-
Thông tin
-
Quiz
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam | Tiểu luận Nhà nước và pháp luật
Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ với nhiều biến đổi về kinh tế, xã hội và chính trị. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ là mục tiêu mà còn là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Nhà nước và Pháp luật 7 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam | Tiểu luận Nhà nước và pháp luật
Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ với nhiều biến đổi về kinh tế, xã hội và chính trị. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ là mục tiêu mà còn là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Nhà nước và Pháp luật 7 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ------ ------ TIỂU LUẬN
MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Họ và tên : Nguyễn Thu Hà
Mã sinh viên : 2255310016
Lớp tín chỉ : NP02001_K42_2
Lớp hành chính : Chính trị phát triển K42
Giảng viên hướng dẫn : Ts. Hoàng Lan Phương HÀ NỘI – 2024 MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU...............................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................4
2.1. Mục đích nghiên cứu..........................................................................4
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................5
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................5
3.2. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................5
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................6
5. Kết cấu nội dung..........................................................................................6
PHẦN II. NỘI DUNG.........................................................................................7
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM................................................7
1. Nhà nước pháp quyền..............................................................................7
2. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam................................7
3. So sánh nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp
quyền tư bản chủ nghĩa................................................................................8
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY.................................................................................11
1. Khẳng định hiện nay Việt Nam có xây dựng nhà nước pháp quyền. 11
2. Biểu hiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.......13
2.1. Bộ máy nhà nước..............................................................................13
2.2. Pháp luật ở vị trí tối thượng............................................................16
3. Đánh giá thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện
nay................................................................................................................19
3.1. Ưu điểm.............................................................................................19
3.2. Hạn chế..............................................................................................21
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM HOÀN THIỆN
MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TẠI
VIỆT NAM.....................................................................................................24
PHẦN III. KẾT LUẬN.....................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................29 PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ với nhiều biến đổi
về kinh tế, xã hội và chính trị. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ là mục tiêu mà còn là yếu tố
quan trọng để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Do đó,
đề tài “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mang tính
thời sự và cần thiết, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu sâu rộng về vấn đề
này. Dưới đây là một số lý do cụ thể cho việc lựa chọn đề tài này:
Thứ nhất, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một mô hình đặc thù,
kết hợp giữa nguyên tắc pháp quyền và lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này
không chỉ đảm bảo quyền lực nhà nước được thực thi một cách hợp pháp, công
bằng, minh bạch mà còn hướng đến việc xây dựng một xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận xoay quanh khái niệm,
nguyên tắc và cơ chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa giúp làm rõ
những đặc điểm riêng biệt và lợi thế của mô hình này.
Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam
cần xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch, hiệu quả và phù hợp với các
tiêu chuẩn quốc tế. Điều này không chỉ giúp tăng cường niềm tin của người dân
vào hệ thống chính trị, pháp luật mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút
đầu tư, phát triển kinh tế. Nghiên cứu về các vấn đề thực tiễn trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giúp tìm ra những giải
pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước.
Thứ ba, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam đối mặt với nhiều thách thức như sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp
luật, tham nhũng, tình trạng thiếu minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà
nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều cơ hội, chẳng hạn như sự hỗ trợ từ
cộng đồng quốc tế, các chương trình cải cách hành chính và pháp luật đang được
triển khai mạnh mẽ. Việc nghiên cứu những thách thức và cơ hội này giúp đưa
ra những giải pháp hợp lý, khả thi.
Thứ tư, đề tài này không chỉ có giá trị đối với việc nghiên cứu học thuật
mà còn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò, tầm quan trọng
của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Qua đó, thúc đẩy sự tham gia của
người dân vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như
nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi pháp luật.
Thứ năm, việc nghiên cứu đề tài này sẽ tạo ra nền tảng lý luận và thực
tiễn cho những nghiên cứu tiếp theo về hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước
tại Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện mô hình Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện và xu thế phát triển của đất nước trong tương lai.
Với những lý do trên, việc lựa chọn đề tài “Xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” không chỉ mang tính thời sự và cần thiết mà
còn góp phần quan trọng vào việc phát triển hệ thống pháp luật và quản lý nhà
nước ở Việt Nam, đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định của đất nước.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Bài tiểu luận “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam” với mục đích làm rõ những vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa (bao gồm phân tích nhà nước pháp quyền và vấn đề xoay quanh nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Qua đó, đánh giá được quá trình xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, đưa ra các giải pháp
cụ thể để giải quyết những hạn chế và phát huy mặt tích cực của quá trình xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của bài tiểu luận thì cần điểm qua một số nhiệm vụ dưới đây:
- Thứ nhất, làm rõ các khái niệm cơ bản, nguyên tắc vận hành và các mô hình lý
luận liên quan đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
- Thứ hai, chỉ rõ việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam;
- Thứ ba, đánh giá ưu điểm và nhược điểm của xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam;
- Thứ tư, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những nhược điểm trong xây dựng nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam;
- Thứ năm, đề ra các giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế và phát huy
những điểm tích cực trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (bao gồm cơ sở lý luận nhà nước pháp quyền/ nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung trong giai đoạn hiện nay (các mốc
thời gian có những cải cách và chuyển biến quan trọng).
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu các cơ quan, tổ chức và hệ thống pháp luật của Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, phương pháp nghiên cứu cơ bản mà tiểu luận sử
dụng là phương pháp qui nạp trên cơ sở thống kế, tổng hợp, nghiên cứu và phân
tích các văn kiện của Đảng và Nhà nước để làm rõ những quan điểm về xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tiểu luận cũng sử dụng các tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin và các
công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả về nhà nước và pháp luật làm tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, tiểu luận còn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phương pháp lôgic và phương pháp so sánh đối chiếu để làm sáng tỏ
những nội dung của tiểu luận.
5. Kết cấu nội dung
Bài tiểu luận về đề tài “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam” được cấu trúc thành các chương và phần chính sau đây:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1. Nhà nước pháp quyền
2. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3. So sánh nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa
Chương 2. Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
1. Khẳng định hiện nay Việt Nam có xây dựng nhà nước pháp quyền
2. Biểu hiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
3. Đánh giá thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Chương 3. Đề xuất giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền được hiểu là một kiểu nhà nước mà ở đó, tất cả mọi
công dân đều được giáo dục pháp luật và phải hiểu biết pháp luật, tuân thủ pháp
luật, pháp luật phải có sự đảm bảo tính nghiêm minh; trong hoạt động của các cơ
quan Nhà nước, phải có sự phân công, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau, tất cả vì
mục tiêu phục vụ nhân dân.
Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Duy Quý, nhà nước pháp quyền
không phải là một kiểu nhà nước (giống như kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ,
kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa hay kiểu nhà nước xã
hội chủ nghĩa) mà đó là một phương thức tổ chức quyền lực tiến bộ mà bất kì
nhà nước nào, thể chế chính trị nào muốn đạt đến trình độ văn minh đều phải hướng tới.
2. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tại Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa ViệtNam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân
làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh
công – nông và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”
Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam, có thể thấy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, xây dựng nhà nước do nhân dan lao động làm chủ, đó là Nhà nước
của dân, do dân và vì dân.
- Thứ hai, Nhà nước được tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở Hiến pháp và
pháp luật, quản lí xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính tối cao của
Hiến pháp và yêu cầu thượng tôn pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội.
- Thứ ba, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, có cơ chế
phân phối nhịp nhàng và kiểm soát giữa các cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo, phù hợp với Điều 4 Hiến pháp 2013. Hoạt động của Nhà
nước được giám sát bởi nhân dân với phương châm: “ Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra,dân giám sát, dân thụ hưởng”.
- Thứ năm, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng quyền
con người, coi con người là chủ thể, là trung tâm của sự phát triển. Quyền dân
chủ của nhân dân được thực hành một cách rộng rãi; “nhân dân có quyền bầu và
bãi miễn những đại biểu không xứng đáng”; đồng thời tăng cường thực hiện sự
nghiêm minh của pháp luật.
- Thứ sáu, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, có sự phân công, phân cấp, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, nhưng đảm
bảo quyền lực là thống nhất và sự chỉ đạo thống nhất của trung ương.
3. So sánh nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa) và nhà nước pháp quyền phương Tây (nhà nước pháp quyền tư
sản) có những điểm tương đồng và khác biệt rõ rệt, chủ yếu ở những điểm sau: a. Về tương đồng
Mọi nhà nước pháp quyền đều có phương thức tổ chức, xây dựng và vận
hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định. Nhà nước pháp quyền là một hình
thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở đó pháp luật có giá trị thực thi cao nhất với
nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân.
Trong đất nước mang chế độ nhà nước pháp quyền, Nhà nước và mọi
công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật. Pháp luật không những
được coi là công cụ chủ yếu để quản lí mọi hoạt động của xã hội công dân, mà
còn xác định ở vị trí cao nhất, tuyệt đối vượt qua mọi quyền lực của tổ chức
chính trị, xã hội mà mỗi công dân trong xã hội đó.
Quyền lực nhà nước bao gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí, nguyện
vọng của nhân dân, từ đó nắm bắt và điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát
sinh trong xã hội. Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước mà ở
đó quyền lực nhà nước thể hiện được lợi ích và ý chí của đại đa số nhân dân,
thực hiện chế độ dân chủ trong việc thiết lập quyền lực nhà nước, thực hiện chế
độ trưng cầu ý dân. Mỗi cá nhân phải có nghĩa vụ, trách nhiệm quyền lợi theo
quy định của pháp luật. b. Về khác biệt
Hai kiểu nhà nước pháp quyền đều phải thừa nhận phương thức tổ chức
và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định. Tuy nhiên, bản chất và nội
dung pháp luật về tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy của hai nhà nước đó
có nhiều điểm khác nhau. Cơ bản và rõ nhất, chính là sự khác nhau trong các
quy phạm của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức, cơ cấu nhân và việc xây dựng,
vận hành của bộ máy quyền lực nhà nước như: Quốc hội và Nghị viện, Tổng
thống và Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp,…
Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, do dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc
hội, Chính phủ,…) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của
mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội,
Chính phủ hoặc tổ chức ra Quốc hội và Chính phủ nhiệm kì mới. Trong khi đó,
Hiến pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống
hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ,…
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân đều
phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, vì pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện
ý chí nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền tư sản,
nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, nhưng
pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không thể hiện chính xác
và đầy đủ ý chí và nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, nguyện
vọng của một bộ phận nhân dân, đó là những người giàu, là giai cấp tư sản. Nói
cách khác, luật pháp của Nhà nước pháp quyền tư sản chỉ bảo vệ lợi ích của giai
cấp tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi của người lao động – những người bị áp bức bóc lột.
Tư tưởng “tam quyền phân lập” đã trở thành một trong những nội dung cơ
bản của nhà nước pháp quyền tư sản. Đó là các cơ quan lập pháp, hành pháp và
tư pháp hoạt động độc lập với nhau: quyền lập pháp giao cho nghị viện, quyền
hành pháp giao cho chính phủ, quyền tư pháp giao cho tòa án; nhằm đảm bảo
không có trường hợp một cơ quan đứng lên hoặc nắm trọn cả 3 quyền. Còn nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thừa nhận việc phân chia quyền lực
mà coi quyền lực là thống nhất và thuộc về nhân dân; trong đó có sự phân công
phối hợp để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm
cho quyền lực nhà nước thống nhất và đạt hiệu quả cao nhất.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dựa trên cơ sở kinh tế là
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và mang bản chất giai cấp công nhân, nhà
nước là công cụ duy trì quyền lực của đa số nhân dân lao động, thực hiện dân
chủ với nhân dân và chuyên chính đối với kẻ thù xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó,
nhà nước pháp quyền tư sản dựa trên cơ sở kinh tế là chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất và mang bản chất là giai cấp tư sản, nhà nước là công cụ bạo lực của
giai cấp thống trị, và đó là những người giàu chiếm thiểu số trong xã hội – giai cấp tư sản.
Bên cạnh sự khác nhau về giai cấp. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa công nhận các quy phạm pháp luật khi nó được xác lập và thông qua theo
một trình tự và thủ tục nhất định. Trong khi đó, Nhà nước pháp quyền tư sản
thường coi “án lệ” hoặc “tập quán” như một loại quy phạm pháp luật “bất thành văn”.
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Khẳng định hiện nay Việt Nam có xây dựng nhà nước pháp quyền
Khái niệm nhà nước pháp quyền được hiểu là một hệ thống chính trị,
trong đó tất cả các hoạt động của nhà nước và xã hội đều phải tuân theo pháp
luật. Tại Việt Nam, việc xây dựng nhà nước pháp quyền đã và đang là một mục
tiêu quan trọng, được thể hiện rõ ràng qua các văn kiện của Đảng, Nhà nước, và
Hiến pháp. Tuy nhiên, việc đạt được một mô hình nhà nước pháp quyền hoàn
chỉnh vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức và cần sự nỗ lực liên tục.
Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định rõ mục tiêu xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đây là nền tảng pháp lý quan trọng khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc
xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và hiệu quả. Các quyền
con người, quyền công dân được bảo vệ và khẳng định rõ ràng trong các điều
khoản của Hiến pháp, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi và bảo vệ các quyền này.
Một trong những đặc điểm quan trọng của nhà nước pháp quyền là sự
phân chia và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước. Mặc dù Việt Nam
không áp dụng mô hình phân quyền hoàn toàn như một số nước phương Tây,
nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội Việt Nam, với vai trò là cơ quan lập pháp
cao nhất, có quyền giám sát và kiểm soát các hoạt động của Chính phủ và Tòa án Nhân dân.
Cải cách tư pháp cũng là một bước quan trọng nhằm nâng cao tính độc lập
và hiệu quả của các cơ quan tư pháp. Các biện pháp này nhằm đảm bảo rằng các
quyết định tư pháp được thực hiện đúng pháp luật và không bị can thiệp bất hợp
pháp, đồng thời tạo ra một hệ thống tư pháp công bằng và minh bạch.
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm bảo vệ các quyền cơ
bản của con người và công dân. Hiến pháp và các luật liên quan đến quyền con
người, quyền công dân như Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, và Luật
Khiếu nại, tố cáo đều khẳng định và bảo vệ các quyền này. Việt Nam cũng tham
gia tích cực vào các cơ chế bảo vệ quyền con người của Liên Hợp Quốc, thể
hiện cam kết quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người.
Cải cách hành chính là một phần quan trọng trong việc xây dựng nhà
nước pháp quyền tại Việt Nam. Các biện pháp cải cách hành chính nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà, và tạo điều
kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Cuộc chiến chống tham nhũng
cũng được đẩy mạnh, với việc ban hành và thực hiện nhiều biện pháp mạnh mẽ,
như Luật Phòng, chống tham nhũng và thành lập các cơ quan chuyên trách
chống tham nhũng. Những nỗ lực này nhằm đảm bảo rằng các hoạt động của
nhà nước được thực hiện một cách minh bạch và liêm chính.
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ, Việt Nam vẫn đối mặt với thách thức
trong việc thực thi pháp luật một cách công bằng và hiệu quả trên toàn quốc.
Tham nhũng, sự can thiệp vào hoạt động của các cơ quan tư pháp, và thiếu sự
hiểu biết pháp luật trong một bộ phận dân cư là những thách thức cần vượt qua.
Việt Nam cần tiếp tục cải cách pháp luật, tư pháp và hành chính để đảm
bảo rằng mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền được thực hiện đầy đủ và hiệu
quả hơn. Nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân và cán bộ, công chức nhà
nước là điều cần thiết để đảm bảo sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật.
Việt Nam đã và đang xây dựng nhà nước pháp quyền với nhiều thành tựu
đáng kể. Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình liên
tục và đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ từ phía nhà nước cũng như sự tham gia tích
cực của người dân. Các thách thức hiện tại không phải là không thể vượt qua, và
với sự nỗ lực không ngừng, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt được mục tiêu
này một cách toàn diện và bền vững.
2. Biểu hiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
2.1. Bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan Nhà nước từ Trung ương tới địa
phương, được tổ chức, hoạt động theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành
cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.
Bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch
nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Chính quyền địa phương. a. Quốc hội
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất
của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động
của Nhà nước. Quốc hội hiện nay là Quốc hội Việt Nam khóa XV (nhiệm kỳ
2021-2026) với 499 đại biểu. Chủ tịch Quốc hội hiện nay là ông Trần Thanh Mẫn. b. Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là một thiết chế khá đặc thù. Chủ tịch nước là người đứng
đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và
đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội và chịu
trách nhiệm, báo cáo công tác trước Quốc hội.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội
hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa
mới bầu ra Chủ tịch nước. Chủ tịch nước hiện nay là ông Tô Lâm. c. Chính phủ
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Chính phủ là cơ quan hành pháp.
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chính phủ gồm Thủ
tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ. Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết
định. Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm
trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo
cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Thủ tướng Chính phủ hiện nay là ông Phạm Minh Chính.
Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo
sự phân công của Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng
Chính phủ về nhiệm vụ được phân công. Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt,
một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt
Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước
Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân
công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập
thể về hoạt động của Chính phủ. d. Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối
cao và các Tòa án khác do luật định.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao là ông Nguyễn Hòa Bình.
e. Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện
kiểm sát khác do luật định.
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Viện trưởng Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao hiện nay là ông Lê Minh Trí.
f. Chính quyền địa phương
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam còn có chính quyền địa phương. Chính
quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Các cấp đơn vị hành chính bao gồm: Cấp tỉnh, cấp
huyện và cấp xã. Hiện nay, Việt Nam có 05 thành phố trực thuộc Trung ương
gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và 58 tỉnh.
Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt do luật định. * Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định;
giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện
nghị quyết của Hội đồng nhân dân. * Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan
hành chính nhà nước cấp trên.
Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các
nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
2.2. Pháp luật ở vị trí tối thượng
Lý luận và lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật cho thấy, dù hệ
thống pháp luật phù hợp với nhu cầu thực tiễn của đời sống xã hội và lợi ích của
con người, nhưng vẫn cần có các điều kiện bảo đảm tính hiệu lực của nó, trước
hết là quyền lực. Theo đó, pháp luật cần có sự “hậu thuẫn” nhất định từ quyền
lực, để pháp luật có khả năng được thực thi trong thực tiễn. Cùng với sự xuất
hiện của nhà nước, pháp luật đã được quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước bảo đảm.
Quyền lực nhà nước là quyền lực toàn diện, mang sức mạnh độc quyền
cưỡng chế, có vai trò to lớn trong xây dựng và thực thi luật pháp; đồng thời,
trang bị cho các chủ thể công quyền những thẩm quyền trong quá trình quản lý
xã hội. Qua thời gian, chính yêu cầu tăng cường quyền lực nhằm bảo đảm hiệu
lực, hiệu quả của pháp luật trong đời sống xã hội, vô hình trung làm gia tăng
đáng kể sức mạnh của quyền lực, một số trường hợp trở thành chuyên quyền,
pháp luật trở nên “mô phỏng” quyền lực, bị “biến dạng” và trở thành “công cụ” của quyền lực.
Tuy nhiên, xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền với các yêu cầu về
“tính dân chủ của pháp luật”, “phân chia, kìm chế quyền lực” đã thay đổi căn
bản mối quan hệ giữa pháp luật và quyền lực. Pháp luật giữ vị trí tối thượng, có
hiệu lực chi phối bắt buộc không chỉ đối với cộng đồng xã hội và cá nhân công
dân mà còn đối với cả nhà nước và các chủ thể công quyền. Đây là sự kết hợp
giữa tổ chức quyền lực của xã hội, quyền lực của giai cấp cầm quyền với hệ
thống quy tắc ứng xử trong xã hội; là sự kết hợp hài hòa giữa ý chí của giai cấp
cầm quyền với công lý và công bằng. Nói cách khác, nhờ các giá trị dân chủ và
pháp quyền mà quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cần phải được chế ước,
kiềm chế. Để có thể thực hiện được mục tiêu đó, các chế định pháp luật được
xây dựng để kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước trong một khuôn
khổ, phạm vi nhất định. Khi đó, pháp luật không chỉ là công cụ để tổ chức và
quản lý xã hội, mà phải trở thành phương tiện kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước.
Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền XHCN là ý chí và nguyện vọng của
nhân dân được luật hóa. Theo đó, về mặt nội dung, pháp luật trong Nhà nước
pháp quyền XHCN mang bản chất dân chủ, tức là pháp luật của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân; bảo vệ quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công
dân. Pháp luật ấy là công cụ để người dân kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà
nước; đó cũng chính là pháp luật góp phần thúc đẩy khát vọng phát triển đất
nước trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hơn nữa, với tư cách là hệ
thống “chỉ dẫn hành vi” cho các chủ thể trong xã hội, pháp luật trong Nhà nước
pháp quyền XHCN phải bảo đảm là hiện thân của lý trí, sự công bằng và lẽ phải;
phải đồng bộ, thống nhất, ổn định, khả thi, công khai, minh bạch và dễ tiếp cận.
Trong Nhà nước pháp quyền XHCN, tinh thần thượng tôn pháp luật luôn
được đề cao nên pháp luật có vai trò ngày càng lớn trong đời sống xã hội.
Nhưng mặt khác, việc đề cao pháp luật có thể dẫn tới hiện tượng bùng nổ các
quy phạm pháp luật liên quan tới các lĩnh vực của đời sống xã hội (hiện tượng
này gọi là “lạm phát pháp luật”), có nguy cơ làm cho hệ thống pháp luật trở nên
phức tạp, trở thành một “trở lực” cho việc tiếp cận, nắm bắt và hiểu rõ của cả
lực lượng thực thi pháp luật và công dân. Nhằm giảm thiểu những rủi ro có thể
nảy sinh từ hiện tượng “lạm phát pháp luật” trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN, những đòi hỏi về mặt chất lượng của pháp luật được đặt lên hàng đầu(4).
Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất cầm quyền, đồng thời
cũng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Kiểm soát quyền lực trong Đảng
để bảo đảm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đồng thời còn là điều kiện
hàng đầu bảo đảm cho việc kiểm soát một cách hiệu quả quyền lực nhà nước.
Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, thì xu hướng vận động khách
quan của các chủ thể quyền lực luôn tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến lạm quyền,
chuyên quyền, tham nhũng… Vì vậy, kiểm soát quyền lực chính trị ở Việt Nam
được đặt ra trước hết là kiểm soát quyền cầm quyền, quyền lãnh đạo của các cấp
ủy, cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện thẩm quyền, chức trách, nhiệm
vụ được giao. Thực tế hiện nay cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên, người đứng đầu suy thoái về đạo đức cách mạng, sa sút phẩm hạnh và lối
sống, thực thi không đúng và không hiệu quả chức trách, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao.
Cho đến nay, kiểm soát quyền lực chính trị được thực hiện bằng nhiều
phương thức khác nhau, trước hết là cầm quyền theo pháp luật, tổ chức đảng và
đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm
về mọi hoạt động của mình trước pháp luật. Bên cạnh đó, cơ chế pháp lý kiểm
soát sự tha hóa quyền lực trong bộ máy nhà nước ngày càng được chú trọng, đặc
biệt cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong mỗi quyền và giữa các
quyền được tăng cường. Quá trình thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà
nước luôn bảo đảm “sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra,
kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử ngày càng chặt chẽ, đồng bộ,
hiệu quả hơn, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý để đề
xuất bổ sung, sửa đổi các văn bản có liên quan cho phù hợp”. Tuy vậy, Đại hội
XIII của Đảng đã nhận định: “Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà
nước chưa đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao”. Nguyên nhân cơ bản
dẫn tới bất cập trên là những sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát quyền
lực nhà nước chưa mang tính tổng thể, đồng bộ; các quy định còn chồng chéo, thiếu thống nhất.