



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------- BÀI THẢO LUẬN MARKETING DU LỊCH Đề tài
XÂY DỰNG VÀ LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING
CHO SẢN PHẨM DU LỊCH VỀ “DU LỊCH CAO BẰNG – TRẢI
NGHIỆM MẢNH ĐẤT LỊCH SỬ CỦA CỘI NGUỒN CÁCH MẠNG” Nhóm: 1. Mã lớp học phần: 232_TMKT0511_02.
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Viết Thái. Hà Nội, 2023 1 MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM.......................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH CAO BẰNG
...................................................................................................................................... 3
1.1. Khái quát về lịch sử phát triển của tỉnh Cao Bằng........................................3
1.2. Giới thiệu đôi nét về các tài nguyên phát triển du lịch...................................6 1.2.1.
Các di tích lịch sử.....................................................................................6 1.2.2.
Các danh lam thắng cảnh........................................................................6 1.2.3.
Văn hóa ẩm thực......................................................................................7
1.2.4. Về con người, các lễ hội và làng nghề truyền thống..................................7
1.3. Tình hình du lịch tại Cao Bằng hiện nay........................................................8
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH TUOR 3 NGÀY 2 ĐÊM VỀ
“DU LỊCH CAO BẰNG - KHÁM PHÁ MẢNH ĐẤT LỊCH SỬ CỦA CỘI
NGUỒN CÁCH MẠNG”...........................................................................................9
2.1. Lý do phát triển sản phẩm du lịch mới...........................................................9
2.2. Quy trình phát triển sản phẩm mới...............................................................11
2.2.1. Hình thành ý tưởng...................................................................................11
2.2.2. Lựa chọn ý tưởng......................................................................................12
2.2.3. Soạn thảo và thẩm định dự án..................................................................12
2.2.4. Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới................................14
2.2.5. Thiết kế sản phẩm mới:.............................................................................17
2.2.6. Thử nghiệm trên thị trường......................................................................26
2.2.7. Thương mại hóa........................................................................................27
CHƯƠNG 3: LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG MARKETING CHO SẢN
PHẨM DU LỊCH......................................................................................................28
3.1. Quy trình xây dựng marketing cho sản phẩm..............................................28
3.1.1. Xác định mục tiêu của quảng cáo cho sản phẩm mới.............................28
3.1.2. Quyết định đối tượng quảng cáo...............................................................29
3.1.3. Quyết định ngân sách quảng cáo..............................................................29
3.1.4. Thiết kế thông điệp quảng cáo cho sản phẩm...........................................31
3.1.5. Quyết định về phương tiện truyền thông..................................................32
3.1.6. Đánh giá hiệu quả của quảng cáo............................................................34
3.2. Công cụ quảng cáo cho sản phẩm..................................................................36
3.2.1. Phương tiện in ấn......................................................................................36
3.2.2. Khuyến mại................................................................................................37 2
3.2.3. Phương tiện truyền thông đại chúng........................................................37
3.2.4. Marketing trực tiếp....................................................................................38
KẾT LUẬN................................................................................................................ 39
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1. Nguyễn Hồng Đăng 2. Đinh Quang Huy 3. Nguyễn Cát Linh
4. Đàm Thị Trà My ( Nhóm trưởng ) 5. Nguyễn Thị Quỳnh Nga 6. Ngô Thanh Ngân 7. Hoàng Phương Thảo 8. Đinh Thị Thu Trang 9. Trần Thị Huyền Trang
10. Nguyễn Đặng Thu Trà 3 LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng có vị trí quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển du lịch sẽ góp phần và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, mang lại nguồn thu ngân sách cho quốc gia, thu hút vốn đầu tư và xuất khẩu hàng
hóa tại chỗ, tác động tích cực đối với phát triển các ngành kinh tế có liên quan.
Đối với Việt Nam, ngành du lịch được xem như là một trong ba ngành kinh tế
mũi nhọn, được chú trọng đầu tư, không ngừng phát triển và có những đóng góp tích
cực vào nền kinh tế quốc gia. Theo các nhà nghiên cứu, kể từ năm 1986, kinh tế Việt
Nam có những thay đổi đáng kể trên nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp và
du lịch. Khách du lịch đến Việt Nam ngày càng đông, các điểm đến du lịch được khai
thác và mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Với lợi thế là có nhiều điểm tham quan, danh lam thắng cảnh và các di tích lịch
sử nổi tiếng. Việt Nam dần khẳng định vị thế của mình là một điểm đến du lịch đầy
sức hút và tiềm năng. Nhưng bên cạnh những lợi thế đó, du lịch Việt Nam cũng phải
đối đầu với thách thức tạo ra các sản phẩm du lịch tại các điểm đến du lịch làm sao cho
có sức hấp dẫn lâu bền với du khách khi đến tham quan, trải nghiệm.
Thông qua những kiến thức đã học, sự tìm hiểu nghiên cứu về sản phẩm du lịch
và những đóng góp, thảo luận của các thành viên nhóm 1. Chúng em đã xây dựng phát
triển về một sản phẩm du lịch với tên gọi “Tour du lịch Cao Bằng- Trải nghiệm mảnh
đất lịch sử của cội nguồn cách mạng”. Song vẫn do hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức
nên ý tưởng về sản phẩm du lịch mới của chúng em vẫn còn giữ những thiếu sót nhất
định. Chúng em hi vọng rằng Thầy và các bạn sẽ xem xét và đánh giá để giúp ý tưởng
của nhóm chúng em thêm hoàn thiện hơn. 4
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH CAO BẰNG
1.1. Khái quát về lịch sử phát triển của tỉnh Cao Bằng * Vị trí địa lý
Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở vùng Đông Bắc, phía Bắc và Đông Bắc
giáp Quảng Tây (Trung Quốc), đường biên giới dài trên 333 km, phía Tây giáp 2 tỉnh
Hà Giang và Tuyên Quang, phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều
Bắc – Nam 80 km (từ xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm đến xã Quang Trọng, huyện
Thạch An). Theo chiều Đông – Tây 170 km (từ xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang đến xã
Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm).
Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.703,42 km2; là cao nguyên đá vôi xen với đất,
có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600 – 1.300 so với mặt
nước biển. Núi rừng chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh, đất bằng để canh tác chỉ có
gần 10%. Dân số hiện nay là khoảng 519.802 người. Non nước Cao Bằng đậm đà bản
sắc văn hoá các dân tộc. Từ khi thành lập tỉnh đến nay đã trả qua những giai đoạn lịch
sử hình thành và phát triển mang dấu ấn sâu sắc.
* Cao Bằng được thành lập, tồn tại, phát triển dưới sự thống trị của các triều đại phong kiến
Cao Bằng bắt đầu là một vùng đất thuộc lãnh thổ Việt Nam từ năm 1039 từ thời
vua Lý Thái Tông nhưng không có bộ máy tổ chức hoạt động như một phủ, phải đến
năm Cảnh Thống thứ 2 (1499) nhận thấy vị trí đặc biệt quan trọng của vùng đất Cao
Bằng đối với việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia Đại Việt ở dải biên cương phía Bắc, nhà Lê
tách phủ Cao Bằng ra khỏi Thừa tuyên Thái Nguyên thành lập một trấn riêng, đặt hiệu
là trấn Cao Bằng. Việc thành lập trấn Cao Bằng đánh dấu sự khởi đầu việc trở thành
vùng có lãnh thổ và bộ máy quản lý riêng, chứng tỏ vùng đất Cao Bằng có đủ điều
kiện cần thiết trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương (Triều đình – nhà vua).
Sau này vua Minh Mạng (vị hoàng đế thứ hai của triều đình nhà Nguyễn) lên
ngôi đã quyết định thực hiện cải cách hành chính, năm 1831 đổi trấn làm tỉnh, khi đó
tỉnh Cao Bằng có 1 phủ là Trùng Khánh, 4 châu là Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ
Lang, Thạch Lâm. Những năm sau đó, các vị vua tiếp theo của triều Nguyễn tiếp tục
thực hiện cải cách như: đổi các châu làm huyện, lập thêm phủ, bỏ chế độ thổ quan đặt
lưu quan. Đây là dấu mốc về sự thay đổi tên gọi từ trấn đổi làm tỉnh Cao Bằng, các
châu đổi làm huyện, sau cải cách hành chính dưới sự trị vì của vua Tự Đức (vị hoàng
đế thứ tư của triều đình nhà Nguyễn) tỉnh Cao Bằng có 1 phủ và 5 huyện.
* Cao Bằng thời kỳ thuộc Pháp (từ tháng 10/1886 đến trước khi Cách mạng tháng
Tám thành công năm 1945) 5
Sau 28 năm xâm lược Việt Nam, tháng 10/1886 thực dân Pháp đánh chiếm Cao
Bằng. Từ đây tỉnh Cao Bằng nằm dưới sự đô hộ của thực dân Pháp. Sau khi chiếm
đóng, thực dân Pháp đã xếp đặt, tổ chức lại các đơn vị hành chính để dễ cai trị. Từ năm
1886 – 1945, tên gọi, địa giới và số lượng các đơn vị hành chính tỉnh Cao Bằng luôn
có sự thay đổi qua từng thời kỳ.
Cao Bằng là vùng đất nhiều tài nguyên khoáng sản, các công ty tư bản của Pháp
tại Việt Nam đã lần lượt tìm đến thăm dò, khảo sát rồi thành lập các Công ty để khai
thác, vơ vét tài nguyên khoáng sản, đồng thời chúng bắt dân đi phu, đi lính, bóc lột sức
lao động nặng nề làm cho cuộc sống của người dân vốn đã khó khăn nghèo đói, giờ
càng trở nên thiếu thốn đến cùng cực. Không cam chịu làm nô lệ, nhân dân các dân tộc
tỉnh Cao Bằng đã đoàn kết đứng lên chống lại áp bức, bóc lột bằng những phong trào
kháng chiến chống thực dân Pháp. Kết quả tuy thất bại nhưng đã gây cho giặc Pháp
những tổn thất nặng nề và trở thành vùng rất nguy hiểm đối với quân Pháp.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc truyền
bá vào trong nước, ở Cao Bằng đã xuất hiện các tổ chức yêu nước như Hội đánh Tây,
Hội Thanh niên phản đế… thu hút nhiều thanh niên yêu nước, tiến bộ tham gia, trong
đó nổi bật và có ảnh hưởng hơn cả là vai trò của đồng chí Hoàng Đình Giong. Từ một
thanh niên giàu lòng yêu nước trở thành người chiến sĩ cộng sản kiên trung, người học
trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú của Việt Nam và quê hương Cao Bằng.
Với tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Cao Bằng được Bác Hồ
chọn làm căn cứ địa cách mạng. Ngày 28/01/1941 Đảng bộ Cao Bằng và đồng bào Pác
Bó thay mặt nhân dân cả nước đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc để lãnh
đạo cách mạng Việt Nam. Đây là niềm vinh dự và tự hào cho Đảng bộ, nhân dân các
dân tộc Cao Bằng, là dấu mốc lịch sử quan trọng của tỉnh, cùng với tình cảm của
Người dành cho mảnh đất và con người nơi đây, Cao Bằng đã trở thành quê hương thứ hai của Người.
Để chuẩn bị tiến hành một cuộc Tổng khởi nghĩa giành lấy chính quyền, Người
bắt đầu từ xây dựng lực lượng ở nơi dân đến huấn luyện đội ngũ cán bộ, du kích qua
các sự kiện thành lập Mặt trận Việt Minh (19/5/1941) thu hút đông đảo các tầng lớp
nhân dân trong tỉnh tham gia; sự kiện thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng
quân (22/12/1944), gồm 34 chiến sĩ (trong đó có 25 chiến sĩ là con em các dân tộc tỉnh
Cao Bằng), do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy; đồng chí Hoàng Sâm làm
Đội trưởng, đồng chí Dương Mạc Thạch làm Chính trị viên. Những hoạt động đó tạo
dựng được lực lượng, sức mạnh to lớn, là tiền đề tạo nên thắng lợi Cách mạng tháng
Tám năm 1945. Ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, huyện 6
Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức làm lễ thành lập.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đời, Cao
Bằng cùng cả nước bước sang một giai đoạn lịch sử mới dưới sự quản lý, điều hành
của chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân. Cao Bằng trở thành nơi cội nguồn cách
mạng, nơi lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh từng sống, hoạt động và đề ra nhiều quyết sách
lớn, nơi có những người con ưu tú của quê hương đã lập nhiều chiến công xuất sắc và
sự đóng góp, hy sinh cao cả của biết bao chiến sĩ là con em các dân tộc tỉnh Cao Bằng
đã gắn liền với lịch sử vẻ vang của đất nước và dân tộc ta.
* Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 1945
Năm 1948, Chính phủ quyết định bãi bỏ cấp tổng, phủ, đạo, châu. Cấp trên cấp
xã và dưới cấp tỉnh nhất loạt gọi là huyện. Cao Bằng lúc đó gồm 11 huyện, thị: Hòa
An, Hà Quảng, Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An, Phục Hoà, Hạ Lang, Quảng Uyên,
Trùng Khánh, Trấn Biên và Thị xã Cao Bằng. Ngày 03/10/1950, Cao Bằng hoàn toàn
được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.
Ngày 01/7/1956, Cao Bằng cùng các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Hà Giang hợp thành Khu tự trị Việt Bắc. Ngày 20/3/1958, huyện Trấn
Biên được đổi tên thành huyện Trà Lĩnh. Ngày 7/4/1966, chia huyện Hà Quảng thành
hai huyện là: Hà Quảng và Thông Nông. Ngày 8/3/1967, hợp nhất huyện Quảng Uyên
và Phục Hoà thành huyện Quảng Hoà. Đến ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà (khoá V) kỳ họp thứ 2 quyết nghị bỏ cấp khu trong hệ thống
các đơn vị hành chính. Quyết định tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hợp nhất thành một
tỉnh là Cao Lạng, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Cao Bằng.
Ngày 29/12/1978, Nghị quyết Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ 4 chia tỉnh Cao
Lạng thành 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Sáp nhập 2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã tỉnh
Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng.
Ngày 06/01/1996, Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 phê chuẩn tách 2 huyện
Ngân Sơn, Ba Bể của tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bắc Kạn. Tỉnh Cao Bằng thời điểm này
gồm 11 đơn vị hành chính cấp huyện, thị (1 thị xã, 10 huyện) và 189 xã, phường, thị
trấn. Tổng diện tích tự nhiên là 6.724,72 km2.
Ngày 25/9/2000, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/2000/NĐ-CP, điều chỉnh
địa giới hành chính huyện Bảo Lạc và thành lập huyện Bảo Lâm thuộc tỉnh Cao Bằng.
Ngày 13/12/2007, Chính phủ ra Nghị định số 183/2007/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới
hành chính xã, thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện: Bảo Lạc, Thông Nông, Trùng
Khánh, Phục Hoà thuộc tỉnh Cao Bằng. 7
Ngày 18/10/2010, thị xã Cao Bằng được Bộ trưởng Bộ Xây dựng ra Quyết định số
926/QĐ-BXD, công nhận là đô thị loại III. Ngày 25/9/2012, Chính phủ ban hành Nghị
quyết số 60/NQ-CP, thành lập Thành phố Cao Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng.
Như vậy, dù nhiều lần thay đổi tên gọi, điều chỉnh địa giới hành chính, song lãnh thổ
Cao Bằng cơ bản vẫn ổn định. Hiện nay, Cao Bằng có 13 đơn vị hành chính cấp huyện
(01 thành phố và 12 huyện); 199 xã, phường, thị trấn (14 thị trấn, 4 phường, 181 xã);
có 46 xã thị trấn biên giới, có 2 cửa khẩu quốc gia, 1 của khẩu quốc tế.
1.2. Giới thiệu đôi nét về các tài nguyên phát triển du lịch
1.2.1. Các di tích lịch sử
Cao Bằng được biết đến là vùng đất cổ có lịch sử lâu đời được ghi chép trong
sử sách từ rất sớm, có bề dày truyền thống lịch sử gắn với những cuộc chiến đấu chống
xâm lược trong thời kỳ dựng nước và giữ nước. Cao Bằng được mệnh danh “bức phên
dậu” vững chắc của cả nước vì giữ vị trí trọng yếu nơi biên cương của Tổ quốc, là
vùng đất “địa linh nhân kiệt” sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc góp phần viết nên
trang sử hào hùng, vẻ vang của quê hương đất nước
Cùng với nhiều tài nguyên du lịch khác thì hệ thống di tích lịch sử, văn hóa
được xác định là một trong những yếu tố quan trọng tạo cơ sở để khai thác xây dựng
các sản phẩm du lịch mang nhiều nét độc đáo, đặc trưng riêng của địa phương để thu
hút khách du lịch. Đó còn là những địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng, bồi
đắp tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ, góp phần phát triển ngành du lịch.
Toàn tỉnh có hơn 200 di tích với 98 di tích đã được xếp hạng, gồm có 3 di tích
cấp quốc gia đặc biệt, 25 di tích cấp quốc gia và 70 di tích cấp tỉnh. Thêm nữa, Cao
Bằng còn có 02 bảo vật quốc gia: Đôi chuông tại Chùa Viên Minh và Đền Quan Triều
(xã Hưng Đạo, Thành phố) và Bia Ma nhai Ngự chế của Vua Lê Thái Tổ (xã Hồng
Việt, Hòa An); 04 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: Nghi lễ Then của người Tày ở
Cao Bằng; Lễ hội Nàng Hai, xã Tiên Thành; Nghề rèn của người Nùng An, xã Phúc
Sen; Lễ hội Tranh đầu pháo, Thị trấn Quảng Uyên (huyện Quảng Hòa) ... từ đó đã tạo
nên một bức tranh đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, là điểm nhấn thu hút du khách đến tham quan.
1.2.2. Các danh lam thắng cảnh
Đến Cao Bằng chiêm ngưỡng các danh lam thắng cảnh đẹp như tranh, phong
cảnh thiên nhiên hữu tình nên rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, du lịch. Nơi đây có
thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ với những địa danh nổi tiếng thu hút khách du lịch. Có
thể kể đến một số danh lam thắng cảnh tiêu biểu sau:
- Vẻ đẹp khó cưỡng của Thác Bản Giốc ngày nước đổ: Đầu Đông, khi những
cơn mưa chuyển mùa đổ về cũng là lúc những dòng thác ở Bản Giốc từ trên cao trắng 8
xóa ào ào đổ xuống qua mấy tầng bụi mù hơi nước với hai bên những ngọn núi đá vôi
càng làm nổi bật vẻ đẹp hoang sơ kỳ vĩ nổi tiếng của thác Bản Giốc.
- Núi Mắt Thần – thác Nặm Trá nằm trong thung lũng của xóm Bản Danh, Xã
Quốc Toản mang vẻ đẹp hoang sơ và hùng vỹ. Cảnh vật phía dưới Hồ Nặm Trá còn
được đặt cho cái tên “Tuyệt tình Cốc Cao Bằng”. Bởi vẻ đẹp non nước hữu tình, bồ
Nặm Trá được bao bọc bởi những dãy núi trùng điệp bạt ngàn. Những nương ngô uốn
lượng trên các sườn đồi tô điểm thêm những sắc màu cho bức tranh thiên nhiên.
Ngoài ra, còn có thể kể đến các danh lam thắng cảnh như: Động Ngườm Ngao,
Đèo Mã Phục, Chùa Phật Tích Trúc Lâm, Hồ Thang Hen…
1.2.3. Văn hóa ẩm thực
Cao Bằng được xem là điểm đến trong mơ của các tín đồ ẩm thực với các món
ngon được chế biến từ chính sản vật địa phương. Ẩm thực Cao Bằng rất đa dạng với
các món ăn mang đạm hương vị của đồng bào các dân tộc như: lạp sườn, thịt treo gác
bếp, thịt cuốn lá mác mật, xôi trứng kiến, thạch đen, thạch trắng, bánh nướng, khẩu sli,
rượu Đinh Đông... ; nhiều món ăn lọt top 100 món ăn đặc sản Việt Nam như: bánh
trôi, xôi Trám, bánh Cuốn, bánh Áp chao, ... ; bánh Chè Lam, miến Dong đen Phja
Đén được chọn vào top 100 đặc sản quà tặng Việt Nam.
1.2.4. Về con người, các lễ hội và làng nghề truyền thống
Mỗi dân tộc sinh sống ở Cao Bằng đều có những di sản văn hóa truyền thống
độc đáo của riêng mình, thể hiện rõ trên trang phục, lễ hội, tín ngưỡng... Đó là những
giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc được người dân luôn gìn giữ, phát huy.
Đến Cao Bằng, về các bản làng, nhất là dịp mùa xuân, ngày hội, ngày chợ
phiên, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng và thích thú khi được hòa vào vườn hoa đầy
màu sắc của các chàng trai, cô gái bản địa với những trang phục độc đáo. Về cơ bản
các trang phục của người Cao Bằng phổ biến nhất là sắc chàm, tự dệt, tự nhuộm,
nhưng đa sắc màu nhất lại là của người Dao, Mông.
Cao Bằng còn là miền đất của lễ hội. Lễ hội của đồng bào các dân tộc Cao
Bằng nhìn chung đều nhằm cầu trời ban điều an lành cho dân bản, mưa thuận gió hòa,
mùa màng bội thu, gia súc không bị dịch bệnh, đời sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi lễ hội
đều có những nét độc đáo riêng, gắn liền với bản sắc văn hóa từng địa phương, từ lâu
đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng không thể thiếu như: Hội
Nàng Hai - tục cầu mùa ở huyện Phục Hòa và Thạch An; Hội Pháo Hoa vào mùng 2/2
âm lịch tại Quảng Uyên, Thạch An...
Trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc ở Cao Bằng có thể
nói không thể thiếu được các loại hình văn nghệ dân gian. Mỗi dân tộc, mỗi địa
phương đều có những loại hình văn nghệ dân gian đặc trưng riêng. 9
Ở Cao Bằng, các nghề, làng nghề đã có từ rất lâu; người dân vẫn lưu giữ, say
mê với nghề. Công nghiệp sản xuất, chế biến hàng tiêu dùng phát triển, có nhiều sản
phẩm có thể thay thế các sản phẩm từ làng nghề, tuy nhiên sản phẩm từ các làng nghề
được làm thủ công có nét đặc trưng riêng, được duy trì, sử dụng theo phong tục tập
quán của người dân nên vẫn có vị trí khác biệt trên thị trường, được duy trì và phát
triển, ví dụ như: Làng nghề làm đường phên, Nghề rèn, Nghề làm hương,….
1.3. Tình hình du lịch tại Cao Bằng hiện nay
Trong năm 2021, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành du lịch,
làm hoạt động du lịch bị tổn hại nặng nề, kéo theo sự sụt giảm các ngành, lĩnh vực liên
quan. Linh hoạt ứng phó với tình hình này, Sở VHTTDL đã tham mưu UBND tỉnh ban
hành Kế hoạch số 651/KH-UBND ngày 22/3/2022 về tổ chức các hoạt động phục hồi
và mở cửa du lịch tỉnh Cao Bằng trong điều kiện bình thường mới, thông qua các hoạt động như:
- Tổ chức xúc tiến, quảng bá điểm đến qua các hoạt động: Hội đàm giữa Công
viên địa chất (CVĐC) toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng (Việt Nam) và CVĐC
toàn cầu Lạc nghiệp, Phượng Sơn (Trung Quốc); làm việc với cơ quan hợp tác quốc tế
Hàn Quốc (KOICA) giới thiệu về tiềm năng, thế mạnh của địa phương; đẩy mạnh
tuyên truyền, quảng bá và xây dựng hình ảnh du lịch Cao Bằng “thân thiện, an toàn và
hấp dẫn”, “CVĐC Non nước Cao Bằng – “Xứ sở thần tiên” trên các phương tiện thông
tin đại chúng và các trang mạng xã hội...; phối hợp với VTV4 (Đài Truyền hình Việt
Nam) thực hiện phóng sự chuyên đề về du lịch cộng đồng tại địa phương; phối hợp với
Hội Du lịch cộng đồng và các chuyên gia, cơ quan báo chí truyền thông tổ chức khảo
sát, đánh giá điểm đến tại huyện Nguyên Bình và Trùng Khánh; tham gia hoạt động
văn hóa, du lịch tại Phố đi bộ Hoàn Kiếm trong khuôn khổ “Tuần Văn hóa du lịch Việt
Bắc tại Hà Nội năm 2022”, tập trung giới thiệu, quảng bá những đặc sản, sản phẩm
OCOP của địa phương và biểu diễn các chương trình nghệ thuật đặc sắc mang đậm
dấu ấn văn hóa dân tộc Lô Lô; chương trình Du lịch về nguồn năm 2022 tại Khu di
tích quốc gia đặc biệt Pác Bó, huyện Hà Quảng.
- Thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động du lịch: Triển khai hiệu quả Kế
hoạch số 2269/KH-UBND ngày 24/11/2021 của UBND tỉnh về phát triển chính quyền
số và đảm bảo an toàn thông tin mạng năm 2022 tỉnh Cao Bằng. Tăng cường phối hợp
với các đơn vị tư vấn thống nhất nội dung triển khai ứng dụng công nghệ số trong hoạt
động du lịch, thư viện và quản lý di sản văn hóa.
- Tăng cường triển khai kKch cầu du lịch: Thông qua việc đổi mới, cải tạo cảnh
quan, khuôn viên, hình thành điểm check-in đẹp, phù hợp trào lưu được du khách đón
nhận tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó; ban hành văn bản triển khai các gói 10
kích cầu du lịch đến các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh
công tác tuyên truyền sau khi các đơn vị đăng ký.
- Phát triển sản phẩm du lịch, các dịch vụ du lịch tại: Điểm du lịch cộng đồng
Khuổi Khon (huyện Bảo Lạc); Điểm du lịch cộng đồng Hoài Khao, xã Quang Thành
(huyện Nguyên Bình); Điểm check - in đỉnh cao Phja Oắc, xã Thành Công (huyện
Nguyên Bình);…Tổ chức đoàn khảo sát, học tập kinh nghiệm tại Hà Giang cho đối tác
CVĐC nhằm nâng cao nhận thức và chất lượng dịch vụ tại đơn vị; đẩy mạnh công tác
hợp tác, liên kết phát triển tuyến du lịch số 5 kết nối giữa 02 CVĐC toàn cầu
UNESCO Cao Nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) –Non nước Cao Bằng (Cao Bằng).
Với những chính sách thích ứng, an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch
Covid-19 nên kết quả hoạt động kinh doanh du lịch trong 6 tháng đầu năm 2022 cũng
có chuyển biến tích cực ước đạt: Tổng lượt khách 391.121 lượt, tăng 29,2% so với
cùng kỳ, trong đó: khách du lịch quốc tế 3.669 lượt, tăng 220% so với cùng kỳ; khách
du lịch nội địa ước đạt 387.452 lượt, tăng 28,5% so với cùng kỳ. Tổng thu du lịch ước
đạt 154,1 tỷ đồng, tăng 281,2 % so với cùng kỳ. Công suất sử dụng phòng ước đạt 38,2%.
Thời gian tới, ngành du lịch tiếp tục thực hiện Kế hoạch phục hồi và mở cửa du
lịch tỉnh Cao Bằng thông qua việc tổ chức cuộc thi viết các sự tích, câu chuyện về các
khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh; xây dựng clip ẩm thực “Món ngon Cao Bằng”;
triển khai Mô hình “Homestay nói không với ni lông và sản phẩm nhựa sử dụng một
lần”; tiếp tục triển khai thí điểm mô hình nông nghiệp gắn với dịch vụ du lịch tại xóm
Háng Thoang, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh…
Có thể nói, đây cũng là thời cơ vàng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn theo nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra. Song,
để hoàn thành các mục tiêu đề ra, ngoài việc hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp, người
lao động vượt qua khó khăn hiện nay đòi hỏi các cấp, các ngành cần vào cuộc quyết
liệt, khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch
nhằm dần dần khẳng định thương hiệu điểm đến Cao Bằng trên thị trường trong nước và quốc tế. 11
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH TUOR 3 NGÀY 2 ĐÊM VỀ
“DU LỊCH CAO BẰNG - KHÁM PHÁ MẢNH ĐẤT LỊCH SỬ CỦA CỘI NGUỒN CÁCH MẠNG”
2.1. Lý do phát triển sản phẩm du lịch mới
Cao Bằng, tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, được biết đến như
“cái nôi” của cách mạng Việt Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường, là
địa bạn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số và đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên
nhiên, nhân văn phong phú, độc đáo, cảnh quan đa dạng và nhiều các di tích lịch sử
văn hóa du lịch đặc sắc. Trong sự phát triển chung của kinh tế đất nước, sự phát triển
du lịch tại Cao Bằng đã mang lại diện mạo ngày càng mới cho nơi đây. Điều này
khẳng định vị thế trọng yếu của ngành du lịch trong trong cơ cấu nền kinh tế của tỉnh
nhà cũng như đời sống của người dân. Có thể nói, cơ hội việc làm của người dân sinh
sống tại Cao Bằng phụ thuộc không nhỏ vào sự phát triển du lịch của nơi đây. Bên
cạnh mũi nhọn chủ đạo của Cao Bằng là du lịch về các danh lam thắng cảnh hay văn
hóa thì các loại hình du lịch khác cũng được lãnh đạo thành phố và tỉnh quan tâm tạo
điều kiện phát triển đẩy mạnh làm phong phú thêm các loại hình du lịch như các di tích lịch sử.
Để nói về tiềm năng phát triển du lịch về các di tích lịch sử của Cao Bằng thì có
rất nhiều. Cao Bằng không chỉ được thiên nhiên ưu ái, với vẻ đẹp trời ban, Cao Bằng
còn là nơi sản sinh những anh hùng kiệt xuất của dân tộc, trở thành điểm đến thu hút
du khách xa gần. Đây cũng là vùng đất sản sinh, nuôi dưỡng nhiều cán bộ cách mạng,
sỹ quan quân đội tài năng trong chiến tranh vệ quốc thời hiện đại.
Toàn tỉnh có 215 di tích, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt, 25 di tích xếp
hạng cấp quốc gia, 68 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Các khu di tích quốc gia đặc biệt Pác
Bó (Hà Quảng), rừng Trần Hưng Đạo (Nguyên Bình), địa điểm Chiến thắng Biên giới
năm 1950 (Thạch An) là những di tích lịch sử có giá trị đặc biệt quan trọng, gắn liền
với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp và sự trưởng thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bên cạnh đó,
các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu khác như: thành nhà Mạc, đền vua Lê, chùa Đống
Lân, chùa Đà Quận…; những di tích lịch sử, văn hóa khảo cổ thành cổ Na Lữ, Phục
Hòa, cố đô Cao Bình, các di chỉ khảo cổ Ngườm Bốc, Ngườm Vài... là những nét văn
hóa độc đáo, tiềm năng du lịch hấp dẫn của vùng đất cổ Cao Bằng.
- Hà Quảng là huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, có nhiều di tích lịch sử cách
mạng, địa chỉ đỏ như: Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, Khu di tích lịch sử Kim
Ðồng, điểm di tích hang Phja Nọi, di tích Lũng Loỏng, Nà Sác (Trường Hà), Ngườm
Gảng, Khuổi Slấn (xã Ngọc Đào), Phja Toọc (thị trấn Thông Nông)… Những năm gần
đây, một số hạng mục công trình, dự án tại các điểm di tích được Nhà nước đầu tư, 12
trùng tu, tôn tạo. Xây dựng hoàn thành các điểm di sản văn hóa Công viên địa chất
Non nước Cao Bằng. Công tác tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá hình ảnh được huyện quan tâm thực hiện.
- Hòa An cũng là một trong những địa phương có nhiều di tích văn hóa, lịch sử
cách mạng với 64 di tích, nằm trên địa bàn các xã: Hoàng Tung, Hồng Việt, Nam
Tuấn, Trương Lương, Bạch Đằng, Dân Chủ. Cùng với đó, loại hình di sản văn hóa phi
vật thể đang được bảo tồn như: hát Then, đàn tính, hát quan lang tại xã Nam Tuấn, Lễ
hội đền vua Lê, đền Dẻ Đoóng... Với những giá trị về địa chất, lịch sử, văn hóa bản
sắc, huyện được công nhận các điểm: đền Dẻ Đoóng, hang Ngườm Bốc (Hồng Việt),
đền vua Lê, hang Ngườm Slưa, vườn đá xã Hoàng Tung,… trong vùng Công viên địa
chất Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng.
Ngoài ra, hệ thống các loại hình cơ sở kinh doanh lưu trú tăng cao. Hệ thống cơ
sở hạ tầng phục vụ du lịch được đầu tư phát triển tương đối hiện đại, đồng bộ đáp ứng
tốt mọi nhu cầu của đủ các thành phần khách du lịch tham quan. Mặt khác, môi trường
du lịch ở các điểm đến di tích lịch sử Cao Bằng cũng khá sạch sẽ, không khí trong
lành, thoáng đãng và nhiều nơi vẫn còn giữ nét đẹp hoang sơ hấp dẫn du khách.
Cao Bằng là quê hương cách mạng, khi du khách đến tham quan đừng quên ghé
thăm các di tích lịch sử cách mạng. Mỗi di tích đều gắn với từng giai đoạn lịch sử của
cách mạng Cao Bằng nói riêng và cả nước nói chung. Đã qua bao năm hình thành và
phát triển, các di tích lịch sử của Cao Bằng vẫn mang cho mình những nét riêng, thú vị
mà không phải vùng miền nào ở Việt Nam cũng có được. Chính những nét đặc trưng
ấy đã khiến nó trở thành một điểm độc đáo riêng thu hút khách du lịch trong và ngoài
nước đến với phố biển. Có thể khẳng định rằng du lịch về các di tích lịch sử Cao Bằng
đang đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế địa phương cũng như sự phát
triển chung của ngành kinh doanh du lịch.
Hiện này có rất nhiều tuor du lịch về những cảnh đẹp ở mọi miền đất nước Việt
Nam, mà có rất ít biết đến những cảnh đẹp về lịch sử mà Việt Nam đang có. Thông
qua đó mà chúng em đã lên ý tưởng để xây dựng một tuor du lịch mang đậm dấu ấn
lịch sử của người Việt, từ đó giúp chúng ta hiểu biết thêm hơn về cội nguồn của dân
tộc ta. Đặc biệt là nó rất có ích cho các bạn trẻ đang đi làm, các bạn sinh viên, học
sinh,… mong muốn được trải nghiệm lịch sử một cách thú vị để khám phá và hiểu rõ
hơn về quá khứ. Bằng cách trải nghiệm, du khách có thể sống lại những sự kiện quan
trọng và cảm nhận được cảm xúc và tình cảm của những người đã trải qua những thời
kỳ đó. Điều này giúp chúng ta tạo ra một kết nối sâu sắc với quá khứ và hiểu rõ hơn về
nguồn gốc và giá trị của chúng ta ngày nay. Có nhiều cách để trải nghiệm lịch sử, như
tham quan di tích, tham gia vào các sự kiện lịch sử, đọc sách và xem phim về lịch sử. 13
Bằng cách trải nghiệm lịch sử, chúng ta có thể truyền đạt và giữ gìn những giá trị văn
hóa và lịch sử quý báu của đất nước ta.
2.2. Quy trình phát triển sản phẩm mới
2.2.1. Hình thành ý tưởng
Việc hình thành ý tưởng phải được thực hiện dựa trên cơ sở xem xét mục tiêu
phát triển sản phẩm mới và thị trường mà doanh nghiệp nhắm vào.
Nguồn thông tin có thể lấy từ bản thăm dò ý kiến của du khách sau những
chuyến đi hay sau sử dụng dịch vụ du lịch, dịch vụ giải trí, hay các ý kiến của du
khách gửi đến thông qua các thư từ góp ý muốn trải nghiệm các sản phẩm mới và có ý
nghĩa, có thể từ các khiếu nại, hay qua các phương tiện thông tin đại chúng như các
trang web chuyên về du lịch như Tripadvisor, Booking.com và thông qua các nền tảng
mạng xã hội. Nguồn thông tin cũng có thể từ các bộ phận nghiên cứu và phát triển, từ
các giám đốc và các trưởng bộ phận của khách sạn, các cán bộ phụ trách khác nhau
trong doanh nghiệp, đặc biệt những nhân viên thường xuyên tiếp xúc với khách hàng
như nhân viên bán hàng, nhân viên phục vụ khách, hướng dẫn viên du lịch, lễ tân... từ
những nhà khoa học, những người có công trình nghiên cứu, từ các trường đại học,
những người làm marketing... hoặc từ những thành công hay thất bại của đối thủ cạnh tranh.
Để tạo được nguồn thông tin giá trị và thường xuyên các doanh nghiệp phải tạo
ra sự thuận lợi trong việc hình thành và cung cấp ý tưởng như:
- Tạo điều kiện dễ dàng cho việc góp ý như hộp thư góp ý dành cho nhân viên, các
đường dây điện thoại góp ý miễn phí, các phiếu khảo sát cho khách hàng.
- Tạo không khí chung trong nội bộ doanh nghiệp cho việc đề xuất các ý tưởng đặc
biệt là những người tiếp xúc với khách hàng.
- Phải thường xuyên khuyến khích, khen thưởng các nguồn tin và có ý kiến phản hồi cho người có ý kiến.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, có thể lấy ý tưởng từ những sản phẩm có sẵn
trên thị trường hay trong nhiều trường hợp là sao chép chúng hoặc có cải tiến đi chút ít
để xây dựng các tour du lịch mới, các dịch vụ mới, làm vậy sẽ ít mạo hiểm hơn.
2.2.2. Lựa chọn ý tưởng
Nếu như bước trên càng hình thành nhiều ý tưởng càng tốt thì bước này lại phải
giảm bớt số lượng ý tưởng xuống còn một vài ý tưởng trên cơ sở chọn lọc chúng để
chọn lấy ý tưởng có tính hấp dẫn và thực tiễn nhất. Để việc chọn lọc có hiệu quả cần
hết sức thận trọng để tránh bỏ sót ý tưởng tốt và để lọt lưới ý tưởng không tốt, kém hiệu quả.
Việc sàng lọc như vậy cần phải sử dụng các công cụ để đánh giá ý tưởng của
sản phẩm du lịch bằng cách đưa ra mẫu đánh giá thống nhất, nêu rõ ý tưởng của sản 14
phẩm, thị trường mà nó nhắm vào, tình hình cạnh tranh, ước tính quy mô thị trường,
giá bán, thời gian chi phí để phát triển, chi phí sản xuất và lợi nhuận dự kiến và phải
phân tích khả năng nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng thâm nhập thị trường của
sản phẩm, khả năng marketing của doanh nghiệp.
Các ý tưởng sau khi đã sàng lọc lại có thể đánh giá cụ thể hơn như việc xác
định các yếu tố đảm bảo cho sản phẩm thành công khi tung ra thị trường, mức độ quan
trọng của từng yếu tố và mức độ đáp ứng, năng lực của doanh nghiệp cho từng yếu tố
trên bằng cách ngăn cho nó các trọng số. Trên cơ sở các trọng số ta tính được đánh giá
cuối cùng toàn diện về khả năng của doanh nghiệp thành công khi đưa sản phẩm ra thị trường.
2.2.3. Soạn thảo và thẩm định dự án
Soạn thảo dự án: Tuor Hà Nội – Cao Bằng. Từ
ý tưởng về sản phẩm đã được
lựa chọn, nhiệm vụ của công ty là phải đưa ra vài ba phương án sản phẩm với những
thông số, khái niệm có ý nghĩa với du khách để lựa chọn được phương án tốt nhất. Bởi
vì, ý tưởng là những tư tưởng khái quát về sản phẩm du lịch, còn dự án là thể hiện sự
thể hiện tư tưởng khái quát đó thành các phương án sản phẩm mới với các tham số về
đặc tính hay công dụng hoặc đối tượng sử dụng khác nhau của chúng. Do đó, chỉ có dự
án mới tạo thành hình ảnh thực sự về một sản phẩm du lịch mà công ty dự định đưa ra
thị trường và nó có ý nghĩa đối với khách hàng.
- Phương án về độ dài chuyến đi: Thời gian: 2 ngày 1 đêm hoặc 3 ngày 2 đêm.
- Phương án về các hành trình:
+ Hành trình 1: Hà Nội – Khu tượng niệm Hoàng Đình Giong – Di tích đền Kỳ Sầm –
Khu di tích lịch sử Trần Hưng Đạo – Di tích lịch sử Pác Bó.
+ Hành trình 2: Hà Nội - Di tích lịch sử chùa phố cũ – Di tích lịch sử pháo Đài quân sự
tỉnh Cao Bằng – Thành Nà Lữ - Di tích lịch sử Tượng đài Chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950.
+ Hành trình 3: Hà Nội – Thị trấn Cao Bằng – Khu tượng niệm Hoàng Đình Giong –
Di tích lịch sử chùa phố cũ – Di tích lịch sử pháo Đài quân sự tỉnh Cao Bằng – Di tích
lịch sử đền Kỳ Sầm - Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo – Di tích lịch
sử Tượng đài Chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950 – Thành Nà Lữ - Khu di tích Pác Bó.
- Phương án lưu trú: Khách sạn/ nhà nghỉ; Homestay,…
- Phương thức di chuyển: Xe khách đưa đón tại điểm; Xe thường 7 – 20 chỗ;…
- Dịch vụ ưu đãi liên quan:
+ Free nước đóng chai/ người/ ngày
+ Bảo hiểm tai nạn du lịch
+ Trọn gói: hưỡng dẫn viên, khách sạn, di chuyển, vé thăm quan,… 15
Thẩm định dự án: Từ các dự án đã hình thành cần thẩm định từng dự án bằng
cách đưa ra thử nghiệm trên một nhóm người tiêu dùng mục tiêu các dự án đã hình
thành. Qua thẩm định dựa trên ý kiến của khách hàng sẽ giúp được doanh nghiệp lựa
chọn được phương án có sức hấp dẫn nhất.
- Độ dài: Thời gian 3 ngày 2 đêm đáp ứng phần lớn nhu cầu du lịch của khách hàng,
bởi vì khách hàng có nhu cầu được trải nghiêm, khám phám tham quan nhiều hơn ở các điểm đến.
- Lớp dịch vụ cốt lõi: tìm hiểu các di tích lịch sử Cao Bằng ( có thể tìm hiểu thêm về
phong tục tập quán, nghề truyền thống, ẩm thực, lễ hội, trang phục, văn hóa,...) do
hướng dẫn viên của đoàn hướng dẫn.
- Dịch vụ cơ bản: ăn uống, lưu trú, vận chuyển,...
+ Lưu trú: tại khách sạn 3 sao Max Boutique Hotel. Địa chỉ 117 Vườn Cam Hợp
Giang, Cao Bằng. cách khu trung tâm Cao Bằng khoảng 900m và cách Sông Bằng
Giang 700m. Tất cả các phòng tại khách sạn đều được trang bị máy điều hòa, bàn làm
việc, ấm đun nước, tủ lạnh, minibar, két an toàn và TV màn hình phẳng. Nơi đây còn
cung cấp các tiện nghi đặc biệt bao gồm: nhà hàng, lễ tân 24 giờ, dịch vụ phòng và
wifi miễn phí trong toàn bộ khuôn viên. Ngoài ra, khách sạn cũng có phòng nghỉ cho
gia đình, phục vụ bữa sáng kiểu lục địa hàng ngày cho du khách. Về Ưu điểm: Vị trí
thuận lợi gần trung tâm thị trấn, dễ dàng di chuyển, vui chơi tại Cao Bằng; Không gian
yên tĩnh, view phòng nhìn ra sông, núi vfa thành phố; Nhân viên lịch sự thân thiện, hỗ
trợ du khách nhiệt tình; Phục vụ bữa sáng chất lượng được nhiều khách hàng đánh giá
cao; Phòng rộng rãi, được trang bị đầy đủ tiện nghi, nội thất hiện đại. Giá tham khảo: từ 600.000đ/phòng/đêm.
+ Ăn uống: theo chương trình ăn tại nhà hàng khách sạn và các quán ăn ở đia phương
với các đặc sản hấp dẫn.
+ Vận chuyển: Để đưa khách hàng đến Cao Bằng thuận tiện mà vẫn tiết kiệm chi phí
cho tour thì công ty TNHH Du lịch Dịch Vụ Tiên Phong sẽ là lựa chọn tối ưu hơn cả.
Do công ty cung cấp đa dạng các hình thức xe di chuyển mà giá lại rẻ hơn so với các
nhà cung cấp mà nhóm đã tìm kiếm. - Dịch vụ gia tăng:
+ Dịch vụ thuê trang phục địa phương: Thị trường cho thuê trang phục chụp ảnh tại
Cao Bằng khá phát triển từ thành phố đến các huyện. Ngoài những cửa hàng bán quần
áo, các khu, điểm du lịch - dịch vụ trong tỉnh khác như: Khu di tích Quốc gia đặc biệt
Pác Bó (Hà Quảng),.. đều có dịch vụ cho thuê trang phục chụp ảnh với giá từ 50.000 -
100.000đ/bộ. Chính những điều đó lại càng phù hợp hơn với đối tượng khách có mức
thu nhập không cao như sinh viên. + Dịch vụ chụp ảnh 16 + Dịch vụ giặt là + Dịch vụ giải trí
+ Dịch vụ chăm sóc sức khỏe
+ Dịch vụ tham quan: Khu di tích lịch sử Pác Bó, Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo.
2.2.4. Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới
Quy mô của thị trường mục tiêu:
Quy mô về số lượng khách hàng: Bao gồm khách du lịch trong nước - Người
Việt Nam quan tâm đến lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của quê hương, và
khách du lịch nước ngoài - Du khách quốc tế muốn khám phá văn hóa và di sản lịch sử của Việt Nam.
Quy mô về doanh thu: Tạo ra một nguồn thu nhập ổn định cho các doanh
nghiệp du lịch, nhà hàng, khách sạn và các dịch vụ liên quan trong khu vực.
Cơ cấu của thị trường mục tiêu:
Nhà cung cấp dịch vụ du lịch: Bao gồm các công ty du lịch, công ty du lịch lữ
hành, hướng dẫn viên, các nhà hàng và khách sạn hay các dịch vụ vận chuyển.
Khách du lịch: Bao gồm các du khách cá nhân, gia đình, nhóm du lịch hay các
công ty tổ chức du lịch.
Đối tác địa phương: Bao gồm các cơ quan quản lý du lịch địa phương, các
doanh nghiệp văn hóa và các cộng đồng dân cư địa phương ( nhà hàng, quán ăn, khách
sạn, nhà nghỉ, công ty vận chuyển hay hướng dẫn viên du lịch do dân cư địa phương thành lập,...).
Hành vi của thị trường mục tiêu:
Mua sắm và tiêu dùng: Khách hàng sẽ lựa chọn tour du lịch và dịch vụ phù hợp
với nhu cầu và ngân sách của họ, dựa trên thông tin và các tiện ích được cung cấp. Và
khi quyết định mua tour du lịch khách hàng dựa trên giá cả, chất lượng dịch vụ, uy tín
- độ đáng tin cậy của nhà cung cấp và trải nghiệm dự kiến.
Phản hồi và đánh giá: Khách hàng có thể đưa ra phản hồi và đánh giá về trải
nghiệm của họ sau khi hoàn thành tour du lịch, việc này sẽ ảnh hưởng đến uy tín và
danh tiếng của doanh nghiệp và địa điểm du lịch.
Trung thành và tái mua: Khi khách hàng cảm thấy hài lòng, họ sẽ đánh giá cao
chất lượng sản phẩm và dịch vụ được cung ứng và thường đưa ra phản hồi tích cực.
Như vậy họ sẽ thường xuyên quay trở lại sử dụng sản phẩm dịch vụ của thương hiệu
đó. Và họ không chỉ mua mà còn giới thiệu cho người khác và bảo vệ thương hiệu.
Dự kiến định vị sản phẩm đối với khách hàng mục tiêu trong “Tour du lịch
Cao Bằng- Trải nghiệm mảnh đất lịch sử của cội nguồn cách mạng”:
- Sản phẩm ( Product ) 17
+ Trải nghiệm du lịch sâu sắc: Không chỉ mang đến một trải nghiệm tham quan
các di tích lịch sử mà còn giúp du khách trong việc hiểu sâu hơn về văn hóa và lịch sử của vùng đất Cao Bằng.
+ Chất lượng dịch vụ: Đảm bảo chất lượng dịch vụ cao, từ hướng dẫn viên du
lịch đến vận chuyển và ăn uống để tạo ra một trải nghiệm đáng nhớ và thoải mái cho du khách.
- Giá cả ( Price ): Tour du lịch phải có giá cả hợp lý, giá cả sẽ phản ánh sự chất
lượng và độc đáo của trải nghiệm du lịch tại Cao Bằng.
- Địa điểm ( Place ): Đảm bảo rằng các điểm tham quan và các hoạt động trong
tour cung cấp là các địa điểm an toàn và tiện ích, dễ dàng tiếp cận và mang đến một
trải nghiệm lý thú, bổ ích cho du khách.
- Xúc tiến ( Promotion ):
+ Nội dung truyền thông chất lượng: Sử dụng nội dung truyền thông chất
lượng, bao gồm hình ảnh, video và câu chuyện để giới thiệu và quảng bá về tour du
lịch Cao Bằng trên chính trang chủ Website của doanh nghiệp, hoặc trên Social Media
như Facebook, Instagram, Youtube,... hay sử dụng quảng cáo trả tiền trên các nền tảng
Google Ads, Facebook Ads hay Youtube Ads,... để tiếp cận khách hàng tiềm năng,....
+ Tăng cường quan hệ công chúng: Xây dựng mối quan hệ với các cộng đồng
địa phương và các đối tác du lịch để tạo ra các cơ hội hợp tác quảng bá và tiếp thị.
Giá dự kiến tour 3 ngày 2 đêm : từ 2.000.000 VND đến 3.000.000 VNĐ mỗi
người, tùy thuộc vào các yếu tố như loại hình khách sạn, dịch vụ bao gồm các hoạt động đi kèm.
Chiến dịch phân phối
Cộng tác với đối tác du lịch: Xây dựng mối quan hệ hợp tác với các công ty du
lịch Cao Bằng để phân phối tour. Cung cấp hoa hồng hoặc chính sách khuyến mại cho
đối tác du lịch giới thiệu khách hàng.
Kênh trực tuyến: Tạo trang web đặt tour trực tuyến hay sử dụng các nền tảng du
lịch trực tuyến khác như Agoda, Booking,.. để tiếp cận khách hàng tiềm năng.
Quảng cáo trực tuyến: Sử dụng quảng cáo trên Google Ads và Youtube Ads,...
hay quảng cáo mạng xã hội để tăng cường nhận thức thương hiệu và thu hút khách hàng.
Quảng cáo trực tiếp: Sử dụng quảng cáo trên báo, tạp chí du lịch và trên các
bảng hiệu ở các địa điểm du lịch khác. Ngân sách Marketing
Chi phK quảng cáo trực tuyến và trực tiếp: Dành một phần ngân sách để chi trả
cho quảng cáo trực tuyến và trực tiếp, ước tính khoảng 30% - 40% của tổng ngân sách marketing. 18
PhK đối tác du lịch: Chi phí phải trả cho các đối tác du lịch sẽ chiếm một phần
nhỏ của ngân sách, khoảng 10% - 20% của ngân sách marketing.
Tạo nội dung marketing: Dành 20% - 30% để tạo nội dung truyền thông chất
lượng, chuyên nghiệp để tiếp thị đến các khách hàng tiềm năng.
Chi phK phát triển web và hệ thống đặt tour: Chi phí phát triển và duy trì trang
web, hệ thống đặt tour sẽ chiếm khoảng 10% trong ngân sách.
Chi phK khác: Bao gồm chi phí cho việc tổ chức sự kiện quảng bá, in ấn và quản
lý dự án, ước tính khoảng 20%.
=> Tổng kết lại, tổng ngân sách marketing cho năm đầu tiên tour tham quan di
tích lịch sử tại Cao Bằng có thể ước tính từ 500.000.000 VND đến 1.000.000.000.000
VND, tùy thuộc vào quy mô và phạm vi của chiến dịch marketing.
Dự kiến mức tiêu thụ và lợi nhuận
- Trong năm đầu tiên: Dự kiến mức tiêu thụ ban đầu có thể tăng dần dưới tác
động của chiến dịch quảng cáo và tiếp thị. Và lợi nhuận ban đầu có thể không cao do
các chi phí khởi đầu cho tiếp thị và quảng cáo.
- Trong 2-3 năm tiếp theo: Dự kiến mức tiêu thụ sẽ tăng lên do tăng cường tiếp
thị và phát triển danh tiếng của thương hiệu. Và lợi nhuận có thể tăng đáng kể khi
doanh thu vượt qua các chi phí khởi đầu.
- Sau 3 năm trở đi: Dự kiến mức tiêu thụ ổn định ở mức cao do thương hiệu đã
được thiết lập và trở thành từ khóa tìm kiếm đầu tiên khi khách hàng muốn đến Cao
Bằng để trải nghiệm, chiêm nghiễm di tích văn hóa lịch sử. Và lợi nhuận có thể tăng
tiếp tục do chi phí tiếp thị và quảng cáo giảm dần so với doanh thu.
Dự kiến marketing mix cho từng thời gian:
- Trong năm đầu tiên: Tập trung vào quảng cáo trực tuyến và trực tiếp để tăng
nhận thức thương hiệu. Đồng thời sử dụng chiến lược giảm giá và khuyến mãi để thu hút các khách hàng.
- Trong 2-3 năm tiếp theo: Mở rộng kênh tiếp thị hơn để tiếp cận đối tượng
khách hàng mục tiêu. Tăng cường quan hệ với các đối tác du lịch và các cộng đồng địa
phương để tăng cường độ tin cậy và độ uy tín của thương hiệu.
- Sau 3 năm trở đi: Tối ưu hóa các chiến lược tiếp thị dựa trên dữ liệu và phản
hồi từ khách hàng. Phát triển các gói dịch vụ và trải nghiệm mới để duy trì sự hấp dẫn
và tạo ra giá trị cho khách hàng.
=> Dự kiến cho tương lai của tour tham quan di tích lịch sử tại Cao Bằng là
tăng trưởng ổn định về mức tiêu thụ và lợi nhuận theo thời gian, đồng thời điều chỉnh
và phát triển chiến lược marketing mix để đáp ứng nhu cầu của thị trường và tối ưu hóa hiệu suất kinh doanh. 19
2.2.5. Thiết kế sản phẩm mới:
Lịch trình tuor du lịch Cao Bằng- Trải nghiệm mảnh đất lịch sử của cội nguồn cách mạng.
Ngày 1: Hà Nội – Thị trấn Cao Bằng – Khu tượng niệm Hoàng Đình Giong – Di
tích lịch sử chùa phố cũ – Di tích lịch sử pháo Đài quân sự tỉnh Cao Bằng – Di
tích lịch sử đền Kỳ Sầm.
- 5 giờ 00 phút: Xe và hướng dẫn viên đón Quý khách tại Nhà hát lớn khởi hành đi
Cao Bằng theo hướng QL3. Trên đường dừng chân nghỉ ngơi, Quý khách tự túc ăn
sáng tại điểm nghỉ. Trên đường đi, Quý khách còn được trải nghiệm liên tiếp các con
đèo nổi tiếng như: Đèo Giàng, Đèo Gió.
- 11 giờ 30 phút: Đến Thành Phố Cao Bằng, nơi sinh sống của nhiều dân tộc Việt Nam
như Tày, Nùng, H’mong,…để tìm hiểu về văn hóa và tập tục của người đồng bào,
chụp ảnh lưu niệm và nghe kể những câu chuyện thú vụ, đặc biệt.
- 12 giờ 15 phút : Nhận phòng khách sạn để nghỉ ngơi và dùng ăn trưa tại nhà hàng.
- 13 giờ 45 phút đến 17 giờ 35 phút: Sau bữa trưa, xe và hướng dẫn viên đưa khách đi
tham quan và trải nghiệm các khu di tích tại thành phố
+ Khu tượng niệm Hoàng Đình Giong –tại xóm Nà Toàn, phường Đề Thám, cách
trung tâm Thành phố 5 km, được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia từ năm
1988. Đây là "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống cách mạng và lòng yêu nước cho thế
hệ trẻ của tỉnh cũng như thường xuyên diễn ra các hoạt động báo công, kết nạp Đoàn,
Đội… của địa phương. Khu tưởng niệm xây dựng tại khu đất rộng 1.500 m2 quý khác
có thể tham quan các hạng mục: khuôn viên Tượng đài Hoàng Đình Giong, Nhà lưu
niệm - nơi bảo tồn, lưu giữ những kỷ vật quý báu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp
hoạt động cách mạng của Hoàng Đình Giong. Du khách sẽ dâng hương, có thể tham
quan và chụp ảnh tại khu tưởng niệm.
+ Di tích lịch sử văn hóa chùa phố cũ - Địa chỉ: tổ 1, phố Cũ, phường Hợp Giang,
thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng các
di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu cho nền kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn, được
xây dựng vào năm Vĩnh trị thứ 3 (năm 1679). Ngôi chùa là nơi thờ tự Quan Vân
Trường. Đến thời nhà Nguyễn (1802 – 1945) thì công trình đã được sửa sang lại hoàn
toàn. Ngoài các giá trị kiến trúc nghệ thuật thì chùa Phố Cũ còn là di tích lịch sử cách
mạng, là nơi mà Mặt trận Việt Minh tỉnh Cao Bằng do đồng chí Văn Tư (tức Hoàng
Đình Giong) lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay quân Nhật. Cũng
chính tại ngôi chùa này, vào ngày 22/8/1945, Mặt trận Việt Minh tỉnh và Thị xã đã tổ
chức cuộc mít tinh để chính quyền cách mạng đầu tiên của tỉnh và thị xã Cao Bằng ra
mắt trước đông đảo nhân dân. 20