Bằ ng nhiề u hoạt độ ng, trong giai o đ ạ
n 1921-1929, lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc đã tích
cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩ n bị về chính trị , tư tưởng và tổ
chức cho sự ra đời của Đảng: Về chính trị: Người tích cực truyề
n bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước; phác thả
o những vấn đề cơ bả n về đường lối cứ u nước đúng đắ n của cách mạ ng Việt Nam, thể hiệ n tập trung trong nhữ ng bài giả ng của Người cho nhữ
ng cán bộ cốt cán của Hội Việt Nam cách mạ ng thanh niên tại Quả
ng Châu (Trung Quốc). Đầ u năm 1927 , tập Đề cương bài giả ng do Nguyễ n Ái Qu c ố biên soạ n làm tài liệu huấ n luyệ n chính trị ở Quả ng Châu
(1925-1927) được Bộ Tuyên truyề
n của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đ ông do Người sáng lậ p, được xuất bả
n thành sách với nhan đề Đườ ng Kách mệ nh. Tác
phẩm Đường Kách mệ
nh được bí mật đưa về trong nước và sớm trở thành tài liệ u căn bản để tuyên truyề
n giác ngộ chính trị theo chủ nghĩa Mác - Lênin và hướ ng dẫ n các mặt hoạt độ ng của Hội
Thanh niên. Trên thực tế, Đườ
ng Kách mệnh đã có ý nghĩa lịch sử rất to lớn đối với phong
trào cách mạng trong cả nước, đặc biệt tại Thành phố Sài Gòn và ở Nam Kỳ, đã chuẩ
n bị các nhân t ố đảm bả
o cho sự ra đời của một Đảng Cộ ng sản để gánh
vác nhiệm vụ lịch sử trọ
ng đại là lãnh đạo cách mạ
ng Việt Nam. Tác phẩm chỉ ra vấn đề then chốt có tác dụ ng lớ n
không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với cuộc đấ u tranh giải phóng dân tộc c a
ủ nhân dân các nước thuộc địa Phươ ng Đ ông, ó đ là: cách mạng là sự nghiệ p của quầ
n chúng, chủ yếu là công nông, vì vậ y phải tổ chức quầ n chúng lại; cách mạ ng muố
n thành công phải có một Đả ng Cộ ng sả
n lãnh đạo; phải có đường l i ố và phươ ng pháp cách mạ ng úng; đ cách mạ
ng giải phóng dân tộc phải liên hệ chặt chẽ với cách mạ ng vô sả n thế giới…
Về tư tưởng: lãnh tụ Nguyễ n
Ái Quốc đã tích cực truyề
n bá chủ nghĩa Mác - Lênin
vào Việt Nam nhằm làm chuyể n biế n nhậ n thức c a
ủ quần chúng, đặc biệt là giai cấ p công
nhân, làm cho hệ tư tưở
ng Mác - Lênin từng bước chiếm ưu thế trong đời số ng xã h i, ộ làm chuyển biế n mạ
nh mẽ phong trào yêu nước xích dần đế n lậ p trường của giai cấp công nhân. Nội dung truyề n bá là nhữ ng nguyên lý cơ bả
n của chủ nghĩa Mác - Lênin
được cụ thể hóa cho phù hợ p ớ v i trình độ của các giai tầ ng trong xã ộ h i. Nhữ ng bài viết, bài giả ng với lời vă n giả n dị , nội
dung thiết thực đã nhanh chóng được truyền th ụ đến quầ n chúng. Đồ
ng thời, Người đã vạch trầ n bả n chất xấ u xa, tội ác c a ủ thực dân Pháp i đố
với nhân dân thuộc địa, Nhân dân Việt Nam. Trong tác phẩm Đườ ng Kách mệ nh, Người tố cáo thực dân Pháp đã bắt dân bả n xứ phải đ
óng “thuế máu” cho chính quốc... để “phơi thây trên chiến trườ
ng châu Âu”; “đày đọa” phụ nữ
, trẻ em thuộc địa; các thố ng sứ , quan
lại thực dân “độc ác như một bầ
y thú dữ”... Tác phẩm đã “hướ
ng các dân tộc bị áp bức” đi theo con đườ ng Cách mạ
ng Tháng Mười Nga, tiêu diệt “hai cái vòi của con đỉa đế
quốc” - một “vòi” bám vào giai cấ p
vô sản ở chính quốc, m t
ộ “vòi” bám vào nhân dân
thuộc địa và đề ra cho Nhân dân Việt Nam con đường cách mạ ng vô sả n theo chủ nghĩa Mác - Lênin.
Về tổ chức: lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc ã
đ dày công chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của chính đả ng vô sả n của giai cấ p công nhân Việt Nam. Đ
ó là huấn luyện, đào tạo cán bộ , từ các lớ p huấ n luyệ n do Người tiế n hành ở Quả
ng Châu (Trung Quốc) để vừa chuẩn bị cán bộ , vừa truyề
n bá chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1925 , Nguyễ n Ái Quốc thành
lập Hội Việt Nam cách mạ ng thanh niên, ra báo Thanh niên, mở lớp ào đ tạ o cán bộ cách mạ ng cho 75 đồ
ng chí. Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã giúp cho những người
Việt Nam yêu nước dễ tiế p thu tư tưở ng cách mạ ng của Người, phả n ánh tư duy sáng tạo
và là thành công của Người trong chuẩ
n bị về mặt tổ chức cho Đả ng ra đời. Trong nhữ ng năm 1928-1929 , phong trà o đấ u tranh cách mạ ng c a ủ Nhân dân ta tiếp tục phát triể n mạ nh về số lượ ng và chất lượ
ng. Chủ nghĩa Mác - Lênin được lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc và nhữ ng chiế n sĩ tiên phong truyề
n bá về trong nước, cùng với phong trào “vô sả n hóa” làm chuyể n biế n phong
trào công nhân, giác ngộ và tổ chức h ọ đấu tranh cách mạ
ng một cách tự giác. Thông qua phong trào “vô sả n hóa”, lớ p lớp thanh
niên yêu nước được rèn luyệ n trong thực tiễ n, giác ngộ lậ p trườ ng giai cấ p công nhân sâu sắc, hiểu rõ nguyệ n vọ
ng, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao độ ng, thúc đẩy phong trào công nhân và phong
trào yêu nước phát triể
n mạnh mẽ, tiến tới sự ra đời c a ủ các tổ chức cộ
ng sản đầu tiên ở Việt Nam, tạo i đ ề u kiệ n chín muồi và hợ p quy luật cho sự ra đời của Đảng. Công lao của Lãnh tụ Nguyễ n Ái Qu c
ố trong việc chủ trì hợ p nhất các tổ chức c ng ộ sả n thành Đả ng C ng ộ sả n Việt Nam Từ giữa năm 192 9 đến đầ
u năm 1930, trong bối cảnh tổ chức Hội Việt nam cách mạ
ng thanh niên có sự phân hóa và mất dầ n vai trò lãnh đạ o cách mạ ng, ở Việt Nam chỉ trong thời gian ngắ n lầ n lượt xuất hiệ n ba tổ chức c ng ộ sả n là Đ ông Dươ ng Cộ ng sản Đả
ng (tháng 6/1929), An Nam Cộ
ng sản Đảng (tháng 11/1929) và Đ ông Dương Cộ ng sản Liên đoàn (tháng 01/1930). Điều đ ó phản ánh xu thế tất yế u của phong trào đấ u tranh cách mạ
ng ở Việt Nam. Song sự tồ
n tại của ba tổ chức cộ ng sản không tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiế
u thống nhất về tổ chức. Yêu cầu cấ
p thiết đặt ra là chấm dứt hiện tượng
biệt phái, chia rẽ giữa các nhóm cộ ng sả n, phải thố
ng nhất các tổ chức cộ ng sả n thành một chính đả ng
duy nhất ở Việt Nam. Nhiệm v ụ đó đặt lên vai Nguyễ n Ái Quốc, người duy nhất có đủ nă ng lực và uy tín đáp ứ ng yêu cầu đ ó của lịch sử: thố ng nhất các tổ chức cộ ng sả n thành Đả ng C ng ộ sả n duy nhất ở Việt Nam. Năm 1929 , lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc đang hoạt độ
ng ở Xiêm (Thái Lan), mặc dù
chưa nhận được chỉ thị của Qu c ố tế Cộ ng sản về yêu cầ u thố ng ấ nh t các tổ chức cộ ng sản
ở Việt Nam. Song với sự nhạ y bén về chính trị , sự chủ độ ng cao, thực hiện trọ ng trách
lịch sử đối với dân t c,
ộ với vai trò, trách nhiệm trong Quốc tế Cộ ng sả n, Nguyễn Ái Qu c ố đã ch ủ động triệ u tậ p Hội nghị ợ h p nhất, thực hiệ
n sứ mệnh lịch sử của ườ ng i sáng lập Đả ng Cộ
ng sản Việt Nam. Từ ngà y 06/01/193
0 đến ngày 07/02/1930, tại Cử u Long - Hồng
Kông (Trung Quốc), Hội nghị hợ p nhất được tiế
n hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái
Quốc. Tham dự Hội nghị có các đại biể u của Đ ông Dương Cộ ng sản Đả ng (0 2 đại biểu) và An Nam Cộ ng sản Đả ng (0 2 đại biểu) và 0
2 đại biểu hải ngoại (Hồ Tùng Mậ u và Lê Hồ ng Sơn). Còn Đ ông Dươ ng C ng ộ sả n Liên đoàn ã đ thành lậ p, song chưa có liên hệ, nên chưa được triệ
u tập đại biểu đến dự (đến ngày 24/02/1930 , Ban Chấ p hành Trung ươ ng lâm thời đã ọ h p ế quy t đị nh chấ p ậ nh n đơ
n xin gia nhập Đảng Cộng sả n Việt Nam của Đông Dươ ng Cộ ng sả
n Liên đoàn. Từ đây, cả ba tổ chức cộ ng sả n Việt Nam đã thống nhất trọ
n vẹn vào một Đảng C ng ộ sả
n duy nhất). Trong Hội nghị hợ p nhất, đồ ng chí Nguyễ n Ái Quốc đề ra 5 i đ ểm lớ n cầ n thả o luậ n và thố
ng nhất, trước hết là tự phê bình và
phê bình: “Bỏ mọi thành kiế n xung đột cũ , thành thật hợ p tác để thố ng nhất các nhóm cộ
ng sản Đông Dương”. Với sự nhất trí cao, Hội nghị đặt tên Đảng là Đả ng Cộ ng sản
Việt Nam và thông qua Chánh cươ ng v n ắ tắt của Đả ng, Sách lược vắ n tắt của Đảng, Điề
u lệ vắn tắt của Đả ng, Chươ ng trình tóm tắt của Đả ng do lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc soạ n thả o. Các vă
n kiện đã trở thành Cươ ng lĩ nh chính trị đầ u tiên của Đả . ng Chánh cươ ng vắ n tắt của Đả ng do lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc soạ n thả o, ã đ thể hiện rõ con đườ ng giải phóng và phát triể
n của dân tộc Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạ
ng và th ổ địa cách mạng để đi tới xã h i ộ cộ ng sản” (tức cách mạ ng dân t c ộ dân chủ), thực hiệ n mục tiêu c độ lậ
p dân tộc và người cày có ruộ
ng. Nhiệm vụ của cách mạng tư sả n dân quyề n và th ổ địa cách mạ ng, tức cách mạ ng dân tộc, dân chủ , trong đó giành độc lậ
p dân tộc được đặt ở vị trí trên ế
h t. Ở Việt Nam, trước hết phải làm “dân tộc cách mệnh”, ánh đ đổ sự cai trị , nô dịch dân tộc c a
ủ chủ nghĩa đế quốc, giành lại quyề n bình đẳ ng dân tộc, tự do cho dân ướ
n c mình: “Dân tộc cách mệ
nh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ , nông, công, thươ ng đề
u nhất trí chống lại cường quyền”. Trong Chánh cươ ng v n ắ tắt , Người đã thực hiệ n ba cuộc giải phóng cách mạng vô
sản ở một nước thuộc địa như nước ta là: giải
phóng dân tộc phải tiế n hành trước tiên, tạo tiền đề giải phóng giai cấ p, giải phóng xã hội.
Nói một cách khác giải phóng, giành độc
lập dân tộc là bước đi đầ
u tiên của cuộc cách mạ
ng vô sản ở nước thuộc địa, ở Việt Nam.
Đây là một luận điểm cơ bả n, chính yế u trong Cươ ng lĩ nh chính trị đầ u tiên của Đảng. Đồ ng thời, cũ ng là đ óng
góp đặc sắc, bổ sung, phát triể n chủ ĩ ngh a Mác - Lênin trên phươ ng diện lý luậ
n về các mô hình vận độ ng, phát triể n của cuộc cách mạ ng vô sản. Trải qua 9
3 năm, dưới sự lãnh đạ o của Đảng Cộng sả n Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạ o và rèn luyệ n, sự nghiệ p cách mạ ng nước ta đã giành nhữ ng thắ
ng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đả ng, sự dẫ
n dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đoàn kết, đồ ng lòng ánh đ thắ ng các
thế lực thù địch, nhữ ng chiế
n công đã đi vào lịch sử như Cách mạ ng Tháng Tám năm 1945 , cuộc kháng chiế n chố ng thực dân
Pháp (1945-1954), cuộc kháng chiế n chố ng đế
quốc Mỹ (1954-1975). Đặc biệt, nhữ
ng thành tựu của công cuộc đổi mới gần 37 năm qua,
càng chứng minh cho sự lựa chọn đ úng đắn con đườ
ng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và khẳ
ng định vai trò lãnh đạ o của Đả ng Cộ ng sả n Việt Nam. Nhữ ng thắ ng lợi to lớn đó
đã chứng minh một chân lý: “Sự lãnh đạo đ úng đắ n của Đả ng là nhân tố hàng đầ u ế quy t đị nh thắ ng lợi của cách mạ ng Việt Nam”. Từ thực tiễ n phong
phú của công cuộc đổi mới và kết quả nghiên cứ u lý luậ n, nhận
thức về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơ n. Cươ ng lĩ
nh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triể n năm 2011) đã rút ra 8 đặc trư
ng của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, 8 phương hướ ng cơ bản xây dự ng chủ nghĩa xã hội và 8 mối quan hệ lớ
n (Nghị quyết Đại hội XIII
của Đảng đã bổ sung thành 1 0 mối quan hệ lớn) cầ n nắm vữ
ng và giải quyết tốt, trong xây dự
ng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới
không chỉ làm biến đổi sâu
sắc diện mạo đất nước, cuộc số ng c a
ủ Nhân dân mà còn mang lại nhậ n thức mới về chủ nghĩa xã h i. ộ Ngày nay , nhữ ng thành tự u to lớ n qua nhữ
ng năm đổi mới đã làm cho thế và lực c a ủ
nước ta được nâng cao trên trườ ng qu c ố tế. Đ úng như Tổ ng Bí thư Nguyễ n Phú Trọ ng ã đ phát biể
u tại Lễ khai mạc Đại h i ộ lầ
n thứ XIII của Đảng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ
, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay . Nhữ ng thành tựu đ ó là sản
phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấ u bề n bỉ, liên
tục qua nhiều nhiệm kỳ c a ủ toàn Đả
ng, toàn dân, toàn quân ta; tiế p tục khẳng đị nh con đườ
ng đi lên chủ nghĩa xã hội của c húng ta là đú ng đắ n, phù hợ
p với quy luật khách quan, với thực tiễ n Việt Nam và xu thế phát triể
n của thời đại”. Từ đ ó, chúng ta càng thấ y công
lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệ p cách mạng của dân t c ộ ta; m i ỗ cán bộ, đả
ng viên luôn tự hào có Đảng lãnh đạ
o, càng ra sức học tập để thấm nhuần đạo đức cách mạ ng của Người, xây dự ng bản lĩ nh chính trị vữ ng vàng
trên cơ sở kiên định và không ngừ ng vậ n dụ ng, phát triể n sáng tạ
o chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưở ng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễ n Việt Nam trong từ ng giai đoạ n. Kiên định mục tiêu c độ lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội; tích cực nghiên cứ u lý luậ n, tổ
ng kết kinh nghiệm lãnh đạ o c a ủ Đả ng, học tậ
p tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người để ậ v n dụ ng vào giải quyết nhữ ng vấn đề thực tiễ
n trong công cuộc đổi mới đất nước; đồ ng thời, đấu tranh chố ng các
quan điểm sai trái phủ nhậ n vai trò lãnh đạ o của Đả ng, góp phầ n tích cực hiệ n thực hóa
các nghị quyết của Đả ng vào trong cu c ộ sống./. Ý nghĩa lị ch sử củ
a sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đả
ng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Đả ng c ng ộ sả n Việt
Nam ra đời là kết quả tất yế u cả u cuộc đấ u tranh dân t c ộ và đấ u tranh giai cấ p, c ng ũ là sự khẳ ng đị nh vai trò lãnh đạ
o của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưở ng Mác- Lênin đối ớ v i các mạ
ng Việt Nam. Sự kiện đả ng Cộng sả
n Việt Nam ra đời đã đánh dấ u một mốc son chói lọi trên con đườ ng phát triể n của dân t c
ộ ta. Việc thành lập Đả ng là bước
ngoặt vĩ đại trong lịch sử công nhân và của cách mạng Việt Nam, chứ ng tỏ giai cấ p vô sả n nước ta trưở ng thành và đủ sức lãnh đạ o cách mạ
ng, chấm dứt thời kì khủ ng hoảng về vai trò lãnh đạ o và đườ ng lối trong phong trào cách mạ
ng Việt Nam. Từ đây, cách mạ ng Việt Nam đã thu c ộ quyề n lãnh đạ
o tuyệt đối của giai cấ p công nhân mà đội tiên phong là Đả ng cộ ng sản. Đảng Cộ ng sả n Việt Nam ra đời cũ
ng chính là kết quả tất yế u của cuộc đấ u tranh dân tộc và đấu tranh giai cấ p, Đả ng Cộ
ng sản Việt Nam ra đời là sự khẳng đị nh vai trò
lãnh đạo của giai cấp công nhân tại Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạ ng Việt Nam giai đoạn ó. đ Sự ra đời của Đả ng Cộ ng sả n Việt Nam chính là sả
n phẩm của sự kết hợ p chủ nghĩa Mác – Lênin cùng với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước của nhân dân Việt
Nam. Sự ra đời của Đả ng Cộ ng sả n Việt Nam là sự kiệ
n gắn liền với tên tuổi c a ủ Lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Sự kiệ n thành lập Đả ng Cộ ng sả
n Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan tr ng ọ của lịch sử cách mạ ng Việt Nam, quyết đị nh sự phát triể
n của dân tộc, chấm dứt sự kh ng ủ hoả ng về đườ
ng lối và tổ chức lãnh đạo của phong
trào yêu nước Việt Nam đầ u thế kỷ XX. Đ
ó là kết quả của sự vận độ ng, phát triể n và thống nhất phong trào cách mạ ng trong cả nước; sự chuẩ n bị công phu về mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễ n Ái Quốc và sự oàn đ kết nhất trí của nhữ ng chiế
n sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấ p, của dân tộc. Đảng Cộ ng sả
n Việt Nam ra đời và việc Đả ng chủ trươ ng cách mạ ng Việt Nam là một bộ phận c a ủ phong trào cách mạ ng thế giới, đã
tranh th ủ được sự ủ ng hộ to lớ n c a ủ
cách mạng thế giới, kết hợ
p sức mạnh dân tộc với sức mạ
nh của thời đại làm nên những thắ ng lợi vẻ vang. Đồ ng thời cách mạ ng Việt Nam cũng góp phầ
n tích cực vào sự nghiệp đấ
u tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Như vậ y thì ra đời của Đả ng Cộ ng sả
n Việt Nam có vai trò quan tr ng ọ đối với lịch
sử cách mạng Việt Nam và đối với sự phát triển của phong trào cách mạ ng thế giới. Hi vọng rằng nhữ
ng thông tin mà chúng tôi cung cấp đã giúp ích cho các bạ n trong việc tìm hiể
u về sự ra đời và ý nghĩa c a
ủ sự ra đời của Đảng Cộ ng sản Việt Nam. Ý nghĩa củ
a sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc
Chấm dứt cuộc khủng ho ng
ả về đường lối cứu nước: Ý nghĩa to lớn và sâu sắc
nhất của quá trình chuẩ n bị này là ã đ tìm ra và khă
ng định một con đường cứ u nước úng đ đắ n, chấm dứt thời kỳ ủ kh ng ả ho
ng, bế tắc kéo dài hàng thập kỷ của phong trào dân tộc.' Đả
ng Cộng sản Việt Nam ra đời
không phải là một sự thử nghiệm, mà là hiện thân của
một giải pháp đã được nghiên cứ
u, chuân bị và kiêm nghiệm kỹ lưỡng qua thực tiễn. • Đảm bả
o sự ra đời của một Đảng "trưởng thành":
- Nhờ có sự chuân bị chu đáo, Đả ng Cộ ng sả
n Việt Nam khi ra đời ngày 3 tháng 2 năm 193 0 đã là một chính đả ng "trưở
ng thành" về mọi mặt. Đả ng đã có sẵn: +Một hệ tư tưở ng và cươ ng lĩ
nh chính trị khoa học, cách mạng
+Một đội ngũ cán bộ cốt cán đã được đào tạ o bài bả n, trung thành và có kinh nghiệm +Một phươ
ng pháp đã được kiêm nghiệm đề gắ n bó với quầ n chúng.' + Một tô chức thố ng nhất trên toàn quốc.