm động. Có lẽ đây là cảnh tượng đau lòng
chưa từng thấy trong nền văn học nhân loại.
Dựa vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao
duyên thật sống động. “ Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn
thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng
“ để lòng thì phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “ cậy”, tuyệt vời chính xác.
Từ “ cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm
một cử chỉ thiêng liêng là “ lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao
duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào!
Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến . Chuyện
gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện thề nguyền hẹn ước với Kim
Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình
thường của Thúy Vân không bao giờ biết được:
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Qua lời Thúy Kiều , Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu Tình là hai giá trị tinh
thần không thể đặt lên bàn cân được . Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những
giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội ấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay
đắng lựa chọn chữ “ hiếu”. Mà chỉ có ba điều tồn tại: “ Đức tin, Hi vọng và Tình yêu,
Tình yêu vĩ đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm
thía với nỗi đau của nàng Kiều.
Cho nên hi sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi
lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Hai chị em đều là “ xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ ngày xuân
em hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào ! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho
Kim Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt
vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn lao.
Biết là em thuận lòng ( con người trời sinh ra để hưởng hạnh phúc đó,trong giờ phút
này cũng dễ thuận lòng lắm. Với lại chị nói cảm động quá. Mà anh Kim Trọng em đã
nhất kiến rồi, cũng dễ thương lắm), nàng trao cho em những kỉ vật giữa nàng và chàng Kim:
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ , vật này của chung
Tình cảm dẫu sao vẫn còn là trừu tượng, chữ kỉ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện
ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “ chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau
đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì. Nàng trao duyên,trao kỉ vật cho em mà
nàng chửi đời. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì
có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu
trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người.
Thúy Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỉ vật và còn
dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ
hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng,
cho nên dẫu “ thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ ngọn cỏ lá
cây”, với “ hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ trụ.
Đau đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu , nàng quên rằng trước mặt mình là
Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng:
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng
Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách
mình là “ phận bạc”, là ‘hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết
thảy chúng ta . Đối với Kim Trọng ,nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “ phụ
chàng”. Chính tâm lí mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết chất trong tiếng kêu thương thấu trời:
Ôi Kim Lang ! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Đoạn “ trao duyên” trong “ Truyện Kiều” là một khúc “ đoạn trường” trong thiên
“ Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời , Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt
vời , ông đã dựng lại đoạn “ trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập
hai tính cách của hai chị em một cách tài tình: con người của đời thường và con người
của phi thường. trong sự kiện “ sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư , hồn nhiên
( cũng đừng vội chê trách Thúy Vân . Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công
trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây), còn Thúy
Kiều thì lại càng đau đớn hơn. Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lí, sự vận động
nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn.
Chỉ qua đoạn trao duyên , chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu
tình cảm, giàu đức hi sinh , có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như
vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan
tác.Nói như Mộng Liên Đường Chủ nhân là khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên
đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn
hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa ráo. Bài văn mẫu 13
Tình yêu trong văn học trung đại Việt Nam dường như ít được đề cập đến. Trong các
mối tình trung đại, nổi bật nhất phải kể đến mối tình giữa Thúy Kiều và Kim Trọng.
Đó là mối tình đẹp bậc nhất nhưng cũng bi kịch bậc nhất của văn học trung đại nói
riêng và văn học Việt Nam nói chung. Cuộc đời Kiều là một chuỗi ngày bi kịch nhưng
bi kịch đau đớn nhất, tác động mạnh mẽ nhất đến cuộc đời Kiều là bi kịch tình yêu của nàng và Kim Trọng.
Khi quyết định bán mình chuộc cha, Kiều đã mạnh mẽ bao nhiêu thì đến khi đối diện
với tình yêu của bản thân nàng lại càng đau đớn và bất lực bấy nhiêu. Chấp nhận gả
cho Mã Giám Sinh, tương lai mù mịt nhưng những điều đó không làm nàng bận lòng.
Trong những giây phút này, Kiều chỉ nghĩ đến Kim Trọng. Và nàng đã bất ngờ đưa ra
một quyết định cho mối tình này – trao duyên cho Thúy Vân. Tâm trạng Kiều khi ấy
đầy những đau đớn giằng xé ấy được thể hiện rõ nét trong đoạn trích “Trao duyên”.
Trước khi phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên,
ta cần nắm được vị trí của trích đoạn này trong tác phẩm. Truyện Kiều của Nguyễn Du
được cấu tạo theo kết cấu quen thuộc Hội ngộ – Lưu lạc – Đoàn viên. Trong đó, đoạn
trích Trao duyên đóng vai trò bản lề – kết thúc chuỗi ngày hạnh phúc và mở đầu cho chuỗi ngày bi kịch.
Sau đêm Kiều và Kim Trọng thề nguyền, Kim Trọng phải trở về Liêu Dương hộ tang
chú. Gia đình Kiều lại bị thằng bán tơ vu oan giáng họa. Kiều quyết định bán mình
chuộc cha. Chữ hiếu đã xong những vẫn còn chữ tình. Đêm trước khi theo Mã Giám
Sinh, Kiều vẫn canh cánh món nợ ân tình với Kim Trọng. Thúy Vân tỉnh giấc đến bên
ân cần hỏi han và Kiều nảy ra ý định trao duyên, trao lại mối tình đầu dang dở cho em,
nhờ em thay mình trả nghĩa cho chàng Kim. Đây là một nghịch cảnh éo le, một bi kịch
đầy nước mắt của cuộc đời Kiều.
Diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên được thể hiện rất rõ
qua đoạn mở đầu là lời cầu khẩn của Kiều đối với Vân. Tâm trạng nào lúc này thật
khó nói. Bởi trao duyên tình của mình cho người khác thật đau đớn và càng khó xử
hơn khi nàng ý thức được việc này sẽ ảnh hưởng hệ trọng đến cuộc đời của Thúy Vân.
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Ở hai câu thơ này, tác giả đã tạo ra một tình huống, một không khí đặc biệt. Những lời
nói, hành động của Kiều trở nên trang trọng khác thường. Nguyễn Du sử dụng từ
“cậy” mà không dùng “nhờ”, dùng “chịu” mà không dùng nhận. Bởi ở từ cậy ngoài
nét nghĩa “nhờ” còn mang thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối. Mặt khác, từ “cậy” mang
thanh trắc tạo được âm điệu nặng nề gợi được sự quằn quại trong tâm hồn Kiều lúc
này. Chị nhờ em với tất cả lòng tin của chị. Dùng “chịu” mà không dùng “nhận”, bởi
“nhận” có phần nào tự nguyện còn “chịu” có phần bắt buộc. Kiều dường như đã đưa
Vân vào hoàn cảnh không thể chối từ. “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Ba động từ nối tiếp nhau ngồi – lạy – thưa gợi nhiều suy nghĩ. Tại sao Kiều lại phải
lạy Vân? Tại sao lại phải lạy rồi mới thưa? “Lạy”, “thưa” vốn là những từ thể hiện thái
độ trân trọng, trang nghiêm và kính cẩn – thường dùng để chỉ cho người bề trên hoặc
người mình chịu ơn. Ta thấy có sự thay đổi vị thế giữa Kiều và Vân, giữa họ không
còn được đặt trong quan hệ chị – em mà đang trong quan hệ người ban ơn – kẻ chịu
ơn. Kiều ý thức được sự việc mà nàng nói ra đây sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời của
Vân. Vì vậy, lạy ở đây là lạy cái đức hi sinh của Vân. Kiều đã hạ mình hết mực với
một thái độ trang trọng, nghiêm túc.
Giữa đường đứt gánh tương tư
eo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Khi phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, ta thấy
tình yêu dang dở của Kiều và Kim Trọng được trình bày ngắn gọn qua thành ngữ
“giữa đường đứt gánh”. Đồng thời sự kết hợp “giữa đường đứt gánh” và “tương tư” đã
cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng khiến nó như có hình có khối và càng khắc sâu
thêm nỗi đau nơi tâm hồn Kiều. Vì thế mà “mặc em” tùy em định liệu nhưng cũng chỉ
có duy nhất em là người có thể quyết định mà thôi. Câu thơ tuy không phải lời trao
duyên chính thức nhưng đã phần nào ràng buộc.
“Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Kiều điểm qua những sự kiện quan trọng trong cuộc đời mình. Đó là khi nàng gặp
chàng Kim và sóng gió bất kỳ xảy ra. Hai sự kiện có sức ảnh hưởng lớn đến Kiều và
đồng thời hai sự kiện này cũng được Vân chứng kiến. Những kỉ niệm với Kim Trọng
được liệt kê ngắn gọn nhưng cũng đủ cho ta thấy được cái tình khắng khít gắn bó của
họ. Có thể thấy, diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, đặc
biệt qua những câu thơ này vô cùng xúc động.
Điệp từ “khi” như nhấn mạnh về quãng thời gian tươi đẹp ấy. Nhưng hạnh phúc chưa
được bao lâu thì “sóng gió bất kỳ”. Tâm trạng của Kiều lúc này không phải là mâu
thuẫn giữa hiếu và tình. Bởi nàng sớm đã lựa chọn chữ hiếu. Nếu bốn câu trên có tính
chất thông báo nhưng lời trao duyên vẫn chưa trực tiếp thì đến bốn câu sau Kiều đã
trực tiếp đưa ra lý lẽ để thuyết phục em nhận lời.
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
Khi phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, ta nhận
thấy ngày xuân ở đây không chỉ mang ý nghĩa là tuổi trẻ mà đó còn là những tháng
ngày vui vẻ hạnh phúc ấm êm. Kiều cũng hy vọng ngày dài tháng rộng cùng Kim
Trọng sẽ mang lại hạnh phúc cho Vân khi em “chắp mối tơ thừa”. Tuổi trẻ của em là
lý do đầu tiên được nàng viện dẫn. Tình máu mủ thiêng liêng mới là lý do quan trọng
nhất để thuyết phục Vân nhận lời.
Bên cạnh đó, Kiều còn viện dẫn cái chết của mình. Viện dẫn cái chết không nhằm
mục đích đẩy Vân vào tình thế khó xử mà để thể hiện sự toại nguyện, biết ơn của Kiều
đối với Vân nếu em đồng ý. Lời thỉnh cầu của Kiều chủ yếu thiên về mặt tình cảm.
Kiều luôn đặt mình trong vị thế của người chịu ơn nên lời lẽ của nàng cũng vì thế mà
trở nên khẩn khoản tha thiết. Tâm trạng của nàng lúc này chỉ hướng về việc thuyết
phục em nhận lời, là tiếng nói của lý trí bỏ qua trái tim đang quặn thắt. Đến đây, diễn
biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên đã được đẩy lên cao độ,
cho thấy biết bao giằng xé trong tâm hồn nàng Kiều.
Trong quá trình phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao
duyên, ta thấy sau khi tìm lý lẽ thuyết phục em, Kiều không để cho Vân có cơ hội nói
mà nàng lập tức hành động – trao kỷ vật cho Vân. Gọi là kỷ vật bởi lẽ những vật này
chứa đựng biết bao kỷ niệm ngọt ngào của cuộc tình mới chớm.
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung”
Duyên này chính mối tình giữa nàng và Kim Trọng. Mối tình này nàng chỉ nhờ Vân
“giữ”, không hoàn toàn trao hẳn cho Vân. Trao kỷ vật chính là sự cụ thể hóa cho trao
duyên. Trao kỷ vật cho Vân nhưng lại nói với em đây là “của chung”, biết bao đau
đớn trong hai từ “của chung” ấy. Của chung ấy là của ai? Nếu trước kia đó là của Kim
– Kiều thì giờ có một sự đổi ngôi Kim – Vân, nhưng còn dường như là Kim – Kiều –
Vân. Khi Vân đồng ý nhận lời và nhận kỷ vật là lúc bi kịch trong lòng Kiều bắt đầu
trào dâng không sao kìm nén. Tâm trạng, sự đau của Kiều được soi chiếu ở sự đối lập,
mâu thuẫn còn – mất, hợp – tan trong cõi âm dương cách trở. Sau khi trao duyên, Kiều
tự nhận mình là người mệnh bạc.
“Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”
Bởi lẽ, mất đi tình yêu, mất đi hy vọng cuộc đời nàng giờ đây không còn ý nghĩa. Đau
đớn hơn, Kiều lại là người chính tay dập tắt mối tình mới nhóm ấy. Điệp khúc “mệnh
bạc” này đã gắn chặt với cuộc đời Kiều. Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều
trong đoạn trích Trao duyên, ta nhận ra những chuỗi ngày bi kịch của tương lai cũng
không đau xót bằng cõi lòng nàng đã nát tan ở hiện tại.
“Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương huyền ngày xưa”
Từ “của chung” giờ đã chuyển thành “của tin”. Kỷ vật trao thì đã thành của chung,
nhưng kỷ niệm và tình cảm ấy không thể trao trọn nên vẫn là của tin của chỉ Kiều và
Kim. Một lần nữa gợi nhắc lại kỷ niệm “phím đàn”, “mảnh hương huyền”, nhưng bao
kỷ niệm giờ chỉ còn tồn tại trong ký ức, trong quá khứ xa xăm. Nàng hướng tầm nhìn
đến tương lai nhưng tương lai lại càng tuyệt vọng bế tắc.
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rưới xin chén nước cho người thác oan”
Từ kỷ niệm ngọt ngào của quá khứ, Kiều đã đưa suy nghĩ đến tương lai. Nhưng thế
giới tương lai mà Kiều hình dung là một cuộc sống cõi âm mù mịt, tăm tối. Thúy Kiều
trăn trở và tiếc nuối mối tình đầu trong trắng với những hẹn thề chưa thể thực hiện
được và nghĩ mình là người chết oan, cho nên ngôn ngữ nói như nửa tỉnh, nửa mê: hiu
hiu, hương khói, ngọn cỏ, lá cây…mà thực sự là tâm trạng đớn đau dằn vặt khôn nguôi.
Vẫn đang nói với Vân, đang dặn dò và tâm tình cùng em, nhưng hình như càng nói,
Kiều càng dần quên sự có mặt của em. Nàng chỉ nói một mình, với mình, thầm thì
thành tiếng về tương lai mù mịt, thê thảm của chính mình. Đang sống mà nàng lại nói
đến cái chết cho thấy nỗi đau của Kiều dồn lên đến đỉnh điểm. Những câu thơ trên khi
phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên, ta thấy nó
đã có tác dụng giúp thể hiện tình cảm bền chặt, thủy chung và mãnh liệt của Kiều đối với Kim Trọng.
Diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên từ lời tâm sự với
Thúy Vân, Kiều chuyển dần sang lời độc thoại với chính bản thân mình. Bất lực, uất
ức, nghẹn ngào bắt đầu trào dâng bật thành lời thơ. Tiếng thơ cũng chính là tiếng lòng nàng.
“Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”
Hiện tại và quá khứ bỗng trở thành hai khoảng thời gian lạ lẫm. Quá khứ hạnh phúc
ngọt ngào bao nhiêu thì hiện giờ đây ngay lúc này nàng chỉ thấy đau đớn đắng cay.
Quá khứ được nhắc đến nhưng chỉ qua gợi nhắc “muôn vàn ái ân”. Quá khứ hạnh
phúc không thể đong đếm nhưng ngắn ngủi giữa chừng đứt gánh đầy bàng hoàng.
Ngỡ như mọi chuyện chỉ mới vừa xảy ra. Đối lập với quá khứ là hiện tại. đó là hiện tại
của “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”, “hoa trôi lỡ
làng” gợi sự chia ly muôn vàn xót xa. Ái ân hạnh phúc ngày xưa nay còn đâu.
“Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”
Kiều ý thức được thực tại bẽ bàng, buồn thay cho thân phận mình. Nhưng nàng lại
nhận tất cả mọi chuyện về mình, mọi lỗi lầm về mình. Cách sử dụng thán từ kết hợp
với điệp từ “Kim lang” cho thấy một tiếng gọi đau đớn, níu kéo trong tuyệt vọng.
Trong thời khắc đau đớn của tâm hồn, Kiều vẫn hướng tất cả về phía Kim Trọng. Kiều
rơi vào bi kịch đau xót của tình yêu nhưng vẫn mang vẻ đẹp cao thượng của sự hi sinh.
Cuộc trao duyên từ biệt trở thành cuộc tử biệt sinh ly.
Ở những dòng thơ này chính là một khối mâu thuẫn lớn trong tâm trạng Thúy Kiều.
Kiều trao kỉ vật cho em mà lời gửi trao chất chứa bao đau đớn, giằng xé và chua chát.
Trái tim bắt đầu thổn thức và lên tiếng. Nguyễn Du đã vận dụng thành công phép biện
chứng của tâm hồn diễn tả tinh tế từng bước chuyển biến tâm trạng của Kiều. Cách sử
dụng từ ngữ kết hợp với hình ảnh giàu giá trị biểu cảm đã diễn tả rõ nét tâm trạng bi
kịch giằng xé của Kiều. Còn gì đau đớn hơn khi chính tay mình dập tắt mối tình đầu
tươi đẹp. Qua đó, người đọc đồng cảm và thấu hiểu hơn với Kiều.
Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” bậc nhất trong
thiên “Đoạn trường tân thanh” của cuộc đời Kiều. Với con mắt tinh đời “trông thấu
sáu cõi nhân gian”, Nguyễn Du đã tái hiện lại cuộc trao duyên với biết bao cảm xúc
ngổn ngang ấy. Qua đó, ta càng thêm hiểu hơn cho Thúy Kiều hiểu hơn cho quyết
định trao duyên những tưởng đầy vô lý ấy nhưng lại thấm đượm một tình yêu chân
thành mà nàng dành cho Kim Trọng. Bài văn mẫu 14
Con người khi đứng trước sự lựa chọn của bên nghĩa bên tình thì rất khó lựa chọn.
Tuy nhiên thì công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả vậy cho nên nếu là một người
con hiếu thảo yêu thương cha mẹ của mình thì dẫu cho tình yêu kia có đẹp đến mấy
thì vẫn quyết định chọn chữ nghĩa để trả ơn bố mẹ. kiều trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du đã chọn chữ “nghĩa” lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn bù đắp cho
tình cảm kia của mình. Vì thế nàng quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân.
Đoạn trích trao duyên thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao
duyên của mình cho nàng Thúy Vân.
Duyên là một thứ để cho con người ta gặp gỡ, để mà yêu nhau và nếu có phận thì sẽ
có thể bên nhau đến trọn đời. Và đặc biệt cái duyên cái nợ là do ông tơ bà nguyệt se tơ
kết tóc nối duyên. Thế nhưng ở đây Thúy Kiều đã như đoạt lấy cái quyền hành ấy mà
để nối duyên của mình cho em. Nàng có duyên với chàng Kim Trọng nhưng lại không
có phận vì thế cho nên nàng muốn nối duyên cho em. Vì trong thâm tâm nàng đó như
một cái để nàng đền đáp những ân tình của chàng Kim mà chàng đã trao cho nàng.
Trao duyên đi lòng nàng không khỏi đau xót vì tình yêu duy nhất và đầu tiên của nàng
đã không thành. Phải chăng tình đầu là dang dở.
Với hai câu thơ đầu ta thấy được những hành động của Thúy kiều thật khác bình
thường. Nàng như đang hạ thấp bản thân mình để cầu xin em, trao duyên nhưng cũng
là cầu xin em giúp chị và chấp nhận:
“Cậy em em có chịu lời.
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Là một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế
nhưng ở đây Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm
chân tình với Kim Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa” là những từ để
chỉ thái độ kính trọng của người dưới đối với người trên thế mà ở đây bị xáo trộn.
Thúy Kiều là chị nhưng lại phải lạy em cậy nhờ. Cái “cậy” kia mang ý nghĩa ép buộc
Thúy Vân phải làm nhiều hơn là nhờ. Nói là nhờ thì lại rất bình thường nhưng nói là
cậy thì cái nhờ vả kia lại nặng hơn gấp bội. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn
nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình
để đền đáp tình cảm cho chàng Kim. Nàng cậy nhờ rồi nàng nói lên những lời tâm tư
tình cảm của bản thân mình. Đó là những tâm sự tận sâu trong đáy lòng của nàng:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai. ”
Nàng như thể hiện được cái nỗi đau xót của bản thân mình khi tình duyên lỡ dở.
Chính vì chữ hiếu mà nàng hi sinh chữ tình phụ chàng Kim. Và có lẽ thế nàng vừa đau
xót cho thân mình vừa đau đớn cho cuộc tình dang dở. Chàng Kim ấy vẫn đang chịu
tang nơi quê nhà không hề hay biết những chuyện nơi đây. Nàng chỉ mong Vân có thể
nối duyên bù đắp những gì của mình vẫn còn dang dở. Chính vì thế mà Kiều mong
Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình mà chắp mối tơ loan với chàng Kim Trọng. Sự
ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. Dù cho là chị em nữa nhưng phải
gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao và thứ mà người ta không muốn nhận thì
chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy
Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được “ Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
Vốn dĩ chữ tình và chữ hiếu không thể đặt lên bàn mà cân cho được. Thúy Kiều vịn
vào tình cảnh của gia đình hiện tại và thêm nữa là tình máu mủ ruột già. Điều đó càng
làm cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được:
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây!”
Rõ ràng cả hai chị em cùng đến tuổi xuân xanh đang tràn đầy sức sống của tuổi thanh
xuân, tuổi biết yêu thương lấy một người nào đó. Vậy mà Kiều lại nói là tuổi xuân của
Thúy Vân còn dài trong khi mình thì nào có khác đâu. Nói như thế để cho thấy Kiều
như đã xác định được con đường mà nàng sắp phải đặt chân đến, không yên bình như
những ngày tháng trước đây nữa mà sóng gió có thể mang cô đi bất cứ lúc nào. Kiều
mong vân xót tình chị em máu mủ ruột già mà hãy chấp nhận lời thay chi làm trọn lời
hẹn thề với chàng Kim. Nếu được như thế thì ngay cả khi những sóng gió kia bủa vây
lấy nàng cướp nàng đi khỏi thế gian này. Mặc cho sang thế giới bên kia không còn
nguyên vẹn thì Kiều cũng cảm thấy thơm lây cái sự hi sinh của em gái cho mình. Khi
đã trao duyên xong nàng như cảm thấy được những tâm trạng đang bủa vây đến nàng.
Nàng đã hoàn thành xong cái đền đáp ơn nghĩa với Kim Trọng nhưng lòng lại thấy
buồn vì vừa trao đi, mất đi một tình yêu đầu êm đềm dịu ngọt. Hơn nữa tình yêu ấy mới bắt đầu:
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Chiếc vành với tờ mây kia chính là những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng
nhau thề nguyền sống chết, họ đã có với nhau những ngày tháng hạnh phúc những
niềm vui tràn ngập vậy mà giờ đây cái xã hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu mà hi
sinh chữ tình. Nàng chỉ mong mai này khi chàng Kim và em của nàng có thành duyên
vợ chồng rồi thì mong họ hãy nhớ đến nàng. Những kỉ vật tình yêu của nàng với
chàng Kim chỉ mong tham lam giữ thành của chung của ba người. Dẫu đã trao cho
Thúy Vân những kỉ vật ấy nhưng nàng vẫn luyến tiếc và mong rằng nó sẽ là của
chung. Nguyễn Du không đặt những kỉ vật ấy vào trong cùng một câu thơ mà lại chia ra thành mấy câu thơ.
Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng Kiều khi
phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng như cố
níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho Vân
những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào mà đền đáp tấm ân tình của chàng
Kim trọng được. Có thể nói qua những câu thơ trên tâm trạng của thúy Kiều được hiện
thật sự rất rõ nét. Đó chính là tâm trạng mong muốn trở lại những ngày tháng trước
đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu ấy. Kiều đau đớn như nghĩ đến cái
chết, có lẽ là nàng tưởng tượng ra cảnh mai này Kim và vân sống hạnh phúc mà nàng
phải chứng kiến cảnh yêu thương của họ thì nàng sống không bằng chết. Hay từ khi
xác định bán thân nàng đã quyết định chọn cái chết để kết thúc cuộc đời này. Tuy vậy nàng vẫn mong rằng:
“Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan”
Sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật
sự đau oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau nếu
thấy hiu hiu gió thì có thể cảm nhận là nàng đang về. Cơn gió kia thể hiện sự vương
vấn cõi trần này của nàng. Lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều có nát thân liễu
yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong kim và
Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan là Thúy Kiều. Có thể nói cuộc sống
của con người ai mà chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự
cảm thấy rất đau khổ không thể nào có thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ
đến. kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con đường mà nàng sắp
đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc nào.
Như vậy qua đây ta thấy được những tâm tư của nàng Thúy kiều. Tình đầu là thứ tình
cảm thiêng liêng đẹp đẽ nhất, duyên phận vốn trớ trêu với con người. Chính vì thế chữ
tình kia không trọn cho phận má đào. Cô không muốn chàng Kim đợi chờ mình mà
mong rằng Thúy Vân em cô sẽ giúp cho anh có một cuộc sống hạnh phúc. Dẫu biết
vậy nhưng nàng không khỏi đau khổ khi trao duyên. Bài văn mẫu 15
Tên thực của Truyện Kiều là Đoạn trường tân thanh, có nghĩa là tiếng kêu đứt ruột.
Thực ra trong đó có vô vàn tiếng kêu thương. Mà Trao duyên có lẽ là tiếng kêu đứt
ruột đầu tiên khởi đầu một chuỗi dài đau thương chất chồng lên cuộc đời truân chuyên
của một người con gái tài sắc. Thuý Kiều đứt ruột trao duyên. Và Nguyễn Du cũng đã
viết nên cảnh Trao duyên bằng những lời thơ tan nát can tràng.
Nỗi oan khiến bỗng đâu ập xuống gia đình, giáng hoạ lên đầu mọi người, không trừ
một ai. Nhưng dường như Kiều muốn một mình, hứng chịu tất cả. Tự nguyện bán
mình chuộc cha, đêm trước nàng đã trải qua một cuộc giằng xé âm thầm giữa một bên
là mối tình đầu biết bao hứa hẹn và một bên là bổn phận làm con đối với ơn sinh thành.
Cuối cùng nàng đã nghĩ những dằn vặt day dứt đã hết sau khi đã quyết chọn một con
đường. Nào ngờ, đó mới chỉ là khởi đầu, dạo đầu. Hôm-trước, là chữ Tình và chữ
Hiếu, nó có phần chóng vánh. Còn hôm nay, là giằng xé giữa chữ Tình và chữ Duyên,
nó mới thực sự bi kịch, vĩnh viễn đau thương.
Nỗi đau đớn đứt ruột trong tâm trạng Kiều hôm nay là sự tiếp tục của đêm trước. Bởi,
đã xác định vì chữ Hiếu thì còn phải làm hốt phần việc còn lại là trao duyên cho người
khác. Hôm qua là sự chọn lựa trong nhận thức, hôm nay mới chính thức là mất mát
trong tình cảm. Giá Kiều không phải là người tận tình, tận tâm; giá nàng hời hợt đơn
giản hơn một chút thôi, chắc nàng không lâm vào bi kịch, không rơi vào đau đớn đến
thế. Đằng này Duyên thì. đã trao mà Tình càng thêm nặng.
Thậm chí, chính lúc mất Kim Trọng này lại thấy yêu, thấy gắn bó với chàng Kim hơn
bao giờ hết. Vì thế, mỗi lời nàng nói, mỗi việc nàng làm trong cái lúc trao duyên này
đều như đứt từng khúc ruột. Chẳng biết Nguyễn Du đã hoá thành người trong cuộc sâu
sắc như thế nào mà có thể thấu, được mọi lẽ nhường ấy. Thi hào môi thấy tường tận
Tình và Hiếu chỉ là đầu mối, là cái phần bên trên, còn ở bề sâu, cái phần nhức buốt
nhất chính là Tình và Duyên. Cảnh Trao duyên, là giằng xét của bi kịch ấy.Đọc trích
đoạn Trao duyên, ta đều dễ dàng nhận thấy tự nó hình thành ba phần.
Phần đầu, gồm 12 câu: Thuý Kiều lựa lời thuyết phục Thuý Vân thay mình nối duyên
với Kim Trọng; phần tiếp theo gồm 14 câu: Kiều trao kỉ vật lại cho Vân. Phần cuối,
gồm 8 câu: Kiều tạ từ với Kim Trọng - con người tuy không hiện diện nhưng luôn
sống trong tình yêu và nỗi đau của Kiều. Ban đầu, nàng Kiều còn bình tĩnh, càng về
cuối càng tâm lí, càng về cuối càng chìm vào nỗi đau đớn tột bậc để rồi cuộc trao
duyên từ biệt cứ muốn biến thành cuộc tử biệt sinh li.Trao duyên được mở đầu bằng
hai câu thơ mà khi nói về vẻ đẹp của ngôn ngữ.
Truyện Kiều ít ai không nói đến. Nó giản đơn như những lời nói thông thường mà
chân xác như mọi câu thơ hàm súc nhất.
Cậy em em có chịu lời.
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Đúng là trọng lượng của câu thơ rơi vào bốn chữ “cậy”, “chịu”, “lạy” “thưa”; Người
ta không thể thay các chữ kia bằng bất cứ chữ nào khác. Tôi muốn nói thêm rằng: 4
chữ ấy mang đậm cái bi kịch của nàng Kiều. Với bốn chữ kia, vị thế của hai chị em
Thuý Kiều đã thay đổi, đảo lộn. vẫn xưng hô là chị em, mà thực tình trong đó là quan
hệ giữa một ân nhân và một kẻ chịu ơn. Bốn chữ ấy đều là lời của kẻ dưới đang nói
khó với người trên. Chị thành kẻ lép vế phải cậy cục lụy phiền, em thành người ban ơn.
Để báo đáp ân tình trong muôn một cho chàng Kim, Kiều đã phải nhún mình hạ mình,
đến thế! Nhưng, trong cái cử chỉ tội nghiệp kia, ta thấy tất cả sự cao khiết của một tấm
lòng, một phẩm cách. Rồi nàng kể, nàng giãi bày thật nhanh, thật rõ ràng ngành ngọn
cho Vân hiểu vì sao mình phải lựa chọn cách này. Trong lời lẽ có phần khôn ngoan
của Thuý Kiều cứ thấy lộ ra cái vẻ lo âu. Dường như Kiều phải gắng thuyết phục hết
lời, tận tình để cho em vì mình mà không thể thoái thác. Nàng đã viện đến cả cái chết
để lời cậy nhờ nặng như lời uỷ thác:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Nhưng ngẫm mà xem, Kiều đâu phải dùng cái chết như, một nghệ thuật thuyết phục!
Trong suốt đoạn trao duyên này và cả trước đó nữa, nàng luôn nghĩ đến cái chết như
một kết cục u ám. Trong hoàn cảnh này, đời đã đến thế này, có còn gì để tha thiết nữa
đâu, vô nghĩa hết cả rồi, người ta đâu còn muốn sống nữa! Càng yêu đời lại càng
không muốn sống.Đoạn Trao duyên phải là một cuộc chuyện trò, nhưng rồi lại diễn ra
như một màn độc thoại. Thuý Vân hầu như không lên tiếng. Nàng im lặng chịu lời. Và
thế là Kiều phải làm nốt cái phần việc cuối cùng và khó khăn nhất: trao lại kỉ vật cho
Vân. Hôm qua nghĩ đến việc hi sinh mối tình, Kiều đã nghĩ đến việc mất Kim Trọng.
Và vừa rồi trong lúc lựa lời thuyết phục em gái, cảm giác mất mát ấy có đến gần hơn.
Nhưng có lẽ phải lúc này đây nó mới thực sự choáng ngợp tâm hồn nàng. Còn giữ kỉ
vật, ít nhiều người ta vẫn có cái ảo giác người yêu vẫn còn là của mình, vẫn trong
mình. Chỉ đến khi tự tay cầm kỉ vật trao đi, người ta mới thật rơi vào hẫng hụt. Bắt
đầu từ giây phút này đây, cùng với kỉ vật này đây, chàng Kim sẽ vĩnh viễn thuộc về
người khác!. Câu thơ như một nỗi nghẹn ngào:
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Quả là, hai chữ “của chung” chất chứa bao đau xót. Kỉ vật tình yêu chỉ thiêng liêng
khi nó là tín vật, là nhân chứng thầm kín của riêng hai người thôi, Còn bây giờ, từ bây
giờ, nó đã thành của “chung”! Nhưng câu thơ còn giấu trong nhịp điệu của nó một nỗi
đau sâu kín của nàng Kiều. Hai chữ “này” như dằn lòng, như day dở. Lý trí đã quyết
định trao duyên, trao kỉ vật. Song tình cảm vẫn cố trì hoãn, níu giữ. Vì thế mà cái
động thái trao kia cứ dùng dằng. Kỉ vật lìa khỏi tay người như cũng vật vã không yên.
Cố dằn lòng mà không thể cầm lòng! Người giản đơn có thể nghĩ con người trung đại
không phức tạp đến thế. Nhưng cho dù thời nào thì bản chất tình yêu vẫn là không thể
chia sẻ! Trái tim yêu thời nào có lẽ cũng đau như vậy thôi. Trao kỉ vật cho Thuý Vân
và dặn dò em, nhưng có lẽ qua Thuý Vân, Kiều muốn dặn dò Kim Trọng.
Lời nàng lâm li, tức tưởi. Nỗi đau trong lòng cứ quặn lên mãi. Kiều nhìn khắp lượt
những đồ vật thân yêu, những chứng nhân lặng lẽ. trong những giây phút nồng nàn
hạnh phúc của mình với Kim Trọng: “Chiếc thoa với bức tờ mây”, “phím đàn với
mảnh hương nguyền”, “Lò hương ấy, tơ phím này” v.v... Và hình dung, chỉ ngày mai
thôi , chúng sẽ lại chứng kiến những phút giây nồng nàn như thế của Kim Trọng với
một người khác, cho dù người ấy có là em gái mình đi chăng nữa... cũng không thể
chịu nổi. Nguyễn Du có lẽ đã hiểu thấu những tâm tư khuất lấp mà chân thực vô cùng
ấy, cho nên đã viết những câu thật lắng đọng:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Có lẽ nhà thơ Vũ Cao đã có lý khi cho rằng cái câu “Mai sau...” nghệ thuật không đau
mà lại chính là câu thơ khó viết. Đã đành Kiều đang hình dung về mai sau, một cái
mai sau rồi sẽ đến. Nhưng sao lại có hai cái tiếng “dù có” như một giả định về một
việc khi xảy ra như vậy? Hai chữ “dù có” như bỗng nhói lên trong cái âm điệu xuôi
chiều của câu thơ. Nó cho thấy lòng nàng không dễ nguôi yên, nàng không muốn có
cái cảnh “bao giờ” trớ trêu ấy xảy ra. Tấm tình ấy đâu đã chịu tắt lửa lòng! Kiều hình
dung mình sẽ chết rõ quá và tội quá! (chứ không còn chung chung “ngậm cười chín
suối” như ở phần trên!) Mối tình sâu nặng với Kim Trọng nàng vẫn cứ mang theo như
khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Vì sự thiết tha ấy oan hồn của nàng còn trở về dương thế! Thậm chí nàng còn hình
dung rõ mồn một mình sẽ về trong gió trong cây cỏ thế nào. Hai chữ “hiu hiu” nghe
mà gai người. Người ta như thấy trong đó cả sự hiển linh. Hai tiếng “hiu hiu” chấp
chới giữa hai thế giới thực tại và hư vô, chập chờn giữa hai cõi thế: cối âm và cõi
dương! Kiều hi sinh tất cả, cho tất cả. Về dương thế, nàng chỉ xin cho mình có một
chén nước thôi. Một chút nhớ thương của người sống? Một chút tình cũ? Hay một
chút duyên thừa? Chỉ một chén nước thôi, một chút thế thôi mà nàng đã thấy được an
ủi, cảm thông nhiều lắm:
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan,
Kiều hình dung mình chết. Và Kiều còn thấy rõ là mình “thác oan”! Hai chữ “thác
oan” có biết bao là tình là hận!Những việc cần làm thì đã làm rồi. Sợi dây níu buộc đã
cắt lìa rồi. Nhìn vào lòng mình, đời mình, bây giờ Kiều mới thấy rõ mất mát để lại
trong lòng cả một nỗi trống hoang, hụt hẫng. Nàng quên đi em Vân trước mặt, quay
vào với nỗi đau trong lòng. Giờ đây với nàng, chỉ còn nỗi đau kia là hiện hữu, nỗi đau
đang choán ngập cả lòng nàng. Quên mất thực tại để chỉ chìm sâu vào trong lòng, đấy
là lúc bi kịch đang dâng lên trầm trọng. Kiều như phân trần, thanh minh, tạ lỗi với
chàng Kim. Mong muốn ở chàng một sự cảm thông, thấu hiểu:
Bây giờ trâm gãy, bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân
Nghĩ về quá khứ muôn vàn ái ân mà đau. Nghĩ đến “bây giờ” một thực tại quá phũ
phàng trâm gãy bình tan mà đau. Nghĩ đến “mai sau... dạ đài khuất mặt khuất lời” mà
càng bội phần đau đớn. Tâm tư Kiều bị vây khốn, bị dìm ngập giữa bao đau thương,.
Muôn vàn ái ân đã hoá thành muôn vàn đớn đau! Ngán ngẩm cho số kiếp đen bạc của
mình, nàng cất lên cái tiếng than thân. thăm thẳm của người đàn bà. Nàng sa vào mặc
cảm phũ phàng. Mở đầu thì lạy em gái, bây giờ thì phải lạy cả người yêu. Nàng cứ
thấy mình là kẻ bội tình và những mong được lượng thứ:
Trăm nghĩa gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã dành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ta như nghe trong đó tiếng vọng của những câu thơ mà Nguyễn Du đã bao lần kêu lên
đây thống khổ cho những thân phận đàn bà tài sắc:- Đau đớn thay phận đàn bà- Chém
cha cái số hoa đào. Và cuối cùng như oà lên, câu thơ không nói gì đến nước mắt,
nhưng chúng ta biết lời Kiều đang vỡ ra trong nước mắt, nức nở cay cực:
Ôi Kim Lang! hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây
Vậy đấy, lời trao duyên đứt ruột đã hoá thành lời trăng trối! Hình như cái tố chất đặc
thù của người nghệ sĩ chính là sự cảm thông. Khả năng cảm thông sâu sắc khiến cho
người nghệ sĩ đã hóa thân thành người trong cuộc, nhập thân thành người trong cuộc
đến từng thoáng rợn mơ hồ nhất của xúc cảm để nói lên những tiếng nói sâu xa kín
khuất nhất của cõi lòng. Nguyễn Du đã làm được điều đó. Nguyễn Du đã hoá thành
Thuý Kiều. Đến nỗi Thuý Kiều trao duyên mà ngỡ như chính Nguyễn Du đang đứt ruột trao duyên. Bài văn mẫu 16
Có thể nói Nguyễn Du là bậc thầy trong nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật.
Tài năng ấy của ông được thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm "Truyện Kiều", tiêu
biểu nhất là ở đoạn trích "Trao duyên". Đoạn trích này đã thể hiện những tâm trạng,
cung bậc cảm xúc của Thúy Kiều khi cậy nhờ Thúy Vân "chắp mối tơ thừa" với Kim Trọng.
Tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng đang ở giai đoạn đẹp nhất thì bỗng phải chia
lìa vì Kiều bán mình cứu cha và em. Hai người đã có một cuộc thề nguyền đầy thiêng
liêng và lãng mạn nhưng trong hoàn cảnh gia đình gặp gia biến, phận làm con Kiều
lựa chọn chữ hiếu để báo đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Không thể
tiếp tục mối tơ duyên với chàng Kim "phong tư tài mạo tót vời", nàng vô cùng đau
đớn. Và cuối cùng nàng đã quyết định trao duyên lại cho người em gái để cô giúp
mình trả tình nghĩa với Kim Trọng:
"Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em".
Những câu thơ trên đã giúp bạn đọc thấy được Thúy Kiều trân trọng mối tình ấy như
thế nào. Nàng không dùng các từ như "nhờ em", "xin em", "mong em",...mà lại dùng
từ "cậy em" cùng các hành động trang trọng như "lạy", "thưa" thể hiện mong muốn
cậy nhờ Thúy Vân giúp đỡ. Thúy Vân có quyền đồng ý hoặc từ chối lời thỉnh cầu của
người chị gái nhưng trước những lời lẽ thuyết phục như van nài thì Thúy Vân chỉ có thể "chịu lời".
Thúy Kiều là vai bề trên nhưng lại có những lời nói và hành động của một người chịu
ơn bởi đối với nàng, Thúy Vân chính là người làm ơn. Chính Thúy Vân sẽ giúp nàng
giữ trọn lời thề trăm năm bên nhau với chàng Kim và cũng chỉ có duy nhất cô mới
giúp đỡ được Thúy Kiều. Thúy Kiều để mặc cho người em gái đưa ra quyết định
nhưng thực tâm nàng tha thiết Vân sẽ nhận lời. Hiểu được nỗi lòng khó xử của Thúy
Vân khi phải "chắp mối tơ thừa", Thúy Kiều đã bày tỏ hết nỗi lòng của mình về mối
tình "giữa đường đứt gánh":
"Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề"
Thúy Kiều cũng bồi hồi, xúc động khi nhớ về những kỉ niệm với người yêu và kể
những điều ấy cho em gái nghe. Mối tình Kim - Kiều là một mối tình say đắm, lãng
mạn. Họ đã ước hẹn chuyện trăm năm gắn kết, thề nguyền thủy chung. Chiếc quạt họ
dành tặng cho nhau và chén rượu họ cùng nhau uống đã thể hiện điều ấy. Nếu thằng
bán tơ không vu oan cho gia đình Kiều, tai ương không xảy đến thì có lẽ Thúy Kiều
và Kim Trọng sẽ đôi lứa xứng đôi vô cùng hạnh phúc.
Nàng trao lại mối tình duyên cho Thúy Vân mà trong lòng ngổn ngang những tâm
trạng, cảm xúc. Trao lại thứ gì đó thuộc về vật chất thì còn dễ hình dung, đong đếm
nhưng Thúy Kiều lại trao duyên, có mấy ai định hình được thứ tình cảm này? Thúy
Kiều mong em sẽ thông cảm cho mình mà nhận lời bởi "ngày xuân em hãy còn dài",
hơn nữa mối quan hệ giữa hai người là mối quan hệ ruột thịt, cùng chung huyết thông
nên Thúy Vân sẽ nể tình mà giúp đỡ. Nếu được như vậy thì cho dù Thúy Kiều có "thịt
nát xương mòn" cũng thỏa lòng vui vẻ. Những kỉ vật của tình yêu như chiếc vòng đeo
tay và tờ giấy ghi lời thề nguyền của hai người Thúy Kiều đều đem trao lại để Thúy Vân giữ:
"Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung"
Từ giờ phút này trở đi, đó là những kỉ vật thuộc quyền sở hữu của cả ba người: Thúy
Kiều - Kim Trọng - Thúy Vân. Trao lại những kỉ vật tình yêu và người mình yêu cho
người khác có mấy ai không cảm thấy buồn bã, đau xót? Cái duyên của mình với Kim
Trọng Thúy Kiều xin được giữ lại vì tình cảm nàng dành cho chàng Kim rất sâu đậm.
Tuy có phần ích kỉ nhưng hành động của nàng nhận được sự đồng cảm nơi bạn đọc.
Họ đã thề nguyền, đính ước nhưng Thúy Kiều vì bán mình cứu cha và em nên trở
thành kẻ thất hứa. Những kí ức đẹp đẽ về cuộc thề nguyền thiêng liêng và những giây
phút hạnh phúc Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe sẽ không còn nữa.
Nàng vui mừng khi Kim Trọng và Thúy Vân "nên vợ nên chồng" nhưng nàng cũng
đau khổ vì người ở bên cạnh chàng Kim lại không phải là mình. Nàng đau đớn đến tột
cùng khi tự nhận mình là "người mệnh bạc" và nghĩ mình như một người đã chết:
"Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai;
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan."
Cho dù Thúy Kiều có "thịt nát xương mòn" thì cũng mong rằng Thúy Vân và Kim
Trọng không quên mình. Nàng còn chỉ cho Thúy Vân biết dấu hiệu để nhận ra khi
mình trở về: "Thấy hiu hiu gió thì hay chị về". Một con người nặng tình nặng nghĩa
như Thúy Kiều không thể lãng quên lời thề của mình với chàng Kim nhanh như vậy
được. Ngay cả khi là một linh hồn chốn cửu tuyền thì nàng vẫn "mang nặng lời thề".
Đó là lời thề thủy chung son sắt trọn đời bên nhau cùng Kim Trọng. Lời thề thủy
chung ấy nàng sẽ khắc cốt ghi tâm cả cuộc đời không quên.
Thế giới cõi âm và thế giới ở trần gian "cách mặt khuất lời" nên Thúy Kiều chỉ xin
Thúy Vân "rưới xin giọt nước" cho linh hồn oan khuất của mình. Thúy Kiều đang còn
sống mà tâm trí thì nghĩ về cái chết - cái chết oan khuất của một con người mệnh bạc.
Nàng và Kim Trọng đã có với nhau "muôn vàn ái ân". Họ đã có với nhau những kỉ
niệm đẹp, những giây phút mặn nồng của tình yêu đôi lứa. "Bây giờ trâm gãy gương
tan", tình yêu của hai người không thể có được kết thúc tốt đẹp nên Thúy Kiều vô
cùng chua xót. Nàng cất tiếng than trách số phận:
"Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng"
Tơ duyên giữa hai người chỉ ngắn ngủi có ngần ấy, Thúy Kiều mong chàng Kim hãy
hiểu cho hoàn cảnh của bản thân mình. Thuý Kiều thương xót cho cuộc đời mình,
thương xót cho những gì đã có với người yêu đẹp đẽ là thế mà giờ đây trách mình
phận "bạc như vôi", "nước chảy hoa trôi" không đền đáp được khối ân tình của chàng.
Nàng gọi Kim Trọng là tình quân - một cách gọi gần gũi, thân thuộc chứa đựng bao
tình cảm, ân nghĩa. Thúy Kiều đang đối thoại với Thúy Vân bỗng chuyển sang độc
thoại và nói những lời tha thiết gửi tới Kim Trọng:
"Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây".
Nàng gọi Kim Trọng là "Kim lang" và xưng hô "chàng" - "thiếp" đong đầy tình cảm
đôi lứa. Trong thâm tâm, Kiều đã coi Kim Trọng như người chồng, người phu quân
của mình. Nàng gửi chàng Kim "trăm nghìn" cái lạy tạ lỗi. Nàng luôn sống trong tâm
trạng dằn vặt vì cho rằng chính mình đã phụ tấm lòng của Kim Trọng. Lời thú nhận ấy
thật day dứt làm sao! Nàng đau đáu mặc cảm có lỗi với chàng Kim vì mình là kẻ phụ bạc.
Xuyên suốt đoạn trích "Trao duyên" là những nỗi niềm giằng xé trong nội tâm của
nhân vật Thúy Kiều. Nỗi đau phải trao lại mối duyên tình của mình khiến nàng như
"đứt từng khúc ruột". Nguyễn Du quả là một nhà thơ tài tình trong nghệ thuật khắc
họa tâm lí nhân vật. Đó là lí do vì sao mà bạn đọc trong nước và thế giới luôn nhớ tới "Truyện Kiều". Bài văn mẫu 17
Truyện Kiều là một kiệt tác văn học của Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho nền văn
học Việt Nam. Tác phẩm mang nhiều giá trị nhân đạo khiến độc giả phải suy ngẫm.
Một trong những đoạn trích nổi bật lột tả rõ nét nội tâm nhân vật Thúy Kiều chính là
đoạn trích “Trao duyên.”
Khi gia đình gặp nạn, để giải cứu cho cha và em trai, Thúy Kiều buộc phải trao lại mối
duyên của mình cho Thúy Vân:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. ............
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Thúy Kiều là chị, tuy nhiên khi nhờ vả, muốn nói chuyện với em mình, nàng dùng sự
kính trọng, nhã nhặn đối với em.
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
“Cậy, lạy, thưa” là những từ mà người ở vai dưới nói chuyện với người vai trên.
Những từ ngữ này thể hiện sự tôn trọng đặc biệt của Kiều dành cho người em gái mà
mình nhờ vả. Dù mình ở vai trên nhưng Kiều không dùng sự ra lệnh đối với em. Tuy
trong lòng cô nhiều suy nghĩ, trăn trở nhưng vẫn bình tĩnh xử lí, sắp xếp, thu vén chuyện của mình.
"Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?"
Kiều trình bày với em về hoàn cảnh của mình, về mối tình dang dở của mình với
chàng Kim và mong em hãy thấu hiểu cho nỗi khổ của mình mà chấp nhận mối tơ
thừa của chị. Hai người đã có những hẹn thề gắn bó dài lâu nhưng nay Kiều không giữ
lời hứa đó. Bởi lẽ, nàng không thể hoàn thành cả “chữ hiếu” lẫn “chữ tình”; nên “chữ
tình” này, xin gửi lại để Vân thay chị thực hiện. Từng lời nói của Kiều là nỗi đau khổ,
day dứt mà nàng đang phải trải qua. Nào ai muốn nhìn thấy cha và em trai bị oan
trong tù? Nào ai muốn rời bỏ người mình yêu thương khi tình cảm rất mặn nồng? Ta
càng thêm thương xót cho nàng Kiều bạc mệnh.
"Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”
Vân còn trẻ, đang trong độ tuổi xuân thì, chàng Kim lại là tài tử hiếm có, nếu Vân
thay Kiều đến với Kim Trọng thì nàng Kiều sẽ yên tâm mà ra đi vì dù sao đi chăng
nữa Vân với Kiều cũng cùng chung giọt máu. Để cảm kích sự đồng ý của Vân, dù cho
Kiều có ‘thịt nát xương mòn” nơi đất khách quê người nàng cũng yên tâm mà ra đi,
không còn suy tư trăn trở.
Đoạn thơ gây ám ảnh người đọc bởi nó làm hiện ra trước mắt chúng ta một bức tranh
như thực về nàng Kiều trọng tình, trọng nghĩa, ta phần nào hiểu thêm, đồng cảm,
thương xót cho số phận một cô gái “hồng nhan bạc mệnh.”
Những câu thơ tiếp theo là lời dặn dò của Kiều với Vân sau khi trao em mối duyên của mình:
"Chiếc thoa với bức tờ mây ..........
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!"
Sau khi Vân đồng ý nhận mối duyên của mình, Kiều mang trao lại em những kỉ vật
của mình với chàng Kim. Kiểu sẽ thực sự ghi nhớ ơn nghĩa nếu Vân và Kim Trọng
nên duyên vợ chồng. Thật đau đớn và xót xa khi người mình yêu nên duyên cùng
chính em gái mình, ấy thế mà, với Kiều, đấy lại là một ơn nghĩa mà Vân làm cho cô khiến cô ghi nhớ mãi.
Tuy rằng, Kiều sẽ phải ra đi, nhưng dù còn sống hay khi không còn trên đời nữa, cô
vẫn luôn hướng về nhà, về nơi có cha mẹ, có các em và có chàng Kim. Người con gái
ấy đã nghĩ đến trường hợp xấu nhất khi cô chỉ còn là “linh hồn mang nặng lời thề” trở
về nhà, cô dặn Vân hãy rảy xin cho cô chén nước để linh hồn cô được siêu thoát. Đến
đây, nỗi xót xa của nàng Kiều dường như bị đẩy lên một cao trào mới. Những suy tư
ngổn ngang đè nặng lên vai một cô gái vốn có cuộc sống thanh bình. Duyên gãy, phải
đi xa gia đình, bán thân thành một người rẻ mạt làm Kiều không tránh nỗi chua xót.
“Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!”
Câu nói thốt lên trong sự cay đắng, nghiệt ngã của số phận. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp
giữa hai người giờ đây chỉ còn là kí ức. Từng kỉ niệm ấy Kiều sẽ mãi lưu giữ bên
mình. Đó cũng là sự hụt hẫng, tiếc nuối về một thời yêu nhau say đắm của hai người.
Đến đây, người đọc không khỏi tiếc nuối: tiếc nuối cho số phận của Kiều, tiếc nuối
cho mối duyên của hai người cũng như tiếc nuối về kỉ niệm mà họ đã từng có với nhau.
"Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
Những việc Kiều làm khiến người khác phải thương xót. Tuy nhiên, với nàng, đó lại
là những lỗi lầm nàng gây ra cho người nàng thương yêu. Nàng gửi đến chàng Kim
trăm nghìn cái lạy để mong chàng tha thứ vì mình đã không giữ đúng lời hứa cùng
chàng nên duyên vợ chồng. Tơ duyên của hai người có lẽ chỉ đến được đây thôi, từ
nay Vân sẽ thay Kiều yêu thương, chăm sóc cho chàng. “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim
Lang!” câu nói Kiều thốt ra như một lời xin lỗi, tiễn biệt mà nàng gửi đến Kim Trọng.
Từ nay, Kiều phải đi về nơi khác, phải phụ tình cảm mà Kim dành cho mình từ đây.
Có thể Kim Trọng sẽ thất vọng, sẽ đau khổ khi nàng ra đi nhưng nàng không thể làm khác được.
Từng câu thơ là sự đau khổ, bất hạnh của nàng Kiều, nhưng chính những điều này
khiến ta nể phục, yêu thương cô Kiều vì cô không chỉ là người sống tình nghĩa mà còn
là người có suy nghĩ sâu sắc, luôn quan tâm, lo lắng cho người khác trước khi lo cho bản thân mình.
Điểm nổi bật làm nên thành công vang dội của tác phẩm đó chính là thể thơ lục bát
dân gian của dân tộc. Đoạn trích sử dụng những câu cảm thán đã khắc họa thành công
tâm trạng, nỗi lòng của Thúy Kiều khi trao mối duyên của mình cho Thúy Vân.
Đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung đã góp một phần không nhỏ vào việc làm
đa dạng nền văn hóa dân tộc. Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn trích “Trao duyên”
cùng tác phẩm Truyện Kiều vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của nó và để lại nhiều ấn
tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Bài văn mẫu 18
Nguyễn Du là nhà văn tài năng với lối phổ thơ sử dụng ngôn từ tinh tế, đặc sắc gây ấn
tượng sâu sắc cho người đọc. Nổi bật nhất trong các tác phẩm để đời của ông cho đến
ngày nay không thể không nhắc đến tác phẩm Truyện Kiều với câu chuyện dài về
cuộc đời thâm trầm, đầy đau khổ của Thúy Kiều được phổ thành thể thơ lục bát. Nàng
không chỉ có số phận nghiệt ngã, tủi nhục mà đau đớn hơn là mối tình dang dở với
Kim Trọng được tác giả khắc họa rõ nét qua đoạn trích Trao duyên.
Thúy Kiều vốn từ trước đã có một mối tình đầu quá đỗi trong sáng và hạnh phúc với
chàng thư sinh Kim Trọng phong thái nho nhã, cốt cách thanh cao. Hai người đã âm
thầm trao lời hẹn ước cùng kỷ vật định tình với lời thề nguyện mãi chung thủy với nhau.
Thế nhưng vì biến cố gia đình mà nàng đành “lỗi hẹn trăm năm” với Kim Trọng, để
rồi phải chấp nhận cay đắng cùng lời khẩn thiết trao duyên lại cho em gái Thúy Vân:
Cậy em, em có chịu lời, ............
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Thúy Kiều vốn là vai chị nhưng nàng lại mở lời nhờ cậy em gái Thúy Vân với lời lẽ
khác thường bằng những từ ngữ kính cẩn “cậy”, “chịu lời”, “lạy rồi sẽ thưa”. Đó như
lời như vừa nhờ vả, vừa van nài của Kiều và nàng khẩn cầu vì không muốn Thúy Vân từ chối.
Kiều phân trần với Thúy Vân về mối tình sâu đậm “ngày quạt ước”,”đêm chén thề”
nhưng dang dở, “đứt gánh tương tư” giữa nàng và chàng Kim bằng những t
Bởi “sóng gió bất kỳ” của gia đình đã khiến nàng không thể tiếp tục chấp nối mối tình
xưa với Kim Trọng. Thế nhưng, nàng vẫn luôn nghĩ đến tình thâm ruột thịt, Xót tình
máu mủ, thay lời nước non”. Thế nên nàng mới đau đớn quyết định trao duyên cho em
gái và đã có dự định trước cho cái chết của chính mình.
Do đó, Thúy Kiều đành toàn vẹn đôi đường để em gái và người mình yêu được hạnh
phúc. Có như vậy, Kiều dù “dù thịt nát xương mòn” thì nàng vẫn cảm thấy được an ủi
và có thể “Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.
Từng câu thơ khẩn cầu trao duyên của Kiều tuy chỉ được Nguyễn Du đặc tả bằng
những câu thơ lục bát. Thế nhưng lại khiến người nghe đau xót và thấu tận tâm can
cho tình cảnh của Kiều.
Có thể thấy, nàng đã mâu thuẫn, day dứt và đau đớn như thế nào khi quyết định
nhường lại mối duyên tình sâu đậm, đẹp đẽ của mình cho em gái. Nàng trao lại kỷ vật
định tình là “Chiếc thoa với bức tờ mây” nhưng vẫn “nửa giữ-nửa níu” với câu nói
“Duyên này thì giữ, vật này của chung”, cho thấy Kiều tuy trao duyên cho em nhưng
lòng đau như cắt, không nỡ đành đoạn chấm dứt mối tình khắc cốt ghi tâm với Kim
Trọng, nàng muốn trao duyên nhưng lại không muốn trao tình.
Trong lòng nàng lúc này là bao nhiêu ngổn ngang, mâu thuẫn, nửa muốn làm “nhưng”
cũng nửa không đành. Bởi đâu người con gái nào muốn trao hạnh phúc riêng mình
cho người khác, cho dù đó là em gái ruột thịt, đâu ai muốn người mình yêu lại kề cận,
yêu thương người con gái khác. Vậy mà, Kiều đành phải vì chữ “Hiếu” mà “đứt từng
đoạn ruột” nhường lại tình yêu cho Thúy Vân.
Suy cho cùng, đó cũng là giải pháp tốt nhất mà Kiều có thể làm được khi dự đoán
trước rằng mình sẽ chết. Nếu như Kiều đã không thể có một tình yêu trọn vẹn với
chàng trai tốt như Kim Trọng, thì hãy để cho gái được thừa hưởng tình yêu và hạnh phúc ấy.
Như vậy ở “nơi chính suối” ân tình của Kiều vẫn được ghi nhớ, vẫn được những
người còn sống “Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”, nàng cũng cảm thấy vui
lây cho em gái và người yêu.
Thúy Kiều một mặt trao duyên cho Thúy Vân, mặt khác nàng đã dự đoán được thần
chết sắp sửa đưa nàng đi. Thế nên, Kiều vừa khẩn cầu để trao duyên cho em, nhưng
cũng vừa trăn trối trước cho số phận đoản mệnh của mình:
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Từng câu thơ được Nguyễn Du đặc tả về việc Kiều dự đoán trước cái chết của mình
nghe sao thê lương và bi thảm quá! Nàng tự nhận mình là “người thác oan”
Thật vậy bởi một người con gái “liễu yếu đào tơ”, “công dung ngôn hạnh”, hiền đức
như Kiều, lại có thêm mối tình sâu sắc cùng Kim Trọng như chưa hạnh phúc được bao
lâu lại phải vì chữ “Hiếu” mà “trâm gãy bình tan”, tấm thân trong trắng bị “thói quan
quyền, phường danh lợi” chà đạp không thương tiếc.
Nàng xót thương cho mình “Nát thân bồ liễu”, nên mới quyết trao duyên em để thay
tình chị “đền nghì trúc mai” trả nghĩa ân tình, nợ ái ân cho Kim Trọng. Để sau này khi
nàng chết đi, “Dạ đài cách mặt, khuất lời” không thể kề bên, không thể tiếp nối duyên
tình với chàng được nữa.
Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!
Sau khi Kiều trao tín vật định tình và gửi gắm duyên tình cho Thúy Vân thì nàng lại
chuyển từ động thái nói với em gái sang độc thoại nội tâm với chính mình. Có thể
thấy, nàng đã đau khổ tột cùng đến mức không thể nói nên lời nữa.
Những dày vò trong tâm can nàng lúc này chính là sự chấp nhận, nàng chỉ còn có thể
“đành” để “nước chảy hoa trôi lỡ làng”, xót thương cho bản thân mình cùng sự nhung
nhớ người thương da diết với lời tự trách “Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!/ Thôi thôi
thiếp đã phụ chàng từ đây!”.
Bằng những từ ngữ tinh tế nhưng có sức tạo hình mạnh mẽ, Nguyễn Du đã khiến
người đọc dường như đồng cảm và không thể không xót xa cho hoàn cảnh éo le đẫm
nước mắt cho cuộc đời nàng Kiều đáng thương. Có thể thấy, đoạn trích Trao duyên đã
lột tả được “cơn sóng dữ dội” trong tâm can Thúy Kiều khi quyết “nhường” thâm tình sâu đậm cho em gái.